A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 52,13–53,12

Đáp ca : Tv 30,2 và 6.12-13.15-16.17 và 25 (Đ. Lc 23,46)

Bài đọc 2 : Hr 4,14-16 ; 5,7-9

Tin mừng : Ga 18,1–19,42

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài chia sẻ 1

Bài chia sẻ 2

C. BÀI ĐỌC THÊM

Cái chết khai mạc một sự hiện diện mới của Đức Chúa

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 52,13–53,12

Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

52 13 Có lời Đức Chúa phán :

“Này đây, người tôi trung của Ta sẽ thành đạt,

sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng.

14 Cũng như bao kẻ đã sửng sốt khi thấy tôi trung của Ta mặt mày tan nát chẳng ra người,

không còn dáng vẻ người ta nữa,

15 cũng vậy, người sẽ làm cho muôn dân phải sững sờ, vua chúa phải câm miệng,

vì được thấy điều chưa ai kể lại,

được hiểu điều chưa nghe nói bao giờ.

53 1 Điều chúng ta đã nghe, ai mà tin được ?

Cánh tay uy quyền của Đức Chúa đã được tỏ cho ai ?

2 Người tôi trung đã lớn lên

tựa chồi cây trước Nhan Thánh, như khúc rễ trên đất khô cằn.

Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong đáng chúng ta ngắm nhìn,

dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích.

3 Người bị đời khinh khi ruồng rẫy,

phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.

4 Sự thật,

chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta,

đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta,

còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.

5 Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm ;

người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an,

đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.

6 Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả.

Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta.

7 Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca ;

như chiên bị đem đi làm thịt,

như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng.

8 Người đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu. Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới ?

Người đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh, vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt.

9 Người đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn, bị mai táng với người giàu có,

dù đã chẳng làm chi tàn bạo

và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa.

10 Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ.

Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội,

người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu.

11 Nhờ nỗi thống khổ của mình,

người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện.

Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta,

sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.

12 Vì thế, Ta sẽ ban cho người muôn người làm gia sản,

và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, người sẽ được chia chiến lợi phẩm,

bởi vì người đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân ;

nhưng thật ra, người đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 30,2 và 6.12-13.15-16.17 và 25 (Đ. Lc 23,46)

Đ Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.

2 Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa,
xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ.
Bởi vì Ngài công chính, xin giải thoát con.
6 Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con,
Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín. Đ.

12 Con đã nên trò cười cho thù địch và cho cả hàng xóm láng giềng.
Bạn bè thân thích đều kinh hãi,
thấy con ngoài đường, ai cũng tránh xa.
13 Bị lãng quên, như kẻ chết không người tưởng nhớ,
con hoá thành đồ hư vất bỏ. Đ.

15 Con tin tưởng nơi Ngài, lạy Chúa,
dám thưa rằng : Ngài là Thượng Đế của con.
16 Số phận con ở trong tay Ngài.
Xin giải thoát con khỏi tay địch thủ,
khỏi người bách hại con.Đ.

17 Xin toả ánh Tôn Nhan rạng ngời
trên tôi tớ Ngài đây, và lấy tình thương mà cứu độ.
25 Hỡi mọi người cậy trông vào Chúa,
mạnh bạo lên, can đảm lên nào ! Đ.

 

Bài đọc 2 : Hr 4,14-16 ; 5,7-9

Người đã học được thế nào là vâng phục, và trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai tùng phục Người.

Bài trích thư gửi tín hữu Híp-ri.

4 14 Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giê-su, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin. 15 Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như ta, nhưng không phạm tội. 16 Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần.

5 7 Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giê-su đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Ðấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính. 8 Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục ; 9 và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho tất cả những ai tùng phục Người.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin mừng : Pl 2,8-9

Vì chúng ta, Đức Ki-tô đã tự hạ,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.
Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu
trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.

 

Tin mừng : Ga 18,1–19,42

+ Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

18 1 nk Khi ấy, Đức Giê-su đi ra cùng với các môn đệ, sang bên kia suối Kít-rôn. Ở đó, có một thửa vườn, Người cùng với các môn đệ đi vào. 2 Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng biết nơi này, vì Người thường tụ họp ở đó với các môn đệ. 3 Vậy, Giu-đa tới đó, dẫn một toán quân cùng đám thuộc hạ của các thượng tế và nhóm Pha-ri-sêu ; họ mang theo đèn đuốc và khí giới. 4 Đức Giê-su biết mọi việc sắp xảy đến cho mình, nên tiến ra và hỏi :

+ “Các anh tìm ai ?” 5 nk Họ đáp : dc “Tìm Giê-su Na-da-rét.” nk Người nói : + “Chính tôi đây.” nk Giu-đa, kẻ nộp Người, cũng đứng chung với họ. 6 Khi Người vừa nói : “Chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. 7 Người lại hỏi một lần nữa :

+ “Các anh tìm ai ?” nk Họ đáp : dc “Tìm Giê-su Na-da-rét.”

8 nk Đức Giê-su nói : + “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy, nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi.” 9 nk Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói : “Những người Cha đã ban cho con, con không để mất một ai.”

10 nk Ông Si-môn Phê-rô có sẵn một thanh gươm, bèn tuốt ra, nhằm người đầy tớ vị thượng tế, mà chém đứt tai phải của

y. Người đầy tớ ấy tên là Man-khô. 11 Đức Giê-su nói với ông Phê-rô : + “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ?”

12 nk Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ của người Do-thái bắt Đức Giê-su và trói Người lại. 13 Trước tiên, họ điệu Đức Giê-su đến ông Kha-nan là nhạc phụ ông Cai-pha. Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó. 14 Chính ông này đã đề nghị với người Do-thái là nên để một người chết thay cho dân thì hơn.

15 nk Ông Si-môn Phê-rô và một môn đệ khác đi theo Đức Giê-su. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giê-su vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. 16 Còn ông Phê-rô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phê-rô vào.

17 Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phê-rô : m “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao ?” nk Ông liền đáp : m “Đâu phải.” 18 nk Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó ; ông Phê-rô cũng đứng sưởi với họ. 19 Vị thượng tế tra hỏi Đức Giê-su về các môn đệ và giáo huấn của Người. 20 Đức Giê-su trả lời : + “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ ; tôi hằng giảng dạy trong hội đường và tại Đền Thờ, nơi mọi người Do-thái tụ họp. Tôi không hề nói điều gì lén lút. 21 Sao ông lại hỏi tôi ? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi. Chính họ biết tôi đã nói gì.” 22 nk Đức Giê-su vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói : m “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư ?” 23 nk Đức Giê-su đáp : + “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào ; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?” 24 nk Ông Kha-nan cho giải Người đến thượng tế Cai-pha, Người vẫn bị trói.

25 nk Còn ông Si-môn Phê-rô thì vẫn đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông : m “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao ?” nk Ông liền chối : m “Đâu phải.” 26 nk Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phê-rô chém đứt tai, lên tiếng hỏi : m “Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao ?” 27 nk Một lần nữa ông Phê-rô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.

28 nk Vậy, người Do-thái điệu Đức Giê-su từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn lễ Vượt Qua được. 29 Vì thế, tổng trấn Phi-la-tô ra ngoài gặp họ và hỏi : m “Các người tố cáo ông này về tội gì ?” 30 nk Họ đáp : dc “Nếu ông này không làm điều ác, thì chúng tôi đã chẳng đem nộp cho quan.” 31 nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Các người cứ đem ông ta đi mà xét xử theo luật của các người.” nk Người Do-thái đáp : dc “Chúng tôi không có quyền xử tử ai cả.” 32 nk Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói, khi ám chỉ Người sẽ phải chết cách nào.

33 nk Ông Phi-la-tô trở vào dinh, cho gọi Đức Giê-su và nói với Người : m “Ông có phải là Vua dân Do-thái không ?”

34 nk Đức Giê-su đáp : + “Ngài tự ý nói điều ấy, hay những người khác đã nói với ngài về tôi ?” 35 nk Ông Phi-la-tô trả lời : m “Tôi là người Do-thái sao ? Chính dân của ông và các thượng tế đã nộp ông cho tôi. Ông đã làm gì ?” 36 nk Đức Giê-su trả lời : + “Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu Nước tôi thuộc về thế gian này, thuộc hạ của tôi đã chiến đấu không để tôi bị nộp cho người Do-thái. Nhưng thật ra Nước tôi không thuộc chốn này.” 37 nk Ông Phi-la-tô liền hỏi : m “Vậy ông là Vua sao ?” nk Đức Giê-su đáp : + “Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi.” 38 nk Ông Phi-la-tô nói với Người : m “Sự thật là gì ?”

nk Nói thế rồi, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ : m “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy. 39 Theo tục lệ của các người, vào dịp lễ Vượt Qua, ta thường tha một người nào đó cho các người. Vậy các người có muốn ta tha Vua dân Do-thái cho các người không ?” 40 nk Họ lại la lên rằng : dc “Đừng tha nó, nhưng xin tha Ba-ra-ba !” nk Mà Ba-ra-ba là một tên cướp.

19 1 nk Bấy giờ ông Phi-la-tô truyền đem Đức Giê-su đi và đánh đòn Người. 2 Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho Người một áo choàng đỏ. 3 Họ đến gần và nói : dc “Kính chào Vua dân Do-thái !”, nk rồi vả vào mặt Người.

4 nk Ông Phi-la-tô lại ra ngoài và nói với người Do-thái : m “Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các người, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy.” 5 nk Vậy, Đức Giê-su bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Phi-la-tô nói với họ : m “Đây là người !” 6 nk Khi vừa thấy Đức Giê-su, các thượng tế cùng các thuộc hạ liền kêu lên rằng : dc “Đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá !” nk Ông Phi-la-tô bảo họ : m “Các người cứ đem ông này đi mà đóng đinh vào thập giá, vì phần ta, ta không tìm thấy lý do để kết tội ông ấy.” 7 nk Người Do-thái đáp lại : dc “Chúng tôi có Lề Luật ; và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa.”

8 nk Nghe lời đó, ông Phi-la-tô càng sợ hơn nữa. 9 Ông lại trở vào dinh và nói với Đức Giê-su : m “Ông từ đâu mà đến ?” nk Nhưng Đức Giê-su không trả lời. 10 Ông Phi-la-tô mới nói với Người : m “Ông không trả lời tôi ư ? Ông không biết rằng tôi có quyền tha và cũng có quyền đóng đinh ông vào thập giá sao ?” 11 nk Đức Giê-su đáp lại : + “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài. Vì thế, kẻ nộp tôi cho ngài thì mắc tội nặng hơn.”

12 nk Từ đó, ông Phi-la-tô tìm cách tha Người. Nhưng dân Do-thái kêu lên rằng : dc “Nếu ngài tha nó, ngài không phải là bạn của Xê-da. Ai xưng mình là vua, thì chống lại Xê-da.” 13 nk Khi nghe thấy thế, ông Phi-la-tô truyền dẫn Đức Giê-su ra ngoài. Ông đặt Người ngồi trên toà, ở nơi gọi là Nền Đá, tiếng Híp-ri là Gáp-ba-tha. 14 Hôm ấy là ngày áp lễ Vượt Qua, vào khoảng mười hai giờ trưa. Ông Phi-la-tô nói với người Do-thái : m “Đây là vua các người !” 15 nk Họ liền hô lớn : dc “Đem đi ! Đem nó đi ! Đóng đinh nó vào thập giá !” nk Ông Phi-la-tô nói với họ : m “Chẳng lẽ ta lại đóng đinh vua các người sao ?” nk Các thượng tế đáp : dc “Chúng tôi không có vua nào cả, ngoài Xê-da.” 16 nk Bấy giờ ông Phi-la-tô trao Đức Giê-su cho họ đóng đinh vào thập giá.

nk Vậy họ điệu Đức Giê-su đi. 17 Chính Người vác lấy thập giá đi ra, đến nơi gọi là Cái Sọ, tiếng Híp-ri là Gôn-gô-tha ; 18 tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa. 19 Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá ; bảng đó có ghi : “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.” 20 Trong dân Do-thái, có nhiều người đọc được bảng đó, vì nơi Đức Giê-su bị đóng đinh là một địa điểm ở gần thành. Tấm bảng này viết bằng các tiếng : Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. 21 Các thượng tế của người Do-thái nói với ông Phi-la-tô : m “Xin ngài đừng viết : ‘Vua dân Do-thái’, nhưng viết : ‘Tên này đã nói : Ta là Vua dân Do-thái.’” 22 nk Ông Phi-la-tô trả lời : m “Ta viết sao, cứ để vậy !”

23 nk Đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần ; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. 24 Vậy họ nói với nhau : m “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” nk Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm. 25 nk Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị

của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a

Mác-đa-la. 26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng : + “Thưa Bà, đây là con của Bà.” 27 nk Rồi Người nói với môn đệ : + “Đây là mẹ của anh.” nk Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

28 nk Sau đó, Đức Giê-su biết là mọi sự đã hoàn tất. Và để ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Người nói : + “Tôi khát !” 29 nk Ở đó, có một bình đầy giấm. Người ta lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người. 30 Nhắp xong, Đức Giê-su nói : + “Thế là đã hoàn tất !” nk Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.

(quỳ gối thinh lặng trong giây lát)

31 nk Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống. 32 Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giê-su. 33 Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người. 34 Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. 35 Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực ; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin. 36 Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh : Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập. 37 Lại có lời Kinh Thánh khác : Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.

38 nk Sau đó, ông Giô-xếp, người A-ri-ma-thê, xin ông Phi-la-tô cho phép hạ thi hài Đức Giê-su xuống. Ông Giô-xếp này là một môn đệ theo Đức Giê-su, nhưng cách kín đáo, vì sợ người Do-thái. Ông Phi-la-tô chấp thuận. Vậy, ông Giô-xếp đến hạ thi hài Người xuống. 39 Ông Ni-cô-đê-mô cũng đến. Ông này trước kia đã tới gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông mang theo chừng một trăm cân một dược trộn với trầm hương. 40 Các ông lãnh thi hài Đức Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái. 41 Nơi Đức Giê-su bị đóng đinh có một thửa vườn, và trong vườn, có một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai. 42 Vì hôm ấy là ngày áp lễ của người Do-thái, mà ngôi mộ lại gần bên, nên các ông mai táng Đức Giê-su ở đó.

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài chia sẻ 1

1. Đối với sách Tin Mừng thứ tư, tức là Tin Mừng theo thánh Gio-an, Đức Ki-tô không chỉ là Đấng Mê-si-a đến trần gian nhằm làm ứng nghiệm những lời tiên báo của các ngôn sứ Cựu Ước và thiết lập Nước Trời. Người cũng không chỉ là Đấng Mê-si-a Con Thiên Chúa nhưng là vị Cứu Chúa đến công bố sứ điệp diễn tả lòng khoan dung của Người đối với nhân loại. Theo tác giả Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su chính là Con Thiên Chúa, là Đấng Mê-si-a mang đến cho thế gian đức tin và sự sống đời đời (Ga 20,31).

* Trở lại với bài Thương Khó của Đức Giê-su chúng ta vừa nghe, ta thấy thánh Gio-an chỉ chọn lựa những biến cố ý nghĩa nhất để kể cho chúng ta nghe. Phải tìm trong viễn tượng thần học của tác giả Tin Mừng thứ tư lý do khiến ngài thay đổi một vài trật tự để làm rõ hơn ý nghĩa ẩn giấu trong cuộc Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

Vậy đâu là viễn tượng thần học này ? Để trả lới cho câu hỏi này, thiết tưởng không gì tốt hơn là trích dẫn bài viết của tác giả Charpentier trong quyển “Để đọc Tân Ước”.

* Thánh Gio-an trình bày cuộc Thương Khó như hành trình khải hoàn của Đức Giê-su về với Chúa Cha. Đức Giê-su biết Người sắp từ bỏ cõi đời. Người biết cái chết nào đang đợi Người và Người thản nhiên bước tới : "Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng tôi tự ý hy sinh mạng sống mình."

* Thánh Gio-an làm nổi bật sự oai nghiêm của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa khi quân lính đến bắt Người : chỉ cần Người nói : “Chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất. Đức Giê-su bị đóng đinh với tư cách là Vua. Tổng trấn Phi-la-tô nhận ra điều đó khi xét xử Người. "Ông Phi-la-tô nói với người Do-thái : ‘Đây là Vua các ngươi.’" và tấm bảng treo trên thập giá công bố điều đó bằng các thứ tiếng Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp : “Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái.”

* Thánh Gio-an không tách biệt cái chết của Đức Giê-su với sự phấn khởi, vì việc treo Đức Giê-su trên thập giá cũng là lúc Người ngự lên trong vinh quang Thiên Chúa để từ đó Người ban Thánh Thần cho nhân loại. “Khi nghe Đức Giê-su kêu khát, có người lấy miếng bọt biển có thấm đầy giấm, buộc vào một nhành hương thảo, rồi đưa lên miệng Người, Nhắp xong, Đức Giê-su nói : ‘Thế là đã hoàn tất !’ Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19,30).

Hơn nữa, Người còn là Thiên Chúa bị đâm thâu như ngôn sứ Da-ca-ri-a đã báo trước : “Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta, chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu” (Dcr 12,10). Đức Giê-su là Đền Thờ đích thực trong đó Thiên Chúa ngự trị, Đền Thờ mà ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã nhìn thấy từ bên phải vọt ra dòng nước tượng trưng cho Thánh Thần. Trong Giáo Hội, Nước và Máu biểu trưng cho hai bí tích Rửa Tội và Thánh Thể.

2. Một trình thuật được xây dựng hoàn hảo

Bắt đầu ở khu vườn Ghết-sê-ma-ni, và kết thúc cũng trong khu vườn nơi táng xác Chúa, nơi sự sống nẩy mầm. Trình thuật của thánh Gio-an diễn tiến trong một không gian hạn chế : Marchadour ghi nhận : "Năm nơi chốn : một khu vườn, dinh thượng tế, dinh tổng trấn Phi-la-tô, đồi Gôn-gô-tha và rồi một khu vườn nữa". Cả năm cảnh đều được xây dựng chung quanh cảnh trung tâm là : Tổng trấn Phi-la-tô xử án.

Tóm lược

“Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh” (1 Cr 15,3).

Ơn cứu độ của chúng ta xuất phát từ sự khởi xướng của tình yêu Thiên Chúa đối với chúng ta “chính Ngài đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). “Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được giao hoà với Ngài” (2 Cr 5,19).

Chúa Giê-su đã tự hiến một cách tự do để cứu độ chúng ta. Người tỏ cho thấy và thực hiện trước việc ban tặng này trong Bữa Tiệc Ly : “Đây là mình Thầy, bị nộp vì anh em” (Lc 22,19).

Công trình Cứu Chuộc của Đức Ki-tô cốt tại điều này : Người “đến ... hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28), nghĩa là “Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), để họ được cứu chuộc khỏi lối sống phù phiếm do cha ông họ truyền lại.

Nhờ sự vâng phục vì tình yêu đối với Chúa Cha, vâng phục trọn vẹn cho đến nỗi “chết trên cây thập tự” (Pl 2,8). Chúa Giê-su đã hoàn thành sứ vụ đền tội của Người Tôi Trung đau khổ, Đấng làm cho muôn người nên công chính và chính Người gánh lấy tội lỗi của họ.

Thưa anh chị em, trong nghi thức tưởng niệm cuộc Thương Khó của Đức Giê-su chiều hôm nay, điều nổi bật không phải là những đau khổ, nhục nhằn mà Người phải chịu, nhưng là vinh quang của Thánh Giá và tình yêu tự hiến của Con Thiên Chúa làm người để thực hiện kế hoạch cứu độ của Chúa Cha, Người đã chết cho chúng ta được sống và sống dồi dào.

- Người đã chết vì Người thương chúng ta như Người đã nói "không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình".

Trong hai ngàn năm lịch sử của Giáo Hội, có những Ki-tô hữu đã sống lời Chúa khi dám chết để cho người khác được sống :

1. Thánh Maria Maximilien Kolbê (14-8).

2. Carlo Urbani, bác ái không biên giới.

3. Arnaud Beltrame, hiến binh Pháp.

4. Kendrick Castillo : lễ sinh ở Denver Colorado.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã chết để cho chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho chúng con luôn sống xứng đáng với tình yêu hy sinh của Chúa.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có yêu thương nhau như Chúa đã dạy và làm gương cho chúng ta không ?.

 

Bài chia sẻ 2

* Chúng ta đang sống trong ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, một ngày của bóng tối và ánh sáng. Toàn thể Giáo Hội tưởng nhớ cuộc Thương Khó, cái chết và việc an táng Đức Giê-su. Phụng vụ gửi đến cho chúng ta những bản văn tuyệt vời, giúp chúng ta suy niệm trong một thời gian dài. Bài đọc 1 trích từ sách ngôn sứ I-sai-a là bài ca Người Tôi Tớ đau khổ, một lời sấm tuyệt hay. Bài đọc 2 trích từ thư gửi tín hữu Híp-ri nhắc lại cho chúng ta về của lễ của Đức Ki-tô dâng lên Chúa Cha trong kêu van khóc lóc, đau đớn thể xác và đau khổ tinh thần. Bài Tin Mừng theo thánh Gio-an kể lại cuộc Thương Khó của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, là một lời tôn vinh. Thật ra, cuộc Thương Khó trong bốn Tin Mừng không phải là một câu chuyện buồn, nhưng biểu lộ vinh quang của Đức Giê-su, vinh quang của Đấng đã yêu thương chúng ta đến cùng.

* Lời sấm của ngôn sứ I-sai-a thật ấn tượng. Đây là một bản văn độc nhất của toàn bộ Cựu Ước, nói về một nhân vật chịu đau khổ vì tội lỗi của người khác. Bản văn nói : “Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong, đáng chúng ta ngắm nhìn, dung mạo chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích. Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, … giống như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn.” Những đau khổ Người gánh chịu vì tội lỗi chúng ta cũng được ngôn sứ đề cập tới : “Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm. Người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.” Người chịu đau khổ vì tội lỗi chúng ta. Khi thấy Đức Giê-su chịu đau khổ trong cuộc Thương Khó, chúng ta đừng quên rằng Người chịu đau khổ như vậy là do chúng ta phạm tội. Những đau khổ này nhiều vô kể. Quả thật, bản văn của ngôn sứ I-sai-a nói : “Nếu Người hiến thân làm lễ vật đền tội, Người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn ... Nhờ nỗi thống khổ của mình, Người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện.” Phần khởi đầu của lời sấm này nói về việc tôn vinh nhân vật này vì Đức Chúa đã hứa : “Này đây, Người Tôi Trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật và được suy tôn đến tột cùng.” Qua cuộc Thương Khó, Đức Giê-su đi về hướng ánh sáng Phục Sinh.

* Cuộc Thương Khó theo thánh Gio-an là một bài tôn vinh, được chuẩn bị bằng lời cầu nguyện của Đức Giê-su, thường được gọi là “lời nguyện của vị Thượng Tế” thốt lên vào cuối Bữa Tiệc Ly (x. Ga 17). Đức Giê-su hướng về Chúa Cha và cầu nguyện : “Lạy Cha, giờ đã đến, xin Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha” (Ga 17,1). Đức Giê-su xin được tôn vinh nhưng Người biết rằng Người sẽ được tôn vinh qua những đau khổ Người phải chịu. Thánh Gio-an cho chúng ta thấy rằng việc tôn vinh Đức Giê-su đã được thực hiện ngay từ lúc khởi đầu của cuộc Thương Khó. Trong mỗi giai đoạn của cuộc Thương Khó, luôn luôn có một khía cạnh tôn vinh khiến chúng ta ngỡ ngàng dù khi Người bị hạ nhục. Đức Giê-su đang ở trong vườn Ghết-sê-ma-ni thì bị quân dữ bắt. Tình hình lúc đó thật tồi tệ : Người bị đối xử như một tên bất lương. Nhưng Đức Giê-su tiến ra và hỏi : “Các anh tìm ai ?” Họ đáp : “Tìm Giê-su Na-da-rét.” Người nói : “Chính tôi đây.” Những lời này của Đức Giê-su tôn vinh Người vì vừa nghe Người nói : “Chính tôi đây”, họ lùi lại và ngã xuống đất. Ngay lúc bắt đầu cuộc Thương Khó, Đức Giê-su đã xuất hiện như một người chiến thắng. Điều này đem ý nghĩa cho cả cuộc Thương Khó. Tiếp đến Đức Giê-su cho thấy những lời nói của Người trở thành hiện thực. Người nói với những kẻ đến bắt Người : “Tôi đã bảo các anh là chính tôi đây. Vậy nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi.” Thế là ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã nói : “Những người Cha đã ban cho Con, Con không để mất một ai” (Ga 18,9). Khi bị vị thượng tế tra hỏi, Đức Giê-su trả lời cách hiên ngang : “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ … Tôi không hề nói điều gì lén lút, tại sao ông lại hỏi tôi ? Điều tôi đã nói, xin cứ hỏi những người đã nghe tôi, chính họ đã biết tôi nói gì !” Đức Giê-su vừa dứt lời, thì một tên trong nhóm thuộc hạ đứng đó vả vào mặt Người mà nói : “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư ?” Đối với Đức Giê-su, đó là một sự sỉ nhục nặng nề, nhưng Người khẳng khái trả lời : “Nếu tôi nói sai, anh chứng minh xem sai ở chỗ nào ; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi ?” Sau cuộc tra hỏi ở tư dinh của vị thượng tế, Đức Giê-su bị giải đến pháp đình tại dinh tổng trấn Rô-ma. Trong việc xử án tại dinh Phi-la-tô, ông này vào và ra đến bảy lần để nói với người Do-thái và với Đức Giê-su về sự vô tội của Đức Giê-su. Tổng trấn Phi-la-tô nói với đám đông : “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy.” Đàng khác, cuộc tra hỏi này là dịp để Đức Giê-su cho thấy nhân thân vương giả của Người.

* Tổng trấn Phi-la-tô hỏi Người : “Vậy ông là vua sao ?” Đức Giê-su đáp : “Chính ngài nói rằng tôi là vua.” Như thế, Người đã được tôn vinh. Người nói tiếp : “Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian, nhằm mục đích này : làm chứng cho sự thật.” Đức Giê-su giải thích rằng nước Người không thuộc về thế gian này, nhưng là một nước quan trọng hơn tất cả các nước thế gian. Ông Phi-la-tô lại ra gặp người Do-thái và bảo họ : “Phần ta, ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy.” Một lần xác nhận nữa về sự vô tội của Đức Giê-su. Tổng trấn Phi-la-tô dẫn Đức Giê-su ra ngoài cho đám đông thấy và nói với họ : “Đây là Người !” Đức Giê-su đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ, là một con người tuyệt vời. Người đã được binh lính chào là “Vua người Do-thái”, và danh xưng này được tuyên xưng nhiều lần, nhưng ông Phi-la-tô gọi Đức Giê-su là “người” : “Đây là Người.” Đức Giê-su là một con người lý tưởng, con người hoàn hảo. Trong cuộc Thương Khó, Người là con người hoàn hảo nhất, Người đi đến tận cùng của tình yêu. Thánh Gio-an đã nói : “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Đức Giê-su cũng xác nhận : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Vào cuối vụ án, một khía cạnh khác về phẩm giá của Đức Giê-su biểu hiện rõ nét. Những người Do-thái la to : “Chúng tôi có Lề Luật, và chiếu theo Lề Luật, thì nó phải chết, vì nó đã xưng mình là Con Thiên Chúa.” Tổng trấn Phi-la-tô rất ấn tượng về những lời cho thấy địa vị thần linh của Đức Giê-su. Sau khi điệu Đức Giê-su đến đồi Gôn-gô-tha, họ đóng đinh Người vào thập giá, cùng với hai tên gian phi. Tác giả Tin Mừng kể : “Tại đó, họ đóng đinh Người vào thập giá, đồng thời cũng đóng đinh hai người khác nữa, mỗi người một bên, còn Đức Giê-su thì ở giữa.” Đức Giê-su chiếm một chỗ danh dự. Một tấm bảng được viết bằng ba thứ tiếng công bố vương quyền của Đức Giê-su. “Ông Phi-la-tô cho viết một tấm bảng và treo trên thập giá, bảng đó có ghi : ‘Giê-su Na-da-rét, Vua dân Do-thái’”… Tấm bảng này được viết bằng các tiếng Híp-ri, La-tinh và Hy-lạp. Các thượng tế phản đối và yêu cầu sửa lại tấm bảng này, nhưng tổng trấn Phi-la-tô từ chối khi nói : “Ta đã viết sao, cứ để vậy.” Như vậy vinh quang của Đức Giê-su được xác nhận và tái xác nhận. Tiếp đến Đức Giê-su biểu lộ uy quyền của Người. Khi thấy Mẹ của mình cùng với môn đệ Người yêu mến, Người xác nhận số phận của Đức Ma-ri-a khi nói : “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Qua lời này của Đức Giê-su, Đức Ma-ri-a trở nên mẹ của người môn đệ, nghĩa là mẹ của tất cả các môn đệ. Rồi quay sang môn đệ, Người nói : “Đây là Mẹ của anh.” Đây là ân huệ tuyệt vời mà Đức Giê-su bị đóng đinh ban cho tất cả các môn đệ. Cuối cùng, Người có thể nói rằng : “Thế là đã hoàn tất.” Đức Giê-su đã đi đến tận cùng của tình yêu và ứng nghiệm tất cả mọi lời Kinh Thánh. Đó là vinh quang của Đức Giê-su : vinh quang vì đã yêu thương, vinh quang vì đã làm theo thánh ý Chúa Cha, vinh quang vì đã cứu chuộc nhân loại. Sau cái chết của Đức Giê-su, việc tôn vinh Người được biểu lộ một cách có ý nghĩa trong câu chuyện cạnh sườn bị đâm thâu. Theo thói quen lúc bấy giờ, quân lính đánh giập ống chân những người bị đóng đinh, việc làm bất nhân này làm biến dạng thân xác của tử tội. Tuy nhiên Đức Giê-su được tha việc này vì Người đã chết, nên một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. Tác giả Tin Mừng gán cho việc làm này một tầm quan trọng đặc biệt : “Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực, và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin.” Quả thật, sự kiện độc đáo này cho thấy cuộc Thương Khó của Đức Giê-su đem lại biết bao hiệu quả tốt đẹp. Chúng ta có thể nói rằng, qua biến cố này, một lần nữa, Chúa Cha tôn vinh Chúa Con vào cuối cuộc Thương Khó. Máu cho ta biết Đức Giê-su, khi cho đi mạng sống của mình, thì Người đã thông ban cho chúng ta sự sống. Trong bí tích Thánh Thể, máu ban cho chúng ta sự sống thần linh của Đức Giê-su. Nước tượng trưng cho ơn Chúa Thánh Thần. Đức Giê-su đã nói : “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống ! Như Kinh Thánh đã nói : Từ lòng Người sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Ga 7,37-38). Và tác giả Tin Mừng đã chú giải : “Đức Giê-su muốn nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Người sẽ lãnh nhận. Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giê-su chưa được tôn vinh” (Ga 7,39). Cuộc Thương Khó của Đức Giê-su ban cho chúng ta ân huệ Chúa Thánh Thần. Thánh Gio-an không chờ đợi lễ Ngũ Tuần để nói về ân huệ, vì ơn đó phát sinh từ cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su. Thần Khí thanh tẩy, Thần Khí làm cho sống, Thần Khí thánh hoá, tất cả đều phát sinh từ cuộc Thương Khó của Đức Giê-su. Khi được an táng trong huyệt đá mới, thân xác Đức Giê-su được đặc biệt tôn kính với một lòng quảng đại hiếm có. Thánh Gio-an kể rằng : “Ông Ni-cô-đê-mô mang theo chừng một trăm cân một dược trộn với trầm hương. Các ông lãnh thi hài Đức Giê-su, lấy băng vải tẩm thuốc thơm mà quấn, theo tục lệ chôn cất của người Do-thái. Các ông mai táng Đức Giê-su trong một ngôi mộ còn mới, chưa chôn cất ai.” Đó là vinh dự cuối cùng dành cho thân xác Đức Giê-su.

* Sau khi đã đọc bài tường thuật về cuộc Thương Khó của Đức Giê-su theo thánh Gio-an, chúng ta có thể quan tâm đặc biệt đến cái nhìn đức tin mà tác giả Tin Mừng gửi đến chúng ta : một cái nhìn cảm động vì vinh quang của Đức Giê-su biểu lộ trước hết bằng một tình yêu tuyệt đối qua những đau khổ và nhục nhã mà Người phải chịu. Cũng có một khía cạnh rất tích cực khác : cuộc Thương Khó của Đức Giê-su luôn được Chúa Quan Phòng hướng dẫn. Không một chi tiết nào là vô nghĩa hết. Sự quan phòng tôn vinh Đức Giê-su bằng cuộc Thương Khó. Ai biết phân định ý nghĩa sâu xa của các biến cố này sẽ hiểu trọn vẹn tất cả. Việc tôn vinh Đức Giê-su sẽ rõ ràng hơn với việc Phục Sinh, Thăng Thiên và ân huệ Thánh Thần vào ngày lễ Hiện Xuống. Nhưng tất cả đều bắt nguồn từ trong cuộc Thương Khó. Cho nên chúng ta có thể quả quyết với một niềm vui trọng đại và một lòng biết ơn vô cùng rằng : cuộc Thương Khó của Đức Giê-su là một sự tôn vinh.

 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết thông phần những đau khổ của Chúa trong cuộc Thương Khó khi vui lòng đón nhận những đau thương của cuộc đời.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có can đảm vác thập giá theo chân Chúa không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

Cái chết khai mạc một sự hiện diện mới của Đức Chúa

(“Kinh Thánh ngày Chúa nhật”, tr. 571-572).

Trong suốt trình thuật cuộc Thương Khó, thánh Gio-an không ngừng hình thành câu hỏi mà toàn bộ Tin Mừng nêu lên : Đức Giê-su là ai ? (Ga 18,4.7 ; 19,9). Câu trả lời nổ tung trong phút hiện tại với tất cả sự xác định rõ ràng : Đức Giê-su là Thiên Chúa và những người Do-thái đến bắt một người, khi ngã sấp mặt xuống, mới ý thức được sự hiện diện của Thần Linh (Ga 18,6). Vì là Thiên Chúa, nên trong vụ án Đức Giê-su chẳng cần gì đến những nhân chứng loài người như trong các Tin Mừng Nhất Lãm : Chỉ cần Cha Người làm chứng cho Người là đủ (Ga 8,18). Vả lại ai có thể xét xử một Thiên Chúa như thế ? Hội Đường ? Thánh Gio-an thậm chí chẳng nói đến nữa ! Dân được tuyển chọn ? Trái lại là khác, phiên xử Thiên Chúa diễn ra trước mặt thế giới và đế quốc (Ga 19,15) và bản án được viết bằng ba ngôn ngữ phổ biến nhất thời ấy (Ga 19,20), để lôi kéo mọi người đến quanh Thánh Giá (Ga 12,32). Lo lắng tìm ra những dấu chỉ thần tính của Đức Giê-su và bảo đảm sự vĩnh cửu của công trình của Người, thánh Gio-an đã rút ngắn đáng kể việc miêu tả những khổ đau của Đức Ki-tô cũng như những đột biến trong cuộc Thương Khó. Dưới mắt thánh nhân, chỉ có một điều quan trọng duy nhất : Cái chết của Đấng Người-Chúa là giờ phút quyết định để con người có thể tiến đến một sự hiệp thông thật sự với Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giê-su không phải là một kết thúc, trái lại, nó khai mạc sự hiện diện của Đức Chúa đối với thế giới và Giáo Hội, theo nghĩa này cái chết là vượt qua từ một thế giới hư hèn sang một thế giới khác, thế giới của Giáo Hội (là mẹ các tín hữu như trong Ga 19,26-27), thế giới của các bí tích (nước và máu trong Ga 19,34), thế giới của chức linh mục vĩnh viễn thật sự mở ra lối đi về Thiên Chúa (chiếc áo không có đường may của các linh mục, Ga 19,23), sau cùng là thế giới của sự sống con người kết hiệp với Thánh Linh (mà Đức Giê-su giao nộp trong cái chết, Ga 19,30).

Để nhắc nhở kỹ lưỡng cuộc vượt qua từ một thế giới sang một thế giới khác, thánh Gio-an đặt cuộc Thương Khó của Đức Giê-su vào dịp lễ Vượt Qua của người Do-thái, là lễ “quá độ” tuyệt hảo. Từ đó ông mới thường xuyên đề cập đến lễ Vượt Qua (Ga 18,28.39 ; 19,14), đến con chiên vượt qua (Ga 19,36), đến cành lá hương thảo trong nghi thức Vượt Qua (Ga 19,29), và trên hết, ý định của thánh Gio-an khác với các Tin Mừng Nhất Lãm, cho giờ chết của Đức Giê-su trùng hợp vào giờ sát tế chiên vượt qua. Giờ đã điểm : nhân loại không chỉ bước vào một thời đại tự do với con chiên vượt qua theo nghi lễ, nhưng còn bước vào một thời đại hiệp thông vì chia sẻ cuộc sống với Thiên Chúa.