Is 56,1.6-7
Rm 11,13-15.29-32
Mt 15,21-28
Kinh nghiệm leo núi dạy chúng ta rằng càng lên cao thì số người đồng hành càng ít đi. Thậm chí có lúc chỉ còn một mình khi đỉnh núi cần chinh phục đặc biệt hiểm trở. Thế nhưng, Ngôn sứ Isaia lại khẳng định trên núi Chúa mọi sự diễn ra ngược lại: nhà của Người có thể đón tiếp một đoàn người đông đảo, “là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc” (Is 56,7). Việc chọn rộng mở và không loại trừ này dường như không được minh chứng ngay lập tức qua cách Chúa Giêsu đón tiếp và đáp lại những lời nài nỉ của người phụ nữ ngoại bang (người Canaan), đang kêu van trong tuyệt vọng vì con gái “bị quỷ ám”: “Nhưng Người không đáp lại một lời nào” (Mt 15, 22).
Trước thái độ khép kín như thế, xem ra các môn đệ còn cởi mở và sẵn lòng hơn: “Xin Thầy thương để bà ấy về đi, vì bà cứ theo chúng ta mà kêu mãi” (Mt 15,23). Có lẽ lời chuyển cầu này đơn giản chỉ bộc lộ mong muốn được yên thân và không muốn can dự quá nhiều vào nỗi đau khổ của người phụ nữ. Tuy nhiên, Chúa Giêsu dường như không có ý định biện minh, cũng chẳng thay đổi lựa chọn của mình: “Thầy chỉ được sai đến cùng chiên lạc nhà Israel” (Mt 15, 24).
Qua sự im lặng này, Chúa Giêsu đang tìm cách làm nổi bật một phẩm chất mà có lẽ người phụ nữ này đã biểu lộ trước mắt Người: đức tin. Một sự cởi mở trong niềm tín thác mà Chúa Giêsu chưa bao giờ nhìn thấy rõ như thế nơi tâm hồn những người bạn thân cận nhất của Người, mặc dù đã chứng kiến phép lạ bánh và cá. Người phụ nữ này – một người ngoại bang và vô danh – tiến đến với một thái độ khiêm nhường và tín thác. Từ việc nhận biết mình chẳng có công trạng hay quyền lợi gì, nơi bà lại toát lên một vẻ đẹp nào đó, một sự tự do nội tâm mạnh mẽ. Chính vì thế, bà không chùn bước trước sự từ chối, trái lại, vẫn tiếp tục kiên trì nài xin với một sự quyết tâm lớn lao: “Vâng, lạy Ngài, vì chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ bàn của chủ rơi xuống” (Mt 15, 27)
Biết bao lần lời cầu nguyện của chúng ta không những lạnh nhạt, mà còn đầy lo sợ và nản lòng. Ngay từ đầu, lời cầu nguyện đã trống rỗng, không có hy vọng. Vì thế, chúng ta thường phản ứng một cách tự ái và cam chịu trước những thinh lặng cũng như những thái độ dường như khép kín của Thiên Chúa. Sự thờ ơ có tính chiến lược của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ Canaan cho thấy việc được bước vào nhà Thiên Chúa và đón nhận những ân huệ của Người không chỉ là đặc quyền dành cho một số người, nhưng là một vận mệnh được dành cho mọi “dân ngoại” (Rm 11,13). Người phụ nữ Canaan dường như đã sớm trực giác được ý nghĩa sâu xa của suy tư mà Thánh Phaolô sẽ khai triển trong Thư gửi tín hữu Rôma, khi chiêm ngắm cách hành động nghịch lý của Thiên Chúa như một chiến lược nhằm đưa mọi người vào trong kế hoạch yêu thương của Người: “Thiên Chúa đã để mọi người phải giam hãm trong sự cứng lòng tin, để Chúa thương xót hết mọi người” (Rm 11, 32).
Chúa không đòi người phụ nữ phải chứng tỏ đức tin trước khi thực hiện phép lạ: “Này bà, bà có lòng mạnh tin. Bà muốn sao thì được vậy” (Mt 15,28). Đơn giản hơn, Người đã trao cho bà cơ hội bày tỏ đến tận cùng niềm khát khao của mình, cho đến khi bà thốt lên lời cầu nguyện đẹp nhất: một lời cầu nguyện đầy tín thác, kiên trì, và tự do thậm chí không màng đến kết quả. Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói rằng không phải Thiên Chúa là Đấng thực hiện các phép lạ, nhưng chính lòng khao khát và nhu cầu của chúng ta khơi mguồn cho những phép lạ ấy.
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ này thể hiện một cách đặc biệt ứng nghiệm cho ước vọng của Ngôn sứ Isaia, khiến không ít người phải kinh ngạc. Điều khơi dậy sức mạnh của lời cầu nguyện không phải là những cử chỉ xã giao, nhưng là tiếng kêu van của cơn đói khát một sự sống viên mãn, là tiếng nói của nỗi quặn đau trước chiếc đĩa trống mà đôi khi cuộc đời buộc ta phải đón nhận. Nhiều lần Thiên Chúa lắng nghe mà không đáp lại ngay. Tình yêu của Người dành cho chúng ta trưởng thành, tự do và trung tín đến mức không cần phải phản ứng trước từng tiếng than van hay chiều theo mọi nhu cầu của chúng ta. Chúng ta cần học biết nhận ra rằng chính sự im lặng tưởng như vô cảm trước những lời khẩn cầu lại là sự trợ giúp tốt nhất để chúng ta trở nên những người con khiêm nhường và biết ơn. Được sống và được yêu thương luôn mãi không phải là một quyền đương nhiên, nhưng hoàn toàn là một hồng ân, hồng ân chân thật nhất, cao đẹp nhất. Hồng ân ấy cần được đón nhận mỗi ngày với tâm tình ngỡ ngàng và biết ơn, bởi xác tín rằng “Thiên Chúa ban ơn và kêu gọi ai, thì Người không hề hối tiếc” (Rm 11,29).
Như những chú chó con vẫn thường làm, chúng mừng rỡ vẫy đuôi dưới gầm bàn và hạnh phúc thưởng thức từng mảnh vụn tình thương chắc chắn sẽ rơi xuống từ bàn ăn của chủ mình.
Lm. Roberto Pasolini, OFM Cap. (nellaparola.it)
