Lần đầu tiên khi chúng ta được giới thiệu về nhân vật Marta trong các sách Tin mừng, Sách thánh khắc họa một bức chân dung khá xấu xí về một người phụ nữ cằn nhằn bất mãn vì em gái của cô là Maria không giúp đỡ cô trong việc bếp núc, và dường như ganh tị với sự quan tâm mà Maria nhận được từ Chúa Giêsu Kitô, vị khách quý trong bữa tối. Nhưng lần kế tiếp chúng ta gặp Marta, chúng ta lại thấy một khía cạnh hoàn toàn khác của cô. Trong lần tiếp theo này, em trai cô là Ladarô đã chết.

Ladarô không chỉ chết lâm sàng bình thường đâu nhưng là chết thực sự rồi, nghĩa là thi thể ông không bị đông cứng như đá dăm ba mươi phút, khi mà các cơ quan nội tạng quan trọng vẫn được bảo quản, khiến việc hồi phục dù khó xảy ra nhưng không phải là không thể. Ladarô cũng không chỉ bất tỉnh, giống như trong trạng thái ngủ sâu, nhưng chưa thực sự chết hẳn. Không phải thế, đây là một người đã chết được quấn trong vải liệm và đặt trong mộ bốn ngày. Chúa Giêsu đã cố tình không đến thăm ngay khi nghe tin người bạn Ladarô thân yêu của Ngài bị bệnh, để không ai có thể đặt nghi vấn rằng liệu chừng người đàn ông này đã chết thật hay chưa.

Do vậy, khi Chúa Giêsu xuất hiện bốn ngày sau đó, Ngài yêu cầu Marta bảo người ta dời phiến đá đậy mộ ra, thì cô do dự không chịu làm theo vì sợ mùi hôi thối. Cô không hề nghĩ tới chuyện Chúa Giêsu có ý định làm cho Ladarô sống lại. Ý nghĩ đó thậm chí chưa từng xuất hiện trong đầu cô vì đó là một việc người ta không thể làm được.

Chúng ta có thể tưởng tượng được nỗi đau đớn và sự kinh hoàng tột độ mà hai người chị của Ladarô phải trải qua vào lúc đó, khi đối mặt với một tình cảnh bị buộc phải nhìn thấy thi thể đang phân hủy của người em trai yêu quý của mình? Vì mục đích gì mà Chúa Giêsu lại bắt họ phải chịu đựng thêm sự sang chấn đau thương này? Chỉ để Ngài có thể nói lời từ biệt sau cùng với người bạn của mình thôi sao?

Ngẫm nghĩ về những gì Marta và em gái Maria của cô hẳn đang suy nghĩ và cảm nhận trong lúc đó, thì điều Marta làm tiếp theo thật sự đáng kinh ngạc: cô đồng ý cho dời phiến đá đậy mộ ra. Chúng ta đọc thấy đoạn này từ sách Tin mừng Gioan và có thể nghĩ rằng Marta chấp thuận lời chỉ bảo của Chúa Giêsu bởi vì cô vừa mới tuyên xưng đức tin rằng Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, nên giờ đây cô mong đợi Ngài sẽ thực hiện một phép lạ lớn lao cho em trai mình.

Nhưng thực ra Marta hoàn toàn không nghĩ đến điều đó. Bởi vì, khi Chúa Giêsu nói với cô rằng em trai cô sẽ sống lại, cô đã đáp lại: “Con biết em con sẽ sống lại, khi kẻ chết sống lại trong ngày sau hết” (Gioan 11:24). Cô không hề nghĩ rằng “ngày sau hết” đã đến. Hẳn nhiên cô tin chắc rằng em trai mình đã chết, giống như bất cứ ai trong chúng ta khi có người thân yêu qua đời. Nhưng đối với Marta, niềm tin ấy còn sâu đậm hơn, bởi vì từ góc nhìn thuận lợi của chúng ta trong lịch sử cứu độ chúng ta biết rằng Chúa Giêsu có thể làm cho người chết sống lại, nhưng từ góc nhìn của Marta, thì cô chưa có được kiến thức nào khiến cô dám nghĩ rằng việc làm cho người chết sống lại là điều có thể xảy ra.

Khi Marta lùi lại để người ta lăn tảng đá trên mộ em trai mình ra, cô không hề chuẩn bị tinh thần để đón nhận một phép lạ kỳ diệu. Cô đã chuẩn bị tinh thần để chứng kiến một điều gì đó đau lòng, một điều sẽ làm trái tim vốn đã tan vỡ của cô càng tan nát thêm.

Vậy tại sao cô không kiên quyết phản đối? Bởi vì Marta tin tưởng Đấng Mêsia của mình, ngay cả trong những hoàn cảnh đau đớn nhất, những hoàn cảnh mà cô không hiểu được.

Nhưng ngay cả bây giờ con biết rằng bất cứ điều gì Thầy xin Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ ban cho Thầy” (Gioan 11:22).

Như vậy, dù Marta buồn bã nhưng vẫn ngoan ngùy tuân theo lời dạy của Chúa Giêsu… và trước sự kinh ngạc tột độ của cô, Chúa Giêsu đã làm cho em trai cô sống lại từ cõi chết, ngay trước mắt cô. Nhờ lòng tin vô bờ bến và tình yêu kiên định của Marta, Chúa Giêsu đã thực hiện phép lạ mà sau này Ngài cũng sẽ thực hiện trên chính bản thân Ngài, chứng minh thiên tính của Ngài cho thế gian.

Marta được biến đổi trong ân sủng, từ một người chỉ tập trung vào nhu cầu vị kỷ tìm kiếm sự công nhận từ người khác và khẳng định bản thân, đã trở thành một người hoàn toàn chú tâm vào Chúa. Ở chỗ này, chúng ta gặp lại Marta, và thấy cô tuyên bố với Chúa Giêsu: “Con vẫn tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian” (Ga 11:27). Ngay cả em gái bà là Maria, dù luôn ngồi dưới chân Chúa chăm chú lắng nghe, cũng chưa hề tuyên xưng như thế!

Nhưng làm sao lại có thể như vậy được, vì trong lần gặp gỡ trước kia, Chúa Giêsu đã khen ngợi Maria vì cô “đã chọn phần tốt nhất” (Lc 10:42)? Bởi vì kể từ khi bị quở trách “Marta! Marta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá!” (Lc 10,41) có điều gì đó đã thay đổi trong lòng Marta. Sự bẽ bàng mà cô nhận được từ Chúa Giêsu đã biến đổi cô thành người khiêm nhường. Và không gì, không gì, không gì quý giá trong lòng Thiên Chúa hơn một tâm hồn khiêm nhường biết cách đón nhận sự sửa dạy một cách tốt lành.

Nếu chúng ta, giống như Marta, nhận ra nơi chính mình một nhược điểm xấu xí, đáng hổ thẹn nào đó, hãy khiêm nhường thừa nhận nhược điểm đó trước Chúa và cố gắng hết sức để thắng vượt nhược điểm đó. Hãy hướng suy nghĩ của chúng ta khỏi những điều xấu xa và nghĩ đến “những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen” (Philíp 4:8). Chúng ta hãy tạ ơn Chúa mỗi ngày, không chỉ vì những ân huệ và phúc lành mà chúng ta nhận được, mà còn vì chính những nhược điểm mà chúng ta đang phải chiến đấu với chúng, bởi vì nghịch lý thay, những nhược điểm đó lại cho chúng ta cơ hội tìm đường về quê nhà trên trời.

Liệu chúng ta có bao giờ vượt qua được những nhược điểm đáng thất vọng và khủng khiếp của mình không? Chắc chắn là không phải bằng nỗ lực của bản thân. Nhưng chúng ta hãy tin tưởng vào lòng thương xót của Chúa Kitô, Đấng biến đổi cõi lòng của chúng ta. Nhờ ơn Chúa giúp, một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ trở nên thánh nhân và tuyên xưng cùng với Marta:

Nhưng ngay cả bây giờ con biết rằng bất cứ điều gì Thầy xin Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ ban cho Thầy” (Gioan 11:22).

“Nhiều người muốn khiêm nhường, nhưng ít ai mong muốn bị sỉ nhục; nhiều người cầu xin Chúa ban cho họ sự khiêm nhường và tha thiết cầu xin điều đó, nhưng rất ít người muốn bị sỉ nhục. Tuy nhiên, không thể có được sự khiêm nhường nếu không nếm trải sự sỉ nhục; bởi vì cũng như học tập là con đường để có được kiến thức, thì chính bằng con đường sỉ nhục mà chúng ta đạt được sự khiêm nhường” (LM Gabriel Maria Mađalêna, Divine Intimity - Sự thân tình với Chúa).

Tác giả: MC Holbrook (catholicexchange.com)