1. Quy định của Giáo luật

2.Tính hiệp đoàn của hàng giám mục

3. Hội thánh địa phương và Hội thánh phổ quát

4. Hướng đến Hội thánh Rôma

5. Giáo triều Rôma

 

1. Quy định của Giáo luật

Bộ Giáo luật Hội thánh Công Giáo 1983 quy định:

Điều 399:

1. Cứ mỗi năm năm, Giám mục giáo phận buộc phải tường trình cho Giáo hoàng về tình hình Giáo phận đã được trao phó cho mình theo mẫu và thời biểu Tông Tòa ấn định.

2. Nếu toàn bộ hay một phần của năm đã được ấn định cho việc tường trình trùng vào hai năm đầu, kể từ lúc khởi sự nhận cai quản Giáo phận, thì lần ấy Giám mục có thể được miễn làm và miễn gửi bản tường trình.

Điều 400:

1. Trừ khi Tông Tòa đã ấn định thể khác, chính năm phải gửi bản tường trình cho Giáo hoàng, Giám mục giáo phận phải đến Rôma để kính viếng mộ hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô và yết kiến Giáo hoàng.

2. Giám mục phải đích thân chu toàn nghĩa vụ nói trên, trừ khi bị ngăn trở chính đáng; trong trường hợp này, ngài phải chu toàn nghĩa vụ đó nhờ Giám mục phó nếu có, hay Giám mục phụ tá, hoặc nhờ một linh mục có khả năng thích hợp thuộc hàng linh mục của ngài, và phải là người cư trú trong Giáo phận ngài.

3. Vị Đại diện Tông Tòa có thể chu toàn nghĩa vụ này nhờ một người đại diện, kể cả người hiện đang ở Rôma. Phủ Doãn Tông Tòa không có nghĩa vụ này.

4. Giáo luật đã quy định rõ ràng. Tuy nhiên, phải chăng việc đi viếng mộ hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô (quen gọi là ad limina) chỉ là việc làm theo lề luật và đòi hỏi của việc quản trị hay còn mang những ý nghĩa khác?

2.Tính hiệp đoàn của hàng giám mục

Trước hết, việc đi ad limina thể hiện tính hiệp đoàn nơi hàng giám mục, được Hiến chế Lumen Gentium của Công đồng Vaticanô II diễn giải rõ ràng: “Do Chúa thiết định, Thánh Phêrô và các Tông đồ khác đã tạo thành một Tông đồ đoàn duy nhất; cũng với cách thức tương tự, Giáo hoàng Rôma là người kế vị Thánh Phêrô, cùng với các giám mục là những người kế vị các Tông đồ, luôn liên kết với nhau. Thật vậy, bản chất và đặc tính hiệp đoàn của chức Giám mục được thể hiện qua một định chế có từ xa xưa, theo đó các giám mục trên khắp hoàn cầu luôn thông hiệp với nhau và với Giáo hoàng Rôma bằng mối dây hiệp nhất, bác ái và bình an, cũng như qua việc triệu tập các Công đồng để cùng nhau quyết nghị về những vấn đề quan trọng hơn, bằng những định chế đã được cân nhắc với ý kiến của nhiều người” (số 22). Khẳng định này cho thấy những yếu tố căn bản của tính hiệp đoàn giám mục.

Hãy khởi đi từ Nhóm Mười Hai. Theo các sách Tin mừng, Chúa Giêsu đã tuyển chọn và thiết lập Nhóm Mười Hai (Mc 3,13-19; Mt 10,1-4; Lc 6,12-16). Về mặt thần học, Giám mục đoàn trong lịch sử được nhìn như sự tiếp nối Nhóm Mười Hai. Nhóm Mười Hai không chỉ là mô hình mẫu mà còn là lý do làm nên Giám mục đoàn. Giám mục đoàn phát sinh từ Tông đồ đoàn, do sự kế nhiệm tông đồ, cũng như do tính liên tục, qua đó cả hai đều thông truyền cùng một đức tin, thông ban cùng các bí tích ban ân sủng, xây dựng và duy trì cùng một cộng đoàn tín hữu trong sự hiệp nhất.

 Trong Giám mục đoàn, mỗi Giám mục đáp lại tiếng gọi của Chúa cách cá vị, với tất cả tự do và không thể lặp lại. Ngài đáp lại bằng con người cá nhân của ngài, thế nhưng cao điểm của cá nhân tính đó lại là một cộng đoàn, vì ngài trở nên thành phần của Giám mục đoàn, tiếp nối Tông đồ đoàn: “Một người được thiết định là thành viên của cộng đoàn Giám mục nhờ sự thánh hiến bí tích và nhờ sự hiệp thông phẩm trật với vị Thủ lãnh và các phần tử của Giám mục đoàn” (GH 22).

Trong suốt dòng lịch sử, ơn ban và sứ vụ chung của những người kế vị Nhóm Mười Một, cũng như sứ vụ Phêrô “làm cho anh em vững tin” (Lc 22,32), đều được trao ban trong khuôn khổ Giám mục đoàn.

Do sứ vụ Phêrô, Đấng kế vị Phêrô gắn bó sâu xa với Giám mục đoàn và thi hành sứ vụ của ngài trong đó, một nhiệm vụ có lẽ không thể hiểu được nếu đặt ở ngoài hoặc ở trên Giám mục đoàn. Bởi lẽ do ý muốn của Đức Giêsu Kitô, đây là nhiệm vụ của vị Thủ lãnh Giám mục đoàn và như nguyên lý hữu hình của sự hiệp thông giữa các thành viên: “Vị Giáo hoàng Rôma, Đấng kế vị Phêrô, là nguyên lý và nền tảng vĩnh viễn, hữu hình của sự hợp nhất giữa các giám mục cũng như giữa các tín hữu” (GH, 23). Vì thế, “do phận vụ của mình là Đại diện Đức Kitô và là Chủ chăn của toàn thể Hội thánh, Giáo hoàng Rôma có thẩm quyền trọn vẹn, tối cao và phổ quát trong Hội thánh và luôn có thể tự do thực thi quyền bính này”.

Về phần Giám mục đoàn, với tư cách kế nhiệm Tông đồ đoàn trong trách nhiệm huấn giáo và điều hành mục vụ, các ngài cũng là chủ thể có quyền hành trọn vẹn và tối cao trên Hội thánh phổ quát, nhưng “đây là quyền bính chỉ có thể được thực thi khi có sự ưng thuận của Giáo hoàng Rôma” (GH, 22). Công thức “cùng Phêrô và dưới Phêrô” diễn tả chính xác bản chất của Giám mục đoàn trong tầm nhìn thần học của Vaticanô II. Trong Giám mục đoàn, Giáo hoàng Rôma thật sự là Thủ lãnh, mọi thành viên được liên kết với ngài bằng sự hiệp thông bí tích và phẩm trật.

Do đó, khi chính thức đến gặp Giáo hoàng Rôma, mỗi Giám mục mặc nhiên tuyên xưng mối hiệp thông sâu xa của ngài với Vị nắm giữ quyền tối thượng trong Hội thánh, với tư cách là Thủ lãnh hữu hình, cũng là nguyên lý hữu hình của sự hiệp nhất giữa các giám mục. Cũng vì thế, khi đi ad limina, mỗi giám mục không chỉ yết kiến Giáo hoàng Rôma, nhưng qua Giáo hoàng – trong tư cách Đấng kế vị Thánh Phêrô và Thủ lãnh Giám mục đoàn – ngài còn gặp tất cả anh em Giám mục trên toàn thế giới.

3. Hội thánh địa phương và Hội thánh phổ quát

Ad limina còn mời gọi suy nghĩ về mối tương quan mật thiết giữa Hội thánh địa phương và Hội thánh phổ quát, vốn là đề tài được bàn tới nhiều trong Công đồng Vaticanô II và tạo những dấu ấn cụ thể trong đời sống Hội thánh.

Các văn bản Tân Ước cho thấy hai chiều kích của Hội thánh: một đàng là chiều kích hiệp nhất và phổ quát; đàng khác là chiều kích đa dạng của các cộng đoàn trải rộng trên thế giới, với những khác biệt về địa lý, văn hóa, lịch sử.

Khi Chúa Giêsu nói với Phêrô: “Anh là Phêrô, nghĩa là Đá, trên Đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy” (Mt 16,18), chắc chắn Chúa Giêsu muốn nói đến “Hội Thánh của Chúa” như thực tại duy nhất, không bị giới hạn trong phạm vi một thành phố, một tỉnh hay một dân tộc nào, nhưng là một thực tại vươn rộng trên toàn thế giới. Tác giả Sách Công vụ cũng trình bày Hội thánh theo chiều kích phổ quát khi viết: “Hồi ấy, trong khắp miền Giuđêa, Galilê và Samari, Hội thánh được bình an, được xây dựng vững chắc, sống trong niềm kính sợ Chúa và ngày một thêm đông nhờ Thánh Thần nâng đỡ” (9,31). Khi Thánh Phaolô viết: “Như Hội thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy” (Eph 5,24), chắc chắn ngài cũng nhìn Hội thánh theo hướng phổ quát. Cũng vậy, khi ngài khẳng định: “Đức Kitô là Đầu của Thân thể là Hội thánh” (Cl 1,18.24) hoặc khi ngài tự thú là “đã bách hại Hội thánh của Thiên Chúa” (1Co 15,9), chắc chắn thánh nhân nói đến Hội thánh theo ý nghĩa phổ quát.

Ở những nơi khác, từ ekklesia lại được dùng để chỉ các cộng đoàn địa phương khác nhau, và từ “Hội Thánh” được viết ở số nhiều. Tác giả Sách Khải Huyền viết cho “Các Hội thánh” (1, 4-11.20); Sách Công vụ nói đến việc Thánh Phaolô “đi qua miền Syria và Cilicia, làm cho các Hội thánh được vững mạnh” (15,41). Cũng vậy, Thánh Phaolô nói đến “các Hội thánh châu Á” (x. 1 Co 16,19); “các Hội thánh Galatia” (Gal 1,1); rồi Hội thánh ở một địa phương cụ thể như “Hội thánh của Thiên Chúa tại Côrintô” (1 Co 1,1); kể cả Hội thánh quy tụ trong một ngôi nhà, một gia đình như “Aquila và Prisca và Hội thánh họp tại nhà họ” (1Co 16,19).

Như thế, Hội thánh vừa mang tính phổ quát vừa mang tính địa phương. Đây không phải là hai Hội thánh nhưng chỉ là một Hội thánh duy nhất, khi thì xuất hiện như là phổ quát, khi thì xuất hiện như là địa phương.

Gọi là Hội thánh phổ quát (katholike, oikumene), nghĩa là Hội thánh bao gồm tất cả mọi người, không phân biệt, và cho đến tận cùng trái đất. Hội thánh đó là “bí tích cứu độ”, dấu chỉ và khí cụ của ơn cứu độ mà Con Thiên Chúa mang đến cho chúng ta qua Thập Giá và sự Phục Sinh của Người; là Hội thánh mà chúng ta đón nhận trong đức tin, hiện diện trong các bí tích, không ngừng được canh tân nhờ Lời Thiên Chúa.

Gọi là Hội thánh địa phương vì Hội thánh đó thể hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa nơi một cộng đoàn cụ thể, được quy tụ và dẫn dắt bởi vị mục tử mà Chúa sai đến.

Hiểu như thế, Hội thánh là duy nhất và phổ quát, đồng thời tính phổ quát đó lại được thể hiện trong các Hội thánh địa phương trải rộng trên toàn thế giới. Hội thánh phổ quát không phải là tổng số các Hội thánh địa phương hoặc một loại hình chính phủ liên bang, nhưng là mối hiệp thông sự sống. Vaticanô II mô tả Hội thánh địa phương “được hình thành theo hình ảnh Hội thánh phổ quát, chính nhờ và trong các Hội thánh này mà có một Hội thánh Công giáo duy nhất” GH, 23).

Điều quan trọng là phải thể hiện sự hài hòa cả hai chiều kích. Cần nhấn mạnh chiều kích phổ quát, công giáo, để Hội thánh không bị biến thành một tổ chức tôn giáo đóng khung trong một quốc gia hoặc một nền văn hóa. Chính ở đây, có thể hiểu được những quy định của Giáo Luật về việc bổ nhiệm Giám mục: “Giáo Hoàng tự do bổ nhiệm các giám mục hoặc phê chuẩn các vị đã đắc cử cách hợp pháp” (Điều 377, #1); và “Từ nay các chính quyền không còn được quyền và đặc ân lựa chọn, bổ nhiệm, giới thiệu hay chỉ định các giám mục” (Điều 377, #5). Tuy nhiên, quá đề cao chiều kích phổ quát lại có nguy cơ trình bày một Hội thánh xa lạ với các thực tại văn hóa, xã hội của mỗi địa phương.

Tương tự như thế, một cách hiểu đúng đắn về chiều kích địa phương của Hội thánh sẽ giúp cho Hội thánh mang khuôn mặt cụ thể, sống động, với những con người cụ thể trong một không gian địa lý và bối cảnh văn hóa cụ thể; nhưng nếu đề cao quá đáng, Hội thánh có thể bị biến thành một thứ ghetto và đánh mất chiều kích phổ quát đích thực của mình.

Chính ở đây, các giám mục có vai trò đặc biệt vì Giám mục vừa là người đứng đầu một Hội thánh địa phương, vừa là thành viên của Giám mục đoàn. Chính nơi các giám mục, trong sự hiệp nhất với vị Mục tử phổ quát, mà các Hội thánh địa phương được hội nhập vào Hội thánh phổ quát, đồng thời Hội thánh phổ quát thấm vào các Hội thánh địa phương. Theo đó, ad limina là cơ hội cụ thể để mỗi Giám mục cảm nghiệm, thể hiện và vun đắp sự hiệp thông giữa Hội thánh địa phương và Hội thánh phổ quát: “Mỗi Giám mục, người được đặt đứng đầu một Hội thánh địa phương, thi hành việc điều hành mục vụ trên một phần của đoàn dân Thiên Chúa được trao phó cho mình, chứ không phải trên các Hội thánh khác hoặc trên Hội thánh phổ quát. Nhưng với tư cách là thành viên của Giám mục đoàn và là người kế vị hợp pháp của các Tông đồ, mỗi Giám mục, do sự thiết định và lệnh truyền của Đức Kitô, có bổn phận ân cần chăm lo cho toàn thể Hội thánh, một sự chăm lo, cho dù không được thực thi bằng một hành động thuộc quyền tài thẩm, vẫn mang lại rất nhiều lợi ích cho Hội thánh phổ quát” (GH, 23).

4. Hướng đến Hội thánh Rôma

Suy tư về mối tương quan giữa Hội thánh phổ quát và Hội thánh địa phương cũng dẫn tới suy tư về vai trò của Hội thánh Rôma.

Không thể vội vã đồng hóa Hội thánh tại Rôma với Hội thánh phổ quát. Về mọi mặt, Hội thánh tại Rôma cũng là một Hội thánh địa phương, có Mục tử riêng, có tổ chức và diện mạo riêng. Tuy nhiên, vì Mục tử đầu tiên của Hội thánh tại Rôma là Thánh Phêrô Tông đồ, người được Chúa đặt làm Thủ lãnh Tông đồ đoàn và được gọi là Đá, trên đó Chúa xây Hội thánh của Người, nên ngay từ đầu, “Tòa Rôma” (sedes romana) đã có vị trí đặc biệt giữa các Hội thánh địa phương.

Tiếp nối Công đồng Vaticanô I, Vaticanô II tiếp tục khẳng định rõ ràng giáo huấn về tính trung tâm của Tòa Rôma và Mục tử Rôma, theo kế hoạch của Đấng thiết lập Hội thánh. Vì tính trung tâm đó, mọi Hội thánh hướng nhìn về Hội thánh Rôma và đón nhận từ đó ánh sáng, định hướng, sự nâng đỡ và trợ lực. Giữa các Hội thánh địa phương và Hội thánh Rôma có mối tương quan liên vị và sống động, một chuyển động từ trung tâm đến mọi chi thể của Thân thể, và ngược lại.

Trong Hội thánh phổ quát, Hội thánh Rôma đóng vai trò quy tụ và kết tụ, nhằm phục vụ lợi ích của các Hội thánh địa phương cũng như Hội thánh phổ quát. Như thế, tuy Hội thánh Rôma, tự nó, không thể đồng hóa với Hội thánh phổ quát, nhưng do kế hoạch của Thiên Chúa và vận mệnh lịch sử, Hội thánh đó lãnh nhận ân sủng đặc biệt để kiến tạo sự hiệp nhất các Hội thánh địa phương và gìn giữ tính phổ quát của Hội thánh Đức Kitô.

Đặc sủng nói trên của Tòa Phêrô hoặc Tòa Rôma được thể hiện rõ nét trong các chuyến đi ad limina của các giám mục. Đây là cơ hội quan trọng nhất, có thể nói là tâm điểm của sứ vụ Phêrô, vì qua những lần ad limina này, vị mục tử của Hội thánh phổ quát gặp gỡ và đối thoại với các mục tử của các Hội thánh địa phương, đến “gặp Phêrô” (videre Petrum) (x. Gal 1,18), để bàn thảo với ngài những vấn đề của giáo phận, và chia sẻ với ngài mối ưu tư của Hội thánh phổ quát. Hơn bao giờ hết, sự hiệp thông và hiệp nhất được thể hiện và củng cố nhờ những cuộc gặp gỡ này.

Ý nghĩa này được củng cố hơn nữa khi hiểu ad limina đầy đủ là ad limina Apostolorum, nghĩa là viếng mộ hai Thánh Tông đồ. Hội thánh Rôma chiếm vị trí trung tâm là do kế hoạch của Thiên Chúa, đồng thời chói sáng nhờ chứng tá của hai cột trụ Hội thánh, Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, hai vị đã đổ máu đào tại Rôma. Các ngài được coi như nền tảng của Hội thánh Rôma, đồng thời là nền tảng của Hội thánh phổ quát. Chính vì thế, với các tín hữu nói chung, hành hương đến mộ của các ngài là một cuộc trở về để gặp gỡ cội nguồn sâu xa và mạnh mẽ nhất của đức tin Công giáo và của Hội thánh. Cách riêng, với các giám mục đi ad limina, cuộc hành hương này còn mang ý nghĩa phong phú hơn. Một đàng, viếng mộ hai vị Tông đồ là dịp giúp các giám mục ý thức mạnh mẽ hơn về sứ vụ tông đồ (missio apostolica), sứ vụ đã được Thánh Phêrô và Phaolô hoàn thành tại Rôma trong thời điểm quyết định của lịch sử Hội thánh. Đàng khác, việc viếng mộ các ngài cũng làm sống dậy lời tuyên xưng đức tin (confessio fidei) đã được hai Thánh Tông đồ thực hiện bằng chính cái chết tử đạo, một vị trên đồi Vaticanô và một vị trên đường Ostia. Mỗi Giám mục được mời gọi suy nghĩ về chứng tá của hai Thánh Tông đồ và suy nghĩ về chính sứ vụ giám mục của mình trong Hội thánh địa phương.

5. Giáo triều Rôma

Cùng với việc viếng mộ hai Thánh Tông đồ và yết kiến Đức Giáo hoàng, là những việc quan trọng nhất trong chuyến thăm ad limina, thông thường các giám mục cũng dành thời giờ đến thăm và gặp gỡ các cơ quan của Tòa Thánh (Giáo triều Rôma), để bàn hỏi về giáo thuyết đức tin, những hoạt động mục vụ, những sáng kiến tông đồ, hoặc giải quyết những trở ngại trong công việc mục vụ của Hội thánh địa phương.

Các hoạt động của Giáo triều Rôma được xây dựng trên nền tảng là sứ vụ Phêrô và gắn kết với sứ vụ đó. Sứ vụ Phêrô là sứ vụ phục vụ sự hiệp nhất trong Hội thánh, vì thế các hoạt động của Giáo triều Rôma cũng nhằm giữ gìn, bảo vệ, thăng tiến sự hiệp nhất. Sự hiệp nhất trước hết là hiệp nhất đức tin và Đấng kế vị Thánh Phêrô là người “làm cho anh em vững tin”. Sự hiệp nhất đó còn là hiệp nhất trong kỷ luật, vì thế Hội thánh Công giáo có cả một hệ thống luật lệ và những hướng dẫn ứng xử trong nhiều lãnh vực của đời sống Hội thánh. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô I đã nói với các hồng y về vai trò của các cơ quan trong Giáo triều Rôma: “Họ cung cấp cho Vị Đại diện Chúa Kitô những phương tiện cụ thể để thi hành sứ vụ tông đồ mà ngài mắc nợ toàn thể Hội thánh”.

Trong tầm nhìn đó, thiết nghĩ nên khám phá những mặt tích cực của Giáo triều Rôma hơn là chỉ tập trung vào những khiếm khuyết. Dĩ nhiên, với những cơ quan và tổ chức ở tầm vóc quốc tế, sự canh tân là đòi hỏi thường xuyên để có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng và mới mẻ trong một thế giới không ngừng đổi thay. Những suy tư của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II là lời mời gọi cho Giáo triều Rôma cũng như cho từng Hội thánh địa phương:

“Làm cho Hội thánh trở nên mái nhà và ngôi trường của hiệp thông: đây là thách đố lớn chúng ta phải đối diện trong thiên niên kỷ đang bắt đầu, nếu chúng ta muốn trung thành với chương trình của Thiên Chúa và đáp ứng những khát vọng sâu xa nhất của thế giới…

Trong thế kỷ mới, chúng ta phải lượng giá và phát triển những cơ cấu phù hợp với những chỉ dẫn của Công đồng Vaticanô II, để phục vụ và gìn giữ sự hiệp thông. Trước hết, làm sao có thể quên những cấu trúc chính nhằm phục vụ sự hiệp thông, là sứ vụ Phêrô và tính hiệp đoàn giám mục? Đây là những thực tại có nền tảng và bản chất trong chính chương trình của Đức Kitô về Hội thánh, tuy nhiên cần phải thường xuyên xem xét lại để chắc chắn là đang bước theo cảm hứng Tin mừng nguyên thủy. Kể từ Công đồng Vaticanô II đến nay, đã có nhiều điều được thực hiện để cải tổ Giáo triều Rôma, việc tổ chức các Thượng Hội Đồng Giám Mục, và nhiệm vụ của các Hội Đồng Giám Mục. Nhưng chắc chắn còn nhiều việc phải làm để hiện thể hóa tiềm năng của những khí cụ hiệp thông này, nhằm đáp ứng cách nhanh chóng và hiệu quả những vấn đề Hội thánh phải đối diện trong thời đại thay đổi rất nhanh chóng này” (Gioan Phaolô II, Novo millennio ineunte, 43-44).

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVNSố 105 (Tháng 3 & 4 năm 2018)