A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: St 1,1–2,2

Đáp ca : Tv 103,1-2a.5-6.10 và 12.13-14a.24 và 35c (Đ. x. c.30)

Bài đọc 2 : St 22,1-18

Đáp ca : Tv 15,5 và 8.9-10.11 (Đ. c.1)

Bài đọc 3 (bắt buộc) : Xh 14,15–15,1a

Đáp ca : Xh 15,1b-2.3-4.5-6.17-18 (Đ. x. c.1b)

Bài đọc 4 : Is 54,5-14

Đáp ca : Tv 29,2 và 4.5-6.11-12a và 13b (Đ. c.2a)

Bài đọc 5 : Is 55,1-11

Đáp ca : Is 12,2-3.4bcd.5-6 (Đ. c.3)

Bài đọc 6 : Br 3,9-15.32–4,4

Đáp ca : Tv 18B,8.9.10.11 (Đ. Ga 6,68c)

Bài đọc 7 : Ed 36,16-17a.18-28

Đáp ca : Tv 41,3.5bcd ; Tv 42,3.4 (Đ. Tv 41,2)

Thánh thư : Rm 6,3-11

Đáp ca : Tv 117,1-2.16ab và 17.22-23

Tin Mừng : Mt 28,1-10

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

C. BÀI ĐỌC THÊM

Phục Sinh ở trung tâm các Tin Mừng (Marc Sevin)


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: St 1,1–2,2

Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp !

Bài trích sách Sáng thế.

1 1 Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. 2 Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.

3 Thiên Chúa phán : “Phải có ánh sáng.” Liền có ánh sáng. 4 Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. 5 Thiên Chúa gọi ánh sáng là “ngày”, bóng tối là “đêm”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ nhất.

6 Thiên Chúa phán : “Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước.” 7 Thiên Chúa làm ra cái vòm đó và phân rẽ nước phía dưới vòm với nước phía trên. Liền có như vậy. 8 Thiên Chúa gọi vòm đó là “trời”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ hai.

9 Thiên Chúa phán : “Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra.” Liền có như vậy. 10 Thiên Chúa gọi chỗ cạn là “đất”, khối nước tụ lại là “biển”. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.

11 Thiên Chúa phán : “Đất phải sinh thảo mộc xanh tươi, cỏ mang hạt giống, và cây trên mặt đất có trái, ra trái tuỳ theo loại, trong có hạt giống.” Liền có như vậy. 12 Đất trổ sinh thảo mộc, cỏ mang hạt giống tuỳ theo loại, và cây ra trái, trong trái có hạt giống tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. 13 Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ ba.

14 Thiên Chúa phán : “Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm. 15 Đó sẽ là những vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất.” Liền có như vậy. 16 Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn : vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm ; Người cũng làm ra các ngôi sao. 17 Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, 18 để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. 19 Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ tư.

20 Thiên Chúa phán : “Nước phải sinh ra đầy dẫy những sinh vật lúc nhúc, và loài chim phải bay lượn trên mặt đất, dưới vòm trời.” 21 Thiên Chúa sáng tạo các thuỷ quái khổng lồ, cùng mọi sinh vật vẫy vùng lúc nhúc dưới nước tuỳ theo loại, và mọi giống chim bay tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. 22 Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng : “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy biển ; và chim phải sinh sản cho nhiều trên mặt đất.” 23 Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ năm.

24 Thiên Chúa phán : “Đất phải sinh ra các sinh vật tuỳ theo loại : gia súc, loài bò sát và dã thú tuỳ theo loại.” Liền có như vậy. 25 Thiên Chúa làm ra dã thú tuỳ theo loại, gia súc tuỳ theo loại, và loài bò sát dưới đất tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.

26 Thiên Chúa phán : “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.”

27 Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.

28 Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ : “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất.” 29 Thiên Chúa phán : “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. 30 Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực.” Liền có như vậy. 31 Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp ! Qua một buổi chiều và một buổi sáng : đó là ngày thứ sáu.

2 1 Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. 2 Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi.

Đó là lời Chúa.

 

Hoặc : Bài đọc ngắn : St 1,1.26-31a

Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp ! Bài trích sách Sáng thế.

1 Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. 26 Thiên Chúa phán : “Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.”

27 Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình,

Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa,

Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.

28 Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ : “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất.” 29 Thiên Chúa phán : “Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. 30 Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực.” Liền có như vậy. 31a Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp !

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 103,1-2a.5-6.10 và 12.13-14a.24 và 35c (Đ. x. c.30)

Đ. Lạy Chúa, xin gửi Thần Khí tới và Ngài sẽ đổi mới mặt đất này.

1 Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi ! Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, Chúa muôn trùng cao cả !

Áo Ngài mặc : toàn oai phong lẫm liệt,

2a cẩm bào Ngài khoác : muôn vạn ánh hào quang. Đ.

5 Chúa lập địa cầu trên nền vững,

khôn chuyển lay muôn thuở muôn đời !

6 Áo vực thẳm choàng lên trái đất,

khối nước nguồn tụ lại đỉnh non cao. Đ.

10 Chúa khơi nguồn : suối tuôn thác đổ, giữa núi đồi, lượn khúc quanh co.

12 Bên dòng suối, chim trời làm tổ,

dưới lá cành cất giọng líu lo. Đ.

13 Từ cao thẳm, Chúa đổ mưa xuống núi, đất chứa chan phước lộc của Ngài.

14a Ngài khiến mọc cỏ xanh nuôi sống đàn gia súc,

làm tốt tươi thảo mộc cho người thế hưởng dùng. Đ.

24 Công trình Ngài, lạy Chúa, quả thiên hình vạn trạng !

Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan, những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất.

35c Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi ! Đ.

 

Hoặc : Tv 32,4-5.6-7.12-13.20 và 22 (Đ. c.5b)

Đ. Tình thương Chúa chan hoà mặt đất.

4 Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin.

5 Chúa yêu thích điều công minh chính trực,

tình thương Chúa chan hoà mặt đất. Đ.

6 Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú.

7 Chúa dồn đại dương về một chỗ,

Người đem biển cả trữ vào kho. Đ.

12 Hạnh phúc thay quốc gia được Chúa làm Chúa Tể, hạnh phúc thay dân nào Người chọn làm gia nghiệp.

13 Từ trời cao nhìn xuống,

Chúa thấy hết mọi người. Đ.

20 Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Người luôn che chở phù trì.

22 Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa,

như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài. Đ.


Bài đọc 2 : St 22,1-18

Tổ phụ Áp-ra-ham dâng lễ tế.

Bài trích sách Sáng thế.

1 Hồi đó, Thiên Chúa thử lòng ông Áp-ra-ham. Người gọi ông : “Áp-ra-ham !” Ông thưa : “Dạ, con đây !” 2 Người phán : “Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ác, hãy đi đến xứ Mô-ri-gia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho.”

3 Sáng hôm sau, ông Áp-ra-ham dậy sớm, thắng lừa, đem theo hai đầy tớ và con ông là I-xa-ác, ông bổ củi dùng để đốt lễ toàn thiêu, rồi lên đường đi tới nơi Thiên Chúa bảo. 4 Sang ngày thứ ba, ông Áp-ra-ham ngước mắt lên, thấy nơi đó ở đàng xa. 5 Ông Áp-ra-ham bảo đầy tớ : “Các anh ở lại đây với con lừa, còn cha con tôi đi lên tận đàng kia ; chúng tôi làm việc thờ phượng, rồi sẽ trở lại với các anh.”

6 Ông Áp-ra-ham lấy củi dùng để đốt lễ toàn thiêu, đặt lên vai I-xa-ác, con ông. Ông cầm lửa và dao trong tay, rồi cả hai cùng đi. 7 I-xa-ác thưa với cha là ông Áp-ra-ham : “Cha !” 8 Ông Áp-ra-ham đáp : “Cha đây con !” Cậu nói : “Có lửa, có củi đây, còn chiên để làm lễ toàn thiêu đâu ?” Ông Áp-ra-ham đáp : “Chiên làm lễ toàn thiêu, chính Thiên Chúa sẽ liệu, con ạ.” Rồi cả hai cùng đi.

9 Tới nơi Thiên Chúa đã chỉ, ông Áp-ra-ham dựng bàn thờ tại đó, xếp củi lên, trói I-xa-ác con ông lại, và đặt lên bàn thờ, trên đống củi. 10 Rồi ông Áp-ra-ham đưa tay ra cầm lấy dao để sát tế con mình.

11 Nhưng sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi ông : “Áp-ra-ham ! Áp-ra-ham !” Ông thưa : “Dạ, con đây !” 12 Người nói : “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó ! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa : đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc !” 13 Ông Áp-ra-ham ngước mắt lên nhìn, thì thấy phía sau có con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây. Ông Áp-ra-ham liền đi bắt con cừu ấy mà dâng làm lễ toàn thiêu thay cho con mình. 14 Ông Áp-ra-ham đặt tên cho nơi này là “Đức Chúa sẽ liệu”. Bởi đó, bây giờ có câu : “Trên núi Đức Chúa sẽ liệu.”

15 Sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi ông Áp-ra-ham một lần nữa 16 và nói : “Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề : bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, 17 nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được thành trì của địch. 18 Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta.”

Đó là lời Chúa.

 

Hoặc : Bài đọc ngắn : St 22,1-2.9a.10-13.15-18

Tổ phụ Áp-ra-ham dâng lễ tế.

Bài trích sách Sáng thế.

1 Hồi đó, Thiên Chúa thử lòng ông Áp-ra-ham. Người gọi ông:

“Áp-ra-ham !” Ông thưa : “Dạ, con đây !” 2 Người phán : “Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ác, hãy đi đến xứ Mô-ri-gia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho.”

9a Tới nơi Thiên Chúa đã chỉ, ông Áp-ra-ham dựng bàn thờ tại đó, xếp củi lên. 10 Rồi ông Áp-ra-ham đưa tay ra cầm lấy dao để sát tế con mình.

11 Nhưng sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi ông : “Áp-ra-ham ! Áp-ra-ham !” Ông thưa : “Dạ, con đây !” 12 Người nói : “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó ! Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa : đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc !” 13 Ông Áp-ra-ham ngước mắt lên nhìn, thì thấy phía sau có con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây. Ông Áp-ra-ham liền đi bắt con cừu ấy mà dâng làm lễ toàn thiêu thay cho con mình.

15 Sứ thần của Đức Chúa từ trời gọi ông Áp-ra-ham một lần nữa 16 và nói : “Đây là sấm ngôn của Đức Chúa, Ta lấy chính danh Ta mà thề : bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, 17 nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển. Dòng dõi ngươi sẽ chiếm được thành trì của địch. 18 Mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 15,5 và 8.9-10.11 (Đ. c.1)

Đ. Lạy Chúa Trời, xin giữ gìn con, vì bên Ngài, con đang ẩn náu.

5 Lạy Chúa, Chúa là phần sản nghiệp con được hưởng, là chén phúc lộc dành cho con ;

số mạng con, chính Ngài nắm giữ.

8 Con luôn nhớ có Ngài trước mặt,

được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ. Đ.

9 Vì thế, tâm hồn con mừng rỡ, và lòng dạ hân hoan, thân xác con cũng nghỉ ngơi an toàn.

10 Vì Chúa chẳng đành bỏ mặc con trong cõi âm ty, không để kẻ hiếu trung này hư nát trong phần mộ. Đ.

11 Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống : trước Thánh Nhan, ôi vui sướng tràn trề,

ở bên Ngài, hoan lạc chẳng hề vơi ! Đ.

 

Bài đọc 3 (bắt buộc) : Xh 14,15–15,1a

Con cái Ít-ra-en đi vào giữa lòng biển khô cạn.

Bài trích sách Xuất hành.

14 15 Khi ấy, con cái Ít-ra-en thấy người Ai-cập tiến đến sau lưng, thì kinh hãi, liền lớn tiếng kêu cầu Đức Chúa. Đức Chúa phán với ông Mô-sê : “Có gì mà phải kêu cứu Ta ? Hãy bảo con cái Ít-ra-en cứ nhổ trại. 16 Phần ngươi, cầm gậy lên, giơ tay trên mặt biển, rẽ nước ra cho có lối đi khô ráo ngay giữa lòng biển, để con cái Ít-ra-en đi vào. 17 Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá. Chúng sẽ tiến vào theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ được vẻ vang hiển hách khi đánh bại Pha-ra-ô cùng toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy. 18 Người Ai-cập sẽ biết rằng chính Ta là Đức Chúa, khi Ta được vẻ vang hiển hách vì đã đánh bại Pha-ra-ô cùng chiến xa và kỵ binh của vua ấy.”

19 Thiên sứ của Thiên Chúa đang đi trước hàng ngũ Ít-ra-en, lại rời chỗ mà xuống đi đàng sau họ. Cột mây bỏ phía trước mà đứng về phía sau, 20 chen vào giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Ít-ra-en. Bên kia, mây toả mịt mù, bên này, mây lại sáng soi đêm tối, khiến cho hai bên suốt đêm không xáp lại gần nhau được. 21 Ông Mô-sê giơ tay trên mặt biển, Đức Chúa cho một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, dồn biển lại, khiến biển hoá thành đất khô cạn. Nước rẽ ra, 22 và con cái Ít-ra-en đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước sừng sững như tường thành hai bên tả hữu. 23 Quân Ai-cập đuổi theo ; toàn thể chiến mã, chiến xa và kỵ binh của Pha-ra-ô tiến vào giữa lòng biển, đằng sau dân Ít-ra-en. 24 Vào lúc gần sáng, từ cột lửa và mây, Đức Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, Người gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. 25 Người làm cho chiến xa kẹt bánh, khiến chúng phải vất vả mới di chuyển nổi. Quân Ai-cập bảo nhau : “Ta phải trốn bọn Ít-ra-en, vì Đức Chúa chiến đấu chống lại người Ai-cập để giúp họ.” 26 Đức Chúa phán với ông Mô-sê : “Hãy giơ tay trên mặt biển, nước sẽ ập xuống trên quân Ai-cập cùng với chiến xa và kỵ binh của chúng.”

27 Ông Mô-sê giơ tay trên mặt biển, và biển ập lại như cũ, vào lúc tảng sáng. Quân Ai-cập đang chạy trốn thì gặp nước biển, Đức Chúa xô ngã quân Ai-cập giữa lòng biển. 28 Nước ập xuống, vùi lấp chiến xa và kỵ binh, vùi lấp toàn thể quân lực của Pha-ra-ô đã theo dân Ít-ra-en đi vào lòng biển. Không một tên nào sống sót. 29 Còn con cái Ít-ra-en đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước sừng sững như tường thành hai bên tả hữu. 30 Ngày đó, Đức Chúa đã cứu Ít-ra-en khỏi tay quân Ai-cập. Ít-ra-en thấy quân Ai-cập phơi thây trên bờ biển. 31 Ít-ra-en thấy Đức Chúa đã ra tay hùng mạnh đánh quân Ai-cập. Toàn dân kính sợ Đức Chúa, tin vào Đức Chúa, tin vào ông Mô-sê, tôi trung của Người.

15 1a Bấy giờ ông Mô-sê cùng với con cái Ít-ra-en hát mừng Đức Chúa bài ca sau đây. Họ ca rằng :

 

Đáp ca : Xh 15,1b-2.3-4.5-6.17-18 (Đ. x. c.1b)

Đ. Nào ta hát mừng Chúa, Đấng cao cả uy hùng.

1b Tôi xin hát mừng Chúa, Đấng cao cả uy hùng : Kỵ binh cùng chiến mã,

Người xô xuống đại dương.

2 Chúa là sức mạnh tôi, là Đấng tôi ca ngợi,

chính Người cứu độ tôi. Người là Chúa tôi thờ, xin dâng lời vinh chúc, Người là Chúa tổ tiên,

xin mừng câu tán tụng. Đ.

3 Người là trang chiến binh, danh Người là “Đức Chúa !”

4 Xa mã Pha-ra-ô,

Người xô xuống lòng biển, tướng dũng với binh hùng

chết chìm trong Biển Sậy. Đ.

5 Vực thẳm vùi lấp chúng, chúng chìm xuống nước sâu chẳng khác nào hòn đá.

6 Lạy Chúa, tay hữu Ngài đã biểu dương sức mạnh. Tay hữu Ngài, lạy Chúa,

đã nghiền nát địch quân. Đ.

17 Ngài cho dân tiến vào, định cư họ trên núi,

núi gia nghiệp của Ngài. Lạy Chúa, chính nơi đây Ngài chọn làm chỗ ở, đây cũng là đền thánh

tự tay Ngài lập nên.

18 Chúa là Vua hiển trị

đến muôn thuở muôn đời. Đ.


Bài đọc 4 : Is 54,5-14

Vì Đấng chuộc ngươi về vẫn trọn tình vẹn nghĩa, nên Người lại xót thương.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

5 Đức Chúa phán với thành Giê-ru-sa-lem : Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắt chính là Đấng đã tác thành ngươi,

tôn danh Người là Đức Chúa các đạo binh ;

Đấng chuộc ngươi về, chính là Đức Thánh của Ít-ra-en, tước hiệu Người là Thiên Chúa toàn cõi đất.

6 Phải, Đức Chúa đã gọi ngươi về,

như người đàn bà bị ruồng bỏ, tâm thần sầu muộn. “Người vợ cưới lúc thanh xuân, ai mà rẫy cho đành ?”, Thiên Chúa ngươi phán như vậy.

7 Trong một thời gian ngắn, Ta đã ruồng bỏ ngươi, nhưng vì lòng thương xót vô bờ,

Ta sẽ đón ngươi về tái hợp.

8 Lúc lửa giận bừng bừng,

Ta đã một thời ngoảnh mặt chẳng nhìn ngươi, nhưng vì tình nghĩa ngàn đời,

Ta lại chạnh lòng thương xót,

Đức Chúa, Đấng cứu chuộc ngươi, phán như vậy.

9 Ta cũng sẽ làm như thời Nô-ê : lúc đó, Ta đã thề rằng hồng thuỷ sẽ không tràn ngập mặt đất nữa,

cũng vậy, nay Ta thề

sẽ không còn nổi giận và hăm doạ ngươi đâu.

10 Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay,

tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay, Đức Chúa là Đấng thương xót ngươi phán như vậy.

11 Hỡi thành đô khốn đốn, ba chìm bảy nổi, không người ủi an !

Này, đá của ngươi, Ta lấy phẩm màu tô điểm, nền móng ngươi, Ta đặt trên lam ngọc,

12 lỗ châu mai tường thành, Ta xây bằng hồng ngọc, các cửa thành ngươi, bằng pha lê,

tường trong luỹ ngoài, toàn đá quý.

13 Con cái ngươi, Đức Chúa đều dạy dỗ, chúng sẽ được vui hưởng thái bình.

14 Nền tảng vững bền của ngươi sẽ là đức công chính ; ngươi sẽ thoát khỏi áp bức, không còn phải sợ chi,

sẽ thoát khỏi kinh hoàng,

vì kinh hoàng sẽ không đến gần ngươi nữa. Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 29,2 và 4.5-6.11-12a và 13b (Đ. c.2a)

Đ. Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt.

2 Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt,

không để quân thù đắc chí nhạo cười con.

4 Lạy Chúa, từ âm phủ Ngài đã kéo con lên,

tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống. Đ.

5 Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người.

6 Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời. Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống,

hừng đông về đã vọng tiếng hò reo. Đ.

11 Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con, lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ.

12a Khúc ai ca, Chúa đổi thành vũ điệu.

13b Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ,

xin tạ ơn Ngài mãi mãi ngàn thu. Đ.

 

Bài đọc 5 : Is 55,1-11

Hãy đến với Ta, thì các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

1 Đức Chúa phán như sau :

“Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây !

Dù không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng ;

đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào.

2 Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả

vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng ?

Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị.

3 Hãy lắng tai và đến với Ta,

hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống.

Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, để trọn bề nhân nghĩa với Đa-vít.

4 Này, Ta đã đặt Đa-vít làm nhân chứng cho các dân, làm thủ lãnh chỉ huy các nước.

5 Này, ngươi sẽ chiêu tập một dân tộc ngươi không quen biết ;

một dân tộc không quen biết ngươi sẽ chạy đến với ngươi,

vì Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, vì Đức Thánh của Ít-ra-en

đã làm cho ngươi được vinh hiển.

6 Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên.

7 Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có

mà trở về với Đức Chúa –và Người sẽ xót thương–, về với Thiên Chúa chúng ta,

vì Người sẽ rộng lòng tha thứ.

8 Thật vậy, tư tưởng của Ta

không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi

không phải là đường lối của Ta

– sấm ngôn của Đức Chúa.

9 Trời cao hơn đất chừng nào

thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta

cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.

10 Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất,

chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn,

11 thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả,

chưa thực hiện ý muốn của Ta,

chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Is 12,2-3.4bcd.5-6 (Đ. c.3)

Đ. Các bạn sẽ vui mừng múc nước tận nguồn ơn cứu độ.

2 Đây chính là Thiên Chúa cứu độ tôi, tôi tin tưởng và không còn sợ hãi, bởi vì Chúa là sức mạnh tôi,

là Đấng tôi ca ngợi, chính Người cứu độ tôi.

3 Các bạn sẽ vui mừng múc nước tận nguồn ơn cứu độ. Đ.

4bcd Hãy tạ ơn Chúa, cầu khẩn danh Người,

vĩ nghiệp của Người, loan báo giữa muôn dân,

và nhắc nhở : danh Người siêu việt. Đ.

5 Đàn ca lên mừng Chúa,

vì Người đã thực hiện bao kỳ công ; điều đó, phải cho cả địa cầu được biết.

6 Dân Xi-on, hãy mừng rỡ reo hò, vì giữa ngươi,

Đức Thánh của Ít-ra-en quả thật là vĩ đại ! Đ.

 

Bài đọc 6 : Br 3,9-15.32–4,4

Hãy dõi theo ánh sáng của Chúa mà tiến bước về chốn huy hoàng.

Bài trích sách ngôn sứ Ba-rúc.

3 9 Nghe đi nào, hỡi Ít-ra-en,

những mệnh lệnh tặng ban sự sống, hãy lắng tai hiểu lẽ khôn ngoan.

10 Vì đâu, Ít-ra-en hỡi, vì đâu

ngươi phải nương thân trên đất thù địch, phải mòn hao nơi xứ lạ quê người ?

11 Vì đâu ngươi bị nhiễm uế giữa đám thây ma,

phải nằm chung với những người ở trong âm phủ ? 12 Âu cũng vì ngươi đã bỏ Nguồn Mạch Khôn Ngoan. 13 Nếu ngươi cứ bước đi theo đường Đức Chúa,

hẳn muôn đời ngươi đã được an vui.

14 Hãy học cho biết đâu là khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là thông hiểu, đâu là trường thọ và sự sống,

đâu là ánh sáng soi con mắt, và đâu là bình an.

15 Nhưng ai tìm thấy nơi cự ngụ,

và vào được kho tàng của đức khôn ngoan ?

32 Chỉ mình Đấng Toàn Tri mới biết đức khôn ngoan, chỉ có trí tuệ Người mới thông suốt được.

Người đã thiết lập cõi đất cho bền vững muôn đời, đã cho thú vật tràn đầy mặt đất.

33 Người sai ánh sáng, ánh sáng liền đi ;

gọi ánh sáng lại, ánh sáng run rẩy vâng lời.

34 Các tinh tú, mỗi ngôi ở vị trí mình, tưng bừng chiếu sáng.

35 Người gọi chúng, chúng thưa : Có mặt,

và hân hoan chiếu sáng mừng Đấng tạo nên mình.

36 Chính Người là Thiên Chúa chúng ta, chẳng có ai sánh được như Người.

37 Mọi nẻo đường đưa tới hiểu biết, Người đều tinh thông, chính Người đã vạch ra cho Gia-cóp, tôi trung của Người, cho Ít-ra-en, kẻ Người yêu quý.

38 Rồi đức khôn ngoan xuất hiện trên mặt đất và đã sống giữa loài người.

4 1 Đức khôn ngoan

là huấn giới của Thiên Chúa ghi trong Sách Luật, Luật tồn tại cho đến muôn đời.

Ai gắn bó với Lề Luật thì sẽ được sống ; còn ai lìa bỏ ắt sẽ phải chết.

2 Hỡi Gia-cóp, hãy quay trở về đón nhận Lề Luật, hãy dõi theo ánh sáng của Lề Luật

mà tiến bước về chốn huy hoàng !

3 Vinh quang của ngươi, chớ nhường cho người khác, đặc ân của ngươi, đừng trao cho dân ngoại.

4 Hỡi Ít-ra-en, chúng ta có phúc dường nào,

vì được biết những gì làm đẹp lòng Thiên Chúa !

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 18B,8.9.10.11 (Đ. Ga 6,68c)

Đ. Lạy Chúa,

Chúa mới có những lời đem lại sự sống đời đời.

8 Luật pháp Chúa quả là hoàn thiện, bổ sức cho tâm hồn.

Thánh ý Chúa thật là vững chắc,

cho người dại nên khôn. Đ.

9 Huấn lệnh Chúa hoàn toàn ngay thẳng, làm hoan hỷ cõi lòng.

Mệnh lệnh Chúa xiết bao minh bạch,

cho đôi mắt rạng ngời. Đ.

10 Lòng kính sợ Chúa luôn trong trắng, tồn tại đến muôn đời.

Quyết định Chúa phù hợp chân lý,

hết thảy đều công minh. Đ.

11 Thật quý báu hơn vàng, hơn vàng y muôn lượng, ngọt ngào hơn mật ong,

hơn mật ong nguyên chất. Đ.

 

Bài đọc 7 : Ed 36,16-17a.18-28

Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi, và ban tặng các ngươi một quả tim mới.

Bài trích sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en.

16 Bấy giờ, có lời Đức Chúa phán với tôi rằng : 17a Hỡi con người, con cái nhà Ít-ra-en đang cư ngụ trên đất của chúng, đã làm cho đất ấy ra ô uế vì lối sống và các hành vi của chúng. 18 Ta đã trút xuống trên chúng cơn thịnh nộ của Ta vì máu chúng đã đổ ra trên đất ấy và làm cho đất ấy ra ô uế vì các việc ô uế của chúng. 19 Ta đã tung chúng đi các dân và gieo chúng vào các nước. Ta đã căn cứ vào lối sống và các hành vi của chúng mà xét xử. 20 Chúng đã làm cho danh Ta bị xúc phạm giữa các dân mà chúng đi đến, khiến người ta nói về chúng rằng : “Đó là dân của Đức Chúa, chúng đã phải ra khỏi xứ của Người.” 21 Nhưng Ta ái ngại cho thánh danh Ta đã bị nhà Ít-ra-en xúc phạm giữa các dân mà chúng đi đến. 22 Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Ít-ra-en : Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này : Hỡi nhà Ít-ra-en, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, mà vì danh thánh của Ta đã bị các ngươi xúc phạm giữa các dân các ngươi đã đi đến. 23 Ta sẽ biểu dương danh thánh thiện vĩ đại của Ta đã bị xúc phạm giữa chư dân, danh mà các ngươi đã xúc phạm ở giữa chúng. Bấy giờ chư dân sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa –sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng– khi Ta biểu dương sự thánh thiện của Ta nơi các ngươi ngay trước mắt chúng. 24 Bấy giờ, Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi lại từ khắp các nước, và sẽ dẫn các ngươi về đất của các ngươi. 25 Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. 26 Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. 27 Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành. 28 Các ngươi sẽ cư ngụ trong đất Ta đã ban cho tổ tiên các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 41,3.5bcd ; Tv 42,3.4 (Đ. Tv 41,2)

Đ. Như nai rừng mong mỏi tìm về suối nước trong, hồn con cũng trông mong được gần Ngài, lạy Chúa.

41 3 Linh hồn con khao khát Chúa Trời, là Chúa Trời hằng sống.

Bao giờ con được đến

vào bệ kiến Tôn Nhan ? Đ.

5bcd Tôi tiến về lều thánh cao sang đến tận nhà Thiên Chúa,

cùng muôn tiếng reo mừng tán tạ,

giữa sóng người trẩy hội tưng bừng. Đ.

42 3 Xin Ngài thương sai phái

ánh sáng và chân lý của Ngài, để soi đường dẫn lối con đi

về núi thánh, lên đền Ngài ngự. Đ.

4 Con sẽ bước tới bàn thờ Thiên Chúa,

tới gặp Thiên Chúa, nguồn vui của lòng con. Con gảy đàn dâng câu cảm tạ,

lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ. Đ.

 

Hoặc : Tv 50,12-13.14-15.18-19 (Đ. c.12a)

Đ. Lạy Chúa Trời,

xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng.

12 Lạy Chúa Trời,

xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.

13 Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh,

đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Đ.

14 Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con ;

15 đường lối Ngài, con sẽ dạy cho người tội lỗi,

ai lạc bước sẽ trở lại cùng Ngài. Đ.

18 Chúa chẳng ưa thích gì tế phẩm, con có thượng tiến lễ toàn thiêu, Ngài cũng không chấp nhận.

19 Lạy Thiên Chúa,

tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát, một tấm lòng tan nát giày vò,

Ngài sẽ chẳng khinh chê. Đ.

 

Thánh thư : Rm 6,3-11

Một khi Đức Ki-tô sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

3 Thưa anh em, anh em không biết rằng : Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Ki-tô Giê-su, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao ? 4 Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới.

5 Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại. 6 Chúng ta biết rằng : con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. 7 Quả thế, ai đã chết, thì thoát khỏi quyền của tội lỗi.

8 Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người : đó là niềm tin của chúng ta. 9 Thật vậy, chúng ta biết rằng : một khi Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. 10 Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. 11 Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 117,1-2.16ab và 17.22-23

Đ. Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.

1 Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ,

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

2 Ít-ra-en hãy nói lên rằng :

muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. Đ.

16ab Tay hữu Chúa đã ra oai thần lực, tay hữu Chúa giơ cao.

17 Tôi không phải chết, nhưng tôi sẽ sống,

để loan báo những công việc Chúa làm. Đ.

22 Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường.

23 Đó chính là công trình của Chúa,

công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Đ.

 

Tin Mừng : Mt 28,1-10

Người đã trỗi dậy và đi Ga-li-lê trước các ông.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Chiều ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, đi viếng mộ. 2 Thình lình, đất rung chuyển dữ dội : thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên ; 3 diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. 4 Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. 5 Thiên thần lên tiếng bảo các phụ nữ : “Này các bà, các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. 6 Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, 7 rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này : Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay.” 8 Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay.

9 Bỗng Đức Giê-su đón gặp các bà và nói : “Chào chị em !” Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. 10 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với các bà : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

* Trong Đêm Canh Thức Vượt Qua này, Giáo Hội tặng ban cho chúng ta lương thực dồi dào : Thánh Kinh và Thánh Thể. Một loạt các bài đọc quan trọng. Khởi đầu từ câu chuyện sáng tạo cho đến sấm ngôn huy hoàng của ngôn sứ Ê-dê-ki-en, làm hài hoà Đêm Canh Thức Vượt Qua long trọng này. Thánh Thư là một đoạn trích thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma nói về phép rửa, là tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Ki-tô. Tin Mừng kể lại câu chuyện Phục Sinh của Đức Giê-su theo thánh Mát-thêu.

* Nếu ta so sánh câu chuyện này với các Tin Mừng khác, ta thấy câu chuyện này khá đặc biệt. Trước hết, thánh Mát-thêu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của mầu nhiệm Phục Sinh khi sử dụng kiểu nói khiến chúng ta nghĩ đến một cuộc thần hiện, một sự tỏ mình ra của Thiên Chúa. Ngài tường thuật cái chết của Đức Ki-tô với cùng một cung điệu. Ngài không chỉ nói đến việc bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai, từ trên xuống dưới, mà còn đề cập đến việc đất rung đá vỡ, mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy (Mt 27,51-52). Khi kể lại những sự việc xoay quanh mầu nhiệm Phục Sinh, thánh Mát-thêu nói : “Thình lình, đất rung chuyển dữ dội, thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên, diện mạo người như ánh chớp và y phục trắng như tuyết.” Như thế, thánh Phao-lô diễn tả tầm quan trọng phi thường của mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giê-su, đánh dấu bước đầu của việc tạo dựng mới. Đàng khác, chúng ta có thể ghi nhận rằng tác giả Tin Mừng không chỉ cho ta thấy Đức Giê-su ra khỏi mộ. Nhiều hoạ sĩ trình bày sự Phục Sinh như sau : Đức Giê-su khải hoàn ra khỏi mồ trong lúc các lính canh kinh hãi không biết phản ứng thế nào. Trong thực tế, việc Chúa Phục Sinh vẫn là một mầu nhiệm không thể phân tích theo khoa học được. Đó là một biến cố phi thường, một cuộc vượt qua từ cuộc sống này đến một cuộc sống hoàn toàn khác. Thánh Mát-thêu tường thuật không chỉ thiên thần Chúa từ trời xuống chỉ cho thấy ngôi mộ trống : người lăn tảng đá ra và ngồi lên trên. Lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. Trái lại, các phụ nữ đến viếng mộ lúc đó nghe thiên thần trấn an khi nói với các bà : “Này các bà, các bà đừng sợ !” Lính canh sợ là đúng vì không tin vào mầu nhiệm Phục Sinh, chứ còn các bà đâu có lý do gì phải sợ. Các bà cảm thấy rất ấn tượng vì các bà chưa thấy như vậy bao giờ, và không hề thấy sợ hãi vì biến cố này khiến các bà rất hạnh phúc. Thiên thần bảo các bà : “Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy !” Đó là lời công bố đầu tiên Chúa đã sống lại. Người không còn ở trong mồ trống nữa, vì Người đã phục sinh. Thiên thần nói thêm : “Như Người đã nói.” Đức Giê-su đã báo trước sự Phục Sinh của Người khi dùng những kiểu nói các môn đệ không thể hiểu ngay được, nhưng nói rất rõ về biến cố này. “Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm.” Thiên thần mời các bà đến xác nhận sự vắng mặt của Đức Giê-su, Người không còn nằm trong mồ nữa. Người đã bước vào cuộc sống trên thiên quốc, Người đã được tôn vinh. Ngay sau đó, thiên thần giao cho các bà một sứ mạng : “Các bà hãy đi nói với các môn đệ Người như thế này : ‘Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và người đi Ga-li-lê trước các ông : ở đó, các ông sẽ được thấy Người !’ Đấy, tôi xin nói cho các bà hay.” Đức Giê-su đã báo cho các môn đệ rằng Người sẽ đi đến Ga-li-lê trước các ông. Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng. Biến cố này làm đảo lộn các bà nhưng đem lại cho các bà niềm vui to lớn vì Đức Giê-su đã vĩnh viễn chiến thắng sự dữ và cái chết, chạy về báo tin cho các môn đệ Đức Giê-su hay như thiên thần đã yêu cầu. Ngoài ra, thánh Mát-thêu kể rằng chính Đức Giê-su đến gặp các ông, lần hiện ra đầu tiên của Đấng Phục Sinh là dành cho các phụ nữ. Về điểm này, tất cả các Tin Mừng đều thống nhất với nhau. Các phụ nữ thánh thiện luôn quý mến Đức Giê-su, các bà đi theo giúp đỡ Người và ở kề cận bên Người cả lúc Người được mai táng trong mồ. Lòng quảng đại này còn được biểu lộ trong sự kiện hôm sau vào sáng ngày sa-bát, các bà đến viếng mộ, Đức Giê-su tưởng thưởng cho các bà bằng việc Người hiện ra đầu tiên cho các bà và chào các bà, mà trong tiếng Hy-lạp có nghĩa là “các bà hãy vui lên”. Quả thật, mầu nhiệm Phục Sinh là nguồn của mọi niềm vui và mọi niềm hy vọng, giúp ta vượt qua mọi thử thách gian truân. Lúc bấy giờ các bà tiến lại gần Đức Giê-su, ôm lấy chân, và bái lạy Người, bởi vì qua sự Phục Sinh, Người đã bày tỏ thần tính của Người … Lúc bấy giờ Đức Giê-su nói với các bà : “Chị em đừng sợ ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.” Đặc ân được nhìn thấy Chúa hiện ra lần đầu tiên không phải là một lời mời gọi các bà ở đó mà chiêm ngắm Đấng Phục Sinh, mà là dịp để thi hành một sứ vụ mà tất cả những ai đã thấy Người, phải đi loan báo cho người khác biết. “Hãy đi báo cho anh em Thầy.” Những lời này của Đức Giê-su là những lời chiến thắng, những lời loan báo một sứ vụ khác. Tại Ga-li-lê, Đức Giê-su sẽ giao cho các môn đệ sứ vụ dạy dỗ tất cả các dân tộc (x. Mt 28,19-20). Vì thế việc Phục Sinh của Đức Giê-su có một khía cạnh rất năng động. Đây không chỉ là một lời an ủi các môn đệ sau cơn thử thách đau thương, nhưng là lời công bố một sự thay đổi toàn thể thế giới. Từ nay về sau, Đức Giê-su Phục Sinh muốn thông ban thần tính của Người cho mọi loài thụ tạo, chiến thắng sự dữ trong tâm hồn con người và ban cho tất cả niềm vui to lớn vì được kết hợp với Thiên Chúa và hiệp thông với anh em mình.

Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô giải thích rằng sự Phục Sinh được thông ban cho chúng ta qua bí tích Thánh Tẩy : để có thể dự phần vào sự Phục Sinh, cần lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. Đức Giê-su nói với các Tông Đồ : “Vậy anh em hãy đi, và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Thánh Phao-lô cho ta thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa mầu nhiệm Phục Sinh và phép rửa Ki-tô giáo. Khi chịu phép rửa, trước hết chúng ta tham dự vào cái chết của Đức Ki-tô. Con đường đưa đến Phục Sinh phải qua cuộc Thương Khó và cái chết của Đức Ki-tô. Thánh Phao-lô nhắc cho các tín hữu Rô-ma nhớ : “Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người.” Vào thời các Tông Đồ, người lãnh nhận phép rửa được dìm mình trong nước hoàn toàn, xem như đã được mai táng trong nước. Sự kiện này tượng trưng cho việc tham dự vào cái chết của Đức Ki-tô rất cần thiết để có thể tham dự vào sự Phục Sinh của Người. Thánh Phao-lô quả quyết : “Vì được dìm vào trong cái chết của Đức Ki-tô, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới.” Đời sống Ki-tô hữu phải là một đời sống mới, tham dự vào sự Phục Sinh của Đức Ki-tô : Đời sống mới này hiểu ngầm là phải đoạn tuyệt hoàn toàn với tội lỗi nhờ việc Đức Giê-su bị đóng đinh trên thập giá, cội rễ của tội lỗi trong chúng ta bị huỷ diệt và chúng ta không còn làm nô lệ của nó nữa. Đời sống mới này là sự tham dự hoàn toàn và chiến thắng của Đức Ki-tô đối với tội lỗi và tử thần.

* Đức Giê-su đã chiến thắng nhờ tình yêu thôi thúc Người tận hiến trọn vẹn, hy sinh đến cùng. Người đã chiến thắng tất cả mọi sức mạnh của ích kỷ, kiêu căng và bạo lực, và bây giờ Người có thể thông ban cho chúng ta sức mạnh tình yêu của Người, để giúp chúng ta cũng chiến thắng sự dữ. Thánh Phao-lô quả quyết : “Anh em cũng vậy, anh em hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Ki-tô Giê-su.” Chúng ta phải làm mới lại tâm hồn mình để có thể luôn đón nhận nhiều hơn một sự sống hoàn hảo, một sự sống tràn ngập tình yêu của Đức Ki-tô Phục Sinh. Đó là sứ điệp của lễ Phục Sinh. Chúng ta phải hân hoan đón nhận với lòng biết ơn vô tận, hành động tự hiến của Đức Ki-tô, chấp nhận mọi đau khổ và cái chết nhục nhã trên thập giá vì yêu thương và để cứu độ chúng ta.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, Chúa đã sống lại từ cõi chết, xin Chúa ban cho chúng con biết chết cho tội lỗi của chúng con và sống một đời sống mới với Chúa.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, mỗi khi đến nhà thờ tham dự thánh lễ Chúa nhật, chúng ta có nhớ đây là lúc chúng ta tập họp nhau để mừng Chúa Phục Sinh không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

Phục Sinh ở trung tâm các Tin Mừng (Marc Sevin)

Các biến cố Phục Sinh đã khiến các môn đệ ngạc nhiên.

Các trình thuật Tin Mừng và Công vụ Tông Đồ đã chứng tỏ cần phải có thời gian và sự can thiệp của Thiên Chúa để thực hiện những gì đã xảy ra. Sự Phục Sinh của Đức Giê-su không đơn thuần là chuyện trở lại đời sống của một người chết, nhưng là sự bắt đầu của thế giới mới của Thiên Chúa, đã thoáng thấy và được chờ đợi nơi truyền thống con cái Ít-ra-en. Đức Giê-su, Đấng Phục Sinh, giờ đây đang sống một cuộc sống hoàn toàn mới bên Đức Chúa Cha. “Trưởng Tử từ trong kẻ chết”, Thiên Chúa đã tôn Người lên làm Chúa. Nói cách khác, sự Phục Sinh của Đức Giê-su đã đảo lộn tất cả. Đó là khởi đầu của một thời đại mới chưa từng có, liên hệ tới hết mọi người. Có cái gì đó đã thay đổi trong thế giới của chúng ta. Làm sao quên được, dù chỉ trong giây lát, cái dữ kiện bất ngờ của đức tin ấy ?

Nếu các môn đệ của Đấng Phục Sinh đã rèn giũa nên các Tin Mừng, chính là để làm chứng cho Tin Mừng chứ không hề có bận tâm đơn thuần tái tạo lịch sử các biến cố trước Phục Sinh. Họ soạn thảo các Tin Mừng để cho các độc giả hiểu rằng tất cả đời sống và hoạt động của Đức Giê-su Na-da-rét chuẩn bị cho lễ Phục Sinh, chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng Phục Sinh, hội tụ trong Phục Sinh. Họ kể lại bắt đầu từ đức tin của họ vào sự Phục Sinh. Họ không thể làm khác hơn. Tất cả những gì họ viết đều phải chịu sàng lọc qua đức tin Phục Sinh. Phục Sinh chính là điểm xuất phát của họ. Đó là chuẩn mực giúp họ giữ lại thời kỳ nào đó trong đời sống của Đức Giê-su, lời nói nào đó của Người.

Các Tin Mừng, từ chương đầu cho đến chương cuối, đều thấm đẫm đức tin vào sự Phục Sinh của Đức Giê-su.