Thầy thuốc đồng hành với các gia đình gặp khó khăn

20/03/2020

MỤC VỤ GIA ĐÌNH

THẦY THUỐC ĐỒNG HÀNH VỚI CÁC GIA ĐÌNH GẶP KHÓ KHĂN

BS Trần Như Ý Lan

Thiện ích của gia đình là một nền tảng mang tính quyết định đối với tương lai của thế giới và Giáo hội. Nhiệm vụ lưu truyền sự sống là một nhiệm vụ trọng đại của đôi vợ chồng, một nhiệm vụ khiến họ được tham dự vào công trình tạo dựng của Đấng Tạo Hóa. Tuy nhiên, việc thi hành nhiệm vụ lưu truyền và nuôi dưỡng sự sống cũng thường đặt các đôi vợ chồng trước nhiều khó khăn; và đặc biệt những tiến bộ của xã hội hiện đại đã gây rất nhiều biến chuyển, và tạo ra nhiều vấn đề mới. Giáo hội không thể không lưu tâm đến những vấn đề này, vì đây là một lãnh vực có liên hệ mật thiết với đời sống và hạnh phúc con người (Evangelium Vitae, EV 1).

Chủ đề của bài viết: Thầy thuốc Đồng hành với các gia đình gặp khó khăn, đặc biệt quan tâm đến những gia đình gặp khó khăn là đối tượng ưu tiên của chương trình mục vụ năm Phụng Vụ 2018 - 2019 của Giáo hội Việt Nam. Bài viết hy vọng góp phần nhỏ bé đem lại sự nâng đỡ cho những ai đang dấn thân trong phục vụ sự sống, dấn thân trong đời sống hôn nhân gia đình sống trung thành với giá trị Tin mừng, những người đang sống trong do dự âu lo và đang thao thức tìm chân lý, cách riêng trong lãnh vực bảo vệ sự sống.

1. SỨ MẠNG CỦA GIỚI Y TẾ [1]

a. Giáo hội luôn tìm cách thể hiện quan tâm của Đấng Cứu Độ đối với người bệnh. Các trình thuật Tin Mừng về sứ vụ của Chúa Giêsu chú trọng đến việc chữa lành của Chúa: người phong hủi được sạch (Mt 8, 1-4; Mc 1, 40-42); người mù thấy được (Mt 20, 29-34; Mc 10, 46-52); người câm nói được (Lc 11, 14); Chúa chữa lành người phụ nữ băng huyết (Mt 9, 20-22; Mc 5, 25-34); và Người làm cho một bé gái sống lại (Mt 9, 18. 23-25; Mc 5, 35-42). Sứ vụ Chúa Giêsu ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia: “Người đã mang lấy các tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8, 17; x. Is 53, 4).

b. Sứ mạng chữa lành của Chúa Giêsu đi xa hơn việc chữa lành bệnh tật thể lý. Người chạm đến con người ở phần hiện hữu sâu xa nhất của họ; Người tìm cách chữa lành họ về phần xác, tinh thần và thiêng liêng (Ga 6, 35; 11, 25-27).

c. Mầu nhiệm Chúa Kitô chiếu sáng trên mọi khía cạnh của sứ vụ chăm sóc sức khỏe Công giáo: xem tình yêu là nguyên tắc sống động; xem việc chữa lành và lòng thương cảm là việc nối dài sứ mạng của Chúa Kitô; xem đau khổ như sự tham gia vào sức mạnh cứu độ của cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa; và xem sự chết, được biến đổi nhờ sự phục sinh, như cơ hội cho hành vi cuối cùng hiệp thông với Chúa Kitô.

d. Trong thời đại có nhiều khám phá mới về y học, với nhiều tiến bộ nhanh chóng về kỹ thuật, cùng với nhiều thay đổi nơi xã hội, mọi cái mới đều có thể hoặc là cơ hội cho một sự thăng tiến đích thực văn hóa con người hoặc có thể dẫn tới các chính sách và hành động đi ngược lại với phẩm giá đích thực và ơn gọi của con người.

e. Các chuyên viên y tế Công giáo cần xem xét những sự phát triển này, đánh giá chúng theo các nguyên tắc của lý trí đúng đắn và tiêu chuẩn tối cao của chân lý mạc khải, và tuân theo các chỉ dẫn và giáo huấn có thẩm quyền về trách nhiệm luân lý và mục vụ mà đức tin Công giáo đòi buộc. Trước hết, sứ vụ chăm sóc sức khỏe bắt nguồn từ một sự dấn thân nhằm thăng tiến và bảo vệ phẩm giá con người; đây là nền tảng cho việc tôn trọng tính thánh thiêng của sự sống con người từ lúc thụ thai cho tới khi chết. Giáo hội có sự trân trọng sâu xa nhất dành cho gia đình, cho giao ước hôn nhân, và cho tình yêu nối kết vợ chồng. Điều này bao hàm việc tôn trọng hành vi hôn nhân mà qua đó vợ chồng diễn tả tình yêu và cộng tác với Thiên Chúa trong việc tạo ra một con người mới. Công đồng Vatican II xác nhận:

f. Tình yêu [vợ chồng] này là tình yêu cao cả của con người... Nó bao gồm điều tốt đẹp của cả con người. Những hành vi trong hôn nhân nhờ đó vợ chồng được kết hợp cách thân mật và khiết tịnh đều là những hành vi đáng quý và cao cả. Được diễn tả theo một cung cách con người thực sự, những hành vi này chỉ rõ và thăng tiến việc hiến thân cho nhau qua đó vợ chồng làm phong phú lẫn nhau với lòng vui tươi và tạ ơn.[2]

g. Hôn nhân và tình yêu đôi lứa tự bản chất hướng đến việc truyền sinh và giáo dục con cái. Con cái thực sự là món quà cao quý nhất của hôn nhân và góp phần chính yếu vào hạnh phúc của cha mẹ. Cha mẹ phải xem việc trao ban sự sống và giáo dục con cái là sứ mạng của mình. Qua đó họ cộng tác với tình yêu Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, và có thể nói, họ là người diễn tả tình yêu đó (GS 50)

h. Cuộc sống hôn nhân ngày nay gặp nhiều thách đố trên các phương diện cuộc sống. Bài viết tập trung vài vấn nạn khó khăn của gia đình trong việc lưu truyền và bảo vệ sự sống: ngừa thai nhân tạo, phá thai, chẩn đoán tiền sản và phá thai chọn lọc, thụ thai nhân tạo, ghép tạng, chăm sóc người bệnh nặng, ý nghĩa đau khổ và cái chết. Tuy nhiên, các đề tài ngừa thai nhân tạo, phá thai, chẩn đoán tiền sản và phá thai chọn lọc, thụ thai nhân tạo, đã được đề cập đến trong các bài viết trước đây của cùng tác giả.[3] Bài viết chỉ nhấn mạnh thêm vài điều về các đề tài này.

i. Có lẽ hữu ích, trước khi đi vào vấn đề cụ thể, bài viết giới thiệu khái quát vài điểm chính trong phương pháp mục vụ hôn nhân gia đình (x. AL 199) của Đức thánh cha Phanxicô trong tông huấn Amoris Laetitia (AL).

2. PHƯƠNG PHÁP MỤC VỤ HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Những hoàn cảnh giảm nhẹ

Đức thánh cha Phanxicô nhắc lại vài nguyên tắc luân lý nền tảng, về mức độ quy trách của một hành vi. Một người có thể làm một hành vi trái nghịch với luật Chúa, luật Giáo hội: theo khía cạnh khách quan, người ấy đã phạm tội; nhưng theo khía cạnh chủ quan, có thể xem xét những giảm trừ trách nhiệm, chẳng hạn như: vì thiếu ý thức, thiếu hiểu biết, cưỡng bách, sợ hãi, tập quán, đam mê (x. GLHTCG 1735; 2352). Đồng thời, sau khi xem xét hoàn cảnh giảm khinh, sự phân định mục vụ cần giúp cho người giáo dân biết vượt qua các giới hạn, để đạt đến sự trưởng thành[4] (x.AL 301-303).

Các quy luật và sự phân định

Đức thánh cha Phanxicô trích dẫn thánh Tôma để nhắc nhở rằng, trong lãnh vực luân lý, ở cấp độ tổng quát thì các nguyên tắc rõ ràng và chắc chắn; nhưng đi vào hoàn cảnh cụ thể, thì cần thận trọng, tránh cứng nhắc (x. Summa Theologiae I-II, q. 94, art. 4). Như thế, người mục tử cần hướng dẫn để người tín hữu biết cách cởi mở cho tác động của Chúa Thánh Thần, Đấng dẫn đưa mỗi người theo một con đường riêng. Trên hết các luật lệ, là đức mến, có khả năng thanh luyện mọi tội lỗi (x. AL 304-306).

Luận lý của lòng thương xót

Giáo hội cần trình bày Tin mừng với tất cả những đòi hỏi trọn hảo của nó; đồng thời, cũng phải rao giảng lòng thương xót của Thiên Chúa. Mục tử phải trở nên những tông đồ của lòng thương xót: chậm lên án, giàu tình thương, nghiêm khắc với tội nhưng xót thương con người tội lỗi (x. AL 307-312), có khả năng thức tỉnh “lòng tín thác nơi ơn thánh” (x. AL 36).

Vai trò của lương tâm

Đức thánh cha Phanxicô nhắc nhở các vị mục tử cần tạo điều kiện cho lương tâm thực hành đúng vai trò của nó: “Lương tâm cá nhân cần phải được hợp nhất với thực hành của Giáo hội trong những hoàn cảnh vốn vượt khỏi sự hiểu biết của chúng ta về hôn nhân một cách khách quan” (AL 303). Ngài nhắc rằng Giáo hội được “kêu gọi huấn luyện lương tâm, chứ không phải thay thế lương tâm” (AL 37). Đức thánh cha khẳng định Huấn quyền là một nguồn mạch chủ yếu để huấn luyện lương tâm. Nhưng lương tâm không chỉ đánh giá điều gì là đúng hay sai đối với giáo huấn của Giáo hội. Lương tâm còn giúp cá nhân có thể phân định điều Thiên Chúa đòi hỏi “lúc này, trong hoàn cảnh này”, nhờ “một sự chắc chắn nào đó về luân lý” (x. AL 303). Vì thế, các mục tử cần giúp đỡ các tín hữu không chỉ vâng phục lề luật, mà còn biết phân định, cầu nguyện trước khi quyết định (x. AL 304).

Đức thánh cha Phanxicô nhấn mạnh: Điều áp dụng được ở nơi này có thể không áp dụng được ở nơi khác. Ngài không chỉ nói về các cá nhân, nhưng còn về mặt địa lý nữa. “Mỗi quốc gia hoặc khu vực ... có thể tìm kiếm các giải pháp phù hợp hơn với nền văn hóa của mình và nhạy cảm với những truyền thống của mình và nhu cầu của địa phương mình” (AL 3). Vì lý do này và nhiều lý do khác, Ngài lưu ý các mục tử, rằng không phải mọi vấn đề đều có thể được giải quyết bởi huấn quyền (x.AL3)[5]. Đức thánh cha cũng nhắc đến Luật tiệm tiến.

Luật tiệm tiến

Đó là luật quan tâm đến những giới hạn của con người: là những con người sống trong lịch sử, yếu đuối và ảnh hưởng bởi tội lỗi, cùng lúc phải chu toàn nhiều trách nhiệm! Điều đó có nghĩa rằng ta không thể đòi hỏi người tín hữu áp dụng tất cả luật luân lý, hoàn toàn và ngay lập tức, nhưng cần phải kiên nhẫn giúp họ tiến tới trên con đường tăng trưởng, từng bước trong thời gian.[6] Luật này nhìn nhận rằng sự hoán cải đòi hỏi thời gian. Đứng trước một quy luật chưa thể áp dụng ngay được trong lúc này, hoàn cảnh này, con người này, vì có một số giá trị khác cũng bị đe dọa, thì nhiều khi người ta có thể chấp nhận một thời hạn nào đó với một số điều kiện.[7]

Chú ý Luật tiệm tiến đòi hỏi hối nhân: 1/ nhìn nhận quy luật và chấp nhận như luật dạy; 2/ chân thành cố gắng thiết lập những điều kiện để tuân giữ luật.

3. NGỪA THAI NHÂN TẠO

Câu trả lời thẳng thắn dứt khoát KHÔNG của Thánh giáo hoàng Phaolô VI trong thông điệp Humanae Vitae đối với phương pháp ngừa thai nhân tạo (x. HV 14) dường như quá quyết liệt đối với một số người. Huấn quyền hiện nay vẫn giữ lập trường xem ngừa thai nhân tạo là hành vi xấu tự nội tại, không ngoại lệ (Giáo lý Giáo Hội Công Giáo, GLGHCG 2370).

Ở đây, bài viết không bàn về nền tảng của giáo huấn này, nhưng phải nhìn nhận rằng các lý lẽ Huấn quyền từ chối việc ngừa thai nhân tạo là có giá trị sâu xa. Ngoài ra, phương pháp tự nhiên có lợi ích lớn lao về cả luân lý và y khoa. Về mặt y khoa, phương pháp tự nhiên giúp sử dụng một cách thông minh thực tại sinh lý của phụ nữ, nhận biết và tôn trọng thực tại ấy, nghĩa là theo các nhịp độ của người nữ. Phương thức tự nhiên lành mạnh, không tai biến, không hiệu quả phụ, không tốn kém, không cần có sự kiểm soát của bác sĩ, có thể dùng để ngăn ngừa có thai hay thúc đẩy sự thụ thai. Người phụ nữ cần có sự hiểu biết rõ ràng cơ thể của chính mình, có thể phát hiện dấu hiệu lạ của bệnh lý và nhờ đó điều trị sớm.[8]Về mặt luân lý, đây là một sự chọn lựa do đôi vợ chồng cùng nhau quyết định, chia sẻ trách nhiệm, đối thoại với nhau và cùng tăng trưởng. Việc thực hành thúc đẩy nơi vợ chồng sự tìm hiểu sâu sắc và chăm sóc yêu thương lẫn nhau. Người chồng để ý quân bình tâm sinh lý người vợ, hiểu biết vợ mình hơn. Hơn nữa, vợ chồng luyện tập và đạt được nhân đức tự chủ, kiểm soát ước muốn chính mình. Sự tự chủ này mang lại cho gia đình hoa trái của sự yên ổn và bình an. Vợ chồng rèn luyện nhân đức, và ảnh hưởng con cái trong việc rèn luyện, giáo dục, sử dụng sức mạnh thể lý và tinh thần một cách hòa hợp và thanh thản.

Về mặt luân lý, các lời cảnh báo của Thánh giáo hoàng Phaolô VI về hậu quả tác hại nghiêm trọng nếu giáo huấn này bị chối bỏ (x. HV 17) nay tất cả thành hiện thực: cùng với sử dụng tự do các biện pháp ngừa thai nhân tạo, con người cũng dễ dãi, tự do quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, tiền hôn nhân; tầm thường hóa tình dục, thân xác phụ nữ bị xem như món đồ giải trí, có thể thương mại; con số phá thai, ly dị ngày càng cao; tuổi bắt đầu quan hệ tình dục ngày càng sớm hơn.. .Về mặt y khoa, tỉ lệ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục gia tăng, biến chứng của các loại thuốc ngừa thai nhân tạo vẫn được báo chí đề cập đến như rối loạn đông máu, tắc nghẽn mạch do huyết khối, thậm chí ung thư. Cách riêng các phương pháp triệt sản trên nguyên tắc là gây vô sinh vĩnh viễn. Thực tế, theo kinh nghiệm người viết, vài trường hợp vợ chồng sau khi có một con, đặt vòng vài năm, sau đó lấy vòng ra để có thể có con lần hai thì bị vô sinh thứ phát do hậu quả của vòng làm viêm nội mạc tử cung mãn tính, không thích hợp cho việc thụ thai. Có vợ chồng triệt sản sau khi có hai con, sau đó hai con bị chết, vợ chồng muốn có con thêm thì vô vọng.

Về phương diện mục vụ, vấn đề ngừa thai nhân tạo hiện nay nhiều khi thật lưỡng nan, thế nên đối với một số thần học gia luân lý, linh mục, và cả giám mục ở vài nước, câu khuyên trong một số trường hợp thường là: “Đây là trường hợp lương tâm cho đương sự”. Phương pháp mục vụ của Đức thánh cha Phanxicô cũng nhấn mạnh vai trò của lương tâm. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng việc áp dụng “tiếng nói lương tâm” nhiều lần đã bị lạm dụng, do con người vốn yếu đuối sau sa ngã tội nguyên tổ, thích đi trên đường rộng thênh thang (nhưng dẫn đến sự chết!) hơn là đi trên đường hẹp (lại dẫn đến sự sống đời đời).

4. PHÁ THAI

Pháp luật Việt Nam cho phép nạo phá thai trước 24 tuần tuổi.[9] Thực tế, có các ca phá thai trễ hơn 7 tháng. Trong thực hành y khoa, các trường hợp mang thai mà sự sống thai phụ bị đe dọa do sự tăng trưởng của thai thì chỉ định thường là “chấm dứt thai kỳ vì lý do y khoa”. Khoảng vài thập niên trước, “chấm dứt thai kỳ” ở đây phần lớn có nghĩa là phá thai để cứu mẹ (hay còn gọi là “phá thai trị liệu”). Nhờ tiến bộ y khoa, ngày nay các chỉ định chấm dứt thai kỳ do sự sống người mẹ bị đe dọa có hạn chế hơn, và nhiều trường hợp “chấm dứt thai kỳ” chỉ có nghĩa là chủ động cho thai nhi chào đời sớm hơn để mong cứu an toàn cả mẹ và con.[10] Thực tế, khi có nguy cơ không cứu được cả mẹ lẫn con, các bác sĩ thường chọn phá thai để cứu mẹ.

Cần nhắc lại rằng tất cả phá thai dù bất cứ lý do gì, đều không hợp luân lý Công giáo. Tuy nhiên, các phẫu thuật, cách chữa trị và thuốc men vốn có mục đích trực tiếp chữa trị một bệnh trầm trọng tương xứng nơi thai phụ đều được phép dùng ngay cả khi dự đoán trước chúng sẽ gây ra cái chết cho thai nhi, nếu xét thấy cách cách chữa trị ấy không thể trì hoãn cho đến khi thai nhi có thể tự sống (áp dụng nguyên tắc song hiệu trong thần học luân lý). Ở đây cái chết của thai nhi là hậu quả phụ không mong muốn của tiến trình điều trị bệnh cho người mẹ, chứ không phải là phá thai. Ví dụ: thai phụ, cùng lúc phát hiện ung thư vú, điều trị ung thư vú này, thuốc điều trị ung thư có thể gây hư thai, thai chết. Hoặc phụ nữ bị ung thư tử cung, cùng lúc có thai, thầy thuốc phải cắt tử cung để điều trị ung thư, thai nhi như là một sự ngẫu nhiên nằm trong tử cung, và bị chết, chứ thầy thuốc hay người mẹ không nhắm làm chết đứa bé.

Biện pháp đúng đắn, hợp luân lý Công giáo trong trường hợp sức khỏe thai phụ bị nguy hiểm do mang thai là nhập viện theo dõi sát sức khỏe thai và mẹ; phải cố gắng dùng mọi tiến bộ y khoa để điều trị bệnh cho mẹ, cố gắng duy trì thai đến tháng thứ bảy, thứ tám, cứu sống cả mẹ lẫn con. Ngày nay với tiến bộ y khoa, có thể cứu sống thai sinh non nặng 500gr, 600gr.

5. CHẨN ĐOÁN TIỀN SẢN VÀ PHÁ THAI CHỌN LỌC

Giáo Hội ủng hộ các tiến bộ y khoa phục vụ sự sống. Tuy nhiên nhiều lần, các tiến bộ y sinh học thay vì phục vụ sự sống, lại quay ra hủy hoại sự sống, nhân danh vì một cuộc sống “hạnh phúc” hơn! Vì thế, Huấn Quyền thận trọng đối với vấn đề khám tiền sản: “Chẩn đoán tiền sản, vốn không trái luân lý nếu được thực hiện để xác định trị liệu y khoa có thể cần thiết cho thai nhi, rất thường trở thành cơ hội để đề nghị và gây ra phá thai. Đây là phá thai ưu sinh, được biện minh trong công luận dựa trên não trạng- nhận thức một cách sai lầm rằng đó là phù hợp với đòi hỏi của ‘các can thiệp chữa trị'- chỉ chấp nhận sự sống dưới một số điều kiện nhất định và chối bỏ sự sống khi bị khiếm khuyết, tật nguyền, hay bệnh tật nào đó.” (EV 14)

Một trường hợp tiêu biểu cho thấy, nhiều người “khuyết tật thể lý” lại dạy cho những người “hoàn mỹ thể lý” các bài học tinh thần, thiêng liêng về mầu nhiệm sự sống mà chúng ta không thể tìm thấy trong thế giới của những con người “hoàn mỹ thể lý”. Anh Nick Vujicic sinh ngày 4/12/1982 tại Melbourne, Australia, không có cả hai tay, hai chân cũng gần như không có, nhỏ xíu. Lúc đầu bố mẹ đau buồn tột độ, tự hỏi tại sao điều đó lại xảy ra với gia đình họ. Sau đó bố mẹ của Nick yêu thương hết mực và giúp con vượt qua tuổi thơ khó khăn. Nick nhiều lần tự hỏi về mục đích sống, ý nghĩa cuộc đời tật nguyền của mình. Thoạt đầu, Vujicic rất chăm chỉ cầu nguyện Chúa sẽ ban cho anh đôi chân và đôi tay. Anh nói với Chúa rằng, nếu lời cầu nguyện của anh không được hồi đáp, anh sẽ không bao giờ cầu nguyện nữa. Tuy nhiên, khi đọc bài báo viết về một người đàn ông bị khuyết tật giống anh đã vượt khó như thế nào, Vujicic nhận ra rằng anh không phải người duy nhất thiệt thòi như vậy, nên bắt đầu học tự làm mọi thứ. Năm 17 tuổi, anh thành lập tổ chức phi lợi nhuận của riêng mình, Life without Limits. Vujicic có những buổi nói chuyện khích lệ với toàn thế giới về một cuộc sống của một con người khuyết tật có hy vọng và tìm được ý nghĩa cho cuộc sống mình. Nick đã nói chuyện với hơn 3 triệu người tại hơn 24 quốc gia, 5 châu lục. Năm 2005, Nick Vujicic được đề cử giải thưởng “Thanh niên của năm” của Úc. Và sau nhiều nỗ lực, Nick Vujicic đã tìm thấy hạnh phúc thực sự khi kết hôn với người vợ xinh đẹp Kanae Miyahara.[11]

Điều cần lưu tâm là các đôi vợ chồng phải nuôi con khuyết tật cần lắm thay sự nâng đỡ, trợ giúp cả tinh thần lẫn vật chất của người thân, hàng xóm, giáo xứ, xã hội... để có thể gánh vác và chu toàn trách nhiệm đầy thách đố này.

6. THỤ THAI NHÂN TẠO

Các kỹ thuật của thụ thai nhân tạo, mục đích đầu tiên là phục vụ sự sống và thường được thực hành với ý hướng này, thực tế mở ra các tấn công mới đối với sự sống con người. Về nền tảng, thụ thai nhân tạo không thể chấp nhận được về mặt luân lý, vì nó tách rời việc truyền sinh khỏi bối cảnh hoàn toàn nhân linh của hành vi vợ chồng- bối cảnh duy nhất xứng hợp để một nhân vị ra đời. Ngoài ra, các kỹ thuật này còn gây ra nhiều vấn nạn luân lý. Chẳng hạn, do tỉ lệ thất bại cao, thất bại cả trong việc thụ tinh và còn nguy cơ chết trong sự phát triển tiếp sau đó của phôi, và để giảm giá thành, các nhà chuyên môn thường tạo ra số phôi nhiều hơn nhu cầu cho việc cấy vào tử cung người phụ nữ. Các phôi này, gọi là “phôi dư”, sau đó bị phá hủy hoặc dự trữ đông lạnh để dùng trong nghiên cứu, với danh nghĩa vì sự tiến bộ khoa học, thực chất hạ thấp sự sống con người xuống cấp độ chỉ là một ‘chất liệu sinh học' có thể tùy nghi sử dụng (x. EV 14). Hơn nữa, trước khi cấy vào tử cung, các phôi sẽ được phân loại di truyền tốt xấu, phôi tốt được giữ lại, phôi xấu bị loại bỏ. Sau hết, đa thai là một hậu quả khác của thụ thai nhân tạo, và để bảo đảm thai phát triển tốt, nhiều khi bác sĩ sẽ thực hiện phá thai chọn lọc, giữ lại thai mạnh khỏe và bỏ thai yếu hay khuyết tật. Cả thầy thuốc và cha mẹ thực hành chủ thuyết ưu sinh, vốn đi ngược lại phẩm giá con người.

Vì phẩm giá của đứa trẻ và hôn nhân, và vì tính độc đáo của mối tình mẹ-con, việc tham gia vào các thỏa thuận để kiếm người mang thai giúp đều không hợp luân lý. Hơn nữa, việc thương mại hóa việc đẻ mướn như thế sẽ phá hủy phẩm giá phụ nữ, cách riêng là người nghèo.[12]

Là người Kitô hữu, “mọi người đều phải ý thức rằng sự sống con người và nhiệm vụ lưu truyền sự sống không chỉ bị giới hạn ở đời này, việc đánh giá chân thật và ý nghĩa đầy đủ của chúng chỉ có thể hiểu được khi quy chiếu về vận mệnh vĩnh cửu của con người” (GLGHCG 2371). Do đó, tuy đồng cảm với nỗi đau khổ của các cặp vợ chồng hiếm muộn, Huấn quyền kêu gọi các cặp vợ chồng đó, sau khi đã điều trị hiếm muộn bằng các biện pháp chính đáng mà không thành công, thì hãy chấp nhận “phận người” với những giới hạn không thể vượt qua, cố gắng vượt qua nỗi đau riêng, mở lòng đối với các trẻ mồ côi bơ vơ, đón nhận chúng vào mái ấm tình thương của gia đình mình, cho các em cơ hội thăng tiến. Đó cũng là sống tình liên đới.

7. GHÉP TẠNG

27 năm trước, các bác sĩ Việt Nam với sự hỗ trợ của chuyên gia Đài Loan đã thực hiện ca ghép thận đầu tiên ở Việt Nam. Việt Nam đã đi chậm hơn thế giới trong kỹ thuật ghép tạng 20 năm, nhưng các ca ghép đầu tiên này đã mở ra cơ hội sống cho hàng ngàn người bệnh.[13]

Trong mười năm triển khai ghép tạng từ 2004 đến 2014, tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 đã ghép thận cho 12 bệnh nhi và ghép gan cho 8 bệnh nhi. Tỉ lệ sống sau 18 tháng ở các ca ghép gan là 75% và 100% ở các ca ghép thận. Ghép tạng đang gặp hai vấn đề khó khăn đó là chi phí cho các ca ghép tạng cao và khó tìm ra nguồn cung ghép tạng.[14]

Mới đây, ngày 15/3/2019, Bệnh viện Việt Đức công bố hai ca ghép gan đầu tiên tại Việt Nam từ gan hiến tặng của một người hiến đã chết não. Ngoài gan ghép cho hai người bệnh, người hiến tạng còn hiến thận, tim và tất cả các ca ghép đều thực hiện hôm 9/3/2019[15].

Bác sĩ Dư Thị Ngọc Thu, trưởng đơn vị điều phối ghép tạng Bệnh viện Chợ Rẫy (BVCR), Thành phố Hồ chí Minh, cho biết từ năm 2015 tới thời điểm 2018 đã có hơn 5.000 người đến đơn vị điều phối ghép tạng của BVCR để đăng ký hiến tạng, trong đó có 30 y bác sĩ của BVCR. Có hơn 100 gia đình mà tất cả thành viên đều tham gia hiến tạng.[16]

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tuyên dương hành động tự nguyện hiến tặng cơ phận là một hành vi mang tính cao quý, thể hiện một tình yêu tha nhân đích thật, đó không phải cho đi điều gì thuộc về chúng ta, nhưng là cho đi cái gì là chính chúng ta. Ngài dạy rằng điều kiện tiên quyết để việc này mang tính luân lý là không được thương mại hóa. Ngoài ra, ngài cũng nêu một số điều kiện kèm theo như: người cho phải tự nguyện, được thông tin đầy đủ các hệ lụy liên quan đến việc lấy cơ phận; những cơ phận sinh tồn duy nhất (như tim, giác mạc) trong cơ thể chỉ được lấy đi sau khi người cho được xác định chắc chắn chết bởi các nhà chuyên môn... 3

GLHTCG s. 2296 “Việc ghép các bộ phận cơ thể phù hợp với luật luân lý nếu các nguy hiểm và rủi ro về thể xác và tâm lý nơi người cho, cân xứng với lợi ích của người nhận. Hiến các bộ phận sau khi chết là điều cao quý đáng khen thưởng, và phải được khuyến khích như một biểu lộ tình liên đới quảng đại. Về phương diện luân lý, không thể chấp nhận lấy bộ phận nếu người cho, hoặc những thân nhân có quyền, không minh thị đồng ý. Cũng vậy, về phương diện luân lý, không thể chấp nhận việc trực tiếp gây tàn phế hoặc cái chết cho một người, dù nhằm mục đích kéo dài đời sống của những người khác”.

Đức Bênêđictô XVI lúc còn làm Hồng Y đã tình nguyện hiến tặng các cơ phận sau khi chết, Ngài có mang thẻ ghi rõ ước muốn sẵn sàng này. Khi Ngài vừa được bầu làm Đấng kế vị Thánh Phêrô, Tòa Thánh công bố ước muốn này bị vô hiệu hóa. Đức Tổng Giám Mục Zygmunt Zimowski, chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Mục Vụ Y Tế, giải thích việc một giáo hoàng không thể hiến tặng các cơ phận vì “cơ thể của ngài trực thuộc toàn thể Giáo Hội”. Theo truyền thống của Giáo Hội thì “một thi hài của giáo hoàng phải được chôn cất nguyên vẹn... sẽ có một sự kính thờ trong tương lai”. Tuy nhiên, Đức Zygmunt khẳng định: “Điều này không loại trừ sự chính đáng của việc dâng hiến cơ phận của một con người”.[17]

May thay, luật pháp Việt Nam về việc cấy ghép nội tạng nói chung phù hợp với luân lý Công Giáo. Luật số 75/2006/QH11 của Quốc hội Việt Nam, điều 4 quy định “Các nguyên tắc trong việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác: 1. Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép. 2. Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học. 3. Không nhằm mục đích thương mại. 4. Giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.” Điều 5 quy định: “ Quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác người từ đủ mười tám tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể của mình khi còn sống, sau khi chết và hiến xác.”[18] Luật Việt Nam quy định người hiến tạng phải trên mười tám tuổi, tuy nhiên cả luân lý Công Giáo và luật Việt Nam đều cho phép hiến tạng trẻ em sau khi chết nếu có sự đồng thuận của bố mẹ.

Một mặt trái khủng khiếp của việc ghép tạng hiện nay là có nhiều đường dây mua bán nội tạng của người nghèo tại nhiều nước trên thế giới và cả Việt Nam.

8. ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN NẶNG

Ngày 22/4/2014 tiến sĩ Nguyễn Huy Quang, Vụ trưởng Pháp chế (Bộ Y tế) đề xuất quyền được chết của bệnh nhân, ông phát biểu: “Người bệnh nặng, y học bó tay, gia đình kiệt quệ, mong được chết một cách êm dịu cũng rất nên chấp thuận cho họ”.[19] Cho đến nay, pháp luật và y khoa Việt Nam không cho phép làm chết êm dịu hay trợ tử.

Bộ Giáo Lý Đức Tin nhận định: “Sự tiến bộ y khoa trong vài thập niên trở lại đây đã đem lại các khía cạnh mới của vấn đề làm chết êm dịu, và các khía cạnh mới này cần được làm sáng tỏ hơn về mặt đạo đức. Trong xã hội hiện đại, ngay cả các giá trị nền tảng của đời sống con người cũng thường bị đặt lại vấn đề, sự thay đổi văn hóa ảnh hưởng lên cách nhìn về đau khổ và sự chết; hơn nữa, y khoa đã gia tăng khả năng chữa lành và kéo dài sự sống trong các hoàn cảnh đặc biệt, điều này làm nảy sinh các vấn nạn luân lý. Vì vậy con người sống trong tình cảnh này cảm nghiệm không ít lo lắng về ý nghĩa của tuổi già và sự chết. Họ cũng bắt đầu tự hỏi rằng họ có hay không, quyền cho chính họ hay cho đồng loại, tìm đến “cái chết êm dịu” hầu rút ngắn đau khổ và, dường như đối với họ, hòa hợp hơn với phẩm giá con người.”[20]

Cần nắm rõ vài khái niệm sau rồi mới có thể phân định đúng sai.

a. Làm Chết Êm Dịu

Theo Tuyên Ngôn về Làm Chết Êm Dịu, Bộ Giáo Lý Đức Tin định nghĩa: “Làm Chết Êm Dịu được hiểu là một hành động hay một sự bỏ qua để do tự điều này và bởi ý định gây ra cái chết của bệnh nhân, nhằm mọi đau khổ được chấm dứt.”

- Làm Chết Êm Dịu chủ động (active euthanasia): hành động của một người gây ra (thường là bác sĩ, y tá hay người nhà bệnh nhân) chủ ý chấm dứt sớm tính mạng của người khác (thường là bệnh nhân). Thí dụ bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, bác sĩ cố tình tiêm morphine liều cao, ẩn dưới lý do giúp giảm đau, nhưng chính là nhắm đến gây suy hô hấp và bệnh nhân chết do morphine quá liều.

- Làm Chết Êm Dịu thụ động (passtive euthanasia): thường là bác sĩ hay y tá, bỏ qua hành vi cần thiết để cứu sống hoặc rút bỏ các phương tiện điều trị y khoa cứu sống bệnh nhân chủ ý chấm dứt sớm tính mạng bệnh nhân. Thí dụ bệnh nhân già bị tai biến mạch máu não mức độ trung bình phải nhập viện. Tổn thương não còn hy vọng phục hồi, nhưng trong quá trình nằm viện, bệnh nhân bị bội nhiễm viêm phổi cấp. Viêm phổi này có thể điều trị khỏi bằng kháng sinh mạnh phù hợp, nhưng bác sĩ và gia đình cùng đồng ý không dùng kháng sinh cần thiết điều trị để cái chết đến sớm. Cuối cùng bệnh nhân chết vì viêm phổi nặng.

Mọi trường hợp làm chết êm dịu chủ động hay thụ động đều không hợp luân lý.

Lời yêu cầu được chết êm dịu của bệnh nhân trong cuộc chạm trán với đau khổ và sự chết, đặc biệt trước cám dỗ buông xuôi trong vô vọng hoàn toàn, thì trước hết phải hiểu là “lời nài xin sự đồng hành, tình thông cảm và sự nâng đỡ trong cơn thử thách. Đó là lời nài xin trợ giúp để tiếp tục hy vọng khi mọi hy vọng loài người đều sụp đổ” (EV 67).

b. Phương thức điều trị cân xứng (proportionate) hay thông thường (ordinary means)

Là những phương thức điều trị theo phán đoán của bệnh nhân, với một lương tâm chân thật tự do và có đủ thông tin chính xác từ thầy thuốc, mang lại hy vọng về lợi ích tương xứng và không kéo theo quá nhiều gánh nặng thể lý hoặc chi phí quá lớn cho bệnh nhân, gia đình và cộng đồng. Mỗi người buộc phải dùng phương tiện thông thường để bảo vệ sức khỏe của mình.[21]

c. Phương thức điều trị không cân xứng (disproportionate) hay ngoại thường (extra-ordinary means)

Là những phương thức chữa trị mà bệnh nhân, với một lương tâm chân thật tự do và có đủ thông tin chính xác từ thầy thuốc, thấy rằng có quá nhiều nguy cơ, hoặc gây ra tác dụng phụ không mong muốn và gánh nặng thể lý hoặc chi phí quá tốn kém cho bệnh nhân, gia đình và cộng đoàn, trong khi không hy vọng về lợi ích cân xứng mang lại cho bệnh nhân. Về mặt luân lý, bệnh nhân có quyền từ chối phương thức điều trị không cân xứng.[22]

d. Để cho chết (allowing to die/ letting die):

Là ngưng các phương tiện điều trị đang được áp dụng hoặc không bắt đầu các phương tiện điều trị không hiệu quả, không đáp ứng mong đợi hồi phục và do đó để cái chết đến tự nhiên như quá trình kết thúc tất yếu của căn bệnh nghiêm trọng. Trường hợp này không sai trái luân lý. Thí dụ như bệnh nhân phát hiện bị ung thư phổi giai đoạn cuối, di căn xương, di căn não. Bác sĩ thông tin việc điều trị hóa trị, xạ trị, tốn kém nhiều nhưng kết quả dự đoán không khả quan bao nhiêu, và hậu quả phụ của hóa trị, xạ trị sẽ làm bệnh nhân thêm gánh nặng thể lý. Bệnh nhân lại nghèo, nên từ chối việc điều trị và cuối cùng bệnh nhân chết do chính căn bệnh ung thư di căn.

e. “Bám riết điều trị”

Các can thiệp y khoa không còn tương hợp với tình trạng thực tế của bệnh nhân, bởi vì nay chúng không cân xứng với bất cứ kết quả nào mà người ta có thể chờ mong,và chúng áp đặt gánh nặng quá mức trên bệnh nhân và gia đình, mà gia đình bệnh nhân vẫn cương quyết tiếp tục điều trị (EV 65)

Về việc rút ống thở: cần xét hoàn cảnh mới có thể phân định tính luân lý.

Thí dụ 1: bệnh nhân trẻ khỏe ngộ độc cá nóc, bị suy hô hấp cấp phải đặt ống thở và thở máy. Thông thường việc điều trị này sẽ có hiệu quả, khi chất độc của cá nóc được cơ thể thải ra hết thì bệnh nhân có thể được hồi phục. Việc đặt máy thở trong trường hợp này thuộc về phương tiện điều trị cân xứng, hay thông thường, buộc phải tiếp tục. Vậy rút ống thở trong trường hợp này là sai luân lý, có tội.

Thí dụ 2: bệnh nhân cao huyết áp, bị xuất huyết não cấp, suy hô hấp, cần đặt ống thở và thở máy, nhưng bác sĩ đánh giá có thể hồi phục trong thời gian ngắn vài tháng, số tiền điều trị nằm trong khả năng của gia đình. Trường hợp này cũng thuộc phương tiện điều trị thông thường, buộc phải giữ ống thở, nếu rút là sai luân lý.

Thí dụ 3: bệnh nhân cao huyết áp, bị xuất huyết não cấp, suy hô hấp, cần đặt ống thở và thở máy, và bác sĩ đánh giá xuất huyết não quá nhiều, không thể phẫu thuật (nghĩa là dù có phẫu thuật cũng vô ích), không thể hồi phục , điều trị chỉ là kéo dài ngày sống, số tiền điều trị mỗi ngày là 7 triệu đồng. Nếu gia đình khá giả, có thể đảm nhận tiền viện phí lâu dài, thì gia đình vẫn có thể tiếp tục điều trị để được thêm cơ hội gần gũi với người bệnh thân yêu. Việc này hợp luân lý. Nhưng nếu gia đình quá nghèo, viện phí quá khả năng chi trả của gia đình, thì đây lại là trường hợp “không cân xứng” hay “ngoại thường”, vậy gia đình có thể ngưng điều trị, rút ống thở, vẫn hợp luân lý.

9. Ý NGHĨA CỦA ĐAU KHỔ VÀ SỰ CHẾT - NGƯỜI KITÔ HỮU TRƯỚC ĐAU KHỔ GIAN NAN

Thánh Gioan Phaolô II từng nhận định môi trường văn hóa sự chết ngày nay không nhận thức được gì về giá trị hay ý nghĩa của đau khổ, xem đau khổ như là hình ảnh tiêu biểu của sự dữ phải loại bỏ với mọi giá (x. EV s. 15). Một nhãn quan Kitô giáo là cần thiết để có một hiểu biết tích cực về mầu nhiệm đau khổ và sự chết và từ đó khơi lên niềm hy vọng.

Là người, ai cũng mong muốn hạnh phúc. Bổn phận làm người phải đóng góp xây dựng thế giới tốt đẹp hạnh phúc hơn. Thế nhưng đau khổ và sự chết là hai thực tại của phận người. Điều làm nên ý nghĩa đời sống là thái độ đón nhận đau khổ của ta như thế nào. Tình yêu tột cùng trên thập giá của Chúa Giêsu thúc đẩy chúng ta sống mọi đau khổ như Ngài và trong Ngài. Chúng ta sống được điều này, nếu biết rằng mọi đau khổ của con người là một hình ảnh đau thương của Đức Giêsu. Chính trong đau khổ mà ta có được cảm nghiệm về Thiên Chúa làm người. Nếu bệnh nhân xem bệnh tật của mình như một tai ương hay như một án phạt của Thiên Chúa, ắt hẳn sẽ có một cảm nghiệm tiêu cực cả về Thiên Chúa lẫn cơn bệnh. Nhưng nếu xem nó như một cơ hội đưa ta vào một phương thế sống khác hơn và tốt hơn, thì sẽ có một hình ảnh khác về Thiên Chúa. Nếu chúng ta kết hiệp nỗi đau khổ riêng mình với đau khổ của Chúa Giêsu trên thập giá, thì đau khổ có thể đưa ta đến gần chúa Giêsu hơn. Qua đau khổ, ta cảm nghiệm được sức mạnh và tình yêu của Ngài, và chia sẻ với cuộc thương khó của Chúa, là một cách Chúa cho ta được hiệp thông trong chương trình cứu độ của Ngài.

Trong cơn sầu khổ, nhiều lúc chúng ta cảm thấy như Chúa quên lãng, bỏ rơi ta rồi? Giữa những lúc ngặt nghèo về vật chất hay tinh thần, ta khẩn xin Chúa đừng để chuyện này xảy đến cho ta. Nhưng chuyện vẫn xảy ra. Nhiều lúc ta cảm thấy thất vọng ê chề thậm chí than trách Chúa. Lời Chúa Giêsu động viên người đau khổ: “Ta chẳng lìa con, chẳng bỏ con bao giờ” (Dt 13,5). Thật ra, Thiên Chúa chẳng bao giờ muốn có sự đau khổ, mà Ngài muốn sự sống của con người: một sự sống triển nở ngay trong những đau khổ.

Chính Đức Kitô, để chiến đấu và chiến thắng những cơn cám dỗ, đã phải ăn chay suốt 40 ngày trong hoang mạc, hầu đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa và Lời quyền năng của Ngài. Cũng thế, để có một Đất Hứa chan hòa sữa và mật, dân Israen đã phải nằm gai nếm mật suốt 40 năm trường trong sa mạc.

Trong một bài giảng Thánh lễ tại nhà nguyện Santa Marta, Đức thánh cha Phanxicô nhấn mạnh rằng thái độ người Kitô hữu không phải “tìm vui trong khổ đau” khi đối mặt với gian truân, nhưng phó thác vào Chúa với niềm tin và hy vọng. Khi Thánh Phaolô chịu bách hại, ngài vẫn kiên vững trong đức tin và khuyến khích những người khác hy vọng nơi Chúa. Đức thánh cha nhấn mạnh rằng để vào Nước Thiên Chúa, con người phải “trải qua những thời kỳ đen tối, và khó khăn”. Các Kitô hữu đối diện với gian truân với lòng can đảm, chống lại ma quỷ thế gian này, là kẻ cố gắng tách chúng ta khỏi “lời của Chúa Giêsu, khỏi niềm tin, khỏi hy vọng.” Chúa Giêsu nói với chúng ta: ‘Hãy can đảm lên tại những thời khắc như thế... Thầy đã chiến thắng thế gian, anh em cũng sẽ là những người chiến thắng'. Chỉ có Chúa “là có khả năng ban cho chúng ta sức mạnh, để cho chúng ta kiên trì trong đức tin, để cho chúng ta hy vọng”. Đức thánh cha nhận định khi một người hoàn toàn tín thác vào Chúa - người ấy có thể chắc chắn rằng mình sẽ không bao giờ thất vọng. Gian truân làm cho chúng ta đau khổ, nhưng niềm tin nơi Chúa đem lại cho chúng ta hy vọng; và điều này dẫn đến bình an. Như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban bình an cho anh em”. Tuy nhiên, bình an Chúa hứa ban cho chúng ta “không phải là hòa bình, không phải một trạng thái an nhiên đơn giản của tâm hồn”, nhưng là một sự bình an “đi vào bên trong tâm hồn chúng ta, một sự bình an ban cho chúng ta sức mạnh, củng cố những gì ngày hôm nay chúng ta đang kêu cầu cùng Chúa, đó là đức tin và niềm hy vọng của chúng ta”.[23]

Ba mươi năm trong nghề y, tôi có nhiều trải nghiệm khó quên, cách riêng về sống nỗi đau khổ và niềm hy vọng.[24]

Nhiều lần tôi gặp các bệnh nhân từ tỉnh lên với chẩn đoán chẳng hạn u nang buồng trứng, bệnh nhân lo lắng mất ngủ, sụt vài ký trong vòng một tuần. Đến khi tôi khám không phát hiện gì, giải thích cho bệnh nhân đó chỉ là nang chức năng (kyste fonctionnel) đã tự hết, bệnh nhân cười vui và nói thấy khỏe hẳn. Nhiều khi chỉ một lời giải thích mà giải tỏa cơn căng thẳng lo âu bệnh tật nơi bệnh nhân.

Một lần tôi khám cho cô gái 21 tuổi, mang thai tháng thứ năm mà không hề hay biết. Cô ấy khóc tức tưởi và đòi phá thai khi biết tin. Cô kể rằng nhà nghèo, đi giúp việc rửa chén cho một quán phở. Một đêm về cô bị hãm hiếp tập thể bởi một nhóm ba người thanh niên. Tôi chỉ cho cô ấy hình ảnh thai nhi 5 tháng trên siêu âm, hình ảnh bé co duỗi tay chân, tay sờ vào cuống rốn, miệng ngáp... để gợi lên tình mẹ con. Tôi giải thích cô đã là nạn nhân của bạo lực, nếu bây giờ cô phá thai, thì cô lại đi vào tình huống kẻ bạo lực giết đứa con vô tội yếu ớt của mình. Tôi hứa sẽ chăm sóc cho cô ấy, lo nơi chốn ăn ở trong suốt thời gian mang thai, sinh xong sẽ tùy cô ấy quyết định giữ lại nuôi hay cho con. Tôi kể cho cô ấy rằng tôi đã từng giúp nhiều trường hợp mẹ đơn thân mang thai muốn phá, nhưng sau đó với sự giúp đỡ của tôi, họ đồng ý không phá thai, bây giờ có vài cô may mắn được hạnh phúc.. .Và cuối cùng, cô gái 21 tuổi ấy chẳng những không phá, mà sau khi sinh con xong, lại thấy yêu thương đứa con bé bỏng vô tội và