A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Đnl 8,2-3.14b-16a

Đáp ca: Tv 147,12-13.14-15.19-20 (Đ. c.12a)

Bài đọc 2 : 1 Cr 10,16-17

Tung hô Tin Mừng : Ga 6,51

Tin Mừng : Ga 6,51-58

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Đnl 8,2-3.14b-16a

Đáp ca : Tv 147

Bài đọc 2 : 1 Cr 10,16-17

Bài Tin Mừng : Ga 6,51-58

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Ngày nay cũng thế, khi thông hiệp với Đức Ki-tô trong đức tin, người Ki-tô hữu ở trong Người và nhận được sự sống đời đời

2. “Cao quý thay mầu nhiệm Đức Tin”

3. “Hai bàn tiệc”


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Đnl 8,2-3.14b-16a

Thiên Chúa đã ban cho anh em thức ăn mà anh em cũng như cha ông anh em chưa từng biết.

Bài trích sách Đệ nhị luật.

2 Khi ấy, ông Mô-sê nói với dân Ít-ra-en rằng : “Anh em phải nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc, để bắt anh em phải cùng cực ; như vậy Người thử thách anh em cho biết lòng dạ anh em, xem anh em có giữ các mệnh lệnh của Người hay không. 3 Người đã bắt anh em phải cùng cực, phải đói, rồi đã cho anh em ăn man-na là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết, ngõ hầu làm cho anh em nhận biết rằng người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng Đức Chúa phán ra.

14b “Anh em đừng quên Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Đấng đã đưa anh em ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. 15 Người đã dẫn anh em đi trong sa mạc mênh mông khủng khiếp, đầy rắn lửa và bọ cạp, trong miền đất khô cằn không giọt nước. Người đã khiến nước từ tảng đá cứng nhất chảy ra cho anh em uống. 16a Trong sa mạc, Người đã cho anh em ăn man-na, thức ăn mà cha ông anh em chưa từng biết.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca: Tv 147,12-13.14-15.19-20 (Đ. c.12a)

Đ. Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !

Hoặc:

Đ. Ha-lê-lui-a.

12 Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa !
Này Xi-on, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi !
13 Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc,
con cái trong thành, Người giáng phúc thi ân.Đ.

14 Cõi biên cương, Người thiết lập hoà bình,
và cho ngươi no đầy lúa mì tinh hảo.
15 Người tống đạt lệnh truyền xuống đất,
lời phán ra, hoả tốc chạy đi. Đ.

19 Chúa bày tỏ lời Người cho nhà Gia-cóp,
chiếu chỉ luật điều cho Ít-ra-en.
20 Chúa không đối xử với dân nào như vậy,
không cho họ biết những điều luật của Người. Đ.

 

Bài đọc 2 : 1 Cr 10,16-17

Chỉ có một tấm Bánh, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

16 Thưa anh em, khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Ki-tô ư ? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao ? 17 Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : Ga 6,51

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.” Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Ga 6,51-58

Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

51 Khi ấy, Đức Giê-su nói với người Do-thái rằng : “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.”

52 Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói : “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?” 53 Đức Giê-su nói với họ : “Thật, tôi bảo thật các ông : Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. 54 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, 55 vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. 56 Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. 57 Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn tôi, cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. 58 Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Đnl 8,2-3.14b-16a

1. Khi Chúa nói với dân Ít-ra-en qua trung gian của ông Mô-sê : “Anh em hãy nhớ lại”, “anh em đừng quên” là Chúa mời gọi họ trở về cội nguồn và đừng quên Giao ước đã ký kết trên núi Xi-nai. Quả thật, khi nhắc lại cho dân kinh nghiệm sống Giao ước, ông gợi lên những biến cố rất cụ thể. “Anh em phải nhớ lại tất cả con đường mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã dẫn anh em đi suốt bốn mươi năm nay trong sa mạc.” Chắc chắn ông Mô-sê nói về thời kỳ Xuất hành. Ông nhắc lại tất cả những thử thách dân phải trải qua trong sa mạc : cùng cực, phải đói trong sa mạc mênh mông và kinh khủng, xứ sở đầy rắn lửa và bò cạp, xứ sở khô cằn, không giọt nước. Ông cũng nhắc cho dân nhớ Chúa đã giúp họ vượt thắng những thử thách ra sao : “Người đã cho anh em ăn man-na, là của ăn anh em chưa từng biết và cha ông anh em cũng chưa từng biết. Chính Người đã giúp anh em vượt qua sa mạc. Chính Người đã khiến nước từ tảng đá cứng nhất chảy ra cho anh em uống.” Qua đó, ta biết tất cả các giai đoạn dân Ít-ra-en vượt qua sa mạc Xi-nai mà sách Xuất hành và Dân số đã kể lại. Đó là cái giá phải trả cho sự tự do.

2. Nhưng điều đáng quan tâm ở đây là ông Mô-sê trình bày những thử thách dân Ít-ra-en phải trải qua trong sa mạc là thời gian tinh luyện Chúa đòi hỏi : Những thử thách đủ loại cho ta thấy sự nghèo khổ của dân và việc Chúa luôn quan tâm giúp đỡ dân Người. Nếu không có sự can thiệp của Thiên Chúa, dân Ít-ra-en sẽ chết đói, chết khát giữa sa mạc, hoặc sẽ chết do rắn độc và bọ cạp cắn. Nhưng Thiên Chúa luôn hiện diện và đồng hành với dân và luôn can thiệp đúng lúc để giúp dân vượt qua mọi khó khăn : đó là đường lối sư phạm của Thiên Chúa. “Suy nghĩ lại, anh em phải nhận biết rằng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em giáo dục anh em như một người giáo dục con mình” (Đnl 8,5). Tất cả đường lối sư phạm này nhằm một mục đích duy nhất là giúp cho dân Ít-ra-en đừng quên rằng chính Đức Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập.

Chúng ta biết rằng sách Đệ nhị luật viết rất lâu sau khi ông Mô-sê qua đời, vào thời điểm đó, dân Ít-ra-en đã định cư tại Ca-na-an. Điều đáng sợ là họ có thể bị lạc giáo chứ không phải sợ đói khát, hoặc rắn hay bò cạp cắn, vì họ có thể thờ các vị Thần của Ca-na-an. Vắc-xin duy nhất chống lại việc thờ bụt thần này đó là trung thành tuân giữ Giao ước, nghĩa là tuân giữ các điều răn.

 

Đáp ca : Tv 147

Thánh vịnh 147 là thánh vịnh nói về việc phục hưng Giê-ru-sa-lem : “Giê-ru-sa-lem hỡi, nào tôn vinh Chúa ! Này Xi-on, hãy ca ngợi Thiên Chúa của ngươi !” Câu thánh vịnh nói trên giúp ta xác định thời điểm thánh vịnh này được sáng tác, đó là lúc dân Ít-ra-en trở về quê cha đất tổ sau năm mươi năm lưu đày tại Ba-by-lon vào cuối thế kỷ VI trước Công nguyên. Họ phải tái thiết lại thành phố và xây dựng lại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, mà nếu không có sự hỗ trợ của Thiên Chúa, thì họ không thể làm được. “Then cửa nhà ngươi, Chúa làm cho thêm chắc.”

Trong thánh vịnh trước, thánh vịnh 146, Thiên Chúa được gọi là “Đấng xây dựng lại Giê-ru-sa-lem, quy tụ dân Ít-ra-en tản lạc về” (Tv 146,2). Tuy nhiên, đây không phải thuần tuý là công việc của một kiến trúc sư mà Thiên Chúa thực hiện : cuộc trở về quê cha đất tổ thật sự là một cuộc trở về trong ân sủng. Thiên Chúa đã tha thứ cho dân Người. Sự tha thứ này là một sự tái tạo thật sự dân Ít-ra-en. Thưa anh chị em, hoà bình là từ ngữ mà con người ở bất cứ thời đại nào cũng đều muốn được nghe, nhất là thời đại ngày nay. Đó là ý nghĩa của các câu thánh vịnh chúng ta vừa nghe : “Cõi biên cương, Người thiết lập hoà bình, và cho ngươi no đầy lúa mì tinh hảo. Người tống đạt lệnh truyền xuống đất, lời phán ra, hoả tốc chạy đi.” Đó là Thần Khí của Người, lời tha thứ của Người. Trong thời lưu đày ở Ba-by-lon, dân Ít-ra-en đã ăn bánh nước mắt, bánh đắng cay, bánh khổ nhục, còn khi trở về quê cha đất tổ, họ có được mùa gặt bội thu lúa mì tinh hảo : “Ai gieo trong nước mắt, sẽ gặt giữa vui mừng” (Tv 125).

 

Bài đọc 2 : 1 Cr 10,16-17

1. Bài đọc 2 chúng ta vừa nghe nằm giữa hai lời khuyên của thánh Phao-lô cũng trong chương 10 của thư thứ nhất Cô-rin-tô, ngài khuyên các tín hữu Cô-rin-tô không thoả hiệp với việc thờ ngẫu tượng : “Anh em thân mến, anh em hãy xa lánh việc thờ ngẫu tượng”, và ở cuối chương 10 : “Hay là ta muốn làm cho Chúa phải ghen tuông ?” Hai câu trên đề cập đến cùng một vấn đề. Khi Kinh Thánh nói về sự ghen tuông của Thiên Chúa là luôn nhấn mạnh cần phải tránh xa việc thờ ngẫu tượng. Trong bài đọc 2 hôm nay, thánh Phao-lô nhắm đến một vấn đề rất cụ thể, rất rõ ràng. Ki-tô giáo không chấp nhận việc giết các con vật để làm của lễ tiến dâng Chúa, nhưng trong Do-thái giáo và nhiều tôn giáo khác có thói quen này : sau khi sát tế các con vật để tế lễ thì có một bữa tiệc trong chính nơi thờ tự, và khi ăn thịt con vật bị sát tế, họ tin rằng họ sẽ được hiệp thông với các vị Thần. Trong số các anh chị em tân tòng ở Cô-rin-tô, có một số người vẫn còn tham dự các nghi lễ này và tham dự bữa ăn sau nghi lễ nữa. Thánh Phao-lô nói rất rõ với những anh chị em đó, một là hiệp thông với Thiên Chúa Hằng Sống, hai là tìm một sự hiệp thông khác, vì không có chuyện vừa tham dự bàn tiệc của Chúa lại vừa tham dự nghi lễ thờ các Thần khác được. Một vấn đề khác khó hơn. Những phần thịt còn thừa lại của các con vật bị sát tế để dâng cho vị Thần trong các đền thờ được bày bán trong các tiệm bán thịt, người Ki-tô hữu có được phép mua để ăn mà không bị phạm tội thờ ngẫu tượng không ? Vấn đề này đã đầu độc thời kỳ sơ khai của Giáo Hội, và được đề cập nhiều trong sách Công vụ Tông Đồ (chương 15), trong thư của thánh Phao-lô gửi tín hữu Rô-ma (chương 14 và 15) và trong thư gửi các tín hữu Cô-rin-tô (1 Cr 8 và 10).

2. Đối với một số người thì chuyện đó không có vấn đề gì, vì ngẫu tượng đâu có hiện diện trong các miếng thịt còn dư thừa đó, cho nên người tín hữu có thể mua ngoài chợ và đem về nhà để ăn thịt đã dâng cúng cho các thần linh. Thánh Phao-lô thấy việc đó có thể làm gương mù gương xấu cho các Ki-tô hữu yếu đuối sa ngã, và cả những người ngoại giáo ngạc nhiên khi thấy phạm tội thờ ngẫu tượng. Lý luận của ngài luôn dựa trên cùng một nền tảng : bí tích Mình Máu Thánh Chúa làm cho chúng ta được hiệp thông với Thiên Chúa nơi Đức Giê-su Ki-tô. Nhờ đó ta hiểu rõ hơn tại sao thánh Phao-lô nhấn mạnh đến ý nghĩa của bữa tiệc Thánh Thể : “Khi ta nâng chén chúc tụng mà cảm tạ Thiên Chúa, há chẳng phải là dự phần vào máu Đức Ki-tô ư ? Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao ?” Từ thánh Phao-lô dùng (Koinônia trong tiếng Hy-lạp) chỉ một mối liên hệ mật thiết, thuộc về, một sự liên kết sâu xa.

Đức Ki-tô cũng nói về vấn đề này khi dùng từ “giao ước : “Chén này là Giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20 ; Mc 14,24 ; Mt 26,28). Giao ước theo nghĩa Kinh Thánh, là thuộc về nhau, một sự cam kết hỗ tương : công thức quan trọng của Giao ước : “Chúng sẽ là dân của Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng.”

Nơi Đức Giê-su, chính Thiên Chúa đã hoàn thành Giao ước với nhân loại, nhưng cũng nơi Đức Giê-su, chính nhân loại đón nhận kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa và tham gia vào kế hoạch này. Chính Đức Giê-su là Đấng duy trì cuộc đối thoại với Thiên Chúa mà không có bóng dáng ông A-đam, nghĩa là với toàn thể nhân loại. Đó là toàn bộ mầu nhiệm Đức Giê-su vừa là Thiên Chúa vừa là loài người : Nơi Người, Thiên Chúa bày tỏ tình yêu của Người, và cũng nơi Người, nhân loại đáp lại bằng việc tạ ơn. Nơi Người, Thiên Chúa nói, tự mặc khải (Người là Ngôi Lời, là Lời của Chúa Cha) ; cũng nơi Người, nhân loại đáp lại lời của Chúa ; nơi Người, Thiên Chúa tự hiến ; cũng nơi Người đón nhận ân huệ của Thiên Chúa. Anh chị em biết diễn tiến của toàn thể cuộc cử hành Phụng vụ và đó chính là nơi hoàn thành Giao ước.

Đó là khám phá quan trọng của dân Ít-ra-en : Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác nhưng lại rất gần gũi với chúng ta. Việc đó đạt tới đỉnh điểm trong bí tích Thánh Thể, đối với chúng ta luôn là mầu nhiệm của Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác, đồng thời lại cho ta tham dự vào sự thân mật của Người, vào sự sống thần linh của Người : không phải con người tiếp cận Thiên Chúa, nhưng chính Thiên Chúa trở nên thân cận với con người. Vì thế, bí tích Thánh Thể là bữa ăn hiệp thông như trong tất cả các tôn giáo khác, nhưng chính lễ tế đã thay đổi : lễ tế mà Thiên Chúa chờ đợi, không phải là sát tế một con vật, nhưng chính là cuộc sống của chúng ta, như thánh vịnh 39 đã nói : “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa : ‘Này con xin đến !’” (Tv 39,7). Đó là việc Đức Ki-tô đã làm. Cả cuộc đời của Người chỉ có một mục đích duy nhất là phục vụ anh em mình. Và khi chúng ta tham dự vào bữa tiệc hiệp thông của Thánh Thể, chúng ta liên kết đời sống của chúng ta với đời sống của Người mà dâng lên Chúa Cha. Sự việc còn đi xa hơn nữa. Thánh Phao-lô dám nói rằng chúng ta dự phần vào Thân Thể Đức Ki-tô : “Khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao ?” Nếu chúng ta thật sự nên một với Người, thì từ nay về sau chúng ta sống chính sự sống của Người.

Quả thật, khi ta tham dự vào bí tích Thánh Thể, không chỉ một mình chúng ta tham dự : Đức Giê-su đã nói rõ là Người ban sự sống cho muôn người, và khi Người ban Mình Người làm của ăn, cũng là ban cho số đông. Lúc bấy giờ chúng ta thấy lời sấm của ngôn sứ I-sai-a trở thành hiện thực : “Ngày ấy, trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc : tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon, thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế. Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ muôn dân, và tấm màn trùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần. Đức Chúa là Chúa Thượng sẽ lau khô dòng lệ trên khuôn mặt mọi người, và trên toàn cõi đất, Người sẽ xoá sạch nỗi ô nhục của dân Người. Đức Chúa phán như vậy. Ngày ấy, người ta sẽ nói : ‘Đây là Thiên Chúa chúng ta, chúng ta từng trông đợi Người, và đã được Người thương cứu độ. Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng đợi trông. Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ.’” (Is 25,6-9).

Cộng đoàn tham dự thánh lễ hiệp ý với chủ tế tuyên xưng “Đây là mầu nhiệm Đức Tin” như là một tiếng dội lại lời sấm xưa của ngôn sứ I-sai-a.

 

Bài Tin Mừng : Ga 6,51-58

1. Sau khi nghe bài diễn từ về Bánh Trường Sinh, Bánh Hằng Sống, nhiều môn đệ đã bỏ Đức Giê-su mà đi, không theo Người nữa, vì họ cho rằng lời của Đức Giê-su nói chướng tai quá, ai mà nghe cho nổi. Lúc bấy giờ Đức Giê-su mới hỏi Nhóm Mười Hai : “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao ?” Ông Si-môn Phê-rô liền đáp : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.” Đó là vấn đề nghịch lý của đức tin. Những lời nói trên của Đức Giê-su xét về phương diện nhân loại thì không thể hiểu được, tuy nhiên đó là những lời đem lại sự sống cho chúng ta, tất cả chúng ta phải đi theo con đường thánh Phê-rô đã chọn : sống bằng những lời trên, để những lời trên dưỡng nuôi và thâm nhập chúng ta mà không cần được giải thích. Đó là một bài học quan trọng : chúng ta không tìm những lời giải thích về bí tích Thánh Thể trong các sách vở, nhưng càng sốt sắng tham dự bí tích này, chúng ta được Ðức Ki-tô thu hút chúng ta bước vào mầu nhiệm Sự Sống. Từ ngữ được lặp đi lặp lại rất thường trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, đó là sự sống : “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống.” Thư gửi tín hữu Híp-ri nói rõ điều đó : “Khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói : ‘Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài’”, và ý của Thiên Chúa là thế gian được sống. Một sự sống là quà tặng : “Bánh tôi sẽ ban tặng.” Tất cả là quà tặng. Ngôn sứ I-sai-a đã công bố : “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây ! Dẫu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng, đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào. Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng ? Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị. Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống. Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, để trọn bề nhân nghĩa với Đa-vít” (Is 55,1-3).

Cái làm cho chúng ta được sống, đó là ân huệ của Đức Ki-tô mà chúng ta gọi là sự hiến tế của Người. Nhưng chúng ta đừng hiểu lầm về ý nghĩa của từ “hiến tế”. Trong Kinh Thánh, nghĩa của từ này thay đổi theo từng giai đoạn : theo phương pháp sư phạm của Thiên Chúa. Lúc khởi đầu lịch sử Kinh Thánh, dân Ít-ra-en thực hành giống như các dân tộc khác, những hiến tế đổ máu, con người và thú vật. Nhưng sau đó, chặng thứ nhất trong đường lối sư phạm của Thiên Chúa là cấm sát tế con người và ngay từ khi Thiên Chúa gặp gỡ dân Ít-ra-en. Chính với ông Áp-ra-ham mà Thiên Chúa đã ra lệnh cấm này : “Đừng giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó !” (St 22,12). Kể từ ông Áp-ra-ham, lệnh cấm này luôn có hiệu lực. Mỗi khi ai vi phạm, các ngôn sứ đều nhắc nhở rằng việc sát tế con người là một việc làm ghê tởm trước mặt Thiên Chúa. Kể từ thời ông Áp-ra-ham, Kinh Thánh mở ra một chân trời mới (với lễ tế của thượng tế Men-ki-xê-đê) như là một lễ tế kiểu mẫu để dâng lên Thiên Chúa Tối Cao là bánh và rượu (St 14).

Chặng thứ hai, chính ông Mô-sê giúp dân Ít-ra-en tuân giữ mệnh lệnh này của Chúa. Khi tuân giữ những nghi thức tổ tiên để lại, là sát tế các con vật, nhưng ông đem lại cho việc đó một ý nghĩa mới. Từ nay về sau, điều đáng quan tâm là giao ước với Thiên Chúa là Đấng giải thoát. Rồi đến lời giảng dạy của các ngôn sứ : đối với Người, điều quan trọng hơn cả lễ tế, đó là tấm lòng của người dâng của lễ, một tấm lòng biết yêu mến tha nhân, chứ không phải là của lễ đẫm máu tế vật, như ngôn sứ I-sai-a nói : “Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn, các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe, vì tay các ngươi đầy những máu.” Khi dâng của lễ, người ta đưa hai tay vấy máu vật sát tế lên, nhưng máu này chỉ làm Thiên Chúa nhớ đến máu người vô tội. Và ngôn sứ Hô-sê nói một câu mà chính Đức Giê-su đã nhắc lại : “Vì Ta muốn tình yêu chứ không cần hy lễ” (Hs 6,6). Ngôn sứ Mi-kha tóm tắt cách tuyệt vời bài học này : “Hỡi người, bạn đã được nói cho hay : điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn : đó chính là thực thi công bằng, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn” (Mk 6,8).

Chặng cuối cùng của phương pháp sư phạm này, là các bài ca nổi tiếng về “Người Tôi Tớ” của ngôn sứ I-sai-a đệ nhị. Qua bốn bài ca đó, ta biết của lễ thật sự mà Thiên Chúa chờ đợi nơi chúng ta. Đó là hiệp thông với Thiên Chúa sự sống chứ không phải là giết chóc ; đó là sống, là giúp cho người anh em của chúng ta được sống khi trở thành người phục vụ họ.

Tân Ước thường trình bày Đức Giê-su như là Tôi Trung mà ngôn sứ I-sai-a đã công bố. Người đã cho đi tất cả cuộc sống của mình khi bước vào trần gian như thư Híp-ri đã nói. Tất cả cuộc đời của Người là của lễ hoàn hảo mà Kinh Thánh đã cố gắng phác hoạ cho nhân loại : “Bánh tôi sẽ ban tặng, chính là Thịt tôi để cho thế gian được sống.” Từ nay về sau, trong sự sống được Đức Giê-su trao ban, chúng ta đón nhận chính sự sống của Thiên Chúa : “Cũng như Chúa Cha là Đấng Hằng Sống đã sai Thầy, và cũng như Thầy sống nhờ Chúa Cha, thì người ăn Thầy cũng sẽ sống nhờ Thầy như vậy.” Điều quan trọng nhất đối với chúng ta hiện giờ là đón nhận sự sống mà Thiên Chúa trao ban.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết siêng năng tham dự thánh lễ và sốt sắng rước Chúa với lòng tin cậy mến.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có tham dự thánh lễ đúng như Giáo Hội dạy không : tích cực, sống động và hiệu quả ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Ngày nay cũng thế, khi thông hiệp với Đức Ki-tô trong đức tin, người Ki-tô hữu ở trong Người và nhận được sự sống đời đời

(A. March, “Dossier Biblique”, số 41, tr. 13-14).

Khi giảng tại Ca-phác-na-um, Chúa Giê-su đã không thể nói rõ cách trực tiếp về Thánh Thể, điều người ta không thể hiểu nỗi trước Bữa Tiệc Ly, trước cái chết và sự sống lại của Người. Cụm từ “bánh sự sống” trước hết là một cách nói về Đức Giê-su như Đấng mặc khải từ trời đến và lời Người là của ăn và của uống : “Hãy đến mà ăn bánh của Ta, và uống rượu do Ta pha chế ! ” (Cn 9,5). Tất cả bài giảng trước hết gợi lên lòng tin vào Đức Giê-su, Đấng mặc khải, nhưng việc thực hiện Thánh Thể cũng lộ ra trong thuật ngữ Ki-tô giáo : “ăn, uống, có sự sống”. Tuy nhiên phần cuối thì trực tiếp chỉ về “Thánh Thể”, chúng ta hãy quan sát.

Thật vậy, từ câu 51, Đức Giê-su gợi lên cái chết của Người như là nguồn sự sống : bánh mà tôi sẽ ban cho, chính là thịt tôi để cho thế gian được sống. Từ “thịt” làm nhớ đến lời mở đầu : Ngôi Lời đã trở nên người phàm (1,14). Chính việc nhập thể (Incarnation) được diễn tả ở đây, trong giai đoạn kết thúc : cái chết của Đức Giê-su, Ngôi Lời trở nên thịt (xác phàm), thịt làm thành của ăn. Giữa việc nhập thể, cái chết và Thánh Thể có một sự liên tục. Ngày nay Đức Giê-su vắng mặt trong thân thể Người, sự mặc khải của Người vẫn còn đó và Thánh Thể là trọng tâm mà loài người được mời gọi, cùng với cơ may cũng như rủi ro bị từ chối như vào thời Đức Giê-su vậy : Lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi ! (6,60).

Ở câu 53-56, thay vì động từ “ĂN”, thánh Gio-an dùng một từ rất mạnh : “nhai, cắn”. Có lẽ là để nhấn mạnh đến tính hiện thực của Thánh Thể. Thật vậy, một số Ki-tô hữu, những người thuộc phái ngộ đạo, từ chối sự trung gian thể chất của các bí tích để kết hiệp với Đức Giê-su, cũng như họ từ chối không tin sự hiện hữu của nhân loại tính trong Đức Giê-su, đến trong xác thịt (1 Ga 4,2). Nhưng vì thế, để sự trung gian của bánh không phải là ma thuật : “Thần Khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì” (Ga 6,63). Thánh Thể, Mình Máu thông ban cho tín hữu ơn mà những người đồng thời với Đức Giê-su tìm kiếm : sự sống vĩnh cửu từ bây giờ và mãi mãi, ở với Đức Giê-su. Hôm nay cũng vậy, người Ki-tô hữu thông hiệp với Đức Giê-su trong đức tin, ở với Người và có sự sống đời đời.

 

2. “Cao quý thay mầu nhiệm Đức Tin”

(Mgr. L. Daloz trong “Chúng ta đã thấy vinh quang Người”, Desclée de Brouwer, tr. 87-88).

Đức Ki-tô phải mời gọi chúng ta đặt mình vào đỉnh cao của đức tin để mặc khải cho chúng ta về mầu nhiệm Đức Tin. Chúa nhắc lại lời khẳng định đã đưa đến những lời “xì xầm” : “Ta là bánh ban sự sống.” Người bác lại lời bắt bẻ về man-na mà người ta nại ra để chống lại Người : “Trong sa mạc, cha ông các người đã ăn man-na và đã chết, cho nên chưa phải là thứ bánh ban sự sống. Trái lại, ai ăn bánh bởi trời sẽ không hề chết bao giờ : ai tin và ăn bánh này sẽ sống muôn đời.” Và đây là lời tuyên bố gây vấp phạm … “Bánh mà tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống …”

Tuy nhiên trước sự chống đối, Chúa Giê-su chẳng những không dịu giọng mà trái lại còn nhấn mạnh bằng bốn câu rất rõ ràng và thực tế : “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người … ai ăn thịt và uống máu tôi … thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống… Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy …”. Không có lối thoát nào cả, không có cách nào khác để có sự sống, có sự phục sinh để ở trong Người. Không thể rõ ràng hơn được nữa. Hòn đá, vật chướng ngại, chính là hòn đá gốc để các môn đệ được sống, hòn đá thử thách của sự thật về đức tin. Như thế, Thánh Thể cắm sâu vào trung tâm của hiện hữu Ki-tô giáo. Trong bóng tối của mầu nhiệm, những ai muốn có sự sống phải hướng về đó, vì đó là của ăn để sống : bánh bởi trời là như thế : rất khác với thứ bánh mà cha ông các ngươi đã ăn, họ đã chết, nhưng ai ăn bánh này sẽ sống đời đời. Không một lời diễn giảng, tác giả Tin Mừng kết thúc đơn sơ : Đó là những lời dạy của Đức Giê-su trong hội đường Ca-phác-na-um. Đó là cách bánh hằng sống và chén cứu độ được đặt vào tay chúng ta không một lời giải thích nào. “Cao cả thay mầu nhiệm Đức Tin.”

 

3. “Hai bàn tiệc”

(J. Perron, trong “Đọc Kinh Thánh”, số 52, tr. 139-140).

Nếu tách rời những câu trước với đoạn văn này, sẽ đi đến nguy hiểm là làm nghèo nàn đi, hơn nữa làm sai nghĩa về lời dạy về Thánh Thể của thánh Gio-an. Những gì nói về bí tích phải để mở ra một nhãn quan rộng hơn, nhiều hơn những gì nói trong bài thuyết giảng. Nếu Đức Giê-su là bánh ban sự sống trong Thánh Thể, là bởi trước hết Người là bánh cho những ai tiếp nhận lời Người và chứng của Người, và vì thế phần đầu chỉ nói đến người “tin vào”, phần hai nói đến người “tin-hiệp-thông”, nhưng hai phần, phần nào cũng không thể thiếu, bởi lẽ không thể nói đến “người hiệp thông” mà trước hết người ấy không phải là kẻ tin, nếu không có sự khẳng định ở câu 47 thì câu khẳng định 54 chẳng có nghĩa gì, hay là dẫn đến tình trạng làm cho Thánh Thể chỉ là một nghi lễ ma thuật. Thánh Tô-ma A-qui-nô nhắc nhở rằng mọi bí tích đều là “bí tích đức tin” (sacra menta fidei).

Cuối cùng nếu đức tin có thể bỏ qua bí tích (không nói đến rước lễ thiêng liêng hay rửa tội bằng lòng muốn), thì bí tích không thể có nếu không có đức tin. Đức tin là sự kết hợp đầu tiên với Đức Ki-tô, phải đi trước nghi lễ bí tích và hướng về đó (A. Feuillet).

Sự trình bày về Thánh Thể này cũng mời gọi chúng ta, như các cải tổ Công Đồng đã làm, tìm lại chỗ đứng của Phụng vụ Lời Chúa đi trước và chuẩn bị cho nghi lễ bẻ bánh trong các cử hành của chúng ta – cả hai phải kết hợp với nhau cách sâu xa như hai đoạn của bài giảng thuyết của thánh Gio-an. Các tác giả Ki-tô giáo xưa đã hiểu như thế khi họ nói đến “hai bàn tiệc” trong Giáo Hội : “Bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh Thể”.

Có lẽ vì thế mà sinh ra những hậu quả đáng giận của phong trào Cải cách : sự chia cắt mà người ta có thể diễn tả một cách hài hước : người Tin Lành thì ra khỏi cửa với cuốn Kinh Thánh trong túi và người Công Giáo đi ra mang theo Mình Thánh Chúa. Lời dí dỏm trên đây, nếu có thể nói lên một cái gì về thực tế của sự kiện, thì phải nói rằng cả hai cộng đồng, mỗi bên chỉ giữ cho mình một nửa mầu nhiệm Thánh Thể, một phần của bài giảng thuyết trên chủ đề “bánh ban sự sống”.