Ban Nghiên huấn

Ủy ban Giáo dân

Hội đồng Giám mục Việt Nam


CÁC BÀI THƯỜNG HUẤN DÀNH CHO GIÁO DÂN

THÁNG 9/2026

BÀI I - GẶP GỠ ĐỨC KITÔ NƠI NGƯỜI NGHÈO, BÉ MỌN VÀ BỊ BỎ RƠI

BÀI II - ĐỨC ÁI KITÔ GIÁO - NGÔN NGỮ CỤ THỂ CỦA TIN MỪNG

BÀI III - TRAO QUYỀN CHO NGƯỜI YẾU THẾ:

NÂNG ĐỠ HỌ ĐỨNG LÊN BẰNG PHẨM GIÁ

BÀI IV - ĐỂ LÒNG MỀM LẠI TRƯỚC NỖI KHỔ THA NHÂN


BÀI I - GẶP GỠ ĐỨC KITÔ NƠI NGƯỜI NGHÈO, BÉ MỌN VÀ BỊ BỎ RƠI

Lm. Giuse Maria Lê Quốc Thăng

Trong Tông huấn Dilexi Te, Đức Thánh cha Lêô XIV xác tín rằng: chọn lựa ưu tiên cho người nghèo là nguồn mạch canh tân phi thường cho cả Giáo hội lẫn xã hội, miễn là chúng ta biết thoát khỏi tính vị kỷ và mở tai ra trước những tiếng kêu than của họ.[1] Dựa theo Tông huấn này, đặc biệt dựa trên Giáo huấn Xã hội của Giáo hội, với nền tảng Kinh thánh vững chắc xin được trình bày đôi nét về việc gặp gỡ Đức Kitô nơi người nghèo, bé mọn và bị loại trừ theo nguyên tắc ưu tiên chọn lựa người nghèo của Giáo hội.

I - Nền tảng Kinh thánh

Trong Kinh thánh cho thấy Thiên Chúa luôn bênh vực và đứng về phía người nghèo. Ngài bảo vệ, bênh vực những người nghèo khó, bé mọn, cô thân cô thế, cô nhi quả phụ. Các tiên tri có sứ mạng lên án đời sống xa hoa truỵ lạc, tình trạng bất công xã hội và thái độ hờ hững, ích kỷ trước nỗi khốn khổ của đồng bào. Đặc biệt nơi Đức Kitô “Người đã trở nên nghèo để làm cho anh em được giàu có nhờ cái nghèo của Người” (x. 2Cr 8,9). Người đã chọn cuộc sống nghèo khó và mời gọi ai muốn làm môn đệ người cũng phải sống tinh thần nghèo khó. Tin mừng cho chúng ta thấy rằng sự nghèo khó đã in dấu trong mọi khía cạnh của cuộc đời Chúa Giêsu. Ngay từ khi chào đời, Người đã nếm trải kinh nghiệm cay đắng của việc bị khước từ khi sinh ra trong khung cảnh nghèo khó và được đặt nằm trong máng cỏ. Bị khước từ khi bị Hêrôđê truy sát phải trốn sang Ai Cập (x. Mt 2,13-15). Bị khước từ khi Người chết như một kẻ bị loại trừ, bị dẫn ra ngoài thành Giêrusalem để chịu đóng đinh (x. Mc 15,22). Quả thật, đó là cách diễn tả rõ nhất về sự nghèo khó của Chúa Giêsu: Người đã kinh nghiệm cùng một thân phận bị loại trừ mà người nghèo, những người bị xã hội ruồng bỏ phải gánh chịu. Chúa Giêsu là một biểu lộ của sự ưu tiên người nghèo. Người tự giới thiệu mình với thế giới không chỉ như một Đấng Mêsia nghèo khó, mà còn là Đấng Mêsia của người nghèo và cho người nghèo.[2]

Trong suốt hành trình loan báo Tin mừng, Đức Kitô luôn đồng hành và sát cánh với người nghèo khổ, bệnh tật, bị loại trừ và nguyền rủa. Người đã công khai đồng hoá mình với những người cùng khốn mà Người gọi là người bé nhỏ: đói rách, trần truồng, bệnh tật, tù đày… Những gì đụng chạm đến họ, giúp hay không giúp cho họ là đụng chạm, là giúp hay không giúp chính Người (x. Mt 25, 31-45).

II - Người nghèo là ai ?

Trong Sứ điệp Mùa Chay năm 2014, Đức Phanxicô đã cho thấy thế nào là người nghèo và Giáo hội cũng như mỗi Kitô hữu cần phải làm gì cho họ. Noi gương Thầy Chí Thánh, các Kitô hữu chúng ta được mời gọi nhìn đến tình cảnh khốn khổ của anh chị em chúng ta, chạm đến, gánh lấy và làm những gì cụ thể để xoa dịu nỗi khốn khổ ấy. Khốn khổ không đồng nghĩa với nghèo: khốn khổ là nghèo mà không có niềm tin tưởng, không được nâng đỡ, không có hy vọng. Có ba loại khốn khổ: khốn khổ về vật chất, về luân lý và về tâm linh.

Trong Tông huấn Niềm vui của Tin mừng, Đức Thánh Cha Phanxicô liệt kê khá cụ thể người nghèo là những người vô gia cư, những người nghiện ngập, những người tỵ nạn, những dân tộc bản địa, những người già đang ngày càng bị cô lập và bỏ rơi, di dân và nhiều thành phần khác như: nạn nhân của các kiểu buôn người khác nhau. Anh chị em người đang bị giết mỗi ngày nơi những nhà kho hàng lậu, nơi những ổ gái điếm, nơi những trẻ em bị bắt đi ăn xin, nơi việc bóc lột sức lao động không có giấy tờ gì. Nghèo gia tăng hơn nữa là những phụ nữ đang phải sống trong hoàn cảnh bị loại trừ, đối xử tệ hại và bạo lực, vì họ thường có ít khả năng bảo vệ quyền lợi của họ. Trong số những thành phần dễ tổn thương mà Hội thánh muốn chăm sóc bằng tình thương và quan tâm đặc biệt là những thai nhi, những đứa trẻ vô phương tự vệ và vô tội nhất trong chúng ta.

Đức Thánh Cha Lêô XIV trong Tông huấn đầu tiên của ngài Dilexi Te cũng cho thấy sự đa diện, đa dạng của sự nghèo khó: “Thực trạng người nghèo là một tiếng kêu không ngừng thách đố đời sống chúng ta, xã hội, hệ thống chính trị và kinh tế, và cả Giáo hội nữa. Trên những gương mặt bị thương tích của người nghèo, chúng ta thấy nỗi khổ của những người vô tội, cũng là nỗi khổ của chính Đức Kitô. Đồng thời, có lẽ chúng ta nên nói đến nhiều gương mặt của người nghèo và của tình trạng nghèo, vì đây là hiện tượng đa diện. Quả thật, có nhiều hình thức nghèo: nghèo vì thiếu phương tiện vật chất để sống còn, nghèo vì bị gạt bên lề xã hội nên không thể cất tiếng cho phẩm giá và khả năng của mình, nghèo luân lý và thiêng liêng, nghèo văn hóa, nghèo do yếu đuối hay mong manh về mặt cá nhân hoặc xã hội, nghèo vì không có quyền, không có chỗ đứng, không có tự do”.[3]

III - Đường lối của Giáo hội hôm nay

Tiếp nối sứ vụ và sự ưu tiên chọn lựa người nghèo của Đức Kitô, Giáo hội cũng không ngừng vang lên sứ điệp nghèo khó và đứng về phía người nghèo trong hành trình sứ vụ của mình. Sau Công đồng Vaticanô II, quan điểm “ưu tiên chọn lựa người nghèo” đã dần thấm nhuần vào trong đời sống của Giáo hội, đặc biệt tại các Giáo hội châu Mỹ Latinh, Á, Phi. Giáo hội ngày nay phải là một Giáo hội nghèo và vì người nghèo. “Ưu tiên chọn lựa người nghèo” là một nguyện tắc phải được đẩy mạnh trong sứ vụ loan báo Tin mừng của Giáo hội mọi lúc, mọi nơi.

Một khi Đức Kitô đã trở nên nghèo khó để làm cho con người nên giàu có, thì Giáo hội cũng phải nên nghèo khó để thế giới đạt được ơn cứu độ. “Hẳn chúng ta nghĩ rằng ‘con đường’ nghèo ấy là con đường của Chúa Giêsu, còn chúng ta là những người đến sau Người, chúng ta có thể cứu vớt thế giới bằng những phương thế thích hợp hơn của con người. Không phải thế. Thời nào và nơi nào Thiên Chúa cũng cứu rỗi con người và thế giới nhờ cái nghèo của Đức Kitô, Đấng trở nên nghèo trong các bí tích, trong Lời Người và trong Giáo hội của Người, là một dân gồm những người nghèo. Sự giàu sang của Thiên Chúa đến với chúng ta không phải qua sự giàu sang của chúng ta, nhưng luôn luôn và chỉ qua cái nghèo của bản thân và cộng đoàn chúng ta, được Thánh Thần của Đức Kitô làm cho sống động. Noi gương Thầy Chí Thánh, các Kitô hữu chúng ta được mời gọi nhìn đến tình cảnh khốn khổ của anh chị em chúng ta, chạm đến, gánh lấy và làm những gì cụ thể để xoa dịu nỗi khốn khổ ấy”.[4]

Giáo hội đã nhận ra rằng chính nhu cầu lắng nghe tiếng kêu cứu của anh chị em khốn khổ phát sinh từ hành động giải thoát của ân sủng trong mỗi người chúng ta, và vì thế đây không phải là sứ mạng chỉ dành riêng cho một số ít người: “Được hướng dẫn bởi Tin mừng của lòng thương xót và tình yêu thương đối với loài người, Giáo hội nghe thấy tiếng kêu đòi công lý và muốn đáp lại tiếng kêu này bằng tất cả sức lực của mình”. Trong bối cảnh này chúng ta có thể hiểu lệnh truyền của Đức Giêsu cho các môn đệ: “Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi!” (Mc 6,37) có nghĩa là làm việc để loại trừ các cơ cấu gây nên đói nghèo, đồng thời cổ vũ sự phát triển toàn diện của người nghèo.[5] Tất cả mọi thành viên Dân Thiên Chúa có bổn phận phải lên tiếng, dù bằng nhiều cách khác nhau, để lên tiếng, lên án, thậm chí có nguy cơ bị coi là “ngây thơ”. Các cơ cấu bất công phải được nhận diện và phá hủy bằng sức mạnh của sự thiện, bằng sự thay đổi não trạng, nhưng cũng phải, với sự trợ giúp của khoa học và công nghệ, bằng việc phát triển các chính sách hiệu quả để biến đổi xã hội. Không bao giờ được quên rằng sứ điệp Tin mừng không chỉ liên hệ đến tương quan cá vị của một người với Chúa mà còn liên quan đến một điều lớn hơn “Nước Thiên Chúa” (x. Lc 4,43); đó là sứ điệp về việc yêu mến Thiên Chúa, Đấng ngự trị trong thế giới của chúng ta. Theo mức độ mà Ngài ngự trị trong chúng ta, đời sống xã hội sẽ là môi trường cho tình huynh đệ phổ quát, công lý, hòa bình và phẩm giá.[6] Không một Kitô hữu nào có thể chỉ xem người nghèo như một vấn đề xã hội; họ là một phần của “gia đình” chúng ta. Họ là “một người trong chúng ta”.

Đối với Giáo hội, lựa chọn người nghèo là một phạm trù chủ yếu thần học hơn là một phạm trù xã hội học, chính trị hay triết học. Thiên Chúa tỏ “lòng thương xót của Ngài trước tiên” cho những người nghèo.[7] Khi ấy chúng ta sẽ nhận ra rằng người nghèo không chỉ là đối tượng của lòng trắc ẩn, nhưng còn là những người thầy của Tin mừng. Vấn đề không phải là “mang” Chúa đến với họ, nhưng là gặp gỡ Chúa nơi họ. Việc phục vụ người nghèo không phải là một cử chỉ được thực hiện “từ trên ban xuống”, mà là một cuộc gặp gỡ giữa những người bình đẳng, nơi Đức Kitô được tỏ lộ và tôn thờ.[8] Đức Kitô, Đấng Cứu Độ chúng ta, không chỉ yêu thương người nghèo, mà “vốn giàu có, Người đã trở nên nghèo khó”. Người đã sống một cuộc đời nghèo khó, tập trung sứ mạng của mình vào việc rao giảng sự giải thoát cho họ, và thiết lập Giáo hội của Người, như một dấu chỉ của sự nghèo khó này giữa chúng ta… Sự nghèo khó của rất nhiều anh chị em chúng ta đòi hỏi công lý, tình liên đới, chứng tá, dấn thân, nỗ lực và tự hoàn thiện để sứ mạng cứu độ mà Đức Kitô giao phó cho chúng ta có thể được hoàn thành trọn vẹn. Giáo hội không chỉ phải chia sẻ hoàn cảnh của người nghèo mà còn phải đặt mình bên cạnh họ, và tích cực dấn thân cho sự tiến bộ toàn diện của họ.[9] Người nghèo ở nơi tâm điểm của Giáo hội vì “đức tin của chúng ta nơi Đức Kitô, Đấng đã trở nên nghèo” và luôn ở gần người nghèo và người bị loại trừ là nền tảng cho mối quan tâm của chúng ta đối với sự phát triển toàn diện của những thành phần bị lãng quên nhất trong xã hội.

Hồi Tâm

1. Anh chị em hiểu thế nào về người nghèo theo Kinh thánh?

2. Anh chị em có nhận ra Đức Kitô nơi những anh chị em khốn khổ chung quanh không?

3. Khi làm việc bác ái từ thiện, anh chị em có ý thức rằng “Tôi đang đến gặp gỡ Đức Kitô” không?


BÀI II - ĐỨC ÁI KITÔ GIÁO - NGÔN NGỮ CỤ THỂ CỦA TIN MỪNG

Lm. Anton Hà Văn Minh

Trong thế giới hôm nay, con người được bao quanh bởi vô số phương tiện truyền thông, những hệ thống tư tưởng và những diễn ngôn khác nhau. Tuy nhiên, giữa muôn vàn ngôn ngữ ấy, có một thứ ngôn ngữ vượt qua mọi rào cản văn hóa, tôn giáo và dân tộc, đó là ngôn ngữ của tình yêu. Đức Hồng y Tagle đã nói: “Để loan báo Tin mừng hôm nay, ngôn ngữ được nhân loại hiểu rõ nhất là bác ái, không phải là những lời giải thích thần học uyên bác”.[10] Đối với Kitô giáo, tình yêu không chỉ là một giá trị đạo đức nhưng là chính bản chất của Thiên Chúa và là trung tâm của sứ điệp Tin mừng. Vì thế, đức ái không chỉ là một nhân đức trong số các nhân đức nhưng còn là cách thức cụ thể nhất để Tin mừng được diễn tả và được nhận biết trong đời sống con người. Bởi ngay từ buổi bình minh của Giáo hội đức ái đối với người nghèo đã được xem là một phần không thể thiếu của đời sống Kitô hữu. Khi công nhận sứ vụ truyền giáo của Thánh Phaolô, các tông đồ tại Giêrusalem chỉ căn dặn ngài một điều: "Hãy nhớ đến những người nghèo" (Gl 2,10). Lời nhắc nhở ấy cho thấy rằng việc loan báo Tin mừng không thể tách rời khỏi sự quan tâm đến những người bé nhỏ và thiếu thốn.

1. Đức Ái - Linh hồn của đời sống Kitô hữu

Trong toàn bộ đời sống Kitô hữu, đức ái giữ một vị trí trung tâm và nền tảng. Nếu đức tin giúp con người nhận biết Thiên Chúa, đức cậy giúp con người hướng về tương lai trong niềm hy vọng, thì đức ái chính là sức sống làm cho đức tin và đức cậy trở nên sinh động và sinh hoa kết quả. Đức ái không chỉ là một nhân đức luân lý hay một tình cảm nhân bản, nhưng là sự tham dự vào chính tình yêu của Thiên Chúa, và có thể nói đức ái là linh hồn của mọi hoạt động trong Giáo hội.

Trong Thông điệp Deus Caritas Est (Thiên Chúa là Tình Yêu), Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI khẳng định rằng: “Bản chất sâu xa nhất của Giáo hội được thể hiện trong ba nhiệm vụ: rao giảng Lời Chúa (kerygma-martyria), cử hành các bí tích (leitourgia) và thực thi bác ái (diakonia)”[11] ba chiều kích này liên kết mật thiết với nhau và không thể tách rời. Vì thế, hoạt động bác ái không phải là một công việc phụ thuộc hay một hình thức trợ giúp xã hội đơn thuần, nhưng thuộc chính bản chất và sứ mạng của Giáo hội.

Đức ái là nhân đức cao trọng nhất

Thánh Phaolô dành trọn chương 13 của Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô để trình bày vẻ đẹp và sự cao cả của đức mến. Đối với ngài, đức mến không chỉ là một nhân đức trong số các nhân đức khác, nhưng là con đường tuyệt hảo vượt trên mọi đặc sủng và mọi khả năng của con người. Ngài khẳng định: Hiện nay còn có ba điều này: đức tin, đức cậy và đức mến; nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1Cr 13,13). Sách Giáo lý Hội thánh Công Giáo khẳng định rằng đức ái là “hình thức của các nhân đức”,[12] nghĩa là đức ái làm cho mọi nhân đức khác được sinh động, liên kết và hướng về cùng đích là Thiên Chúa. Không có đức ái, mọi việc lành dù lớn lao đến đâu cũng mất đi giá trị siêu nhiên. Trái lại, khi được thực hiện vì tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, ngay cả những việc nhỏ bé nhất cũng trở thành con đường nên thánh. Vì thế, đức ái được coi là nhân đức cao trọng nhất, và là tiêu chuẩn để đánh giá sự trưởng thành của đời sống đức tin.

Đức ái là tiêu chuẩn phán xét cuối cùng

Một trong những mặc khải mạnh mẽ nhất về tầm quan trọng của đức ái được Đức Giêsu trình bày trong dụ ngôn về cuộc phán xét chung (Mt 25,31-46). Điều đáng chú ý là trong ngày sau hết, Đức Giêsu không đặt câu hỏi trước tiên về kiến thức giáo lý, địa vị xã hội hay những thành tích bên ngoài của con người. Ngài hướng sự chú ý đến những hành động yêu thương cụ thể đối với tha nhân.

Người phán với những người được chúc phúc: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25,35-36). Ngược lại, những người bị luận phạt không phải vì họ đã làm điều ác nghiêm trọng, nhưng vì họ đã bỏ qua những cơ hội để yêu thương và phục vụ. Họ đã không nhận ra Đức Kitô hiện diện nơi những người bé mọn, nghèo khổ và đau khổ. Qua dụ ngôn này, Đức Giêsu cho thấy rằng đức ái không chỉ là một đòi hỏi luân lý nhưng là tiêu chuẩn của cuộc phán xét cuối cùng. Những việc làm bác ái trở thành dấu chỉ cụ thể cho thấy một người có thực sự thuộc về Đức Kitô hay không. Đức tin chân chính phải được biểu lộ bằng tình yêu; nếu không, đức tin ấy sẽ trở nên vô hồn và vô hiệu.

Thánh Gioan cũng khẳng định:“Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Chính vì thế, người Kitô hữu sẽ được xét xử không chỉ dựa trên những điều mình đã tin hay đã tuyên xưng, nhưng còn dựa trên cách mình đã yêu thương. Mỗi lần cho người đói ăn, cho người khát uống, thăm viếng người bệnh tật, an ủi người đau khổ hay giúp đỡ người nghèo túng, người tín hữu đang phục vụ chính Đức Kitô. Như lời Người đã khẳng định: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

Vì vậy, có thể nói rằng đức ái là thước đo đích thực của đời sống Kitô hữu và là tiêu chuẩn quyết định trong ngày gặp gỡ Thiên Chúa. Thánh Gioan Thánh Giá đã tóm kết chân lý ấy bằng một câu nổi tiếng: “Vào buổi chiều của cuộc đời, chúng ta sẽ bị xét xử về tình yêu.” (In the evening of life, we shall be judged on love.)[13] Quả thật, trước mặt Thiên Chúa, điều còn lại không phải là quyền lực, danh vọng hay thành công, nhưng là mức độ chúng ta đã yêu thương Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Chính tình yêu là tiêu chuẩn cuối cùng của sự thánh thiện và là thước đo của cuộc phán xét chung.

Đức ái là điều kiện của việc loan báo Tin mừng

Người ta có thể quên những bài giảng nhưng không quên những nghĩa cử yêu thương. Thánh Phaolô nhấn mạnh: “Giả như tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên thần mà không có đức mến thì tôi cũng chỉ như thanh la phèng phèng” (1 Cr 13,1). Không có đức ái, việc loan báo Tin mừng sẽ mất đi tính thuyết phục. Có thể nói Đức ái là điều kiện cần thiết để Tin mừng được đón nhận cách chân thành và hiệu quả.

Thánh Giáo hoàng Phaolô VI trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi đã nhấn mạnh: “Con người ngày nay sẵn sàng lắng nghe các chứng nhân hơn là các thầy dạy; và nếu họ lắng nghe các thầy dạy, đó là vì các thầy dạy cũng là những chứng nhân”.[14] Nhìn vào cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu, chúng ta nhận ra nhiều người đã đến với Đức Kitô không phải nhờ những lý luận sắc bén, nhưng nhờ gặp được con người nhân hậu tràn đầy yêu thương và quan tâm cách sâu sắc đến những người bị đẩy ra bên lề của xã hội.

Một hành động bác ái, một sự cảm thông, một thái độ tôn trọng phẩm giá con người nhiều khi có sức mở lòng người hơn cả những bài diễn thuyết dài. Chính vì thế, đức ái trở thành điều kiện quan trọng để Tin mừng được đón nhận và bén rễ trong tâm hồn con người. Thánh Têrêsa Calcutta đã diễn tả chân lý ấy qua chính cuộc đời mình. Mẹ không rao giảng bằng những bài thuyết trình lớn lao, nhưng bằng việc cúi xuống phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo. Nhờ đó, khuôn mặt yêu thương của Đức Kitô được nhận biết trên khắp thế giới. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolo II, trong bài giảng phong chân phước cho mẹ Têrêsa Calcutta đã nói: “Mẹ Têrêsa là hiện thân của người Samari nhân hậu, người đã mang tình yêu của Đức Kitô đến với những người nghèo nhất trong những người nghèo. Cuộc đời của Mẹ cho thấy rằng việc truyền giáo không chỉ được thực hiện bằng lời giảng dạy nhưng còn bằng những hành động yêu thương cụ thể. Chính đức ái làm cho Tin mừng trở nên hữu hình, đáng tin và có sức chạm đến tâm hồn con người. Vì thế, đức ái không chỉ là kết quả của việc loan báo Tin mừng mà còn là điều kiện thiết yếu để Tin mừng được đón nhận và sinh hoa kết quả trong thế giới hôm nay”.[15]

2. Đức Ái - Ngôn ngữ cụ thể của Tin mừng trong thế giới hôm nay

Đức ái làm cho Tin mừng trở nên hữu hình

Tin mừng trước hết là tin về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Thiên Chúa đã không chỉ nói về tình yêu nhưng đã biểu lộ tình yêu ấy cách cụ thể nơi Chúa Giêsu Kitô. Suốt cuộc đời trần thế, Đức Giêsu luôn đến với người nghèo, người bệnh tật, người tội lỗi và những người bị gạt ra bên lề xã hội. Người chữa lành, cảm thông, tha thứ và trao ban chính mạng sống mình vì nhân loại.

Bởi đó, việc loan báo Tin mừng không thể chỉ dừng lại ở lời nói hay các hoạt động phụng vụ. Tin mừng phải được thể hiện bằng những hành động cụ thể của lòng yêu thương. Khi người Kitô hữu biết chia sẻ với người nghèo, nâng đỡ người đau khổ, bảo vệ người yếu thế và xây dựng tình liên đới, họ đang làm cho khuôn mặt yêu thương của Đức Kitô trở nên hữu hình giữa thế giới. Thánh Gioan viết: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1Ga 3,18).

Trong Sứ điệp ngày Thế giới Người nghèo năm 2017, Đức Phanxicô khẳng định: “Người nghèo không phải là một vấn đề; họ là một nguồn lực để chúng ta đón nhận và sống Tin mừng”.[16] Ngài cũng thường nhắc đến lời của Đức Giêsu: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40). Vì thế việc phục vụ người nghèo không chỉ là hoạt động xã hội hay từ thiện, nhưng là một cuộc gặp gỡ với chính Đức Kitô. “Nếu thực sự muốn gặp gỡ Đức Kitô, chúng ta phải chạm đến thân thể Người nơi thân xác đau khổ của người nghèo.”[17] Điều đó có nghĩa: “Đụng chạm đến người nghèo là đụng chạm đến thân mình Đức Kitô.”

Trong Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã đồng hóa mình với người nghèo. Vì thế, khi người Kitô hữu thăm viếng người bệnh, an ủi người đau khổ, nâng đỡ người gặp khó khăn hay chia sẻ với người túng thiếu, họ không chỉ đang làm một việc thiện, nhưng đang gặp gỡ chính Đức Kitô hiện diện nơi những con người ấy. Đức Phanxico đã quả quyết: "Trong trái tim Thiên Chúa có một chỗ ưu tiên dành cho người nghèo, đến nỗi chính Ngài đã trở nên nghèo. Toàn bộ con đường cứu độ của chúng ta được ghi dấu bởi những người nghèo".[18] Vì thế, việc phục vụ người nghèo không chỉ là hoạt động bác ái nhưng còn là cuộc gặp gỡ với chính Đức Kitô hiện diện nơi họ, và cũng làm cho Tin mừng được trở nên hữu hình.

Đức ái : lời hiện sinh của Tin mừng

Loan báo Tin mừng là sứ mạng cốt yếu của Giáo hội. Tuy nhiên, việc loan báo ấy chỉ thực sự mang lại hiệu quả khi được thực hiện trong tình yêu và được minh chứng bằng đời sống bác ái. Đức ái không chỉ là kết quả của việc đón nhận Tin mừng mà còn là điều kiện để Tin mừng được đón nhận và sinh hoa trái trong lòng con người.

Chính Đức Giêsu đã cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa việc rao giảng và lòng thương xót. Trước khi giảng dạy, Người cảm thương đám đông đói khát; trước khi mời gọi hoán cải, Người chữa lành người bệnh, an ủi người đau khổ, tha thứ cho người tội lỗi và đón nhận những người bị xã hội loại trừ. Tình yêu của Người đã mở đường cho Tin mừng đi vào tâm hồn con người. Vì thế, việc loan báo Tin mừng không thể chỉ bằng lời nói nhưng phải được nâng đỡ bằng những hành động yêu thương cụ thể. Quả thật việc loan báo Tin mừng mà thiếu đức ái sẽ dễ trở thành những lời nói trống rỗng. Đức ái làm cho Tin mừng trở nên đáng tin, bởi người ta không chỉ nghe về tình yêu Thiên Chúa nhưng còn cảm nhận được tình yêu ấy qua những việc làm cụ thể của các Kitô hữu.

Khi người Kitô hữu biết yêu thương, phục vụ, chia sẻ với người nghèo, đồng hành với người đau khổ và tôn trọng phẩm giá của mọi người, họ đang loan báo Tin mừng bằng một ngôn ngữ mà ai cũng có thể hiểu được. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã từng nói: “Con người ngày nay tin tưởng vào các chứng nhân hơn là vào các thầy dạy, vào kinh nghiệm hơn là giảng thuyết, vào đời sống và hành động hơn là lý thuyết."[19] Vì thế, một Giáo hội muốn truyền giáo hiệu quả phải là một Giáo hội biết sống đức ái. Chính tình yêu là cây cầu đưa con người đến gặp gỡ Đức Kitô, và chính đức ái là lời rao giảng hùng hồn nhất của Tin mừng giữa thế giới hôm nay.

Có thể nói việc loan báo Tin mừng của Giáo hội và chứng tá của Giáo hội đối với thế giới sẽ không thể đạt tới kết quả nếu không có đức ái. “Tính đáng tin của Giáo hội được xúc tiến trên con đường Tình Yêu nhân hậu và cảm thông”.[20] Trong thời đại hôm nay, việc loan báo Tin mừng được trình bày cách cụ thể qua chứng tá hơn lời nói với những lý luận sắc bén. Chứng tá của việc phục vụ người nghèo với lòng thương xót của Thiên Chúa có tính quyết định đối với Giáo hội và đối với tính đáng tin cậy trong việc loan báo Tin mừng của Giáo hội, “Ngôn ngữ và cử chỉ của Giáo hội phải làm môi giới cho Lòng Thương Xót, cũng như phải thấm vào trong con tim của nhân loại, và phải thôi thúc họ chọn theo con đường trở về với Thiên Chúa Cha”[21]. Với ngôn ngữ này, người Kitô hữu thực sự trở thành những “trang Tin mừng sống”. Mỗi hành động yêu thương, mỗi nghĩa cử phục vụ và mỗi hy sinh âm thầm đều là một cách diễn tả Tin mừng trong đời thường. Khi ấy, người khác có thể chưa đọc Kinh thánh, chưa bước vào nhà thờ, nhưng họ vẫn có thể gặp được Đức Kitô qua đời sống bác ái của những người tin vào Ngài.

Kết:

Tin mừng là lời loan báo về tình yêu cứu độ của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Tuy nhiên, Tin mừng chỉ thực sự được hiểu và được đón nhận khi được diễn tả bằng những hành động yêu thương cụ thể. Vì thế, đức ái chính là ngôn ngữ sống động, phổ quát và thuyết phục nhất của Tin mừng.

Có một bác sĩ Kitô hữu làm việc tại một bệnh viện lớn. Anh không thường xuyên nói về đạo, cũng không cố gắng thuyết phục người khác theo niềm tin của mình. Điều mọi người nhớ đến anh là sự tận tâm, lòng nhân hậu và cách anh đối xử với bệnh nhân. Một ngày nọ, bệnh viện tiếp nhận một cụ già nghèo khó, không người thân chăm sóc. Nhiều người ngại tiếp xúc vì ông khó tính và thường nổi nóng. Thế nhưng người bác sĩ ấy vẫn kiên nhẫn chăm sóc, lắng nghe và động viên ông mỗi ngày.

Sau nhiều tuần điều trị, sức khỏe của cụ già dần hồi phục. Trước ngày xuất viện, ông gọi người bác sĩ lại và nói:

- Anh là người Công giáo phải không?

Người bác sĩ mỉm cười:

- Vâng, thưa bác.

Cụ già chậm rãi nói:

- Tôi chưa bao giờ đi nhà thờ. Tôi cũng chưa bao giờ thấy Chúa của anh. Nhưng suốt thời gian nằm đây, tôi đã thấy nơi anh một sự yêu thương mà không phải ai cũng có. Nếu Chúa của anh dạy người ta sống như thế, thì chắc chắn Ngài phải rất tốt lành.

Người bác sĩ xúc động lắng nghe.

Cụ già nắm lấy tay anh và nói tiếp:

- Tôi chưa bao giờ thấy Chúa của anh, nhưng qua anh, tôi đã thấy Ngài.

Người bác sĩ lặng người. Anh hiểu rằng đôi khi bài giảng hay nhất không phải là những lời nói hùng hồn, nhưng là một cuộc đời biết yêu thương.

Câu chuyện ấy nhắc chúng ta lời Đức Giêsu: “Cứ dấu này mà mọi người nhận biết anh em là môn đệ Thầy, là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13,35). Nhiều người hôm nay có thể chưa đọc Tin mừng, chưa bước vào nhà thờ, chưa gặp Đức Kitô. Nhưng họ có thể gặp Ngài nơi những Kitô hữu biết sống bác ái, chân thành, công bằng và quảng đại. Bởi thế, chứng tá đẹp nhất của người Kitô hữu không phải là nói nhiều về Chúa, nhưng là sống sao để người khác có thể nói: “Tôi chưa bao giờ thấy Chúa của anh, nhưng qua anh, tôi thấy Ngài”

Hồi Tâm

1. Vì sao người Kitô hữu phục vụ tha nhân không chỉ vì lòng trắc ẩn nhưng còn vì tình yêu Thiên Chúa?

2. Những hành động yêu thương nào có sức loan báo Tin mừng mạnh mẽ hơn lời nói?

3. Đâu là những khó khăn và thách đố khiến người Kitô hữu chưa sống đức ái cách trọn vẹn?

4. Mỗi người cần làm gì để trở thành chứng nhân của tình yêu Thiên Chúa trong hoàn cảnh cụ thể của mình?


BÀI III - TRAO QUYỀN CHO NGƯỜI YẾU THẾ:

NÂNG ĐỠ HỌ ĐỨNG LÊN BẰNG PHẨM GIÁ

Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Ngoạn

Trong xã hội, dù bất cứ ở nơi đâu hay thuộc thể chế nào, luôn có những người ở vị trí yếu thế: người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người già neo đơn, người bị phân biệt đối xử, người mất việc hoặc gặp biến cố trong cuộc sống... Người yếu thế trong xã hội thường bị bỏ quên, bị đối xử bất công, thiếu cơ hội phát triển. Xã hội cũng đã gây ý thức và hành động để giúp đỡ người yếu thế, nhưng khi đứng trước hoàn cảnh của họ, không nói đến những người chỉ biết lợi dụng, con người thường chỉ chọn cách cho đi: tiền bạc, thức ăn, quần áo, sự hỗ trợ vật chất. Những điều ấy cần thiết, nhưng đôi khi chưa đủ để giúp một người thực sự thay đổi được cuộc đời.

Điều người yếu thế cần không chỉ là sự thương hại, mà còn là quyền được lựa chọn, được lên tiếng, được học tập, làm việc và tự quyết định cuộc đời mình. Trao quyền cho người yếu thế chính là giúp họ đứng lên bằng chính năng lực và phẩm giá của mình, thay vì khiến họ mãi phụ thuộc vào lòng thương của người khác. Trao quyền cho người yếu thế không chỉ là giúp đỡ vật chất mà còn là nâng cao phẩm giá con người, tôn trọng sự sống và nhân phẩm con người, nâng họ đứng lên bằng phẩm giá của một con người, điều mà do chính Thiên Chúa ban tặng, như lời Huấn quyền đã dạy: “Phẩm giá hữu thể này của nhân vị, được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa và được cứu chuộc trong Chúa Giêsu Kitô”.[22]

“Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Phẩm giá của con người là do Thiên Chúa sáng tạo. Mỗi người đều có một giá trị riêng vô giá, không ai được phép xem thường hay hạ thấp. Cách riêng người yếu thế không phải là một đối tượng từ thiện nhưng là một chủ thể có quyền được sống, được phát triển và được tham gia vào xã hội. Giáo hội coi sự tôn trọng phẩm giá con người như là nền tảng cho mọi hoạt động xã hội của mình.

Trao quyền cho người yếu thế không chỉ đơn thuần là cho đi vật chất mà còn là tạo điều kiện để người yếu thế tự chủ, tự quyết định cuộc sống. Trao quyền là giúp người yếu thế nhận ra giá trị bản thân, phát huy khả năng và quyền lợi của mình. Trao quyền không chỉ là đưa người yếu thế ra khỏi khó khăn, mà là giúp họ có năng lực để tự đứng lên. Trao quyền là tạo điều kiện để người yếu thế có được sự giáo dục, có công ăn việc làm, được bảo vệ quyền lợi, được cất tiếng nói và được lắng nghe… Như Chúa Giêsu quan tâm đến người nghèo, người bệnh tật, người bị áp bức… giúp họ phục hồi phẩm giá và sức mạnh tinh thần, chúng ta noi gương Ngài để giúp đỡ người yếu thế bằng nhiều phương cách, để họ có thể sống xứng phẩm giá nhân vị và là con cái của Thiên Chúa.

Với người yếu thế, sự giúp đỡ là để giải quyết nhu cầu trước mắt, còn trao quyền là để hướng tới sự thay đổi lâu dài. Sự hỗ trợ chỉ là điểm khởi đầu, còn trao quyền mới có thể tạo ra sự phát triển nơi người yếu thế cách dài lâu. Như Chúa là Đấng giầu Thương Xót, chúng ta phải có lòng thương xót anh chị em mình. Nhưng đừng để lòng chúng ta trở thành thương hại, vô tình tạo ra sự phụ thuộc nơi người yếu thế, làm tổn thương lòng tự trọng và phẩm giá của họ. Chúng ta trao quyền cho người yếu thế để họ được khẳng định rằng chính họ là chủ thể cho cuộc đời của họ. Người yếu thế không chỉ là đối tượng nhận sự hỗ trợ, nhưng họ được nhìn nhận là một con người có đầy đủ giá trị nhân phẩm của một con người.

Phẩm giá là giá trị vốn có của mỗi con người. Phẩm giá con người không phụ thuộc vào việc giàu nghèo, khỏe mạnh yếu đau, thành công thất bại… Vì vậy, việc giúp đỡ người yếu thế phải bắt đầu bằng sự tôn trọng. Chúng ta không giúp đỡ người yếu thế để phô trương mình, để tạo lợi lộc cho mình, để hạ giá người khác, nhưng là trao quyền để người yếu thế được tự chủ, tự tin, chủ động đứng lên để sống đúng với phẩm giá của một con người và là con cái của Thiên Chúa.

Chúng ta có thể trao quyền cho người yếu thế bằng nhiều phương cách:

- Trao quyền thông qua giáo dục: Tạo cơ hội học tập cho trẻ em nghèo, hỗ trợ học bổng, kỹ năng nghề nghiệp, đào tạo chuyên môn… Chúng ta trao cho họ tri thức và kỹ năng để họ tự tiếp tục kiếm sống lâu dài.

- Trao quyền thông qua việc làm: Tạo cho họ có cơ hội làm việc, xây dựng môi trường làm việc bình đẳng cho những người yếu thế.

- Trao quyền bằng cách lắng nghe và tôn trọng tiếng nói của người yếu thế.

- Trao quyền thông qua pháp luật và chính sách của xã hội.

- Trao quyền trong đời sống hằng ngày: không kỳ thị, coi thường người yếu thế nhưng sống yêu thương với tất cả mọi người.

- Trao quyền cho người yếu thế không phải với tâm thế ban ơn, nhưng là mở ra cho họ một vị trí bình đẳng, nâng họ đứng lên bằng phẩm giá của một con người. Trao quyền cho người yếu thế để họ khôi phục và giữ vững phẩm giá, là sự thúc đẩy công bằng xã hội, giảm sự bất bình đẳng trong xã hội, giảm sự ác sự dữ sự tội nơi trần gian này, góp phần xây dựng xã hội công bằng, hòa bình và phát triển.

“Hội thánh khẩn khoản yêu cầu đặt việc tôn trọng phẩm giá con người, trong mọi hoàn cảnh, ở trung tâm của việc dấn thân cho công ích và của mọi hệ thống pháp luật. Quả thế, việc tôn trọng phẩm giá của mỗi nhân vị là nền tảng thiết yếu cho chính sự tồn tại của bất kỳ xã hội nào muốn xây dựng trên luật pháp công bằng chứ không dựa trên sức mạnh quyền lực”.[23] Như vậy, việc trao quyền để người yếu thế đứng lên bằng phẩm giá là điều quan trọng. Trao quyền là cách nâng cao phẩm giá con người, giúp người yếu thế sống xứng đáng với ơn gọi làm người và làm con Thiên Chúa.

Hồi tâm:

1. Khi gặp một người yếu thế, tôi đang thật sự tôn trọng phẩm giá của họ, hay tôi chỉ muốn “cho đi” để cảm thấy mình đã làm được một việc tốt?

2. Trong cách tôi đối xử với người nghèo, người khuyết tật, người già, trẻ em khó khăn hay người đang gặp biến cố, tôi có giúp họ thêm tự tin, tự chủ và có cơ hội đứng lên, hay vô tình khiến họ lệ thuộc và cảm thấy mình thấp kém?

3. Tôi có thể làm một điều cụ thể nào, ngay trong gia đình, cộng đoàn hoặc nơi tôi sống, để trao cơ hội cho một người yếu thế được lên tiếng, được lựa chọn và sống đúng với phẩm giá của một người con Thiên Chúa?


BÀI IV - ĐỂ LÒNG MỀM LẠI TRƯỚC NỖI KHỔ THA NHÂN

PX. Nguyễn Thái

Trong nhịp sống hiện đại đầy ắp tiện nghi và hưởng thụ, con người dễ bị cuốn theo sự no đủ của vật chất mà vô tình quên đi giá trị thiêng liêng và sự đồng cảm với tha nhân. Chúng ta tìm kiếm niềm vui và sự an ủi cho riêng mình, nhưng chính nỗi đau của người khác mới là tiếng gọi sâu thẳm mời gọi chúng ta sống đức ái thật sự. Giáo hội kêu mời mỗi người chúng ta trở thành môn đệ thừa sai của Đức Kitô bằng cách “để lòng mềm lại trước nỗi khổ tha nhân” - một hành trình không dễ dàng, đòi hỏi sự kiên nhẫn, lòng quảng đại và trái tim biết mở rộng với những người bé mọn, nghèo khó, bị bỏ rơi trong xã hội. Qua bài suy niệm này, chúng ta cùng nhau chiêm niệm sâu sắc hơn ý nghĩa của lòng thương xót trong cuộc sống người tín hữu.

1. Nhận diện nỗi khổ tha nhân - Khởi đầu cho một tấm lòng mềm mại

"Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Thầy, là các ngươi đã làm cho chính Thầy." (Mt 25,40)

Trước hết, để lòng ta có thể mềm lại, bước quan trọng là phải biết nhìn nhận và cảm nhận được nỗi đau cùng bất công mà tha nhân đang gánh chịu. Nỗi khổ ấy có thể là nghèo đói, bệnh tật, cô đơn hay bị xã hội ruồng bỏ - những thực tại thường bị che khuất bởi ánh hào quang của cuộc sống hiện đại. Không phải là một bổn phận gượng ép mà là tiếng gọi sâu xa từ nội tâm, là sự đồng cảm chân thành. Khi biết nhận ra và chia sẻ khốn khó của người khác, trái tim trở nên nhạy cảm, sẵn sàng mở rộng và tạo nên bước đầu trong hành trình gặp gỡ và phục vụ tha nhân.

2. Để lòng mềm lại - Thái độ của người môn đệ chân chính

“Hãy học với Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng.” (Mt 11,29)

Lòng mềm không chỉ là cảm xúc nhất thời mà là một lối sống, một thái độ nhân từ và khiêm nhường. Lòng thương xót đích thực bắt nguồn từ tâm hồn khiêm nhường - nhận biết mình cần đến Chúa và cần đến nhau. Người môn đệ chân thực của Chúa Giêsu không chỉ nhìn thấy anh em bằng đôi mắt thể lý, mà còn bằng ánh mắt của đức tin, để nhận ra Đức Kitô nơi những người nghèo khó, bệnh tật và bị bỏ rơi. Chính sự mềm mại đó làm cho tâm hồn được biến đổi, trở nên đồng cảm, kiên nhẫn và dịu dàng trong mọi hoàn cảnh. Đó là cách chúng ta thực sự sống tình yêu Thiên Chúa giữa một thế giới đầy bất công và khổ đau.

3. Lòng mềm trước nỗi khổ tha nhân - Sức mạnh thúc đẩy hành động và lan tỏa yêu thương

"Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em." (Ga 15,12)

Lòng mềm không chỉ dừng lại ở sự cảm thông mà còn là động lực để chúng ta hành động cụ thể. Tình yêu chân thật luôn dẫn đến sự chia sẻ, giúp đỡ và phục vụ. Khi đã thật sự chạm đến nỗi đau của người khác, lòng ta sẽ thôi thúc tìm mọi cách giảm bớt nỗi đau ấy - từ lời cầu nguyện, sự hiện diện an ủi đến những việc làm thiết thực. Thánh Giacôbê khẳng định rằng: "Đức tin không có việc làm là đức tin chết" (Gc 2,17). Những cử chỉ bác ái dù nhỏ bé cũng chính là chứng tá sống động của đức tin, đồng thời là con đường mang ánh sáng và bình an của Chúa đến với thế gian.

Chứng tá sống động trong cuộc sống

Khi còn trẻ, tôi ít khi tiếp xúc với những người nghèo khổ và cũng không ý thức được trách nhiệm với họ. Tôi sống cho mình, chỉ tìm kiếm niềm vui cá nhân. Nhưng nhờ Lời Chúa tác động, tôi đã được biến đổi sâu sắc: từ một người ích kỷ trở thành người biết mở rộng tấm lòng cho tha nhân, đặc biệt là những người yếu đuối, bị xã hội bỏ rơi. Mỗi lần đến thăm người nghèo, người đau khổ, trái tim tôi như bị đánh thức bởi sự bất công và nỗi đau của họ. Tôi nhận ra Chúa đang hiện diện nơi họ, và từ đó lòng tôi trở nên mềm mại hơn, tràn đầy yêu thương và sẵn sàng sẻ chia hơn. Ánh sáng Thiên Chúa chiếu rọi và thanh luyện tâm hồn tôi mỗi ngày, thúc đẩy tôi sống một đức tin năng động, can đảm và sống động hơn. Niềm vui lớn nhất không còn là hạnh phúc bản thân, mà là bình an sâu lắng từ việc làm chứng cho tình yêu Chúa trong đời sống thường ngày.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, lòng mềm lại trước nỗi khổ tha nhân là lời mời gọi thiết yếu của đức tin Kitô giáo, là chứng tá sống động của mỗi môn đệ Chúa Giêsu. Xin ban ơn cho con biết nhận diện và đồng cảm với nỗi đau của tha nhân bằng một trái tim hiền lành và khiêm nhường, để lòng con được thanh luyện và trở thành sức mạnh cho tình yêu và sự phục vụ. Xin Thánh Thần luôn đồng hành, soi sáng và biến đổi tâm hồn con, giúp con nhận ra Đức Kitô nơi những người bé nhỏ nhất. Amen.

Hồi tâm

1. Bạn đã chuẩn bị như thế nào để “mềm lòng” trong hành trình đức tin và yêu thương? Bạn sẽ bắt đầu từ đâu?

2. Bạn có ý thức rằng mỗi cử chỉ yêu thương nhỏ bé đều là cách đưa Chúa đến với tha nhân? Điều gì thúc đẩy bạn sống chứng tá ấy mỗi ngày?

3. Bạn cần làm gì để đời sống mình trở thành chứng tá sống động về lòng thương xót của Chúa, lan tỏa ánh sáng, niềm hy vọng cho thế giới hôm nay?

----------------------------------

[1] Đức Thánh cha Lêô XIV, Tông huấn Dilexi te - Ta đã yêu con, ban hành ngày 04/10/2025, số 7.

[2] Như trên, số 19.

[3] Như trên, số 9.

[4] Đức Thánh cha Phanxicô, Sứ điệp Mùa Chay, năm 2014, số 2.

[5] Đức Thánh cha Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium - Niềm vui của Tin mừng, số 188.

[6] Dilexi te, số 97.

[7] Evangelii Gaudium, số 198.

[8] Dilexi te, số 79.

[9] Như trên, số 90.

[10] Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, Bộ trưởng Bộ loan báo Tin mừng cho các dân tộc, bài nói chuyện với các tu sĩ Vinh Sơn, trong một chuyến thăm đến Tu hội Truyền giáo 27/06/2020. Nguồn: https://giesu.net/duc-hong-y-tagle-ngon-ngu-loan-bao-tin-mung-la-bac-ai/

[11] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus Caritas Est - Thiên Chúa là Tình Yêu, ban hành ngày 25/12/2005, số 25.

[12] Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, số 1827.

[13] Thánh Gioan Thánh Giá, Sayings of Light and Love (Dichos de Luz y Amor), số 64.

[14] Thánh Giáo hoàng Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi - Loan báo Tin mừng, ban hành ngày 08/12/1975, số 41

[15] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Bài giảng lễ phong chân phước cho Mẹ Têrêsa Calcutta ngày 19/10/2003. Nguồn: https://www.vatican.va/content/john-paul-ii/en/homilies/2003/documents/hf_jp-ii_hom_20031019_mother-theresa.html

[16] Đức Phanxicô, Sứ điệp ngày Thế giới Người nghèo lần thứ nhất năm 2017 - Đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi. Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-ngay-the-gioi-nguoi-ngheo-lan-thu-1-nam-2017-dung-yeu-thuong-noi-dau-moi-chot-luoi-51051

[17] Như trên.

[18] Evangelii Gaudium, số 197.

[19] Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Thông điệp Redemptoris Missio - Sứ vụ Đấng Cứu Thế, số 42.

[20] Đức Phanxicô, Tông sắc Công bố Năm Thánh về Lòng Thương Xót - Misericordiae Vultus, số 10.

[21] Như trên, số 12.

[22] Bộ Giáo lý Đức tin, Tuyên ngôn Dignitas infinita - Phẩm giá vô biên, ban hành ngày 08/4/2024, số 1.

[23] Như trên, số 64.