HT 100: Chỉ dẫn đạo đức và tôn giáo khi chăm sóc bệnh nhân

25/11/2017

HT 100: Chỉ dẫn đạo đức và tôn giáo khi chăm sóc bệnh nhân

CÁC CHỈ DẪN ĐẠO ĐỨC VÀ TÔN GIÁO

CHO CÁC DỊCH VỤ CHĂM SÓC SỨC KHỎE CÔNG GIÁO

Ấn bản lần thứ năm 2009

Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ

Nội Dung

Lời tựa

Dẫn Nhập Tổng Quát

Phần Một: Trách Nhiệm Xã Hội của Dịch Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe Công Giáo

Phần Hai: Trách Nhiệm Mục Vụ và Thiêng Liêng củaChăm Sóc Sức Khỏe Công Giáo

Phần Ba: Tương Quan giữa Nhân viên Y tế và Bệnh Nhân

Phần Bốn: Các Vấn Đề trong Chăm Sóc Lúc Khởi Đầu Đời Sống

Phần Năm: Các Vấn Đề trong Chăm SócLúc Bệnh Nặng và Cận Tử

Phần Sáu: Thiết Lập các Hợp Tác Mới với Các Tổ Chức Chăm Sóc Sức Khỏe và Các Nhà Cung Cấp Khác

Kết Luận

Lời Tựa

Việc chăm sóc sức khỏe (CSSK) ở Hoa Kỳ được đánh dấu bởi sự thay đổi lớn lao. Không chỉ có sự thay đổi liên tục trong thực hành lâm sàng do tiến bộ khoa học kỹ thuật, mà cả hệ thống CSSK tại Hoa Kỳ cũng đang bị thách thức bởi các nhân tố mang tính tổ chức và xã hội nữa. Đồng thời, có một số phát triển trong Giáo hội Công giáo ảnh hưởng đến sứ mạng CSSK của Giáo hội (GH). Trong số này phải kể đến các thay đổi quan trọng trong các Dòng tu và Tu hội đời, giáo dân nam và nữ ngày càngtham gia vào đời sống GH, sự ý thức ngày càng rộng lớn của GH về vai trò của mình trong thế giới và việc phát triển thần học luân lý từ sau Công Đồng Vatican II. Một cách hiểu mới về sứ vụ Chăm Sóc Sức Khỏe mang tính Công Giáo phải tính đến các thách thức mới do GH và xã hội Hoa Kỳ đặt ra.

Qua các thế kỷ, với sự trợ giúp của các khoa học khác, một hệ thống các nguyên tắc luân lý đã được hình thành. Hệ thống này diễn tả giáo huấn của GH về các vấn đề y tế và luân lý. Hệ thống này tỏ ra thích hợp và có thể áp dụng vào các hoàn cảnh CSSK vốn không ngừng thay đổi. Để đáp ứng với các thách đố ngày nay, chính những nguyên tắc luân lý này trong giáo huấn của GH cung cấp nền tảng và định hướng cho việc cải tổ “Các Chỉ Dẫn Đạo Đức và Tôn Giáo cho Các Dịch Vụ Chăm Sóc Sức Khỏe Công giáo”.

Các Chỉ Dẫn này giả thiết bản công bố “Sức khỏe và Chăm sóc Sức khỏe” xuất bản năm 1981.[1] Bản công bố đó trình bày các nguyên tắc thần học hướng dẫn cái nhìn của GH về chăm sóc sức khỏe, mời gọi tất cả các tín hữu tham gia sứ mạng chữa lành của GH, diễn tả việc dấn thân trọn vẹn của các tín hữu đối với sứ vụ CSSK và khích lệ tất cả những ai có liên quan. Giờ đây, khi việc CSSK tại Hoa Kỳ đang đối diện với những thay đổi sâu xa hơn, chúng tôi tái khẳng định việc dấn thân của GH với sứ vụ CSSK và căn tính riêng của GH trong các cơ sở CSSK của mình.[2] Mục đích của “Các Chỉ Dẫn Đạo Đức và Tôn Giáo” nhắm vào hai khía cạnh: một là tái khẳng định các tiêu chuẩn đạo đức về cách hành xử trong việc CSSK xuất phát từ giáo huấn của GH về phẩm giá con người; hai là đưa ra những Chỉ Dẫn có thẩm quyền về một số vấn đề luân lý mà việc CSSKCG ngày nay đang phải đối diện.

“Các Chỉ Dẫn Đạo Đức và Tôn Giáo” cách chính yếu nhắm đến các dịch vụ CSSK xuất phát từ các tổ chức Công giáo. Các chỉ dẫn này dành cho những người tài trợ, ủy thác, quản trị, tuyên úy, bác sĩ, đội ngũ cán bộ y tế, và bệnh nhân hay cư dân thuộc các cơ sở cung cấp dịch vụ này. Vì chúng diễn tả giáo huấn luân lý của GH, các chỉ dẫn này cũng hữu ích cho các chuyên viên Công giáo tham gia vào các dịch vụ CSSK trong các hoàn cảnh khác nhau. Các giáo huấn về luân lý mà chúng tôi đưa ra ở đây xuất phát chủ yếu từ luật tự nhiên, hiểu trong ánh sáng mặc khải của Chúa Kitô đã được ủy thác cho GH. Từ nguồn sáng này, GH có được sự hiểu biết về bản chất của con người, về hành vi nhân linh vàcùng đích chi phối việc hình thành nên các hoạt động của con người.

Các chỉ dẫn này đã được gạn lọc qua một quá trình dài bàn thảo với các Giám mục, thần học gia, người tài trợ, quản trị, bác sĩ và các người liên quan đến việc CSSK. Trong khi cung cấp những tiêu chuẩn và hướng dẫn, các Chỉ Dẫn này không bao hàm cách chi tiết các vấn đề phức tạp mà CSSKCG đang phải đối diện ngày nay. Hơn nữa, các Chỉ Dẫn này sẽ được HĐGM Hoa Kỳ (trước đây là Hội Đồng Quốc gia các Giám Mục Công giáo), xem xét lại cách định kỳ trong ánh sáng Giáo huấn có thẩm quyền của GH, để cập nhật những soi sáng mới đến từ các nghiên cứu về thần học và y khoa hay những đòi hỏi mới đến từ các chính sách cộng đồng.

Các Chỉ Dẫn bắt đầu với phần giới thiệu tổng quát về nền tảng thần học cho dịch vụ CSSKCG. Mỗi mục trong sáu mục tiếp theo đều gồm hai phần. Phần đầu là phần trình bày chung; phần này như phần giới thiệu và cung cấp bối cảnh nơi đó các vấn đề cụ thể sẽ được bàn luận theo cái nhìn đức tin Công giáo. Phần hai là phần mô tả; các Chỉ Dẫn thăng tiến và bảo vệ các chân lý đức tin Công giáo vì các chân lý đó có liên quan chặt chẽ tới các vấn đề cụ thể của dịch vụ CSSK.

Dẫn Nhập Tổng Quát

GH luôn tìm cách thể hiện quan tâm của Đấng Cứu Độ đối với người bệnh. Các trình thuật Tin Mừng về sứ vụ của Chúa Giêsu chú trọng khá nhiều đến hành động chữa lành của Người: Người chữa lành người phong hủi (Mt 8, 1-4; Mc 1, 40-42); Người chữa lành hai người mù (Mt 20, 29-34; Mc 10, 46-52); Người làm cho người câm nói được (Lc 11, 14); Người chữa lành người phụ nữ băng huyết (Mt 9, 20-22; Mc 5, 25-34); và Người làm cho một bé gái sống lại (Mt 9, 18. 23-25; Mc 5, 35-42). Thực vậy, Tin Mừng có nhiều câu chuyện về việc Chúa chữa mọi thứ bệnh hoạn tật nguyền (Mt 9, 35). Trong Tin Mừng Mát-thêu, sứ vụ Chúa Giêsu ứng nghiệm lời tiên tri Isaia: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8, 17; x. Is 53, 4).

Sứ mạng chữa lành của Chúa Giêsu đi xa hơn việc chữa lành bệnh tật thể lý. Người chạm đến con người ở phần hiện hữu sâu xa nhất của họ; Người tìm cách chữa lành họ về phần xác, tinh thần và thiêng liêng (Ga 6, 35; 11, 25-27). Người “đến để họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10, 10).

Mầu nhiệm Chúa Kitô chiếu sáng trên mọi khía cạnh của dịch vụ CSSKCG: xem tình yêu là nguyên tắc sống động của dịch vụ CSSK; xem việc chữa lành và lòng thương cảm là việc nối dài sứ mạng của Chúa Kitô; xem đau khổ như sự tham gia vào sức mạnh cứu độ của cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa; và xem sự chết, được biến đổi nhờ sự phục sinh, như cơ hội cho hành vi cuối cùng hiệp thông với Chúa Kitô.

Với người Kitô hữu, đau khổ và cái chết mang một ý nghĩa tích cực và riêng biệt nhờ sức mạnh cứu độ nơi sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu. Như thánh Phaolô nói, “Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc Thương Khó của Ðức Giêsu, để sự sống của Ðức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi” (2 Cr 4, 10). Sự thật này tuy không làm vơi đi nỗi đau và sự sợ hãi, nhưng cho chúng ta sự tin tưởng và ân sủng để mang lấy sự đau khổ thay vì để nó đè bẹp chúng ta. Sứ vụ CSSKCG làm chứng cho sự thật đó là với những ai ở trong Chúa Kitô, đau khổ và cái chết chỉ là cơn đau đớn trong lúc sinh ra một tạo thành mới. “Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa ở cùng họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ biến mất” (Kh 21, 3-4).

Trong việc trung tín noi gương Chúa Giêsu, GH trong lịch sử đã phục vụ những người bệnh tật, khổ đau và những người cận kề cái chết bằng nhiều cách khác nhau. Sự phục vụ tận tâm của các cá nhân cũng như cộng đoàn đã cho người lữ hành có chỗ trú đêm; cho người đau yếu có bệnh viện; cho trẻ em, người lớn và người già có nhà ở.[3] Ở Hoa Kỳ, các cộng đoàn tu trì cũng như các giáo phận có tài trợ và cung cấp nhân viên cho các cơ sở CSSKCG đều thể hiện một sự hiện diện mang tính Công giáo đầy hiệu quả trong dịch vụ CSSK. Bắt chước người Samari nhân hậu trong Tin Mừng, các cộng đoàn tu này đã thể hiện tình thân cận đích thực với những ai đang cần đến (Lc 10, 25 -37). GH luôn cố gắng để đảm bảo rằng những gì được làm ở quá khứ sẽ được tiếp tục trong tương lai.

Trong khi nhiều cộng đoàn tu sĩ tiếp tục dấn thân cho sứ vụ CSSK, giáo dân đang cộng tác ngày càng một mạnh dạn hơn trong sứ vụ này. Được gợi hứng từ gương Chúa Giêsu và cũng là mệnh lệnh của Công đồng Vatican II, giáo dân được mời gọi hướng đến các sứ vụ rộng lớn hơn và thách đố hơn so với quá khứ.[4] Qua Bí tích Rửa tội, giáo dân được mời gọi tham gia cách năng động vào đời sống và sứ mạng của GH.[5] Sự tham gia và lãnh đạo của họ trong dịch vụ CSSK, ngang qua các hình thức tài trợ và quản trị mới của các cơ sở CSSKCG, có tính thiết yếu đối với GH trong việc tiếp tục sứ vụ chữa lành và thương xót của mình. Họ cũng nhận được sự hợp tác từ nhiều người ngoài Công giáo trong dịch vụ CSSK của GH.

Dịch vụ CSSKCG diễn tả cách đặc biệt sứ vụ chữa lành của Chúa Kitô trong GH địa phương. Nơi đó, Giám mục địa phận thi hành trách nhiệm trong nhiệm vụ của mình như người mục tử, thầy dạy và tư tế. Như là trung tâm nối kết trong giáo phận và là người điều phối các sứ vụ tại GH địa phương, Giám mục địa phận nuôi dưỡng sứ mạng CSSKCG theo cách thức đẩy mạnh sự cộng tác giữa những người lãnh đạo về CSSK, người cung ứng và các bác sĩ, thần học gia, và các chuyên gia khác. Là mục tử, Giám mục địa phận có một vị thế đặc biệt trong việc khuyến khích giáo dân đảm nhận trách nhiệm lớn hơn trong sứ vụ chữa lành của GH. Là thầy dạy, Giám mục địa phận đảm bảo rằng trong giáo phận mình, căn tính luân lý và tôn giáo của sứ vụ CSSK phải được thể hiện trong mọi hoàn cảnh. Là tư tế, Giám mục địa phận giám sát việc chăm sóc thiêng liêng cho các bệnh nhân. Các trách nhiệm này đòi hỏi các nhà cung ứng dịch vụ CSSKCG và Giám mục địa phận phải dấn thân vào việc đối thoại về các vấn đề đạo đức và mục vụ mà Giám mục thấy cần chú ý.

Trong thời đại có nhiều khám phá mới về y học, với nhiều tiến bộ nhanh chóng về kỹ thuật, cùng với nhiều thay đổi nơi xã hội, mọi cái mới đều có thể hoặc là cơ hội cho một sự thăng tiến đích thực văn hóa con người hoặc có thể dẫn tới các chính sách và hành động đi ngược lại với phẩm giá đích thực và ơn gọi của con người. Trong việc tham vấn với các chuyên gia y tế, các vị lãnh đạo GH cần xem xét những sự phát triển này, đánh giá chúng theo các nguyên tắc của lý trí đúng đắn và tiêu chuẩn tối cao của chân lý mặc khải, và đưa ra các chỉ dẫn và giáo huấn có thẩm quyền về trách nhiệm luân lý và mục vụ mà đức tin Công giáo đòi buộc.[6] Tuy GH không thể cung cấp câu trả lời có sẵn cho mọi nan giải về luân lý, nhưng GH có thể cung ứng nhiều chỉ dẫn và đường hướng có tính chuẩn mực. Khi không có quyết định của Huấn quyền, nhưng không trái với giáo huấn của GH, các chỉ dẫn của những vị đã được GH chấp nhận có thể cho chúng ta các hướng dẫn thích hợp về việc đưa ra các quyết định liên quan đến đạo đức.

Được tạo nên giống hình ảnh Thiên Chúa, gia đình nhân loại cũng chia sẻ việc cai quản chăm sóc mà Đức Kitô thể hiện trong sứ vụ chữa lành. Việc chia sẻ này bao hàm việc phục vụ mọi thụ tạo (Ga, 26),mà không lạm dụng hay làm suy kiệt những nguồn tài nguyên tự nhiên. Qua khoa học, con người đi đến việc hiểu được công trình tuyệt vời của Thiên Chúa; và qua kỹ thuật, nhân loại phải giữ gìn, bảo vệ và hoàn thiện tự nhiên trong sự hòa hợp với mục đích của Thiên Chúa. Các chuyên viên CSSK theo đuổi một ơn gọi đặc biệt đó là chia sẻ công trình trao ban sự sống và chữa lành của Chúa.

Việc đối thoại giữa y khoa và đức tin Kitô giáo nhắm chủ yếu đến lợi ích chung của toàn nhân loại. Điều này giả thiết khoa học và đức tin không trái ngược nhau. Cả hai đều đặt nền trên sự tôn trọng chân lý và tự do. Khi tri thức và công nghệ phát triển, mỗi người phải hình thành một lương tâm đúng đắn dựa trên những quy phạm luân lý đối với việc CSSK đúng đắn.

 

PHẦN MỘT

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DỊCH VỤ CSSKCG

Dẫn Nhập

Lòng khao khát chia sẻ sứ mạng chữa lành của Chúa Giêsu đã khiến cho các dịch vụ CSSKCG tại Hoa Kỳ trở nên một phần không thể tách rời khỏi hệ thống CSSK quốc gia. Ngày nay, hệ thống CSSK phức tạp này đang đối diện với nhiều thách thức có tính luân lý, xã hội cũng như kinh tế và khoa học kỹ thuật. Những nguyên tắc hướng dẫn sứ mạng chữa lành của GH sẽ giúp các cơ sở CSSKCG có các bước đi thích hợp trước các thách đố này.

Trước hết, sứ vụ CSSKCG bắt nguồn từ một sự dấn thân nhằm thăng tiến và bảo vệ phẩm giá con người; đây là nền tảng cho việc chú tâm đến việc tôn trọng tính thánh thiêng của sự sống con người từ lúc thụ thai cho tới khi chết. Quyền trên hết của con người, quyền được sống, kéo theo quyền có được những phương tiện để đạt đến sự phát triển thích hợp trong đời sống, ví dụ như việc CSSK đầy đủ.[7]

Thứ hai, mệnh lệnh của Tin Mừng phải chăm sóc cho người nghèo đòi buộc chúng ta diễn tả bằng hành động cụ thể ở mọi cấp độ trong việc CSSKCG. Mệnh lệnh này thúc giục chúng ta dấn thân để bảo đảm rằng hệ thống CSSK quốc gia đáp ứng đầy đủ nhu cầu của  người nghèo. Trong các cơ sở Công giáo, chúng ta phải đặc biệt chú ý đến nhu cầu CSSK của người nghèo, người không có bảo hiểm y tế hay những người chỉ được bảo hiểm một phần.[8]

Thứ ba, dịch vụ CSSKCG tìm cách đóng góp cho lợi ích chung. Lợi ích chung có được khi các điều kiện về kinh tế, chính trị và xã hội đảm bảo được những quyền căn bản của mọi cá nhân và giúp mọi người có thể đạt được mục tiêu căn bản của họ cũng như đạt đến những mục tiêu chung.[9]

Thứ bốn, dịch vụ CSSKCG phục vụ cách có trách nhiệm với các nguồn lực CSSK hiện có. Một hệ thống CSSK công bằng phải quan tâm đến cả việc thăng tiến sự bình đẳng – bảo đảm rằng quyền của mỗi người đối với việc CSSK căn bản phải được tôn trọng – và việc thăng tiến sức khỏe của toàn thể cộng đồng. Việc phục vụ một cách có trách nhiệm đối với những nguồn lực CSSK có thể được hoàn thành cách tốt nhất trong sự đối thoại với mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội, theo các nguyên tắc bổ trợ đi kèm với việc tôn trọng các nguyên tắc luân lý hướng dẫn các cơ sở và cá nhân.

Thứ năm, trong một xã hội đa nguyên, các dịch vụ CSSKCG phải đối diện với các biện pháp y khoa trái với giáo huấn về luân lý của GH. Khi từ chối cung cấp hay cho phép các biện pháp y khoa mà giáo huấn của giáo hội xét thấy sai trái về mặt luân lý, dịch vụ CSSKCG không vi phạm các quyền thuộc lương tâm cá nhân.

Các Chỉ Dẫn

1. Một cơ sở CSSKCG là một cộng đoàn cung cấp dịch vụ CSSK cho những ai cần đến. Các dịch vụ này phải có động lực là Tin Mừng Chúa Giêsu và được hướng dẫn bởi truyền thống luân lý của GH.

2. Dịch vụ CSSKCG phải có đặc nét là tinh thần tôn trọng lẫn nhau nơi nhân viên; tinh thần này giúp nhân viên có cách hành xử theo tinh thần thương xót của Chúa Kitô với những ai họ phục vụ cũng như gia đình của họ đồng thời có được sự nhạy bén trước những người dễ bị tổn thương trong những lúc họ cần được giúp đỡ đặc biệt.

3. Theo sứ mạng của mình, dịch vụ CSSKCG phải nổi bật trong khía cạnh phục vụ và bênh vực những ai mà xã hội gạt ra bên lề và khiến họ dễ là nạn nhân của việc phân biệt đối xử: người nghèo, người không có bảo hiểm hay chỉ bảo hiểm một phần; trẻ em và thai nhi; những người mẹ đơn thân, người già; những người mắc bệnh nan y và những ai phải dùng thuốc suốt đời; người dân tộc thiểu số, người nhập cư và tỵ nạn. Cách riêng, những người bị thiểu năng về trí não hay thể chất, bất kể thuộc nguyên nhân và mức độ nặng nhẹ nào, đều phải được đối xử như những ngôi vị duy nhất, có giá trị tuyệt đối, có cùng một quyền đối với sự sống và với dịch vụ CSSK đầy đủ như mọi người khác.

4.Một cơ sở CSSKCG, đặc biệt là bệnh viện có nhiệm vụ giảng dạy, sẽ thăng tiến việc nghiên cứu y khoa cách nhất quán với sứ mạng CSSK của mình và với việc lưu tâm đến việc phục vụ cách có trách nhiệm đối với các nguồn lực CSSK. Các nghiên cứu y học như thế phải theo sát với các nguyên tắc luân lý Công giáo.

5. Các dịch vụ CSSKCG phải xem những Chỉ Dẫn này như chính sách, đòi hỏi phải tuân theo và coi chúng như là điều điện để sắp đặt các ưu tiên trong y khoa và việc tuyển dụng nhân viên; các chỉ dẫn này cũng cung cấp những hướng dẫn thích hợp liên quan tới các hướng dẫn về quản trị, đội ngũ bác sĩ, y tá, và các nhân viên khác.

6. Một tổ chức CSSKCG phải phục vụ cách có trách nhiệm đối với các nguồn lực CSSK có sẵn. Việc cộng tác với các nhà cung cấp dịch vụ CSSK khác, theo những cách thế không làm phương hại đến giáo huấn về xã hội và luân lý của GH, có thể là một phương tiện hiệu quả cho việc phục vụ như thế.[10]

7. Một cơ sở CSSKCG phải đối xử với nhân viên cách tôn trọng và công bằng. Trách nhiệm này bao gồm: sự bình đẳng về cơ hội làm việc cho mọi người có đủ khả năng, không tính đến chủng tộc, giới tính, tuổi tác, quốc tịch hay khuyết tật; một nơi làm việc khuyến khích sự tham gia của nhân viên; một môi trường làm việc bảo đảm sự an toàn cho nhân viên; sự đền bù và trả lương công bằng; nhìn nhận các quyền của nhân viên trong việc tổ chức và và thương thuyết cách tập thể với cơ sở họ làm việc miễn là không có phương hại với lợi ích chung.

8. Các cơ sở CSSKCG có một tương quan đặc biệt với cả GH và cộng đồng mà họ phục vụ. Vì bản chất tương quan này mang tính GH, các đòi buộc liên quan đến giáo luật phải được tuân giữ khi thiết lập một cơ sở CSSKCG mới; khi xem xét lại toàn bộ sứ mạng của một cơ sở; và khi bán, chuyển nhượng, tài trợ, hay đóng cửa một cơ sở.

9. Các nhân viên trong cơ sở CSSKCG phải tôn trọng và theo đuổi sứ mạng tôn giáo của tổ chức đó và theo sát các Chỉ Dẫn. Họ phải duy trì tiêu chuẩn chuyên môn và thăng tiến việc dấn thân của tổ chức đó đối với nhân phẩm và công ích.

PHẦN HAI

TRÁCH NHIỆM THIÊNG LIÊNG VÀ MỤC VỤ CỦA DỊCH VỤ CSSKCG

Dẫn Nhập

Phẩm giá của sự sống con người xuất phát từ việc được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1, 26), từ việc Chúa Giêsu cứu độ (Ep1, 10; 1 Tm 2, 4-6), và từ cùng đích chung của chúng ta là chia sẻ đời sống với Thiên Chúa vượt ra khỏi mọi sự hư nát (1Cr 15, 42-57). Trước những ai cần đến, cơ sở CSSKCG có trách nhiệm đối xử theo một cách thế thấm nhuần việc tôn trọng nhân phẩm và cùng đích vĩnh cửu dành cho tất cả. Những lời Chúa Giêsu đã khích lệ việc CSSKCG: “Ta đau ốm, các ngươi chăm sóc” (Mt 25, 36). Việc chăm sóc như thế sẽ giúp những ai cần đến có thể cảm nghiệm được phẩm giá và giá trị của chính họ, nhất là khi những điều này bị lu mờ trước gánh nặng bệnh tật hay lo lắng về cái chết sắp đến.

Vì một cơ sở CSSKCG là một cộng đoàn chữa lành và nhân ái, việc phục vụ theo đó không giới hạn vào việc chữa trị bệnh tật thể lý nhưng bao hàm cả các khía cạnh tâm lý xã hội và thiêng liêng của mỗi con người. Chuyên môn y khoa mà cơ sở CSSKCG cung cấp được kết nối với các hình thức chăm sóc khác để thăng tiến sức khỏe và xoa dịu nỗi khổ đau của con người. Vì lý do này, dịch vụ CSSKCG cũng hướng đến bản chất thiêng liêng của con người. “Thiếu vắng sức khỏe tinh thần, công nghệ cao tập trung sát sao vào thể xác sẽ cho rất ít hy vọng trong việc chữa lành con người toàn diện”.[11] Vì hướng đến những nhu cầu thiêng liêng vốn là những điều được trân trọng nhiều hơn trong lúc ốm đau, việc chăm sóc mục vụ là phần không thể thiếu trong dịch vụ CSSKCG. Chăm sóc mục vụ bao hàm rất nhiều công việc thiêng liêng, bao gồm cả việc hiện diện và lắng nghe bệnh nhân; việc giúp bệnh nhân đối diện với sự bất lực, sự đau đớn, lẫn trí của họ; và việc trợ giúp họ nhận ra và tuân theo thánh ý Chúa với niềm vui và bình an lớn hơn. Tất nhiên phải nhìn nhận rằng tiến bộ về khoa học kỹ thuật trong y khoa đã giảm thiểu thời gian nằm viện cách đáng kể. Vì thế việc chăm sóc mục vụ cho bệnh nhân, cách riêng là các bí tích, nói chung phải được cung cấp ở cấp độ Giáo xứ, cả trước và sau khi một người vào viện. Vì lý do này, điều rất quan trọng là phải có những mối liên hệ thân thiết và đầy tính hợp tác giữa các nhân viên thuộc văn phòng chăm sóc mục vụ và các giáo sĩ và thừa tác viên địa phương.

Linh mục, phó tế, tu sĩ và giáo dân là những người thực thi những vai trò tuy khác biệt nhưng bổ trợ lẫn nhau trong việc chăm sóc mục vụ này. Vì nhiều lãnh vực trong việc chăm sóc mục vụ cần đến sự cộng tác cách sáng tạo từ các nhân viên chăm sóc mục vụ trước các nhu cầu cụ thể của bệnh nhân hay cư dân, các chỉ dẫn sau đây chỉ bàn đến một số giới hạn các hoạt động mục vụ cụ thể.

Các Chỉ Dẫn

10. Một tổ chức CSSKCG phải cung cấp việc chăm sóc mục vụ để đáp ứng các nhu cầu tôn giáo và thiêng liêng của tất cả những người cơ sở ấy phục vụ. Nhân viên chăm sóc mục vụ - giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân – phải có sự chuẩn bị chuyên môn thích hợp, bao gồm cả việc hiểu các Chỉ Dẫn này.

11. Nhân viên chăm sóc mục vụ phải làm việc trong sự hợp tác chặt chẽ với giáo xứ địa phương và cộng đoàn tu sĩ. Các hình thức chăm sóc mục vụ thích hợp và/hoặc việc thuyên chuyển đến người thích hợp khác phải có sẵn cho những ai cần đến và phải phù hợp với niềm tin tôn giáo và lòng đạo đức của họ.

12. Với bệnh nhân Công giáo, việc giúp họ lãnh nhận các bí tích là một phần rất quan trọng trong dịch vụ CSSKCG. Phải hết sức nỗ lực để có linh mục hiện diện nơi bệnh viện và các cơ sở CSSK để cử hành bí tích Thánh Thể và giúp bệnh nhân và nhân viên lãnh nhận các bí tích.

13. Phải chú ý cách đặc biệt đến việc tạo điều kiện và giới thiệu cho bệnh nhân lãnh nhận bí tích hòa giải.

14. Các tín hữu Công giáo được chuẩn bị tốt có thể được chỉ định làm thừa tác viên ngoại thường trao Mình Thánh Chúa, theo như Giáo luật và quy định của giáo phận địa phương. Họ phải giúp đội ngũ chăm sóc mục vụ - giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân – qua việc thăm viếng nâng đỡ, nhắc nhở bệnh nhân về sự có mặt của các cha để giải tội, và trao Mình Thánh cho những ai yêu cầu.

15. Để đáp ứng các mong muốn của bệnh nhân, những ai tham gia vào việc chăm sóc mục vụ nên lo sao để có linh mục để ban Bí tích Xức dầu bệnh nhân, với ý thức rằng qua Bí tích này, Chúa Kitô ban ơn và trợ giúp những ai đau ốm nặng hay yếu đi vì tuổi tác. Thông thường, Bí tích này được cử hành khi đương sự còn tỉnh táo. Cũng có thể ban Bí tích này cho những ai đã bất tỉnh hay không còn có thể sử dụng lý trí, nếu có lý do để tin rằng họ mong muốn điều ấy khi còn tỉnh.

16. Mọi người Công giáo có khả năng lãnh nhận Mình Thánh Chúa nên lãnh nhận Của Ăn Đàng khi nguy tử, trong khi họ còn làm chủ được mình.[12]

17. Ngoại trừ trường hợp khẩn cấp (nguy tử), mọi yêu cầu rửa tội cho người lớn hay trẻ em đều phải chuyển đến cho vị tuyên úy cơ sở. Trẻ sơ sinh trong tình trạng nguy tử, bao gồm cả trường hợp sẩy thai, phải được rửa tội nếu như có thể.[13] Trong trường hợp khẩn cấp, nếu không có linh mục hay phó tế, mọi người đều có thể rửa tội.[14] Trong trường hợp rửa tội khẩn cấp, vị tuyên úy hay giám đốc ban chăm sóc mục vụ phải được thông báo.

18. Trong trường hợp người Công giáo đã được rửa tội nhưng chưa lãnh Bí tích Thêm sức và rơi vào tình trạng nguy tử, mọi linh mục có thể trao ban Bí tích Thêm sức cho người ấy.[15]

19. Một danh sách các trường hợp được ban Bí tích Rửa tội hay Thêm sức phải được gửi tới giáo xứ nơi cơ sở tọa lạc và đồng thời được gắn trên bảng rửa tội/thêm sức tại cơ sở.

20. Quy định của GH nói chung quy định chỉ người Công giáo mới lãnh nhận các bí tích. Theo Giáo luật số 844, mục 3, các thừa tác viên Công giáo có thể ban các Bí tích Thánh thể, Giải tội và Xức dầu bệnh nhân cho các thành viên của Giáo hội Đông phương vốn là những người không có sự hiệp thông hoàn toàn với Giáo hội Công giáo, hoặc các giáo hội khác mà theo nhận xét của Tòa Thánh có cùng tình trạng như các Giáo hội Đông phương, nếu những người đó xin các bí tích cho chính họ và có thái độ xứng hợp.

Đối với các Kitô hữu khác không có sự hiệp thông trọn vẹn với GH Công giáo, trong trường hợp nguy tử, hay trường hợp vô cùng khẩn thiết, bốn điều kiện trong giáo luật 844, mục 4, cũng phải có, nghĩa là họ không có thừa tác viên trong cộng đoàn của họ; chính họ xin bí tích cho họ; họ diễn tả đức tin Công giáo trong các bí tích này; và họ có thái độ xứng hợp. Giám mục địa phận có trách nhiệm giám sát thực hành mục vụ này.

21. Việc chỉ định linh mục hay phó tế vào đội ngũ chăm sóc mục vụ thuộc cơ sở Công giáo phải có sự chấp thuận minh nhiên hay sự chuẩn nhận của Giám mục địa phương trong sự cộng tác với việc điều hành cơ sở đó. Việc chỉ định giám đốc đội ngũ chăm sóc mục vụ phải được tiến hành qua việc bàn thảo với Giám mục địa phận.

22. Vì lợi ích của các mối tương quan mang tính đại kết và đối thoại tôn giáo, phải có một chính sách thuộc cấp giáo phận nhắm tới việc chỉ định các thành viên không Công giáo vào đội ngũ chăm sóc mục vụ trong cơ sở CSSKCG. Vị giám đốc ban chăm sóc mục vụ tại cơ sở Công giáo phải là người Công giáo; mọi ngoại lệ với quy tắc này phải có sự chấp thuận của Giám mục giáo phận.

 

PHẦN BA

TƯƠNG QUAN GIỮA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ BỆNH NHÂN

Dẫn Nhập

Người cần chăm sóc sức khỏe và nhân viên chăm sóc - người chấp nhận người kia như là bệnh nhân, thiết lập một tương quan trước hết đòi hỏi sự tôn trọng lẫn nhau, sự tin tưởng, chân thực, và việc bảo mật cách đúng đắn. Trong việc trao đổi thông tin tự do khi chữa trị phải tránh việc lạm dụng, gây tổn thương hay coi thường. Một tương quan như thế sẽ giúp bệnh nhân nói ra các thông tin cá nhân cần thiết cho việc chăm sóc có hiệu quả và cho phép người chăm sóc sử dụng khả năng chuyên môn cách hiệu quả nhất để duy trì hay phục hồi sức khỏe bệnh nhân. Cả nhân viên và bệnh nhân không ai hành xử cách độc lập với người kia; cả hai đều tham gia vào cùng một tiến trình chữa lành.

Ngày nay, một bệnh nhân thường nhận sự chăm sóc từ một đội ngũ nhân viên, cách riêng trong bối cảnh chăm sóc đặc biệt của bệnh viện hiện đại. Nhưng việc có nhiều mối tương quan không làm thay đổi tính chất cá nhân của các tương tác giữa người chăm sóc và người bệnh. Tương quan giữa bệnh nhân và những người chăm sóc là nền tảng quan trọng giúp cho việc chẩn đoán và chăm sóc được tốt đẹp và có hiệu quả. Việc chẩn đoán và chăm sóc, vì thế kéo theo một loạt các quyết định liên quan đến các khía cạnh đạo đức và y khoa. Nhân viên chăm sóc y tế phải có tri thức và kinh nghiệm hầu có thể đạt được mục tiêu chữa trị, duy trì sức khỏe, và chăm sóc nhân ái với người đang bệnh nặng, đồng thời lưu tâm đến niềm xác tín và nhu cầu thiêng liêng của bệnh nhân, và các trách nhiệm luân lý của những ai liên quan. Người cần chăm sóc sức khỏe phải phụ thuộc vào kỹ năng nơi chuyên viên chăm sóc hầu có thể duy trì và cải thiện sức khỏe thể lý, tâm trí, và tinh thần. Bệnh nhân có trách nhiệm dùng các nguồn lực thể lý và tâm trí để hướng đến các mục đích thiêng liêng và luân lý cách hết sức có thể.

Khi chuyên viên chăm sóc sức khỏe và bệnh nhân sử dụng cơ sở CSSKCG, họ cũng chấp nhận thực tế rằng tổ chức này sống sát với cách hiểu của GH vềphẩm giá con người, và việc làm chứng cho điều ấy. Giáo huấn luân lý của GH về việc CSSK nuôi dưỡng mối tương quan giữa chuyên viên y tế và bệnh nhân mang tính liên vị đích thực nhất. Như thế, mối tương quan giữa chuyên viên và bệnh nhân không bao giờ tách biệt khỏi căn tính Công giáo của cơ sở CSSK. Đức tin, điều gợi hứng cho việc CSSKCG, sẽ hướng dẫn các quyết định liên quan đến y khoa theo những cách thế hoàn toàn tôn trọng phẩm giá con người và tôn trọng mối liên hệ với chuyên viên chăm sóc.

Các Chỉ Dẫn

23. Phẩm giá tự nhiên của mỗi người phải được tôn trọng và bảo vệ, bất kể sức khỏe và địa vị của người ấy có như thế nào. Việc tôn trọng phẩm giá con người phải trải rộng tới mọi người thuộc cơ cở CSSKCG.

24. Trong sự hòa hợp với luật địa phương, cơ sở CSSKCG sẽ cho bệnh nhân biết, theo luật của nơi họ sống, những thông tin về quyền của họ đối với việc đưa ra các hướng dẫn khi họ còn tỉnh táo về cách thức họ muốn chữa trị trong tương lai. Tuy nhiên, cơ sở Công giáo sẽ không chấp nhận các hướng dẫn trái ngược với giáo huấn GH. Nếu các hướng dẫn làm trước này xung đột với giáo huấn GH, bệnh nhân phải được giải thích lý do tại sao các hướng dẫn của họ không thể được chấp nhận.

25. Mỗi người có thể xác định trước người đại diện cho mình để đưa ra những quyết định liên quan đến việc CSSK. Các quyết định của người được chỉ định phải trung thành với các nguyên tắc luân lý Công giáo và với ý hướng và giá trị của bệnh nhân, hoặc nếu ý hướng của bệnh nhân không rõ, thì phải hòa hợp với những gì mang lại lợi ích lớn nhất cho người ấy. Trong trường hợp bệnh nhân không có các hướng dẫn làm trước, những ai biết rõ nhất ước nguyện của bệnh nhân – thường là thành viên trong gia đình hay người thân thuộc – phải tham gia vào các quyết định chữa trị cho bệnh nhân - người không còn khả năng đưa ra quyết định.

26. Sự đồng ý do người bệnh hay người đại diện làm với sự tự do và thông tin đầy đủ là điều không thể thiếu trong việc điều trị, ngoại trừ trong trường hợp khẩn cấp khi không thể có được sự đồng ý và không có dấu hiệu nào cho thấy bệnh nhân sẽ từ chối việc chữa trị như thế.

27. Sự đồng ý được làm khi có đủ thông tin và tự do đòi buộc bệnh nhân hoặc người đại diện phải nhận được đầy đủ thông tin về bản chất thiết yếu của cách chữa trị được đề nghị cùng lợi ích, rủi ro, tác dụng phụ, hậu quả, và chi phí kèm theo; và mọi cách thế chữa trị hợp lý và hợp luân lý khác, bao gồm cả việc không chữa trị.

28. Mỗi bệnh nhân hoặc người đại diện phải được tiếp cận với thông tin về y khoa và luân lý và các tư vấn để có thể huấn luyện lương tâm. Quyết định về việc chữa trị được làm khi có đủ thông tin và tự do của bệnh nhân hoặc người đại diện phải được thực hiện nếu nó không đi ngược lại với các nguyên tắc của GH.

29. Tất cả những ai được chăm sóc bởi cở cở CSSKCG có quyền và nghĩa vụ bảo vệ và duy trì sự toàn vẹn về thể lý và các chức năng nơi cơ thể.[16] Khi không còn phương tiện hợp luân lý nào khác có thể áp dụng, sự toàn vẹn chức năng cơ thể có thể được hy sinh để duy trì sức khỏe hay sự sống của bệnh nhân.[17]

30. Việc cấy ghép cơ quan được lấy từ người hiến tặng còn sống là điều hợp luân lý khi sự hiến tặng đó không phá hủy hay làm tổn hại nghiêm trọng bất cứ chức năng thể lý quan trọng nào và lợi ích tiên liệu cho người nhận phải cân xứng với nguy hại gây ra cho người hiến tặng. Hơn nữa, sự tự do của người hiến tặng phải được tôn trọng, và lợi ích kinh tế không được ảnh hưởng đến quyết định của người hiến tặng.

31. Không ai là đối tượng cho các thử nghiệm y khoa hay thử nghiệm gien, ngay cả khi thử nghiệm đó mang tính chữa trị, trừ khi đương sự hay người đại diện trước đó đã đồng ý cách tự do khi có đầy thông tin. Trong trường hợp không mang tính chữa trị, người đại diện chỉ có thể đồng ý khi thử nghiệm không kéo theo rủi ro nghiêm trọng nào cho sức khỏe của bệnh nhân. Hơn nữa, bệnh nhân càng là người có ít khả năng và dễ bị lạm dụng thì lý do để thử nghiệm phải càng lớn hơn, đặc biệt trong trường hợp các thử nghiệm không mang tính chữa trị.

32. Tuy mỗi người buộc phải dùng phương tiện thông thường để bảo vệ sức khỏe của mình, không ai bị đòi buộc phải theo một cách thức chữa trị mà người ấy, với một lương tâm tự do và có đủ thông tin, thấy rằng có quá nhiều nhiều rủi ro và gánh nặng hoặc chi phí quá tốn kém cho gia đình và cộng đoàn trong khi chỉ có được ít hy vọng về lợi ích mang lại.[18]

33. Sức khỏe và hạnh phúc của người bệnh phải được lưu tâm trong khi quyết định về bất cứ phương cách can thiệp mang tính chữa trị nào hoặc về việc sử dụng các kỹ thuật. Các giải pháp chữa trị có nhiều nguy cơ gây hại hoặc gây ra tác dụng phụ không mong muốn chỉ được coi là hợp lý khi mang lợi ích cân xứng cho bệnh nhân.

34. Người chăm sóc chữa trị phải tôn trọng sự riêng tư và bảo mật cá nhân của mỗi bệnh nhân liên quan đến những thông tin trong việc chẩn đoán, điều trị, và chăm sóc.

35. Chuyên viên chăm sóc phải được huấn luyện để nhận ra những dấu hiệu lạm dụng và bạo lực và buộc phải báo cáo những trường hợp lạm dụng với cơ quan có thẩm quyền theo như luật địa phương quy định.

36. Nạn nhân của việc bị lạm dụng tình dục phải nhận được sự chăm sóc với lòng nhân ái và hiểu biết. Người chăm sóc phải hợp tác với nhân viên hành pháp và cung cấp cho đương sự các hỗ trợ về mặt tâm lý và thiêng liêng cũng như các thông tin chính xác về y tế. Một phụ nữ bị hiếp dâm phải được lo sao để cô ấy có thể bảo vệ mình khỏi tiềm năng mang thai từ sự việc đó. Nếu, sau kiểm tra, không có dấu hiệu cho thấy việc thụ thai đã hình thành, đương sự có thể được điều trị bằng thuốc ngăn cản sự rụng trứng, ngăn cản tinh trùng phát triển khả năng thâm nhập trứng hay ngăn cản việc thụ tinh. Tuy vậy, chuyên viên chăm sóc không được phép đề xướng hay đề nghị các giải pháp có mục đích hay có tác dụng trực tiếp đối với việc trục xuất, phá hủy hay can thiệp vào việc làm tổ của trứng đã thụ tinh.[19]

37. Ủy ban đạo đức, hoặc các tham vấn đạo đức thay thế khác, phải có sẵn để trợ giúp những ai cần đến bằng việc cho lời khuyên đối với các tình huống đạo đức đặc thù, bằng việc cung cấp các cơ hội học hỏi, và bằng việc xem lại và đề nghị các chính sách. Với các mục đích này, phải có những tiêu chuẩn thích hợp đối với việc tham vấn đạo đức y khoa trong mỗi giáo phận. Các tiêu chuẩn này vừa tôn trọng trách nhiệm mục vụ của Giám mục địa phận vừa trợ giúp thành viên trong các ủy ban đạo đức làm quen với đạo đức y khoa Công giáo và cách riêng các Chỉ Dẫn này.

 

PHẦN BỐN

CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC CHĂM SÓC LÚC KHỞI ĐẦU SỰ SỐNG

Dẫn Nhập

Việc GH dấn thân bảo vệ phẩm giá con người kéo theo ý thức về tính thánh thiêng của đời sống con người ngay lúc mới hình thành, và ý thức về phẩm giá của hôn nhân và hành vi hôn nhân qua đó sự sống con người được phát sinh. GH không thể chấp thuận các thực hành y khoa gây tổn hại đến mối dây liên kết mang tính luân lý, tâm lý và sinh học vì đây là nơi sức mạnh của hôn nhân lệ thuộc vào.

Sứ vụ CSSKCG làm chứng cho tính thánh thiêng của sự sống “từ lúc thụ thai đến khi chết”.[20] Việc GH bảo vệ sự sống bao gồm thai nhi và việc chăm sóc phụ nữ và con cái của họ trong và sau khi mang thai. Việc GH dấn thân cho sự sống được thể hiện qua việc sẵn sàng cộng tác với mọi người để giảm bớt các nguyên nhân gây tử vong cao nơi trẻ em và cung cấp đủ các hình thức CSSK cho các bà mẹ và con cái trước và sau khi sinh. GH có sự trân trọng sâu xa nhất dành cho gia đình, cho giao ước hôn nhân, và cho tình yêu nối kết vợ chồng với nhau. Điều này bao hàm việc tôn trọng hành vi hôn nhân mà qua đó vợ chồng diễn tả tình yêu và cộng tác với ThiênChúa trong việc tạo ra một con người mới. Công đồng Vatican II xác nhận:

Tình yêu này là tình yêu cao cả của con người… Nó bao gồm điều tốt đẹp của cả con người … Những hành vi trong hôn nhân nhờ đó vợ chồng được hiệp nhất cách thân mật và khiết tịnh đều là những hành vi đáng quý và cao cả. Được diễn tả theo một cung cách con người thực sự, những hành vi này chỉ rõ và thăng tiến việc hiến thân cho nhau qua đó vợ chồng làm phong phú lẫn nhau với lòng vui tươi và tạ ơn.[21]

Hôn nhân và tình yêu đôi lứa tự bản chất hướng đến việc truyền sinh và giáo dục con cái. Con cái thực sự là món quà cao quý nhất của hôn nhân và góp phần chính yếu vào hạnh phúc của cha mẹ… Cha mẹ phải xem là sứ mạng của mình việc trao ban sự sống và giáo dục con cái… Qua đó họ cộng tác với tình yêu Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, và có thể nói, họ là người diễn tả tình yêu đó.[22]

Với những lý do hợp pháp từ bổn phận làm cha mẹ có trách nhiệm, vợ chồng có thể giới hạn số con cái theo cách thức tự nhiên. GH không thể chấp thuận các can thiệp tránh thai “hoặc trước hành vi giao hợp, hay khi đã xong hoặc trong tiến trình phát triển tự nhiên của hành vi này, có ý định, dù là phương tiện hay mục đích, làm cho việc sinh sản trở nên bất khả.[23] Những can thiệp như thế vi phạm “sự nối kết bất khả phân ly mà Chúa đã mong muốn… giữa hai ý nghĩa của hành vi giao hợp: sự hiệp nhất và sự truyền sinh.[24]

Với sự tiến bộ của y sinh học, xã hội có sẵn các kỹ thuật mới để đối phó với việc vô sinh. Tuy chúng ta hân hoan trước tiềm năng tốt lành mà các kỹ thuật này có thể đem lại, chúng ta không thể cho rằng mọi sự khả thi về mặt kỹ thuật thì đều đúng về mặt luân lý. Mọi kỹ thuật giúp sinh sản thay thế cho hành vi hôn nhân đều không phù hợp với phẩm giá con người. Hành vi hôn nhân gắn liền với việc sinh sản thế nào thì việc sinh sản cũng gắn kết một cách tự nhiên với hành vi hôn nhân như vậy. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII nhận thấy:

Việc truyền sinh tự bản chất được trao phó cho hành vi có ngôi vị và ý thức, và như thế nó lệ thuộc vào toàn bộ luật thánh của Chúa: luật bất di bất dịch và bất khả xâm phạm đòi buộc phải được nhận ra và tuân giữ. Vì lý do này, một người không thể dùng các phương tiện và theo các phương pháp truyền sinh vốn có thể hợp pháp đối với cây trồng và vật nuôi.[25]

Vì luật luân lý bắt rễ trong toàn bộ bản chất con người, nên qua việc suy tư về cùng đích thiêng liêng của mình, con người có thể khám phá và cộng tác trong kế hoạch của Đấng Tạo hóa.[26]

Các Chỉ Dẫn

38. Khi hành vi giao hợp trong hôn nhân không thể đạt đến việc sinh sản, việc trợ giúp nào không chia tách mục đích truyền sinh và tính hiệp nhất của hành vi giao hợp, và không thay thế chính hành vi này, việc trợ giúp ấy có thể được dùng để giúp vợ chồng thụ thai.[27]

39. Các kỹ thuật trợ giúp thụ thai nào tôn trọng ý nghĩa hiệp nhất và truyền sinh của hành vi giao hợp và không bao hàm việc phá hủy phôi thai, hoặc không cố ý tạo ra nhiều phôi thai khi biết trước rằng không phải tất cả đều được cấy và một số sẽ được sử dụng đơn giản chỉ để làm gia tăng cơ hội cho các phôi khác được cấy, kỹ thuật ấy có thể được sử dụng trong trường hợp vô sinh.

40. Việc thụ thai dị hợp (nghĩa là, việc thụ thai dùng giao tử của ít là một người hiến tặng không phải vợ/chồng) là điều bị cấm vì nó trái với giao ước hôn nhân, với sự hiệp nhất của vợ chồng và với phẩm giá của cha mẹ và đứa con.[28]

41. Việc thụ thai nhân tạo đồng hợp (nghĩa là kỹ thuật thụ thai dùng các giao tử của vợ chồng trong hôn nhân) cũng bị cấm khi nó tách sự truyền sinh ra khỏi hành vi giao hợp (ví dụ, mọi kỹ thuật thụ tinh ngoài cơ thể).[29]

42. Vì phẩm giá của đứa trẻ và hôn nhân, và vì tính độc đáo của mối tình mẹ-con, việc tham gia vào các hợp đồng hay thỏa thuận để kiếm người mang thai giúp đều không được phép. Hơn nữa, việc thương mại hóa việc đẻ mướn như thế sẽ phá hủy phẩm giá phụ nữ, cách riêng là người nghèo.[30]

43. Cơ sở CSSKCG nào cung cấp kỹ thuật hỗ trợ thụ thai không chỉ nên trợ giúp kỹ thuật cho những cặp vô sinh mà còn phải giúp họ tìm kiếm những giải pháp khác (ví dụ tư vấn, nhận con nuôi).

44. Cơ sở CSSKCG phải cung cấp các dịch vụ chăm sóc tiền sản, theo dõi thai nhi, và chăm sóc hậu sản cho những bà mẹ và con cái của họ theo những cách thế phù hợp với sứ mạng của cơ sở.

45.  Phá thai (nghĩa là, việc trực tiếp và cố ý kết thúc việc mang thai trước khi thai nhi có thể tự sống hoặc trực tiếp cố ý phá hủy thai còn sống) là điều không được phép. Mọi hành vi có tác dụng trực tiếp duy nhất là kết thúc việc mang thai trước khi thai nhi có thể tự sống đều là phá thai. Phá thai, trong bối cảnh luân lý của nó bao gồm cả giai đoạn giữa khi thụ thai và phôi thai làm tổ. Các cơ sở CSSKCG không được cung cấp dịch vụ phá thai, ngay cả khi dựa trên nguyên tắc hợp tác về phương tiện cũng không được.

46. Các cơ sở CSSKCG phải sẵn sàng chăm sóc và hỗ trợ về mặt thiêng liêng, luân lý, tâm lý và thể lý cho những ai chịu đau khổ vì phá thai.

47. Các phẫu thuật, cách chữa trị và thuốc men vốn có mục đích trực tiếp chữa trị một bệnh trầm trọng tương xứng nơi người mang thai đều được phép dùng ngay cả khi dự đoán trước chúng sẽ gây ra cái chết cho thai nhi, nếu xét thấy cách cách chữa trị ấy không thể trì hoãn cho đến khi thai nhi có thể tự sống.

48. Trong trường hợp mang thai ngoài tử cung, không can thiệp nào được coi là hợp luân lý nếu như gây ra việc phá thai trực tiếp.[31]

49. Với lý do cân xứng, cơ sở CSSKCG được phép giúp người mang thai sinh sớm nếu thai nhi có thể tự sống.

50. Việc khám tiền sản được chấp nhận khi việc làm này không đe dọa đến đời sống hay sự toàn vẹn thân thể của thai nhi hay người mẹ và không gây cho họ rủi ro không cân xứng; khi việc chẩn đoán có thể cung cấp thông tin cho việc chăm sóc phòng ngừa cho người mẹ hay việc chăm sóc tiền hoặc hậu sản cho đứa bé; và khi cha mẹ, hay ít là người mẹ, đưa ra sự đồng ý có tự do và thông tin đầy đủ. Việc chẩn đoán tiền sản không được phép khi làm với ý định phá bỏ thai nhi nếu phát hiện thai nhi có khiếm khuyết nghiêm trọng.[32]

51. Các thử nghiệm không mang tính chữa trị trên các phôi sống hay thai nhi đều không được phép, ngay cả khi cha mẹ đồng ý. Các thử nghiệm mang tính cách chữa trị chỉ được phép khi có lý do cân xứng và được cha mẹ đồng ý với tự do khi có đủ thông tin hoặc, nếu không thể liên lạc được với người cha, thì ít là người mẹ. Các nghiên cứu y khoa không gây hại cho đời sống hay sự toàn vẹn thân xác của thai nhi đều được phép với sự đồng ý của cha mẹ.[33]

52. Cơ sở CSSKCG có thể không ủng hộ hay cổ võ các lối thực hành tránh thai, nhưng phải cung cấp cho các cặp vợ chồng và nhân viên y tế chăm sóc họ, các hướng dẫn về giáo huấn GH về việc làm cha mẹ có trách nhiệm và các cách kế hoạch hóa gia đình tự nhiên.

53. Việc triệt sản trực tiếp nam hay nữ, dù vĩnh viễn hay tạm thời, đều không được phép trong cơ sở CSSKCG. Các cách chữa trị gây ra triệt sản được phép dùng khi hiệu quả trực tiếp của chúng hướng đến việc điều trị căn bệnh nguy hiểm hiện tại trong khi không thể tìm được một cách chữa đơn giản hơn.[34]

54. Việc tư vấn về gien có thể được phép khi nhắm đến việc thăng tiến bổn phận làm cha mẹ có trách nhiệm và để chuẩn bị cho việc chữa trị thích hợp cho trẻ em với khiếm khuyết do gien gây ra, căn cứ theo giáo huấn luân lý Công giáo và quyền và nghĩa vụ nội tại của vợ chồng trong việc ban truyền sự sống.

PHẦN NĂM

CÁC VẤN ĐỀ CHĂM SÓC NGƯỜI ĐAU NẶNG VÀ CẬN TỬ

Dẫn nhập

Công cuộc cứu độ và ơn cứu rỗi của Chúa Kitô ôm trọn lấy thân phận con người, đặc biệt trong sự đau khổ bệnh tật và cái chết của họ.[35] Sứ vụ CSSKCG đối diện với thực tại sự chết bằng sự tín thác trong đức tin. Khi đối diện với cái chết – với nhiều người, đây là lúc dường như không còn hy vọng – GH làm chứng cho niềm tin của mình rằng Thiên Chúa đã tạo ra mỗi người cho sự sống vĩnh cửu.[36]

 Trên hết, là nhân chứng cho đức tin, cơ sở CSSKCG sẽ là một cộng đoàn tôn trọng, yêu thương và nâng đỡ bệnh nhân hay người già yếu và gia đình của họ khi họ đối diện với thực tại sự chết. Điều khó đối diện nhất là thời gian đi đến gần cái chết, cách riêng là sự lệ thuộc, sự bất lực, và sự đau đớn vốn là những điều đi kèm với các căn bệnh giai đoạn cuối. Một trong những mục đích của y khoa trong việc chăm sóc người cận tử là việc giảm đau đớn và sầu khổ do đau đớn gây ra. Việc kiểm soát sự đau đớn dưới mọi hình thức là điều quan trọng trong việc chăm sóc người cận tử cách đúng đắn.

Vì sự sống là món quà quý giá của Thiên Chúa nên chân lý này có ý nghĩa sâu xa đối với vấn đề phục vụ sự sống con người. Chúng ta không phải là người sở hữu sự sống của mình, vì thế, không có quyền tuyệt đối trên sự sống. Chúng ta có bổn phận gìn giữ sự sống và dùng nó để làm vinh danh Chúa, nhưng nghĩa vụ gìn giữ sự sống không mang tính tuyệt đối, vì chúng ta có thể từ chối các biện pháp kéo dài sự sống vốn không mang lại lợi ích tương xứng hay quá tốn kém. Tự tử và gây chết êm dịu không bao giờ là các chọn lựa hợp luân lý.

Nhiệm vụ của y khoa là chăm sóc ngay cả khi không thể chữa trị. Bác sĩ và bệnh nhân phải đánh giá các kỹ thuật họ có. Việc suy tư về phẩm giá nội tại của sự sống con người trong mọi chiều kích và về mục đích của việc chăm sóc y tế là điều không thể thiếu để hình thành một phán đoán luân lý thật sự về việc dùng các kỹ thuật để duy trì sự sống. Việc dùng kỹ thuật duy trì sự sống được đánh giá trong ánh sáng của ý nghĩa về đời sống, sự đau khổ và cái chết theo Kitô giáo. Theo cách này, cần tránh hai thái cực: một mặt, việc kiên quyết dùng kỹ thuật vô ích hay gây nhiều gánh nặng ngay cả khi bệnh nhân có thể một cách hợp pháp đã muốn ngưng, và mặt khác việc ngưng dùng các kỹ thuật với ý hướng gây ra cái chết.[37]

Giáo huấn của GH cũng nói tới các vấn đề luân lý liên quan đến việc trợ giúp y khoa trong việc cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho cơ thể. Chúng ta được GH hướng dẫn về vấn đề này rằng GH chống lại gây chết êm dịu, vốn là “một hành động, hay một thiếu sót, mà vì đó hay có ý hướng, gây ra cái chết, để rồi mọi đau khổ theo đó chấm dứt”.[38] Tuy việc trợ giúp y khoa liên quan đến việc cung cấp chất dinh dưỡng không có tính đòi buộc về mặt luân lý trong một số trường hợp, nhưng những hình thức chăm sóc căn bản này về nguyên tắc phải có sẵn cho mọi bệnh nhân cần đến, bao gồm cả bệnh nhân thuộc tình trạng “đời sống thực vật trường kỳ”, vì ngay cả một bệnh nhân suy yếu và bất lực nhất vẫn giữ nguyên vẹn phẩm giá con người và phải nhận được sự chăm sóc thông thường và tương xứng.

Các Chỉ Dẫn

55. Các cơ sở CSSKCG chăm sóc người nguy tử do bệnh tật, tai nạn, tuổi tác hay các hoàn cảnh tương tự phải cung cấp cho họ những cơ hội thích hợp để chuẩn bị cho cái chết. Những ai nguy tử cần được cung cấp mọi thông tin cần thiết để giúp họ hiểu hoàn cảnh của họ và có cơ hội bàn thảo điều kiện của họ với gia đình và bác sĩ. Họ cũng nên được báo cho biết các thông tin về y khoa thích hợp giúp họ hiểu được các chọn lựa hợp luân lý hầu có thể chọn lựa. Họ cũng phải được cung cấp sự hỗ trợ thiêng liêng cũng như có cơ hội nhận các bí tích để chuẩn bị tốt cho cái chết.

56. Mỗi người có bổn phận luân lý dùng các phương tiện thông thường và cân xứng để giữ gìn sự sống của mình. Các phương tiện cân xứng là những phương tiện theo phán đoán của bệnh nhân mang lại hy vọng về lợi ích tương xứng và không kéo theo quá nhiều gánh nặng hoặc chi phí quá lớn cho gia đình và cộng đồng.[39]

57. Mỗi người có thể bỏ qua các phương tiện ngoại thường hoặc không cân xứng để duy trì sự sống. Các phương tiện không cân xứng là các phương tiện theo phán đoán của bệnh nhân không mang lại hy vọng về ích lợi tương xứng hoặc kéo theo quá nhiều gánh nặng hoặc chi phí quá lớn cho gia đình và cộng đồng.

58. Theo nguyên tắc, phải cung cấp thức ăn nước uống cho bệnh nhân, bao gồm cả chất dinh dưỡng và dịch truyền có sự hỗ trợ về mặt y khoa cho những ai không thể ăn uống qua miệng. Trách nhiệm này áp dụng đối với những bệnh nhân mạn tính và các tình trạng được xem là không thể phục hồi (ví dụ, đời sống thực vật trường kỳ), họ là những người một cách hợp lý có hy vọng sống lâu nếu được chăm sóc như thế.[40] Chất dinh dưỡng và dịch truyền có sự hỗ trợ về mặt y khoa trở thành điều không bắt buộc về mặt luân lý khi điều ấy không có nhiều hy vọng kéo dài đời sống bệnh nhân hay khi chúng “kéo theo gánh nặng quá lớn cho bệnh nhân hay gây quá nhiều khó chịu về mặt thể xác, chẳng hạn như việc có quá nhiều phương tiện phức tạp được sử dụng”.[41] Ví dụ, khi một người đi đến gần cái chết không thể tránh khỏi do bệnh nặng và đã tiến triển đến những giờ phút cuối, một số cách thức cung cấp chất dinh dưỡng và nước cho bệnh nhân có thể là gánh nặng quá sức và vì thế trở thành điều không bắt buộc vì lý do những phương tiện ấy mang lại rất ít khả năng kéo dài sự sống hay đem lại sự thoải mái cho bệnh nhân.

59. Khi bệnh nhân trưởng thành có quyết định tự do và được làm khi có đầy đủ thông tin về việc dùng hay ngưng dùng các kỹ thuật duy trì sự sống, thì quyết định ấy phải luôn được tôn trọng và thực hiện, trừ khi nó trái với giáo huấn luân lý của GH.

60. Vấn đề trợ tử là một hành động hay một thiếu sót, tự chính nó hay có ý hướng, gây ra cái chết để giảm bớt đau khổ cho bệnh nhân. Các cơ sở CSSKCG không bao giờ đồng tình hay tham gia vào vấn đề trợ tử hay trợ giúp tự tử dưới bất cứ hình thức nào. Các bệnh nhân bệnh nặng yêu cầu trợ tử phải nhận được sự chăm sóc đầy tình thương, sự hỗ trợ về tâm lý và thiêng liêng, và các biện pháp chăm sóc thích hợp để giảm đau và các triệu chứng khác để họ có thể sống với nhân phẩm cho tới thời điểm cái chết tự nhiên diễn ra.[42]

61. Phải giúp bệnh nhân tránh được đau đớn bao nhiêu có thể để họ có thể chết cách bình an và với nhân phẩm, và nên để họ chết nơi họ muốn. Vì một người có quyền chuẩn bị cho cái chết của mình khi còn tỉnh, nên không ai được tước đoạt quyền lương tâm của họ khi không có lý do đòi buộc. Thuốc giảm đau hay ức chế cơn đau có thể cho người đang cận kề cái chết dùng ngay cả khi những thuốc này có thể giảm bớt thời gian sống của bệnh nhân miễn là không có ý hướng gây ra cái chết nhanh hơn. Những bệnh nhân chịu đau đớn mà không thể giảm bớt do thuốc men phải được trợ giúp để hiểu được ý nghĩa cứu độ nơi sự đau khổ theo cái nhìn Kitô giáo.

62. Việc quyết định một người đã chết hay chưa phải do bác sĩ hay chuyên viên y khoa có thẩm quyền quyết định trong sự phù hợp với các tiêu chuẩn khoa học đáng tin cậy và được chấp nhận cách phổ biến.

63. Các cơ sở CSSKCG nên khuyến khích và cung cấp các phương tiện để những ai muốn, với các mục tiêu hợp đạo đức, có thể thu xếp việc hiến tặng nội tạng và mô cơ thể, để có thể nghiên cứu hay hiến tặng sau khi đương sự qua đời.

64. Những cơ phậnđịnh hiến tặng đó không được lấy khỏi cơ thể cho đến khi bác sĩ xác nhận rằng bệnh nhân đã qua đời. Để tránh xung đột về lợi ích, bác sĩ quyết định cái chết của bệnh nhân không thuộc nhóm bác sĩ cấy ghép nội tạng.

65. Việc dùng mô tế bào hay nội tạng của trẻ em có thể được phép sau khi đương sự qua đời và nếu được cha mẹ hay người bảo hộ đồng ý khi có đủ thông tin.

66. Các cơ sở CSSKCG không được dùng tế bào cơ thể của những thai nhi bị phá thai trực tiếp, ngay cả khi dùng để nghiên cứu vì mục đích chữa trị.[43]


PHẦN SÁU

THIẾT LẬP SỰ CỘNG TÁC MỚI

VỚI CÁC TỔ CHỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE KHÁC

Dẫn nhập

Cho đến gần đây, hầu hết các cơ sở CSSK có sự độc lập với các cơ quan CSSK khác. Tuy vậy, các cơ sở CSSKCG ngày càng liên đới nhiều hơn với các tổ chức CSSK khác. Chẳng hạn, nhiều hệ thống và cơ sở CSSKCG tham gia góp vốn với các cơ sở địa phương hay nhóm y bác sĩ khác để mua các công nghệ và dịch vụ. Một hiện tượng nữa đó là các hệ thống và cơ sở CSSKCG tham gia hay đồng tài trợ những mạng lưới chăm sóc hay các cơ quan quản lý chăm sóc sức khỏe để có thể ký kết với các nhà bảo hiểm và những người chi trả cho việc CSSK. Trong một vài trường hợp, các hệ thống CSSKCG tài trợ một kế hoạch CSSK hay một tổ chức bảo dưỡng sức khỏe. Tại một số giáo phận, việc liên kết kéo theo việc giảm con số các nhà cung cấp dịch vụ CSSK, và đôi khi các cơ sở Công giáo là nhà cung cấp dịch vụ CSSK duy nhất. Dù ở cấp độ nào, việc liên kết tạo ra nhiều mối tương quan đan xen: giữa các nhà cung cấp dịch vụ, giữa nhà cung cấp và cộng đồng, giữa y bác sĩ và các cơ sở CSSK, giữa dịch vụ CSSK và người trả tiền.

Một mặt, những liên kết mới này được xem là cơ hội để các cơ sở và dịch vụ CSSKCG làm chứng cho việc dấn thân mang tính đạo đức và tôn giáo của mình và như thế ảnh hưởng tốt đến sứ vụ chữa bệnh. Ví dụ, việc liên kết giúp thực hiện giáo huấn xã hội của GH. Việc liên kết mới cũng có thể là các cơ hội để tái sắp xếp hệ thống cung cấp dịch vụ CSSK tại địa phương để mang lại một hệ thống CSSK có tính liên tục và thống nhất cho cộng đồng; các liên kết này có thể làm chứng cho việc phục vụ cách có trách nhiệm với các nguồn lực CSSK giới hạn; các liên kết này còn là cơ hội cung cấp cho người nghèo và người yếu thế cô thân có được sự bình đẳng trong việc chăm sóc sức khỏe căn bản.

Mặt khác, các liên kết mới này có thể tạo ra các thách thức nghiêm trọng cho sự sống còn của căn tính Công giáo nơi các cơ sở CSSKCG, cũng như cho khả năng của họ trong việc thực thi các Chỉ Dẫn này cách thống nhất, đặc biệt khi những liên kết đó bao gồm những đối tác không chia sẻ cùng các nguyên tắc luân lý với chúng ta. Nguy cơ về gương xấu là điều không thể coi thường khi đối tác không hành xử theo các nguyên tắc luân lý hay các giá trị chung. Đối với một vài cơ sở CSSKCG, các cơ hội liên kết còn bao hàm nguy cơ đe dọa sự tồn tại của chính các cơ sở này, cách riêng khi các đối tác có động cơ hoạt động là tài chính mà thôi. Vì những nguy cơ ẩn tàng trong việc liên kết đang xuất hiện, việc phải gia tăng liên kết giữa các cơ sở CSSKCG với nhau phải là ưu tiên trước khi đi tìm các đối tác khác.

Tuy vậy, các thách đố lớn phát sinh từ các đối tác không nhất thiết khiến chúng ta, xét theo các nguyên tắc luân lý, phải loại trừ khả năng liên kết với họ. Các nguy cơ tiềm tàng này đòi hỏi việc liên kết mới phải trải qua những phân tích luân lý khách quan và có hệ thống, phân tích này lưu tâm tới các yếu tố khác nhau vốn thường đẩy các cơ sở và dịch vụ CSSK vào một liên kết vốn có thể làm giảm tính tự quyết và sứ mạng của phía Công giáo. Các chỉ dẫn sau được đưa ra để trợ giúp các dịch vụ và cở sở CSSKCG trong tiến trình phân tích này. Vì mục đích này, Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (trước đây là Hội Nghị Quốc Gia các Giám Mục Công Giáo) đã thành lập một ủy ban chuyên biệt về “Các vấn đề CSSK và GH”, ủy ban này là nơi để các Giám mục và các nhà lãnh đạo CSSK có thể tìm sự trợ giúp.

Ấn bản mới này về ‘Các Chỉ Dẫn Mang Tính Tôn Giáo và Đạo Đức” bỏ qua phần phụ lục liên quan đến việc cộng tác mà ấn bản năm 1995 có. Kinh nghiệm cho thấy rằng việc diễn tả ngắn gọn các nguyên tắc trong việc hợp tác trong ấn bản trước không đủ để tiên liệu một vài sự hiểu sai có thể xảy ra và trong thực tế gây ra các vấn nạn trong việc áp dụng cách cụ thể những nguyên tắc ấy. Các chuyên gia thần học đáng tin cậy phải được tham vấn trong việc diễn giải và áp dụng các nguyên tắc chi phối việc hợp tác, với điều kiện rằng, trên nguyên tắc, phía Công giáo phải tránh đi vào một liên kết mà nơi đó họ tham gia vào việc hợp tác với những hành động sai trái của các đối tác khác.

Các Chỉ dẫn

67. Các quyết định có thể dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng đối với căn tính hay danh tiếng của dịch vụ CSSKCG, hoặc kéo theo nguy cơ cao về gương xấu, phải có sự tham vấn trước với Giám mục giáo phận hay với người đặc trách về CSSK của ngài.

68. Khi đối tác có ảnh hưởng đến sứ mạng hoặc căn tính Công giáo và đạo đức của cơ sở CSSKCG, họ phải tôn trọng giáo huấn và nguyên tắc của GH. Các giám mục giáo phận và các nhà lãnh đạo khác trong GH phải tham gia khi những việc liên kết đó đang được xúc tiến, và vị Giám mục địa phương phải cho ý kiến thích hợp trước khi việc liên kết được ký kết. Sự chấp thuận của Giám mục là điều phải có đối với một liên kết được tài trợ bởi các cơ sở trực thuộc quyền của ngài; với những cở sở thuộc dòng tu và thuộc quyền Giáo hoàng, cần có sự phê chuẩn “nihil obstat” của ngài.

69. Nếu một tổ chức CSSKCG xem xét việc liên kết với một tổ chức khác vốn có những hoạt động xét thấy trái với giáo huấn GH, tổ chức ấy phải giới hạn phạm vi liên kết của mình vào các lãnh vực không trái với các nguyên tắc luân lý của GH.

70. Các tổ chức CSSKCG không được phép tham gia vào các cách thức cộng tác trực tiếp về mặt phương tiện đối với những hành động sai trái luân lý có tính nội tại như phá thai, gây chết êm dịu, trợ tử, và triệt sản trực tiếp.[44]

71. Khả năng gây gương xấu phải được xem xét khi áp dụng các nguyên tắc trong sự hợp tác.[45] Việc hợp tác, mặc dù về mọi phương diện khác đều hợp luân lý, vẫn có thể cần bị từ chối vì những gương xấu có thể phát sinh. Các gương xấu có thể đôi khi tránh được bằng một sự giải thích thỏa đáng về những gì thực sự được làm tại cơ sở CSSK dưới sự bảo trợ Công giáo. Giám mục giáo phận có trách nhiệm cuối cùng trong việc đánh giá và trả lời các vấn đề về gương xấu; ngài phải xét đến không chỉ hoàn cảnh trong giáo hội địa phương nhưng còn dư âm của quyết định của ngài có trên vùng và quốc gia của ngài.[46]

72. Phía Công giáo trong việc soạn thảo hợp đồng phải có quyền xem xét định kỳ liệu những thỏa thuận có được tuân giữ và việc thực thi có gì trái với giáo huấn GH không.

KẾT LUẬN

Bệnh tật nói với chúng ta về giới hạn và sự mong manh của phận người. Bệnh tật có thể vì tuổi tác hay những chấn thương do tuổi trẻ quá sung sức. Bệnh tật có thể cấp tính hay mạn tính, mới phát hay đã đến giai đoạn cuối. Tuy vậy, những người theo Chúa đối diện với bệnh tật và các hệ lụy của kiếp người với một ý thức rằng Chúa Giêsu luôn chạnh lòng thương những ai đau yếu.

Chúa Giêsu không chỉ dạy các môn đệ phải biết chạnh lòng thương, Ngài còn dạy họ biết ai là đối tượng của lòng thương yêu ấy. Dụ ngôn bữa tiệc với những vị khách mời khiêm tốn đi sau lời dạy: “Khi các người tổ chức tiệc, hãy mời người nghèo, què quặt, và đui mù” (Lc 14, 13). Đây là những người Chúa Giêsu chữa lành và yêu mến.

Việc CSSKCG là cách thức dấn thân trước thách đố mà Chúa Giêsu mời gọi chúng ta: hãy đi và làm như vậy. Các dịch vụ CSSKCG hân hoan trước thách đố trở nên tình thương chữa lành của Chúa Kitô trong thế giới và thấy sứ vụ của họ không chỉ là nỗ lực để phục hồi và gìn giữ sức khỏe nhưng còn là một công việc thiêng liêng và một dấu chỉ hướng đến sự chữa lành sau cùng mà một ngày nào đó sẽ đem lại một tạo thành mới vốn là hoa trái sau cùng của sứ vụ Chúa Giêsu và tình yêu của Thiên Chúa cho chúng  ta.

Ấn bản lần thứ năm này về các Chỉ Dẫn Đạo Đức và Tôn Giáo đối với Dịch Vụ CSSKCG được Ủy ban Giáo lý của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ (USCCB) khai triển và được toàn bộ Hội Đồng Giám Mục chuẩn nhận như là bộ luật mang tính quốc gia vào buổi họp tháng 11, 2009. Việc biên tập các Chỉ Dẫn, là điều sẽ thay thế tất cả các Chỉ Dẫn trước, đã được các Giám mục giáo phận đề nghị triển khai và được người ký tên dưới dây cho phép xuất bản.

Đức Ông. David J. Malloy, STD 

Tổng Thư Ký, USCCB

 

Lm Vũ Uyên Thi S.J. và BS Trần Như Ý-Lan, CNDchuyển dịch từ

Ethical and Religious Directives for Catholic Health Care Services

Fifth edition, 2009, United States Conference of Catholic Bishops

http://www.usccb.org/about/doctrine/ethical-and-religious-directives/


[1]Hội Đồng Giám Mục Hoa-Kỳ, Sức Khỏe và Việc Chăm Sóc Sức Khỏe: Thư Mục vụ của các Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ (Washington, DC: Hội Đồng Giám Mục Hoa-Kỳ, 1981).

[2] Các dịch vụ CSSK dưới sự bảo trợ của GH Công giáo mang nhiều hình thức khác nhau (như bệnh viện, trạm xá, cơ sở điều trị ngoại trú, trung tâm cấp cứu, cơ sở chăm sóc bệnh nhân giai đoạn cuối, nhà hưu dưỡng và các giáo xứ). Tùy vào bối cảnh, những Chỉ Dẫn này sẽ dùng từ “cơ sở” và/hoặc “dịch vụ” để bao hàm nhiều hoàn cảnh khác nhau.

[3]Sức Khỏe và Chăm Sóc Sức Khỏe, p. 5.

[4] Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về Tông đồ Giáo dân (Apostolicam Actuositatem) (1965), số 1.

[5] Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Lời Cổ võ Tông đồ Hậu Hội nghị về Ơn gọi và Sứ mạng của Giáo dân trong Giáo hội và trên Thế giới (Christififeles Laici) (Washington, DC: Hội Đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, 1988), số.29.

[6] Chẳn hạn, xem Bộ Giáo Lý và Đức tin, Tuyên ngôn về việc Phá thai Cố ý (1974); Bộ Giáo Lý và Đức tin, Tuyên Ngôn về Làm Chết Êm Dịu (1980); Bộ Giáo Lý và Đức tin,Huấn thị Hồng Ân Sự Sống:Những Chỉ Dẫn về việc Tôn trọng Sự sống Con người ngay từ Khởi đầu và Phẩm giá của việc Truyền sinh: Trả lời một số Vấn đề Thời đại (Donum Vitae) (Washington, DC: Hội Đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, 1987).

[7] Giáo hoàng Gioan XXIII, Thông Điệp Hòa Bình trên Trái Đất (Pacem in Terris) (Washington, DC: Hội Đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, 1963), số 11; Sức Khỏe và việc Chăm sóc Sức khỏe, tr. 5, 17-18; Giáo lý HTCG, ấn bản lần hai, (Washington, DC: Libreria Editrice Vaticana - Hội Đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, 2000), số 2211.

[8] Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Các Lưu tâm về Xã hội, Tông thư về Dịp Kỷ niệm lần thứ Hai mươi Văn kiện “Populorum Progressio”(Sollicitudo Rei Socialis) (Washington, DC: Hội Đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, 1988), số 43.

[9] Hội Đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, Công bằng về Kinh tế cho Tất cả: Thư Mục vụ về Giáo huấn Công giáo về Xã hội và nền Kinh tế Hoa- Kỳ (Washington, DC: Hội ĐồngGiám Mục Hoa- Kỳ, 1986), số 80.

[10] Nghĩa vụ phục vụ có trách nhiệm đòi hỏi sự cộng tác có trách nhiệm. Nhưng trong các nỗ lực cộng tác này, các dịch vụ tại các cơ sở CSSKCG phải lưu ý đến những trường hợp các chính sách và thực hành của các cơ sở khác không tương thích với giáo huấn luân lý của Giáo hội. Lúc này, các cơ sở CSSKCG phải xác định xem những việc hợp tác như thế có được phép không hoặc được phép trong phạm vi nào. Để có quyết định, ban quản trị thuộc cơ sở Công giáo phải bám sát các nguyên tắc luân lý đối với việc hợp tác. Xem thêm phần Sáu.

[11]Sức Khỏe và việc Chăm sóc Sức khỏe, tr.12.

[12] X. Giáo Luật, số 921-923.

[13] X. sđd, số 867§ 2, và số 871.

[14] Để ban Phép Rửa tội trong trường hợp khẩn cấp, người làm phải có ý hướng đúng đắn (làm những gì GH nhắm đến trong Bí tích Rửa tội) và đổ nước trên đầu người lãnh nhận, đồng thời đọc những lời sau: “Tôi rửa em (anh, chị) nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.

[15] X, Giáo luật số 883, mục 3.

[16] Chẳng hạn, việc hiến tặng một thận có thể được xem là việc vi phạm sự toàn vẹn sinh học, nhưng một hiến tặng như thế không vi phạm sự toàn vẹn chức năng vì con người có thể sống với chỉ một thận.

[17] X. chỉ dẫn số 53.

[18]Tuyên ngôn về Làm Chết Êm Dịu, Phần IV; X. Các chỉ cẫn số 56-57.

[19] Người nữ bị xâm hại tình dục phải được thông báo về các ràng buộc đạo đức vốn không cho phép bệnh viện Công giáo tiến hành các thủ tục phá thai; x. Hội thảo Công giáo tại Pennsylvania, “Các Chỉ dẫn cho Bệnh viện Công giáo khi Điều trị Nạn nhân bị Xâm hại Tình dục”, Origins 22 (1993): 810.

[20] Giáo hoàng Gioan Phaolô II, “Bài nói chuyện ngày 29.10.1983 với Tổng hội nghị lần thứ 35 về Hiệp hội Y tế Thế giới Hiện đại” Acta Apostolocae Sedis 76 (1984): 390.

[21] Vatican II, Hiến chế Mục vụ Vui Mừng và Hy Vọng, (Gaudium et Spes) (1965), số 49.

[22] Sđd, số 50.

[23] Giáo hoàng Phaolô VI, Thông Điệp Sự Sống Con Người (Humanae Vitae) (Washington, DC: Hội Đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, 1986), số 14.

[24] Sđd, số 12.

[25] Giáo Hoàng Gioan XXIII, Thông Điệp ‘Mater et Magistra’ (1961), số 193, được trích trong Bộ Giáo lý Đức tin, Donum Vitae, số 4.

[26] Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông Điệp Ánh Rạng ngời Chân lý (Veritatis Splendor) (Washington, DC: Hội đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, 1993), số 50.

[27] “Việc thụ tinh nhân tạo đồng hợp trong hôn nhân sẽ không được phép, trừ những trường hợp các phương tiện kỹ thuật không thay thế hành vi giao hợp nhưng chỉ hỗ trợ để hành vi ấy đạt được kết quả tự nhiên” (Donum Vitae, Phần II, B, số 6; x. Phần I, các số 1,6).

[28] Sđd, Phần II, A, số 2.

[29]Kỹ Thuật thụ tinh nhân tạo thay thế hành vi giao hợp là điều bị cấm với lý do cố ý tách biệt hai ý nghĩa của hành vi giao hợp. Thủ dâm, cách thông thường để lấy tinh trùng, là một dấu hiệu nữa của việc tách biệt này: ngay cả khi việc này được làm với mục đích truyền sinh, hành vi ấy thiếu chiều kích hiệp nhất: “Nó thiếu tương quan trong hành vi giao hợp vốn là điều luân lý đòi buộc, nghĩa là, tương quan giúp có được “ý nghĩa đầy đủ của tình yêu trao hiến lẫn nhau và việc truyền sinh mang tính nhân văn trong bối cảnh tình yêu chân thực”. (Donum Vitae, Phần II, B, số 6).

[30] Sđd, Phần II, A, số 3.

[31] X. Chỉ Dẫn 45.

[32]Donum Vitae, Phần I, số 2.

[33] X. Sđd, số 4. (Washington, DC: Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, 1988), số 43.

[34] X. Bộ Giáo Lý Đức tin, “Trả lời cho các Vấn đề về ‘Cô lập Tử cung’ và các Vấn đề Liên quan” 32.07.1993 Origins 24 (1994): 311-212.

[35] Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Tông thư về Ý nghĩa của Đau khổ theo Kitô giáo (Salvifici Doloris) (Washington, DC: Hội Đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, 1984), các số 25-27.

[36] Hội Đồng Giám Mục Hoa- Kỳ, Nghi lễ An táng mang tính Kitô giáo (Collegeville, Minn.: The

Liturgical Press, 1989), số 1.

[37] Xem Tuyên ngôn về Làm Chết Êm Dịu.

[38] Sđd, Phần II.

[39] Ibid., Phần IV; Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông Điệp Tin Mừng Sự Sống, về Giá trị và Tính bất khả xâm phạm của Sự sống Con người (Evangelium Vitae) (Washington, DC: Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, 1995), số 65.

[40] Xem Giáo hoàng Gioan Phaolô II, bài nói chuyện với những người tham dự hội nghị quốc tế về “Các Chữa trị Duy trì Sự sống và Đời sống Tình trạng Thực vật: Những Tiến bộ Khoa học và các Vấn nạn Đạo đức” (20.03.2004), số 4, nơi ngài nhấn mạnh rằng “việc cung cấp dưỡng chất và nước uống, ngay cả khi phải dùng các phương tiện nhân tạo, vẫn luôn là những cách tự nhiên để duy trì sự sống, không phải là can thiệp mang tính y khoa”, xem thêm Bộ Giáo lý Đức tin, “Trả lời một số Câu hỏi của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về việc Cung cấp Chất Dinh Dưỡng và Nước theo Cách thức Nhân tạo” (01.08.2007)

[41] Bộ Giáo lý Đức tin, Bàn về “Trả lời Một số Câu hỏi của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ về việc Cung cấp Chất Dinh Dưỡng và Nước theo Cách thức Nhân tạo”.

[42] Xem Bản Tuyên ngôn về Làm Chết Êm Dịu, Phần IV.

[43]Donum Vitae, Phần I, số 4.

[44] Trong khi có nhiều hành vi với mức độ nghiêm trọng về luân lý khác nhau có thể được xem là xấu nội tại, trong bối cảnh CSSK hiện tại, những vấn đề nóng bỏng nhất vẫn là phá thai, gây chết êm dịu, trợ tử và triệt sản trực tiếp. Xem, Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong bài nói chuyện dịp Ad Limina với các giám mục Texax, Oklahoma, and Arkansas (Vùng X), trong Origins 28 (1998): 283. Xem thêm “Trả lời của Bộ Giáo lý Đức tin về Triệt sản trong Bệnh viện Công giáo” (Quaecumqu Sterilizatio), 13.03.1975, Origins 6 (1976): 33-35: “Mọi sự hợp tác, được tổ chức đồng ý hoặc cho phép, với những hành động tự chúng, nghĩa là theo bản chất và điều kiện của chúng, hướng tới việc tránh thai … thì tuyệt đối bị cấm.  Đối với việc chính thức chấp thuận triệt sản trực tiếp và, nghiêm trọng hơn, việc giám sát và thực hiện hành vi này theo như quy định của bệnh viện, là một vấn đề, về khía cạnh khách quan mà nói, tự bản chất là xấu.” Chỉ dẫn này thay thế “Bàn luận về Trả lời của Bộ Giáo lý Đức tin về việc Triệt sản trong các Bệnh viện Công giáo” được Hội Đồng Giám mục Hoa Kỳ xuất bản 15.09.1977, trong Origins 7 (1997): 399-400.

[45]Xem Giáo Lý HTCG: “Gương xấu là một thái độ hay hành vi dẫn người khác đến chỗ làm việc xấu” (số 2284); “Bất cứ ai dùng quyền của mình theo những cách thế dẫn người khác đến chỗ làm việc xấu sẽ mắc tội về gương xấu đó và chịu trách nhiệm về điều xấu mà mình đã trực tiếp hay gián tiếp khuyến khích” (số 2287).

[46] Xem “Vai trò Mục vụ của Giám mục Địa phận trong Sứ vụ Chăm sóc Sức khỏe có Tính Công giáo”, Origins 26 (1997): 703.

 Ghi chú: Năm 2001 Hội nghị quốc gia các giám Mục Công giáo và Hội nghị công giáo Hoa Kỳ trở thành Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.

 

 

LỊCH PHỤNG VỤ