THÁNH LỄ VỌNG

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Gr 1,4-10

Đáp ca : Tv 70,1-2.3-4a.5-6ab.15ab và 17 (Đ. c.6b)

Bài đọc 2 : 1 Pr 1,8-12

Tung hô Tin Mừng : x. Ga 1,7 ; Lc 1,17

Tin Mừng : Lc 1,5-17

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Gr 1,4-10 : Ơn gọi của ngôn sứ Giê-rê-mi-a

Đáp ca : Tv 70

Bài đọc 2 : 1 Pr 1,8-12

Bài Tin Mừng : Lc 1,5-17

THÁNH LỄ CHÍNH NGÀY

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 49,1-6

Đáp ca : Tv 138,1-3.13-14ab.14c-15 (Đ. c.14a)

Bài đọc 2 : Cv 13,22-26

Tung hô Tin Mừng : Lc 1,76

Tin Mừng Lc 1,57-66.80

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

 

THÁNH LỄ VỌNG

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Gr 1,4-10

Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi.

Bài trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a.

4 Thời vua Giô-si-gia-hu, có lời Đức Chúa phán với tôi rằng :
5 “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi ;
trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi,
Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.”
6 Nhưng tôi thưa : “Ôi ! Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng,
con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói !”
7 Đức Chúa phán với tôi : “Đừng nói ngươi còn trẻ !
Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi ;
Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói.
8 Đừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi”,
– sấm ngôn của Đức Chúa.
9 Rồi Đức Chúa giơ tay chạm vào miệng tôi và phán :
“Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi.
10 Coi, hôm nay Ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, để xây, để trồng.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 70,1-2.3-4a.5-6ab.15ab và 17 (Đ. c.6b)

Đ. Chúa đã kéo con ra khỏi lòng mẹ.

1 Con ẩn náu bên Ngài, lạy Chúa,
xin đừng để con phải tủi nhục bao giờ.
2 Vì Ngài công chính, xin cứu vớt và giải thoát con,
ghé tai nghe và thương cứu độ. Đ.

3 Xin Ngài nên như núi đá cho con trú ẩn,
như thành trì để cứu độ con,
núi đá và thành trì bảo vệ con, chính là Ngài.
4a Lạy Thiên Chúa,
xin giải thoát con khỏi bàn tay kẻ dữ. Đ.

5 Lạy Chúa, chính Ngài là Đấng con trông đợi,
lạy Thiên Chúa, chính Ngài là Đấng con tin tưởng ngay từ độ thanh xuân.
6ab Từ thuở sơ sinh, con nương tựa vào Ngài,
Ngài đã kéo con ra khỏi lòng mẹ. Đ.

15ab Miệng con công bố Ngài chính trực,
suốt ngày tường thuật ơn cứu độ Ngài ban.
17 Từ độ thanh xuân, lạy Thiên Chúa,
con đã được Ngài thương dạy dỗ.
Tới giờ này, con vẫn truyền rao vĩ nghiệp của Ngài. Đ.

 

Bài đọc 2 : 1 Pr 1,8-12

Các ngôn sứ đã nghiên cứu tìm hiểu ơn cứu độ.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phê-rô tông đồ.

8 Anh em thân mến, tuy không thấy Đức Giê-su Ki-tô, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang, 9 bởi đã nhận được thành quả của đức tin, là ơn cứu độ con người.

10 Các ngôn sứ đã nghiên cứu tìm hiểu ơn cứu độ này, và đã tuyên sấm về ân sủng dành cho anh em. 11 Thần Khí Đức Ki-tô ở nơi các ngài, đã báo trước những đau khổ dành cho Đức Ki-tô, và vinh quang đến sau những đau khổ đó, nên các ngài đã tìm hiểu xem Thần Khí muốn cho thấy việc đó xảy ra vào thời nào, trong hoàn cảnh nào. 12 Thiên Chúa đã mặc khải cho các ngài biết là các ngài có phận sự truyền đạt thông điệp ấy, không phải cho chính mình, mà là cho anh em. Đó là thông điệp mà nay các người giảng Tin Mừng đã loan báo cho anh em, nhờ tác động của Thánh Thần là Đấng đã được cử đến từ trời. Chính các thiên thần cũng ước mong được tìm hiểu kỹ lưỡng thông điệp ấy.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : x. Ga 1,7 ; Lc 1,17

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Ông Gio-an đến làm chứng cho Ánh Sáng, để chuẩn bị lòng dân sẵn sàng đón Chúa. Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Lc 1,5-17

Vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gio-an.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

5 Thời vua Hê-rô-đê cai trị miền Giu-đê, có một vị tư tế thuộc nhóm A-vi-gia, tên là Da-ca-ri-a ; vợ ông tên là Ê-li-sa-bét cũng thuộc dòng tộc tư tế A-ha-ron. 6 Hai ông bà đều là người công chính trước mặt Thiên Chúa, sống đúng theo mọi điều răn và mệnh lệnh của Chúa, không ai chê trách được điều gì.

7 Nhưng họ lại không có con, vì bà Ê-li-sa-bét là người hiếm hoi, và cả hai đều đã cao niên.

8 Vậy một ngày kia ông Da-ca-ri-a đang lo việc tế tự trước nhan Thiên Chúa khi đến phiên của nhóm ông. 9 Theo tục lệ của hàng tư tế, ông đã trúng thăm được vào dâng hương trong Đền Thờ của Đức Chúa. 10 Trong giờ dâng hương đó, toàn thể dân chúng cầu nguyện ở bên ngoài.

11 Bấy giờ một sứ thần của Chúa hiện ra với ông, đứng bên phải hương án. 12 Thấy vậy, ông Da-ca-ri-a bối rối, và phát sợ. 13 Nhưng sứ thần bảo ông : “Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhậm lời ông cầu xin : bà Ê-li-sa-bét vợ ông sẽ sinh cho ông một con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gio-an. 14 Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan vì con trẻ chào đời. 15 Vì em sẽ nên cao cả trước mặt Chúa. Em sẽ không uống rượu và thức có men. Em sẽ được đầy Thánh Thần ngay khi còn trong lòng mẹ. 16 Em sẽ đưa nhiều con cái Ít-ra-en về với Đức Chúa là Thiên Chúa của họ. 17 Được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a, em sẽ đi trước mặt Chúa, để đưa tâm hồn cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Gr 1,4-10 : Ơn gọi của ngôn sứ Giê-rê-mi-a

1. Bài đọc 1 hôm nay là một đoạn văn quan trọng trong cuộc đời và sự nghiệp ngôn sứ của ông Giê-rê-mi-a. Đặc điểm ơn gọi của ông nổi bật hơn hẳn so với các trình thuật ơn gọi của các vị khác, kể cả ông I-sai-a. Ba điểm xuất hiện rõ nét và liên kết chặt chẽ với nhau :

a. Được chọn từ lúc còn là bào thai trong lòng mẹ.

b. Để thi hành một sứ mạng bao quát vượt ranh giới Ít-ra-en.

c. Đau khổ nội tâm và do ngoại cảnh sẽ chứng tỏ lòng trung thành của ông.

2. “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi ; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.”

Bốn động từ trong câu này đặt con người Giê-rê-mi-a, đời sống và hoạt động, dưới sự thông suốt của Thiên Chúa và hoàn toàn tuỳ thuộc vào Người ! Thiên Chúa nhào nặn nên con người ngay từ lòng mẹ như một tác phẩm do sự khôn ngoan và tình yêu của Người. Cho nên Người biết trước những kẻ Người làm ra ; nghĩa là chọn lựa và ấn định trước ơn gọi của con người. Điều này thể hiện một cách đặc biệt cho một số người phải đảm nhiệm một vai trò quan trọng hơn trong kế hoạch của Thiên Chúa đối với nhân loại. Thánh hoá không hẳn là biến đổi nội tâm cho bằng dành riêng cho công tác phục vụ trong kế hoạch của Thiên Chúa. Ở đây là làm ngôn sứ.

3. Ngôn sứ là người phát ngôn của Thiên Chúa. Một loạt các động từ sau đây cho ta thấy rõ vai trò của ngôn sứ Giê-rê-mi-a. “Hôm nay ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, để xây, để trồng”.

Và trên hết, ông là con người của Lời Chúa.

* Không một ngôn sứ nào công bố và sống Lời Chúa triệt để như ngôn sứ Giê-rê-mi-a, tính tình ông dịu dàng và nhạy cảm, vậy mà ông được gọi “để nhổ, để lật, để huỷ, để phá” (1,10). Thích yên hàn mà cứ phải đấu tranh để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gỗ với mình (15,10). Yêu quê hương, yêu đất nước, mà không được cầu nguyện cho đồng bào (14,11), cứ phải cổ vũ sự thần phục ngoại bang để rồi bị lên án là kẻ phản quốc (20,8 ; 38,4). Ông không thể tin ai, ngay cả những người thân thích của ông (12,6), không thể hội nhập với người khác, dù là trong tang chế hay trong lễ hội (16,5-9) ; ngay cả niềm vui của một tổ ấm riêng cũng không được hưởng (16,1-4). Tóm lại, ông phải sống như một kẻ cô độc nhất trên đời, luôn luôn phải ngồi riêng một mình. Đời ngôn sứ Giê-rê-mi-a đúng là một thảm kịch.

 

Đáp ca : Tv 70

Thánh vịnh 70 là lời than van hay khấn xin của một cụ già. Trước sự tấn công của kẻ thù trong lúc tuổi đã xế bóng, ông cầu xin Chúa giữ gìn và bảo vệ tính mạng mình như Chúa đã gìn giữ ông từ thuở sơ sinh : “Từ thuở sơ sinh, con nương tựa vào Ngài, Ngài đã kéo con ra khỏi lòng mẹ.” Chúa là Đấng ông tin tưởng ngay từ độ thanh xuân : “Lạy Thiên Chúa, chính Ngài là Đấng con tin tưởng ngay từ độ thanh xuân”, thì nay trong lúc tuổi già, ông hy vọng một lần nữa Chúa lại ra tay cứu giúp ông : “Lạy Chúa, xin đừng sa thải con lúc tuổi đà xế bóng !” Rồi ông chúc tụng Chúa và tiếp tục niềm cậy trông vào tình thương của Ngài. Thánh vịnh này dạy chúng ta biết phải làm gì khi gặp thử thách gian nan, khi nếm mùi khổ đau tủi nhục. Bí quyết là đặt trọn niềm tin tưởng, cậy trông, phó thác tất cả cuộc sống của ta cho sự quan phòng vô cùng kỳ diệu của Thiên Chúa.

 

Bài đọc 2 : 1 Pr 1,8-12

Trong bài đọc 2, thánh Phê-rô nói với các tín hữu về Đức Giê-su Ki-tô : “Tuy không thấy Đức Giê-su Ki-tô, anh em vẫn yêu mến, tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin.” Những lời trên dường như là tiếng dội lại những lời của Đức Giê-su Phục Sinh nói với ông Tô-ma : “Vì đã thấy nên anh mới tin. Phúc thay những người không thấy mà tin.” (Ga 20,29)

Tình trạng của chúng ta cũng vậy, đòi hỏi chúng ta tin mà không thấy. Tiếp đó thánh Phê-rô nhắc lại rằng Thiên Chúa đã sai các ngôn sứ trong Cựu Ước đến nghiên cứu tìm hiểu ơn cứu độ này, và đã tuyên sấm về các ân sủng dành cho các Ki-tô hữu, để công bố Giao ước mới, con tim mới và tinh thần mới, và để loan báo cuộc Thương Khó của Đức Giê-su, và vinh quang đến sau những đau khổ đó để giúp chúng ta nhận được ân sủng, con tim mới và tinh thần mới.

* Thánh Phê-rô tuyên bố rằng các ngôn sứ của thời Cựu Ước đã loan báo trước những đau khổ của Đức Ki-tô và vinh quang là kết quả của đau khổ đó. Ngài quả quyết : “Thiên Chúa đã mặc khải cho các ngài biết là các ngài có phận sự truyền đạt thông điệp ấy, không phải cho chính mình mà là cho anh em.” Như thế, thánh Phê-rô thiết lập một mối liên hệ, đồng thời cũng là một sự khác biệt giữa các ngôn sứ của Cựu Ước và tình trạng hiện nay của các Ki-tô hữu. Thánh Gio-an Tẩy Giả là vị ngôn sứ cuối cùng của Cứu Ước, là cầu nối với Tân Ước. Ngài công bố Đấng được Thiên Chúa sai đến để hoàn thành việc cứu độ thế giới, đó là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

 

Bài Tin Mừng : Lc 1,5-17

Bài Tin Mừng kể về việc truyền tin cho ông Da-ca-ri-a cho ta thấy Chúa dùng những hoàn cảnh khó khăn, không thuận lợi, đau khổ, để cho thấy rõ tầm quan trọng sự can thiệp đặc biệt của Người. Ông Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét là người công chính trước mặt Thiên Chúa, tấm gương sáng về việc tuân giữ Lề Luật và thi hành việc tế tự. Tuy nhiên hai ông bà đang gặp một thử thách lớn là không có con và hai ông bà đều đã cao niên. Họ sống trong đau khổ và tủi nhục, và quan niệm thời xưa xem đó là một hình phạt. Trong thực tế, tình trạng đau khổ đó lại chuẩn bị cho sự can thiệp kỳ diệu của Thiên Chúa. Ông Da-ca-ri-a là một tư tế Do-thái. Trong lúc ông đang lo việc tế tự trước nhan Thiên Chúa khi đến phiên nhóm của ông, bỗng một sứ thần của Chúa hiện ra với ông, đứng bên phải hương án. Thấy vậy, ông Da-ca-ri-a bối rối và rất sợ hãi. Nhưng sứ thần bảo ông : “Này ông Da-ca-ri-a, đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nhận lời ông cầu xin : bà Ê-li-sa-bét vợ ông sẽ sinh cho ông một đứa con trai, và ông phải đặt tên cho con là Gio-an.” Gio-an có nghĩa là Chúa ban ơn. “Ông sẽ được vui mừng hớn hở, và nhiều người cũng được hỷ hoan ngày con trẻ chào đời.” Như vậy, việc chào đời của em mang lại niềm vui cho nhiều người, vì em bé này sẽ phải thực hiện một sứ mạng quan trọng. Sứ mạng được chuẩn bị bằng một đời sống khắc khổ lâu dài. “Rượu lạt rượu nồng, em sẽ đều không uống. Và ngay khi còn trong lòng mẹ, em đã đầy Thánh Thần.” Chúng ta biết sự kiện đó qua việc Đức Mẹ đi viếng bà Ê-li-sa-bét, và bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên (Lc 1,41).

Ông Gio-an Tẩy Giả nhận lãnh một sứ mạng liên tục với sứ mạng của các ngôn sứ thời Cựu Ước, đặc biệt là ngôn sứ Ê-li-a là một trong những ngôn sứ vĩ đại nhất. Ông không viết gì nhưng ảnh hưởng của ông quyết định số phận của dân Ít-ra-en.

Sứ thần nói tiếp : “Được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Ê-li-a, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa.” Trong lời sứ thần loan báo cho ông Da-ca-ri-a, Gio-an Tẩy Giả được trình bày như một vị đại ngôn sứ của Cựu Ước. Những nét tương đồng với ông Ê-li-a được làm cho nổi bật. Ông Gio-an Tẩy Giả cũng rao giảng mạnh mẽ như ông Ê-li-a xưa, cùng với một lòng can đảm phi thường, đối kháng với tiểu vương Hê-rô-đê, như ngày xưa ngôn sứ Ê-li-a can đảm đối đầu với vua A-kháp.

* Ơn gọi của ông Gio-an Tẩy Giả giống như ơn gọi của ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Do đó, bài đọc 1 kể lại câu chuyện ơn gọi của ngôn sứ. Chúa bảo ngôn sứ Giê-rê-mi-a : “Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi ; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân.” Thánh Gio-an Tẩy Giả giống như ngôn sứ Giê-rê-mi-a được Thiên Chúa biết trước khi thành hình trong dạ mẹ. Sự tượng thai và chào đời của ông đã được Thiên Chúa báo trước. Chúa đã thánh hoá ông Gio-an Tẩy Giả nhờ Thần Khí trước khi chào đời và trước khi được chọn làm ngôn sứ.

* Ngôn sứ phản ứng ngay vì nhút nhát và cả sợ hãi nữa khi Thiên Chúa gọi ông. Ông thưa với Chúa : “Ôi ! Lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói !” Lúc bấy giờ Chúa trấn an ông : “Đừng nói ngươi còn trẻ ! Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi ; Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói.” Để cho ngôn sứ Giê-rê-mi-a có đủ can đảm công bố lời sấm và đương đầu với những khó khăn và những kẻ thù nghịch, Chúa đưa tay ra, chạm vào miệng vị ngôn sứ và bảo ông : “Đây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi. Coi, hôm nay Ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, để xây, để trồng.” Nhiệm vụ được uỷ thác cho các ngôn sứ luôn là một nhiệm vụ tích cực. Nhiệm vụ của ông Gio-an Tẩy Giả càng tích cực hơn tất cả các ngôn sứ khác, đó là nhiệm vụ chuẩn bị dân chúng đón nhận Đấng Mê-si-a, Đức Giê-su ngự đến.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con luôn biết noi gương thánh Gio-an Tẩy Giả là Đấng tiền hô của Chúa, trong việc giúp cho những ai thành tâm thiện chí nhận biết Chúa là Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian qua đời sống yêu thương và phục vụ của chúng con.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta đã làm gì để loan báo Tin Mừng cứu độ cho những anh chị em chưa nhận biết Chúa ?

 

THÁNH LỄ CHÍNH NGÀY

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 49,1-6

Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

1 Hỡi các đảo, hãy nghe tôi đây,
hỡi các dân tộc miền xa xăm, hãy chú ý :
Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ,
lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi.
2 Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén,
giấu tôi dưới bàn tay của Người.
Người đã biến tôi thành mũi tên nhọn,
cất tôi trong ống tên của Người.
3 Người đã phán cùng tôi :
“Hỡi Ít-ra-en, ngươi là tôi trung của Ta.
Ta sẽ dùng ngươi để biểu lộ vinh quang.”
4 Phần tôi, tôi đã nói :
“Tôi vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì.”
Nhưng sự thật, đã có Đức Chúa minh xét cho tôi,
Người dành sẵn cho tôi phần thưởng.
5 Giờ đây Đức Chúa lại lên tiếng.
Người là Đấng nhào nặn ra tôi
từ khi tôi còn trong lòng mẹ
để tôi trở thành người tôi trung,
đem nhà Gia-cóp về cho Người,
và quy tụ dân Ít-ra-en chung quanh Người.
Thế nên tôi được Đức Chúa trân trọng,
và Thiên Chúa tôi thờ là sức mạnh của tôi.
6 Người phán : “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta
để tái lập các chi tộc Gia-cóp,
để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về,
thì vẫn còn quá ít.
Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân,
để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 138,1-3.13-14ab.14c-15 (Đ. c.14a)

Đ. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng.

1 Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,
2 biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,
3 đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,
mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả. Đ.

13 Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo,
dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.
14ab Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng,
công trình Ngài xiết bao kỳ diệu ! Đ.

14c Hồn con đây biết rõ mười mươi.
15 Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì,
khi con được thành hình trong nơi bí ẩn,
được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu. Đ.

 

Bài đọc 2 : Cv 13,22-26

Ông Gio-an đã rao giảng để dọn đường cho Đức Giê-su.

Bài trích sách Công vụ Tông Đồ.

22 Khi đến An-ti-ô-khi-a miền Pi-xi-đi-a, ông Phao-lô đứng giữa hội đường và nói : “Sau khi truất phế vua Sa-un, Thiên Chúa đã cho ông Đa-vít xuất hiện làm vua cai trị dân Ít-ra-en. Người đã làm chứng về ông rằng : Ta đã tìm được Đa-vít, con của Gie-sê, một người đẹp lòng Ta và sẽ thi hành mọi ý muốn của Ta. 23 Từ dòng dõi vua này, theo lời hứa, Thiên Chúa đã đưa đến cho Ít-ra-en một Đấng Cứu Độ là Đức Giê-su. 24 Để dọn đường cho Đức Giê-su, ông Gio-an đã rao giảng kêu gọi toàn dân Ít-ra-en chịu phép rửa tỏ lòng sám hối. 25 Khi sắp hoàn thành sứ mạng, ông Gio-an đã tuyên bố : ‘Tôi không phải là Đấng mà anh em tưởng đâu, nhưng kìa Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi dép cho Người.’

26 “Thưa anh em, là con cái thuộc dòng giống Áp-ra-ham, và thưa anh em đang hiện diện nơi đây, là những người kính sợ Thiên Chúa, lời cứu độ này được gửi tới chúng ta.”

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : Lc 1,76

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.

Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao :

con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người. Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng Lc 1,57-66.80

Tên cháu là Gio-an.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

57 Tới ngày mãn nguyệt khai hoa, bà Ê-li-sa-bét sinh hạ một con trai. 58 Nghe biết Chúa đã rộng lòng thương xót bà như vậy, láng giềng và thân thích đều chia vui với bà.

59 Khi con trẻ được tám ngày, họ đến làm phép cắt bì, và tính lấy tên cha là Da-ca-ri-a mà đặt cho em. 60 Nhưng bà mẹ lên tiếng nói : “Không được ! Phải đặt tên cháu là Gio-an.” 61 Họ bảo bà : “Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả.” 62 Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em là gì. 63 Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết : “Tên cháu là Gio-an.” Ai nấy đều bỡ ngỡ. 64 Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa. 65 Láng giềng ai nấy đều kinh sợ. Và các sự việc ấy được đồn ra khắp miền núi Giu-đê. 66 Ai nghe cũng để tâm suy nghĩ và tự hỏi : “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây ?” Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em.

80 Cậu bé càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

* Hôm nay Giáo Hội mừng Sinh Nhật thánh Gio-an Tẩy Giả, vị tiền hô của Chúa. Lễ này có một tầm quan trọng đặc biệt vì thánh Gio-an Tẩy Giả là một người quy tụ tất cả Cựu Ước vào trong mình. Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc chú bé Gio-an Tẩy Giả chào đời và được đặt tên như thế nào, tên do chính Thiên Chúa chọn cho. Hai bài đọc 1 và 2 nói về ơn gọi của ông và lời ông loan báo về Đấng Cứu Thế.

* Việc ông Gio-an Tẩy Giả chào đời đem lại một niềm vui lớn. Sứ thần đã báo cho ông Da-ca-ri-a biết việc một đứa con trai được sinh ra sẽ đem lại niềm vui lớn cho tất cả mọi người (x. Lc 1,14). Bà Ê-li-sa-bét, vợ ông Da-ca-ri-a không còn trong độ tuổi sinh sản nữa, nhưng Chúa đã tỏ lòng thương xót bà và ban cho bà một đứa con trai mà ông bà hằng mong ước và tất cả mọi người thân thuộc đều chia sẻ nỗi vui mừng với ông bà.

Lúc quyết định phải đặt tên cho con trẻ, Tin Mừng cho thấy sự quan phòng của Chúa thật kỳ diệu, ban cho đứa trẻ một cái tên không ai ngờ. Bình thường thì mọi người đều hiểu rằng phải lấy tên của người cha là “Da-ca-ri-a” mà đặt cho đứa trẻ. Tuy nhiên, người mẹ không đồng ý, bà muốn đặt tên cho con trẻ là Gio-an, trong tiếng Do-thái có nghĩa là “Chúa ban ơn”, một tên tóm tất cả một chương trình của Chúa. Thế nhưng, láng giềng và thân thích đều phản đối việc đặt tên này. Họ bảo bà Ê-li-sa-bét : “Trong họ hàng của bà, chẳng ai có tên như vậy cả. Rồi họ làm hiệu hỏi người cha, xem ông muốn đặt tên cho em là gì ? Ông xin một tấm bảng nhỏ và viết : 'Tên cháu là Gio-an.'” Đây là một quyết định do Chúa linh hứng bởi vì bà Ê-li-sa-bét và ông Da-ca-ri-a không hề được báo trước. Hai ông bà đồng lòng chọn tên Gio-an đặt cho con trẻ, và cái tên ý nghĩa này báo cho mọi người biết thời kỳ đầy tràn ân sủng đã đến. Ai nấy đều bỡ ngỡ. Ngay lúc ấy, miệng lưỡi ông lại mở ra, ông nói được, và chúc tụng Thiên Chúa, vì trước đó ông bị Chúa phạt câm do không tin lời sứ thần nói. Lời chúc tụng Thiên Chúa của ông được ghi lại trong kinh Benedictus mà tất cả các linh mục và tu sĩ đều đọc trong giờ Kinh Sáng : “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa của Ít-ra-en”. Kinh này công bố và báo trước những việc lạ lùng và tốt đẹp Thiên Chúa sẽ thực hiện nơi đứa trẻ này. Những người hiện diện đều kinh sợ vì sự kiện này, và quả thật có bàn tay Chúa phù hộ em. Tất cả mọi người đều tự hỏi : “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây ?” Quả thật, ông Gio-an Tẩy Giả càng lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh, sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Ít-ra-en.

* Như vậy, chúng ta thấy có một sự thúc đầy thần linh khiến ông Gio-an sống như một ẩn sĩ trong sa mạc hoặc sống trong một cộng đoàn nhỏ bé. Chúng ta biết rằng vào thời điểm đó có một cộng đoàn ở Cum-ran gồm những người rút lui vào sa mạc để dọn đường cho Chúa đến. Có thể ông Gio-an đã tiếp xúc với cộng đoàn này, nhưng cho đến ngày nay, chúng ta cũng không thể xác nhận điều này. Như vậy, ông Gio-an đã được tiền định cho một sứ vụ quan trọng là dọn đường cho Chúa ngự đến. Khi Chúa muốn ban ơn, biểu lộ quyền năng của Người, Chúa đặc biệt quan tâm chuẩn bị tâm hồn cho những ai tin tưởng Người để họ có thể sẵn sàng đón tiếp Người. Nếu Thiên Chúa không chuẩn bị cho họ, thì họ không thể nhận lãnh được ân sủng.

* Sứ vụ của ông Gio-an Tẩy Giả là chuẩn bị cho dân chúng đón Đấng Mê-si-a ngự đến. Trong bài đọc 1, chúng ta nghe những lời sau đây về Người Tôi Tớ của Đức Chúa : “Đức Chúa đã gọi tôi từ khi tôi còn trong lòng mẹ, lúc tôi chưa chào đời, Người đã nhắc đến tên tôi.” Sứ vụ của Người Tôi Tớ được mô tả sau đó : “Người đã làm cho miệng lưỡi tôi nên như gươm sắc bén, giấu tôi dưới bàn tay của Người ; Người đã biến tôi thành mũi tên nhọn, cất tôi trong ống tên của Người.” Miệng lưỡi của ông Gio-an Tẩy Giả như một lưỡi gươm sắc bén vì ông rao giảng với một sự nhiệt tình hiếm có. Tin Mừng trình bày ông như một ngôn sứ đầy nhiệt huyết rao giảng phép rửa thống hối đối với những kẻ tội lỗi : “Ông đi khắp vùng ven sông Gio-đan, rao giảng, kêu gọi người ta chịu phép rửa, tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội" (Lc 3,3). Đám đông lũ lượt kéo đến xin ông Gio-an làm phép rửa ; ông nói với họ : “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy ?” (Lc 3,7) nhằm giúp họ ý thức hơn về thân phận tội lỗi của mình và chuẩn bị tâm hồn để đón nhận ơn Chúa. Ông không sợ ai hết, kể cả vua Hê-rô-đê khi dám khiển trách ông cướp vợ người anh em của mình. Ông Gio-an Tẩy Giả luôn khiêm tốn. Vì nhân cách đặc biệt của ông, nên nhiều người lầm tưởng ông là Đấng Mê-si-a. Ông quyết liệt phủ nhận điều đó : “Tôi không phải là Đấng Ki-tô.” Ông chỉ là tiếng người hô trong hoang địa : “Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Lc 3,4). Ông còn nói thêm : “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh mẽ hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người” (Lc 3,16). Ông loan báo việc Đức Giê-su ngự đến, Người là Đấng Mê-si-a duy nhất đích thực, Con Thiên Chúa làm người. Ông Gio-an nghiêng mình trước Đức Giê-su khi nói : “Tôi không đáng cởi quai dép cho Người.” Đó là một kiểu nói hết sức khiêm tốn biểu lộ sứ vụ cũng rất khiêm tốn của ông Gio-an Tẩy Giả. Ông không hề tìm cách thu hút sự chú ý vào mình, nhưng chỉ muốn làm người phát ngôn của Thiên Chúa, nói về ơn Chúa và về Đấng Thiên Chúa sai đến là Đấng Mê-si-a sắp ngự đến. Vào lúc kết thúc sứ vụ của mình, có lẽ ông Gio-an cảm thấy những lời kêu gọi của mình thật vô ích vì đã bị cầm tù. Tiểu vương Hê-rô-đê đã ra lệnh bắt ông và tống giam vào ngục vì ông dám công khai chỉ trích nhà vua. Ông Gio-an Tẩy Giả có thể nói, như Người Tôi Tớ của Đức Chúa : “Tôi vất vả luống công, phí sức mà chẳng được gì.” Ông đã có cảm tưởng sống một cuộc đời vô ích, thất bại. Nhưng Thần Khí đã nâng ông dậy và cho ông hiểu rằng qua sự sống Chúa ban cho ông, ông đã hoàn thành sứ vụ của mình một cách tốt đẹp nhất. Quả thật, nếu ông Gio-an không chết vì đức tin, thì danh thơm về sự thánh thiện của ông ngày nay sẽ kém phần sáng chói. Đức Chúa đã trả lời cho cảm giác tiêu cực của Người Tôi Tớ bằng những lời sau đây : “Nếu ngươi chỉ là tôi trung của Ta, để tái lập các chi tộc Gia-cóp, để dẫn đưa các người Ít-ra-en sống sót trở về, thì vẫn còn quá ít. Vì vậy, này Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất.” Những lời này trước hết được áp dụng cho Đức Giê-su, nhưng trong một nghĩa nào đó, cũng có thể được áp dụng cho ông Gio-an Tẩy Giả. Qua lời rao giảng, cách riêng là cái chết của ông, ông trở nên ánh sáng, không chỉ cho Ít-ra-en mà còn cho tất cả các Ki-tô hữu. Lễ Sinh Nhật của thánh Gio-an Tẩy Giả rất phổ biến trong nhiều miền khác nhau, nhắc cho chúng ta nhớ rằng ngài vẫn còn có một địa vị quan trọng trong đời sống của người Ki-tô hữu. Sứ vụ của ngài là chuẩn bị và loan báo vẫn luôn có tính thời sự. Nhờ ngài mà niềm tin của chúng ta vào Đức Giê-su sẽ trở nên sâu sắc hơn. Nhờ ngài, chúng ta được thúc đẩy thống hối để nhận được ân sủng của Chúa, với một niềm hy vọng mãnh liệt. Lễ Sinh Nhật thánh Gio-an Tẩy Giả được mừng kính cả khi trùng với ngày Chúa nhật Mùa Thường Niên, một việc hiếm có đối với lễ kính các vị thánh. Vì thế, chúng ta hãy vui mừng về thánh lễ này. Chúng ta hãy đón nhận tất cả mọi ân huệ Chúa ban qua thánh Gio-an Tẩy Giả, một con người có đức tin gương mẫu, rất can đảm trong việc rao giảng lời Chúa, một con người có lòng quảng đại đặc biệt đến nỗi đã dám hy sinh cả mạng sống của mình kết hợp với mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giê-su, mầu nhiệm này chiếu sáng mãi mãi thánh Gio-an Tẩy Giả của chúng ta.

Cầu nguyện

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con luôn noi gương thánh Gio-an Tẩy Giả trong cuộc sống chứng nhân thường ngày, để có thể trở nên những người dọn đường cho Chúa đến.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có sống khiêm tốn theo gương thánh Gio-an Tẩy Giả không ?