Phúc Âm theo Luca (10, 25-37)kể: Khi Đức Giêsu đang giảng dạy cho dân chúng, thì có một luật sĩ, được xem là người thông thái và thuộc hàng lãnh đạo tôn giáo của Do Thái giáo, nêu câu hỏi: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm cơ nghiệp ?”

Đức Giêsu hỏi lại vị luật sĩ: “Trong Lề luật đã viết gì? ông đọc làm sao?” Là một luật sĩ, người này hẳn phải hiểu rất rõ phải trả lời thế nào. Ðáp lại người ấy nói: “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, hết sức lực ngươi, và hết trí khôn ngươi; và [yêu mến] đồng loại ngươi như chính mình”.

Đức Giêsu nói với người này: “Ông đã trả lời cách chí lý. Hãy làm thế và ông sẽ được sống”[1]. Mến Chúa, yêu người, chính là con đường để có được sự sống đời đời làm cơ nghiệp. Lề luật vị luật sĩ nằm lòng đã khẳng định và Đức Giêsu cũng xác nhận như vậy.

Sách Phúc Âm theo Matthêu còn cho biết: được hỏi điều răn nào lớn nhất trong Lề luật, Đức Giêsu đã đọc lại phần thứ nhất của điều luật được nêu trên đây “Ngươi phải yêu mến Chúa… hết trí khôn ngươi”, và kết luận: “Đó là điều răn lớn, điều răn đệ nhất”. Và Người nói tiếp: “Thứ đến cũng giống như điều ấy: ‘Ngươi phải yêu mến đồng loại ngươi như chính mình ngươi”. Và đối với Đức Giêsu, đây không chỉ là “điều răn lớn, điều răn đệ nhất” mà “toàn thể Lề luật cùng các tiên tri đều quy vào hai điều răn này”[2].

Nhưng Đức Giêsu đã không dừng lại ở lý thuyết, ở lời phán của Lề luật một cách chung chung mà còn muốn đi vào lãnh vực của những việc làm cụ thể, gắn liền với những con người cụ thể và trong những tình huống cụ thể, khi Người đưa ra dụ ngôn Người Samari nhân hậu[3] khi trả lời câu hỏi tiếp theo của vị luật sĩ.

Con đường phải đi để có được “sự sống đời đời làm cơ nghiệp”, như câu trả lời của vị luật sĩ cho thấy, không xa lạ gì đối với ông và có lẽ đối với nhiều người trong cử tọa của Đức Giêsu hôm ấy. Vấn đề chính là tuân thủ, thực hiện điều luật này. Và câu hỏi tiếp theo của vị luật sĩ cho thấy việc tuân thủ Lề luật này, trong thực tế, xem ra không dễ. Yêu mến Thiên Chúa, tôn thờ Đấng Tạo hoá, dâng của lễ tại đền thờ để tạ ơn Đấng đã cứu thoát cha ông, tổ tiên của mình khỏi ách nô lệ và hứa ban cho con cháu của các ngài cuộc sống dồi dào, sung mãn, là điều hợp lý, chẳng có gì phải băn khoăn, thắc mắc. Nhưng yêu mến “đồng loại như chính mình” thì quả là có khó khăn. Và luật sĩ nêu tiếp câu hỏi thứ hai: “Nhưng ai là đồng loại của tôi?”

Một câu hỏi chỉ có thể dẫn đến một sự xếp loại theo một số tiêu chí nào đó. Và hậu quả của sự xếp loại này là loại trừ một số người, thậm chí một số rất đông người vì không đáp ứng được hết các tiêu chí đặt ra: đồng loại của tôi có thể là đồng bào, đồng hương, đồng đạo, đồng nghiệp, đồng chí hướng, hay đồng phe… Người ta có thể đồng hương, nhưng lại không đồng đạo, là đồng đạo nhưng lại không đồng nghiệp, là đồng nghiệp nhưng lại không đồng phe… Tiêu chí kết hiệp đúng là rất nhiều, nhưng tiêu chí loại bỏ thì cũng không phải là ít, bởi lẽ một khi tìm cách xác định người này là đồng loại của tôi thì đồng thời cũng tuyên bố người nọ không phải.

Thực ra, trong thực tế của thời Chúa Giêsu, những người muốn thi hành điều răn dạy mến Chúa và yêu thương người đồng loại như mình phân vân không ít khi phải thực thi sự phân loại này. Người Biệt phái thì đóng khung người đồng loại vào số những người Biệt phái và loại ra ngoài những kẻ không thuộc Biệt phái. Người Essêni thì lại chủ trương phải ghét bỏ “mọi con cái của tối tăm”, các rabbi thì lại tuyên bố phải xô xuống hố những kẻ lạc đạo, người tố giác, kẻ bội giáo, có người lại loại “kẻ thù” của mình ra khỏi hàng ngũ những người đồng loại phải yêu mến “như chính mình”. 

Nhưng Chúa Giêsu thì lại không muốn đi vào cái trò chơi phân loại này. Và Ngài đưa ra một dụ ngôn. Dụ ngôn kể: một người chẳng may sa vào ổ cướp, bị lột hết áo xống, bị đánh nhừ tử, và bị bỏ mặc nửa sống nửa chết trên đường đi. Một tư tế tình cờ đi qua con đường này, trông thấy người bị nạn, nhưng đã tránh một bên mà đi qua. Kế đó, một lêvít cũng có thái độ như người thứ nhất khi đi tới khúc đường này. Cuối cùng là một người Samari và người này, trái ngược hẳn với hai người trên, đã làm tất cả những gì mà tình cảnh của kẻ bị nạn chờ đợi để được cứu sống: bắt đầu là sự “chạnh lòng thương”, tiếp đó là việc “ràng buộc thương tích”, rồi “đổ dầu và rượu”, có thể là để làm giảm đau và sát trùng vết thương, rồi “vực người ấy lên lừa của mình”, “đưa đến quán trọ, và săn sóc người ấy”.

Việc người Samari giúp đỡ người bị nạn không dừng lại ở đây. Dụ ngôn đã không ngại dài dòng để kể tiếp: “Sáng hôm sau, rút hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo: ‘Ông hãy săn sóc người ấy, và phải tiêu pha gì thêm, thì chính tôi, vòng về, tôi sẽ trả ông,’ ” như thể để tránh cho người bị nạn khỏi bị chủ quán gây phiền hà khi bị đòi tiền trọ và tiền công chăm sóc, lúc ông không ở đó.

Làm tất cả mọi việc người bị nạn cần đến để được sống và được an toàn. Người Samari đã đi đến tận cùng của đòi hỏi. Không dừng lại nửa vời, càng không phải làm cho có.

Thấy và tránh sang một bên để đi tiếp

Một tư tế, một lêvít và một người xứ Samari, cả ba người, lần lượt đều đi qua chỗ người bị nạn. Và cả ba cùng thấy người bị nạn nửa sống, nửa chết nằm trên đường đi. Nhưng người thứ nhất, rồi người thứ hai đã tránh một bên mà đi qua. Không phải hai người này không thấy người bị nạn. Chính vì thấy, và rất có thể là vì thấy được cả tình trạng người này đang lâm phải, nên hai người mới tránh qua một bên mà đi. Họ thấy người bị nạn, nhưng xử sự như không thấy. Bề ngoài mà xét, hình ảnh người bị nạn chẳng gây được một tác động nào trên hai người này, trừ việc tránh sang một bên và đi qua. Đi qua cũng có nghĩa là bỏ mặc: may thì sống mà không may thì chết, chẳng can dự gì tới tôi, hay tôi còn có việc khẩn cấp hơn phải làm, không có thời gian để dừng lại… Bao nhiêu lý do!

Thấy và “chạnh lòng thương”

Người thứ ba cũng đã thấy người bị hại đang ở trong tình trạng nửa sống, nửa chết. Nhưng người này đã không bỏ đi như hai người trước mà đã dừng lại. Vì người này đã không chỉ thấy mà còn “chạnh lòng thương”. Và sự “chạnh lòng thương” này còn mở lòng trí cho người này thấy, và làm, tất cả những gì cần phải làm để cứu sống cái nửa đang chết của người bị nạn.

Trong dụ ngôn, cả ba người đều được nói rõ tông tích: một người là tư tế, một người là lêvít, tức là những người Do Thái biết rõ có nhiệm vụ yêu đồng loại của họ; người thứ ba là người Samari. Đây là một dụ ngôn đưa ra so sánh hai thái độ, một là của những người Do Thái, và một là của người ở xứ Samari, vốn bị người Do Thái coi là lạc đạo, do đó, là người xa lạ đối với người bị hại hẳn cũng là người Do Thái theo bối cảnh trong dụ ngôn. Một bên là thái độ thờ ơ, lẩn tránh. Một bên là hết mình làm tất cả những gì cần thiết cho người bị nạn. Đứng trước hai thái độ này, cử toạ, thậm chí, cả người nêu câu hỏi với mục đích thử thách Đức Giêsu, cũng hiểu được mình phải chọn thái độ nào để noi theo, nếu muốn giữ luật yêu thương người đồng loại như mình.

Yêu thương đồng loại bằng cách trở nên đồng loại

Nhưng sau khi kể dụ ngôn, Đức Giêsu thay vì trả lời thẳng câu hỏi của vị luật sĩ “Ai là đồng loại của tôi”, đã đảo ngược câu hỏi và hỏi lại người này: “Ai trong ba người ấy đã nên đồng loại của người sa vào ổ cướp?” Câu trả lời chỉ có thể là người Samari.

Ở đây, Đức Giêsu đã không muốn đưa ra một định nghĩa về đồng loại, đối tượng của luật yêu thương, nhưng lại muốn người nghe chú ý tới đòi hỏi, hay bổn phận trở thành đồng loại của người bị nạn. Và người đã làm tròn bổn phận một đồng loại của người bị nạn lại là người Samari, mà không phải là vị tư tế hay lêvit vốn là người thông hiểu điều luật của Chúa và chắc chắn hiểu rõ nhiệm vụ yêu đồng loại của mình. Người Samari này, tuy không phải là người Do Thái và không phải là tín đồ Do Thái giáo, mà là người ngoài, người xa lạ, nhưng đã trở nên đồng loại của người sa vào ổ cướp vì đã “xử nhân nghĩa với người ấy”.

Yêu thương đồng loại như chính mình, cuối cùng, không phải chỉ là ban ơn, bố thí mà còn là, và nhất là đối xử như đồng loại, làm bổn phận của đồng loại đối với đồng loại. Nhưng con người không phải cứ sinh ra tức khắc là đồng loại trọn hảo của con người. Người ta còn phải trở thành đồng loại bằng việc tập sống và cư xử nhân nghĩa với con người.

Người Samari đã bị đánh động bởi tình trạng của người bị nạn với những vết thương đau đớn trên cơ thể. Người Samari đã được đưa ra khỏi chính mình để thấy được điều gì người bị nạn đang chờ đợi, và thấy được mình có trách nhiệm đáp ứng những đòi hỏi này, một cách vô vị lợi, chỉ vì sự sống và hạnh phúc của người bị nạn chưa hề quen biết trước đó. Và người Samari cũng chẳng cần tra cứu danh tính của người bị nạn, chẳng cần mất công tìm ra những dấu hiệu cho thấy rõ người này là ai. Người Samari chỉ thấy một con người, cùng là con người như mình, nhưng đang gặp khó khăn cần phải được giúp đỡ.

Nhìn lại tất cả những gì người Samari làm cho người bị nạn, và hẳn không phải vô cớ mà dụ ngôn đã liệt kê tỉ mỉ các việc này,- người ta có thể nghĩ nếu phải chăm sóc cho chính mình, người này cũng chỉ có thể làm được tới đó. Đó là thương yêu đồng loại như chính mình.

Cách trở thành người đồng loại như người Samari trong dụ ngôn đã làm, tiếp tục là một bài học, một lời mời gọi đối với tất cả chúng ta ngày nay vốn đang sống trong một thứ văn hóa ở đó “Xu hướng sống cá nhân hóa ngày càng phổ biến khiến nhiều người chỉ vì bản thân mà không nghĩ đến lợi ích cộng đồng; thậm chí vì bất chấp lợi ích cộng đồng nên người ta sẵn sàng chế biến đồ ăn từ gia súc, gia cầm bị bệnh; dùng chất tăng trưởng, thuốc trừ sâu quá mức cho phép...”[4] Trở thành đồng loại bằng cách trả lại những gì đã cướp đi của người khác

Người biệt phái và người thu thuế

Lc 18, 9-14

Chúng ta có nối tiếp dòng suy nghĩ trên khi đọc dụ ngôn Người biệt phái và người thu thuế(Lc 18, 9-14). Dụ ngôn trình bày hai mẫu người hoàn toàn khác biệt nhau, nếu không nói là mâu thuẫn nhau. Thân phận khác nhau: một người thuộc tầng lớp danh giá cả trong lĩnh vực xã hội lẫn tôn giáo ; một người bị xã hội liệt vào hàng bất lương, quân tội lỗi. Thái độ khi đứng trước mặt Chúa trong Đền thờ cũng khác nhau: một người thì ‘đứng sững’, đầy tự tin liệt kê những gì mình đã làm được: ‘Mỗi tuần tôi ăn chay hai lần, tôi nộp thuế thập phân về hết mọi vật tôi mua’, để rồi ‘xin tạ ơn Chúa’; một người thì chỉ dám ‘đứng lẻn đàng xa, không dám ngước mắt lên trời, nhưng chỉ biết đấm ngực’. Lời nguyện của hai người cũng khác nhau: một người tự tiện đặt mình lên trên người khác ‘tôi không phải như những người khác, gian tham, bất lương, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia’, một người thì chỉ thấy tội lỗi mình đã phạm và một mực xin Chúa xót thương: “Lạy Thiên Chúa, xin khấng thương tôi là đứa tội lỗi!”.

Trước hai nhân vật này, người nghe hẳn cũng đã có sự chọn lựa của mình. Tôn vinh người ngoan đạo thành gương mẫu để noi theo và lên án kẻ tội lỗi như loại người cần phải tránh xa, đó là lẽ thường tình của người đời. Và vì xem cái lẽ thường tình này như lẽ đương nhiên nên người nghe hẳn đã phải nhảy dựng lên, sửng sốt khi nghe Chúa Giêsu đưa ra phán quyết của Người, một phán quyết hoàn toàn đi ngược lại cái ‘lẽ thường tình’ của họ: “Ta bảo các ngươi: Người này xuống về nhà thì đã được giải án tuyên công, khác với người kia! Vì phàm kẻ nào nhắc mình lên sẽ bị hạ xuống, còn kẻ hạ mình xuống sẽ được nhắc lên”.

Nếu những người nghe Chúa Giêsu hôm ấy và chúng ta, những người nghe dụ ngôn này ngày hôm nay, còn biết và còn có thể nhảy dựng lên và sửng sốt trước phán quyết này của Chúa Giêsu thì quả là một điều may mắn đối với họ và đối với cả chúng ta. Sự sửng sốt ấy có thể là sự lay tỉnh để chúng ta quay đầu ‘trở lại’ với sự thật, sự thật của Thiên Chúa, một sự thật vốn là nền tảng không thể thiếu của sự ‘công chính’ của chúng ta, tức tư cách làm con của Cha trên trời, làm người được cứu độ, làm người kitô hữu đích thực: sự công chính ấy hoàn toàn là một quà tặng từ lòng thương xót của Thiên Chúa, cho kẻ tội lỗi và cho cả người ngoan đạo. Bổn phận của chúng ta là tạ ơn và sống sao hợp lời dạy của Chúa.

Người được ân sủng của Thiên Chúa biến thành công chính hẳn sẽ nỗ lực để sống sao cho xứng đáng. Và sẽ không còn cái cảnh ngó ngang để so sánh mình với người khác mà chỉ còn là với người khác, trong sự nâng đỡ nhau, nỗ lực mỗi ngày mỗi trở nên xứng đáng hơn, với ân sủng đã được ban cho và được lãnh nhận trong tâm tình cảm tạ.

 May mắn thay, thực tế được kể hầu như ngay sau dụ ngôn này đến tai người nghe, và do đó trở thành một dấu chứng xác nhận sự chân thật được gói ghém trong dụ ngôn.

“Đến để tìm cái đã hư đi”

Câu chuyện ông Zakkhê (Lc 19, 1-10)

Thực tế trong Câu chuyện ông Zakkhê được ghi lại trong Tin Mừng (Lc 19, 1-10) là như một minh họa sống động cho dụ ngôn “Người biệt phái và người thu thuế”. Nhưng sự kiện xảy ra còn làm cho người chứng kiến, và cả người nghe hôm nay, phải ngạc nhiên, sửng sốt gấp bội lần câu chuyện trong dụ ngôn đến độ ‘mọi người’ cầm lòng không được phải lên tiếng ‘kêu ca trách móc’, vì điều xảy ra hoàn toàn không giống như người ta vẫn nghĩ, không theo lẽ thường tình.

Một người thu thuế, (lại một người thu thuế, cái hạng ‘người tội lỗi’ ấy!), mà không phải là một người được xã hội xếp vào loại ‘ngoan đạo’, như người biệt phái ‘ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng cho Chúa một phần mười lợi tức của mình’, chẳng hạn, đã được cái diễm phúc gặp Chúa Giêsu, một cuộc gặp gỡ ‘định mệnh’ có sức biến đổi toàn diện con người của ông.

‘Định mệnh’ là bởi vì cái sự kiện có tính quyết định trên cuộc đời của ông, tạo nên một khúc quặt 180 độ trong tư tưởng, trong sự chọn lựa thái độ sống, từ một cái nghề ‘thu thuế’ vẫn mang tiếng là ‘thất đức’ vì thường phải moi tiền của người khác, có khi bằng bất cứ giá nào, để có đủ tiền nộp cho quan trên và làm giàu cho bản thân mình, lại đã bắt đầu từ một sự tò mò, một hành động chắc chắn là không tính toán trước.

Quả thực, sự kiện như đã bắt đầu từ một sự tò mò, một sự tò mò có pha chút thiện cảm, bởi vì người thu thuế này hẳn đã nghe được người ta, nhất là những người trong giới thu thuế, kháo láo với nhau về giáo huấn qua dụ ngôn của Chúa Giêsu trên đây. Làm sao mà không kháo láo với nhau được khi mà mình đang bị xã hội khinh dể, chê bai, lên án, và nhờm ghét, loại trừ, đi tới đâu cũng bị người ta chỉ trỏ, xa lánh, bỗng dưng lại có kẻ nói “tốt” về mình, mà kẻ ấy lại là bậc thầy trong thiên hạ, người đi khắp nơi để rao giảng một Vương quốc mới, một xã hội mới trong đó, những hạng người như “quân thu thuế” lại là những kẻ được dành ưu tiên. Một cái tin tốt lành như vậy, làm sao có thể giữ kỹ trong lòng mà không báo cho những kẻ cùng cảnh ngộ để biết mà vui mừng?

Nhưng sự tò mò của Zakkhê còn có giới hạn. Nó chưa đủ lớn để đẩy ông tới thẳng chỗ Chúa Giêsu và nghe Ngài giảng dậy một lần xem sao, nhưng cũng đủ để đẩy ông, nhân cơ hội Chúa Giêsu qua gần nhà mình, tìm cách xem mặt mũi của một con người có tên là Giêsu, đang được thiên hạ bàn tán nhiều, chứ chẳng phải vì mục đích thần học hay đạo đức gì. Và để thoả mãn sự tò mò này, Zakkhê đã phải khắc phục sự thiếu sót về chiều cao của mình bằng cách trèo lên một cây sung.

Đó là cái may mắn của viên trưởng ty quan thuế: ông vẫn còn khả năng ‘tò mò’, ‘ngạc nhiên’, biết nhìn nhận là vẫn còn những cái lạ đáng xem, đáng biết, nghĩa là không tự nhốt mình trong đống của cải đã thu vén được, để tìm sự an nghỉ giữa những cái được xem như vĩnh viễn thuộc về mình, nhưng thực ra, đó chỉ là một nấm mồ chôn một xác chết, để có thể leo lên cây, vượt lên trên cái ‘kích thước định mệnh’ để thỏa cái óc tò mò của mình. Và cái khả năng tò mò, ngạc nhiên ấy lại là cái kẽ hở của nấm mồ, và từ cái kẽ hở ấy, mà không phải là từ vị trí cao hơn người khi leo lên cây sung, mà Zakkhê đã gặp được lòng thương xót, sự ưu ái của Đấng Cứu Độ, Đấng đã cho ông sống lại, trở thành một con người khác hẳn.

Phúc Âm kể tiếp: Khi Ðức Giêsu vừa đến chỗ ấy, Ngài ngẩng lên nhìn và nói cùng ông: “Zakkhê, xuống mau, vì hôm nay Ta phải lưu lại nhà ngươi”. Sự tò mò của Zakkhê lại được Đức Giêsu đáp lại một cách bội hậu: “Zakkhê, xuống mau”. Lời kêu gọi của Đức Giêsu đã kéo con người này về lại với “vóc dạng thấp bé” vốn có của ông. Chúa Giêsu muốn gặp gỡ ông nơi chính cái trạng thái “thấp bé” này của ông”:

Zakkhê vội tụt xuống và mừng rỡ đón tiếp Ngài.

Nhưng Zakkhê đã không dừng lại ở sự “mừng rỡ”, ở hành động chuẩn bị “đón tiếp Người”. Ngay sau khi gặp được Đấng ông muốn gặp, hành động đầu tiên Zakkhê quyết định làm là đền bù những thiệt hại ông đã gây nên cho người khác, một quyết định không thể nào triệt để hơn liên quan đến chính của cải của ông, con người và cuộc đời của ông: “Này nửa phần của cải tôi, thưa Ngài, tôi xin bố thí cho kẻ khó, và nếu tôi đã gian lận gì của ai, tôi xin đền lại gấp bốn”.

Đem cả của cải của mình để bố thí cho kẻ khó, để đền bù những thiệt hại mình đã gây nên, chẳng phải là quyết định dễ dàng. Tin Mừng cũng đã kể câu chuyện về một người thanh niên giàu có, mặc dù thuộc loại “đạo đức” vì đã tuân giữ mọi điều luật dạy, nhưng vẫn còn muốn đi xa hơn nữa để trở nên trọn lành, đã không vượt qua nổi đòi hỏi của chính người anh ta muốn đi theo làm môn đệ: bán của cải mình có để bố thí cho người nghèo khó.

Thực thi những gì đã quyết định, Zakkhê hẳn phải trở thành trắng tay. Nhưng khi của cải lần lượt ra khỏi nhà ông để về lại với những “kẻ khó”, với những nạn nhân của trò “gian lận” của ông, nhà của ông và bản thân ông lại được đón nhận từ Đức Giêsu một quà tặng còn quý giá hơn gấp bội: “Hôm nay ơn cứu rỗi đã đến cho nhà này, bởi chưng người này cũng là con cái của Abraham”, tức được quyền chia sẻ các đặc ân của Do Thái, cùng loại với các con cái của Abraham.

Chúng ta thường có khuynh hướng tạo nên những thành lũy vững chắc từ những định kiến, những xác tín như đinh đóng cột không gì lay chuyển nổi, thậm chí còn được nâng lên hàng sự thật, chân lý vĩnh cửu, dù rằng trong thực tế, chỉ là những bóng của sự thật. Và từ cái thành lũy tưởng như vững chắc ấy, chúng ta tự nâng mình lên trên người khác, tự cho mình quyền phán quyết là mình không như những người khác…Khuynh hướng ấy là cơn cám dỗ muôn thuở của con người, của cả loài người, con cháu của Ađam và Eva muốn tự mình phân định tốt xấu.

Nhưng chúng ta vẫn còn những cơ may, khi chúng ta vẫn còn khả năng tò mò, biết ngạc nhiên, còn có thể giật mình trước một sự kiện nhỏ, một bản tin, một bài báo, một cuộc gặp gỡ bất ngờ…Vì Chúa Giêsu chúng ta tìm kiếm có thói quen xuất hiện trong những lúc bất ngờ, “như kẻ trộm”, trước con mắt mở to, thơ ngây của trẻ nhỏ, của những con người bé mọn, của cả kẻ tội lỗi đang trông chờ gặp được lòng thương thứ tha, gặp được sự thật có khả năng giải thoát.

Quả là một giáo huấn có sức lật ngược lòng trí con người.

Kết luận Phán xét cùng tận (Mt 25, 31-46)

Hình ảnh có tính cách tiên tri trong Tin Mừng (Mt 25, 31-46) có thể cung cấp cho chúng ta cái lý do nền tảng cho giáo huấn trở nên người đồng loại Chúa Giêsu đưa ra. Chúng ta có thể đọc lại đoạn tin Mừng này và nên đọc lại dù đã đọc đi đọc lại nhiều lần để giáo huấn này của Chúa Giêsu có thêm cơ hội “lật ngược lòng trí” chúng ta, nhất là trong những ngày mùa chay và Tuần Thánh đang đến:

“Khi con Người đến trong vinh quang của Ngài, và cùng với Ngài, hết thảy các thiên thần, bấy giờ Ngài sẽ ngự trên ngai vinh hiển của Ngài. Các dân thiên hạ được thâu họp lại trước mặt Ngài hết thảy, và Ngài phân tách người ta ra khỏi nhau, một thể như người chăn chiên tách chiên ra khỏi dê. Chiên thì Ngài đặt bên phải, còn dê thì ở bên trái.

Bấy giờ Vua sẽ nói với những người ở bên phải: “Hãy đến! hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy lĩnh lấy làm cơ nghiệp Nước đã dọn cho các ngươi từ tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói mà các ngươi đã cho Ta ăn, Ta khát mà các ngươi đã cho Ta uống, Ta là khách lạ mà các ngươi đã tiếp rước, Ta mình trần mà các ngươi đã cho Ta mặc, Ta đau yếu mà các ngươi đã thăm viếng, Ta ở tù mà các ngươi đã đến với Ta”.

Bấy giờ kẻ lành đáp lại rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi thấy Người đói mà đã nuôi dưỡng, khát mà đã cho uống; có bao giờ chúng tôi thấy Người là khách lạ mà đã tiếp rước, mình trần mà đã cho mặc; có bao giờ chúng tôi thấy Người đau yếu hay ở tù mà chúng tôi đã đến với Người”

Ðáp lại Vua sẽ nói với họ: “Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất này của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta”.

Bấy giờ Ngài cũng sẽ nói với những người bên trái: “Hỡi phường bị chúc dữ, hãy xéo đi xa Ta, mà vào lửa đời đời đã dọn sẵn cho ma quỷ cùng chư thần của nó. Vì xưa Ta đòi mà các ngươi không cho Ta ăn, Ta khát mà các ngươi không cho Ta uống, Ta là khách lạ mà các ngươi không tiếp rước, Ta mình trần mà các ngươi không cho mặc, Ta đau yếu và ở tù mà các ngươi đã không thăm viếng”.

Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng: “Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi đã từng thấy Người đói hay khát, khách lạ hay mình trần, liệt lào hay ở tù, mà chúng đã lại không giúp đỡ Người?

Bấy giờ Ngài đáp họ rằng: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, những gì các ngươi đã không làm cho một người nào trong các kẻ hèn mọn nhất này, là các ngươi đã không làm cho chính mình Ta”. Và chúng sẽ phải vào cực hình đời đời, còn kẻ lành thì được vào sự sống đời đời”.■

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 111 (Tháng 3 & 4 năm 2019) 


[1] Lc 10, 25-28; xem Mt 22, 34-40; Mc 12, 28-31.

[2] Mt 22, 34-40

[3] Xem Lc 10, 29-37.

[4] Trích Phát biểu tại hội nghị triển khai nhiệm vụ năm 2019 của Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam chia sẻ trăn trở khi đạo đức xã hội đang có biểu hiện xuống cấp. Ông cho rằng vấn đề này là trách nhiệm của nhiều cơ quan, trong đó có cá nhân ông và Bộ trưởng Văn hóa Nguyễn Ngọc Thiện, bởi Bộ này từ xưa vốn được coi là Bộ Lễ. VnExpress có cuộc trao đổi vớiPGS Bùi Hoài Sơn, Viện trưởng Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam, đại biểu tham dự hội nghị và đã có phát biểu về vấn đề nêu trên.