Chương I: “ĐỨC KITÔ ĐÃ CHỊU HIẾN TẾ LÀM CHIÊN VƯỢT QUA CỦA CHÚNG TA”

Thánh Thể trong lịch sử cứu độ

Những hình bóng của Thánh Thể

Thánh Thể như là biến cố

Thánh Thể như là bí tích

Chương II: “ĐÂY LÀ MÌNH THẦY HIẾN TẾ VÌ ANH EM”

Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc truyền phép

“Ngài bẻ bánh”

“Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn…”

“Này là Mình Thầy, này là Máu Thầy”

Hãy đến với Chúa Cha

Chương III: “AI ĂN TÔI SẼ NHỜ TÔI MÀ ĐƯỢC SỐNG”

Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc chịu lễ

Hiệp thông vào Mình và Máu Đức Kitô

Kết hợp với Chúa, chính là cùng với Ngài làm nên một Thần Khí duy nhất

“Con ở trong họ và Cha ở trong con”: hiệp thông với Chúa Cha

Thiên Chúa đã đặt thân thể Ngài trong bàn tay chúng ta

Giáo hội: hiệp thông vào thân thể Đức Kitô

Chương IV: “HÃY LÀM VIỆC NÀY MÀ TƯỞNG NHỚ ĐẾN THẦY”

Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc chiêm niệm

Không ngừng tưởng niệm Đức Kitô

Tôn thờ trước Thánh Thể

Tôi nhìn Chúa và Ngài nhìn tôi

Chương V: “THẦY ĐÃ NÊU GƯƠNG CHO ANH EM”

Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc bắt chước

Ý nghĩa của việc rửa chân

Tinh thần phục vụ

“Hãy đi và làm như vậy”

Phục vụ Thần Khí

Chương VI: “ĐÂY THÌ CÒN HƠN VUA SALOMON NỮA”

Thánh Thể như sự hiện diện thật của Chúa

“Đây là Nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại”

“Điều gì tốt thì giữ”

Hành động của Chúa Thánh Thần: truyền thống Chính Thống giáo

Cảm thức về sự hiện diện

Sự đáp ứng của ta trước mầu nhiệm hiện diện thật

Chương VII: “CHO TỚI NGÀY CHÚA ĐẾN”

Thánh Thể như chờ mong Chúa trở lại

 “Hãy nâng tâm hồn lên”

Thánh Thể làm nên giáo xứ

“Đấng Phu Quân đến kia rồi”

Chờ đợi và dấn thân

“Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa”

Chương I: “ĐỨC KITÔ ĐÃ CHỊU HIẾN TẾ LÀM CHIÊN VƯỢT QUA CỦA CHÚNG TA”

Thánh Thể trong lịch sử cứu độ

Ước nguyện của tôi trong bài suy niệm đầu tiên này là định vị mầu nhiệm bữa Tiệc Ly trong tất cả lịch sử cứu độ. Mạc khải của Thiên Chúa cho con người nằm trong khuôn khổ một lịch sử, mà theo đối tượng và mục đích của nó, được gọi là lịch sử cứu độ.

Giữa lòng lịch sử thế giới mà người ta có thể thấy và dựa trên các tài liệu, một lịch sử khác diễn ra, không có những chiến tranh và hòa bình hay những phát minh của con người làm dây dẫn, nhưng là những “phát minh” của Thiên Chúa, những mirabilia Dei (những việc lạ lùng của Thiên Chúa), là những can thiệp của lòng Thiên Chúa nhân từ. Tất cả những hành động mà Thiên Chúa thực hiện ở bên ngoài Người (ad extra), từ lúc tạo dựng đến lúc quang lâm, đều thuộc về lịch sử này.

Đức Kitô đến qua việc nhập thể ghi dấu một nét khác biệt về phẩm chất vào lịch sử đó, theo cách một con sông khi chạm tới cống ngăn thì mực nước lên cao hơn. Tất cả những việc Đức Giêsu làm trong cuộc đời của Ngài đều thuộc về lịch sử cứu độ: ngay cả sự thinh lặng và chuyện thường ngày ở Nadarét cũng thuộc về lịch sử này. Thời giờ của Ngài là “trung tâm của thời gian”, sự “viên mãn của thời gian”.

Nhưng lịch sử cứu độ không dừng lại ở lịch sử Đức Kitô. Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng thuộc về lịch sử này. Đời sống của một người tín hữu thuần túy, từ lúc được rửa tội tới lúc chết, nói tóm lại, là một lịch sử cứu độ. Đó là vũ trụ vi mô của lịch sử cứu độ, trong khi lịch sử khác kéo dài từ tạo dựng đến quang lâm là vũ trụ vĩ mô của lịch sử này. Lần đến cuối cùng của Đức Kitô sẽ ghi dấu trong lịch sử lâu dài này một nét khác biệt mới về phẩm chất: lần này sẽ là lúc lịch sử đi tới cái vượt lên trên nó, từ thời gian tới vĩnh cửu, từ hy vọng tới chiếm đoạt, từ đức tin tới vinh quang.

Khi ấy, cuộc đời chúng ta thuộc về sự viên mãn của thời gian, khởi đầu bằng biến cố nhập thể, ở giữa cái “đã có” và cái “chưa có”. Nếu chúng ta hình dung lịch sử cứu độ như một đường thẳng trải dài trong thời gian, chúng ta có thể cho thấy điều “đã” được thực hiện bằng một đường thẳng ngắt quãng cho tới lúc này, và điều “chưa được thực hiện”, mà chúng ta đang chờ được hoàn tất, bằng một đường thẳng được phác họa nhưng có thể ngắt quãng bất cứ lúc nào, vì chính đêm nay Chúa có thể trở lại.

Khi ấy, chúng ta tự hỏi Thánh Thể có chỗ đứng nào trong lịch sử cứu độ này. Chúng ta phải đặt Thánh Thể chỗ nào trong dòng thời gian? Trả lời: Thánh Thể không ở một chỗ nào, nhưng ở trong tất cả dòng thời gian này. Thánh Thể bao trùm lịch sử cứu độ: tất cả lịch sử cứu độ hiện diện trong Thánh Thể và Thánh Thể hiện diện trong suốt chiều dài lịch sử cứu độ. Như ta thấy lúc bình minh, tất cả vòm trời phản chiếu trong giọt sương mai trên một cành của hàng rào cây xanh, cũng thế, trong Thánh Thể người ta chiêm ngắm tất cả dòng chảy của lịch sử cứu độ.

Tuy vậy, có ba cách hiện diện khác nhau nơi Thánh Thể, theo thời gian hay giai đoạn mà chúng ta phân biệt trong lịch sử cứu độ: trong Cựu Ước hiện diện như hình bóng, trong Tân Ước hiện diện như biến cố, và trong thời Giáo hội, là thời của chúng ta, như bí tích. Trong khi hình bóng đi trước và chuẩn bị cho biến cố, thì bí tích “kéo dài” và hiện tại hóa biến cố ấy.

Những hình bóng của Thánh Thể

Như tôi đã nói, trong Cựu Ước, Thánh Thể hiện diện như “hình bóng”. Tất cả Cựu Ước chuẩn bị cho bữa Tiệc Ly của Chúa. Một con người đã ban một bữa tối vĩ đại. Thánh Augustinô thốt lên: “Ai là con người này, nếu không phải là Đức Giêsu Kitô, Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người? Ngay từ những ngày đầu của sứ vụ, các tiên tri đã không ngừng mời gọi người ta đến với bữa tiệc của Đức Kitô. Họ đã được sai đến với dân Israel; họ thường được sai đến, và thường lặp lại lời mời gọi, để các thực khách đến với bữa tiệc khi nào muốn” (Serm. 112 ; PL 38, 643).

Sự chờ đợi này về giờ của bữa tối luôn được cảnh giác, không chỉ bằng lời các tiên tri, mà còn nhờ những hình bóng hoặc những “kiểu mẫu”, nói khác đi, nhờ những dấu chỉ hoặc những nghi thức cụ thể tạo nên việc chuẩn bị hữu hình hoặc “phác họa” cách nào đó bữa Tiệc Ly của Đức Kitô.

Một trong những hình bóng này được Đức Giêsu nhắc đến là manna (x. Xh 16,4 tt ; Ga 6,31 tt). Một hình bóng khác: hy tế của Melkisêđê và việc ông dâng bánh rượu (x. St 14,18 ; Tv 110,4 ; Dt 7,1 tt). Hoặc hy tế của Isaác. Trong ca tiếp liên “Lauda Sion Salvatorem” do thánh Tôma Aquinô sáng tác cho ngày lễ Mình Máu Chúa, chúng ta hát: “Bánh được loan báo bằng những hình bóng, được sát tế nơi Isaác, được chỉ định nơi con chiên vượt qua, được ban như manna cho các tổ phụ”.

Trong tất cả các hình bóng này về Thánh Thể, có một hình bóng còn hơn là một “hình bóng”; nó chuẩn bị và như dự báo cho Thánh Thể: lễ Vượt Qua. Chính từ Vượt Qua mà có danh xưng bàn tiệc hay bữa ăn vượt qua; người ta dựa vào đó mà gọi Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa”. Kể từ đêm ra khỏi Ai Cập, Thiên Chúa đã chiêm ngắm Thánh Thể, Người đã nghĩ đến việc ban cho chúng ta Con Chiên đích thực. Thiên Chúa nói: “Thấy máu, Ta sẽ vượt qua” (Xh 12,13), có nghĩa là: Ta sẽ “thực hiện cuộc Vượt qua” cho các ngươi, Ta sẽ bỏ qua cho các ngươi, Ta sẽ cứu vớt các ngươi.

Về điểm này, các Giáo Phụ đã tự hỏi: Chúa đã có thể thấy gì quý giá như thế nơi nhà các người Do Thái để “vượt qua” và truyền cho thần sứ không đánh phạt…, và đây là câu trả lời của các ngài: Người thấy Máu của Đức Kitô, Người thấy Thánh Thể! Một trong những bản văn đầu tiên về lễ Vượt Qua trong Giáo hội nói cho chúng ta như sau: “Ôi, mầu nhiệm mới mẻ khôn tả! Con chiên bị sát tế trở thành ơn cứu độ cho Israel, và cái chết của nó trở thành sự sống cho dân, máu nó làm thiên sứ run sợ (x. Xh 12,13). Ôi thiên sứ, hãy trả lời cho tôi: vì sao người run sợ, con chiên bị giết hay sự sống của Chúa? Máu của con chiên hay Thần Khí của Chúa? Rõ ràng người thấy run sợ: người đã thấy mầu nhiệm của Chúa được hoàn tất nơi con chiên, người đã thấy sự sống của Chúa nơi con chiên bị sát tế; con chiên bị giết là hình bóng của Chúa; vì vậy, người đã không đánh phạt Israel” (Mêlitô Sardes, Sur la Pâque, 31 tt). “Từ lúc ấy, đâu sẽ là sức mạnh của thực tại (tức của lễ Vượt Qua Kitô giáo) nếu hình bóng thuần túy của nó đã là nguyên nhân cứu độ” (Pseuđô-Hyppolitô, Sur la Pâque, 3). Một hiệu năng như thế của các hình bóng Thánh Thể mà thôi đã khiến thánh Tôma gọi các nghi thức của Cựu Ước là “những bí tích của luật cũ”.

Thời Đức Giêsu, lễ Vượt Qua Do thái theo nghi lễ gồm hai thì: tiên vàn là sát tế chiên được dẫn đến đền thờ Giêrusalem, lúc sau trưa ngày 14 nisan; sau đó, cả gia đình ăn thịt chiên trong bữa ăn Vượt Qua vào đêm kế tiếp. Trong phụng vụ bữa ăn, người cha trong gia đình – đây là lúc duy nhất ông mặc phẩm phục tư tế – cắt nghĩa tính chất biểu tượng của các nghi thức, khi cho các con thấy, bằng những đường nét lớn, việc kỳ diệu Thiên Chúa đã làm cho dân Người.

Cuối cùng, cũng vào thời Đức Giêsu, lễ Vượt Qua trở thành việc “tưởng niệm” (mémorial) không những cuộc Xuất hành, mà cả mọi thần hiện khác của Thiên Chúa trong lịch sử Israel. Lễ Vượt Qua chính là tưởng niệm và kỷ niệm bốn đêm quan trọng nhất của thế giới: đêm tạo dựng khi ánh sáng vọt lên từ bóng tối; đêm Abraham sát tế Isaác; đêm ra khỏi Ai Cập và đêm Đấng Mêsia đến còn phải đợi (Targum sur Ex. 12,42).

Như vậy, đối với người Do Thái, lễ Vượt Qua là một tưởng niệm (theo chữ trong Xh 12,14); nó còn là chờ đợi. Thật bất hạnh, khi Đấng Mêsia đến, Đấng họ chờ đợi, thì họ lại không nhận ra Ngài, nhưng “biến Ngài thành điều họ muốn” vì Ngài bị giết vào chính một dịp lễ Vượt Qua. Nhưng qua việc giết người này, họ thực hiện hình bóng và hoàn tất điều họ chờ đợi: sát tế Con Chiên đích thật của Thiên Chúa. Trong những ngày đó, như thường lệ, ở Giêrusalem có rất đông người đến mừng lễ; tuy nhiên không một ai khi ấy biết rằng, trong một phòng cao của thành phố, điều người ta chờ đợi từ bao nhiêu thế kỷ trở thành thực tại.

Khi Đức Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà nói: “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em. Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19), từ “tưởng nhớ” lập tức nhắc nhớ cùng một từ của sách Xuất hành, giúp cho người ta nghĩ rằng lễ Vượt Qua mới đã được thiết lập. Thực sự, việc tưởng niệm cũ vẫn còn, nhưng nội dung của nó đã thay đổi, hoặc đúng hơn, được hoàn tất: từ đây, lễ Vượt Qua sẽ tưởng niệm một sự sát tế khác, một cuộc vượt qua khác: “Phúc cho ngươi, đêm cuối cùng, vì nơi ngươi, đêm ra khỏi Ai Cập đã được hoàn tất. Nơi ngươi, Chúa chúng ta đã ăn lễ Vượt Qua nhỏ, và chính Ngài trở thành lễ Vượt Qua lớn. Lễ Vượt Qua thay thế cho lễ Vượt Qua, ngày lễ thay thế cho ngày lễ. Đây là lễ Vượt Qua qua đi và lễ Vượt Qua còn mãi; đây là hình bóng và sự hoàn tất nó” (saint Ephrem, Hymnes sur la crucifixion 3, 2).

Thánh Thể như là biến cố

Từ đây, chúng ta đang ở trong sự viên mãn thời gian: Thánh Thể không còn hiện diện như hình bóng nữa, nhưng như thực tại. Nội dung cũ của lễ Vượt Qua không bị phá hủy, cũng không bị quên lãng, nhưng có một nội dung khác chồng lên nó, một nội dung quan trọng đến mức vô biên, làm cho nó được “xác thực” và vượt qua nó từ mọi phía. Nét mới mẻ lớn lao hoàn toàn được gom góp trong lời thánh Tông Đồ hô lên: “Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta” (1Cr 5,7). Vì vậy Thánh Thể có thể được gọi là “mầu nhiệm vừa cũ vừa mới : cũ nhờ được tiên trưng, mới nhờ thành hiện thực” (Méliton de Sardes).

Thế nhưng, nói cho đúng, biến cố làm nền tảng cho Thánh Thể và thực hiện lễ Vượt Qua mới hệ tại ở điều gì? Về điểm này, các Phúc Âm đưa ra hai kiểu giải đáp bổ túc cho nhau, và đồng thời cho phép ta hiểu hơn mầu nhiệm, được xét theo những quan điểm khác nhau. Như ta đã thấy, đối với người Do Thái, lễ Vượt Qua xảy ra trong hai thì và tại hai nơi khác nhau: sát tế chiên ở đền thờ và bữa ăn tại nhà. Tác giả Gioan thích xem xét lúc sát tế hơn; lễ Vượt Qua Kitô giáo, theo ngài (và như vậy là cả Thánh Thể) được thiết lập trên thập giá, vào lúc Đức Giêsu, Con Chiên đích thực của Thiên Chúa, chịu hiến tế. Phúc Âm của ngài cho thấy một sự tập trung đặc biệt: một đàng, nhiều lần ngài nhấn mạnh rằng lễ Vượt Qua của người Do Thái đã gần đến (“sắp đến lễ Vượt Qua của người Do Thái”, “sáu ngày trước lễ Vượt Qua”, “hôm đó là ngày áp lễ”); đàng khác, ngài nói rằng “giờ” của Đức Giêsu cũng gần đến, giờ Ngài chịu chết và được tôn vinh. Vậy có một sự gần đến “về thời gian” của một ngày và một giờ rõ ràng, và một sự gần đến “về không gian” hướng về Giêrusalem, tới lúc hai đà tiến này tập trung và đan chéo nhau ở Canvê, lúc sau trưa ngày 14 nisan, cho đến lúc người ta sát tế chiên cho lễ Vượt Qua ở đền thờ. Để làm nổi bật hơn sự trùng hợp này, Gioan ghi nhận rõ sự kiện sau đây: trên thập giá, liên hệ đến Đức Giêsu, “không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh dập” (Ga 19,36), theo chỉ thị của sách Xuất hành về chiên lễ vượt qua (Xh 12,46). Người ta hẳn có thể nghĩ rằng, vào đúng lúc này, tác giả Phúc Âm thứ tư biến những lời của Gioan Tẩy Giả làm lời của mình, và chỉ tay lên Đức Giêsu trên thập giá, ngài công bố cho mọi người: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).

Ba tác giả Phúc Âm nhất lãm thích chọn thời điểm bữa ăn hơn. Chính trong bữa ăn, chính xác là lúc lập phép Thánh Thể, mà các ngài thấy bước chuyển từ lễ Vượt Qua cũ sang lễ Vượt Qua mới được thực hiện. Đối với các ngài, nét nổi bật nhất là việc chuẩn bị bữa ăn vượt qua Đức Giêsu mừng trước khi chết: “Căn phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu ?” (Lc 22,11). Gioan nhấn mạnh lúc hiến tế thực sự (thập giá), còn Phúc Âm nhất lãm nhấn mạnh lúc hiến tế thần bí (bữa ăn). Nhưng đây cũng chỉ là cùng một biến cố nhìn dưới hai khía cạnh khác nhau, và biến cố này chính là sự hiến tế của Đức Kitô. Thánh Êphrem viết: “Trong bữa ăn, Đức Giêsu hiến tế chính mình ; trên thập giá, Ngài chịu hiến tế nhờ những người khác” (Hymne sur la cruxifixion 3, 1); đấy là cách Ngài nói rằng mạng sống của Ngài, không ai lấy đi được; chính Ngài tự ý hy sinh mạng sống mình, có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy (x. Ga 10,18).

Như vậy, biến cố nền tảng của Thánh Thể là sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, hành vi “hy sinh mạng sống để lấy lại mạng sống ấy”. Chúng ta gọi đó là “biến cố” vì đã xảy ra trong lịch sử. Đó là một sự kiện độc nhất trong thời gian và không gian xảy ra một lần thay cho tất cả (semel) và không thể lặp lại : Đức Kitô “đã xuất hiện chỉ một lần để tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình” (Dt 9,26). Tuy nhiên đây không phải là những “sự kiện” thô ; chúng có lý do “vì sao”, thậm chí “cho tôi”, tạo nên linh hồn của nó, và đó là tình yêu. Thánh Thể sinh ra từ tình yêu; đấy là động cơ giải thích tất cả: vì Ngài đã yêu ta. “Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta đã tự nộp mình làm hiến lễ, làm hy lễ dâng lên Thiên Chúa tựa hương thơm ngào ngạt” (Ep 5,2). Đây là cách tốt nhất cho biết Thánh Thể đến từ đâu và thực sự là gì. Thánh Thể cho ta thấy như là công trình và quà tặng của cả Ba Ngôi; tất cả Ba Ngôi tham gia thiết lập Thánh Thể: Chúa Con tự hiến tế như lễ vật dâng lên Chúa Cha là Đấng nhận lấy trong Chúa Thánh Thần (x. Dt 9,14).

Tất cả Ba Ngôi góp phần vào hy tế do đó mà có Thánh Thể, chứ không phải chỉ mình Đức Giêsu. Điều đó giúp chúng ta đính chính một tư tưởng sai lầm có thể đã có, nhất là về Chúa Cha. Một thứ văn hóa thời thượng nào đó, một cách ngây ngô và phạm thánh, đưa về Thiên Chúa Cha một vài thành kiến được biết đến nhiều nhờ khoa phân tâm học khi nói về những người cha tự nhiên. Chẳng hạn người ta tưởng tượng một Chúa Cha vô cảm ngự trên trời cao, trong khi Con mình chết trên thập giá, thậm chí sẵn sàng nhận máu hy tế của Con. Một Chúa Cha cam lòng nhận lấy và không ban mình, đòi máu của con mình làm giá chuộc, chỉ khiến cho chúng ta sợ hãi và ghê tởm. Tuy nhiên, đó là cách trình bày hoàn toàn sai lạc. Thánh Phaolô nói rằng: “(Đến như chính Con Một), Thiên Chúa Cha cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32). “Vì hết thảy chúng ta”, đó là chìa khóa để hiểu tất cả. Nếu Chúa Cha chấp nhận hy tế của Chúa Con, chính vì Chúa Con đã đưa về cho Người “mọi con cái đang tản mác về một mối” (x. Ga 11,52); chính như thế mà Ngài để Chúa Cha có thể thực hiện được ý định quý giá nhất của mình là “mọi người được cứu độ” (x.Tm 2,4). Tình yêu của Chúa Cha dành cho Đức Giêsu không giới hạn, vì Đức Giêsu đã hy sinh cho các anh chị em. Nhìn gần hơn, thì đó không chỉ thuần túy vì Ngài hiến mình, nhưng vì hiến mình cho các anh chị em. Thiên Chúa luôn là một Thiên Chúa “muốn tình yêu chứ không muốn hy lễ” (Hs 6,6); nếu Người chấp nhận hy lễ của Con, chính vì Người đã cho phép Con thương xót thế giới.

Như vậy, Chúa Cha không chỉ là Đấng nhận hy tế của Con, Người còn là Đấng ban Con mình làm hy tế, Đấng phải hy sinh ban Con mình cho chúng ta! Theo thánh Phaolô, nếu Đức Giêsu dâng mình cho Thiên Chúa vì chúng ta, khi ấy, hy tế đúng là cho Thiên Chúa, nhưng không phải Thiên Chúa được hưởng lợi, mà là con người, là chúng ta, chính đó là tất cả sự khác biệt giữa hy tế Kitô giáo và các các hy tế khác.

Chúng ta không thể nói cho cùng về biến cố thập giá từ đó phát sinh ra Thánh Thể; chúng ta sẽ không bao giờ vét cạn nguồn phong phú. Biến cố này, xảy ra quá nhanh và rất ít quan trọng trong lịch thế giới, ít nhất xét bên ngoài, thực sự hàm chứa một năng lực mạnh mẽ đến nỗi sự cứu độ của lịch sử thế giới dựa vào đó. Theo cách loại suy, người ta bắt đầu nghĩ tới năng lượng chứa đựng trong nguyên tử cũng rất nhỏ. Có một hôm, liên tưởng tới lúc này, Đức Giêsu nói: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thấy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12,49). Thực sự, “mọi sự đã hoàn tất” trên thập giá: không một tư tưởng nào hay hành động nào có thể đạt tới mức lớn lao như vậy. Ở đó, chúng ta chạm tới đáy mọi nguồn mạch thần linh và nhân loại; sự dữ dưới bất cứ hình thức nào đều bị đánh bại tận căn, mọi ơn cứu độ đã đến, mọi vinh quang đều đưa về Ba Ngôi.

Thánh Thể như là bí tích

Giờ đây chúng ta xem xét Thánh Thể ở giai đoạn thứ ba của lịch sử cứu độ, thời của Giáo hội mà chúng ta đang sống. Vào lúc này, Thánh Thể hiện diện như là bí tích, nghĩa là dưới dấu chỉ bánh và rượu, như Đức Giêsu đã thiết lập trong bữa cuối khi Ngài nói: Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.

Điều quan trọng là cần hiểu sự khác biệt giữa biến cố mà chúng ta đã mô tả và bí tích, sự khác biệt giữa lịch sử và phụng vụ. Thánh Augustinô giúp ta làm công việc này. Thánh Tiến sĩ viết: “Chúng ta biết và chúng ta tin bằng một đức tin không lẫn lộn là Đức Kitô đã chết cho ta chỉ một lần, Ngài là Đấng Công Chính chết cho ta là những tội nhân, là Chúa chết cho các tôi tớ. Anh em biết biến cố này chỉ xảy ra một lần; tuy nhiên, bí tích lặp lại theo định kỳ, như thể lặp lại nhiều lần điều lịch sử tuyên bố chỉ xảy ra một lần duy nhất. Tuy vậy không có mâu thuẫn giữa biến cố và bí tích, như thể người ta có thể tuyên bố bí tích là giả và chỉ coi biến cố là thật. Thực ra, điều chỉ xảy ra một lần duy nhất theo lịch sử, thì trong thực tế bí tích thường lặp lại chính điều đó khi cử hành trong tâm khảm người tín hữu. Lịch sử mạc khải điều đã xảy ra một lần và theo cách nào; còn phụng vụ làm cho quá khứ không bị lãng quên, không theo nghĩa lại khiến cho biến cố xảy ra (non faciendo), nhưng bằng cách cử hành biến cố (sed celebrando) (x. Serm. 220 ; PL 38, 1089).

Xác định rõ mối liên hệ giữa hy tế duy nhất của thập giá và thánh lễ là một vấn đề rất tế nhị, và là một trong những điểm tranh luận chính vốn dĩ vẫn có giữa người Công giáo và người Tin Lành. Như ta đã thấy, Augustinô sử dụng hai động từ renovat và celebrat (làm mới lại và cử hành), rất chính đáng, với điều kiện phải hiểu từ này dưới ánh sáng của từ kia: thánh lễ làm mới lại biến cố thập giá bằng cách cử hành biến cố (không phải làm lại!), và cử hành biến cố bằng cách làm mới lại (không chỉ bằng cách tưởng niệm nó!). Từ có được tối đa sự đồng thuận đại kết có lẽ là động từ biểu thị (được Đức Phaolô VI sử dụng trong thông điệp Mysterium Fidei), hiểu theo nghĩa mạnh nhất của biểu thị, tức là hiện tại hóa.

Như vậy theo lịch sử, chỉ có một Thánh Thể duy nhất mà Đức Giêsu đã thực hiện bằng cuộc đời và cái chết của mình; ngược lại theo phụng vụ, tức qua bí tích mà Đức Giêsu thiết lập trong bữa cuối, có biết bao Thánh Thể người ta đã cử hành và sẽ còn cử hành cho đến tận thế. Biến cố thì chỉ xảy ra một lần (semel), bí tích được thực hiện “mỗi lần” (quotiescumque).

Nhờ bí tích Thánh Thể, chúng ta trở thành những người đồng thời với biến cố cách mầu nhiệm; biến cố trở thành hiện tại cho chúng ta và chúng ta cho biến cố. Đêm Vượt Qua, trong phụng vụ, người Do Thái thời Đức Giêsu đã nói: “Qua từng thế hệ, tất cả và từng người phải tự coi mình như thể chính mình đích thân ra khỏi đất Ai Cập trong đêm này” (Pesachim X, 5). Áp dụng cho người Kitô hữu chúng ta, bản văn muốn nói rằng ở mỗi thời kỳ, mỗi người phải tự coi mình như thể đích thân ở dưới chân thập giá sau trưa hôm đó, đồng thời với Đức Maria và Gioan. Phải, chúng ta đã ở đó; “chính từ đó mà tất cả chúng ta được sinh ra”. Khi tôi nghe bài hát đạo của dân da mầu: “Bạn có ở đó, bạn có ở đó, gần thập giá Đức Giêsu chăng?”, tôi luôn nghe thấy có lời đáp lại trong tôi: phải, tôi cũng đã ở đó, gần thập giá Đức Giêsu.

Nhưng bí tích Thánh Thể không hiện tại hóa biến cố thập giá chỉ cho chúng ta mà thôi; như vậy ít quá: tiên vàn, chính cho Chúa Cha mà bí tích làm cho biến cố ấy thành hiện tại. Mỗi lần “bẻ bánh”, khi linh mục bẻ bánh thánh, thì như thể bình trắng nuột của nhân tính Đức Kitô lại vỡ ra, đúng như điều đã xảy ra trên thập giá, như thể hương thơm sự vâng phục của Ngài còn bay lên để làm mủi lòng Chúa Cha. Cũng như khi Isaác hít mùi áo thơm của Giacóp, chúc lành cho cậu mà nói: “Kìa mùi thơm con tôi như mùi thơm cánh đồng Đức Chúa đã chúc phúc” (St 27,27).

Nếu chúng ta tự hỏi làm thế nào mà biến cố thập giá không bao giờ được hoàn tất cách hoàn hảo, giống như mọi sự kiện lịch sử khác, nhưng ngược lại nó tiếp tục còn được hiện tại hóa hôm nay, câu trả lời cuối cùng chính là: Chúa Thánh Thần. Lặp lại lời thánh Basiliô, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tuyên bố trong thông điệp về Chúa Thánh Thần: “Đức Kitô đã hoàn tất mọi công trình của Ngài, đặc biệt hy tế của Ngài nhờ sự can thiệp của Chúa Thánh Thần (praesente Spiritu)”; trong thánh lễ, trước lúc chịu lễ, linh mục cầu nguyện như sau: “LạyChúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, theo ý Chúa Cha và với sự cộng tác của Chúa Thánh Thần, Chúa đã chết để cho thế gian được sống…”. Nền tảng của mọi sự chính là lời Kinh Thánh trong thư Dt 9,14: “Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa”. Những lời như vậy rọi một ánh sáng mới trên biến cố thập giá; biến cố là “thuộc linh” nếu chúng ta hiểu nó được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, Đấng là tình yêu, đã khơi dậy từ trong nơi sâu thẳm của linh hồn nhân loại của Đức Kitô hành vi hiến mình cho Chúa Cha vì chúng ta, và là Đấng đã làm cho Ngài ôm lấy thập giá.

Trong đoạn văn trên, Chúa Thánh Thần được gọi là “hằng hữu”: hằng hữu hay vĩnh viễn ở đây có nghĩa là sẽ không có kết thúc như các hy tế của Cựu Ước, nhưng kéo dài hôm nay và luôn mãi tới tận thế. Chính nhờ Thánh Thần hằng hữu mà Đức Giêsu đã lãnh được ơn cứu chuộc “vĩnh viễn” (x. Dt 9,12). Tự nó, hy tế thập giá được hoàn tất lúc Đức Giêsu gục đầu xuống và tắt thở. Thế nhưng ở nơi Ngài như có một ngọn lửa ẩn giấu mà không gì, ngay cả cái chết, có thể dập tắt một khi được thắp lên. Đức Giêsu Nadarét, với tư cách như thế, không mãi mãi ở giữa ta, nhưng Ngài trở lại cùng Chúa Cha; ngược lại, Thần Khí của Ngài ở với ta đến muôn đời. Chính đó là ngôn ngữ của Đức Giêsu khi Ngài nói với những kẻ chất vấn Ngài: “Chúng tôi đã học biết trong sách Luật rằng : Đấng Kitô phải trường tồn mãi mãi. Thế sao ông lại nói : Con Người phải được giương cao?” (Ga 12,34). Ở một đoạn sau, Đức Giêsu gián tiếp trả lời: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi” (Ga 14,16). Đức Kitô ở lại luôn mãi khi ban cho các môn đệ Thần Khí của Ngài, Đấng sẽ ở với họ luôn mãi (H. Muhlen). Do đó chúng ta hiểu vì sao, theo một nghĩa nào đó, hy tế thập giá có thể còn kéo dài. Cũng như cả cuộc đời của Đức Giêsu, hy tế ấy vừa kết thúc vừa không kết thúc, vừa nhất thời vừa vĩnh cửu: nhất thời theo lịch sử, vĩnh cửu theo Thần Khí. Các bí tích của Giáo hội, đặc biệt bí tích Thánh Thể, trở thành khả thể nhờ Thần Khí Đức Giêsu sống trong Giáo hội. Từ nền tảng thần học này người ta thấy lộ ra tầm quan trọng của kinh epiclesis, kinh khẩn cầu Chúa Thánh Thần trong thánh lễ, lúc thánh hiến lễ vật.

Trên thập giá, Đức Giêsu gục đầu “tắt thở”, có nghĩa là “trao Thần Khí” (Ga 19,30); mỗi thánh lễ có thể được coi như hơi thở cuối cùng của Đức Giêsu, không bao giờ tắt, sẽ trở lại bay lượn trên chúng ta, khuấy động không khí, nếu có thể nói được như vậy, để làm cho cộng đoàn đầy tràn sự hiện diện của Đức Kitô. Điều lạ lùng đã xảy ra nhờ lời cầu nguyện của Elia trên núi Camêlô, khi lửa từ trời xuống thiêu rụi củi và của lễ (x. 1V 18,20 tt), điều lạ ấy được lặp lại một cách hoàn toàn thiêng liêng và vô hình.

Đến lượt chúng ta, nếu chúng ta cử hành Thánh Thể – như Đức Giêsu đã làm trên thập giá – “kết hợp với Chúa Thánh Thần, Ngài sẽ ban cho những cử hành của chúng ta một tiếp nhận mới và một ánh sáng mới. Quả thực, Ngài sẽ làm cho chúng ta trở thành điều chúng ta xin trong lễ quy, là thành “một hy tế vĩnh cửu làm đẹp lòng Thiên Chúa”.

Chương II: “ĐÂY LÀ MÌNH THẦY HIẾN TẾ VÌ ANH EM”

Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc truyền phép

Bài suy niệm trước giúp chúng ta nhìn Thánh Thể trong lịch sử cứu độ, trong đó Thánh Thể hiện diện trước hết như hình bóng, rồi như biến cố và cuối cùng như bí tích. Lúc này và trong những bài suy niệm tiếp theo, chúng ta hoàn toàn tập chú vào Thánh Thể-bí tích, nói khác đi, vào cách mà chúng ta hôm nay nhận thấy Thánh Thể trong Giáo hội.

Trong viễn tượng mới này, chúng ta thấy Thánh Thể không như điểm nằm ở trung tâm một đường thẳng nữa (đường trải dài từ xuất hành tới quang lâm), mà ở trung tâm một vòng tròn. Vòng tròn lý tưởng này biểu thị Giáo hội, một Giáo hội ngày hôm nay trong đời sống cụ thể của mình. Chúng ta cũng có thể hình dung trong trí ba vòng tròn đồng tâm: vòng tròn lớn nhất là vũ trụ; trong vũ trụ, có vòng tròn nhỏ hơn là Giáo hội; cuối cùng, trong vòng tròn thứ hai này, một vòng tròn khác còn nhỏ hơn nữa (mặc dù trên thực tế nó chứa đựng cả vũ trụ), đó là Bánh thánh. Chúng ta thấy Thánh Thể như trung tâm và mặt trời, không những của Giáo hội, mà của phần còn lại của nhân loại nữa, và của cả vũ trụ thậm chí vô tri. Chỉ có sự khác biệt này: Giáo hội có Đức Giêsu nơi trung tâm của mình, và biết điều đó ; vũ trụ cũng có Đức Giêsu là trung tâm, nhưng không biết điều đó.

Tương quan Thánh Thể-Giáo hội, đối tượng mà chúng ta đang suy niệm, không có gì tĩnh, nhưng động và hoạt động; vì vậy nói Thánh Thể ở giữa lòng Giáo hội thì không đủ, mà phải nói: Thánh Thể làm nên Giáo hội. Thánh Thể xây dựng Giáo hội bằng cách ở trong Giáo hội, như dệt áo mặc cho Giáo hội. Có hai bí tích làm nên Giáo hội cách đặc biệt: phép Rửa Tội và phép Thánh Thể. Thế nhưng, trong khi Giáo hội tăng trưởng về con số và trong không gian nhờ phép Rửa Tội, tăng trưởng về số lượng nếu nói được như thế, thì nhờ Thánh Thể, Giáo hội tăng trưởng về cường độ, vì Thánh Thể làm biến đổi Giáo hội ngày một sâu sắc, theo hình ảnh của đầu Giáo hội là Đức Kitô. Nước Trời giống như men người đàn bà lấy ủ vào trong ba thúng bột (x. Mt 13,33); Thánh Thể cũng giống như men; Đức Giêsu đặt vào trong khối bột là Giáo hội, làm cho cả Giáo hội dậy men. Giáo hội trở thành một tấm bánh như Ngài. Nếu Giáo hội là men cho thế gian, thì Thánh Thể là men cho Giáo hội.

Thánh Thể làm nên Giáo hội bằng nhiều cách và ở những thời điểm khác nhau, nghĩa là Thánh Thể biến đổi Giáo hội trong Đức Kitô: nhờ việc truyền phép, rước lễ, chiêm niệm, bắt chước. Hôm nay, chúng ta chỉ suy niệm cách thế hay thời điểm đầu tiên: Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc truyền phép.

“Ngài bẻ bánh”

Chúng ta đọc trong thư Rôma lời của thánh Tông Đồ: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hay hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1). Thế nhưng những lời này tự động làm nhớ lại những lời của Đức Giêsu trong bữa cuối: “Các con hãy cầm lấy mà ăn : này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Vì vậy, khi thánh Phaolô khuyên chúng ta hiến dâng thân xác mình làm của lễ, thì như thể ngài nói rằng: cả anh em nữa, anh em hãy làm điều Đức Giêsu Kitô đã làm, cả anh em nữa, anh em hãy tạ ơn Thiên Chúa. Ngài đã hiến dâng mình cho Thiên Chúa làm của lễ ngọt ngào; cả anh em nữa, anh em cũng hãy hiến dâng mình làm của lễ sống động và đẹp lòng Thiên Chúa.

Nhưng lời khuyên hành động tương tự, thì chính Đức Giêsu cũng đã nói với chúng ta, chứ không chỉ có Phaolô. Sau khi lập phép Thánh Thể, khi truyền lệnh: “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19), thực ra, Đức Giêsu không chỉ có ý định nói: Hãy làm chính xác những cử chỉ Thầy đã làm, hãy lặp lại nghi thức Thầy vừa thực hiện; nhưng Ngài còn muốn nói: hãy đi vào tận bề sâu của sự việc Thầy đã làm; cả các con nữa, hãy hiến dâng thân mình các con làm của lễ. Các con thấy rõ việc Thầy đã làm. “Thầy đã nêu gương cho các con, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho các con” (Ga 13,15). Đúng hơn, có một điều gì đó còn cấp bách hơn, in dấu buồn phiền hơn trong lệnh truyền của Đức Giêsu. Chúng ta là thân thể của Ngài, là chi thể của Ngài (x. Cr 12,12), vì vậy, như thể Đức Giêsu nói với chúng ta: cho phép Thầy hiến dâng cho Chúa Cha chính thân thể của Thầy là các con; đừng ngăn cản Thầy hiến dâng mình Thầy cho Chúa Cha; nhưng Thầy không thể hiến dâng mình hoàn toàn cho Chúa Cha, bao lâu còn có một chi thể ở đâu đó không muốn hiến dâng mình với Thầy. Vậy hãy hoàn tất điều còn thiếu cho lễ dâng của Thầy. Niềm vui viên mãn của Thầy tùy thuộc vào các con.

Với một cái nhìn mới, chúng ta hãy xem xét lúc truyền phép Thánh Thể, vì theo thánh Augustinô, từ đây chúng ta biết rằng “cũng chính là mầu nhiệm của chúng ta đang được cử hành trên bàn thờ” (Serm, 272 ; PL 38, 1247). Như tôi đã nói, để cử hành Thánh Thể trong chân lý, cả chúng ta nữa cũng phải “làm” điều Đức Giêsu đã làm. Đức Giêsu đã làm gì trong đêm đó? Trước hết, Ngài làm một cử chỉ: bẻ bánh; cử chỉ đó, tất cả các trình thuật về việc lập Thánh Thể đều làm nổi bật, đến nỗi rất nhanh chóng Thánh Thể được gọi là việc “bẻ bánh” (fractio panis). Ý nghĩa của cử chỉ này thế nào, có lẽ chúng ta chưa hiểu cho đầy đủ. Tại sao Đức Giêsu lạ bẻ bánh? Để cho mỗi người một miếng, nói khác đi, để cho các môn đệ của mình chăng? Không phải. Cử chỉ này tiên vàn có một tầm quan trọng hy tế giữa Đức Giêsu và Cha của Ngài. Nó không chỉ có nghĩa là chia phần, nhưng còn có nghĩa sát tế. Bánh là chính Ngài; khi bẻ bánh, Đức Giêsu cũng “bẻ vỡ” chính mình theo lời Isaia gán cho người Tôi Trung của Đức Chúa: người đã bị nghiền nát (attritus) vì chúng ta lỗi lầm (x. Is 53,5). Một con người, cũng là Con Thiên Chúa, bẻ vỡ mình trước Thiên Chúa, nghĩa là “vâng lời cho đến chết” để tái khẳng định những quyền của Thiên Chúa bị xúc phạm vì tội lỗi, để nói lên rằng Thiên Chúa là Thiên Chúa. Không thể dùng lời nói cắt nghĩa yếu tính của hành vi bên trong làm tăng gấp đôi cử chỉ bẻ bánh. Đối với chúng ta, hành vi này có vẻ khắc nghiệt và tàn bạo, ngược lại, đây chính là hành vi cao cả nhất của tình yêu dịu dàng chưa từng được thực hiện hoặc có thể được thực hiện ở trần gian. Khi truyền phép, linh mục cầm lấy tấm bánh mỏng manh và lặp lại những lời: “(Người) bẻ ra…”, ngài có thể có được một phần tình cảm mà Đức Giêsu đã có vào lúc ấy: làm thế nào ý muốn nhân loại của Ngài phó mặc hoàn toàn cho Chúa Cha, khi hoàn toàn thắng được mọi kháng cự, và lặp lại cho mình những lời rất quen thuộc của Kinh Thánh: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (x. Dt 10,5-9). Cái mà Đức Giêsu ban cho các môn đệ để ăn, chính là bánh của vâng phục và yêu mến Chúa Cha.

Như vậy tôi hiểu rằng, để “làm” điều Đức Giêsu đã làm trong đêm đó, trước hết tôi phải “bẻ” chính tôi, tức là trước mặt Thiên Chúa tôi phải bỏ đi mọi sự cứng nhắc của tôi, mọi phản động chống lại Người và chống lại anh em, tôi phải bẻ gẫy tính kiêu căng của tôi, phải thuận theo và nói “có” tận đáy lòng trước những gì Thiên Chúa đòi hỏi nơi tôi; tôi cũng phải lặp lại cho mình những lời này: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Chúa không muốn nơi con biết bao nhiêu sự; Chúa muốn chính con, và con thưa với Chúa lời “xin vâng”. Là Thánh Thể như Đức Giêsu, điều này không muốn nói gì khác hơn là hoàn toàn phó mình cho ý muốn của Chúa Cha.

“Tất cả các con hãy cầm lấy mà ăn…”

Theo Mt 26,26 và Lc 22,19, sau khi bẻ bánh, phân phát cho các môn đệ, Đức Giêsu nói thêm: “Các con hãy cầm lấy mà ăn: này là mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”. Về điểm này, cho phép tôi chia sẻ một kinh nghiệm nho nhỏ: tôi đã khám phá ra rằng cả những lời này, cũng như cử chỉ bẻ bánh, phải biến chúng thành “của chúng ta” như thế nào; tóm lại tôi đã khám phá ra tầm quan trọng về phương diện Giáo hội và cá nhân của việc truyền phép Thánh Thể.

Trước đây không lâu, tôi đã có những nghi thức của tôi vào lúc truyền phép trong Thánh lễ: nhắm mắt, cúi đầu, tìm cách không để ý đến bất cứ điều gì xung quanh, để đồng hóa với Đức Giêsu trong phòng Tiệc ly, lúc mà trước khi chết, lần đầu tiên Ngài đọc những lời: các con hãy cầm lấy mà ăn. Vả lại, phụng vụ cũng ủng hộ thái độ này: chúng ta cúi xuống trước hình bánh rượu, đọc nhỏ những lời truyền phép bằng tiếng La-tinh. Rồi một ngày kia, tôi hiểu rằng một thái độ như thế, tự nó, không diễn tả được tất cả những gì mà sự tham dự của tôi vào việc truyền phép muốn nói. Đức Giêsu của phòng Tiệc ly không còn nữa. Từ đây, chính là Đức Giêsu Phục Sinh hiện hữu. Nói cho chính xác: Đức Giêsu đã chết, nhưng từ đây Ngài là Đấng hằng sống (x. Kh 1,18).

Tuy nhiên Đức Giêsu đang bàn là “Đức Kitô toàn thể”, Đầu và Thân Thể vĩnh viễn liên kết với nhau. Khi ấy, nếu Đức Kitô toàn thể đọc lời truyền phép, thì tôi cũng đọc cùng với Ngài. Trong cái “Tôi” lớn của Đầu ẩn giấu cái “tôi” nhỏ của Thân Thể là Giáo hội; và cũng chính cái “tôi” nhỏ bé nhất của tôi nói như vậy với cộng đoàn: “Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là mình tôi sẽ bị nộp vì anh em”. Quả là mầu nhiệm trọng đại! Đức Giêsu làm cho tôi nên một với Ngài trong hành vi cao cả nhất, thánh thiện nhất của lịch sử: trong hành vi độc nhất hoàn toàn “xứng đáng với Thiên Chúa”, xứng đáng với sự thánh thiện và cao cả của Người. Hỡi các tầng trời, hãy ngạc nhiên lên; hỡi trái đất, hãy nhảy mừng lên; hỡi các thiên thần, hãy vui lên, và chớ gì ma quỷ phải run sợ: Thiên Chúa đã thực hiện ước mơ của mình khi tạo dựng vũ trụ; không gì, ngay cả tội lỗi, có thể ngăn cản Người: thụ tạo, trong một chuyển động bộc phát của tình yêu, được trả lại cho Người; thụ tạo đã hiến dâng làm của lễ quà tặng mà Thiên Chúa đã làm cho chúng.

Kể từ ngày hiểu ra điều đó, tôi không còn nhắm mắt lúc truyền phép, ngược lại, tôi nhìn anh chị em tụ họp trước mắt tôi, hoặc nếu tôi cử hành một mình, trí tôi liên kết với những người tôi sẽ gặp trong ngày, mà tôi sẽ dành thời giờ cho họ, hoặc hướng tới cả Giáo hội, và hướng tới họ, tôi sẽ nói như Đức Giêsu: hãy cầm lấy mà ăn, này là mình tôi.

Tiếp đến, một số lời của thánh Augustinô khiến tôi hết nghi ngờ về giá trị của trực giác trên, làm chứng cho tôi là trực giác ấy đi đúng đường của truyền thống “tinh tuyền” nhất, cho dù giáo thuyết này bây giờ hơi bị lãng quên. Augustinô viết: “Tất cả thành đô được cứu chuộc, tức là cộng đoàn các thánh, được dâng cho Thiên Chúa làm của lễ chung, nhờ sự trung gian của Vị Thượng Tế, Đấng đã hiến mình trong cuộc khổ nạn vì chúng ta dưới hình hài một tôi tớ, để chúng ta làm thành thân thể của một Đầu quá vĩ đại. Giáo hội cử hành mầu nhiệm này trong bí tích bàn thờ được người tín hữu biết rõ; trong bí tích này chúng ta thấy rằng trong cái Giáo hội dâng thì chính là Giáo hội được dâng (in ea re quam offert, ipsa offertur)” (La Cité de Dieu X, 6).

Lặp lại giáo thuyết này, một huấn thị của Thánh Bộ Nghi Lễ đã nói: “Cử hành thánh lễ không chỉ là hành vi của Đức Kitô, mà còn là của Giáo hội. Quả thực, nơi Giáo hội, một đàng lưu truyền qua dòng thời gian và theo cách không đổ máu hy tế được thực hiện trên thập giá, đàng khác, nhờ thừa tác vụ linh mục, hy tế ấy được dâng cho Chúa Cha vì ơn cứu độ của thế giới. Giáo hội, hiền thê và tôi tớ Đức Kitô, khi cùng với Đức Kitô làm trọn vai trò là tư tế và tế vật, dâng Ngài cho Chúa Cha, đồng thời dâng mình hoàn toàn cùng với Ngài” (Eucharisticum Mysterium 3).

Vậy trong Thánh Thể, Giáo hội, cùng một lúc và trong mỗi chi thể, là người dâng và người được dâng. Không thể tách hai hành động và gán cho chúng như thể Giáo hội thừa tác (hàng tư tế) là Giáo hội dâng, và phần còn lại của Giáo hội, giáo dân, là Giáo hội được dâng; mỗi chi thể của Giáo hội lần lượt là tư tế và tế vật, dĩ nhiên vẫn tôn trọng sự khác biệt giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế phổ quát của mọi người được rửa tội. Vì sao? Vì Đức Giêsu, Đấng mà chúng ta liên kết, chính Ngài cùng lúc là tư tế và tế vật, “không lẫn lộn cũng không phân chia”: “Vì chúng ta, Ngài là tư tế, và trước mặt Chúa Cha, là hy tế: là tư tế chính vì là tế vật” (ideo sacerdos, qui sacrificium) (Augustinô, Conf. X, 43, 69). Chính đó là đặc tính độc nhất mà người ta không thể sao chép từ hy tế của Đức Kitô: đặc tính ấy có nguồn gốc từ mầu nhiệm ngôi hiệp của nhân tính và thần tính nơi một mình Đức Kitô. Do đó, trên bình diện cá nhân, là người duy nhất có tầm quan trọng cho sự thánh hóa chúng ta (trên bình diện thừa tác vụ thì không như vậy), một giám mục, một linh mục càng tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô, càng góp phần vào hy tế của Ngài; một người càng cùng với Đức Kitô hiến dâng mình cho Chúa Cha, càng thực sự hiến dâng Đức Kitô cho Chúa Cha. Nơi bàn thờ, linh mục hành động nhân danh Đức Kitô Thượng Tế, nhưng cũng nhân danh (in persona) Đức Kitô Tế Vật tối cao.

Cách nhìn việc truyền phép Thánh Thể này hoàn toàn rõ ràng và bảo đảm. Trên bàn thờ, chúng ta có hai thân thể Đức Kitô: thân thể thật sự (“sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria”, đã sống lại và lên trời) và thân thể mầu nhiệm là Giáo hội. Như vậy, trên bàn thờ, thân thể thật sự của Ngài hiện diện thật cũng như thân thê thể mầu nhiệm của Ngài hiện diện cách mầu nhiệm: cách mầu nhiệm, do vĩnh viễn kết hợp với Đầu. Không có lẫn lộn nào giữa hai cách hiện diện rất khác nhau, nhưng cũng không có tách biệt nào cả. Lễ dâng của ta và của Giáo hội mà không có lễ dâng của Đức Giêsu sẽ không là gì hết; không thánh thiện, không đẹp lòng Thiên Chúa, vì chúng ta chỉ là những thụ tạo tội lỗi; nhưng lễ dâng của Đức Giêsu mà không có lễ dâng của Giáo hội là thân thể Ngài, cũng sẽ không đủ (chúng ta cần hiểu cho đúng: không đủ cho việc cứu độ thụ động, nói khác đi: để lãnh nhận ơn cứu độ; chứ không phải cho việc cứu độ năng động mang lại ơn cứu độ), vì quả thực Giáo hội, cùng với thánh Phaolô, có thể nói: tôi bổ khuyết nới thân xác tôi những gì còn thiếu cho cuộc khổ nạn của Đức Kitô (x. Cl 1,24).

Vì trên bàn thờ có hai của lễ và hai hiến vật: một sẽ trở nên mình và máu Đức Kitô (bánh và rượu), và một sẽ trở nên thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, nên trong thánh lễ, chúng ta có hai epiclesis hay hai lời khẩn nguyện với Chúa Thánh Thần. Trong lời khẩn nguyện thứ nhất, chúng ta khiêm tốn nài xin Chúa “sai Thánh Thần đến thánh hóa những của lễ này để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô” ; sau truyền phép là kinh khẩn nguyện thứ hai: “được đầy tràn Thánh Thần, xin cho chúng con trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô…Xin Chúa Thánh Thần biến đổi chúng con thành của lễ muôn đời dâng hiến Chúa”.

Từ đây, chúng ta biết Thánh Thể làm nên Giáo hội như thế nào: Thánh Thể làm nên Giáo hội bằng cách làm cho Giáo hội trở thành một thánh thể. Một cách chung chung, Thánh Thể không chỉ là nguồn mạch sự thánh thiện của Giáo hội hay sự nghiệp của Giáo hội, mà còn là “mô thức”, kiểu mẫu của sự thánh thiện đó. Sự thánh thiện của người Kitô hữu phải được thực hiện dựa trên “mô thức” Thánh Thể; nó phải là sự thánh thiện thánh thể. Người Kitô hữu không thể chỉ bằng lòng với việc cử hành Thánh Thể, họ phải  thánh thể với Đức Giêsu.

“Này là Mình Thầy, này là Máu Thầy”

Từ giáo thuyết trên đây, chúng ta có thể rút ra những kết quả thực tiễn cho đời sống thường ngày của chúng ta. Nếu khi truyền phép, chính chúng ta nữa, chúng ta cũng nói với các anh chị em: Hãy cầm lấy mà ăn, vì này là mình tôi, hãy cầm lấy mà uống, vì này là máu tôi, chúng ta phải biết đâu là ý nghĩa của “mình” và “máu”, để biết những gì chúng ta hiến dâng.

Vậy Đức Giêsu đã muốn ban gì trong bữa Tiệc ly khi Ngài nói: Này là mình Thầy? Theo Kinh Thánh, thuật ngữ “mình” không chỉ một thành tố hay một thành phần của con người, kết hợp với những thành tố khác là linh hồn và tinh thần, để làm nên con người toàn vẹn. Chúng ta lý luận như thế với tư cách là những người kế thừa văn hóa Hy lạp, xét con người ở ba cấp độ: thân xác, linh hồn và tinh thần (tricotomisme). Trong ngôn ngữ của Kinh thánh, của Đức Giêsu và Phaolô, thân xác chỉ con người toàn diện, sống đời sống của mình trong một thân xác, trong điều kiện thân xác và phải chết. Trong Phúc Âm thứ tư, Gioan dùng từ “xác thịt” thay cho “thân xác” (“nếu các ngươi không ăn thịt Con người…”) và từ này, được sử dụng trong chương 6 của Phúc Âm, rõ ràng có cùng nghĩa như trong chương thứ nhất: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt”, tức người phàm. Vậy thân xác chỉ tất cả cuộc sống con người. Khi Đức Giêsu lập phép Thánh Thể, Ngài đã ban tặng tất cả cuộc sống của mình, từ giây phút nhập thể đầu tiên tới lúc cuối cùng, với tất cả những gì choán đầy cuộc sống này: thinh lặng, mồ hôi, mệt nhọc, cầu nguyện, chiến đấu, nhục nhã…

Đức Giêsu còn nói thêm: Này là máu Thầy. Còn có gì thêm trong từ “máu”, nếu trong thân xác, nó đã cho chúng ta tất cả sự sống? Cái chết! Sau khi đã ban cho chúng ta sự sống, Ngài còn ban cho chúng ta cái quý nhất trong sự sống là cái chết của Ngài. Quả thực theo Kinh Thánh, thuật ngữ “máu” không chỉ một thành phần của thân xác, một phần của một phần con người; nó chỉ một biến cố: sự chết. Nếu máu là trung khu của sự sống (như người ta nghĩ), sự kiện nó “đổ ra” là dấu chỉ cụ thể hóa của cái chết. “Ngài vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Ngài yêu thương họ đến cùng” Ga 13,1). Thánh Thể là mầu nhiệm thịt và máu Chúa, nói cách khác, mầu nhiệm sự sống và sự chết của Chúa.

Giờ đây, liên hệ đến chúng ta, chúng ta phải hiến dâng gì, khi cùng một lúc với Đức Giêsu, chúng ta hiến dâng mình và máu chúng ta trong Thánh lễ. Chúng ta dâng như Đức Giêsu: sự sống và sự chết của ta. Qua thuật ngữ “mình”, chúng ta dâng tất cả những gì góp phần làm nên cuộc sống chúng ta trong thân xác này: thời giờ, sức khỏe, năng lực, sở trường, tình cảm, dù chỉ là một nụ cười, nhưng tâm trí trong sáng và rất thường là một hạt ngọc vô giá. Thuật ngữ “máu” cho phép chúng ta nói lên sự hiến dâng cái chết của chúng ta; không nhất thiết phải chết vĩnh viễn, tử đạo vì Chúa và vì các anh chị em; thuộc về cái chết tất cả những gì ngay từ lúc này chuẩn bị nơi ta sự chết của ta và dự báo cái chết đó: nhục nhã, thất bại, bệnh tật và khuyết tật, nghèo nàn vì bị giới hạn bởi tuổi già, sức yếu, tất cả những gì làm ta “chết”. Như ta đã nghe, khi thánh Phaolô khuyên chúng ta hiến dâng “thân xác” mình, thì nơi ngài, thuật ngữ “thân xác” không chỉ giác quan và những ước muốn xác thịt mà thôi, nhưng là tất cả con người của ta, linh hồn và thân xác; hơn thế nữa, linh hồn, ý muốn, trí khôn. Quả thực, đây là điều ngài nói thêm: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổ mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2).

Đó là những đòi hỏi đang chờ đợi chúng ta khi tan thánh lễ ra về: chúng ta phải bắt tay vào việc để lời nói của chúng ta trở thành hành động, phải cố gắng hết sức, dù chúng ta còn nhiều hạn chế, hiến dâng “thân xác” cho anh chị em chúng ta: thời giờ, sức lực, sự lắng nghe, nói tắt là đời sống chúng ta. Khi Đức Giêsu nói: “Hãy cầm lấy…này là mình Thầy; hãy cầm lấy…này là máu Thầy, Ngài mau mắn giữ lời hứa: mấy giờ sau, Ngài đã ban cho chúng ta sự sống và máu của Ngài trên thập giá. Nếu không, tất cả đều như gió thoảng, một lời nói dối trá. Sau khi đã nói với các anh chị em: hãy cầm lấy mà ăn…, chúng ta phải để mình bị ăn trong thực tế, nhất là do những người không biết ăn cho khéo léo và tế nhị như chúng ta mong muốn. Hãy nhớ lại lời Đức Giêsu nói: nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, nếu anh em chào hỏi kẻ chào hỏi mình, nếu anh em mời những người chờ được anh em mời lại, thì anh em nào có công gì ? Mọi người đều làm như thế (x. Mt 5,47).

Trên đường đi Rôma để chịu chết, thánh Ignatiô Antiokia viết: “Tôi là hạt lúa mì của Đức Kitô: chớ gì tôi được răng thú dữ nghiền nát để trở thành bánh tinh tuyền cho Chúa”. Mỗi người chúng ta, nếu coi chừng tất cả những gì chung quanh, cũng sẽ có chút kinh nghiệm về sự độc dữ: những chỉ trích, mâu thuẫn, đối kháng công khai hay thầm kín, những dị biệt quan điểm với những người thân cận, những khác biệt về tính tình. Chúng ta nên tỏ ra biết ơn về sự giúp đỡ của những anh chị em như thế; họ vô cùng hữu ích cho chúng ta hơn là những người đồng ý với ta trong mọi chuyện, phỉnh nịnh chúng ta. Cũng thánh Ignatiô tử đạo còn viết ở chỗ khác: “Những người ca ngợi tôi là những người lên án tôi” (Tralliens 4).

Thử tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta tham dự thánh lễ theo cách cá nhân nhất, nếu mọi người chúng ta, vào lúc truyền phép, thực sự đọc to hay đọc thầm, theo tác vụ được gán cho mỗi người: hãy cầm lấy mà ăn. Chúng ta tưởng tượng coi…Một người mẹ trong gia đình tham dự như thế thì khi trở về nhà, bà bắt đầu một ngày với cả ngàn chuyện vặt vãnh; cuộc đời của bà theo đúng nghĩa là một sự xé vụn: chính là một thánh thể kết hợp với Đức Giêsu. Một nữ tu sống thánh lễ như thế thì cũng trở về với công việc thường ngày: trẻ em, người bệnh, người già. Cuộc sống của chị có thể chồng chất cả ngàn chuyện vặt vãnh, chiều về, không để lại một dấu vết nào, một ngày mất toi. Nhưng không phải vậy, chính là một thánh thể, đã “cứu” cuộc sống riêng của chị. Một linh mục, một cha sở, phương chi một giám mục cử hành thánh lễ như thế rồi ra đi: cầu nguyện, giảng dạy, giải tội, tiếp khách, thăm bệnh nhân, lắng nghe; ngày sống của ngài cũng là một thánh thể.

Đức Giêsu vẫn là một trong nghi thức bẻ bánh, thì cũng vậy, một đời sống hao mòn theo cách ấy vẫn giữ được sự duy nhất, không bị phân tán, và điều giữ cho nó được duy nhất, chính vì nó là thánh thể. Gioan vẫn là một trong việc bẻ bánh, vẫn là một khi ngài hiến thân chia sẻ. Một bậc thầy tu đức nói: “Ban sáng, khi tôi cử hành thánh lễ, chính tôi là tư tế và Đức Kitô là tế vật. Nhưng suốt ngày, chính Đức Giêsu là tư tế và tôi là tế vật” (cha Olivaint). Một linh mục noi gương “Mục Tử tốt” là như vậy, vì ngài thực sự ban mình cho các chiên của ngài.

Đừng quên rằng, khi nói điều đó, chúng ta cũng hiến dâng “máu” của ta, tức những chịu đựng và hãm mình của chúng ta. Đó là phần tốt nhất Thiên Chúa dành cho bất cứ ai trong Giáo hội cảm thấy có nhu cầu hơn. Chính trong sự bất lực của chúng ta đi làm điều chúng ta muốn nhất, mà chúng ta có thể gần hơn với Bánh Thánh, Đức Kitô. Sau khi sống lại, Đức Giêsu nói với Phêrô: “Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tùy ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng, và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn. Người nói vậy có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa” (Ga 21,18-19). Trước đó, Ngài đã nói với Phêrô ba lần: Hãy chăn dắt các chiên của Thầy, nhưng vào lúc này, Ngài giúp ông hiểu rằng chính bằng cái chết mà ông sẽ tôn vinh Thiên Chúa nhất.

Vì Thánh Thể, trên thế giới sẽ không có những cuộc đời vô ích nữa; không một ai còn nói: “Cuộc sống của tôi ích gì? Tại sao tôi được sinh ra?” Bạn được sinh ra vì một mục đích đẹp đẽ nhất: trở thành một hy tế sống động, một thánh thể cùng một lúc với Đức Giêsu.

Hãy đến với Chúa Cha

Có một bí mật: tự hiến hoàn toàn, không muốn giữ lại gì cho mình. Trên thập giá, Đức Giêsu là lễ dâng hoàn toàn, không một thớ thịt nào của thân xác, không một tình cảm nào của tâm hồn mà không hiến dâng cho Chúa Cha; trên bàn thờ có tất cả. Những gì giữ lại cho riêng mình đều mất hết, vì người ta chỉ có cái người ta cho đi. Thánh Phanxicô Assisi kết thúc một trang tuyệt diệu về thánh lễ, được ngài viết cho anh em linh mục họp tu nghị, ngài khuyên như sau: “Anh em thân mến, hãy nhìn xem sự khiêm nhường của Thiên Chúa và hãy mở rộng tâm hồn anh em ; anh em cũng hãy hạ mình để được đưa lên. Đừng giữ lại cho mình những gì là của anh em, để anh em đón nhận hoàn toàn Đấng hiến mình hoàn toàn cho anh em”. Tác giả sách Gương Chúa Giêsu Kitô đặt vào môi miệng Chúa những lời sau đây: “Vì con, Ta đã dâng hiến toàn thân cho Chúa Cha. Ta cũng đã ban hết thịt và máu Ta làm lương thực. Ta hoàn toàn là của con và vì thế con phải mãi mãi là của Ta. Còn nếu con dậm chân tại chỗ, nếu con không tự động hiến thân con như Ta muốn, lễ vật con dâng không đầy đủ. Bởi vậy giữa Ta và con mối dây hiệp nhất se sao cho chặt” (IV, 8). Điều người ta giữ lại cho mình, giữ lại cho mình một chút tự do liên hệ tới Thiên Chúa, sẽ làm hỏng tất cả. Theo thánh Gioan Thánh Giá, chính là một sợi chỉ nhỏ khiến chim không thể bay bổng.

Vì vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta đáp lại lễ dâng của Đức Kitô bằng lễ dâng của chính chúng ta, theo lời của tác giả sách Gương Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, mọi sự trên trời dưới đất đều thuộc về Chúa. Con ước ao hiến thân cho Chúa, hiến tự ý. Con muốn mãi mãi thuộc về Chúa. Với một tâm hồn đơn sơ, hôm nay con hiến thân cho Chúa, để mãi mãi phục vụ Chúa, theo mệnh lệnh Chúa, và luôn hy sinh cho vinh quang Chúa. Xin Chúa chấp nhận con làm một với lễ vật cực thánh, tức là Thánh Thể Chúa, trước mặt các thiên thần tham dự lễ tế này. Chớ gì lễ tế sinh nhiều kết quả cho con và cho toàn dân Chúa được cứu độ” (ibid., 9).

Nhưng tìm được sức mạnh tự hiến hoàn toàn như thế, ôm ngang lưng nhau, nếu có thể nói được như vậy, mà vươn lên tới Thiên Chúa, người ta tìm được ở đâu? Câu trả lời là: Chúa Thánh Thần. Kinh Thánh nói Đức Kitô hiến dâng mình cho Chúa Cha làm hy tế nhờ “Thần Khí vĩnh cửu” (Dt 9,14). Chúa Thánh Thần là khởi nguyên của mọi chuyển động đưa tới chỗ hiến mình; Người là “Quà Tặng” hoặc đúng hơn, “Đấng tự hiến”: trong Ba Ngôi, Người là hành vi của Chúa Cha ban mình cho Chúa Con và của Chúa Con cho Chúa Cha; trong lịch sử, Người là hành vi qua đó Thiên Chúa ban mình cho ta và, từ đây, ta cho Chúa Cha. Chính Người, trong tâm hồn Ngôi Lời nhập thể, tạo ra đà tiến đưa Ngài đến chỗ hiến dâng mình cho Chúa Cha vì chúng ta. Vì vậy, trong Thánh lễ, phụng vụ nài xin Người “làm cho chúng ta trở thành một hy lễ muôn đời đẹp lòng Thiên Chúa” (Kinh Nguyện Thánh Thể III).

Ở trên, tôi đã đề cập một câu của thánh tử đạo Ignatiô Antiokia. Tôi có bổn phận còn phải nhắc một câu khác ngài viết cho người Rôma, trong cùng lá thư trên. Để thuyết phục các Kitô hữu Rôma đừng làm gì để ngăn cản ngài chịu tử đạo, ngài thổ lộ cho họ một bí mật: “Nơi tôi có một dòng nước sinh sống thầm thì bên tai: Hãy đến với Chúa Cha !” Đó là tiếng nói của Thần Khí Đức Giêsu. Đức Giêsu một khi về bên Chúa Cha, từ đây có thể nói cho các môn đệ: Hãy đến, hãy làm cho con cùng với Ta làm thành một của lễ.

Chính Người, Thần Khí của Đức Kitô, đã gợi cho tông đồ Phaolô nói những lời chúng ta đã nghe lúc đầu : Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hay hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người.

Chương III: “AI ĂN TÔI SẼ NHỜ TÔI MÀ ĐƯỢC SỐNG”

Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc chịu lễ

Một triết gia vô thần đã phát biểu: “Con người là cái mà nó ăn”, một câu đáng cho ta lưu ý; ông có ý định nói cho ta biết, nơi con người, không có khác biệt về phẩm giữa vật chất và tinh thần, nhưng tất cả chỉ là đưa về thành tố hữu cơ và vật chất. Tuy vậy, một lần nữa, chính một người vô thần đã tìm ra cách trình bày tốt nhất một mầu nhiệm Kitô giáo, dù ông không biết việc mình làm. Qua Thánh Thể, người Kitô hữu thực sự là cái mà người đó ăn. Ngay từ xa xưa, thánh Lêô Cả đã viết: “Việc chúng ta dự phần vào mình và máu Đức Kitô không nhằm chuyện gì khác hơn là biến chúng ta thánh Đấng mà chúng ta ăn” (Serm. 12 sur la Passion 3, 7).

Nhưng chúng ta hãy nghe chính Đức Giêsu nói về vấn đề này: “Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy” (Ga 6,57). Trong câu này, giới từ “nhờ” chỉ hai chuyển động: một chuyển động ghi khởi điểm, một chuyển động ghi đích điểm. Ý nghĩa thế nào? Ai ăn thịt Đức Kitô thì sống “nhờ” Ngài, nghĩa là nhờ sự sống từ Ngài mà đến, và sống “cho” Ngài, nghĩa là cho vinh quang, tình yêu và Triều Đại của Ngài. Cũng như Đức Giêsu sống nhờ Chúa Cha và cho Chúa Cha, cũng vậy, khi chúng ta hiệp thông vào mầu nhiệm mình và máu Đức Giêsu, chúng ta sống nhờ Ngài và cho Ngài.

Các Giáo Phụ đã bình giải mầu nhiệm này dựa vào ví dụ lương thực nuôi thân xác. Theo các ngài, nguyên lý sống mạnh nhất biến đổi nơi mình nguyên lý nào yếu hơn, chứ không ngược lại: thực vật tiêu hóa khoáng vật, động vật tiêu hóa thực vật, tình thần tiêu hóa vật chất. Đức Giêsu nói với người đến lãnh nhận Ngài: “Không phải ngươi biến đổi Ta trong ngươi, nhưng chính Ta sẽ biến đổi ngươi trong Ta” (thánh Augustinô, Conf. VIII, 10). Chính lương thực, tự nó, không làm cho sống, không thể chuyển thông sự sống cho ta, nhưng người ta phải ăn vì nó là lý do làm cho sống, vì nó nuôi dưỡng sự sống đã có nơi thân xác ta. Ngược lại, bánh sự sống làm cho sống và ai lãnh nhận thì nhờ nó mà được sống thật.

Vì vậy, trong khi lương thực nuôi thân xác biến đổi thành người ăn nó, trong khi cá, bánh và mọi của ăn khác trở thành máu của con người, thì ở đây, tất cả đều ngược lại. Chính bánh sự sống hoạt động, tiêu hóa, và biến đổi thành nó người nào dùng nó. Chính chúng ta là những người bị Đức Kitô tác động, những người sống bằng sự sống làm linh hoạt Đức Kitô, do tước hiệu là đầu và trái tim của tất cả thân thể. Chính vì để giúp chúng ta hiểu chân lý này – Đức Kitô không nuôi sống ta theo kiểu những thực phẩm hư nát, nhưng vì Ngài có sự sống nơi Ngài, Ngài làm lan tỏa nơi ta sự sống ấy – mà Ngài hiến mình làm “bánh ban sự sống”, và nói thêm: “Ai ăn tôi sẽ nhờ tôi mà được sống” (cf. Cabasilas, La vie dans le Christ IV, 3).

Nói rằng trong việc chịu lễ Đức Giêsu “đồng hóa” ta với Ngài, có nghĩa cụ thể là Ngài làm cho tình cảm, ước vọng, cách suy tưởng của ta giống như của Ngài. Nói tắt, Ngài ban cho chúng ta “những tâm tình như chính Ngài” (x. Pl 2,5).

Đức Giêsu ban tràn đầy cho chúng ta như thế, vì Ngài thi hành chức năng như trái tim của nhiệm thể. Vai trò của trái tim trong bộ máy của chúng ta thực sự như thế nào? Từ mọi phần của thân thể, nó nhận được dòng máu “ô nhiễm”, cạn kiệt các yếu tố quan trọng, nhưng chứa đầy mọi thứ cặn bã độc hại của bộ máy; trong phổi, máu này tiếp xúc với ôxy, như thử qua lửa; được tái sinh và làm giàu bằng những chất bổ dưỡng như thế, nó không ngừng được trả lại cho mọi chi thể nhờ sức mạnh của trái tim. Cũng xảy ra như vậy trong lãnh vực thiêng liêng, cho Thánh Thể, trái tim của Giáo hội là Đức Kitô. Trong thánh lễ, Ngài nhận được dòng máu ô nhiễm từ khắp nơi. Lúc hiệp lễ, tôi đặt nơi Ngài tội lỗi của tôi, tất cả những gì ô uế trong tôi để được tẩy sạch, và Ngài đem lại cho tôi một dòng máu tinh sạch, máu của Ngài, máu của Con Chiên vô tì tích, đầy sự sống và thánh thiện, “phương dược bất tử” (saint Ignace d’Ant.).

Phải sống kinh nghiệm đó để hiểu được lời Kinh Thánh: “Máu Đức Kitô…thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa đến sự chết” (Dt 9,14), và: “Máu Đức Giêsu thanh tẩy chúng ta sạch hết mọi tội lỗi” (1Ga 1,7).

Thánh Thể thực sự là “trái tim” của Giáo hội, theo một nghĩa chắc chắn thực tiễn hơn là chúng ta thường nghĩ.

Hiệp thông vào Mình và Máu Đức Kitô

Trong Thánh Thể, chính xác chúng ta hiệp thông với ai và với cái gì? Theo thánh Phaolô: “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Kitô ư? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?” (1Cr 10,16).

Chúng ta thường giải thích những lời trên như sau: chúng ta hiệp thông với tất cả thực tại Đức Kitô, qua những yếu tố khác nhau làm nên thực tại đó: mình Ngài, máu Ngài, linh hồn và thần tính của Ngài. Cách suy nghĩ này chịu ảnh hưởng của triết học Hy lạp và quan niệm của triết học này ở ba cấp độ : thân xác, linh hồn và tinh thần. Khi đó phải chăng người ta không làm sáng tỏ tương quan từ ngôi vị này đến ngôi vị kia, từ con người này đến con người kia, từ tất cả đến tất cả, tất cả đều trở thành thực tại trong hiệp lễ, theo cách trực tiếp và đơn giản. Theo ngôn ngữ Kinh thánh (chúng ta đã nói, nhưng tôi nhấn mạnh lại), những thuật ngữ mình và máu có một nghĩa cụ thể và lịch sử. Chúng muốn nói lên tất cả sự sống của Đức Kitô, hoặc đúng hơn: sự sống và sự chết của Ngài. Thân xác không được báo hiệu như một thành tố siêu hình của con người, nhưng đúng hơn, như một sự sống có điều kiện và sống trong một thân xác. Đây là về con người toàn vẹn, như trường hợp thuật ngữ “xác thịt” được Gioan sử dụng trong Phúc Âm của mình. Trong Thánh Thể, thân xác cho thấy Đức Kitô trong điều kiện của Ngài là tôi tớ, có thể phải đau khổ, nghèo khó và thập giá. Đức Kitô “trở thành xác thịt” (làm người) đã chịu khó nhọc, đổ mồ hôi, đau khổ, cầu nguyện, ở giữa chúng ta.

Cũng vậy là từ “máu”: không phải nó phân biệt một khía cạnh trong một bộ phận của con người (máu thuộc về thân xác), nhưng nó chỉ ra một thực tại cụ thể hoặc một biến cố cụ thể là cái chết; không phải một cái chết nào đó, nhưng một cái chết dữ dội và, theo ngôn ngữ hy tế của giao ước, một cái chết đền tội (x. Xh 24,8).

Từ đó mà có một hệ quả quan trọng: không một thời điểm hay một kinh nghiệm nào trong cuộc đời Đức Giêsu mà chúng ta không thể làm sống lại và chia sẻ, khi chúng ta lên chịu lễ. Quả thực tất cả cuộc đời của Ngài đều là hiện diện trong mình và máu. Một kiểu nói của Phaolô cho thấy tổng hợp mầu nhiệm thập giá Đức Kitô: “Ngài đã hủy mình ra không” (Pl 2,7). Như vậy, mỗi thánh lễ có thể hoàn toàn được lời này soi sáng, đặc biệt nếu là về cử hành hay dự một thánh lễ lúc mà chúng ta phải chịu một điều thiệt hại gây ra cho chúng ta và chúng ta chống lại, hoặc khi vâng lời làm ta khó sống. Khi đó, chúng ta có thể nói: Đức Giêsu đã hủy mình ra không, đến lượt tôi, tôi cũng phải hủy mình ra không, khi chết cho tôi và cho những “lý lẽ” của tôi. Đó chính là một hành vi đích thực hiệp thông với Đức Kitô.

Tùy theo những tâm thái bên trong của ta hay những nhu cầu lúc đó, chúng ta có thể đến gần Đức Giêsu và đứng bên cạnh Ngài khi Ngài cầu nguyện, lúc Ngài bị cám dỗ, đang mệt nhọc, khi chết trên thập giá, cả lúc Ngài sống lại nữa. Đó không phải là một loại tưởng tượng trong trí, nhưng chính vì Đức Giêsu vẫn đang sống ngày hôm nay, cho dù không sống trong xác thịt, nhưng trong Thần Khí.

Kết hợp với Chúa, chính là cùng với Ngài làm nên một Thần Khí duy nhất

Trong những bài nhiệm huấn của thánh Cyrillô Giêrusalem, chúng ta đọc thấy: “Dưới hình bánh, thịt được ban cho bạn, dưới hình rượu, máu được ban cho bạn, để khi tham dự vào thịt và máu Đức Kitô, bạn trở thành một thân thể và một máu huyết với Đức Kitô” (Cat. myst. IV, 3, SCh 126, p. 137). Đó là một ngôn ngữ dũng cảm, nhưng các Giáo Phụ biết mình không phóng đại. Thật ra, việc chịu lễ có một chiều sâu đến độ vượt thắng mọi thứ loại suy của con người. Đức Giêsu lấy cây nho và ngành nho làm ví dụ; chắc chắn đây là một sự kết hợp rất chặt chẽ. Cây nho và ngành nho chia sẻ cùng một nhựa, cùng một sự sống. Tách khỏi cây nho, ngành nho sẽ chết. Nhưng cả cây nho lẫn ngành nho đều không “ý thức” điều liên kết chúng, vì chúng không có linh hồn. Đôi khi người ta thêm ví dụ về vợ chồng: kết hợp với nhau, vợ chồng làm nên “một xương một thịt” (đây có lẽ là loại suy mạnh nhất). Nhưng chúng ta lại đang ở trên một bình diện khác thấp kém hơn nhiều: bình diện xác thịt chứ không phải tinh thần. Hai vợ chồng có thể làm nên một xương một thịt, nhưng không làm nên một tinh thần duy nhất, trừ khi hiểu theo nghĩa luân lý. Trái lại, “Ai đã kết hợp với Chúa, thì nên một tinh thần với Người” (1Cr 6,17). Chính đó là sức mạnh của chịu lễ. Khi chịu lễ, chúng ta trở nên một tinh thần với Đức Giêsu, và “tinh thần duy nhất” này là Chúa Thánh Thần. Theo thánh Basiliô, Chúa Thánh Thần làm ta được thân mật với Thiên Chúa (Spir. S. 19), Thánh Irênê nói thêm: Chúa Thánh Thần là “sự hiệp thông của chúng ta với Đức Kitô”. Theo kiểu nói của nhà thần học hiện nay, H. Mulhen, Thần Khí là sự “trực tiếp” trong mối tương giao của chúng ta với Đức Kitô, theo nghĩa Người là trung gian giữa Đức Kitô và ta, không vì vậy mà tạo ra một vách ngăn nào, không có gì xen giữa Đức Giêsu và ta, vì Đức Giêsu và Chúa Thánh Thần (cũng như Đức Giêsu và Chúa Cha) chỉ làm nên “một”.

Khi ta chịu lễ, Đức Giêsu đến với ta để ban cho ta Thần Khí, không phải như Đấng đã ban Thần Khí ngày xưa, nhưng như Đấng “trao Thần Khí” (x. Ga 19,30) sau khi đã hoàn tất hy tế không đổ máu trên bàn thờ. Bằng cách này Đức Giêsu cho chúng ta dự phần vào sự xức dầu thiêng liêng của Ngài lan tỏa qua chúng ta; nói đúng hơn, Ngài dìm chúng ta vào trong dầu ấy: “Đức Kitô trào ra trong ta và kết hợp với ta, bằng cách thay đổi ta và biến đổi ta trong Ngài, như một giọt nước mất hút trong một đại dương bao la đầy hương thơm. Đó là những kết quả mà hương thơm này tạo ra nơi những người bắt gặp nó. Nó không chỉ xức thơm những người đó, không, nó biến đổi bản thể riêng của họ trong hương thơm này, hương thơm đã được đổ tràn ra cho chúng ta: Chúng ta là hương thơm của Đức Kitô (2Cr 2,15)” (Cabasilas, op. cit. IV, 3).

Quanh bàn tiệc Thánh Thể, sự “say sưa chừng mực Thần Khí” trở thành thực tại. Bình giải một đoạn văn trong sách Diễm ca, thánh Ambrosiô viết: “Anh đã ăn mật, ăn cả tảng mật ngọt (Dc 5,1). Bạn thấy chăng trong tảng mật này không có gì đắng đót, nhưng có tất cả sự ngọt ngào ? “Anh đã uống rượu với mật của anh” (ibid.). Bạn thấy chăng niềm vui đang nói không có tì tích nào làm nhơ bẩn? Là vì, mỗi khi bạn uống chén, bạn nhận được ơn thứ tha tội lỗi, và bạn say sưa thần khí. Đúng như thánh Tông Đồ nói: “Chớ say sưa rượu chè, nhưng hãy thấm nhuần Thần Khí” (Ep 5,18). Người say Thần Khí có thể nói được là đâm rễ trong Đức Kitô. Một sự say sưa thánh thiện là sự say sưa tạo ra sự điều độ trong tâm hồn” (De sacr. V, 17). Thánh Ambrosiô kêu lên trong thánh thi lừng danh mà ngày nay người ta vẫn còn đọc trong phụng vụ các giờ kinh: “Chúng ta hãy vui sướng được uống nước dư tràn chừng mực của Thần Khí” (laeti bibamus sobriam profusionem Spiritus).

Sự say sưa chừng mực không chỉ là một chủ đề thi vị, nhưng có nhiều ý nghĩa và sự thật. Sự say sưa luôn gây hiệu quả là làm cho con người ra khỏi chính mình. Nhưng khi mà trong cơn say vật chất (say rượu, say thuốc phiện) con người thoát khỏi chính mình để sống “dưới” phẩm chất của một hữu thể có lý trí, gần như theo cách thú vật, thì, nếu là về say sưa thiêng liêng, con người ra khỏi mình để sống “trên” lý trí, ở chân trời của Thiên Chúa. Mọi chịu lễ cuối cùng sẽ trở thành một sự xuất thần, nếu chúng ta không hiểu là những hiện tượng lạ lùng nhưng ngẫu nhiên, đôi khi dành riêng cho các nhà thần bí, nhưng theo đúng nghĩa là sự ra khỏi (extasis) con người của cái tôi, và nói như Phaolô, là “không còn phải là tôi sống nữa”.

Điều các Giáo Phụ muốn hiểu qua biểu tượng say sưa, thì thánh Tôma Aquinô diễn tả bằng những hạn từ hợp lý hơn. Ngài nói : Thánh Thể là “bí tích tình yêu” (sacramentum caritatis) (x. S.Théol. III, q.78, a.3). Ngài giải thích : Sự kết hợp với Đức Kitô hằng sống chỉ có thể xảy ra trong tình yêu; thực sự, tình yêu là thực tại duy nhất cho phép hai hữu thể sống kết hợp với nhau, mỗi hữu thể vẫn là chính mình, để làm nên một. Nếu có thể nói Chúa Thánh Thần là sự “hiệp thông của chúng ta” với Đức Kitô, thì chính vì Người là Tình Yêu của Thiên Chúa. Sự chịu lễ nào không được thực hiện bằng một hành vì yêu thương đều bất toàn; tôi không tự hiến hoàn toàn và không dè dặt cho Đức Kitô là Đấng đã hiến mình cho tôi vào lúc tôi đến nói với Ngài bằng tấm lòng đơn sơ và chân thành, như Phêrô: Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa (x. Ga 21,16).

“Con ở trong họ và Cha ở trong con”: hiệp thông với Chúa Cha

Cuối cùng, trong việc chịu lễ, nhờ Đức Giêsu và Thần Khí của Ngài, chúng ta cũng gặp được Chúa Cha. Trong “lời kinh tế hiến”, Đức Giêsu thưa với Chúa Cha: “Để họ được nên một như chúng ta là một. Con ở trong họ và Cha ở trong con” (Ga 17,23). Những từ: “con ở trong họ như Cha ở trong con” muốn nói rõ Đức Giêsu ở trong chúng ta như Chúa Cha ở trong Ngài. Thế nên không thể lãnh nhận Chúa Con mà đồng thời không lãnh nhận Chúa Cha. Lý do cuối cùng là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần có cùng một bản tính thần linh không thể tách rời. Các Ngài chỉ là một. Một ghi chú của thánh Hilariô đã làm nổi bật vấn đề này: “Chúng ta kết hợp với Đức Kitô, Đấng không tách khỏi Chúa Cha, nhưng là Đấng, tuy ở trong Chúa Cha, nhưng vẫn kết hợp với chúng ta. Chúng ta cũng đi đến chỗ hiệp nhất với Chúa Cha theo cách ấy. Quả thực, Đức Kitô ở trong Chúa Cha theo cách đồng bản tính, vì Ngài được Chúa Cha sinh ra; nhưng một cách nào đó, qua Đức Kitô, cả chúng ta cũng ở trong Chúa Cha theo cách đồng bản tính. Đức Giêsu sống nhờ Chúa Cha, còn chúng ta, chúng ta sống nhờ nhân tính của Ngài” (De Trinitate VIII, 13-16; PL 10, 246 tt.).

Để xác định rõ hơn về phương diện thần học, chúng ta nói Đức Giêsu Kitô, Chúa Con, hiện diện theo bản tính trong Thánh Thể (nói cách khác: chính hai bản tính thần linh và nhân loại ở đó), và Ngài cũng hiện diện theo ngôi vị (vì là Ngôi Hai); Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, một cách trực tiếp, chỉ hiện diện theo bản tính (vì sự hiệp nhất của bản tính thần linh), nhưng một cách gián tiếp, tức vì sự tương nhập (périchorèse, circumincession) của các ngôi, sự hiện diện của các Ngài cũng là theo ngôi vị. Mỗi ngôi trong Ba Ngôi thực sự bao gồm hai ngôi kia.

Đôi khi các thánh có kinh nghiệm, do đã sống kinh nghiệm đó, về cả Ba Ngôi hiện diện trong Thánh Thể, điều mà thần học quả quyết như một nguyên lý. Người ta đọc thấy trong Nhật ký của một nhà thần bí lớn, thánh nữ Vêronica Giuliani: “Trong bí tích Thánh Thể, tôi dường như thấy Thiên Chúa Ba Ngôi và duy nhất như ngự trên ngai: Chúa Cha trong sự toàn năng của Người, Chúa Con trong sự khôn ngoan của Người, Chúa Thánh Thần trong tình yêu của Người. Mỗi lần tôi chịu lễ, linh hồn và trái tim tôi trở thành đền thờ của Ba Ngôi chí thánh. Và khi Thiên Chúa đến trong tôi, thì cả thiên đàng cũng đến đó. Khi nhìn thấy Thiên Chúa giam mình trong Bánh Thánh, suốt cả ngày tôi ở trong tình trạng ngất trí vì tôi cảm thấy hạnh phúc. Cho dù tôi phải lấy mạng sống để minh chứng cho sự thật này, tôi cũng sẽ làm điều đó cả ngàn lần” (Diario III, 928. 1048).

Như vậy, chúng ta đi vào một sự hiệp thông mầu nhiệm, nhưng thật sự và sâu xa, với cả Ba Ngôi: với Chúa Cha, nhờ Chúa Con, trong Chúa Thánh Thần. Tất cả Ba Ngôi hiện diện quanh bàn thờ một cách vô hình. Chính đó là ý nghĩa của bức icône nổi tiếng của A. Rublev về Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, được biểu thị tượng trưng bằng ba thiên thần hiện ra với Abraham dưới gốc cây sồi ở Mambrê, tạo nên một thứ vòng tròn thần bí quanh bàn thờ và dường như nói với những ai chiêm ngắm: hãy là một như chúng ta là một.

Thiên Chúa đã đặt thân thể Ngài trong bàn tay chúng ta

Việc chịu lễ mở rộng trước mắt chúng ta như những cửa lần lượt đưa chúng ta vào trước hết là trong trái tim Đức Kitô, rồi nhờ Ngài mà đi vào trong trái tim Ba Ngôi. Nhưng trước một sự hạ cố quá lớn lao không thể ngờ được của Thiên Chúa, chúng ta lại cảm thấy buồn. Chúng ta làm gì với thân thể Đức Kitô. Có một hôm, lúc chịu lễ, tôi cảm thấy rúng động bởi một bài thánh ca hay, trong đó có câu được lặp đi lặp lại như một thứ điệp khúc: “Thiên Chúa đã đặt thân thể Người trong bàn tay chúng ta, Thiên Chúa đã đặt thân thể Người trong bàn tay chúng ta”. Thình lình, tôi cảm thấy như có một nỗi đau trong lòng: Thiên Chúa đã đặt thân thể Người trong bàn tay chúng ta, còn chúng ta, chúng ta làm gì với thân thể của Thiên Chúa? Và tôi đã không thể cầm hãm tiếng kêu này trong nơi sâu thẳm của tôi: Chúng tôi đã bạo hành với thân thể đó. Chúng tôi đã bạo hành với thân thể đó. Bằng cách nào? Ngài đã tự nguyện đến trên bàn thờ và trong tâm hồn ta, mà chúng ta lạm dụng. Chúng ta “buộc” Ngài hàng ngày làm cử chỉ tuyệt đỉnh yêu thương này, trong khi chúng ta không yêu mến, thường chia trí quá đáng, và chính như thế mà chúng ta bạo hành với Ngài. Phải đầy tế nhị dịu hiền biết bao đối với một người hoàn toàn nhỏ bé không được bảo vệ; chúng ta thì ngược lại, tỏ ra thô lỗ tầm thường biết bao với Đức Giêsu, Đấng không được bảo vệ trước chúng ta, và đây chính là một mầu nhiệm. Thánh Phanxicô Assisi kêu lên: “Anh em hãy xem, hàng ngày Ngài hạ mình xuống trên bàn thờ, như Ngài đã làm điều đó khi từ ngai vàng, Ngài hạ cố xuống trong lòng Đức Trinh Nữ”.

Vì vậy, chúng ta không thể chịu lễ nếu không có sự khiêm nhường của một tâm hồn thống hối. Cũng chính thánh Phanxicô còn nói với chúng ta: “Anh em hãy nghe, nếu Đức Thánh Trinh Nữ đã nhận được bao nhiêu vinh dự – và điều này là công bình – vì Người đã cưu mang Ngài trong lòng dạ rất tinh tuyền, nếu thánh Gioan Tẩy Giả nhảy mừng, và không dám đặt tay trên đầu Chúa, nếu người ta tôn kính ngôi mộ nơi Chúa nghỉ yên trong một thời gian vắn, thì người lãnh nhận Ngài trên đôi tay, trên môi miệng, trong lòng và mang Ngài cho người khác lãnh nhận, người đó phải thánh thiện, công chính, xứng đáng biết bao nhiêu. Hẳn là điều khốn khổ và bất hạnh khủng khiếp, nếu khi Ngài đang hiện diện nơi anh em, anh em lại bận tâm đến chuyện gì khác ở thế gian. Chớ gì con người hãy lo sợ, vũ trụ hãy run rẩy và tầng trời hãy nhảy mừng, khi Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, ở đó, trên bàn thờ, trong đôi bàn tay của linh mục. Anh em thân mến, anh em hãy chiêm ngắm sự khiêm nhường của Thiên Chúa, hãy mở lòng anh em cho Ngài; anh em hãy khiêm nhường để Ngài nâng anh em lên” (Thư cho tổng tu nghị).

Ý thức về sự cao cả của mầu nhiệm mà chúng ta lãnh nhận, vượt quá sự xứng hợp của chúng ta để đón nhận, nếu chúng ta nài xin, bạn hữu của chúng ta trên trời – Đức Maria, các thiên thần, các thánh mà chúng ta yêu mến – sẵn sàng đến giúp đỡ chúng ta. Cùng với các ngài chúng ta có thể nói rất đơn sơ, nhưng cương quyết, gần giống như người mà Phúc Âm đề cập: ông ta phải tiếp một người bạn nửa đêm đến nhà và không có gì cho người ấy, ông ta không ngại đánh thức một người láng giềng quen biết để xin bánh cho người bạn kia (x. Lc 11,5 tt). Phần chúng ta, chúng ta có thể xin với những người thờ phượng hoàn hảo trên trời sự tinh tuyền của các ngài, lời ca ngợi, sự khiêm nhường, tâm tình biết ơn vô hạn của các ngài đối với Thiên Chúa, để Đức Giêsu tìm thấy những điều ấy nơi ta, khi Ngài đến viếng thăm lúc ta chịu lễ. Các thánh, đứng đầu là Đức Maria, thích hành động như thế. Điều này có thể nhờ tín điều các thánh thông công. Các ngài muốn điều đó vì các ngài yêu chúng ta và yêu mến Đức Giêsu. Thử tưởng tượng các ngài từ chối coi. Theo tôi, khi đó người ta đua nhau trên thiên đàng bằng một thứ ghen tương nào đó vì những lời kêu gọi tương tự.

Khi chúng ta chịu lễ, Thiên Chúa ở đó cách viên mãn, và khi ấy không có gì là không thể: những ước ao giản dị, thậm chí trẻ con, được coi là những quyền do sự hào phóng toàn năng của Thiên Chúa. “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta, lẽ nào Thiên Chúa lại chẳng rộng ban tất cả cho chúng ta?” (Rm 8,32). Nếu một ông vua thuận cho con trai mình đi thăm một người nghèo trong khu nhà ổ chuột của người này, ông có sẽ từ chối người nghèo này một đồ trang trí nào đó hay những bông hoa để làm cho khung cảnh bớt thảm hại hay làm cho việc tiếp đón bớt bất tiện chăng? Chúng ta có thể nói thêm nữa theo kiểu trẻ em, và vào lúc chịu lễ, hình dung sự “ngạc nhiên” của Đức Giêsu đang mong tìm thấy nơi ở thảm hại thường ngày, khi Ngài đến giữa chúng ta; trái lại, Ngài đang đứng trước chính vẻ huy hoàng của tầng trời, nơi mà từ đó Ngài đến.

Chỉ cần chúng ta trông đợi. Đức Maria và các thánh đánh giá rất quan trọng những gì chạm đến trái tim của Vua trên trời. Chính vì vậy, thực đáng buồn và ngượng ngùng biết bao khi, giữa ngày sống, thình lình bạn nhận ra là các ngài đã đến, đã trang hoàng nhà cửa của người nghèo, nhưng chủ nhà lại đi ra ngoài từ sáng sớm và không trở về.

Tôi cho rằng chính là một hồng ân cứu độ cho một người Kitô hữu trải qua thời kỳ mà người đó sợ không dám lên chịu lễ, sợ nghĩ tới điều đang xảy ra làm cho họ run rẩy, thời kỳ mà họ không ngừng lặp lại như Gioan Tẩy Giả: “Có phải chính Ngài đang đến với tôi?” (Mt 3,14). Chúng ta không thể lãnh nhận Thiên Chúa với tư cách Thiên Chúa, tức là vẫn bảo vệ cho Người sự thánh thiện và oai nghiêm của Người. Chúng ta không thể thuần hóa Thiên Chúa. Giáo hội, khi giảng dạy – giờ đây việc chịu lễ trở thành một thói quen quá “dễ dàng” – hẳn không phải ngại nói với giáo dân đôi khi bằng ngôn từ của thư Do thái: “Anh em đã chẳng tới một quả núi sờ thấy được có lửa đang cháy, mây mù, bóng tối và dông tố, có tiếng kèn vang dậy, và tiếng nói thét gầm, khiến những người nghe phải van xin đừng để lời ấy thốt ra với họ nữa, vì họ không chịu nổi những lời sau đây:…Cảnh tượng hãi hùng đến mức ông Môsê phải nói: Tôi kinh hoàng và run rẩy. Nhưng anh em đã tới núi Sion, tời thành đô Thiên Chúa hằng sống, là Giêrusalem trên trời, với con số muôn vàn thiên sứ. Anh em đã tới dự hội vui, dự đại hội giữa các con đầu lòng của Thiên Chúa, là những kẻ đã được ghi tên trên trời. Anh em đã tới cùng Thiên Chúa, Đấng xét xử mọi người…Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giêsu, và được máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh mẽ hơn cả máu Abel” (Dt 12,18-24).

Chúng ta biết Giáo hội sơ khai cảnh báo cộng đoàn phụng vụ lúc chịu lễ: “Ai thánh thiện, hãy tới gần. Ai không thánh thiện, hãy sám hối” (Didachè 10). Thánh Gioan Kim Khẩu, người có chuyện xích mích với một đám dân quen đối diện sự việc cách hời hợt, có thể nói là không bao giờ đề cập việc chịu lễ mà không dùng tính từ “kinh khủng” (friktos). Ngài viết: “Những mầu nhiệm Giáo hội thật kinh khủng, bàn thờ thật kinh khủng. Không có ơn Chúa giúp đỡ đặc biệt, một linh hồn không thể chịu đựng lửa của một lễ hy sinh như thế mà không hoàn toàn bị lửa đó tiêu diệt” (In John. hom. 46 ; De Sacerd. III, 4). Ngài còn nói là khi người Kitô hữu trở về từ bàn thánh, người đó giống như một con sư tử phun ra lửa: cái nhìn của người đó khiến ma quỷ chịu không nổi. Ít nhất một lần phải có kinh nghiệm về sự oai nghiêm kinh khủng của Thánh Thể, để sau đó hiểu đầy đủ lòng nhân từ thương xót của Thiên Chúa che giấu sự oai nghiêm của Người như một bức màn, sợ chúng ta tiêu biến.

Giáo hội: hiệp thông vào thân thể Đức Kitô

Trong bài suy niệm, chúng ta giới hạn vào chiều dọc của hiệp thông, tức hiệp thông với Thiên Chúa, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Trong bản văn nhắc lúc đầu, thánh Phaolô nói: “Khi ta cùng bẻ bánh thánh, đó chẳng phải là dự phần vào thân thể Người sao: bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy” (1Cr 10,16-17). Từ “thân thể” được nói tới hai lần trong bản văn; lần thứ nhất chỉ thân thể thực sự của Đức Kitô, lần thứ hai chỉ thân thể mầu nhiệm của Ngài là Giáo hội. Theo thánh Augustinô: “Vào lúc chịu khổ nạn, Chúa trong bí tích này đã ban cho chúng ta thịt và máu Ngài, làm cho chúng ta cũng trở thành thịt máu ấy. Là vì, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng là thân thể của Ngài, và như vậy, nhờ lòng thương xót của Ngài, chúng ta là cái mà chúng ta lãnh nhận. Anh em hãy nhớ lại một lát xem hạt giống đã như thế nào khi còn trong cánh đồng: đất làm nó nảy mầm, mưa nuôi dưỡng nó; rồi có người và công việc của ông ta: ông đưa nó đến sân, đập ra, sàng sẩy rồi cho vào kho; ông lấy số cần thiết để xay thành bột và nấu nướng, và chính như thế, cuối cùng nó trở thành bánh. Bây giờ, hãy nghĩ về anh em: anh em đã không hiện hữu, anh em đã được tạo dựng, đã được đặt trên sân của Chúa, được đập ra, nhờ sự vất vả của những “con bò” là những người đã loan báo Tin Mừng cho anh em. Khi là dự tòng, anh em như ẩn tàng trong kho lẫm; khi đích danh cam kết xin chịu phép rửa tội, anh em bắt đầu được sàng lọc bằng chay tịnh và trừ quỷ; cuối cùng anh em đến với nước, anh em được nhào nặn để trở nên một; rồi lửa của Chúa Thánh Thần nấu nướng anh em và anh em trở thành bánh của Chúa. Đó là cái mà anh em đã lãnh nhận. Anh em thấy đó, bánh được chuẩn bị là một; cũng vậy anh em cũng hãy là một trong tình yêu lẫn nhau, giữ cùng một đức tin, một đức cậy, một đức ái, mà không gì phân chia” (Sermo Collection Denis 6 ; PL 46, 834 tt).

Giáo hội, thân thể Đức Kitô, hình thành theo khuôn mẫu Bánh thánh. Giáo hội cũng chịu nhiều thăng trầm như Thánh Thể. Bánh thánh thực hiện sự hiệp nhất của các phần tử bằng cách biểu thị nó (cũng trong việc đó, bí tích “significando causat”). Trong lúc chịu lễ, “sự hiệp nhất của dân Chúa được biểu thị cách cụ thể và được thực hiện cách kỳ diệu” (GH 11). Nói khác đi, những dấu chỉ bánh và rượu diễn tả cách hữu hình điều gì (sự hiệp nhất nhiều hạt lúa và nhiều ngành nho), thì bí tích thực hiện điều đó cách nội tâm, trên bình diện thiêng liêng.

“Bí tích thực hiện”: tuy nhiên không phải chỉ mình nó, cũng không phải tự động, nhưng cùng với sự dấn thân của chúng ta. Khi tôi đến gần Thánh Thể, tôi không thể không quan tâm đến người anh chị em tôi; tôi không thể đẩy xa người đó, không đẩy xa đích thân Đức Kitô, và chính tôi lìa xa sự hiệp nhất. Người nào lúc chịu lễ tự phụ đang cháy lửa yêu mến Đức Kitô trong khi vừa mới xúc phạm hay làm tổn thương một người anh chị em, và làm điều đó mà không xin lỗi hoặc không có ý định xin lỗi người anh chị em, thì người đó giống như người lâu ngày gặp một người bạn, nhón gót chân lên hôn vào trán bạn để chứng tỏ tình cảm thắm thiết, nhưng lại không nhận ra rằng, khi làm điều đó, anh ta đang giẫm lên chân người bạn bằng đôi giày có đinh. Bàn chân của Đức Giêsu, chính là những chi thể của thân thể Ngài, đặc biệt những người nghèo khổ và hèn kém nhất. Những “bàn chân” đó là của Ngài, Ngài yêu thương và Ngài hẳn có thể kêu to cho người của chúng ta: ngươi có kính mến ta cũng vô ích.

Trong việc chịu lễ, Đức Kitô đến với tôi cũng là Đức Kitô không thể phân chia đang đi gặp người anh chị em tôi. Ngài liên kết chúng ta với nhau, nếu có thể nói được như thế, vào lúc Ngài liên kết tất cả chúng ta với Ngài. Có lẽ đó là ý nghĩa sâu sắc của cách diễn tả bắt gặp trong những tác phẩm của Tân Ước và của Giáo hội sơ khai: “Hợp nhất với nhau trong việc bẻ bánh” (Cv 2,42). Các Kitô hữu đã ý thức về sự hợp nhất của họ trong việc bẻ bánh; quả là nghịch lý khi hợp nhất trong hành vi phân chia, vì bẻ ra biểu thị phân chia. Đúng là như vậy: chúng ta hợp nhất trong sự phân chia, đúng hơn trong sự phân chia cùng một tấm bánh.

Ở trên, thánh Augustinô đã nhắc chúng ta rằng không thể có bánh nếu những hạt lúa làm nên bánh tiên vàn không được xay ra. Để được xay, không gì hữu hiệu hơn là bác ái huynh đệ, nhất là đối với những người sống đời cộng đồng: chịu đựng lẫn nhau, dù có khác nhau về tính tình, quan điểm, v.v. Đó như là một chiếc cối xay tinh luyện chúng ta ngày qua ngày, bỏ đi những chỗ xấu xí tự nhiên của chúng ta.

Từ đây chúng ta biết ý nghĩa của lời thưa Amen, và khi thưa Amen lúc chịu lễ, chúng ta biết mình nói với Đấng nào. Thừa tác viên nói: “Mình Thánh Chúa Kitô”, và chúng ta đáp: “Amen”. Chúng ta đáp Amen với thân thể rất thánh của Đức Giêsu, sinh bởi Đức Maria, đã chết vì ta, nhưng chúng ta cũng đáp Amen với thân thể mầu nhiệm là Giáo hội, và một cách cụ thể là những anh chị em quanh chúng ta trong cuộc sống hoặc nơi bàn tiệc. Không thể tách hai thân thể, đón nhận thân thể này mà không đón nhận thân thể kia. Đáp Amen với nhiều anh chị em, có lẽ với phần đông, chắc hẳn không quá khó, nhưng trong số họ, luôn sẽ có người làm ta đau khổ, bất kể đó là lỗi của họ hay lỗi của ta ; luôn có người chống đối ta, chỉ trích ta, vu khống ta. Đáp Amen trong trường hợp này là rất khó, nhưng chứa đựng một ân sủng đặc biệt; thậm chí như một bí ẩn trong hành vi này. Nếu chúng ta muốn hiệp thông với Đức Giêsu cách thân mật hơn, hoặc nếu chúng ta cần Ngài tha thứ và ban cho chúng ta ân sủng đặc biệt, chính đó là phương tiện tốt để được nhậm lời: đi lãnh nhận Đức Giêsu trong Thánh Thể đồng thời với người hoặc những người “anh chị em” này; nói rõ với Ngài: Lạy Chúa Giêsu. hôm nay con lãnh nhận Chúa cùng với người anh em này (nói rõ tên), con cho người này cùng với Chúa trú ngụ trong tâm hồn con; con sung sướng được Chúa dẫn người này đến cùng với Chúa. Cử chỉ nhỏ mọn này làm Đức Giêsu rất hài lòng, vì Ngài biết rằng để làm được điều này, chúng ta đã phải chết đi một tí.

Tôi kết thúc bài suy niệm này bằng một đoạn của bài Adoro Te devote, một bài hát đã nuôi dưỡng lòng đạo đức của rất nhiều thế hệ tin vào Thánh Thể. Đoạn đó khởi đầu bằng câu: “O memoriale mortis Domini” được dịch là: Ôi, tưởng niệm cái chết của Chúa, là bánh hằng sống ban sự sống cho con người: xin cho linh hồn con được sống bằng Chúa và luôn cảm thấy ngọt ngào sự hiện diện của Chúa”. Amen.

Chương IV: “HÃY LÀM VIỆC NÀY MÀ TƯỞNG NHỚ ĐẾN THẦY”

Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc chiêm niệm

Cho tới lúc này tôi đã cố gắng cho thấy Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc truyền phép và hiệp lễ như thế nào. Trong bài suy niệm này, tôi còn muốn nói thêm một cách thức mới giúp Thánh Thể làm nên Giáo hội: việc chiêm niệm.

Đôi khi Thánh Thể và chiêm niệm đã được coi như hai con đường phân biệt nhau, song song với sự hoàn thiện Kitô giáo cách nào đó. Con đường thứ nhất được biết đến như con đường bí nhiệm (voie mystérique) hay khách quan, đứng đầu là các bí tích, nhất là Thánh Thể; con đường thứ hai là con đường thần bí (voie mystique) hay chủ quan, đứng đầu là chiêm niệm. Về điểm này, người ta đã muốn thấy thời các Giáo phụ và thời cận đại, linh đạo Chính Thống giáo và linh đạo Tây phương, phân biệt với nhau cách nào đó. Như người ta nói, linh đạo thời Giáo Phụ được duy trì cách trung thành hơn trong Chính Thống giáo, dựa nhiều hơn trên các bí tích; trong khi linh đạo Tây phương, chịu ảnh hưởng của một vài nhà thần bí lớn thời cận đại, dựa nhiều hơn vào việc chiêm niệm, hoặc vào đời sống cầu nguyện, theo kiểu nói của thánh nữ Têrêxa Avila, một trong những nhà thần bí này.

Dù trong thực tế có như thế nào (luôn phức tạp hơn nhiều so với các lược đồ), tôi nghĩ đã đến lúc tổng hợp hai con đường, hoặc đúng hơn, tái khám phá tổng hợp đã có về điểm này cho tới đầu thời cận đại, mà đã biến mất vì nhiều lý do. Theo nhãn quan hiệp nhất này, bí tích và đời sống cầu nguyện không phải là hai con đường khác nhau và kế tiếp nhau cho việc thánh hóa; ngược lại, chúng liên kết chặt chẽ với nhau và tùy thuộc vào nhau. Nền tảng của tất cả chắc chắn là đời sống bí tích: những “mầu nhiệm” cho ta tiếp xúc trực tiếp và khách quan với việc cứu độ do Thiên Chúa thực hiện một lần vĩnh viễn nơi Đức Giêsu Kitô. Nhưng chỉ mầu nhiệm mà thôi thì không đủ để giúp tiến bộ trên đường tu đức; cần một đời sống nội tâm liên kết với đời sống bí tích, tức cần việc chiêm niệm. Là vì chiêm niệm là phương tiện giúp chúng ta “lãnh nhận” mầu nhiệm (lãnh nhận hiểu theo nghĩa mạnh), nội tâm hóa chúng, mở lòng ta ra cho chúng hoạt động; chính là yếu tố đáp lại mầu nhiệm trên bình diện hiện sinh và chủ quan, là một cách cho phép ân sủng của bí tích tạo nên vũ trụ bên trong chúng ta, tư tưởng, tình cảm, ý muốn và ký ức của chúng ta.

Sự sống thần linh được chuyển đạt cho ta qua các bí tích, tiên vàn phải được tiêu hóa trong chiêm niệm; chỉ sau đó nó mới có thể diễn tả ra trong những hành động cụ thể của chúng ta: trong việc thực hành các nhân đức mà trên hết là đức ái. Cũng như không có hành vi nhân linh nào mà không phát xuất từ một ý nghĩ (không có suy nghĩ thì hành vi này không có giá trị nào, hoặc khi đó sẽ rất nguy hiểm), cũng vậy không có nhân đức Kitô giáo nào lại không phát xuất từ chiêm niệm. Thánh Grêgoriô Nyssê viết: “Có ba yếu tố bày tỏ và phân biệt đời sống người Kitô hữu: hành động, lời nói và tư tưởng. Đứng đầu trong ba là tư tưởng, rồi đến lời nói cho thấy những gì đã được tâm trí suy nghĩ và được diễn tả bằng những từ, còn hành động đứng ở vị trí thứ ba, thể hiện trong việc làm điều người ta suy nghĩ. Sự hoàn thiện của đời sống Kitô giáo hệ tại ở chỗ trở nên hoàn toàn giống Đức Kitô, trước tiên trong lãnh vực bên trong của tâm hồn, tiếp đến trong lãnh vực bên ngoài của hành động” (Le parfait idéal du chrétien, PG 46, 283 tt).

Thế nên chiêm niệm là lối đi bắt buộc để từ chỗ hiệp thông với Đức Kitô đi đến Thánh lễ, đến việc bắt chước Đức Kitô trong đời sống. Vì vậy, cũng như người ta nói về lời mời gọi mọi người tín hữu nên thánh (x. GH 39-40), cũng vậy, người ta phải nói về lời mời gọi mọi người tín hữu chiêm niệm. Con đường hoàn thiện Kitô giáo đi từ những mầu nhiệm đến chiêm niệm và từ chiêm niệm đến hành động. Cùng lúc ấy, ba yếu tố này làm thành một con đường nên thánh duy nhất mở ra cho mọi người tín hữu theo lượng khôn dò của hồng ân Thiên Chúa và sự tự do của con người đáp lại. Ưu tiên của chiêm niệm trước hành động, tự nó, không có nghĩa là nó quan trọng hơn việc thực hành các nhân đức và đời sống hoạt động, mà chỉ có nghĩa là chiêm niệm đứng đầu vì là nguồn mạch của hai việc sau. Chắc chắn đây là nói về một kiểu mẫu nào đó về đời sống chiêm niệm, mở ra cho mọi người có thể thực hiện.

Không ngừng tưởng niệm Đức Kitô

Khi cố gắng áp dụng sát cho Thánh Thể những nét tổng quát sơ khởi liên hệ đến các mầu nhiệm, ngay lập tức chúng tôi khám phá ra tầm quan trọng và tính thời sự của những nét tổng quát đó. Người ta suy ra rằng để trở nên giống Đức Kitô, việc ăn mình Ngài và uống máu Ngài là không đủ, còn phải chiêm ngắm mầu nhiệm này nữa. Có mối liên hệ lớn lao giữa Thánh Thể và Nhập Thể. Theo thánh Augustinô, trong việc Nhập Thể, “Đức Maria đã cưu mang Ngôi Lời trong trí trước khi cưu mang trong dạ” (Prius concepit mente quam corpore). Thậm chí ngài cho biết thêm là cưu mang Đức Kitô trong dạ sẽ không có giá trị nào nếu Đức Maria đã không cưu mang Ngài bằng tình yêu từ nơi sâu thẳm của tâm hồn (x. De S. Virg. 3 ; PL 40, 398).

Vậy sau việc nhập thể, Đức Maria tràn đầy Đức Giêsu không những trong thân xác mà còn trong tâm trí Người; tràn đầy Đức Giêsu vì Đức Giêsu chiếm lĩnh mọi tư tưởng, sự chờ mong (và Người đã chờ mong biết bao!) và tình yêu của Người. Như mọi người mẹ “chờ mong” một đứa con, nhưng trong một mức độ vô cùng hoàn hảo, Đức Maria hoàn toàn hồi tâm; cái nhìn của Người, thay vì hướng ra bên ngoài, thì hướng vào chỗ sâu kín nơi mình, vì kho tàng của Người là ở đó, nơi Người giữ sự bí mật êm dịu đã làm cho Người chết lặng vì ngạc nhiên thán phục. Luca viết: “Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19). Đó là điều dường như tốt cho ta tìm được nơi Người kiểu mẫu hoàn hảo nhất cho việc chiêm niệm Thánh Thể: đó phải là tâm thái của người Kitô hữu sau khi rước lễ. Người đó cũng phải đón nhận Đức Kitô trong tâm trí sau khi đón nhận Ngài trong thân xác mình (thụ thai có nghĩa là đón nhận nơi mình). Vậy đón nhận Đức Kitô trong tâm trí cụ thể có nghĩa là nghĩ về Ngài, nhìn đến Ngài, nhớ đến Ngài. Chính xác đó là từ khóa của bài suy niệm hôm nay : nhớ đến Đức Kitô, tưởng niệm về Ngài.

Khi lập phép Thánh Thể, Đức Giêsu đã hiến thánh lời này khi nói: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). “Tưởng nhớ” là hạn từ riêng thiết lập mối dây lý tưởng giữa Thánh Thể và lễ Vượt Qua Do thái, và như người ta biết, lễ này cũng là một “tưởng niệm” (x. Xh 12,14). Điều này quan trọng đến nỗi thánh Phaolô, khi thuật lại về việc lập phép Thánh Thể, ít nhất hai lần nhắc lại lệnh truyền này của Đức Giêsu. Ngài cũng xác định rõ nội dung việc tưởng nhớ mà chúng ta phải làm về Đức Giêsu khi viết: “Mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1Cr 11,26). Nội dung là cái chết của Đức Kitô.

Tưởng niệm Thánh Thể có hai chiều kích hay hai ý nghĩa: một liên hệ đến Thiên Chúa và một liên hệ đến con người. Điều này cho phép chúng ta nói đến một ý nghĩa thần học và một ý nghĩa nhân học.

Theo ý nghĩa thần học, tưởng niệm là nhớ đến Đức Giêsu nơi Chúa Cha; đây là lời mời gọi Chúa Cha nhớ đến những gì Đức Giêsu đã làm cho chúng ta, để vì yêu thương Con mình, Người tha thứ cho chúng ta và làm cho ta được hạnh phúc. Nói khác đi, chúng ta nhắc nhớ Đức Giêsu cho Chúa Cha, để Chúa Cha nhớ đến chúng ta. Joachim Jeremias đã cắt nghĩa lời này của Đức Giêsu như sau: “Anh em hãy làm việc này để Chúa Cha nhớ đến Thầy.” Trong Cựu Ước, lúc bị thử thách nặng nề, dân Chúa vẫn hướng về Thiên Chúa mà kêu lên: “Xin Ngài nhớ đến Abraham, tổ phụ chúng con, nhớ đến Isaac và Giacóp” ; Thánh vịnh 132 cũng nói: “Lạy Chúa, xin nhớ đến Đavít, nhớ đến nỗi đau khổ của ngài”. Nhưng chúng ta từ đây là dân của Giáo Ước Mới, có thể kêu lên Thiên Chúa một cách vô cùng hiệu quả, vì chúng ta có thể nói: xin nhớ đến Con Cha là Đức Giêsu, và hy tế của Ngài. Phụng vụ của Giáo hội cung cấp cho chúng ta một gương mẫu tuyệt vời. Các Kinh Nguyện Thánh Thể trong Thánh Lễ, đặc biệt Kinh Nguyện Thánh Thể IV, chỉ là một anamnèse, một tưởng niệm về Đức Giêsu trước Chúa Cha; đây là một trình thuật (thực sự hơi ngây ngô, làm như Chúa Cha không biết gì, nhưng lại rất đẹp) kể cho Thiên Chúa là Cha những việc Con của Người đã nói và làm cho chúng ta khi Ngài còn ở dưới thế: “Người đã nhập thể…đã nộp mình chịu chết…đã sai Chúa Thánh Thần đến với các tín hữu…Khi đến giờ Người được Cha tôn vinh, và vì yêu thương các môn đệ còn ở trần gian, Người đã yêu thương họ đến cùng.” Người ta còn thấy tính chất thuật truyện trong chính những lời truyền phép, những lời này không gì khác hơn là thuật lại với Chúa Cha về điều Đức Giêsu đã nói khi Ngài cầm lấy bánh, bẻ ra cho chúng ta. Chỉ sau khi đã đã làm cho Chúa Cha nhớ đến Đức Giêsu, chúng ta mới xin Chúa Cha nhớ đến chúng ta: “Giờ đây, lạy Cha, xin nhớ đến mọi người mà chúng con dâng của lễ này cầu cho họ”; “Lạy Cha, xin nhớ đến Giáo hội của Cha.”

Theo ý nghĩa nhân học hay hiện sinh, tưởng niệm Thánh Thể là một lời nhắc nhớ về Đức Giêsu, không phải cho Chúa Cha, nhưng là cho chúng ta; nhắc chúng ta nhớ đến Ngài. Qua nhiều thế kỷ, những lời đầu tiên linh mục đọc sau truyền phép là: “Unde et memores”, “vì vậy, chúng con là tôi tớ Chúa, kính nhớ cuộc khổ hình hồng phúc và lên trời vinh quang của Con Chúa là Đức Giêsu…”. Chúng ta phải khôi phục giá trị của tiềm lực thiêng liêng rất lớn của việc nhớ đến Đức Giêsu. Nhớ đến Đức Giêsu phải làm cho chúng ta vui mừng và mạnh sức trong cuộc lữ hành ở trần gian này. Theo chân thánh Bênađô, phụng vụ xưa đã ca lên: “Tưởng nhớ Đức Giêsu thì êm dịu, đem lại niềm vui thực cho cõi lòng”. Chúng ta phải có thể nói với Đức Giêsu chính ngôn ngữ của Isaia nói với Thiên Chúa trong Cựu Ước: “Lạy Đức Chúa, hồn chúng con khát vọng Thánh Danh và ước mong tưởng nhớ đến Ngài” (Is 26,8). Thực sự, khi trở lại tâm trí, ký ức có khả năng xúc tác tất cả thế giới nội tâm, đưa thế giới này tới đối tượng của ký ức, nhất là khi ký ức này không phải là một sự vật nhưng là một người chúng ta yêu mến. Khi một người mẹ nhớ đến đứa con mới sinh bà đã để ở nhà, tất cả từ tận thẳm sâu của bà hướng về đứa con nhỏ, tình âu yếm của người mẹ làm bà đảo lộn, mắt bà đẫm lệ. Cũng xảy ra như vậy, tuy một cách thiêng liêng hơn, nơi các thánh khi tâm hồn các ngài hướng về Thiên Chúa. Quả thực tác giả Thánh vịnh đã nói: “Con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ, suốt năm canh thầm thĩ cới Ngài. Quả thật Ngài đã thương trợ giúp, nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui” (Tv 63,7-8). Trong số những quan năng của tâm trí con người, ký ức là một trong những quan năng mầu nhiệm nhất và gây ấn tượng nhất. Thử nghĩ coi: tất cả những gì chúng ta đã thấy, đã nghe, đã tưởng nghĩ, từ hồi còn nhỏ, tất cả được lưu giữ ở trong “bụng dạ” chỗ nào không rõ, sẵn sàng thức dậy và trồi lên trên mặt như ý ta muốn. Thánh Augustinô viết những trang rất hay về ký ức, và đối với ngài, đó là dấu chỉ và dấu vết của Ba Ngôi: “Lạy Chúa, quan năng ký ức này lớn lao biết bao; đó là ngôi đền bí ẩn bao la vô tận… Ai có thể chạm tới đáy nó. Một cách nào đó, nó làm cho quay cuồng… Từ ngày con biết Ngài, Ngài lưu lại trong ký ức của con, chính nơi đó mà con tìm thấy Ngài và khi nhớ tới Ngài, con lấy làm vui sướng được có Ngài’ (Conf. X, 8.17.24). Thiên Chúa, mà các tầng trời không thể chứa nổi, lại ẩn mình nơi ngôi đền ký ức của con người. Nhớ đến bởi động từ La-tinh recordari, theo nguyện ngữ có nghĩa đưa lên lại (re) trong tâm hồn (cor) ; vì vậy không chỉ là hoạt động của trí khôn, nhưng còn là của ý muốn và con tim; nhớ đến chính là nghĩ đến với tình yêu. Rõ ràng Đức Giêsu gán cho Chúa Thánh Thần việc chúng ta nhớ đến Ngài (x. Ga 14,26).

Từ lời Đức Giêsu nói “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”, được phụng vụ lặp lại, các Giáo Phụ, đặc biệt các Giáo Phụ Hy lạp, đã khai triển cả một linh đạo Thánh Thể rất phong phú. Theo các ngài hoa quả thiêng liêng của Thánh Thể không gì khác hơn là không ngừng nhớ tới Đức Giêsu. Quả thực, chính nhờ con đường gián tiếp của việc trung thành tưởng niệm này mà Thiên Chúa ngự đến trong tâm hồn để biến nó thành đền thờ của Người. Theo thánh Basiliô, khi Đức Giêsu lập phép Thánh Thể, Ngài chỉ nhắm tới chuyện này là: “khi ăn thịt và uống máu Ngài, chúng ta luôn nhớ đến Ngài đã chết và sống lại vì chúng ta” (De bapt. I, 3).

Tuy vậy, các Giáo Phụ nhấn mạnh một điểm: sự biến đổi tâm hồn chúng ta chỉ có thể thực sự xảy ra nếu chúng ta “miệt mài” chiêm ngắm những mầu nhiệm: “Vì sự luyến tiếc, có dồi dào ân sủng đi kèm, nảy sinh từ lòng yêu mến Đức Kitô, và vì tình yêu nảy sinh từ những tư tưởng có Đức Kitô và tình yêu của Ngài đối với con người là đối tượng, chính là một sự giúp đỡ quý báu, nếu duy trì những tư tưởng như vậy hiên diện trong trí nhớ, và để cho linh hồn bận bịu về những tư tưởng ấy, không cho nó nghỉ ngơi trong lãnh vực này. Hơn nữa, cố gắng luyện tập liên tục như vậy rất hữu ích cho chúng ta, mà không cho phép chúng ta có một gián đoạn nào, trong suốt cả cuộc đời chúng ta nếu có thể, hoặc ít nhất thường xuyên; khi đó, những tư tưởng của Ngài khắc sâu trong linh hồn và hoàn toàn làm chủ trái tim. Cũng như lửa không thể bắt được vào những vật nó chạm tới, nếu không có sự tiếp xúc liên tục, cũng vậy một tư tưởng không được tiếp nối thường xuyên không thể chuyển đạt được đam mê nào vào trái tim; phải có thời gian, một thời gian lâu kéo dài” (N. Cabasilas, La vie dans le Christ, VI, 4).

Vậy sự ước muốn của ta phải đưa ta tới điều mà sự tưởng nhớ về Đức Kitô tạo thành con đường nơi ta, và đi qua tư tưởng của ta như mật trong các tầng ong. Đó là điều không phải là không thể hoặc ở ngoài tầm với của các Kitô hữu bình thường. Nhiều người, cả những người sống trong thế gian, đã có kinh nghiệm về điều này, ít nhất trong những thời kỳ lâu dài. (Chắc chắn ở trần gian này không thể tự phụ là đi tới chỗ có được sự tưởng nhớ liên tục này thường xuyên và không biến chất.) Điều làm cho nhiệm vụ dễ dàng hơn, ít nhất khi bắt đầu, là lặp lại trong trí hoặc lắp bắp trên môi một từ, chẳng hạn, kêu cầu kéo dài tên Đức Giêsu. Hiệu năng của một phương tiện rất đơn giản hầu như không thể tin được. Lý do là vì tên Đức Giêsu không chỉ là một cái “tên”, nhưng bao hàm mầu nhiệm con người Đức Kitô và quyền năng của Ngài. Kêu cầu danh Đức Giêsu giúp chúng ta đặc biệt cắt đứt mọi tư tưởng kiêu căng, tự mãn, nóng giận, những ý nghĩ không trong sạch, ngược lại, giúp chúng ta có được sức mạnh hướng tới những điều tốt. Chỉ cần học quan sát những tư tưởng của mình, như thể chúng là của ai khác, và nắm được sự phát triển của chúng, nếu có thể nói được như vậy; người ta hiểu ngay một tư tưởng thành hình nơi ta sẽ đi tới đâu: nơi Thiên Chúa hay nơi ta, kết quả là vinh quang của Thiên Chúa hay vinh quang riêng của ta. Trong trường hợp sau, việc lặp đi lặp lại danh Đức Giêsu, với lòng tin vào quyền năng của Chúa, giúp “cắt đứt” tư tưởng xấu hay vô ích, và dần dần đặt nơi ta “những tình cảm có trong Đức Kitô Giêsu” (Pl 2,5). Người ta sẽ quen với việc nghĩ theo cách của Thiên Chúa chứ không theo cách của con người (x. Mt 16,33) và trái tim trở nên trong sạch. Là vì đặc biệt việc tìm kiếm chúng ta và vinh quang riêng của ta làm tâm hồn ra nhơ bẩn; nhưng người nào chiêm ngắm Thiên Chúa giống như người quay lưng lại: tình thế buộc người đó phải quên mình và không nhìn đến mình. Bởi vì một người chiêm ngắm không chiêm ngắm mình.

Tôn thờ trước Thánh Thể

Cho tới đây, tôi đã cố gắng làm sáng tỏ nguyên tắc tổng quát về việc chiêm niệm Thánh Thể và vai trò của nó trong việc thánh hóa. Giờ đây tôi muốn nhấn mạnh những hình thức có thể có của nó và chỉ ra những phương tiện chúng ta có để vun trồng nó.

Hình thức đầu tiên chiêm niệm Thánh Thể: Phụng vụ lời Chúa trong Thánh lễ. Mỗi lần phụng vụ ấy nhắc cho chúng ta một khía cạnh của lịch sử cứu độ và một nét trong đời sống của Đức Giêsu, khi, bằng cách này, thêm một phần nội dung luôn mới mẻ vào việc tưởng niệm của chúng ta về Ngài. Phụng vụ lời Chúa soi sáng Thánh Thể, giúp đi vào chiều sâu khôn dò của mầu nhiệm được cử hành. Lấy thí dụ cụ thể : phụng vụ Chúa nhật 24 thường niên năm B, bài đọc I trích từ sách tiên tri Isaia 53,3: “Người bị đời khinh khi, ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên…”; bài đọc II trích thư Do thái 4,14-16: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm…” ; cuối cùng bài Phúc Âm trích trong Maccô 10,35-45: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống?… Con Người đến không phải để được hầu hạ..” Mỗi lời trong những lời trên mở ra chân trời bao la cho việc chiêm niệm Thánh Thể! Bàn tiệc lời Chúa chuẩn bị cho bàn tiệc bánh thánh. Nó khơi lên lòng khao khát và làm gia tăng lòng mến Đức Kitô. Cũng đã xảy ra như vậy trong phụng vụ khác thường mà hai môn đệ Emmau đã được sống: việc giải thích Kinh Thánh bắt đầu sưởi ấm tâm hồn hai môn đệ; được chuẩn bị như vậy hai ông có thể nhận ra Chúa ngay khi Ngài bẻ bánh.

Thời gian chuẩn bị và tạ ơn trước và sau khi rước lễ là một hình thức khác chiêm niệm Thánh Thể.

Nhưng hình thức tuyệt vời để chiêm niệm Thánh Thể chính là lúc yên lặng tôn thờ trước Thánh Thể. Chắc chắn người ta có thể chiêm ngắm Đức Giêsu Thánh Thể, thậm chí từ xa, trong nhà tạm của tâm trí mình (thánh Phanxicô thường nói: “Ngoài Thánh lễ ra, tôi thờ lạy thân xác Đức Kitô với con mắt của tâm trí, trong cầu nguyện, cũng theo cách thức như tôi tôn thờ Ngài khi tôi chiêm ngắm Ngài trong cử hành Thánh lễ”. Ghi chú trên sách Nguyện của thánh Phanxicô). Chiêm ngắm sự hiện diện thực sự của Đức Kitô, trong hai hình bánh rượu, và trong một nơi trầm lặng ngần nào có thể và như đã thấm nhuần sự hiện diện của Ngài, ít nhất giúp đỡ thêm cho chúng ta cách đáng kể.

Trong thư ngày 24 tháng 2 năm 1980 về mầu nhiệm và việc tôn kính Thánh Thể, Đức Gioan Phaolô II viết: “Việc tôn thờ Thánh Thể trong bí tích tình yêu này được diễn tả trong những hình thức khác nhau của việc tôn sùng Thánh Thể: kinh nguyện cá nhân trước Thánh Thể, những giờ thờ lạy, đặt Mình Thánh ít phút, kéo dài, hàng năm… Sự linh hoạt và đào sâu việc tôn kính Thánh Thể là bằng chứng cho việc canh tân xác thực mà Công đồng ấn định cho mình như mục đích, và những việc ấy là trọng tâm của việc canh tân… Đức Giêsu chờ đợi ta trong bí tích tình yêu này. Đừng tính toán thời giờ đi gặp Ngài trong việc thờ Lạy, trong việc chiêm ngắm đầy lòng tin…” Nhắc lại lệnh truyền này là cần thiết; quả thực, việc đạo đức Thánh Thể truyền thống đã bị lãng quên ít nhiều trong sự nhiệt tình canh tân phụng vụ, vì đương nhiên người ta quan tâm đến lãnh vực cộng đoàn và nghi thức hơn là lòng đạo cá nhân. Nó cũng bị lãng quên vì sở thích ngây ngô thái quá dành cho xã hội học và tính thế tục, chỉ nhìn trong Thánh Thể chiều kích đồng bàn với người dự tiệc theo chiều ngang, như người ta nói. Chuyển động ly tâm (hướng tới người nghèo, tới sự dấn thân vào chính trị, thế giới thứ ba, v.v.) là nét nổi bật trong một số lớn các cộng đồng Kitô giáo sau Công đồng, chuyển động ấy phải được quân bình hóa bằng một chuyển động hướng tâm về trung tâm cộng đồng, nơi có Thánh Thể. Tổng Giám mục Milanô, C.M. Martini, trong lá thư mục vụ Chiều kích chiêm niệm của đời sống, nhấn mạnh sự cần thiết của việc tái khám phá này. Ngài viết: “Tất cả những điều đó (tức là làm cho Thánh Thể trở thành khuôn mẫu của đời sống), một cách cụ thể, đòi nuôi dưỡng những thái độ bên trong đi trước, đi kèm và đi sau cử hành Thánh Thể: lắng nghe lời mạc khải, chiêm niệm những mầu nhiệm của Đức Giêsu, trực giác về ý muốn của Chúa Cha lộ ra trong những lời của Đức Giêsu, đối chiếu dự phóng cuộc đời phát xuất từ Vượt Qua-Thánh Thể với những tình huống thiêng liêng luôn mới mẻ của cộng đồng và các tín hữu bình thường. Vì vậy, yên lặng cầu nguyện, lắng nghe lời Chúa, suy niệm Kinh Thánh, suy tư cá nhân, không tách rời khỏi Thánh Thể, nhưng cùng với Thánh Thể tạo nên mối dây liên kết cốt tử.”

Việc tôn kính và tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh lễ là cách diễn tả tương đối mới đây lòng đạo đức Kitô giáo; bên Tây phương, người ta đã thấy chúng phát triển từ thế kỷ XI, để chống lại lạc giáo Béranger thành Tours phủ nhận sự hiện diện “thực sự” và chỉ chấp nhận sự hiện diện tượng trưng của Đức Giêsu trong Thánh Thể. Từ đó người ta có thể nói, không có vị thánh nào mà đời sống lại không ghi dấu ảnh hưởng quyết định của lòng đạo đức Thánh Thể; nó đã là nguồn mạch của những năng lực thiêng liêng rất lớn, một loại lò lửa luôn cháy sáng giữa lòng nhà Thiên Chúa, và chính ở đó mà mọi con cái trong Giáo hội được người ta công nhận là vĩ đại, đã đến để sưởi ấm.

Nếu việc tôn kính Thánh Thể ngoài Thánh lễ phát triển tương đối chậm, thì nhìn thấy ở đó một dấu chỉ cho việc dành ra, liên hệ đến vấn đề này, một sự tự do nào đó cho những hệ phái Kitô giáo khác nhau, có lẽ là điều tốt (x. M. Thurian, Le mystère de l’Eucharistie, Presses de Taizée, 1981, tr. 62 tt). Việc đạo đức Thánh Thể này là một hồng ân của Thần Khí ban cho Giáo hội Công giáo, là Giáo hội có nhiệm vụ vun trồng việc tôn kính này, với lòng biết ơn những hệ phái Kitô giáo khác, nhưng không vì vậy mà đòi buộc họ phải làm. Mọi trào lưu lớn về đường thiêng liêng trong Kitô giáo đã có đặc sủng góp phần vào sự phong phú của toàn thể Giáo hội: đối với người Tin Lành, đặc sủng này là tôn kính lời Chúa; đối với người Chính Thống giáo thì tôn kính icônes (và người Công giáo chúng ta đã kín múc biết bao nhiêu ở nguồn mạch của họ trong lãnh vực này); việc tôn kính Thánh Thể là riêng cho Giáo hội Công giáo. Mỗi con đường trong ba con đường này thực sự theo đuổi cùng một mục đích: chiêm ngắm Đức Kitô và mầu nhiệm của Ngài.

Nếu quà tặng riêng của Giáo hội Công giáo, và một trong những bí mật của sức mạnh của nó nằm trong cách độc nhất làm cho Đức Giêsu-Thánh Thể hiện diện và được tôn thờ giữa lòng Giáo hội, thì người ta thấy việc chúng ta đánh giá cao tối đa quà tặng này là quan trọng biết mấy! Người ta hẳn nói rằng Chúa Thánh Thần thúc đẩy Giáo hội lấy lại một vài hình thức của lòng đạo đức Thánh Thể đã trở nên hơi nhàm chán vì thói quen và vì tính vụ nghi thức; lấy lại, nhưng được đổi mới, vì chúng ta phải sử dụng ở đó tính mẫn cảm Kinh thánh và phụng vụ đang tăng trưởng mà lòng đạo đức Kitô giáo đã thủ đắc giữa lúc đó. Người ta dự vào việc tái sinh của một nhu cầu sâu xa là tôn thờ Thánh Thể, như Maria ở Bêtania ngồi bên chân Thầy (x. Lc 10,39). Chúng ta đang tái khám phá ra rằng thân thể bí nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội chỉ có thể nảy sinh và lớn lên chung quanh thân thể thực sự của Ngài là Thánh Thể.

Theo ý nghĩa này, tôi nói rằng Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc chiêm niệm. Khi chúng ta ở yên và bình lặng lâu ngần nào có thể trước Đức Giêsu trong Thánh Thể, chúng ta cảm thấy sự khao khát của Ngài ở nơi chúng ta, chúng ta bỏ các dự phóng của chúng ta để nhường chỗ cho những dự phóng của Thiên Chúa; ánh sáng của Thiên Chúa dần dần ùa vào trong tâm hồn ta và chữa lành nó. Một sự gì đó xảy ra như cây cối khi mùa xuân tới, với chất diệp lục tố. Từ các cành trổ sinh các lá xanh; những lá này hút từ khí quyển một số yếu tố, mà dưới tác động của ánh sáng mặt trời, được “định hình” và biến đổi thành chất dinh dưỡng nuôi cây. Không có những lá xanh này, cây không thể lớn, không sinh hoa trái và sẽ không góp phần tái tạo ôxy mà chúng ta thở. Những lá xanh này là biểu tượng của những tâm hồn Thánh Thể, khi chiêm ngắm “Mặt trời công chính” là Đức Kitô, “định hình” lương thực là Chúa Thánh Thần, làm lợi cho toàn thân cây là Giáo hội. Nói khác đi, chúng ta bắt gặp lại lời của Tông Đồ Phaolô viết cho tín hữu Corintô: “Tất cả chúng ta, mặt không màn che, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy chúng ta được biến đổi nên giống cùng một hình ảnh đó, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2Cr 3,18).

Một thi sĩ hiện thời đã diễn tả cách tuyệt vời – và điều này hẳn là được linh hứng cho linh hồn đang chiêm niệm trước Thánh Thể – câu thơ này: “Tôi rạng rỡ lên bằng vô biên” (G. Ungaretti).

Tôi nhìn Chúa và Ngài nhìn tôi

Thế nhưng, chiêm ngắm Thánh Thể chính xác có nghĩa gì? Tự nó, chiêm ngắm Thánh Thể không gì khác hơn khả năng, hoặc đúng hơn, hồng ân biết tiếp xúc thân mật với Đức Giêsu hiện diện thực sự trong Bánh Thánh, và qua Ngài, vươn lên tới Chúa Cha, trong Chúa Thánh Thần. Tất cả những việc đó, làm trong thinh lặng hết sức có thể, cả bên ngoài lẫn bên trong. Đối với chiêm ngắm, sự thinh lặng là người bạn đời yêu dấu, người bảo vệ, như Giuse đối với Đức Maria. Chiêm niệm là bằng trực giác gắn chặt mình vào thực tại thần linh (có thể là Thiên Chúa, hoặc một trong các phẩm chất của Người, hoặc một mầu nhiệm trong cuộc đời Đức Giêsu), và vui hưởng sự hiện diện của Người. Trong suy gẫm, điểm nhấn được đặt trước tiên vào việc tìm kiếm Chân Lý; ngược lại, trong chiêm niệm, người ta chuyên chú vào việc vui hưởng Chân Lý đã tìm thấy (Vì chiêm ngắm luôn hướng tới con người, tới toàn diện chứ không từng phần, Chân Lý ở đây viết bằng chữ hoa).

Những bậc thầy tu đức đã định nghĩa chiêm niệm như sau: “Một cái nhìn tự do, tập trung và vào sâu” (Hugues de Saint-Victor), hoặc “một cái nhìn yêu mến đối với Thiên Chúa” (thánh Bênađô). Vì vậy người nông dân xứ Ars đã đưa ra định nghĩa hay nhất về chiêm niệm. Ông ngồi hàng giờ bất động trong nhà thờ, mắt nhìn lên nhà tạm. Cha thánh hỏi ông đã làm gì suốt ngày như vậy, ông đáp: “Không làm gì cả, chỉ là tôi nhìn Ngài và Ngài nhìn tôi!” Bấy nhiêu đủ nói với chúng ta rằng chiêm niệm Kitô giáo không bao giờ chỉ có một chiều độc nhất, và không nhìn đến “Hư vô” (như trong một số tôn giáo ở Đông phương, đặc biệt là Phật giáo); luôn là hai cái nhìn gặp nhau :cái nhìn của ta hướng tới Chúa và cái nhìn của Chúa hướng tới ta. Nếu có những lần cái nhìn của ta kém đi, đến chỗ không nhìn Chúa nữa, thì, tuy vậy, cái nhìn của Ngài không bao giờ chao đảo. Chiêm niệm Thánh Thể đôi khi chỉ cần hài lòng với một hành vi đơn thuần hiện diện cùng với sự hiện diện của Đức Giêsu, ở lại dưới cái nhìn của Ngài để cũng làm cho Ngài được vui sướng nhìn ta, dù ta chỉ là thụ tạo vô tích sự và tội lỗi, tuy vậy vẫn là hoa quả của cuộc khổ nạn của Ngài, và đã được ban sự sống của Ngài: “Ngài nhìn tôi!”

Thế nên chiêm niệm Kitô giáo, tự nó, không bị ngăn cản bởi sự khô khan mà chúng ta có thể trải nghiệm, để cho mình đi đến chỗ tiêu tan, hoặc ngược lại nó là một điều Thiên Chúa cho phép để thanh tẩy chúng ta. Chỉ cần cho nó một ý nghĩa bằng cách từ bỏ thỏa mãn của chúng ta là hoa quả của sự nhiệt tâm của chúng ta, để làm cho Ngài được hạnh phúc và nói theo kiểu Charles de Foucauld: “LạyChúa Giêsu, hạnh phúc của Chúa là đủ cho con”. Đức Giêsu chuẩn bị vĩnh cửu để cho ta được hạnh phúc, còn ta, để làm cho Ngài hạnh phúc, chúng ta chỉ mất một chút thời giờ: sao chúng ta lại nhẫn tâm đánh mất cơ hội sẽ không trở lại nữa trong vĩnh cửu? Dường như việc chúng ta tôn thờ Thánh Thể đôi khi có thể làm chúng ta chỉ thuần túy mất thời giờ, nhìn mà không thấy, nhưng nó lại không bao hàm một sức mạnh nào hay một chứng tá đức tin nào sao? Đức Giêsu biết rằng chúng ta có thể đi làm bao nhiêu việc khác khiến chúng ta thích thú hơn, trong khi nếu ngồi ở đó, chúng ta chỉ tổ mất thời giờ. Khi chúng ta không thể cầu nguyện, chúng ta có thể luôn nhờ thân xác chúng ta giúp đỡ và chính việc đó trở thành một lời cầu nguyện (cả khi linh hồn chúng ta không hề có ý vắng mặt).

Khi để thời gian chiêm ngắm Đức Giêsu trong bí tích bàn thờ, chúng ta thực hiện lời tiên tri lúc Ngài chết trên thập giá: “Họ đã nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37). Hơn nữa một việc chiêm ngắm như thế tự nó đã là một lời tiên tri, vì làm trước những gì chúng ta sẽ không ngừng làm trên Giêrusalem thiên quốc. Đó chính là một hoạt động mang tính cánh chung và tiên tri nhất mà người ta có thể thực hiện trong Giáo hội. Ngày tận thế, Chiên Con sẽ không còn bị tế sát, người ta sẽ không ăn thịt Ngài, không còn truyền phép, không còn hiệp lễ nữa. Nhưng điều không kết thúc chính là chiêm ngắm Chiên Con bị sát tế vì chúng ta. Quả thực, đó là công việc các thánh đang làm ở trên trời (x. Kh 5,1). Khi ở trước nhà tạm chúng ta đã nhập đoàn với Giáo hội ở trên trời: nhưng các thánh thì trong hưởng kiến, còn chúng ta thì trong đức tin.

Chúng ta đọc trong sách Xuất hành: “Ông Môsê từ trên núi Sinai xuống, tay cầm hai tấm bia Chứng Ước. Khi xuống núi, ông Môsê không biết rằng da mặt ông sáng chói bởi đã đàm đạo với Thiên Chúa” (Xh 34, 29). Môsê đã không biết và chúng ta cũng không biết điều đó (vì tốt hơn là như vậy). Nhưng khi trở về với anh em sau những lúc như thế, có lẽ cũng có người nào đó, qua nét rạng rỡ trên khuôn mặt của chúng ta, thấy là chúng ta đã chiêm ngắm Chúa. Và đó là một trong những món quà đẹp đẽ nhất chúng ta dành cho họ.

Chương V: “THẦY ĐÃ NÊU GƯƠNG CHO ANH EM”

Thánh Thể làm nên Giáo hội nhờ việc bắt chước

Trong trình thuật về bữa Tiệc Ly, Luca và Phaolô đã để lại cho chúng ta lệnh truyền của Đức Giêsu như chúng ta đã thấy: “Anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy”. Khi chúng ta đọc trong Phúc Âm Gioan cũng trình thuật về bữa Tiệc Ly, chúng ta minh nhiên thấy lệnh truyền này của Đức Giêsu: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,15). Hai lệnh truyền này hiển nhiên có tương quan với nhau; nhưng người ta cũng nhận thấy có nét khác biệt: trường hợp đầu tiên là về “tưởng niệm”, một hoạt động quy chiếu tới phụng vụ; ngược lại, trường hợp thứ hai là về làm (“để anh em làm”), một hoạt động quy chiếu tới đời sống. Như thế, cùng một sự tiến triển đưa ta từ chỗ tưởng nhớ đến chỗ bắt chước, từ chỗ chiêm niệm Thánh Thể đến chỗ thực hành Thánh Thể.

Trong Phúc Âm của mình, bữa Tiệc Ly mà Gioan mô tả trong các chương 13-17 không phải là Bữa Ăn “vượt qua”. Quả thực, bữa ăn vượt qua của người Do Thái xảy ra vào chiều ngày 14 nisan. (Theo Gioan, Đức Giêsu chết ngày 14 nisan, khi người Do Thái còn chưa hoàn tất bữa ăn vượt qua, là điều biện minh cho việc họ không vào trong dinh Philatô: x. Ga 18,28) Theo các tác giả Nhất Lãm, bữa ăn “vượt qua” của Đức Giêsu có thể đã được cử hành mấy ngày sớm hơn, nếu dựa vào một lịch phụng vụ khác với lịch chính thức thời ấy, nhưng được những người Essêni ở Qumran sử dụng. Có thể đây cũng là Bữa Ăn mà các tác giả Nhất Lãm làm nổi bật đặc tính vượt qua và Thánh Thể của nó, trong khi Gioan không nhắc gì đến nó.

Thế nhưng ở đây, tôi không có ý định dừng lại ở những vấn đề quen thuộc về thứ tự lịch sử của cuộc Khổ Nạn. Điều tôi quan tâm là muốn biết tại sao trong trình thuật về Bữa Ăn cuối cùng, Gioan không nói gì về việc lập phép Thánh Thể, trong khi ông nói cho ta về việc rửa chân. Không thể nghĩ rằng có một lúc ông không biết đến nghi thức Thánh Thể, hoặc nghi thức ấy đã không được thực hành chung quanh khu vực hình thành Phúc Âm thứ tư… Trái lại, người ta ghi nhận rằng tất cả trình thuật những biến cố liên hệ đến lễ Vượt Qua, trong Phúc Âm thứ tư, được xây dựng phù hợp với phụng vụ Thánh Thể đang thịnh hành trong môi trường của nó (thực hành của Quartodécimans, Nhóm 14 nisan, danh xưng chỉ nhóm người theo lịch do thái về lễ Vượt Qua, ấn định cử hành lễ Phục Sinh ngày 14 tháng nisan, bất kể là ngày nào trong tuần) và trình thuật này như là được sống lại trong phụng vụ ấy.

Động lực chính cũng không như người ta thường nói nữa, là Gioan, khi viết Phúc Âm của mình sau ba Phúc Âm kia, có ý định bổ túc cho các tác giả Nhất Lãm, hiểu ngầm là người ta đã biết những gì các ngài đã viết, hoặc ngài muốn tránh phổ biến mầu nhiệm Kitô giáo. Động lực thực sự là: trong tất cả những gì liên hệ đến lễ Vượt Qua và Thánh Thể, Gioan nhấn mạnh biến cố hơn bí tích, nói cách khác, điều được biểu thị hơn điều biểu thị. Theo Gioan, lễ Vượt Qua mới không bắt đầu ở nhà Tiệc Ly, lúc hoàn tất hành vi qua đó người ta phải tưởng niệm. Bằng cách loại suy, chúng ta có thể nghĩ rằng Gioan muốn làm nổi bật việc rửa chân trong bữa ăn cuối cùng, để nhắc cho cộng đồng Kitô hữu nhớ đâu là ý nghĩa của nghi thức Thánh Thể, mà họ từ đây thường cử hành, và cũng nhắc cho họ nhớ đâu là những đòi hỏi cụ thể chứa đựng trong đó cho Giáo hội. Nói khác đi, như tôi đã đề cập ở trên, một cách mặc nhiên, tác giả Phúc Âm đòi chúng ta từ phụng vụ sang đời sống, từ tưởng niệm sang việc bắt chước Thánh Thể.

Ý nghĩa của việc rửa chân

Chúng ta đã thấy, đối với Gioan, hiểu rõ ý nghĩa của cử chỉ Đức Giêsu rửa chân cho các tông đồ quan trọng như thế nào. Chúng ta đang đứng trước một trong những tình tiết (có những tình tiết khác, chẳng hạn tình tiết cạnh sườn bị đâm thâu) trong đó tác giả Phúc Âm cho chúng ta hiểu rõ rằng có một mầu nhiệm ẩn giấu, một mầu nhiệm vượt lên trên sự kiện vô thường có thể tự nó chỉ cho thấy một lợi ích hạn chế.

Đức Giêsu nói: Thầy đã nêu gương cho anh em: Ngài đã nêu gương nào vậy? Thực tế chúng ta phải rửa chân anh em ta, mỗi khi chúng ta vào bàn ăn chăng? Chắc chắn là không. Đây là một việc khác mà ai đọc Phúc Âm có thể dễ dàng khám phá vì họ đã biết Đức Giêsu. “Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3,16): đó là gương Đức Giêsu đã làm cho chúng ta.

Có một ngày tôi đọc lại trình thuật về việc rửa chân, tôi thực sự bị đánh động bởi nét tương cận sâu xa của bản văn này với thánh thi ca ngợi Đức Kitô trong thư Philipphê. Ở đó cũng thấy có lời mời gọi bắt chước: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Giêsu Kitô” (Pl 2,5); tiếp đến là mô tả Đức Giêsu, phận là phận Thiên Chúa, nhưng “trút bỏ” để “mặc lấy thân nô lệ”. Về phía mình, Gioan cũng cho thấy Đức Giêsu “biết rằng Chúa Cha đã giao phó mọi sự trong tay”, biết mình “bởi Thiên Chúa mà đến và sắp trở về cùng Thiên Chúa”, thì đã cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, là cách ăn mặc của người nô lệ, và bắt đầu rửa chân cho các môn đệ. Người ta hẳn muốn nói là tác giả sách Phúc Âm diễn tả bằng những hình ảnh tạo hình và những cử chỉ cụ thể điều Phaolô đã nói một cách tổng quát và minh nhiên.

Thực ra, đây luôn chỉ là một đề tài, là dây dẫn mọi sách Tân Ước: Đức Giêsu, tôi tớ của Thiên Chúa và của con người. Chính trong bối cảnh bữa ăn cuối cùng, Luca thuật lại trong Phúc Âm của mình một lời Đức Giêsu hẳn là đã nói sau lúc rửa chân: “Giữa người ngồi ăn và kẻ phục cụ, ai lớn hơn ai? Hẳn là người ngồi ăn chứ? Thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22,27). Theo tác giả sách Phúc Âm, Đức Giêsu đã nói như thế nhân một cuộc cãi vã giữa các môn đệ, xem ai trong nhóm được coi là người lớn nhất (x. Lc 22,24). Một hoàn cảnh tương tự có lẽ đã gợi hứng cho Đức Giêsu cử chỉ rửa chân này, như một loại dụ ngôn bằng hành vi. Trong lúc các môn đệ bận tâm cãi nhau sôi nổi, Đức Giêsu yên lặng đứng dậy khỏi bàn ăn, đi tìm một thau nước và và một khăn lau, rồi trở lại, quỳ trước Phêrô để rửa chân cho ông khiến ông ngần ngại và hoàn toàn bối rối: “Thưa Thầy, Thầy mà lại rửa chân cho con sao?” (Ga 13,6).

Trong đoạn nói về việc rửa chân, một cách nào đó Đức Giêsu đã muốn thu tất cả ý nghĩa cuộc đời của Ngài lại, để ý nghĩa đó được khắc sâu trong ký ức của các môn đệ; rồi một ngày kia các ông sẽ hiểu, khi các ông sẽ có thể hiểu: “Việc Thầy làm, bây giờ anh chưa hiểu, nhưng sau này anh sẽ hiểu” (Ga 13,7). Cử chỉ người ta thấy ở cuối Phúc Âm cho ta biết tất cả cuộc đời của Đức Giêsu, từ đầu tới cuối, là một sự rửa chân, một sự phục vụ con người; như một số nhà chú giải quen nói, đó là một cuộc sống cho, một cuộc sống được sống vì hạnh phúc của những người khác.

Đức Giêsu đã cho ta mẫu gương một đời sống hao tổn vì người khác, một cuộc đời trở thành “tấm bánh bẻ ra cho thế giới”: đó là chủ đề của Đại hội Thánh Thể thế giới ở Lộ Đức. Khi nói: cả anh em nữa, anh em hãy làm như Thầy đã làm cho anh em, Đức Giêsu thiết lập diakonia, tức là sự phục vụ, khi nâng nó lên thành luật căn bản hoặc, đúng hơn, thành kiểu cách sống và gương mẫu cho mọi tương quan trong Giáo hội.

Đức Giêsu đã nói cho Phêrô là “sau này” ông sẽ hiểu; thực tế, sau này – tức sau ngày Phục Sinh – , Giáo hội không ngừng nói về phục vụ, bằng mọi cách ghi sâu việc phục vụ nơi các môn đệ. Khi phác họa chân dung một người góa bụa lý tưởng, trong các thư của mình, Phaolô đề cập việc rửa chân như một điều tốt: “Họ hãy rửa chân cho các thánh” (1Tm 5,10). Chính giáo lý về các đặc sủng đều quy hướng tất cả về sự phục vụ; phục vụ được coi như linh hồn và mục đích của mỗi đặc sủng. Thánh Phaolô quả quyết: mọi “biểu hiện đặc biệt của Thần Khí” là “vì lợi ích của cộng đồng” (x. 1Cr 12,7) và các đặc sủng được ban rộng rãi “để dân thánh được chuẩn bị làm công việc phục vụ (diakonia)” (Ep 4,12). Và khi tông đồ Phêrô khuyên tiếp đón nhau, ngài ghi nhận: “Ơn riêng Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ (diakonia) kẻ khác” (1Pr 4,10). Đặc sủng và thừa tác vụ, hay phục vụ, như hai yếu tố luôn liên kết với nhau cách cốt tử; một đặc sủng mà không được thấy rõ trong việc phục vụ thì giống như nén bạc chôn giấu dưới đất: nó trở thành điểm chính bị lên án (x. Mt 25,25); giống như một lưỡi cầy bị han rỉ vì lâu ngày không được dùng để cày đất. Giáo hội mang tính đặc sủng để phục vụ.

Tinh thần phục vụ

Tuy nhiên, chúng ta cần đào sâu ý nghĩa của phục vụ, để nó có thể trở thành hiện thực trong đời sống chúng ta, chứ không chỉ là những lời nói hay trên cửa miệng. Tự nó, phục vụ không phải là một nhân đức. Từ diakonia, phục vụ, theo Tân Ước, không tìm thấy trong bất cứ bản liệt kê nào về các nhân đức hay các hoa quả của Thần Khí. Thậm chí người ta còn nói về việc phục vụ cho tội lỗi (x. Rm 6,16), cho các ngẫu tượng (x. 1Cr 6,9), mà chắc chắn không phải là một việc phục vụ tốt. Tự nó, phục vụ không tốt không xấu: nó nhấn mạnh một điều kiện sống, hoặc một cách tương giao với người khác trong công việc của mình, một sự lệ thuộc liên quan đến người khác. Thậm chí nó có thể là một hành vi tiêu cực nếu làm vì cưỡng bách (nô lệ) hoặc vì những động lực vụ lợi.

Ngày nay, ai nấy đều nói đến phục vụ; ai cũng nói mình đang ở trong tình huống phục vụ: người bán hàng phục vụ khách hàng; người ta bảo tất cả những ai đang thi hành một chức năng xã hội là họ đang phục vụ hay đang trực ban. Hiển nhiên sự phục vụ mà Phúc Âm nói đến là chuyện hoàn toàn khác, cho dù nó không khai trừ cũng không hạ giá sự phục vụ mà người đời quen hiểu. Sự khác nhau là hoàn toàn trong những động lực và thái độ bên trong đưa đến phục vụ.

Chúng ta hãy đọc lại trình thuật về việc rửa chân, để xem Đức Giêsu làm việc này với tinh thần nào và điều gì đã thúc đẩy Ngài hành động như thế: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1). Phục vụ không phải là một nhân đức, nhưng có nguồn gốc trong các nhân đức, nhất là đức ái; nó là cách diễn tả cao quý nhất của điều răn mới. Thánh Gioan nói rằng: phục vụ có đặc điểm là “không yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1Ga 3,18). Phục vụ là một cách biểu lộ agape của tình yêu “không tìm tư lợi” (1Cr 13,5), nhưng tìm lợi ích của người khác, không tìm kiếm mình nhưng là hiến mình. Tựu trung, đó là một cách tham dự và bắt chước hành động của Thiên Chúa, Đấng vì là “sự Thiện, tất cả sự Thiện, sự Thiện tối cao” chỉ có thể yêu và làm điều thiện một cách nhưng không (gratuité), không vì tư lợi nào.

Vì vậy, trái với sự phục vụ của thế gian, phục vụ theo Phúc Âm không phải là việc của người dưới, người làm công, người không có gì, nhưng đúng hơn là việc của người có của, giàu có, có địa vị cao. Về chuyện phục vụ thì ai được cho nhiều sẽ bị đòi nhiều (x. Lc 12,48). Do đó, trong Giáo hội, Đức Giêsu nói kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ (Lc 22,26), “Ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tới mọi người” (Mc 10,44). Việc rửa chân là “dấu chỉ quyền bính Kitô giáo” (C. Spicq).

Ngoài tính nhưng không, sự phục vụ còn diễn tả một đặc điểm quan trọng khác của agape nơi Thiên Chúa: sự khiêm nhường. Khi dạy: Anh em cũng phải rửa chân cho nhau, Đức Giêsu muốn nói: anh em phải phục vụ nhau bằng tình bác ái khiêm nhường. Bác ái và khiêm nhường cộng lại làm nên sự phục vụ theo Phúc Âm. Nhưng ở đây còn chuyện phải thỏa thuận với nhau. Tôi đã đọc nhiều định nghĩa rất hay về sự khiêm nhường, nhưng thú thật, tất cả đều làm tôi thất vọng. Sự khiêm nhường luôn được coi như một cách “thử” mình, hoặc như một cách “nói” về mình. Thế nên nó là một nhân đức cá nhân tuyệt vời, trong đó những người khác chỉ có liên hệ gián tiếp như là yếu tố để giúp xem mình có khiêm nhường không và, nếu có, thì khiêm nhường ra sao. Sách Gương Đức Giêsu Kitô nói: “Khiêm nhường là mình là sao thì đánh giá mình là vậy, xem xét mình trong sự thấp hèn của mình, tủi hổ về các khiếm khuyết của mình, xác tín mình nhỏ nhất so với mọi người” (II,2; III,8).

Nhưng nếu nhân đức khiêm nhường được tóm tắt như vừa nói, nó sẽ là nhân đức duy nhất không thấy nơi Thiên Chúa. Thiên Chúa không thể có những cảm giác thấp hèn về mình, cũng không nói về mình với giọng điệu đó! Nhưng có nhân đức nào lại không có kiểu mẫu tối hậu nơi Thiên Chúa? Người ta hẳn có thể nói khiêm nhường là nhân đức đặc trưng của con người tội lỗi thôi. Nhưng chúng ta cứ mở sách Phúc Âm, và thấy Đức Giêsu quả quyết: “Anh em hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm hường” (Mt 11.28). Đức Giêsu luôn cho mình không mắc một lỗi nào, không bao giờ thấy mình ở dưới tước hiệu của mình là Chúa; Ngài công khai tuyên bố: ở đây có người còn hơn Giona, hơn Salomon, hơn Đavít, Abraham hay Môsê. Mặc dầu vậy, Ngài vẫn tuyên bố: hãy học với tôi vì tôi khiêm nhường. Chắc chắn chính vì khiêm nhường có một giá trị hoàn toàn khác, sâu sắc hơn những gì chúng ta thường gán cho nó.

Thật ra, trong ý nghĩa cao nhất của nó, khiêm nhường không ở chỗ  hèn mọn, vì người ta có thể hèn mọn và khiêm nhường cách khách quan, nhưng không vì thế mà là nhân đức. Nó cũng không ở chỗ cảm thấy mình hay tuyên bố mình hèn mọn, vì một người có thể cảm thấy mình hèn mọn và vô nghĩa, và thực sự là thế. Thừa nhận như vậy mới chỉ là khách quan, nhưng chưa phải là người khiêm nhường. Sự khiêm nhường đích thực ở chỗ làm cho mình thành hèn mọn. Theo nghĩa này, nó có nơi Thiên Chúa; hơn nữa chỉ ở nơi Thiên Chúa, nó ở mức độ cao nhất. Thiên Chúa không hèn mọn, không cảm thấy mình hèn mọn, nhưng làm cho mình thành hèn mọn: ngài đã hạ mình, đã đi xuống, đã “hạ cố” như các Giáo Phụ nói. Và điều Ngài làm không có gì là lợi lộc, nhưng chỉ để làm điều tốt, để phục vụ, vì yêu. Khiêm nhường là nhân đức của Thiên Chúa, vì chỉ mình Thiên Chúa là không thể lên cao hơn (không có gì ở trên Ngài). Ở địa vị Ngài, khi Ngài muốn làm một hành vi nào ở bên ngoài, Ngài không thể làm gì khác hơn là đi xuống. Thánh Phanxicô Assisi đã đưa ra một trong những câu định nghĩa đẹp nhất về Thiên Chúa, ngày ngài nói với Thiên Chúa trong bài “Ca ngợi Đấng Tối Cao”: “Ngài là sự khiêm nhường!” Tất cả lịch sử cứu độ là lịch sử sự khiêm nhường của Thiên Chúa, thậm chí những nhục nhã của Thiên Chúa. Trong một bản văn đầy tình âu yếm đối với Thánh Thể, cũng thánh nhân còn nói: “Anh em hãy xem: hàng ngày Ngài hạ mình như khi Ngài từ ngai vàng xuống trong lòng Đức Trinh Nữ; hàng ngày Ngài đến với chúng ta dưới dáng vẻ bên ngoài khiêm nhường; hàng ngày Ngài từ cung lòng Chúa Cha xuống trên bàn thờ, trong đôi tay linh mục” (Admonitions I).

Chúng ta hiểu vì sao Đức Giêsu có thể nói: Hãy học với tôi vì tôi khiêm nhường. Ngài đã làm gì để cho là mình khiêm nhường? Đã hạ mình; từ lúc nhập thể, Ngài chỉ có đi xuống, xuống tới giới hạn cuối cùng mà chúng ta đang quỳ gối chiêm ngắm, là rửa chân cho các tông đồ. Các thiên thần đã phải run lên như thế nào khi thấy nhìn một cảnh tượng hạ mình như thế của Thiên Chúa, trong khi thậm chí không dám nhìn Ngài (x. Pr 1,12). Đấng Tạo Dựng quỳ gối trước thụ tạo của mình! Thánh Bênađô tự nhủ: “Ôi tro bụi, hãy xấu hổ vì sự kiêu căng của ngươi. Thiên Chúa đã hạ mình xuống, còn ngươi lại đưa mình lên!”

Hiểu như vậy – tức hạ mình để phục vụ – khiêm nhường thực sự là con đường hoàn toàn nên giống với Thiên Chúa, và, trong đời sống chúng ta, để bắt chước Thánh Thể. Cũng thánh Phanxicô còn nói: “Anh em hãy chiêm ngắm sự khiêm nhường của Thiên Chúa và mở lòng ra cho Người; anh em cũng hãy khiêm nhường, để Người nâng anh em lên. Không gì là của anh em, đừng giữ cho mình, để Người nhận tất cả anh em, Đấng đã phó nộp hết mình cho anh em (Lettre au Chapitre général, 2).

“Hãy đi và làm như vậy”

Ước mong mỗi cuối Thánh lễ phải là một lời sai đi của chính Đức Giêsu, Đấng cũng sẽ nói với chúng ta, khi giải tán chúng ta ra về, những gì Ngài đã nói với người thông luật về dụ ngôn người Samari nhân hậu: ông hãy đi và làm như vậy (Lc 10,37). Sau khi cắt nghĩa cho các tông đồ ý nghĩa của việc rửa chân, Đức Giêsu nói ngay với các ông: “Anh em đã biết những điều đó, nếu anh em thực hành thì thật phúc cho anh em” (Ga 13,17)

Người ta tập phục vụ bằng cách phục vụ. Kết quả của bài nguyện ngắm này hẳn phải là can đảm duyệt lại đời sống của chúng ta (thói quen, chức năng, thời biểu làm việc, phân phối và sử dụng thời giờ), xem đời sống chúng ta có thật sự là một việc phục vụ chăng, và xem trong việc phục vụ này có tình yêu và khiêm nhường chăng. Điểm căn bản là xem chúng ta có phục vụ anh em, hay ngược lại chính họ phục vụ chúng ta. Người mà ngay cả khi dùng đủ cách để giúp người khác, không hoàn toàn vô vị lợi trong hành động của mình, tìm cách này hay cách khác để được người ta khen hay hài lòng cảm thấy trong lương tâm mình là người làm ơn, thì đó là người sử dụng anh em và biến anh em thành dụng cụ. Về điểm này, Phúc Âm có những đòi hỏi triệt để: “Đừng cho tay trái biết việc tay phải làm” (Mt 6,3). Một cách nào đó, tất cả những gì làm để cho người khác thấy, là hỏng. Christus non sibi placuit: Đức Kitô đã không chiều theo sở thích của mình (Rm 15,3). Quy luật của phục vụ là như thế.

Để “phân định các tâm trí”, tức những ý định thúc đẩy chúng ta phục vụ, quả là hữu ích khi xem đâu là những việc phục vụ chúng ta thích làm và những việc phục vụ chúng ta cố tìm cách tránh né; xem lòng chúng ta – trong trường hợp được yêu cầu – có sẵn sàng từ bỏ một công việc vẻ vang, đem lại uy tín cho chúng ta, để đảm nhận một công việc tầm thường không được ai thích. Những việc phục vụ bảo đảm nhất là những việc chúng ta làm mà không ai, ngay cả những người được phục vụ, hay biết, nhưng chỉ có Chúa Cha trong nơi bí ẩn biết mà thôi. Đức Giêsu đã nâng lên danh hiệu tượng trưng của việc phục vụ một trong những cử chỉ khiêm nhường nhất được biết đến trong thời Ngài, và thông thường là một nhiệm vụ được trao cho nô lệ: rửa chân. Thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn” (Rm 12,16).

Ngược với tinh thần phục vụ là khát khao thống trị, thói quen áp đặt cho người khác ý riêng của mình, cách nhìn hay làm của mình. Tóm lại là sự độc đoán. Người có tính khí như vậy thường hay trở thành kẻ chuyên chế thực sự, không nhận thấy những đau khổ mình gây ra, thậm chí còn ngạc nhiên khi thấy người khác không một chút thích thú với “lợi ích” mình bày tỏ cho họ, cũng không nhận ra những cố gắng của mình, đến độ coi mình như là nạn nhân. Đức Giêsu dạy các tông đồ là họ phải như chiên giữa bầy sói, nhưng ở đây thì ngược lại, chính họ là sói giữa bầy chiên. Những đau khổ mà đôi khi một gia đình hay cộng đoàn phải chịu, một phần lớn là do một người nào đó độc đoán, chuyên quyền, đè bẹp những người khác dưới giày đinh của mình, và là người, viện cớ phục vụ người khác, mà thực ra bắt người khác phục vụ mình.

“Người đó” rất có thể là chính chúng ta. Về việc này, nếu chúng ta có chút nghi ngờ, cứ thành thực hỏi những người chung quanh ta, để họ nói lên mà không sợ hãi, có lẽ là chuyện tốt. Nếu thấy chúng ta làm cho người nào đó khó sống, vì tâm tính của chúng ta, cứ khiêm tốn chấp nhận thực tế và suy nghĩ lại về sự phục vụ của chúng ta.

Đàng khác, quá gắn bó với thói quen và tiện nghi riêng cũng trái với tinh thần phục vụ. Nói tóm, đó là tính khí nhu nhược. Người luôn tìm sự thỏa mãn cho mình, coi trọng lúc nghỉ ngơi, thời giờ rảnh rỗi, thời biểu của mình, người đó không thể phục vụ người khác cách nghiêm túc. Bao giờ cũng chỉ có và sẽ chỉ có một quy tắc phục vụ: Đức Kitô không tìm cách làm hài lòng mình.

Như chúng ta đã thấy, phục vụ là nhân đức riêng của người đứng đầu, đó là điều Đức Giêsu đã để lại cho các mục tử trong Giáo hội, như là di sản cao quý nhất của Ngài. Chúng ta biết mọi đặc sủng là để phục vụ; nhưng điều đó đặc biệt đúng với đặc sủng của những ai “coi sóc và dạy dỗ” (Ep 4,11), nói khác đi đặc sủng của quyền bính. Chính để phục vụ mà Giáo hội là “đặc sủng” và cũng chính để phục vụ mà Giáo hội là “phẩm trật”!

Nếu đối với quần chúng Kitô hữu, phục vụ có nghĩa là “không còn sống cho chính mình nữa” (2Cr 5,15), thì đối với các mục tử, đó là “không lo cho chính mình”: “Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao?” (Ed 34,2). Đối với thế gian, không gì tự nhiên và chính đáng hơn là người nào là chủ (dominus) thì “làm chủ”, hành xử với tư cách là chủ. Tuy nhiên đối với các môn đệ của Đức Giêsu thì không như vậy, nhưng ai là chủ thì phải phục vụ. Phaolô viết: “Không phải là chúng tôi khống chế đức tin của anh em, trái lại chúng tôi góp phần tạo niềm vui cho anh em” (2Cr 1,24). Nơi Phêrô, chúng ta cũng thấy cùng một chỉ thị như vậy cho các mục tử: “Đừng lấy quyền mà thống trị những người mà Thiên Chúa đã giao phó cha anh em, nhưng hãy nêu gương sống cho đoàn chiên” (1Pr 5,3).

Trong thừa tác vụ mục vụ, không dễ để thoát khỏi não trạng của người biết nhiều về đức tin. Một trong những tài liệu cổ xưa nhất về thừa tác vụ giám mục (Didascalia tiếng syri) cho thấy một quan niệm coi giám mục như là vua; trong Giáo hội của ngài, cả Thiên Chúa lẫn con người không thể làm gì mà không có phép của ngài.

Về điểm tế nhị này, vấn đề hoán cải thường hay được đặt ra cho các mục tử với tư cách là mục tử. Âm hưởng nào còn in dấu sức mạnh và buồn phiền trong những lời Đức Giêsu nói sau lúc rửa chân: “Thầy là Chúa và là Thầy…”. Đức Giêsu “đã không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” (Pl 2,6), Ngài không sợ liên lụy đến phẩm giá thần linh của Ngài, không sợ con người tha hồ bất kính đối với Ngài, nhưng Ngài trút bỏ đặc quyền của mình, cho người ta thấy mình như một người trong số những người khác (“nên giống người phàm”). Đức Giêsu đã sống đơn giản; sự đơn giản luôn là khởi đầu và dấu chỉ nói lên sự trở về đích thực với Phúc Âm. Phải bắt chước hành động của Thiên Chúa. Tertullianô viết: “Không gì nói lên đặc điểm và hành động của Thiên Chúa hơn là sự tương phản giữa những phương tiện đơn giản cũng như những cách thức hành động bên ngoài, với tính chất vĩ đại của các hậu quả thiêng liêng mà người ta có được” (De bapt. 1).

Để hành động và gây ấn tượng, thế gian cần vẻ hào nhoáng; Thiên Chúa thì không. Đã từng có thời kỳ thế giá của giám mục được biểu lộ trong những huy hiệu, tước hiệu, lâu đài, quân đội; đó là những giám mục ông hoàng, nhưng tính cách ông hoàng nhiều hơn giám mục. Về điểm này, ngày nay, để so sánh, chúng ta như thể thấy Giáo hội sống trong một thời kỳ vàng. Tôi biết một giám mục cho là tự nhiên việc ngài mỗi buổi sáng bỏ ra hàng giờ đến nhà dưỡng lão để giúp các người già cả mặc quần áo đi ăn sáng; chính ngài đã thể hiện từng chữ bài học rửa chân. Phần tôi, tôi thấy có nhiệm vụ nói lên điều này. Suốt đời tôi, tôi đã nhận được những gương mẫu đơn giản đẹp nhất từ nhiều giám chức.

Tuy vậy, ngay cả về vấn đề này, cũng nên giữ một sự tự do theo tinh thần Phúc Âm. Sự đơn giản đòi chúng ta không được coi mình ở trên người khác, nhưng không phải lúc nào cũng khăng khăng coi mình ở dưới họ, để cách này cách khác giữ khoảng cách; không phải vậy, sống đơn giản là chấp nhận mình như mọi người, trong sinh hoạt thường ngày. Manzoni ghi nhận rất tinh tế: “Có những người tỏ ra rất khiêm nhường để đặt mình dưới người khác, nhưng lại không khiêm nhường để giống như họ” (Les fiancés, chap. 38). Đôi khi cách phục vụ tốt nhất không phải ở chỗ phục vụ, nhưng là để người ta phục vụ mình, như Đức Giêsu có lúc đã biết ngồi vào bàn để cho người rửa chân (x. Lc 7,38), và vui lòng chấp nhận để một số phụ nữ quảng đại và yêu mến phục vụ mình trong các cuộc hành trình.

Phục vụ Thần Khí

Về vấn đề phục vụ, có một khía cạnh cần làm nổi bật: phục vụ anh chị em, cho dù quan trọng và thánh thiện, không phải là khía cạnh đầu tiên của phục vụ, cũng không phải là điều chủ yếu; tiên vàn phải là phục vụ Thiên Chúa. Đức Giêsu tiên vàn là người “Tôi Tớ của Thiên Chúa, sau đó mới là tôi tớ của con người. Ngài nhắc điều đó cho cha mẹ khi nói với hai ông bà: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà Cha con sao?” (Lc 2,49). Ngài không ngần ngại làm đám đông thất vọng, những người đã đi theo để nghe Ngài, để được chữa lành, khi bất thình lình Ngài bỏ họ đó để lui vào nơi vắng vẻ mà cầu nguyện (x. Lc 5,16).

Ngày hôm nay, ngay cả việc phục vụ theo Phúc Âm cũng có nguy cơ bị tục hóa. Người ta quả quyết quá dễ là mọi việc phục vụ con người đều là phục vụ Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói về việc phục vụ Thần Khí (diakonia Pneumatos) (2Cr 3,8), và các thừa tác viên của Tân Ước là dành cho việc phục vụ này. Người như linh mục, do ơn gọi, được kêu mời phục vụ “theo Thần Khí”, không phục vụ anh em nếu ngài làm cả ngàn công việc phục vụ khác mà lơ là với việc phục vụ độc nhất người ta có quyền chờ đợi nơi ngài, và chỉ mình ngài có thể làm. Theo Kinh Thánh, linh mục “được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa” (Dt 5,1). Khi lần đầu tiên vấn đề này bùng nổ trong Giáo hội, Phêrô đã giải quyết như sau: “Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống, là điều không phải… Phần chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ lời Thiên Chúa” (Cv 6,2-4).

Quả thực, có những mục tử lại quay trở lại với chuyện lo việc ăn uống: các ngài quan tâm đến mọi thứ vấn đề vật chất, kinh tế, quản trị, thậm chí đôi khi cả vấn đề nông nghiệp trong cộng đồng (mà ngài có thể dễ dàng để cho người khác lo), và lơ là với việc phục vụ đích thực không thể thay thế. Việc phục vụ lời đòi phải có giờ đọc sách, nghiên cứu và cầu nguyện. Một cách chung chung, nếu các tín hữu ngày nay than phiền trong Giáo hội, chính là về sự kém cỏi của việc giảng dạy vì trống rỗng. Nhiều người khi tan Thánh lễ ra về, chán với bài giảng thay vì được nó làm cho phong phú.

Theo tôi, đó là vấn đề mục vụ ưu tiên số một. Phải cùng với Isaia mà lặp lại rằng: “Những ai nghèo hèn khốn khổ, tìm nước không ra” (Is 41,17); dân chúng tìm bánh, thì thường ra người ta lại cho con bọ cạp, nói cách khác những lời trống rỗng, thuộc loại tầm thường hiếm thấy, những lời của Thiên Chúa; hoặc chẳng cho gì.

Đây là một trang của thánh Grêgoriô Cả vẫn còn mang tính thời sự: “Đối với một mùa gặt đại thu, số thợ gặt lại ít: chúng ta không thể nhắc tới sự thiếu hụt này mà không buồn bã sâu xa, vì có những người lẽ ra được nghe lời tốt, nhưng những người rao giảng lại vắng mặt. Hãy coi: thế giới đầy linh mục, nhưng hiếm thấy những linh mục làm việc trong vườn nho của Chúa; chúng ta đảm nhận trách nhiệm linh mục, nhưng không chu toàn những bổn phận do trách nhiệm này đòi hỏi.. Chúng ta bù đầu vào những công việc trần thế; thế mà, những gì chúng ta đảm nhận trong trách nhiệm linh mục của chúng ta là một chuyện, và những gì hành vi của chúng ta minh chứng lại là chuyện khác. Chúng ta bỏ thừa tác vụ rao giảng; người ta gọi chúng ta là giám mục, nhưng có lẽ đúng hơn là để lên án chúng ta, vì chúng ta có những vinh dự thuộc về tước hiệu của chúng ta, nhưng không phải là những phẩm chất… Hoàn toàn hướng về những những chuyện thế sự, chúng ta dường như càng quan tâm đến những công việc thế gian thì tâm hồn chúng ta càng trở thành vô cảm” (Homélies sur les évangiles 17, 3.14).

Tôi kết thúc bài suy niệm về việc rửa chân và phục vụ. mượn lời của thánh Augustinô, là lời làm rõ ý nghĩa Thánh Thể của tất cả những việc trên trong Phúc Âm Gioan: “Thánh tông đồ Gioan đã trình bày rõ ràng mầu nhiệm bữa Tiệc ly khi viết: Đức Giêsu đã thí mạng vì chúng ta, như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em” (1Ga 3,16) (Sermo 304, 1; PL 38, 1395). Phải, Thánh Thể không chỉ là một mầu nhiệm để cử hành, để lãnh nhận hay chiêm ngắm; đó còn là một mầu nhiệm để bắt chước.

Chương VI: “ĐÂY THÌ CÒN HƠN VUA SALOMON NỮA”

Thánh Thể như sự hiện diện thật của Chúa

Tôi đã bắt đầu những bài suy niệm này bằng cách suy tư về Thánh Thể trong lịch sử cứu độ; trong đó chúng ta thấy mầu nhiệm Thánh Thể hiện diện qua nhiều cách khác nhau trong suốt lịch sử cứu độ: như hình bóng trong Cựu Ước, như biến cố trong Tân Ước và như bí tích trong thời Giáo hội. Tiếp đến, tôi dừng lại khá lâu về Thánh Thể-bí tích, để cho thấy Thánh Thể “làm nên” Giáo hội như thế nào qua việc truyền phép, rước lễ, chiêm niệm và cuối cùng qua việc bắt chước. Trong hai bài suy niệm cuối cùng, tôi muốn lấy lại chủ đề đầu tiên: Thánh Thể trong lịch sử cứu độ, nhìn lại ngày hôm nay và ngày mai.

Mầu nhiệm Kitô giáo luôn có ba chiều kích: tưởng niệm quá khứ, hiện diện của ân sủng và chờ đợi thời gian viên mãn. Thánh Tôma Aquinô gọi Thánh Thể là “bữa tiệc thánh mà người ta lãnh nhận Đức Kitô: người ta cử hành việc tưởng niệm cuộc khổ nạn (quá khứ) của Ngài, linh hồn được tràn đầy ân sủng (hiện tại), và bảo chứng vinh quang tương lai được ban cho chúng ta” (Điệp ca O sacrum convivium).

Ngày hôm nay, chúng ta bàn về Thánh Thể như là sự hiện diện thật của Chúa trong Giáo hội, dành bài cuối cùng để xem xét Thánh Thể như chờ đợi Chúa trở lại.

“Đây là Nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại”

Một hôm, tôi được dịp cử hành Thánh Lễ trong khuôn viên một đan viện. Bài Phúc Âm hôm đó là đoạn Matthêu 12. Tôi sẽ không bao giờ quên cảm tưởng mà lời Đức Giêsu nói đem lại cho tôi: “Đây thì còn hơn ông Giona… hơn vua Salomon nữa”. Lúc này, tôi như thể lần đầu tiên nghe những lời đó. Tôi chợt hiểu ý nghĩa của những trạng từ “hiện nay”, “ở đây”: thật sự “hiện nay”, “ở đây”, vào lúc này và ở nơi xác định này, chứ không chỉ vào thời Đức Giêsu còn ở trần gian, cách nay bao nhiêu thế kỷ. Tôi đờ đẫn cả người. Có gì đó trước mắt tôi hơn cả Giona, Salomon, Abraham hay Môsê; có Con Thiên Chúa hằng sống và đích thực. Tôi đã hiểu điều mà những lời sau đây muốn nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày…” (Mt 28,20).

Từ ngày hè đó, tôi thích những lời ấy, giờ đây trở thành thân mật hơn nhiều đối với tôi; trong Thánh Lễ, vào lúc quỳ xuống và đứng dậy sau truyền phép, tôi thường hay tự nhủ: bây giờ ở đây còn hơn vua Salomon! Đôi khi tôi nói to lên những lời ấy. Đối với bài suy niệm này, khi tôi muốn suy tư về mầu nhiệm Thánh Thể, là sự hiện diện thật của Chúa Giêsu, tôi đã không tìm ra lời nào đẹp hơn làm khởi điểm, và có thể đi cùng với tôi trong suốt cuộc nghiên cứu này của tôi.

Nhưng trước khi đi sâu vào mầu nhiệm hiện diện này Chúa Giêsu trong Thánh Thể, chúng ta hãy dừng lại một chút ngoài cửa để xem xét từ bên ngoài, với tất cả Kinh Thánh làm hậu cảnh. Trong nhãn quan toàn bộ, sự hiện diện Thánh Thể được mạc khải cho chúng ta như một cách tiếp cận tự nhiên về mạc khải của Thiên Chúa trong Kinh Thánh, như nét vẽ cuối cùng mạc khải cho ta khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa. Thiên Chúa của Kinh Thánh là một Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta, một Thiên Chúa hiện diện, không phải một Thiên Chúa “không dính dáng với những chuyện của con người”, không thể đạt tới, như Thiên Chúa của các triết gia. Vì vậy, Người tìm thấy trong Thánh Thể một nơi để vĩnh viễn tỏ mình; Thánh Thể là bụi gai cháy đích thực, nơi Thiên Chúa tỏ cho biết tên Người là Đức Chúa, nghĩa là, theo ý nghĩa xác thực của sách Xuất hành 3,14, “Đấng có đó, Đấng hiện diện”.

Theo đà ấy, Isaia bắt đầu nói về một con trẻ sẽ được gọi là Emmanuel: Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta (x. Is 7,14). Cuối cùng là sự kiện thực hiện lời hứa: Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta (Ga 1,14). Sự hiện diện của Thiên Chúa trước đây tỏ hiện trong đám mây hay trong vinh quang – nhưng là một vinh quang gián đoạn và không thể nắm bắt – từ đây được bày tỏ trong xác thịt của chúng ta, một xác thịt thấy được, sờ được, ở giữa chúng ta: điều chúng tôi đã nghe, đã thấy tận mắt, đã chiêm ngưỡng, tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời Sự Sống (1Ga 1,1).

Bản liệt kê ấn tượng về các động từ trên chưa đầy đủ, còn thiếu động từ “ăn”. Và việc lập phép Thánh Thể cho phép bước cuối cùng này: “Hãy cầm lấy mà ăn”, “Ai ăn thịt tôi sẽ được sống đời đời”. Sự hiện diện của Thiên Chúa, một cách tổng quát và bên ngoài, nếu nói được như vậy, trở thành cá nhân và bên trong con người, không chỉ là một cách cố ý thoát khỏi vật chất (điều xảy ra trong việc nhìn, nghe, chiêm ngưỡng và đức tin), nhưng thật sự, cách cụ thể, thích ứng với điều kiện của chúng ta là những hữu thể nhập thể. Thánh Thể là giai đoạn cuối cùng trong suốt cuộc hành trình “hạ cố” của Thiên Chúa: sáng tạo, mạc khải, nhập thể, Thánh Thể. Thật chính đáng khi phụng vụ lễ “Mình Máu Đức Kitô”, lễ Thánh Thể, áp dụng cho Thánh Thể lời của Môsê: “Có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần như Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta?” (Đnl 4,7). Trước nhà tạm, chúng ta có thể thật sự lặp lại những lời của sách Khải huyền: Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại (Kh 21,3). Phải, Thánh Thể liên quan đến mầu nhiệm Vượt Qua, nhưng cũng có liên quan cốt tử đến mầu nhiệm Nhập Thể; tưởng niệm một biến cố – cuộc Vượt Qua – nhưng cũng là sự hiện diện của một ngôi vị: Ngôi Lời mặc lấy xác phàm. Dây liên hệ sâu xa này được làm sáng tỏ trong Phúc Âm Gioan, khi chúng ta từ chương 1 bước qua chương 6: Ngôi Lời mặc lấy xác phàm (Nhập Thể), và xác phàm này trở thành “của ăn thật” (Thánh Thể). Sự sống vĩnh cửu trở nên hữu hình cho chúng ta trong Nhập Thể (x. 1Ga 1,2) từ đây trở thành của ăn cho chúng ta, trở thành “lương thực đem lại sự sống đời đời”. Thánh Thể có được sức mạnh vô tận thần hóa chúng ta, vì cho chúng ta tiếp xúc với xác thịt của Con Người-Thiên Chúa.

“Điều gì tốt thì giữ”

Giờ đây chúng ta bước qua cửa đã giữ chúng ta dừng chân cho tới lúc này, để đi vào trong đám mây sáng chói, ở bên kia bức màn, trong nơi cực thánh, đối diện với chính mầu nhiệm hiện diện thật của Đức Giêsu trong Thánh Thể. Làm thế nào đối diện với một mầu nhiệm cao vời, vô phương đạt thấu ấy? Chúng ta nghĩ ngay đến con số không kể xiết các lý thuyết và các cuộc tranh luận về đề tài này, những khác biệt giữa người Công giáo và Thệ phản, giữa bên La-tinh và Chính Thống giáo, có đầy sách vở về chuyện đó khi chúng ta học thần học. Ngày nay, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng không thể thêm bất cứ điều gì khác vào mầu nhiệm này để có thể làm gia tăng đức tin của chúng ta và sưởi ấm tâm hồn chúng ta, mà không thể không rơi vào cuộc bút chiến giữa các hệ phái Kitô khác nhau.

Nhưng đó lại chính là công trình kỳ diệu mà Chúa Thánh Thần đang thực hiện ngày nay giữa mọi người Kitô hữu. Người buộc chúng ta phải thừa nhận rằng, trong những cuộc tranh luận của chúng ta về Thánh Thể, có biết bao nhiêu tự phụ của con người tưởng có thể nhốt mầu nhiệm trong một lý thuyết hay thậm chí trong một lời, cũng như muốn thắng địch thủ. Thần Khí thúc đẩy chúng ta thống hối, vì chúng ta đã biến bảo chứng tối cao của tình yêu và sự hiệp nhất mà Chúa đã để lại cho chúng ta thành đối tượng ưu đãi để chúng ta tranh cãi.

Phương tiện giúp chúng ta đi trên con đường đại kết này về Thánh Thể, con đường bác ái Kitô giáo, là cùng nhau thừa nhận việc chia sẻ cho nhau. Không phải là vượt quá những khác biệt thật sự hay vì bất cứ lý do gì mà không còn giữ giáo lý công giáo chính thực. Đúng hơn đây là để chung những khía cạnh tích cực và những giá trị xác thực có trong mỗi truyền thống, để xây dựng “toàn bộ” những chân lý chung cho chúng ta và bắt đầu lôi kéo chúng ta tới hiệp nhất. Thật đáng kinh ngạc khi một số quan điểm Công giáo, Chính thống và Tin Lành, liên quan đến sự hiện diện thật, cho thấy là khác biệt và phá hoại, trong trường hợp người ta đặt chúng tương phản với nhau và xem xét chúng thay thế nhau thay vì hội tụ với nhau cách tuyệt vời, miễn là giữ cho chúng được cân bằng. Chúng ta phải bắt đầu làm một cuộc tổng hợp: sàng lọc những truyền thống lớn Kitô giáo để giữ lại nơi mỗi truyền thống “điều gì tốt” (x. Tx 5,21), theo lời khuyên của thánh Tông Đồ. Khi để chung như vậy, những gì thuộc Thiên Chúa thì tích lũy lại, và những gì thuộc con người thì bị đào thải.

Một sự hiện diện thật, nhưng ẩn giấu: truyền thống La-tinh

Trong tinh thần này, chúng ta hãy để chút thời giờ nhìn kỹ hơn những truyền thống Thánh Thể chính: La-tinh, Chính Thống giáo và Tin Lành, để kích thích chúng ta xây dựng trên những sự phong phú của mỗi truyền thống và kết hợp tất cả những phong phú đó trong kho tàng chung của Giáo hội. Ý tưởng mà cuối cùng chúng ta có được về mầu nhiệm hiện diện thật sẽ phong phú và sống động hơn.

Theo thần học La-tinh, trọng tâm không cần bàn cãi của hành động Thánh Thể từ đó phát xuất sự hiện diện thật của Đức Kitô, là lúc truyền phép. Chính đó là lúc mà Đức Giêsu hành động và nói ở ngôi thứ nhất. Thần học La-tinh nối kết với tất cả trào lưu truyền thống Giáo phụ; hãy xem những gì thánh Ambrôsiô viết: “Bánh này thuộc về bánh trước khi được truyền phép; nhưng sau khi truyền phép, bánh trở thành mình Đức Kitô. Việc truyền phép được thực hiện bằng những lời nào? Những lời ấy là của ai? Của Đức Giêsu! Tất cả những lời cầu nguyện trước lúc này, đều là những lời của linh mục đọc lên ca tụng Thiên Chúa, cầu nguyện cho dân, cho những người lãnh đạo và những người khác. Nhưng đến lúc Thánh Thể được thực hiện, thì linh mục không dùng lời của mình nữa, mà dùng lời của Đức Kitô. Vậy chính lời làm nên (conficit) bí tích… Bạn có thấy lời của Đức Kitô hữu hiệu (operatorius) biết bao không? Trước lúc truyền phép, đã không có mình Đức Kitô, nhưng sau truyền phép, tôi nói với bạn từ đây đó là mình Đức Kitô. Chính Ngài đã nói và điều đó đã xảy ra; Ngài đã truyền lệnh và điều đó liền có (x. Tv 33,9)” (De sacr. IV, 14-16).

Theo nhãn quan La-tinh, chúng ta có thể nói về một tính hiện thực Kitô học: “Kitô học”, vì sự chú ý hoàn toàn hướng về Đức Kitô, được xét đến cả trong cuộc sống lịch sử và nhập thể lẫn với tư cách Đấng Phục Sinh. Đức Kitô vừa là đối tượng vừa là chủ thể của Thánh Thể: Đấng được thực hiện trong Thánh Thể và Đấng thực hiện Thánh Thể; “tính hiện thực”, vì người ta không chỉ thấy Đức Giêsu hiện diện trên bàn thờ trong một dấu chỉ và biểu tượng (chống lại Bérenger de Tours), nhưng trong sự thật và với thực tại riêng của mình. Để cho thấy ví dụ về một sự hiện thực như thế, chúng ta hãy lấy bài ca Ave verum đã được Đức Giáo hoàng Innocentê IV sáng tác cho lúc dâng lễ: “Kính chào thân xác đích thực, sinh bởi lòng Đức Trinh Nữ Maria, Ngài đã thật sự chịu đau khổ và đã chịu sát tế trên thập giá vì con người, từ cạnh sườn Ngài máu và nước đã chảy ra…”.

Tiếp theo, Công đồng Trentô đã đem lại nhiều chi tiết chính xác về cách quan niệm sự hiện diện thật, qua những trạng từ: vere, realiter, substantialiter; Đức Giêsu hiện diện thật, không chỉ bằng hình ảnh hay hình bóng; Ngài thực sự hiện diện, chứ không chỉ cách chủ quan, vì đức tin của người tín hữu; Ngài hiện diện theo bản thể, tức theo thực tại sâu sắc mà giác quan không thấy, chứ không chỉ vẻ bên ngoài vẫn còn là bánh và rượu.

Đúng là có thể có thể có nguy cơ rơi vào một thứ thực tiễn “sống sượng”, hoặc quá đáng như trong công thức chống lại lạc thuyết của Béranger, theo kiểu: mình và máu Đức Kitô chỉ hiện diện trên bàn thờ “cách khả giác và đúng là được tay của linh mục chạm đến và bẻ ra, và được nhai bởi răng của các tín hữu” (x. Dz. 690). Nhưng nguy cơ này có được phương dược trong chính truyền thống. Thánh Augustinô đã làm sáng tỏ sự việc một lần vĩnh viễn: sự hiện diện của Đức Giêsu trong Thánh Thể đến “in sacramento” (trong bí tích), nói khác đi, không phải là sự hiện diện thể lý, nhưng hiện diện cách bí tích, qua trung gian các dấu chỉ bánh và rượu. Tuy nhiên trong trường hợp này, dấu chỉ không khai trừ thực tại, nhưng làm cho thực tại hiện diện trong một cách thức độc nhất, nghĩa là một thực tại thiêng liêng – là thân xác của Đức Kitô phục sinh – có thể trở thành hiện tại cho ta, bao lâu chúng ta còn sống trong cuộc đời này.

Ở Tây phương, thánh Tôma Aquinô – một bậc thầy khác về linh đạo Thánh Thể – cũng như thánh Augustinô, có cùng một kiểu diễn đạt, khi ngài nói về sự hiện diện của Đức Kitô “theo bản thể” dưới các hình bánh và rượu (x. Somme théologique IIIa, q.75, a.4). Quả thực, nói rằng Đức Kitô hiện diện, với bản thể của Ngài, trong Thánh Thể, cũng là nói Ngài hiện diện trong thực tại chân thật và sâu xa của Ngài mà người ta chỉ có thể đạt tới nhờ đức tin: “Thị giác, xúc giác, vị giác, tất cả đều thất bại; chỉ còn đức tin vào lời của Ngài”, thánh Tôma đã ca lên như thế trong bài “Adoro Te devote”. Khởi đầu bài ca này, thánh nhân đã lấy lại và khai triển với nét độc đáo riêng nhãn quan bí tích của Augustinô, khi viết rằng Đức Kitô trong Thánh Thể hiện diện trong các hình thái hay hình: “Lạy Thiên Chúa ẩn mình, con sốt sắng thờ lạy Chúa đang thực sự ẩn mình dưới những hình này”. Kiểu nói La-tinh “vere latitas” rất dồi dào ý nghĩa; muốn nói rằng: Chúa ẩn mình, nhưng thật sự đang ở đây (nhấn mạnh trên vere, trên thực tại hiện diện), và cũng muốn nói: Chúa thật sự đang ở đây, nhưng ẩn mình (nhấn mạnh trên latitas, trên đặc tính bí tích của sự hiện diện này).

Một lối cắt nghĩa như thế tránh được nguy cơ về một thực tế “sống sượng”. Trong một thánh thi khác tôn vinh Thánh Thể, thánh Tôma còn nói: “Đức Kitô không bị người ăn bẻ nát, Ngài không bị bẻ nát, cũng không bị phân chia, nhưng được lãnh nhận hết” (Lauda Sion).

Thế nên Đức Giêsu hiện diện trong Thánh Thể theo một cách thức độc nhất, không thấy nơi đâu khác. Không một tính từ nào, chỉ mình nó, là đủ để nói lên phẩm chất của sự hiện diện này, ngay cả tính từ “thực sự”: thực sự là do res (sự việc) và có nghĩa: theo kiểu một sự việc hay một sự vật; nhưng Đức Giêsu không hiện diện trong Thánh Thể như một “sự việc” hay sự vật, mà là một con người. Nếu phải gọi tên cho sự hiện diện này, có lẽ tốt hơn chỉ thuần túy gọi là sự hiện “Thánh Thể”, vì nó chỉ được thực hiện trong Thánh Thể.

Hành động của Chúa Thánh Thần: truyền thống Chính Thống giáo

Thần học La-tinh cung cấp nhiều nét phong phú, nhưng không khai thác hết mầu nhiệm, cũng không thể làm điều đó. Điều còn thiếu cho thần học này, ít nhất trong quá khứ, là không cho thấy tầm quan trọng phải có của Chúa Thánh Thần, và là chủ yếu cho việc hiểu Kinh Thánh. Vậy cuối cùng chúng ta hướng về Đông phương với một tâm hồn được chuẩn bị hoàn toàn khác với trước đây: chúng ta không còn lo lắng về sự khác biệt, nhưng may mắn được nó bổ túc cho nhãn quan La-tinh của chúng ta. Thực ra, truyền thống Chính Thống giáo cho thấy rõ hành động của Chúa Thánh Thần trong cử hành Thánh Thể. Vả lại, những đối chiếu này đã mang lại kết quả kể từ Công đồng Vaticanô II; cho tới lúc đó, trong lễ quy Rôma, người ta chỉ đề cập Chúa Thánh Thần như một lời xen vào vinh tụng ca kết thúc: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người…trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần…”. Nhưng hiện nay, mọi Kinh Nguyện Thánh Thể mới đều có hai lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần: trên lễ vật trước lúc truyền phép, và trên Giáo hội sau lúc truyền phép.

Các phụng vụ Đông phương luôn coi sự hiện diện thật của Đức Kitô trên bàn thờ là do sự can thiệp đặc biệt của Chúa Thánh Thần, đến độ coi lúc chính xác Đức Kitô hiện diện là khi đọc kinh epiclesis (kinh khẩn cầu Chúa Thánh Thần), chứ không phải lúc truyền phép (tuy nhiên giáo lý này xuất hiện muộn hơn, tiếp theo sau cuộc tranh cãi về việc đập phá ảnh tượng). Trong kinh thượng tiến (anaphore) của thánh Giacôbê, sử dụng nơi Giáo hội Antiokia, Chúa Thánh Thần được khẩn cầu bằng những lời sau đây: “Lạy Chúa, xin sai xuống trên chúng con và trên những lễ vật dâng tiến Chúa đây Thần Khí thánh của Chúa, Đấng ban sự sống, ngự trị cùng với Chúa là Thiên Chúa và là Cha, và với Con độc nhất của Chúa. Người hiển trị, đồng bản thể, đồng vĩnh tồn; Người đã nói qua Lề Luật, các tiên tri và Tân Ước; dưới hình chim bồ câu, Người đã xuống trên Chúa chúng con là Đức Giêsu Kitô trong sông Giođan, và đã đậu trên Ngài; dưới hình lưỡi lửa, Người đã xuống trên các tông đồ ngày lễ Ngũ Tuần. Lạy Chúa, xin sai xuống trên chúng con và trên những lễ vật dâng tiến Chúa đây Thần Khí rất thánh của Chúa, để nhờ Người đến trong thánh thiện, tốt lành và vinh quang, Người thánh hóa bánh này và làm cho trở nên mình thánh Đức Kitô (Amen), để Người thánh hóa chén này và làm cho trở nên máu châu báu của Đức Kitô (Amen)”.

Ở đây, còn có gì hơn là chỉ thuần túy thêm vào lời kêu cầu Chúa Thánh Thần; có một cái nhìn rộng lớn đi sâu vào lịch sử cứu độ, cho phép ta khám phá ra một chiều hướng mới về mầu nhiệm Thánh Thể. Khởi đi từ những lời của Kinh Tin kính Nicêa-Constantinôpôli định nghĩa Chúa Thánh Thần là “Chúa” và là “Đấng ban sự sống”, “đã dùng các tiên tri mà phán dạy”, viễn tượng mở rộng tới chỗ vạch ra một “lịch sử” chân thực riêng cho Chúa Thánh Thần. Người luôn hoạt động khi ban sự sống. Lúc đầu, Ađam là một hình tượng bất động, lấy ra từ đất sét, nhưng được một “hơi thở của sự sống” thổi vào, và con người trở thành một sinh vật; khi đến lúc mời gọi Ađam Mới xuất hiện, lại cũng chính Chúa Thánh Thần can thiệp nơi Đức Maria, để ban sự sống cho Đấng Cứu Thế nơi Mẹ; còn ở nhà Tiệc ly, chúng ta thấy một nhúm người đang sợ hãi và bấp bênh, một loại thân thể bất động như con người đầu tiên, thì cũng chính hơi thở của Thần Khí đến và rồi Giáo hội sống động xuất hiện. Mỗi lần như vậy, chính Chúa Thánh Thần gây ra một sự khác biệt về phẩm chất trong đời sống và lịch sử cứu độ.

Thánh Thể đưa một loạt những lần can thiệp kỳ diệu đến chỗ hoàn tất. Ngày Phục Sinh, khi ùa vào trong mồ, “sờ” vào thân xác bất động của Đức Giêsu, làm cho thân xác ấy sống lại, Chúa Thánh Thần lặp lại sự kỳ diệu này trong Thánh Thể: Người xuống trên bánh rượu là những yếu tố chết và ban cho chúng sự sống, Người biến chúng thành thịt máu Đấng Cứu Chuộc. Quả thật, như Đức Giêsu đã cho thấy điều đó khi nói về Thánh Thể, chính “Thần Khí mới làm cho sống” (Ga 6,63). Thêôđôrê Mopsueste, khi trình bày cách tuyệt vời truyền thống Thánh Thể của Đông phương, đã viết: “Nhờ hành động phụng vụ, Chúa chúng ta như đã sống lại từ trong kẻ chết và đổ tràn trên tất cả chúng ta ân sủng của Ngài, nhờ việc Chúa Thánh Thần đến. Khi vị tư tế tuyên bố bánh và rượu này là Mình và Máu Đức Kitô, ông xác nhận chúng trở thành như thế nhờ tiếp xúc với Chúa Thánh Thần. Đã xảy ra như vậy với thân xác tự nhiên của Đức Kitô, khi Ngài lãnh nhận Chúa Thánh Thần và được Người xức dầu. Chúng ta tin rằng lúc Chúa Thánh Thần đến, bánh và rượu lãnh nhận một thứ xức dầu của ân sủng. Và từ đó chúng ta tin chúng là mình và máu Đức Kitô, bất tử, bất hoại, bất thụ và bất biến tự bản chất, như chính thân xác Đức Kitô trong sự Phục Sinh” (Homélies catéch. XVI, 11 tt).

Tuy nhiên, có một chi tiết cần phải để ý: Chúa Thánh Thần không hành động tách biệt với Đức Giêsu, nhưng trong lời của Đức Giêsu. Đức Giêsu nói về Người: “Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại…Người sẽ tôn vinh Thầy, vì người sẽ lấy những gì là của Thầy mà loan báo cho anh em” (Ga 16,13-14). Vì vậy không được tách biệt và càng không được đối lập với nhau những lời của Đức Giêsu (“Này là Mình Thầy”) và những lời của kinh epiclesis (“Xin Chúa Thánh Thần làm cho bánh này trở thành mình Đức Kitô”). Lời mời gọi các anh em Công giáo và Chính Thống giáo hiệp nhất phát sinh từ chính những sự sâu thẳm của mầu nhiệm Thánh Thể. Ngay cả khi, do sức mạnh của sự việc, việc tưởng niệm lập phép Thánh Thể và lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần xảy ra vào những thời điểm khác nhau (con người không thể diễn tả mầu nhiệm trong chỉ một lúc), tuy nhiên hành động của các Ngài liên kết với nhau. Chắc chắn hiệu quả là từ Thần Khí (không phải từ linh mục hay từ Giáo hội), nhưng hiệu quả này là từ bên trong lời của Đức Kitô và qua lời Ngài. Do đó mà thánh Ambrôsiô đã kêu lên: “Bạn không thấy lời của Đức Kitô hữu hiệu dường nào sao?”. Từ đây chúng ta biết lời ấy hữu hiệu là do ai: do Chúa Thánh Thần! Đức Giêsu nói: “Này là mình Thầy”, nghĩa là: Thầy muốn bánh này là mình Thầy. Và mỗi lần như thế Chúa Thánh Thần thực hiện ý muốn này của Đức Giêsu. Và sự “cộng tác” tuyệt vời như tôi vừa nói, được thực hiện. Trong việc truyền phép, Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta Đức Giêsu, để lúc hiệp lễ Đức Giêsu có thể ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần.

Hiệu năng hiện tại hóa sự hiện diện của Đức Giêsu trên bàn thờ, như tôi đã nói, không đến từ Giáo hội, nhưng, cần nói thêm, không xảy ra mà không có Giáo hội. Giáo hội là dụng cụ sống động được Chúa Thánh Thần dùng làm máng chuyên cho một công trình chung. Việc Đức Giêsu xuống trên bàn thờ giống như lúc Ngài trở lại lần cuối trong vinh quang: Thần Khí và Tân Nương (Giáo hội) nói với Đức Giêsu: Xin Ngài ngự đến! Và Ngài đến (x. Kh 22,17).

Tầm quan trọng của đức tin: linh đạo Tin Lành

Truyền thống La-tinh cho thấy rõ “ai” hiện diện trong Thánh Thể: Đức Kitô; truyền thống Chính Thống giáo cho thấy rõ Ngài hiện diện là “bởi ai”: bởi Chúa Thánh Thần; thần học Tin Lành cho thấy rõ sự hiện diện này tác động “trên ai”, nói khác đi, với những điều kiện nào mà bí tích thực tế thực hiện điều nó biểu thị nơi người lãnh nhận. Những điều kiện này khác nhau nhưng tóm lại trong một từ: đức tin.

Chúng ta không lần lữa ở những hệ quả tiêu cực mà vào một số thời kỳ người ta rút ra nguyên tắc của Tin Lành chủ trương các bí tích chỉ là những “dấu chỉ đức tin”. Chúng ta hãy vượt qua những hiểu lầm và bút chiến, và chúng ta thấy lời nhắc mạnh mẽ này đến đức tin thực bổ ích để giải cứu bí tích và không biến nó (như đã xảy ra trong thời của Luthêrô và không chỉ thời đó) thành một trong những “việc lành” hoặc thành một điều gì đó hoạt động hơi máy móc và có tính ma thuật, hầu như không được con người biết đến. Chung quy, vấn đề là khám phá ra ý nghĩa sâu xa của lời tung hô phụng vụ sau lúc truyền phép; lời tung hô này, chúng ta nhớ ngày xưa đã được xen vào trong công thức truyền phép, như để nhấn mạnh rằng đức tin là phần chủ yếu của mầu nhiệm: “Mysterium fidei”, mầu nhiệm đức tin.

Đức tin không làm nên bí tích, nó chỉ làm cho người ta “lãnh nhận” bí tích; chỉ có lời của Đức Kitô, được Giáo hội lấy lại và được Chúa Thánh Thần làm cho hữu hiệu, mới “làm nên” bí tích. Nhưng ích lợi của một bí tích sẽ như thế nào nếu bí tích không được “lãnh nhận”? Về việc Nhập Thể, những người như Origen, thánh Augustinô, thánh Bênađô đã nói: “Việc Đức Kitô được Đức Maria sinh ra ngày xưa ở Belem ích gì cho tôi, nếu Ngài không sinh ra trong tâm hồn tôi bằng đức tin?” Cũng phải nói như thế về Thánh Thể. Đức Kitô thật sự hiện diện trên bàn thờ thì có ích gì, nếu Ngài không hiện diện cho tôi. Một trạm truyền thanh phát sóng ở nơi nào đó chẳng ích gì, nếu không có trạm thu sóng của nó; âm nhạc không tồn tại nếu không có những lỗ tai để nghe. Lúc Đức Giêsu hiện diện trong thân xác ở trần gian, thì đức tin là cần thiết; nếu không – như chính Ngài thường hay lặp lại trong Phúc Âm – sự hiện diện của Ngài chẳng có ích gì, trừ ra để lên án người ta: “Khốn cho ngươi, hỡi Corozain, khốn cho ngươi, hỡi Capharnaum”.

Chiều kích chủ quan và hiện sinh này của sự hiện diện Thánh Thể không hủy bỏ sự hiện diện khách quan đi trước đức tin của con người, hơn nữa nó giả thiết và làm tăng giá trị đức tin ấy, vì thật sự chính Luthêrô, người đã rất đề cao vai trò của đức tin, đã có thể viết lời tuyên tín lạ lùng vào sự hiện diện thật như sau: “Tôi không thể hiểu những từ: ‘này là mình Thầy’ khác với những gì những từ ấy nói. Vậy những người khác phải chứng minh rằng khi có lời: ‘này là mình Thầy’, thì thân xác Đức Kitô không có ở đó. Tôi không muốn nghe những cách cắt nghĩa dựa trên lý trí. Trước những lời rõ ràng như vậy, tôi không chấp nhận thắc mắc; tôi gạt bỏ lương tri và lý trí lành mạnh của con người. Những chứng cứ vật chất, những luận chứng hình học, tôi gạt bỏ hết. Thiên Chúa ở trên tất cả mọi loại toán học. Chỉ cần rất đỗi ngạc nhiên mà thờ lạy lời Thiên Chúa” (Colloque de Marburg, 1529).

Chúng ta đã nhanh chóng lướt qua sự phong phú của những truyền thống Kitô giáo khác nhau, đủ để làm cho chúng ta thoáng thấy một quà tặng vô hạn được ban cho Giáo hội, khi các hệ phái Kitô giáo khác nhau quyết định để làm của chung những thiện ích thiêng liêng của mình, theo cách các Kitô hữu đầu tiên “để mọi sự làm của chung” (Cv 2,44). Điều đang xảy ra thì đã xảy ra thời tiên tri Khácgai lúc tái thiết đền thờ: mọi người dân Israel đang bận bịu tái thiết và làm đẹp nhà riêng của mình, thì Thiên Chúa đã dùng miệng tiên tri mà nói: “Bây giờ có phải là lúc để các ngươi ở trong các nhà có ghép gỗ đóng trần, còn Đền Thờ thì lại hoang tàn đổ nát không?” (Kg 1,4). Khi đó, dân bắt đầu đưa gỗ trên núi về để tái thiết đền thờ Thiên Chúa, và Thiên Chúa hài lòng về họ và tỏ hiện vinh quang của Ngài.

Ngày hôm nay, dường như tôi vẫn còn nghe tiếng than phiền này của Thiên Chúa đang nói với người Kitô hữu chúng ta: có phải dường như đây là lúc các ngươi được yên ổn, mỗi người hài lòng với “Giáo hội” của mình, đang khi thân thể của Con Ta vẫn còn chia rẽ chăng? Thánh Phaolô thấy có hai lý do khiến cho cộng đồng Corintô kém cỏi: ăn uống “cách bất xứng” bữa tối của Chúa (vậy là do cách cư xử xấu của họ), và ăn uống “tách biệt” nhau (vậy là do họ chia rẽ nhau). Thực sự có những người trong số họ ăn bữa ăn riêng của mình, thích mang đến những đồ ăn phù hợp với mình, mà hoàn toàn không biết đến những người khác (x. 1Cr 11,20 tt). Chúng ta phải coi điều cảnh báo như thế là cho chúng ta, và phải học cách “chờ đợi” nhau trong Bữa Tiệc của Chúa và chia sẻ tất cả những sự phong phú của truyền thống chúng ta, không nghĩ rằng chúng ta nắm giữ mọi sự, không đánh giá thấp những truyền thống khác. Chính đó là agapè lớn nhất, có những chiều kích toàn thể Giáo hội. Chúa đặt trong lòng ta ước muốn thấy bác ái đó, vì Cha chung của chúng ta được vui mừng và Giáo hội của Người được củng cố.

Cảm thức về sự hiện diện

Sau cuộc hành hương Thánh Thể ngắn ngủi qua các hệ phái Kitô giáo khác nhau, chúng ta cũng đã thu lại vào giỏ những mẩu dư của việc hóa bánh ra nhiều lớn lao trong Giáo hội. Nhưng chúng ta không thể hoàn tất ở đây việc suy niệm của chúng ta về mầu nhiệm hiện diện thật; điều đó có nghĩa là không ăn những mẩu bánh dư mà chúng ta đã thu lại. Đức tin vào sự hiện diện thật là một sự việc lớn lao, nhưng không đủ cho chúng ta; ít nhất đức tin được hiểu theo cách nào đó. Có một ý tưởng chính xác, sâu sắc, hoàn hảo về phương diện thần học về sự hiện diện thật của Đức Giêsu trong Thánh Thể là không đủ. Trong số các nhà thần học, có rất nhiều vị biết mọi sự về mầu nhiệm này: từ những cuộc tranh luận ở thời Béranger đến các cuộc bàn cãi xoay quanh sự biến thể và sự biến nghĩa, nhưng họ không biết đến sự hiện diện thật. Là vì, theo nghĩa Kinh thánh của hạn từ, người “biết” một sự vật là người có kinh nghiệm về sự vật đó. Thực sự biết lửa là người, ít ra một lần, đã bị ngọn lửa chạm phải, và đã phải mau chóng lùi lại để khỏi bị phỏng.

Thánh Grêgôriô Nyssê đã để lại cho chúng ta một kiểu nói rất hay để xác định mức độ cao nhất này của đức tin; ngài nói tới một “cảm thức về sự hiện diện” (aisthesis parousias) (In Cant. XI, 5, 2) khi một người nào đó bị sự hiện diện của Thiên Chúa bắt chộp; người đó có một tri giác nào đó (chứ không chỉ là một ý tưởng) về sự hiện diện của Ngài. Đây không phải là một tri giác tự nhiên, nhưng là kết quả của một ân sủng tác động như một sự đoạn giao về mức độ, một sự khác biệt lớn về phẩm chất. Có một loại suy lớn với những gì đã xảy ra sau ngày Phục Sinh, khi Đức Giêsu để cho ai đó nhận ra mình. Đó là một điều bất ngờ đột nhiên làm thay đổi hoàn toàn cách xuất hiện của một con người. Sáng ngày Phục Sinh, Đức Giêsu hiện ra với Maria và nói với bà: “Này bà, sao bà khóc?” (Ga 20,15). Nhưng bà tưởng là người làm vườn. Chưa có chuyện gì xảy ra cả; đó là cuộc đối thoại đơn thuần giữa hai người. Thì đây Đức Giêsu gọi tên bà: Maria! Ngay tức khắc, như thể một bức màn xé toang ra: “Rabbouni!” (Lạy Thầy) (Ga 20,16). Ít ngày sau, các tông đồ đi đánh cá ở hồ; xuất hiện một người đứng trên bờ, người đó hỏ từ xa: “Này các chú, không có gì ăn ư?” Các ông trả lời: “Thưa không”. Nhưng một tia sáng lóe lên trong tâm hồn Gioan; ông kêu lên: “Chúa đó!” Khi ấy, mọi sự đều thay đổi, các ông vội vã chèo thuyền vào bờ (x. Ga 21,4). Các môn đệ Emmau cũng đã biết đến một biến cố tương tự, chắc hẳn theo một cách thức thầm lặng hơn; Đức Giêsu đi đường với họ, nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người; cuối cùng, khi Đức Giêsu làm cử chỉ bẻ bánh, lúc ấy “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người” (Lc 24,31).

Thế đấy! chính xác đó là những gì xảy ra vào ngày một người Kitô hữu đã bao lần lãnh nhận Đức Giêsu trong Thánh Thể, nhờ ân huệ của Ngài, cuối cùng “nhận ra” Ngài và hiểu biết chân lý của lời: “Đây thì còn hơn vua Salomon nữa”. Chính từ một kinh nghiệm tương tự mà cách đây ít lâu nảy sinh Phong trào Canh tân đặc sủng trong Giáo hội Công giáo. Một nhóm người trẻ Công giáo Hoa Kỳ, ngày cuối tuần, đã đi đến một nhà tiếp đón những người tĩnh tâm. Họ vừa gặp nhau trong nhà nguyện buổi tối trước Thánh Thể thì bỗng chốc xảy ra một sự việc đặc biệt; sau đó, một người trong nhóm nói về sự việc như sau: “Chúng tôi bắt đầu kính sợ Chúa; một thứ kinh khiếp thánh không cho chúng tôi ngước mắt lên. Người ở đó, đích thân hiện diện, còn chúng tôi, chúng tôi đã sợ không cưỡng lại được tình yêu quá mức của Người. Chúng tôi tôn thờ Người mà lần đầu tiên khám phá ra tôn thờ nghĩa là gì. Chúng tôi trải qua một kinh nghiệm nóng bỏng về thực tại đáng sợ: sự hiện diện của Chúa. Kể từ đó, bằng một sự sáng sủa mới mẻ và không quanh co, chúng tôi đã hiểu những hình ảnh của Đức Chúa, Đấng mà trên núi Sinai, nói vang như sấm và bùng nổ bằng chính lửa từ bản thân Ngài, chúng tôi đã hiểu kinh nghiệm của Isaia và điều ông quả quyết: “Thiên Chúa chúng ta là ngọn lửa thiêu hủy”. Sự kính sợ này, một cách nào đó, không gì khác hơn là tình yêu, hoặc ít nhất chúng tôi đã nhận ra là như thế. Đó là một điều hết sức đáng yêu và đẹp đẽ, cho dù không ai trong chúng tôi thấy hình ảnh khả giác nhỏ nhất. Đó như thể là thực tại cá nhân của Thiên Chúa, chói lòa rực rỡ, đến xâm chiếm cả căn phòng lẫn chúng tôi bằng sự hiện diện của Ngài” (The Spirit and the Church, par R. Martin, New York, 1976, p. 16).

Sự đáp ứng của ta trước mầu nhiệm hiện diện thật

Từ đức tin của chúng ta và từ “cảm thức” về sự hiện diện thật phải phát sinh một lòng tôn kính bộc phát đối với Đức Giêsu trong Thánh Thể, và ngay cả từ sự âu yếm. Đó là một cảm thức quá tinh tế và cá nhân đến nỗi người ta có nguy cơ làm nó mất đi vẻ tươi tắn chỉ bằng cách nói về nó. Một lần nữa, chúng ta hãy nghe thánh Phanxicô Assisi, một bậc thầy dạy chúng ta về sự sùng mộ Thánh Thể, một người có tâm hồn tràn đầy những tình cảm âu yếm kính tôn.

Trong lá thư “Gửi tất cả các giáo sĩ, về việc tôn kính Thân Thể Đức Kitô”, ngài đã buồn bã mà viết: “Chớ gì những ai phục vụ những mầu nhiệm trọng đại này, nhất là những ai làm điều đó mà thiếu lòng tôn kính phải có, hãy nhìn coi những chén thánh, khăn thánh và những khăn khác dùng để thánh hiến Thân Thể Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô, đang trong tình trạng tồi tệ như thế nào. Nơi nhiều người, Mình Thánh được để vào những nơi bất xứng; thật đáng phải khóc lên khi thấy người ta mang đi, lãnh nhận mà không chuẩn bị, khi thấy Mình Thánh được ban mà không có lòng tôn kính. Chúng ta lại không nhiệt thành với việc phục vụ thánh này sao, khi mà chính Chúa phó mình trong tay chúng ta, chúng ta có Ngài và chịu lấy Ngài mỗi ngày? Chúng ta lại không biết rằng chúng ta phải rơi vào tay Ngài? Nào, từ những lộn xộn này, và cả những lộn xộn khác, chúng ta hãy lập tức cương quyết tạ lỗi”.

Phanxicô cảm thấy âu yếm trước Chúa Giêsu Thánh Thể như ngài đã cảm thấy trước Hài Nhi của Belem ở Greccio. Ngài thấy Hài Nhi bơ vơ trước con người, bất lực, nhất là khiêm nhường; đối với ngài, vẫn luôn là Đức Giêsu hằng sống và cụ thể, chứ không là một sự trừu tượng thần học. Ngài viết trong chúc thư: “Cha hành động như thế về Con Thiên Chúa Tối Cao, cha không thấy điều gì khác hơn trên thế gian này, trong hình hài có thân xác, ngoại trừ mình và máu rất thánh của Ngài”.

Thánh Thể là trách nhiệm lớn nhất của Giáo hội trong lịch sử. Giáo hội có trách nhiệm trong biết bao nhiêu lãnh vực: một giáo lý lành mạnh, con người, văn hóa, kho tàng nghệ thuật; nhưng tất cả những trách nhiệm đó không có tầm quan trọng nào so với trách nhiệm về Mình và Máu Đấng Cứu Thế là giá chuộc Giáo hội.

Ngày xưa, ở những thế kỷ đầu của Kitô giáo, có một kỷ luật thịnh hành gọi là “luật bảo mật” (discipline de l’arcane): người ta không được nói về Thánh Thể quá dễ dàng, nhẹ dạ, và càng phải ít phơi bày Thánh Thể ra cho mọi người; cũng vậy, đối với người trở lại, mầu nhiệm Thánh Thể chỉ được mạc khải đầy đủ trong tuần lễ sau khi họ chịu phép Rửa tội, tức cho người tân tòng chứ không cho người dự tòng. Đó là lúc người ta mong đợi nhất, vì mầu nhiệm bao quanh nó. Ngày nay chúng ta tự hỏi vì sao phải cẩn thận quá như vậy. Phải chăng chỉ vì sợ bị người ngoại chế giễu hay xúc phạm? Chắc chắn đã sợ như vậy, nhưng sâu xa hơn, đó là cách diễn tả một tình cảm tôn kính và sợ hãi tôn giáo trước việc Thiên Chúa quá gần gũi. Arcane (bảo mật) do “arca”, phát xuất từ động từ La-tinh arcere có nghĩa là giữ ở ngoài xa, che giấu, không cho người phàm tục trông thấy. Chính vì vậy, trong các văn khắc hay tranh tường, người ta che giấu Thánh Thể không cho dân ngoại biết dưới hình thức các biểu tượng, chẳng hạn con cá. Có lẽ đã đến lúc tái lập luật bảo mật. Không phải trong hình thức, nhưng trong tinh thần. Ngày nay, không phải việc xúc phạm Thánh Thể (bất hạnh thay, điều này vẫn còn xảy ra!) cho bằng nguy hiểm coi Thánh Thể là chuyện tầm thường; Thánh Thể chỉ còn là chuyện “bình thường”, mà người ta có thể coi nhẹ coi thường quá trớn. Chính các linh mục tiên vàn phải nhớ điều đó, vì chính họ mỗi ngày có quan hệ với Mình và Máu Đức Kitô, chính họ là những người “canh giữ”, nhiệm vụ mà Giáo hội đã giao phó cho họ, cũng chính họ dễ bị quen quá hóa nhàm, dễ quên đây là về Thiên Chúa và phải thờ lạy Thiên Chúa. Khi là về Thiên Chúa, sự thân mật luôn phải đi đôi với sự kính trọng.

Huấn giáo đầu tiên về Thánh Thể, mà một cha sở đã dạy cho dân của ngài, là cách thức hiện diện trước bàn thờ và đi lại trước Thánh Thể. Có một cách bái gối trước nhà tạm có thể có giá trị như một bài giảng về sự hiện diện thật. Có biết bao nhiêu dấu chỉ nhỏ bé cho phép chúng ta hiểu Đức Giêsu được người ta cảm thấy đang hiện diện trong một cộng đồng Kitô giáo đến mức nào: khăn bàn thờ luôn sạch sẽ, một bình hoa, chỉ cần một bình, nhưng là hoa tươi, đèn nhà chầu luôn sáng… Đừng khinh chê quá dễ dàng những dấu chỉ bên ngoài; nếu Con Thiên Chúa đã không coi thường việc bày tỏ tình yêu của Ngài đối với ta qua những dấu chỉ như dấu chỉ Thánh Thể, tại sao chúng ta lại sợ bày tỏ cho Ngài tình yêu của chúng ta qua các dấu chỉ? Chắc chắn Đức Giêsu không ngừng lại ở các cử chỉ của thân xác, nhưng ở những tình cảm thúc đẩy trái tim của Ngài; chính chúng ta cần những cử chỉ của thân xác để khơi dậy những tình cảm của tâm hồn và diễn tả chúng ra. Sự sốt sắng và tế nhị (chứ không phải sự màu mè) đối với Thánh Thể trong nhà thờ cho thấy lòng tin và đạo đức của linh mục và của cộng đồng tụ họp nhau trước Thánh Thể.

“Nếu tôi có thể tin rằng trên bàn thờ thật sự có Thiên Chúa, tôi tưởng mình sẽ quỳ xuống và không thể đứng dậy nữa”. Đó là suy nghĩ của một người đã không tin vào sự hiện diện thật. Có lẽ đó không phải là điều Đức Giêsu đòi hỏi chúng ta, vì cũng còn có những bổn phận bác ái và phục vụ anh em; Ngài không đòi chúng ta luôn quỳ gối về phương diện thể lý, nhưng chắc chắn Ngài đòi hỏi một cách thiêng liêng, trong tâm hồn ta. Có thể giữ tâm hồn mình trong trạng thái tôn thờ trước Thánh Thể, trong khi bàn tay chúng ta vẫn làm việc, tha tội, viết lách. Đời sống của mọi Kitô hữu, đặc biệt tu sĩ và linh mục, phải hướng về nhà tạm. Theo một truyền thống rất lâu đời, các nhà thờ luôn “hướng về”, tức hướng về phía Đông, vì Đức Kitô đã chịu chết và sống lại ở phía Đông, ở Giêrusalem. Đền thờ là tâm hồn chúng ta cũng phải hướng về phía Đông, về Mặt Trời Công Chính, từ Thánh Thể, rạng ngời trên Giáo hội. Theo lời Đức Giêsu nói, kho tàng của chúng ta ở đâu thì lòng chúng ta cũng ở đó (x. Mt 6,21), nhưng kho tàng lớn nhất của chúng ta trên thế giới này (“kho tàng giấu trong thửa ruộng”), chính là Đức Giêsu Thánh Thể; vậy ước gì lòng chúng ta ở đó, ước gì lòng chúng ta trở lại đó sau giấc ngủ ban đêm và ước gì lòng chúng ta tìm chỗ chắc chắn trước nhà tạm. Phải, có thể quỳ lâu giờ trong tinh thần trước Thánh Thể, ngay cả trong lúc làm việc, hoặc khi du hành trong xe lửa…

Hồi tâm là chuyện quan trọng, hiện diện với Đấng đang hiện diện. Như chúng ta đã thấy, hiện diện đòi người khác cũng phải hiện diện, nhưng rất nhiều khi chúng ta lại vắng mặt. Nếu Thiên Chúa là “Đấng đang có mặt ở đây” thì con người lại “không có mặt ở đây”, sống ở ngoài, vong thân, “ở miền xa”. Khi nghĩ lại giai đoạn trước ngày hoán cải, thánh Augustinô đã buồn bã mà kêu lên: “Chúa đã ở với con, mà con lại không ở với Chúa” (Conf. X, 27). Để gặp Đức Giêsu trong Thánh Thể, phải trở lại vào bên trong chính mình.

Khi các môn đệ Emmau “nhận ra” Chúa lúc Ngài bẻ bánh, ngay lập tức, không cần biết là “trời đã muộn”, họ chạy đi báo tin cho các môn đệ khác ở Giêrusalem. Người đã thực sự nhận ra Chúa trong Thánh Thể tức khắc trở thành tông đồ của sự hiện diện thật. Đức tin kéo theo kinh nghiệm và kinh nghiệm kéo theo chứng từ. Gioan Tẩy Giả là khuôn mẫu vô song của cách rao giảng mầu nhiệm hiện diện thật: không phải bằng nhiều lời, như tôi đã làm trong bài suy niệm này, nhưng chỉ “bằng quyền năng của Thần Khí”, khi ông kêu lên: “Có một vị đang ở giữa các ông mà các ông không biết” (Ga 1,26). Gioan là người chỉ đường, là người giơ ngón tay, mạnh mẽ chỉ cho thấy hướng chính xác; ông nói: Đây Chiên Thiên Chúa! Tất cả môn đệ của ông nhìn về hướng đó, và bỏ ông để theo Con Chiên (x. Ga 1,35).

Chúng ta đã suy niệm về sự hiện diện thật của Đức Giêsu ở giữa chúng ta. Cuối cùng chúng ta nhớ rằng sự hiện diện ấy không chỉ là một ân huệ, mà còn là một trách nhiệm. Ngày đó, Đức Giêsu nói: “Nữ hoàng phương Nam sẽ đứng lên cùng với thế hệ này, và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Salomon; mà đây thì còn hơn vua Salomon nữa” (Mt 12,42).

Chương VII: “CHO TỚI NGÀY CHÚA ĐẾN”

Thánh Thể như chờ mong Chúa trở lại

“Cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết” (1Cr 11,26). Những lời trên của thánh Tông Đồ vang lên trong mỗi Thánh lễ; quả thực đó là lời chúng ta tung hô sau lúc truyền phép: “Lạy Chúa Giêsu, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết và tuyên xưng Chúa đã sống lại, và mong đợi Chúa đến trong vinh quang”. Đó là tiếng vang vọng của Maranatha, lạy Chúa, xin hãy đến! hoặc “Chúa đến”, mà người ta nghe trong cử hành Thánh Thể thời Giáo hội sơ khai. Thánh Giênônimô nói đến một “truyền thống thông đồ” còn thấy ở thời ngài, theo đó không được phép giải tán dân chúng trước nửa đêm trong đêm canh thức vượt qua, vì ngày quang lâm của Chúa còn có thể xảy đến cho tới lúc đó (In Evang. Matth. IV, 25, 6): có nghĩa là: trong phụng vụ của Giáo Hội sơ khai, người ta cảm nghiệm biết bao việc chờ mong Đức Kitô trở lại.

 “Hãy nâng tâm hồn lên”

Chờ mong Chúa trở lại, hoặc “hướng tới cánh chung”, không phải là một hiện tượng thuần túy chủ quan – nghĩa là chỉ có nơi tâm trí những người cử hành Thánh Thể – trái lại bén rễ sâu nơi chính trọng tâm mầu nhiệm, nội tại nơi cử hành Thánh Thể.

Trong lễ Vượt Qua Do thái giáo, đã có sự mong chờ này, cho dù lễ này cũng chỉ “in figura”; người ta phải ăn thịt chiên trong tư thế “lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy…ăn vội vã” (Xh 12,11), như người sắp ra đi. Danh xưng “Vượt Qua” được giải thích như cuộc ‘vượt qua’ từ Ai Cập đến Đất Hứa, từ thế gian về với Chúa Cha. Giờ đây, sự vội vã ra đi này trở thành thiêng liêng và sâu xa hơn trong Thánh Thể. Đó là cách hiện diện của Đức Giêsu trong bí tích làm nảy sinh trong tâm hồn sự chờ mong và khao khát một điều gì khác. Sự hiện diện này bị “che giấu”, có thể nói là một sự hiện diện-khiếm diện. Điều xảy ra trong Thánh Thể cũng giống như trong Nhập Thể: Thiên Chúa mạc khải mình bằng cách che giấu, và Người không thể làm khác được, nếu không, thụ tạo sẽ bị tiêu diệt vì sự uy nghi sáng láng của Người. Thế nhưng chính vì Người che giấu mình đi mà người ta lại muốn Người mở ra, muốn được thấy Người “không bị che phủ”. Chỉ cần yêu là đủ để hiểu. Tác giả bài “Adoro Te devote” đã hiểu điều đó khi khiến cho chúng ta hát lên: “Ôi Chúa Giêsu, giờ đây con chiêm ngắm Chúa dưới tấm màn che, xin thực hiện điều con nguyện ước biết bao, là được chiêm ngắm Chúa diện đối diện (revelata facie), và cho con được hạnh phúc trong thị kiến vinh quang của Chúa.” Người đang yêu không thể hài lòng với một sự hiện diện bị che giấu, không đầy đủ. Trong “Bài ca của linh hồn nồng cháy nỗi khát khao được thấy Chúa”, thánh Gioan Thánh Giá nói về Thánh Thể bằng những lời chắc chắn được kinh nghiệm của mình gợi hứng: “Khi con chiêm ngắm Chúa trong Thánh Thể để làm dịu nỗi đau buồn của con, tấm màn che giấu Chúa không cho tâm hồn con được thấy chỉ làm cho con thêm đau khổ; mọi sự chỉ làm cho con đau đớn bao lâu con còn cư ngụ ở trần gian này: vì con héo hon do không được chết.”

Thay vì dập tắt lòng khát khao thấy Thiên Chúa hiện diện, Thánh Thể làm gia tăng lòng khát khao ấy hơn. Thánh Phaolô đã không nói khác khi ngài dùng hình ảnh “của đầu mùa”: chúng ta nếm thử của đầu mùa của Thần Khí, nhưng chính khi nếm thử như vậy mà chúng ta ý thức ngay: của đầu mùa không đủ cho chúng ta; của đầu mùa làm người ta chờ đợi tất cả mùa gặt, ước muốn tất cả. Và thánh Tông đồ nói thêm: vì vậy cả chúng ta cũng rên siết trong lòng, vẫn còn phải trông đợi quyền làm con, nghĩa là cứu chuộc thân xác chúng ta nữa (Rm 8,23).

Trong viễn tượng này, Thánh Thể diễn tả ngay cả bản chất của cuộc sống Kitô giáo trên trần gian; cuộc sống này là thời điểm ưu đãi lúc mà Giáo hội nghiệm thấy mình, tự yếu tính, đang “ở trên đường”, đang lữ hành. Thánh Thể là “của ăn nuôi người lữ hành”, là bí tích của cuộc xuất hành tiếp nối, bí tích vượt qua. Ngay từ buổi đầu của Giáo hội, để dẫn vào kinh tiền tụng của Thánh lễ, Giáo hội đã hô lên: “Sursum corda” (Hãy nâng tâm hồn lên). Thánh Augustinô đã bình giải như sau: “Tất cả đời sống của người Kitô hữu chân thật là một “sursum cor”. Nâng tâm hồn lên nghĩa là gì”? Có nghĩa là đặt hy vọng của mình nơi Thiên Chúa. Khi anh em nghe linh mục nói “Sursum corda”, anh em đáp “Habemus ad Dominum” (Chúng tôi đang hướng về Chúa). Hãy liệu sao cho lời đáp của anh em là thật” (Ser. Denis 6; PL 46, 834).

Nhiều Giáo Phụ nại tới thư Do thái 10,1, đã phân biệt ba giai đoạn hoặc ba thời điểm trong lịch sử cứu độ: giai đoạn hình bóng, giai đoạn hình ảnh và giai đoạn thực tại. “Hình bóng trong Lề luật, hình ảnh trong Phúc Âm, thực tại ở trên trời. Chúng ta đang bước đi ở trần gian này, trong hình ảnh, nhưng đến khi sự hoàn hảo được viên mãn, chúng ta sẽ thấy diện đối diện, vì sự hoàn hảo ở trong thực tại” (thánh Ambrosiô, De Offic. I, 48). Do đó các Giáo Phụ này phân biệt ba cuộc vượt qua: cuộc vượt qua Lề Luật, cuộc vượt qua Phúc Âm và cuộc vượt qua thứ ba sẽ được hoàn tất giữa vô vàn các thiên thần trong tột điểm của ngày lễ và trong cuộc xuất hành tiến về quê trời vượt quá mọi hạnh phúc” (Origen, In Joh. X, 111, GCS, 1903, p. 189). Chính Đức Giêsu đã mở lối vào ý tưởng này về cuộc “Vượt Qua trên trời” khi mà, bằng việc lập phép Thánh Thể, Ngài đã ám chỉ đến một lễ Vượt Qua mới. mầu nhiệm, sẽ hoàn tất “trong Nước Thiên Chúa” (x. Lc 22,16).

Thánh Thể làm nên giáo xứ

Thế nên Thánh Thể thúc đẩy chúng ta sống hướng về cánh chung, sống như người khách hành hương, đôi mắt và tâm hồn hướng về trời. Trong những bài suy niệm trước, tôi đã muốn cho thấy Thánh Thể làm nên Giáo Hội như thế nào; cũng vậy trong bài suy niệm cuối cùng này, tôi cũng muốn cho các bạn thấy Thánh Thể làm nên giáo xứ như thế nào.

Giáo xứ là gì? Tôi ngạc nhiên khi thấy trong Kinh Thánh người ta nói nhiều về “giáo xứ” và những “người thuộc giáo xứ”. Thật ra, những hạn từ này phát xuất từ paraoikeo, rất thường thấy bằng tiếng Hy lạp trong Cựu Ước cũng như trong Tân Ước. Để biết chính xác hơn một giáo xứ là gì hay phải là gì, chúng ta cần tra cứu Kinh Thánh.

Trong sách Công vụ, chúng ta đọc thấy Israel đã “cư ngụ ở đất Ai Cập” (Cv 13,17), nhưng từ được dịch là “cư ngụ” trong bản dịch mới, thì trong bản Hy lạp nguyên thủy là “giáo xứ” (paroikia). Ở chỗ khác, chúng ta cũng đọc thấy Abraham, nhờ đức tin, đã sống suốt đời như một “người thuộc giáo xứ”, nghĩa là như một người mà người ta đã dịch là người trú ngụ nơi đất khách (St 15,13; Dt 11,9).

Nhưng chúng ta hãy trở lại với những người Kitô hữu, nghĩa là với Israel mới. Chúng ta đọc trong thư thứ nhất của thánh Phêrô:“Anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộc đời lữ khách này” (1Pr 1,17), nghĩa đúng từng chữ: “trong thời của giáo xứ anh em”, và ở một đoạn sau: “Anh em là khách lạ và lữ hành, tôi khuyên anh em hãy tránh xa những đam mê xác thịt” (1Pr 2,11), dịch đúng từng chữ: “anh em là những người thuộc giáo xứ, tôi khuyên…”

Có gì đằng sau những chữ paroikia và paroikos, và đâu là nghĩa chính xác của những chữ ấy? Rất đơn giản: para, trạng từ, có nghĩa là bên cạnh; oika, danh từ, có nghĩa là ở; vậy có nghĩa là ở gần, như những người lân cận, không phải ở bên trong, nhưng ở chung quanh bên ngoài. Tiếp đến hạn từ có nghĩa là người trú ngụ ở nơi nào đó một thời gian vắn, người du hành, hoặc còn có nghĩa là người bị lưu đày khỏi xứ sở. Vậy paroikia chỉ một nơi ở tạm bợ. Thêm vào tính chất tạm bợ này là sự mong manh, bấp bênh. Quả thực, người chỉ đi qua một thành phố không được hưởng mọi quyền công dân đích thực; vì vậy paroikos dùng để phân biệt khách qua đường với một công dân có trọn quyền. Nếu một cuộc chiến xảy ra giữa xứ sở nguyên quán của mình và xứ sở cho mình trú ngụ, người trú chắc chắn phải rời nơi mình trú ngụ, trừ khi từ bỏ xứ sở nguyên quán của mình.

Thế tại sao đời sống Kitô giáo được Kinh Thánh định nghĩa như một đời sống của những “người thuộc xứ sở”, một đời sống của “giáo xứ”, nghĩa là những người hành hương, khách lạ? Câu trả lời rất rõ ràng: họ ở “trong” thế gian nhưng không “thuộc về” thế gian (x. Ga 17,10.16); vì quê hương đích thực của họ ở trên trời, từ nơi đó họ chờ mong Chúa Giêsu Kitô đến như Đấng Cứu Thế (x. Pl 3,18); vì họ không có nơi cư ngụ bền vững ở trần gian này, nhưng chỉ đang trên đường hướng về thành trì tương lai (x. Dt 13,14).

Theo nghĩa này, đúng theo nguyên thủy, Giáo hội dù lớn lao đi nữa, vẫn chỉ là một “giáo xứ” độc nhất và rộng lớn. Ngay từ đầu, đó là ý thức nền tảng của chân tính Kitô giáo; chẳng hạn nó được diễn tả trong những lá thư trao đổi giữa các cộng đoàn đầu tiên. Lá thư rất quen thuộc của thánh Giáo hoàng Clêmentê gửi Giáo hội ở Corintô khởi đầu như sau: “Giáo hội của Thiên Chúa cư ngụ nơi đất khách (dịch sát: thuộc giáo xứ), ở Rôma gửi Giáo hội của Thiên Chúa sống nơi đất khách ở Corintô”. Để báo tin về cuộc tử đạo của thánh Giám mục Polycarpô cho các anh em của một thành phố khác, các Kitô hữu Smyrna đã viết: “Giáo hội của Thiên Chúa sống nơi đất khách (paroikousa: thuộc giáo xứ) ở Smyrna, gửi Giáo hội của Thiên Chúa sống nơi đất khách ở Philouménos.” Thư gửi Điognêtê – một trong những tài liệu cổ nhất – định nghĩa người Kitô hữu như sau: “một người cư ngụ tại một quê hương, theo cách một người khách lạ (paroikos!); với tư cách công dân, người đó tham dự vào mọi việc, nhưng đảm nhận mọi sự như một khách hành hương; với một người như thế, mỗi vùng đất lạ đều là một quê hương, và mỗi quê hương đều là vùng đất lạ” (Ad Diogn. V, 5).

Về vấn đề này, tôi có một suy nghĩ. Trong ngôn ngữ ngoại giao ngày hôm nay, Vaticanô được định nghĩa như một “Nhà Nước ngoại quốc” và Đức Giáo hoàng như “thủ lãnh của một Nhà Nước ngoại quốc”. Đối với “những người ở ngoài”, kiểu nói này có một ý nghĩa, nhưng đối với người tín hữu, nó phải có một ý nghĩa khác triệt để hơn nhiều. Quả thực, Vaticanô với tư cách đại diện và trung tâm của Giáo hội công giáo, là một Nhà Nước “ngoại quốc”, nhưng ngoại quốc không chỉ đối với nước Ý mà nó ở trong đó, mà còn đối với cả thế giới. Thực sự nó là Nhà Nước của dân khách lạ và hành hương trong thế giới này.

Tuy nhiên, đây là một sự xa lạ rất đặc biệt. Những giáo thuyết khác đã khắc sâu vào trí não con người ý nghĩa của sự xa lạ và trốn chạy khỏi thế gian (trong số họ, theo một nghĩa khác, các người theo thuyết Platô và ngộ đạo đã định nghĩa thế này về con người: con người tự bản tính là xa lạ với thế giới). Nhưng có sự khác biệt vô cùng lớn lao: những người trên đây coi thế giới là công trình của sự dữ, vì thế khuyên người ta không dấn thân vào đó, biểu hiện qua hôn nhân, lao động, Nhà Nước. Ngược lại, nơi người Kitô hữu, không có gì giống như thế, người Kitô hữu “lấy vợ và sinh con”, “tham dự vào mọi việc” (A Diognète). Sự xa lạ là đặc tính thuộc cánh chung học, chứ không thuộc hữu thể học; nói khác đi, chính do ơn gọi chứ không do bản tính mà họ cảm thấy mình xa lạ; là vì họ có vận mệnh trong một thế giới khác, không phải vì họ đến từ nơi khác. Cảm thức của người Kitô hữu về sự xa lạ có nền tảng trong sự phục sinh của Đức Kitô. “Nếu anh em đã sống lại cùng với Đức Kitô, anh em hãy tìm kiếm những sự trên trời”. Sự sáng tạo và tốt lành căn bản không vì thế mà bị tiêu hủy.

Trong Kinh Thánh, khái niệm về giáo xứ được bổ túc bằng khái niệm về “diaspora” hay phân tán khắp nơi: “Phêrô, Tông Đồ của Đức Giêsu Kitô, kính gửi những người được Thiên Chúa kén chọn, những khách lữ hành đang sống tản mác trong các xứ (dans la diaspora)” (1Pr 1,1). Diaspora là hành vi phát tán. Kitô hữu là hạt giống của Thiên Chúa, gieo vãi trong thế giới, để cuối cùng cả thế giới trở thành cánh đồng của Thiên Chúa mang những hạt lúa chín. Không có thù nghịch hay khinh chê thế gian; thế gian là của Thiên Chúa và Thiên Chúa “yêu thương thế gian”, muốn cứu thế gian (x. Ga 3,16; 12,47). Quả thực, người Kitô hữu cũng phải là “muối đất”, nhưng muối đất với điều kiện: cho dù họ tan biến giữa con người, họ không được đánh mất “hương vị” của mình; còn về sự khác biệt của họ đối với thế gian, họ khác biệt nếu biết chôn vùi hạt mầm vĩnh cửu và bất hoại trong thế gian này, một thế gian hoàn toàn chỉ biết cuộc đời này và hư hoại. Nói cách khác, Kitô hữu là “muối đất” bao lâu sống như những người hành hương và lữ khách trong thế gian này.

Như người ta nói, sự khôn ngoan Kitô giáo hệ tại ở thế quân bình giữa tính siêu việt và tính nội tại; nhưng chúng ta lại thường quan niệm sự quân bình này theo kiểu định liều lượng: một chút siêu việt và một chút nội tại, một chút lưu ý tới “thế giới khác” và một chút lưu ý tới “thế giới này”, không quá nghiêng theo hướng này hay hướng kia. Đó thực sự là cách suy luận của con người theo xác thịt. Trong những việc của Thiên Chúa, sự quân bình không bao giờ ở chỗ định liều lượng các điều trái ngược nhau, nhưng là đặt chúng giáp mặt nhau, trong tất cả sức mạnh của chúng, cùng một lúc; phải phóng đại bằng cách đi đến tận cùng theo hướng này và hướng kia. Điều này tạo ra một “lối sống nghịch lý và, như mọi người nói, tuyệt diệu của người Kitô hữu” (A Diognète). Mầu nhiệm vượt qua không ở chỗ rao giảng một chút về thập giá, một chút về sự Phục Sinh, nhưng đúng hơn, ở chỗ muốn đi tới tận trọng tâm của thập giá, để có thể thưởng thức trọn vẹn sự Phục Sinh. Khi đó sự khôn ngoan của Kitô giáo hệ tại ở chỗ sử dụng thế giới này như thể không có ngày hôm sau và hoạt động cho thế giới này như thể nó không bao giờ chấm dứt.

“Đấng Phu Quân đến kia rồi”

Chúng ta bắt đầu hiểu Thánh Thể làm nên giáo xứ như thế nào và tại sao: Thánh Thể làm nên giáo xứ bằng cách giữ cho những người Kitô hữu “thắt đai lưng, tay cầm gậy và chân mang dép”, trong tình trạng thường xuyên xuất hành. Thánh Thể làm nên giáo xứ khi hằng ngày nhắc nhở trong Thánh lễ để cho Giáo hội không đông cứng và trở thành một Giáo hội “đã yên vị” và định cư, một Giáo hội ngưng trệ. Kiểu mẫu một giáo xứ mà thế giới cần là: không phải một nơi có thể thấy mọi dịch vụ, mọi hoạt động, mọi thứ giải trí mà thế giới gây ra và phổ biến (mà chính thế giới giờ đây cũng chán ngấy và thất vọng); giáo xứ mà thế giới cần là một nơi hành hương và có niềm vui, nơi cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa Thánh Thần, nơi bất cứ ai đến đó lần đầu tiên đều phải nhận rằng có điều gì đó khác; bấy giờ họ kêu lên, như những người lần đầu tiên đi vào cộng đồng Kitô giáo tiên khởi: “Hẳn thật có Thiên Chúa ở giữa anh em” (1Cr 14,25).

Không may, trong suốt dòng lịch sử, người ta đã đánh mất ý nghĩa nguyên thủy của từ giáo xứ, đến độ từ đó chúng ta có thể rảo qua những trang Kinh Thánh mà thậm chí không thể tìm lại được ý nghĩa đó. Từ giáo xứ chỉ còn có nghĩa là một khu vực, một đơn vị quản trị của Giáo hội địa phương, không nhắc nhớ chút nào ý tưởng xuất hành và lữ hành về quê trời. “Parroco” (tiếng Ý chỉ cha xứ) lúc đầu là một tính từ đưa về mọi Kitô hữu, rồi trở thành một danh từ để chỉ người chịu trách nhiệm coi sóc một giáo xứ. Phải tạo ra một từ mới phái sinh “người thuộc giáo xứ” (paroissien), nhưng ngay cả từ này cũng không quy chiếu tới ý tưởng người lữ hành hay khách lạ.

Vào một thời gần chúng ta hơn, việc tái khám phá vai trò và sự dấn thân của người Kitô hữu trong thế giới đã góp phần làm giảm bớt ý nghĩa cánh chung của đời sống Kitô giáo. Cả chúng ta nữa, giống như các cô trinh nữ khờ dại, chúng ta nghĩ rằng đêm là để ngủ; đúng như điều dụ ngôn nói: “Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi rồi ngủ cả” (Mt 25,5).

Nhưng chính khi giấc ngủ ngon đang đè nặng thế gian thì có tiếng kêu: Hỡi các cô trinh nữ khôn ngoan, hãy đổ dầu đầy vào đèn: chú rể đến kìa”. Cũng như ngày xưa người lính gác lần lượt báo cho nhau biết dấu hiệu đức vua đến, cũng vậy, tiếng kêu này phải vang lên trong cả Giáo hội, làm run rẩy mọi người. Đấng Phu Quan đến! Ngài đến. Ngài đã nói và sẽ làm như thế; “việc Ngài đến chắc chắn như ánh bình minh”. Chúa đã hô lên nơi tâm hồn tôi một tiếng kêu không thể kìm nén. Nó được hình thành trong tôi và tôi cảm thấy nó lôi kéo tôi như một cơn lốc; thời gian vừa qua, bất cứ nơi nào tôi rao giảng thì tôi cũng phải kêu lên rất to: “Thưa anh em, nay đã đến giờ anh em phải tỉnh thức! Ngày tàn của mọi sự đến gần (1Pr 4,7); vị thẩm phán đang đứng ngoài cửa” (Gc 5,9). Tôi đọc thầm những lời của Thánh vịnh lưu đầy như sau: “Lưỡi xướng ca sẽ dính với hàm, nếu tôi không hoài niệm, nếu tôi quên Giêrusalem…nếu tôi không còn lấy Giêrusalem làm niềm vui tuyệt đỉnh của tâm hồn” (Tv 137,5).

Chắc chắn là chuyện quá dễ khi núp sau lý do: “Nhưng đó là một cách rao giảng khải huyền, rao giảng về ngày tận thế!” Không, không phải là một rao giảng khải huyền; nhưng là rao giảng cánh chung hoặc thuần túy Kitô giáo. Khác nhau là thế này: theo lời rao giảng khải huyền, điều quan trọng là “khi nào” thì Đức Kitô đến, cái đáng kể là ngày giờ, do đó mà theo định kỳ có những tiên tri giả loan báo ngày tận thế sắp xảy ra. Ngược lại, chính Đức Giêsu cắt tận gốc những tư biện kiểu đó khi quả quyết rằng không một ai được biết thời giờ và kỳ hạn, “ngày và giờ không ai biết được, chỉ mình Chúa Cha biết mà thôi” (Mt 24,36; x. Cv 1,7).

Còn theo lời rao giảng cánh chung, quan trọng là sự kiện Đức Kitô sẽ đến, sẽ có ngày tận thế, “hình bóng thế gian này qua đi”. Nhưng có phải vì vậy mà sự việc bớt nghiêm túc và kém cấp bách chăng? Thật ngu ngốc khi tìm thấy niềm an ủi trong sự kiện đơn giản là không một ai biết ngày tận thế sẽ xảy ra khi nào. Như thể đối với tôi, ngày tận thế không thể xảy ra ngày mai, thậm chí đêm nay! Đối với tôi, sẽ là ngày quang lâm của Chúa, không hơn không kém. Trong sách Khải huyền, Đức Giêsu nói: “Phải, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến” (Kh 22,20), và Đức Giêsu biết Ngài nói gì.

Thánh Cyprianô, Giám mục tử đạo, nói với các Kitô hữu ở Carthagô: “Anh em rất thân mến, Nước Thiên Chúa ở ngay bên cửa nhà chúng ta; phần thưởng của cuộc sống, niềm vui được cứu độ mãi mãi, hạnh phúc vĩnh cửu và thiên đàng cuối cùng chiếm được, mà trong một thời kỳ chúng ta đã đánh mất, thì này đây, khi thế gian này qua đi, chúng sẵn sàng đến; những sự trên trời nối tiếp những sự dưới đất, những sự cao cả nối tiếp những sự nhỏ bé, điều vĩnh cửu thay thế cho điều mau qua” (De mort. 2). Ai dám quả quyết là ngày đó thánh Cyprianô đã lầm và làm cho dân chúng phải lầm, vì biết bao nhiêu thế kỷ qua đi từ đó và không gì có vẻ đã xảy ra? Điều ngài nói, tất cả những ai nghe ngài đều có thể kiểm chứng từng điểm một, và phúc thay những ai đã thực sự nghe ngài!

Về vấn đề này, để hiểu ngôn ngữ của Kinh Thánh và của các Giáo Phụ, điều quan trọng là để ý đến một sự kiện. Khi nói về ngày tận thế, ngày nay chúng ta nghĩ về ngày đó theo những lược đồ hiện đại, trong tuyệt đối, theo đó sẽ không thể có điều gì khác ngoài sự vĩnh cửu. Nhưng những lý luận của Kinh Thánh cụ thể hơn và những phạm trù của nó tương đối hơn. Vậy khi Kinh Thánh nói về ngày tận thế, thường ra là về thế giới đang thực sự hiện hữu, thế giới mà một số người biết: thế giới “của họ”. Tóm lại, là về sự kết thúc của “một” thế giới hơn là “của” thế giới. Khi ấy điều không hoàn toàn đúng là mọi lời tiên báo về tận thế bị những sự kiện chối bỏ. Đức Giêsu đã nói: Thế hệ này sẽ không qua đi…và những sự kiện cho thấy Ngài có lý: thế hệ này đã thấy kết cục bi đát của “thế giới do thái” và Giêrusalem bị tàn phá. Thế giới Rôma cũng kết thúc khi dân man di đến. Khi Rôma bị bao vây năm 410, các Giáo Phụ nghĩ đã đến ngày tận thế; về căn bản, các ngài đã không lầm: một thế giới đã thực sự kết thúc, để bắt đầu một thế giới khác. Cuộc Cách mạng Pháp cũng ghi dấu ngày tàn của một thế giới, tương tự như vậy, trong nhiều nước ở Đông Âu, chủ nghĩa cộng sản lên ngôi đã kết thúc cho một thế giới. Ai nói với chúng ta rằng, hôm nay nữa giữa chúng ta, một thế giới nào đó mà chúng ta đã xây dựng, được thúc đẩy bởi sự tiến bộ và âm thầm chống lại Thiên Chúa, sẽ không sẵn sàng kết thúc trong cơn co giật của cơn hấp hối thường đi kèm với những khoảnh khắc vượt qua này trong lịch sử? Lời Đức Giêsu vẫn còn nguyên sức mạnh của nó: “Anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, Con Người sẽ đến” (Mt 24,44).

Chờ đợi và dấn thân

Chính nơi đây mà niềm hy vọng Kitô giáo phát xuất: “Chúa sắp đến rồi, sẽ hết lao nhọc”; thánh Phaolô còn đi tới chỗ gọi hy vọng đó là “hy vọng hồng phúc”; ngài nói rằng chúng ta “trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang” (Tt 2,13). Đó là chân lý vĩ đại độc nhất làm lay động lòng người và mọi người chuyển mình hướng về đó; đó là tin mừng duy nhất thực sự quan trọng mà đức tin có nhiệm vụ phải mang lại cho thế giới: Chúa đến!

Chúng ta thử tưởng tượng đời sống, thế giới, chính đức tin, nếu không có được sự chắc chắn đó, thì tất cả sẽ lu mờ và phi lý. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người (x. 1Cr 15,19). Đối với người xưa, mọi sự được biết đến nhờ cứu cánh của nó (finis vừa có nghĩa là “chấm dứt” vừa có nghĩa là “mục đích”); chính vì vậy, ai không biết mình đi tới mục đích nào, không biết điều gì lôi cuốn mình, người đó thực sự không biết thế giới này; người đó biến lịch sử thành tầm thường, và người không biết rằng lịch sử hướng về Chúa đến thì không hiểu gì cả.

Sức mạnh của việc rao giảng Kitô giáo là loan báo Chúa trở lại. Như vậy tại sao lại yên lặng, tại sao đặt dưới đáy thùng ngọn lửa có thể thiêu cháy thế giới? Lệnh truyền của Thiên Chúa được ghi trong sách tiên tri Isaia: “Hỡi kẻ loan Tin mừng cho Sion, hãy trèo lên núi cao…Hãy cất tiếng lên cho thật mạnh. Đừng sợ. Hãy bảo các thanh niên Giuda rằng: Kìa Thiên Chúa các ngươi, kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền” (Is 40,9 tt), phải chăng lệnh truyền đó lại không nói cho toàn thể Giáo hội sao?

Không loan báo ngày tận thế nữa, vì sợ làm cho dân chúng phải lo lắng, thì, ở một quy mô lớn hơn, giống như thể cho thấy lại sự ngốc nghếch của các bậc cha mẹ không cảnh báo cho con dâu hay con rể biết nó sắp chết, vì sợ làm cho nó hoảng sợ; điều này chắc chắn sẽ không ngăn cản người con đó chết, nhưng không giúp cho nó chết trong những điều kiện tốt. Augustinô đã kêu lên: “Tình yêu của chúng ta đối với Đức Kitô thuộc loại nào, nếu chúng ta nghi ngờ Ngài đến. Thưa anh em, phải chăng đó không phải là lý do làm ta xấu hổ sao? Chúng ta yêu mến Ngài, mà lại sợ Ngài đến sao? Thế nhưng chúng ta có thật sự yêu mến Ngài không? Hay phải chăng chúng ta lại không yêu mến tội lỗi chúng ta hơn yêu mến Đức Kitô? (Enarr. in Ps. 95,14).

Bổn phận cấp bách là khôi phục cho các tín hữu sự thân tình, hoài niệm, ý thức về quê hương thiên quốc và về thiên đàng, tại sao không? Hơi hướng về những điều trên dần dần mất đi, sao vậy? Là vì có những thầy dạy thiếu thận trọng, bị các ý thức hệ vô thần đe dọa, không muốn nói về một “thế giới bên kia” luôn luôn và trong bất cứ trường hợp nào bị coi như một thứ vong thân.

Nếu việc mong chờ Chúa trở lại là thuần túy Kinh thánh, nó không làm chuyển hướng sự dấn thân cho các anh em, nhưng đúng hơn, thanh tẩy sự dấn thân ấy; nó dạy chúng ta biết “khôn ngoan cân nhắc những thực tại trần gian, luôn thiết tha với những thực tại bền vững trên trời” (lời nguyện hiệp lễ thứ ba sau CN I Mùa Vọng). Sau khi đã nhắc lại cho các người Kitô hữu là “thời giờ đang co rút”, thánh Phaolô rút ra kết luận này: vậy trong khi còn thời giờ, chúng ta hãy làm việc cho lợi ích của mọi người, đặc biệt cho các anh em trong đức tin. Chính Đức Giêsu cũng đã dậy chúng ta: trong khi chờ đợi Ngài trở lại, chúng ta phải rửa chân cho nhau. Nếu Thánh Thể có mầu sắc cánh chung, thì quả thật cánh chung của chúng ta là Thánh Thể, nghĩa là để phục vụ và hiến ban mạng sống mình cho tới chết.

Sống trong sự chờ đợi ngày Chúa trở lại không có nghĩa là ước mong cái chết đến sớm: một điều không có liên hệ gì với ý thức cánh chung; người này có thể ước muốn mau ra khỏi thân xác mình để ở với Đức Kitô; người kia lại muốn được sống lâu; người khác nữa cuối cùng sẽ cùng với thánh Tông Đồ nói: “Nếu sống ở đời này mà công việc của tôi sinh hoa kết quả, thì tôi không biết phải chọn đàng nào” (Pl 1,22), quyết định như vậy là tốt nhất. Về điều đó, mỗi người có ơn ban phù hợp với mình. “Tìm kiếm những sự trên trời” đúng hơn có nghĩa là hướng tất cả cuộc sống riêng của mình tới chỗ gặp gỡ Chúa, làm cho biến cố này trở thành điểm thu hút và là đèn pha soi chiếu cuộc đời của mình. Cũng ở đây, yếu tố “khi nào” là thứ yếu, và bình tâm phó mặc cho ý muốn của Thiên Chúa.

“Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa”

Vậy chờ đợi Đức Kitô đến không phải là một tình trạng tâm trí tiêu cực – chán ghét thế gian và sự sống hẳn có thể bị đánh giá là tiêu cực – nhưng chờ đợi Đức Kitô đến có một khía cách tích cực: ước mong sự sống đích thực Đức Giêsu sẽ mang đến cho ta khi Ngài trở lại. Phụng vụ của Giáo hội luôn gọi ngày các thánh gặp gỡ Chúa là ngày “đản sinh” (dies natalis). Đức Giêsu nói về một sự “sinh ra” (x. Ga 16,21), và thực sự, đây sẽ là ra khỏi chỗ sâu thẳm tăm tối của thế gian này và xúc động mà phóng tới ánh sáng chân lý toàn diện.

Khi ấy, không còn là một sứ điệp buồn phiền, càng không phải là sứ điệp sợ hãi, nhưng là một sứ điệp vui mừng và hy vọng. Trong bộ Thánh vịnh do thái, có những thánh vịnh được gom lại dưới tiêu đề “các Thánh vịnh lên đền” hay “các thánh ca Sion”; đó là những Thánh vịnh mà các người hành hương Israel hát lên khi họ hành hương lên đền thánh Giêrusalem. Thánh vịnh 122 bắt đầu như sau: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa.” Từ đây, những Thánh vịnh lên đền này là những Thánh vịnh của các người sống trong Giáo hội đang trên đường về Giêrusalem thiên quốc. Bình giải những chữ đầu tiên của Thánh vịnh này, thánh Augustinô nói cho các thính giả như sau: “Thưa anh em, anh em hãy nghĩ đến điều gì xảy ra khi người ta loan báo cho dân chúng ngày lễ các thánh tử đạo, hoặc khi ấn định một nơi thánh để tụ họp lại trong ngày đó và cử hành lễ kính: đám đông thật náo nhiệt, nơi người ta vừa cổ vũ nhau vừa nói: Nào chúng ta cùng đi! Nếu có ai hỏi: Đi đâu? Thì được nghe đáp: Tới đó, tới nơi thánh này, trong thánh điện này! Họ nói với nhau như vậy, và vì họ làm cho nhau nóng lên, nếu có thể nói được như thế, họ tạo thành một ngọn lửa độc nhất, ngọn lửa phát sinh từ người, bằng lời nói của mình, truyền cho người khác ngọn lửa để đốt cháy người này, khiến tất cả hội tụ về phía nơi thánh ấy. Vậy nếu một tình yêu thuần khiết có thể đưa các tín hữu vào một đền thánh vật chất, thì tình yêu làm mê đắm trên thiên đàng, trái tim của một người, sống trong hòa thuận, có thể trao đổi với anh em mình những lời nói: Chúng ta cùng đi về nhà Chúa, tình yêu ấy còn cao cả hơn dường nào! Nào, chúng ta chạy mau, chạy vì chúng ta đi về nhà Chúa; chạy, vì cuộc chạy ấy không làm chúng ta mệt mỏi, vì chúng ta sẽ tới đích nơi không còn mệt nhọc. Chúng ta hãy chạy đến nhà Chúa và chớ gì linh hồn chúng ta hòa vào niềm vui của những người đã nói lại cho chúng ta những lời đó. Họ đã thấy quê trời trước chúng ta, và từ xa kêu gọi chúng ta đang tiếp bước họ: Chúng ta cùng đi về nhà Chúa. Hãy tiến bước, hãy chạy mau. Các tông đồ đã thấy và đã nói với chúng ta: Chạy mau đi, hối hả lên, đi theo chúng tôi! Chúng ta cùng đi về nhà Chúa!” (Enarr. in Ps. 121/122, 2).

Cuộc chạy này không đòi sự tham dự của đôi chân chúng ta, nhưng đòi những chuyển động của tâm hồn, là những ước muốn thánh thiện, những công việc của ánh sáng. Đức Giêsu, người dẫn đầu cuộc hành hương vĩ đại của nhân loại tiến về Thiên Chúa, đưa chúng ta tới đền thánh trên trời; Ngài đã “mở cho chúng ta một con đường mới và sống động, qua bức màn là chính thân xác của Ngài” (Dt 10,20). Chúng ta chạy trên những vết chân đã ghi dấu sẵn; chúng ta chạy “theo mùi hương thơm của Ngài” là Chúa Thánh Thần.

Trong mọi Thánh Thể, “Thần Khí và Tân Nương nói (với Đức Giêsu): Xin Ngài ngự đến!” (Kh 22,17). Đến lượt chúng ta, được nghe những lời ấy, chúng ta cũng hãy thưa với Đức Giêsu: Xin Ngài ngự đến!

Lm. Micae Trần Đình Quảng chuyển ngữ

Nguồn: giaophandalat.com