1. Đức Giêsu theo cái nhìn lịch sử
* Trước hết chúng ta khẳng định: Đức Giêsu là một con người lịch sử. Việc sinh hạ của Người là trung gian của lịch sử, mà điểm mốc này được gọi là Công nguyên. Trong các văn kiện hoặc các biến cố lịch sử, những gì xảy ra trước khi Chúa Giêsu sinh ra, người ta gọi là trước Công nguyên. Một số quốc gia phương Tây hoặc châu Mỹ, thay vì viết hay nói: trước Công nguyên, người ta vẫn dùng cách nói: Trước Chúa Giêsu Kitô hay sau Chúa Giêsu Kitô.
* Chúa Giêsu sinh ra vào năm nào? Trước đây, người ta nghĩ là Chúa Giêsu sinh ra vào năm 1, tức là năm thứ nhất Công nguyên. Tuy vậy, theo các sử gia, đã có một vài sơ suất trong cách tính lịch cổ xưa. Dựa vào các sự kiện và các nhân vật trong lịch sử, ngày nay đa số sử gia đều khẳng định Chúa Giêsu sinh ra vào khoảng năm 6 (sau CN).
* Ai sinh ra Chúa Giêsu? Người mẹ sinh ra Chúa Giêsu là Đức Trinh nữ Maria. Kitô giáo tuyên xưng đức tin vào ơn trinh khiết trọn đời của Đức Maria. Đức Maria thụ thai do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Thánh Giuse là cha nuôi Chúa Giêsu trong thời thơ ấu của Người.
* Theo các Phúc âm, Chúa Giêsu sinh tại Belem, ở phía nam của đất nước Israel hiện tại. Tuy vậy, thời gian thơ ấu của Người lại diễn ra tại Nagiarét ở miền Bắc, là nơi thánh Giuse và Đức Maria sinh sống.
* Khi Chúa Giêsu khởi đầu loan báo Tin mừng, Người “trạc độ ba mươi tuổi” như tác giả Luca đã viết (Lc 3,23). Thời gian hoạt động công khai của Người diễn ra vào khoảng 3 năm. Theo các tác giả Phúc âm, hoạt động của Chúa Giêsu đã làm bao gồm: giảng dạy với những phép lạ kèm theo; chữa lành dân chúng và cầu nguyện tại những nơi thanh vắng. Người chọn và gọi những môn đệ đi theo Người, trong số đó có 72 môn đệ (x. Lc 10,19 và trong số này có 12 người được Chúa Giêsu gọi là “Tông đồ”, nghĩa là người được sai đi. Sau này, những người này tiếp nối sứ mạng của Chúa.
* Nếu có rất đông dân chúng cảm phục và nghe lời giáo huấn của Chúa Giêsu, thì lại một số người lại ghen tương và nổi giận vì Chúa Giêsu phê bình chỉ trích thói giả hình của họ. Đó là các luật sĩ, tức là những người uyên bác; những người biệt phái, là những người tỉ mỉ giữ luật và tự cho mình là đạo đức. Những người này lôi kéo cả các tư tế và thậm chí cả thượng tế vào phe mình để chống đối và lên án Chúa Giêsu.
* Cả bốn tác giả Phúc âm đều kể lại cuộc khổ nạn thập giá và cái chết của Đức Giêsu. Sau một cuộc xét xử vội vàng ở Công nghị Do-thái và trước tòa Philatô, Chúa Giêsu bị tra tấn dã man, bị chế nhạo và phải vác thập giá lên đồi Canvê ở cửa thành Giêrusalem. Người bị đóng đinh vào cây gỗ và đã chết vài giờ sau đó. Dựa vào các chi tiết của các tác giả Phúc âm, phần số đông các sử gia nhận định, Chúa Giêsu đã trút hơi thở cuối cùng chiều thứ Sáu, ngày 07 tháng 4 năm 30, tức là ngày 15 tháng Nisan theo lịch của Do-thái.
* Cuộc đời của Đức Giêsu dưới ngòi bút của các sử gia ngoài đời. Không chỉ có các tác giả Phúc âm viết về Chúa Giêsu, mà còn có các sử gia đương thời, đương nhiên với cái nhìn của một nhà viết sử. Cụ thể là ông Flavius Josephus, nhà sử học Do-thái quan trọng nhất thời bấy giờ (sinh tại Giêrusalem năm 37 và qua đời ở Rôma khoảng năm 100). Ông viết về Chúa Giêsu như sau: “Vào thời đó, có một nhà hiền triết tên là Giêsu. Ông được giáo dục tốt và được đánh giá cao vì đức hạnh của mình. Nhiều người trở thành môn đồ của ông giữa cư dân Giuđê và các quốc gia khác. Philatô kết án tử hình ông bằng khổ hình thập giá. Nhưng các môn đồ không ngừng tuân theo lời giảng dạy của ông. Họ nói rằng ông đã hiện ra với họ ba ngày sau khi bị đóng đinh và còn sống. Có lẽ đó chính Đấng Messia với rất nhiều điều kỳ lạ mà các tiên tri đã nói đến” (Thời Cổ Đại XVIII, 3, 3). Một sử gia khác là ông Tacius. Vào năm 112, ông tra cứu về cuộc đàn áp tàn nhẫn của Nêrô chống Kitô hữu và ông viết: “nguồn gốc của từ “Kitô hữu” là tên của một người tên là Giêsu Kitô bị xử tử dưới thời Hoàng đế Tiberius, theo lệnh của tổng trấn Pontius Pilate” (Biên niên sử XV, 44).
2. Đức Giêsu Kitô theo đức tin
* Tất cả những gì chúng ta vừa nói ở trên là nhận định về Đức Giêsu theo cái nhìn thuần túy lịch sử và trần thế. Đối với các Kitô hữu, tức là những người tin vào Chúa Giêsu, thì Người không đơn thuần chỉ là một con người, mà Người còn là Thiên Chúa nhập thể, tức là Thiên Chúa đã làm người giống như chúng ta, chỉ ngoại trừ tội lỗi.
2.1. Những tiên báo trong Cựu ước
* Lời hứa thiên sai: Sau khi ông Ađam và bà Evà phạm tội, Thiên Chúa đã hứa cho họ về một Đấng Thiên sai, khi Ngài phán với con rắn là nguyên nhân của sự sa ngã: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người phụ nữ, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy. Dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15). Kitô giáo gọi lời tuyên bố này là “Tin mừng tiên khởi”. Chính lời loan báo này đem lại cho nhân loại niềm hy vọng vào Đấng Thiên sai.
* Dân hy vọng và cầu nguyện: Đối với dân tộc Do-thái, niềm hy vọng Đấng Thiên sai đã nuôi dưỡng đức tin của họ, với niềm xác tín vào lòng trung thành của Thiên Chúa. Trải qua những cuộc lưu đày lưu lạc, trong cảnh quê hương bị tàn phá, họ vẫn tin và vẫn cầu nguyện xin Chúa thực hiện lời hứa này. Một trong những lời cầu nguyện chúng ta thường đọc trong mùa Vọng trích dẫn từ ngôn sứ Isaia: “Trời cao hỡi, nào hãy gieo sương, mây hãy đổ mưa đức công chính, đất mở ra đi cho nảy mầm ơn cứu độ” (Is 45,8)
2.2. Lời loan báo của các ngôn sứ: Các ngôn sứ là những người luôn nhắc lại lời hứa ban Đấng Thiên sai của Chúa.
+ Sự việc một trinh nữ sinh con đã được tiên báo trong sách ngôn sứ Isaia, một ngôn sứ sống ở thế kỷ thứ bảy trước Công nguyên. Đó là lời Chúa nói với vua Akhát, loan báo một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con, con trẻ ấy sẽ được gọi là Emmanuen, có nghĩa “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (x. Is 7,1017).
+ Ngôn sứ Malaki, thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, loan báo vị Vua sẽ sinh ra tại Belem xứ Giuđêa. Vị ngôn sứ này đã viết: “Hỡi Bêlem Ephrata, ngươi nhỏ nhất trong trăm ngàn phần đất Giuđa, nhưng nơi ngươi sẽ xuất hiện một Đấng thống trị Israel, và nguồn gốc Người có từ nguyên thuỷ, từ muôn đời” (Malaki 5,1).
2.3. Chúa Giêsu khẳng định sứ vụ thiên sai của Người:
Chính Chúa Giêsu đã nói với ông Nicôđêmô về chương trình của Thiên Chúa như sau: “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16). Trong cuộc tranh luận với người Do-thái, Chúa Giêsu đã công khai tuyên bố Người là Con Thiên Chúa: “Đấng tôn vinh tôi chính là Cha tôi, Đấng mà các ông gọi là Thiên Chúa của các ông” (Ga 8,54). Trong cuộc tranh luận gay gắt với người Do-thái, Đức Giêsu khẳng định mình là Thiên Chúa, khi nói: “Trước khi có ông Abraham, thì tôi, tôi hằng hữu” (Ga 8, 58); “Tôi và Cha Tôi là một” (Ga 10,30); “Tôi là người được Chúa Cha thánh hiến và sai đến thế gian” (Ga 10,36). Trong lời cầu nguyện với Chúa Cha, Chúa Giêsu lặp lại nhiều lần ý tưởng Người được Chúa Cha sai đến trần gian, ví dụ: “Con đã ban cho họ (các môn đệ) lời mà Cha đã ban cho con; họ đã nhận những lời ấy, họ biết thật rằng con đã từ Cha mà đến, và họ đã tin là Cha đã sai con” (Ga 17,8).
2.4. Các môn đệ nhận thức về Chúa Giêsu:
Có rất nhiều chứng từ trong các Phúc âm chứng minh Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, chỉ xin trích dẫn một số. Khi nói về nguồn gốc thiên linh của Đức Giêsu, thánh Gioan khẳng định Người là Ngôi Lời của Thiên Chúa và đã nhập thể làm người (Ga,1,14). Một ngày nọ, Chúa Giêsu đã hỏi các tông đồ, xem các ông nghĩ gì về Người, tông đồ Phêrô đã tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Khi chứng kiến các sự kiện xảy đến với Chúa Giêsu, các tác giả Phúc âm thường liên tưởng đến Cựu ước, để chứng minh: những gì đang xảy ra là đúng với lời Thánh kinh, ví dụ: khi thánh Gioan chứng kiến người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Chúa Giêsu, thì liên tưởng đến Cựu ước: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37 trích dẫn Dcr 12,10).
* Dân chúng nói về Chúa Giêsu: Khi nghe Chúa Giêsu giảng dạy, rất nhiều người cảm phục và khen ngợi, nhất là khi chứng kiến những phép lạ Người làm. Trong số những người mến mộ, có cả thành viên Công nghị Do-thái (ông Nicôđêmô), những sĩ quan Rôma. Về phần ông Gioan Tẩy giả, ông khẳng định với người Do-thái rằng: “Tôi đã thấy, nên xin chứng thật rằng Người (Đức Giêsu) là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1,34). Trong số những người tin Chúa Giêsu, có cả người Do-thái và người Samaria hoặc vùng ngoại giáo bên kia Biển Hồ Galilêa. Cả những cô gái điếm và những người thu thuế cũng cảm phục và tin theo Người. Nhiều người đã nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Messia (Đấng Thiên sai). Lời giáo huấn của Chúa Giêsu gây ngạc nhiên cho người đương thời, và nhiều người đã thốt lên: “Đây là một giáo lý mới! Người giảng dạy người ta như Đấng có uy quyền chứ không như các luật sĩ” (Mc 1,22). Trong lời giảng dạy, Chúa Giêsu thường trích dẫn Cựu ước, và chứng minh Người đến không phải để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn Lề Luật Môisen. Khi chứng kiến cái chết của Chúa trên thập giá, viên đại đội trưởng người ngoại thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).
* Niềm xác tín của các Tông đồ: Sau khi chứng kiến ngôi mộ trống và gặp gỡ Đức Giêsu phục sinh, nhận thức của các Tông đồ đã hoàn toàn thay đổi. Các ông nhớ lại những gì Chúa Giêsu đã tiên báo, và tin chắc chắn Đức Giêsu là Đấng Cứu thế do Chúa Cha sai đến trần gian để thực hiện công trình cứu độ. Ông Phêrô, vốn là một người dân chài ít học, mà nay rao giảng hùng hồn. Khi ra trước Thượng Hội đồng, ông mạnh mẽ tuyên bố: “Xin tất cả quý vị và toàn dân Israel biết cho rằng: chính nhờ Danh Đức Giêsu Kitô , người Nagiarét, Đấng quý vị đã đóng đinh vào thập giá, và Thiên Chúa đã làm cho trỗi dậy từ cõi chết, chính nhờ Đấng ấy mà người này được lành mạnh ra đứng trước mặt quý vị… Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,1112). Sau này tất các các tông đồ đều lấy chính máu mình để làm chứng cho Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng đã chết và đã sống lại.
3. Kết luận
* Đức Giêsu Kitô là một con người của lịch sử, có quê hương, gia đình, sống trong một bối cảnh lịch sử, văn hóa và tôn giáo cụ thể.
* Đức Giêsu Kitô là đối tượng của đức tin và lý tưởng của người Kitô hữu. Kitô hữu có nghĩa là người được xức dầu, là môn đệ Đức Kitô, là người mang danh Đức Kitô Và thuộc về Người. Người là Con Thiên Chúa, Đấng đến trần gian để cứu nhân độ thế. Đức tin Kitô giáo tuyên xưng: Người là Thiên Chúa thật và là Người thật.
Nguồn: tonggiaophanhanoi.org
