SỐNG CHỨNG NHÂN VÀ TRUYỀN GIÁO CỦA HỘI THÁNH HÔM NAY, LỜI MỜI GỌI TỪ MỘT THẾ KỶ TRƯỚC[1]
(Tâm sự thiêng liêng của một Thừa sai)
Kính gửi cha, người cha tinh thần kính mến.
Một vài ngày trước, con tình cờ xem được một đoạn video lan truyền trên mạng xã hội. Nhân vật chính là một linh mục thuộc một giáo phận nọ, tự nhận là nạn nhân và công khai tố cáo vị Giám mục đương nhiệm của mình với cộng đồng mạng. Vì không quen nghe sự việc chỉ từ một phía nên con cũng bán tín bán nghi; lại cũng không có điều kiện để xác minh đúng sai – mà thật ra điều ấy cũng chẳng cần thiết. Điều khiến con có một chút chạnh lòng là Mẹ Hội thánh của chúng ta đã phải chịu đựng nhiều điều: bị những mũi giáo xuyên thấu từ bên ngoài vào và cả những ung nhọt vỡ hoại từ bên trong ra, gây nên những vết thương to lớn không biết bao giờ mới có thể lành lại được; lại thêm chuyện giữa linh mục và giám mục trên đây. So với tổng thể, chuyện này nhỏ thôi, chẳng đáng là gì, nhưng nó cũng góp phần làm đau thêm những vết thương đang sưng tấy. Đau khi những người con cùng “một Cha, một Mẹ” lại đi vào lối mòn “nồi da nấu thịt” của thế tục. Đó là một gương mù nữa thêm vào với những gương mù khác gây ra sự cản trở ghê gớm cho sứ mạng loan báo Tin mừng của chúng ta, những người con đang miệt mài và cặm cụi trên cánh đồng truyền giáo hôm nay. Qua sự việc trên, con nhớ lại lời mời gọi tha thiết của những vị thủ lãnh Hội thánh Lữ hành, con cảm nhận rõ hơn nhu cầu cần phải trở về nguồn, tìm lại sức mạnh từ căn tính của Hội thánh. Đó là sống chứng nhân và truyền giáo.
Thật ra, đã có biết bao nhiêu cá nhân, cộng đoàn, tổ chức trong Hội thánh đã không ngừng trở về nguồn, khơi lại mạch nước trong từ cội rễ để tiếp tục kín múc thêm nữa ở hiện tại và tương lai. Con tự nhủ mình cũng cần bước vào hành trình đó: không chỉ để làm mới đời sống thiêng liêng cá nhân, mà còn để tìm lại định hướng truyền giáo mà Hội thánh nhiều lần tha thiết nhắc nhở đến mỗi tín hữu, cách riêng là bản thân con.
Hôm qua, trong lúc lục tìm một vài tài liệu trên kệ sách, con tình cờ cầm được một số văn kiện cũ, và ở đó có Thông điệp Rerum Ecclesiae (1926) của Đức Piô XI. Cha ạ, đã gần một thế kỷ trôi qua, vậy mà khi đọc lại, con thấy lời dạy ấy vẫn mới. Những vấn đề Đức Piô XI nêu lên từ 100 năm trước vẫn còn đó, vẫn dở dang, và vẫn thúc giục chúng ta tiếp tục thực hiện. Với con, Rerum Ecclesiae như một dải ruy băng nối quá khứ – hiện tại – tương lai: không đứt đoạn, không lạc lõng. Con chợt chạnh lòng. Tại sao một văn kiện có tính ngôn sứ như thế mà gần trăm năm vẫn chưa được thực thi trọn vẹn? Phải chăng vì tầm nhìn của Đức Piô XI quá rộng, vượt khỏi khung thời đại? Hay vì chính chúng ta còn chậm chạp, chưa đủ can đảm và quyết tâm để biến lời dạy thành hành động? Dĩ nhiên, con biết rằng trong dòng lịch sử, Hội thánh cũng đã có những bước tiến lớn tiếp nối Rerum Ecclesiae – điển hình là Evangelii Praecones (1951) của Đức Piô XII đã ghi nhận nhiều hoa trái sau 25 năm. Nhưng chính khi nhìn lại những thành tựu ấy, con càng cảm thấy lời mời gọi của Đức Piô XI vẫn còn chất vấn chúng ta hôm nay.
Do đó, nhân dịp sắp mừng kỷ niệm 100 năm (1926 - 2026) Rerum Ecclesiae ra đời, con muốn mời cha cùng con chia sẻ lại với nhau thông điệp này. Không dám mong hiểu thấu đáo, nhưng ít ra là để cảm nhận thêm giá trị của Rerum Ecclesiae và nhắc lại cho nhau nghe những giáo huấn ngày trước. Cha hướng dẫn thêm cho con ngõ hầu chính con được biến đổi để có thể có một hành động cụ thể nào đó.
Để thấy được tầm nhìn ngôn sứ ấy, cần đặt Rerum Ecclesiae trong bối cảnh lịch sử, và trong dòng chảy của các văn kiện truyền giáo: trước là Maximum Illud (1919) của Đức Bênêđictô XV, sau là có thêm Evangelii Praecones (1951) của Đức Piô XII. Càng về sau này càng có thêm nhiều văn kiện truyền giáo khác nữa nhưng con chỉ xin nói về Rerum Ecclesiae và đặt thông điệp này trong bối cảnh của những thông điệp đầu tiên về truyền giáo mà thôi.
Nếu Maximum Illud khởi đi như một lời cảnh tỉnh Hội thánh trước nguy cơ đồng hoá truyền giáo với quyền lực thế gian, thì Rerum Ecclesiae tiếp nối tinh thần ấy, nhưng thêm một bước nữa là đưa ra những chỉ dẫn thực hành, sắp xếp tổ chức, và đào tạo nhân sự để công cuộc truyền giáo được lành mạnh hơn. Con nghĩ mình không thể tách rời công cuộc truyền giáo đầu thế kỷ XX khỏi bối cảnh lịch sử rộng lớn là: làn sóng bành trướng thuộc địa của các cường quốc phương Tây. Những đoàn tàu viễn chinh vượt đại dương không chỉ chở binh lính nhằm chinh phục, thương nhân nhằm khai thác thị trường và tài nguyên, mà còn có cả các nhà truyền giáo với thao thức loan báo Tin mừng. Sự đồng hành lịch sử ấy, dẫu cho mục đích khác nhau, nhưng đã khiến nhiều dân tộc Á – Phi dễ dàng gắn liền Kitô giáo với quyền lực thực dân. Người ta mô tả tình cảnh này bằng một hình ảnh “ngộ nghĩnh”, pha chút châm biếm là “Thánh giá và thanh gươm”. Điều này cũng dễ hiểu, vì trên thực tế, một số thế lực đã lợi dụng tôn giáo như một phương tiện củng cố sự khuất phục thuộc địa, càng khiến Tin mừng bị hiểu lầm như phần nối dài của quyền lực, phục vụ cho chính trị hơn là mang niềm vui của Chúa đến cho mọi người như bản chất sẵn có.[2]
Tuy nhiên, cần phải khách quan và tỉnh táo để suy xét, đã không thiếu những thừa sai sống khó nghèo, hy sinh và tận tụy với dân bản địa mà sách vở còn ghi chép lại. Họ trở thành chứng nhân sống động của đức ái Kitô giáo; sống tròn vai diễn trên “sân khấu” đời thừa sai, mà khi vai diễn kết thúc cũng chính là nấm mồ thật, nằm lại trên mảnh đất họ đến để truyền giáo. Chính những tấm gương này đã tiếp nối và vang lên trong tinh thần của Thông điệp Rerum Ecclesiae, như một lời kêu gọi khẩn thiết mang tràn đầy hy vọng nhằm: thanh luyện công cuộc truyền giáo, cổ vũ việc đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ, gắn bó với người nghèo, và làm chứng cho Đức Kitô bằng lòng thương xót cụ thể.
Thưa cha, đọc lại Rerum Ecclesiae, con thấy điều gây ấn tượng ngay từ đầu là cách Đức Piô XI khẳng định: Hội thánh không có lý do nào khác để tồn tại ngoài việc phát triển Vương quốc Chúa Kitô ở trần gian này, để làm cho nhân loại được thông phần vào hiệu quả ơn cứu độ của Người (RE 1). Đây không chỉ là lời mở đầu nhưng còn là định hướng căn bản cho toàn bộ thông điệp. Nếu như Maximum Illud trước đó đánh thức Hội thánh thoát khỏi sự lẫn lộn giữa truyền giáo với lợi ích của chủ nghĩa quốc gia và thực dân (MI 19-20), thì Rerum Ecclesiae đi xa hơn, đặt truyền giáo như chính hơi thở và sự sống của Hội thánh (RE 1). Đức Piô XI muốn tách biệt rõ ràng niềm vui đích thực mà Tin mừng mang lại cho các miền đất mới, khỏi sự mập mờ của những dự án “khai phá, khai thác, khai hóa” vốn mang nặng tính chính trị của chủ nghĩa thực dân. Đồng thời nhấn mạnh sứ vụ truyền giáo là lẽ sống còn mà Hội thánh theo đuổi.
Một điểm then chốt được Đức Piô XI tiếp nối và đào sâu trong Rerum Ecclesiae là việc đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ. Trước đó, Đức Bênêđictô XV đã đặt nền móng, nhấn mạnh rằng sứ mạng truyền giáo không thể dừng lại ở việc “mang Tin mừng đến” nhưng còn phải xây dựng một Hội thánh bản địa (MI 14-15). Đến Rerum Ecclesiae, Đức Piô XI đi xa hơn, kêu gọi đặc biệt chú ý đến việc đào tạo linh mục bản xứ, để họ có thể đảm đương công việc truyền giáo của chính mình thay vì lệ thuộc hoàn toàn vào các thừa sai ngoại quốc. Ngài nói rõ: “Tôi mời gọi Chư huynh chú ý đến tầm quan trọng của việc xây dựng một hàng giáo sĩ bản địa” (RE 19). Ngài còn nhắc lại lời của vị tiền nhiệm là Đức Bênêđictô XV rằng: “Một sự kiện rất đáng buồn là tại một số quốc gia mà đức tin Công giáo đã được du nhập hàng thế kỷ nay, nhưng ngay cả bây giờ người ta vẫn chưa thấy có những linh mục bản địa” (RE 20). Đặc biệt, ở số 24, Đức Piô XI đi vào cụ thể hơn: phải lập các chủng viện bản xứ, vì chính đó là con đường để có hàng giáo sĩ bản địa vững mạnh. Điểm này cũng đã được Maximum Illud (số 23) đặt nền tảng. Quả vậy, nhìn lại lịch sử để nhận ra lời của các ngài có tính ngôn sứ: Hội thánh chỉ thực sự bén rễ trong lòng các dân tộc khi có những mục tử sinh ra từ chính cộng đồng ấy, nói cùng một ngôn ngữ, chia sẻ cùng một nền văn hóa và vận mệnh. Ở đâu có hàng giáo sĩ bản địa trưởng thành, ở đó Hội thánh đứng vững và hội nhập tốt hơn; ngược lại sẽ thất bại.[3] Với chúng ta, Hội thánh Việt Nam đã cảm nghiệm thành quả này trong thế kỷ qua, nhưng đồng thời vẫn còn thao thức: làm thế nào để đào tạo nhân sự hôm nay vừa vững chắc về tri thức, vừa phong phú về đời sống thiêng liêng, vừa giàu lòng thương xót, và nhất là có tâm hồn truyền giáo.
Thưa cha, con thấy trong chương trình đào tạo chủng sinh của Hội thánh tại Việt Nam cũng đã đề cập đến thao thức này. Theo “Ratio Fundamentalis Institutionis Sacerdotalis – Đào tạo linh mục toàn diện” do Bộ Giáo sĩ ban hành, tiến trình đào tạo phải bao trùm bốn chiều kích: nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ, nhằm hình thành những mục tử “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, Mục tử nhân lành” [x. Ratio (2016) 89]. Trên thực tế, các Đại Chủng viện Việt Nam đã nỗ lực triển khai đường hướng này qua nhiều sáng kiến cụ thể. Tuy nhiên, vẫn còn đó những đòi hỏi cấp thiết, mà như linh mục Thái Nguyên đã đề ra: “Làm sao đào luyện những con người không chỉ biết rao giảng, mà còn biết lắng nghe? Không chỉ thông minh trí thức, mà còn bén nhạy tâm linh? Không chỉ giữ vai trò chức năng, mà còn trở thành chứng nhân sống động của Tin mừng trong một thời đại đầy nghi ngờ và vỡ mộng?”[4] Chính chiều kích làm chứng sống động này, theo con, là phương thế hữu hiệu nhất cho việc truyền giáo, bởi vì Tin mừng được đón nhận trước hết qua những con người đã để cho Tin mừng biến đổi. Nói cách khác, Tin mừng được thấy qua đời sống chứng tá, chứ không phải chỉ nghe từ những lời sáo rỗng của những người “dù một ngón tay cũng không đụng vào”. Tất cả được tóm lại trong lời nói nổi tiếng của Đức Phaolô VI trong Evangelii Nuntiandi, sau này: “Người thời nay sẵn sàng nghe các chứng nhân hơn là các thầy dạy; và nếu họ có nghe các thầy dạy, thì cũng là vì các thầy dạy đó trước hết là những chứng nhân” (EN 41).
Ngoài việc nhấn mạnh về đào tạo hàng giáo sĩ bản xứ, thông điệp còn đặt trọng tâm vào giáo dục dân bản xứ, như một bước tiếp nối và mở rộng tầm nhìn truyền giáo: Đức Piô XI nhấn mạnh rằng truyền giáo không chỉ là mở trường dạy chữ cho người nghèo, mà còn là đào tạo những người thuộc tầng lớp lãnh đạo, để họ có khả năng đảm nhận trách nhiệm xã hội và Hội thánh trong tương lai (RE 31). Ngài kêu gọi mở trường học và cơ sở giáo dục, coi đây là con đường thiết yếu để vun đắp tri thức, đức hạnh và trách nhiệm trong cộng đồng Kitô hữu. Đây là một tầm nhìn xa, cho thấy truyền giáo gắn chặt với công cuộc xây dựng con người: khi được giáo dục, người trẻ không chỉ vươn lên về tri thức mà còn trở thành những chứng nhân có trách nhiệm trong xã hội. Không được xem những người bản địa là “giống nòi hạ đẳng” vì “họ có thể đối đầu với chúng ta, cả về khả năng trí tuệ” (RE, 26). Kinh nghiệm tại Việt Nam, cha thấy, cũng đã chứng minh điều này: nhiều thế hệ trí thức, nhà giáo dục và nhà lãnh đạo Kitô hữu đã góp phần đáng kể vào đời sống đất nước nhờ tinh thần giáo dục mà Hội thánh đã gieo từ công cuộc truyền giáo.[5]
Đức Piô XI không chỉ quan tâm đến việc tổ chức nhân sự trong công cuộc truyền giáo, mà còn nhấn mạnh đến đời sống chứng tá cho Tin mừng. Mà đời sống chứng tá, xét cho cùng, chính là việc thực hành đức ái. Ngài đặc biệt lưu ý đến các linh mục và giám mục (RE 6), những người được xem là linh hồn của công cuộc truyền giáo (MI 9), rằng họ phải thể hiện đức ái một cách sâu sắc và cụ thể tại những nơi mình được sai đến. Theo Đức Piô XI, người thừa sai phải nên giống Đức Kitô: trước khi giảng dạy, cần biết chữa lành, chăm sóc và biểu lộ lòng thương xót (RE 30). Vì thế, truyền giáo không thể trở thành một màn trình diễn của những công trình nguy nga hay biểu hiện sức mạnh tổ chức. Ngài cảnh báo rằng truyền giáo không được đặt nền tảng trên sự huy hoàng bên ngoài, mà phải được thể hiện qua sự đơn sơ và khó nghèo (RE 31). Tông thư Maximum Illud cũng nhấn mạnh trong số 21: “Còn một khuyết điểm nữa mà người truyền giáo phải cẩn thận xa tránh, đó là ước muốn tìm kiếm lợi lộc vượt ra ngoài việc chinh phục các linh hồn.” Lời cảnh tỉnh này, thưa cha, thật đáng để chúng ta suy gẫm trong bối cảnh hôm nay. Dường như đôi khi chúng ta dễ rơi vào cám dỗ đo lường sự thành công của công cuộc truyền giáo bằng cơ sở vật chất, những chương trình rầm rộ hay các thống kê tăng trưởng. Trong khi đó, bản chất của Tin mừng lại được truyền đi qua những cuộc gặp gỡ khiêm nhường, những cử chỉ yêu thương và hy sinh âm thầm.
Rerum Ecclesiae còn khẳng định rằng công cuộc truyền giáo không thể chỉ do một nhóm hay một tổ chức riêng lẻ nào đảm trách, nhưng phải được khởi đi và lớn lên từ chính những thành phần bản địa. Đó là những giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân xuất thân từ địa phương (RE 21). Đức Piô XI cảnh báo không được xem vai trò của hàng giáo sĩ bản xứ như phụ trợ hay thứ yếu, bởi chính họ mới là nền tảng để thiết lập và phát triển Hội thánh tại các miền truyền giáo. Ngài nói: “Làm sao ngày nay Hội thánh ở giữa dân ngoại có thể phát triển được nếu không xây dựng trên chính những yếu tố đã làm nên các Hội thánh của chúng ta; nghĩa là nếu không được hình thành từ những người dân, những linh mục và những tu sĩ nam nữ được tuyển chọn từ các cộng đồng cư dân bản địa?” (RE 21)
Con nghĩ, sáng kiến này là ân sủng của Chúa Thánh Thần thúc đẩy Hội thánh vượt ra khỏi những thiết định cố hữu bấy lâu nay. Đây là một bước đi táo bạo, thể hiện tinh thần chia sẻ trách nhiệm và giảm bớt tính tập trung quyền lực trong Hội thánh. Cha thấy, những người bản địa sinh ra và lớn lên giữa cái nôi văn hoá của quê hương mình: họ thấu hiểu từng vết nứt trên phên vách đất, thuộc nằm lòng những nét chạm trổ nơi cổng làng, nên họ có thể nói cho nhau nghe bằng thứ ngôn ngữ của khói bếp, của đèn dầu. Và khi họ dùng chính ngôn ngữ bản địa để nói về Thiên Chúa, theo cách của họ, sẽ là điều mà không một thừa sai ngoại quốc nào có thể làm tốt hơn được; có khi, chỉ một cái nhún vai hay một nụ cười của họ cũng diễn tả được nhiều điều hơn cả những bài khảo cứu dày cộm, không lời.
Từ chứng tá sống động của người bản địa, Rerum Ecclesiae còn mở rộng đến sự cộng tác của mọi thành phần trong Hội thánh. Đức Piô XI nhấn mạnh: sự cộng tác giữa các hội dòng, các tổ chức và giáo dân không chỉ để giải quyết vấn đề nhân sự, nhưng còn là một dấu chỉ cụ thể của sự hiệp thông và tính phổ quát (x. RE 12,15,32). Trong công cuộc truyền giáo, mọi thành phần Dân Chúa đều có vai trò: từ các cộng đoàn địa phương cho đến từng môi trường làm việc, tất cả đều được mời gọi góp phần vào sứ vụ chung. Chính vì thế, việc thành lập các dòng tu bản địa, sự dấn thân của giáo dân (RE 27), cũng như đời sống cầu nguyện và chiêm niệm của các dòng chiêm niệm tại các xứ truyền giáo (RE 28), đều trở thành yếu tố không thể thiếu.
Hướng đi này thực ra không mới. Đức Bênêđictô XV trong Maximum Illud đã khuyến khích: “Nếu các vị ấy thấy dòng tu hay tu hội của mình không cung cấp đủ nhân sự cho công việc, họ hoàn toàn sẵn sàng mời gọi sự giúp đỡ từ các dòng tu hay tu hội khác” (MI 11). Như thế, truyền giáo không bao giờ là nỗ lực đơn độc, nhưng là một sứ mạng chung, nơi mỗi thành phần có vị trí riêng. Nếu ví truyền giáo như một chiến trường đầy khó khăn, thử thách, thậm chí hy sinh tính mạng, thì các dòng tu – đặc biệt các dòng chiêm niệm – chính là hậu phương vững chắc. Đức Piô XI quả không dư thừa khi đề cập đến việc thiết lập các dòng tu và dòng chiêm niệm: họ vừa là những cánh tay nối dài cho công việc truyền giáo, vừa là chiếc nệm êm và thang thuốc bổ cho những chinh nhân dấn thân không mệt mỏi.
Khi nhìn lại Rerum Ecclesiae sau một thế kỷ, chúng ta có thể nhận ra những hoa trái lớn lao mà văn kiện này đã để lại, đồng thời cũng thấy được những giới hạn tất yếu của một tư duy vẫn còn gắn với bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX.
Điểm đáng kể trước hết là Rerum Ecclesiae đã mở ra một con đường mới cho việc đào tạo giáo sĩ bản xứ. Đức Piô XI coi đây là nhiệm vụ hàng đầu của các thừa sai, vì chỉ khi có hàng giáo sĩ bản địa trưởng thành, Hội thánh mới thực sự bén rễ trong lòng dân tộc. Từ đó, tiến trình hình thành hàng giám mục bản địa đã diễn ra nhanh hơn, trong đó có cả Hội thánh Việt Nam, khi Đức Thánh cha Piô XI tấn phong các Giám mục tiên khởi người Việt năm 1933.[6] Có thể nói, chính Rerum Ecclesiae đã đặt nền tảng cho một Hội thánh địa phương trưởng thành, không còn lệ thuộc hoàn toàn vào các thừa sai ngoại quốc, và điều này đã chứng tỏ sức sống mạnh mẽ trong những giai đoạn thử thách lịch sử.
Một hoa trái khác là việc gắn liền truyền giáo với bác ái. Thông điệp nhấn mạnh rằng loan báo Tin mừng không chỉ là giảng thuyết, nhưng còn phải thể hiện bằng hành động cụ thể: chăm sóc bệnh nhân, giáo dục trẻ em, nâng đỡ những người nghèo khổ (x. RE 16,30,31). Đây không chỉ là phương tiện truyền giáo, mà là bản chất của Tin mừng: yêu thương và phục vụ. Chính tinh thần này đã tạo nên một truyền thống lâu dài trong các công cuộc truyền giáo, nơi mà y tế, giáo dục và bác ái trở thành những chứng từ sống động, gieo hạt giống Tin mừng trong lòng xã hội. Ở Việt Nam, các trường học, bệnh viện, cơ sở từ thiện của Hội thánh từ thế kỷ XX đến nay, tuy còn nhiều thiếu sót, nhưng cũng là minh chứng cụ thể cho đường hướng mà Rerum Ecclesiae đã đề ra.
Những điều vừa trình bày dĩ nhiên chưa thể bao quát hết, nhưng cũng phần nào cho thấy những hoa trái lớn lao của thông điệp. Tuy nhiên, song hành với những thành công ấy, thông điệp cũng mang trong mình không ít giới hạn. Dẫu Đức Piô XI tha thiết muốn tách rời truyền giáo khỏi bóng dáng thực dân, thì ranh giới ấy trong lịch sử không phải lúc nào cũng rõ ràng. Ở nhiều nơi, hình ảnh “thánh giá và thanh gươm” vẫn còn ám ảnh, khiến việc loan báo Tin mừng bị nghi ngờ là đồng hành với quyền lực chính trị. Chính vì thế, dù Rerum Ecclesiae có một tầm nhìn tiến bộ, nhưng trong thực tế, công cuộc truyền giáo vẫn bị gắn với “cái bóng” của lịch sử thuộc địa.
Một hạn chế khác là não trạng “Âu châu ban phát” vẫn còn hiện diện. Văn kiện đã khẳng định tầm quan trọng của hàng giáo sĩ bản địa, nhưng nhiều đoạn vẫn cho thấy hình ảnh Hội thánh châu Âu như “mẫu quốc” gửi nhân sự, cơ sở vật chất và hướng dẫn cho “thuộc địa” truyền giáo (RE 35). Sự phân biệt này, dù được diễn đạt bằng thiện chí, vẫn chưa vượt qua hoàn toàn não trạng trung tâm và ngoại vi. Não trạng ban phát từ “mẫu quốc” này cũng bàng bạc trong Evangelii Praecones của Đức Piô XII (1951), khi văn kiện nhấn mạnh rằng Hội thánh chỉ có thể vững chắc tại các miền truyền giáo nếu có hàng giáo sĩ bản địa được đào tạo, nhưng đồng thời vẫn mô tả châu Âu như nguồn cung cấp nhân sự và cơ sở vật chất. Chỉ đến Công đồng Vaticanô II với Ad Gentes (1965), Hội thánh mới có cái nhìn toàn diện và quân bình hơn.
Cuối cùng, Rerum Ecclesiae cũng ít chú trọng đến khía cạnh đối thoại liên tôn. Thời điểm đó, truyền giáo chủ yếu được hiểu là loan báo trực tiếp và thiết lập các cộng đoàn Kitô hữu. Trong khi đó, ngày nay, Hội thánh nhận ra rằng đối thoại với các tôn giáo khác là một chiều kích thiết yếu của sứ vụ, nhất là tại các châu lục có truyền thống tôn giáo đa dạng như châu Á. Điều này không làm giảm giá trị của văn kiện, nhưng cho thấy giới hạn của một tầm nhìn vẫn còn gắn chặt với bối cảnh đầu thế kỷ XX.
Cha kính mến, đọc lại thông điệp, con có cảm tưởng như Đức Piô XI không chỉ đang nói với Hội thánh của năm 1926, mà còn đang ngỏ lời với chúng ta hôm nay. Bởi vì nhiều vấn đề ngài đã nêu, dù gần một thế kỷ đã qua, vẫn còn hiện diện: sự lệ thuộc vào bên ngoài, cám dỗ của quyền lực và hình thức, nhu cầu đào tạo nhân sự và nâng cao giáo dục, nguy cơ cục bộ hóa và chia rẽ trong công cuộc truyền giáo. Hội thánh chỉ có thể trung thành với căn tính của mình nếu biết thanh luyện và không ngừng canh tân chính đời sống truyền giáo.
Chính vì thế, con nghĩ dịp kỷ niệm 100 năm Rerum Ecclesiae không chỉ là một sự kiện lịch sử, mà còn là cơ hội để chúng ta cùng nhau xét mình và làm mới lại sứ mạng. Đây không chỉ là câu chuyện của một thông điệp xa xưa, nhưng là lời mời gọi thực tế cho Hội thánh tại Việt Nam hôm nay: tiếp tục bén rễ vào văn hoá dân tộc, khiêm tốn và yêu thương trong phục vụ, kiên trì đào tạo nhân sự và chăm lo cho giáo dục, mở rộng sự cộng tác huynh đệ, và nhất là hiệp thông mật thiết với Hội thánh toàn cầu trong sứ vụ loan báo Tin mừng.
Nếu nói về Rerum Ecclesiae là chính yếu và có nhắc đến nền tảng là Tông thư Maximum Illud thì con cũng muốn thưa với cha một chút về Evangelii Praecones. Chúng ta dành một chút giấy mực ở chỗ này, bàn cách tổng quát của cả ba văn kiện để nói lên tính nối dài, liền mạch với nhau.
Với Maximum Illud (1919), có thể coi đây như một cánh cổng mở ra thời kỳ mới cho hoạt động truyền giáo của Hội thánh. Sau nhiều thập niên bị chi phối bởi tinh thần thực dân, Đức Bênêđictô XV đã kêu gọi Hội thánh thoát khỏi não trạng ấy để trả lại cho sứ vụ truyền giáo khuôn mặt tinh ròng của Tin mừng. Ngài nói rằng truyền giáo không phục vụ chính trị, càng không thể bị đồng hóa với quyền lực trần thế, nhưng phải phản chiếu tính phổ quát và hiệp thông của Hội thánh. Điểm nhấn đặc biệt của Maximum Illud là vai trò của hàng giáo sĩ bản xứ, bởi họ gắn bó tự nhiên với dân tộc mình về văn hóa, ngôn ngữ và tâm lý. Tuy nhiên, văn kiện này dừng lại ở việc nêu nguyên tắc định hướng hơn là triển khai cụ thể.
Chính Rerum Ecclesiae (1926) của Đức Piô XI đã tiếp nối và cụ thể hóa những nguyên tắc ấy, đặt trọng tâm vào việc đào tạo giáo sĩ bản xứ và xây dựng cơ cấu Hội thánh địa phương. Văn kiện này trở thành bản lề, vừa củng cố đường hướng mà Maximum Illud đã khởi xướng, vừa đặt nền móng cho những thành quả sau này.
Đến năm 1951, Evangelii Praecones của Đức Piô XII đã xuất hiện như một bản tổng kết 25 năm thực hiện đường hướng mà Rerum Ecclesiae đề ra. Văn kiện này vừa ghi nhận những thành tựu, vừa mở ra những thách đố mới. Đức Piô XII nhắc lại rằng năm 1926, các công cuộc truyền giáo chỉ khoảng 400, nhưng đến năm 1951 con số đã gần 600; trong khi đó, 88 xứ đã được trao cho hàng giáo sĩ bản địa, điều vốn không tưởng trước đây (EP 5,6). Đây là hoa trái rõ ràng nhất của tiến trình bản địa hóa mà Rerum Ecclesiae khởi xướng. Nhưng đồng thời, Evangelii Praecones còn cảnh báo những nguy cơ mới: Hội thánh truyền giáo không chỉ phải đối diện với khó khăn về cơ cấu hay nhân sự, mà còn phải đứng vững trước những ý thức hệ đối nghịch, đặc biệt là chủ nghĩa vô thần và các cuộc bách hại. Đức Piô XII nhấn mạnh: trong chính thời đại của ngài, có những quốc gia ở Viễn Đông đang thấm máu các vị tử đạo vì Tin mừng. Điều này cho thấy Evangelii Praecones không chỉ là một bản tổng kết thành tựu, mà còn là một lời mời gọi thúc đẩy, đưa tiến trình bản địa hóa đi sâu hơn nữa: từ việc đào tạo linh mục bản xứ đến việc tấn phong giám mục bản xứ, từ việc thiết lập cơ cấu Hội thánh địa phương đến việc hình thành mạng lưới quốc tế hỗ trợ truyền giáo qua các Hội Giáo hoàng Truyền giáo, các cơ sở đào tạo và truyền thông. Nếu Maximum Illud là cánh cổng mở lối, Rerum Ecclesiae là bước củng cố, thì Evangelii Praecones chính là bản tổng kết thành tựu và thúc đẩy, mở rộng viễn tượng truyền giáo trong bối cảnh mới của thế kỷ XX.
Như một dòng chảy, ba văn kiện này nối tiếp nhau: Maximum Illud khai mở, Rerum Ecclesiae củng cố, và Evangelii Praecones tổng kết và thúc đẩy. Chính Rerum Ecclesiae là chiếc bản lề, làm cho đường hướng mà Maximum Illud khởi xướng trở thành chương trình hành động, đồng thời đặt nền móng cho những thành quả được Evangelii Praecones ghi nhận. Từ đó, ta có thể thấy rõ lộ trình truyền giáo của Hội thánh trong nửa đầu thế kỷ XX: từ việc thoát khỏi ảnh hưởng thực dân, đến bản địa hóa và xây dựng cơ cấu Hội thánh địa phương, rồi mở ra một giai đoạn trưởng thành với hàng giám mục bản xứ và sự hỗ trợ quốc tế.
Thưa cha kính mến,
Sau khi đọc và suy tư về thông điệp, con thấy rằng tất cả những gì Hội thánh đã trải qua và đang mời gọi chúng ta hôm nay đều quy về một điểm chung: tình yêu trung thành với sứ mạng truyền giáo. Những vết thương trong Hội thánh, những gương mù từ bên ngoài hay bên trong, hay cả những giới hạn của lịch sử không làm lu mờ căn tính ấy, nhưng ngược lại, trở thành lời mời gọi chúng ta canh tân để trung thành hơn với Đức Kitô.
Cha ạ, điều khiến con xúc động chính là lời nhấn mạnh của các Đức Giáo hoàng: truyền giáo không thể chỉ là những hoạt động rầm rộ hay những thành tích bên ngoài, nhưng trước hết là chứng tá của đức ái, là sự khiêm tốn phục vụ, là gắn bó với người nghèo và đồng hành với dân tộc mình. Đó cũng là điều mà Đức Piô XI tha thiết trong Rerum Ecclesiae: ngài kêu gọi Hội thánh trở nên tất cả cho mọi người. Con tự hỏi mình: nếu từng linh mục, từng tu sĩ, từng người giáo dân biết sống như thế, liệu Tin mừng có phải đã được lan toả mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn trong lòng xã hội hôm nay? Con cảm thấy lời mời gọi của Hội thánh rất tha thiết dành cho chính con: hãy bước vào hành trình truyền giáo bằng chính đời sống cụ thể, bằng sự biến đổi cá nhân trước khi nói đến bất kỳ chương trình nào. Con tin rằng, dịp kỷ niệm 100 năm Rerum Ecclesiae sẽ là cơ hội để con và cha cùng nhau xét lại con đường mình đang đi: đã thực sự bén rễ vào văn hoá dân tộc chưa, đã đủ khiêm tốn và yêu thương trong phục vụ chưa, đã chú tâm đào tạo nhân sự và chăm lo cho giáo dục chưa, đã mở rộng hiệp thông và cộng tác huynh đệ chưa?
Thưa cha, con viết những dòng kết này như một lời tự nhắc nhở, nhưng đồng thời cũng là lời con xin cha nâng đỡ và đồng hành. Con chỉ có thể trung thành với sứ vụ nếu con được nâng đỡ trong tình phụ tử này: một người con mong noi gương cha, để cùng cha bước đi trên hành trình loan báo Tin mừng. Và con tin, chính trong mối hiệp thông đơn sơ ấy, những lời ngôn sứ từ gần một thế kỷ trước sẽ được thắp sáng lại trong Hội thánh hôm nay.
Tác giả: Jos. Đào Viết Tâm, MSV
Tháng 11/2025
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 151 (Tháng 01 & 02 năm 2026)
-------------------
[1] Bài viết sử dụng ba văn kiện: Tông thư Maximum Illud (MI) – Sứ vụ trọng đại; Thông điệp Rerum Ecclesiae (RE) – Các Sự kiện của Hội thánh; Thông điệp Evangelii Praecones (EP) – Sứ giả Tin mừng. Bản dịch Việt ngữ của linh mục Đaminh Ngô Quang Tuyên.
[2] x. Anna Johnston, “The British Empire, Colonialism, and Missionary Activity,” in Missionary Writing and Empire, 1800–1860 (Cambridge: Cambridge University Press, 2009), accessed September 21, 2025, Cambridge Core.
[3] x. Ambrose Mong, “Catholic Missions in China: Failure to Form Native Clergy,” International Journal for the Study of the Christian Church 19, no. 1 (2019): 30–43, accessed September 21, 2025, Taylor & Francis Online.
[4] Lm. Thái Nguyên, “Đào tạo linh mục hôm nay - Thách đố và hy vọng của Hội thánh Việt Nam ngày mai”, Hội đồng Giám mục Việt Nam, 28/6/2025, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/dao-tao-linh-muc-hom-nay---thach-do-va-hy-vong-cua-giao-hoi-viet-nam-ngay-mai?
[5] x. Giuse Nguyễn, Những đóng góp của Kitô giáo Việt Nam cho nền văn hóa và văn học dân tộc, Hội đồng Giám mục Việt Nam, đăng ngày 12/6/2020, truy cập ngày 25/9/2025, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/nhung-dong-gop-cua-kito-giao-viet-nam-cho-nen-van-hoa-va-van-hoc-dan-toc-40112.
[6] x. “Thành lập Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam,” Hội đồng Giám mục Việt Nam, đăng ngày 15/10/2017, truy cập ngày 28/6/2025, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/thanh-lap-hang-giao-pham-viet-nam-25948
