Thánh Lễ Vọng

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 Sb 15,3-4.15-16 ; 16,1-2

Đáp ca : Tv 131,6-7.9-10.13-14 (Đ. c.8)

Bài đọc 2 : 1 Cr 15,54b-57

Tin Mừng : Lc 11,27-28

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Thánh lễ Chính Ngày

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Kh 11,19a ; 12,1-6a.10ab

Đáp ca : Tv 44,10.11-12.16 (Đ. x. c.10b)

Bài đọc 2 : 1 Cr 15,20-27

Tin Mừng : Lc 1,39-56

B.CHIA SẺ LỜI CHÚA

Lịch sử hình thành

Bài đọc 1

Đáp ca : Tv 44

Bài đọc 2 : 1 Cr 15,20-27a

Bài Tin Mừng : Lc 1,39-56

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Đức Ma-ri-a, người tin đầu tiên, gương mẫu của Giáo Hội, Mẹ các người tin

2. “Đức Ma-ri-a, một phụ nữ tuyệt vời”

 

 

Thánh Lễ Vọng

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 Sb 15,3-4.15-16 ; 16,1-2

Người ta đưa Hòm Bia Thiên Chúa vào đặt giữa Lều vua Đa-vít đã dựng sẵn.

Bài trích sách Sử biên niên quyển thứ nhất.

15. 3 Ngày ấy, vua Đa-vít triệu tập toàn thể Ít-ra-en về Giê-ru-sa-lem để rước Hòm Bia của Đức Chúa lên chỗ vua đã dọn sẵn. 4 Vua cũng tập hợp con cháu ông A-ha-ron và các thầy Lê-vi. 15 Con cháu Lê-vi mang Hòm Bia Thiên Chúa đúng như ông Mô-sê đã truyền theo lệnh của Đức Chúa, là dùng đòn mà khiêng trên vai.

16 Vua Đa-vít truyền cho những người đứng đầu các thầy Lê-vi bố trí các ca viên, anh em của họ, để những người này dùng nhạc khí như đàn sắt, đàn cầm, não bạt mà tấu khúc hoan ca.

16. 1 Người ta đưa Hòm Bia Thiên Chúa vào đặt giữa Lều vua Đa-vít đã dựng sẵn. Rồi họ dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an trước nhan Thiên Chúa. 2 Khi đã hoàn tất việc dâng các lễ toàn thiêu và lễ kỳ an, vua Đa-vít nhân danh Đức Chúa chúc phúc cho dân.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 131,6-7.9-10.13-14 (Đ. c.8)

Đ. Lạy Chúa, xin đứng dậy,
để cùng với Hòm Bia oai linh Chúa ngự về chốn nghỉ ngơi.

6 Này đây khi ở Ép-ra-tha,
chúng tôi đã nghe nói đến hòm bia,
chúng tôi tìm thấy Hòm Bia đó tại cánh đồng Gia-a.
7 Nào ta tiến vào nơi Chúa ngự,
phủ phục trước bệ rồng. Đ.

9 Ước chi hàng tư tế của Ngài mặc lấy sự công chính,
kẻ hiếu trung với Ngài được cất tiếng hò reo.
10 Vì vua Đa-vít, trung thần của Chúa,
xin đừng xua đuổi đấng Chúa đã xức dầu phong vương. Đ.

13 Vì Đức Chúa đã chọn Xi-on,
đã thích lấy chốn này làm nơi Người ngự.
14 Người phán :
“Đây là chốn Ta nghỉ ngơi đến muôn đời,
Ta sẽ ngự nơi này, vì Ta ưa thích.” Đ.

 

Bài đọc 2 : 1 Cr 15,54b-57

Thiên Chúa đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giê-su Ki-tô.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

54b Thưa anh em, khi cái thân phải chết này mặc lấy sự bất tử, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây : Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng ! 55 Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi ? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi ? 56 Tử thần có độc là vì tội lỗi, mà tội lỗi có mạnh cũng tại có Lề Luật.

57 Nhưng tạ ơn Thiên Chúa, vì Người đã cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : Lc 11,28

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Lc 11,27-28

Phúc thay người mẹ đã cưu mang Thầy.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

27 Khi ấy, Đức Giê-su đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người : “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm !” 28 Nhưng Người đáp lại : “Đúng hơn phải nói rằng : Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

* Trong Thánh lễ Vọng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, cũng gọi là lễ Mông Triệu, Phụng vụ đề nghị cho chúng ta ba bản văn : bài đọc 1 nhắc lại việc rước Hòm Bia Giao Ước vào trong Lều vua Đa-vít đã dọn sẵn. Trong bài đọc 2, thánh Phao-lô khi viết cho các tín hữu Cô-rin-tô, nói về ngày mà thân xác chúng ta mặc lấy sự bất tử. Riêng bài Tin Mừng là hai lời tán dương Đức Mẹ : một lời do một người phụ nữ nói, còn một lời do Đức Giê-su nói.

Bài đọc 1 đưa ra một hình ảnh tượng trưng về việc hồn xác của Đức Mẹ được rước lên trời, vì kể lại cách mà Hòm Bia Giao Ước đã được rước vào trong Đền Thờ của Thiên Chúa. Nhân biến cố đặc biệt quan trọng này, vua Đa-vít triệu tập toàn thể Ít-ra-en. Biến cố này có thể gợi lên việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời vì Người là Hòm Bia Giao Ước đích thực, vào ngày Người được tôn vinh, đã được rước vào trong Đền Thờ của Thiên Chúa, vào sống thân mật với Thiên Chúa. Đoạn Kinh Thánh này mời gọi chúng ta hãy vui lên vì dân Chúa chọn xem đây là biến cố quan trọng nhất. Hòm Bia Giao Ước bị người Phi-li-tinh cướp mất sau một trận chiến và bị lưu lạc. Sau đó, được trả lại cho dân Ít-ra-en cùng lúc đó, Hòm Bia được toàn dân yêu mến và kính sợ vì tượng trưng cho sự hiện diện của Thiên Chúa. Vì lý do đó, vua Đa-vít không dám rước Hòm Bia Giao Ước vào ngay trong lều mà nhà vua đã dọn sẵn. Tuy nhiên, vì biết rằng Hòm Bia ban nhiều ơn lành cho những ai chăm sóc Hòm Bia, nên ông lấy hết can đảm tổ chức một cuộc rước vĩ đại. Nhiều nhạc khí như đàn sắt, đàn cầm, não bạt mà tấu khúc hoan ca. Và Hòm Bia được đặt ở giữa lều, rồi họ dâng lễ toàn thiêu và lễ kỳ an trước nhan Thiên Chúa. Cuối cùng, vua Đa-vít nhân danh Đức Chúa mà chúc phúc cho dân. Chúng ta cũng có lý do để vui mừng và còn vui mừng hơn nữa, vì Đức Ma-ri-a là Hòm Bia Giao Ước đích thực. Trong Hòm Bia Giao Ước có lưu giữ các bia đá ghi Lề Luật của Mô-sê biểu lộ ý muốn của Thiên Chúa luôn giữ giao ước với dân Người đã chọn và các điều kiện của giao ước này. Đức Ma-ri-a là Hòm Bia Giao Ước đích thực vì đã đón nhận Đấng tạo nên và tóm tắt nơi bản thân Người Giao ước là Đức Giê-su. Người đã thiết lập Giao ước mới khi dâng mình và máu Người ; Mình và Máu đã nhận được từ Đức Ma-ri-a. Do đó, Giáo Hội vui mừng gọi Đức Ma-ri-a là “Hòm Bia Giao Ước.”

* Vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Hòm Bia Giao Ước này được đem đến gần bên Thiên Chúa và Đức Giê-su trong vinh quang trên thiên quốc. Chúng ta tràn ngập niềm vui vì Thân Mẫu Đức Giê-su đã được tôn vinh, Người cũng là Thân Mẫu của chúng ta. Người hướng dẫn đời sống thiêng liêng của chúng ta đến cùng Đức Giê-su và giúp chúng ta lãnh nhận ân sủng Thiên Chúa một cách ít bất xứng hơn.

Bài Tin Mừng diễn tả mối liên hệ thể lý giữa Đức Giê-su và Mẹ Người. Một người phụ nữ lên tiếng giữa đám đông : “Phúc thay người Mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm !” Người phụ nữ này hết sức thán phục Đức Giê-su vì bà nghe nói : “Các vệ binh trả lời : ‘Xưa nay chưa hề có ai nói năng như người ấy’” (Ga 7,46). Họ bối rối về cách người nói. Người phụ nữ này tỏ ra thán phục Đức Giê-su khi nói về Mẹ Người. Thật là một đặc ân độc nhất khi được làm Mẹ Đức Giê-su, người mẹ mà qua đó Con Thiên Chúa có được một thân xác để đến trần gian sống một cuộc sống khiêm tốn và mặc khải cho chúng ta lòng nhân hậu và tình yêu của Chúa vĩ đại biết chừng nào, là tình yêu cứu độ. Đức Giê-su lấy lại trong một ý nghĩa nào đó, và sửa đổi lời quả quyết tương tự trong một mối phúc, Người nói : “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.” Chúng ta có thể ghi nhận rằng trong Tin Mừng, Đức Giê-su luôn tìm cách nâng cao tầm quan trọng của các cuộc trao đổi, từ một mối liên hệ thể lý đến một mối liên hệ thiêng liêng, mối liên hệ mở ra cho tất cả những ai đang lắng nghe Người vào lúc đó, Người muốn cho dân chúng hiểu rằng họ có một đặc ân quan trọng khi lắng nghe và tuân giữ lời của Thiên Chúa. Cùng lúc đó, Đức Giê-su nói lại một cách sâu xa hơn mối phúc thật của Đức Mẹ ; là người đã lắng nghe lời Chúa một cách nghiêm chỉnh nhất. Khi sứ thần báo cho Người biết về việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa, Người đã chăm chú lắng nghe lời Chúa, suy nghĩ và mở rộng cõi lòng để đón nhận. Việc lắng nghe và sự sẵn sàng tuân theo thánh ý Chúa khi người nói : “Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38). Chỉ lắng nghe lời Chúa thôi thì chưa đủ, mà còn phải toàn tâm toàn ý đón nhận vào trong cuộc sống của mình để sống theo lời Chúa dạy, nhờ đó hoàn thành công việc của Thiên Chúa. Đức Ma-ri-a hạnh phúc vì gắn bó mật thiết với kế hoạch của Chúa Cha, là yêu thương và muốn thay đổi cả thế giới. Vì luôn sẵn sàng vâng theo thánh ý mà Đức Ma-ri-a đã được Chúa cho lên trời cả hồn lẫn xác bên cạnh Thiên Chúa. Là mẹ của Đức Giê-su về phương diện thể lý, đó là một đặc ân ; nhưng là mẹ của Đức Giê-su về phương diện thiêng liêng còn là một đặc ân vô cùng cao quý, Đức Ma-ri-a hoàn toàn có phúc trong đặc ân Mông Triệu vì đã gắn bó trọn vẹn với lời của Thiên Chúa và cộng tác hết lòng với sứ vụ của Con mình.

Bài đọc 2 liên hệ đến việc Đức Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác một cách gián tiếp, nói về lúc thân xác hay bị hư hoại của chúng ta mặc lấy tính bất khả hư hoại của Thiên Chúa, nơi thân xác hay chết của chúng ta mặc lấy sự bất tử. Lúc bấy giờ cái chết bị chiến thắng nuốt chửng. Thánh Phao-lô quả quyết : “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi ? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi.” Trong lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, chúng ta công bố Thiên Chúa và Đức Giê-su chiến thắng tử thần. Thật ra, trong việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, cái chết đã bị đánh bại hoàn toàn. Sau khi chết, chúng ta sẽ được kết hợp với Đức Giê-su ; vì thế chúng ta sẽ chiến thắng tử thần theo một nghĩa nào đó. Chiến thắng của chúng ta chưa hoàn toàn vì thân xác chúng ta chưa tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh. Trái lại, Đức Ma-ri-a đã chiến thắng tử thần cách trọn vẹn : Người không thể kết hợp một cách thiêng liêng với Đức Ki-tô, nhưng thân xác của Người được chúc phúc nhờ sự phục sinh của Đức Ki-tô. Thân xác hay chết của Người mặc lấy sự bất tử. Như thế lời Kinh Thánh đã trở thành hiện thực. “Tử thần đã bị chiến thắng nuốt chửng”. Tất cả những điều đó làm cho tâm hồn chúng ta hân hoan. Chúng ta hạnh phúc vì Người Mẹ kính yêu của chúng ta đã chiến thắng tử thần nhờ kết hợp trọn vẹn với Con của Người. Cuộc chiến thắng này khiến chúng ta ngập tràn hy vọng, vì việc Đức Mẹ lên trời báo trước cuộc chiến thắng trọn vẹn tử thần của chúng ta. Để có thể hoàn toàn chiến thắng, chúng ta phải chờ đợi Chúa quang lâm, nhưng ngay bây giờ chúng ta hy vọng sẽ chiến thắng nhờ việc Đức Mẹ hồn xác lên trời.

Cầu nguyện :

Lạy Đức Mẹ Mông Triệu, xin luôn phù hộ và nâng đỡ chúng con trong cuộc lữ hành trần thế vốn nhiều gian nan thử thách, để luôn gắn bó mật thiết với Đức Giê-su, Con của Mẹ.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có noi gương Đức Mẹ trong việc vâng theo thánh ý Chúa không ?

 

Thánh lễ Chính Ngày

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Kh 11,19a ; 12,1-6a.10ab

Có một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng.

Bài trích sách Khải huyền của thánh Gio-an tông đồ.

11. 19a Tôi là Gio-an, tôi thấy Đền Thờ Thiên Chúa ở trên trời mở ra, và Hòm Bia Giao Ước xuất hiện trong Đền Thờ.

12. 1 Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời : một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. 2 Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con. 3 Lại có điềm khác xuất hiện trên trời : đó là một Con Mãng Xà, đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện. 4 Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Rồi Con Mãng Xà đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà. 5 Bà đã sinh được một người con, một người con trai, người con này sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân. Con bà được đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tận ngai của Người. 6a Còn người Phụ Nữ thì trốn vào sa mạc ; tại đó Thiên Chúa đã dọn sẵn cho bà một chỗ ở. 10ab Và tôi nghe có tiếng hô to trên trời :

“Thiên Chúa chúng ta thờ giờ đây ban ơn cứu độ,

giờ đây biểu dương uy lực với vương quyền,

và Đức Ki-tô của Người

giờ đây cũng biểu dương quyền bính.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 44,10.11-12.16 (Đ. x. c.10b)

Đ. Nữ hoàng bên hữu Thánh Vương, điểm trang lộng lẫy toàn vàng Ô-phia.

10 Hàng cung nữ, có những vì công chúa,
bên hữu ngài, hoàng hậu sánh vai,
trang điểm vàng Ô-phia lộng lẫy. Đ.

11 Tôn nương hỡi, xin hãy nghe nào,
đưa mắt nhìn và hãy lắng tai,
quên dân tộc, quên đi nhà thân phụ.
12 Sắc nước hương trời, Quân Vương sủng ái,
hãy vào phục lạy : “Người là Chúa của bà.” Đ.

16 Lòng hoan hỷ, đoàn người tiến bước,
vẻ tưng bừng, vào tận hoàng cung. Đ.

 

Bài đọc 2 : 1 Cr 15,20-27

Mở đường là Đức Ki-tô, rồi đến lượt những kẻ thuộc về Người.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

20 Thưa anh em, Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu. 21 Vì nếu tại một người mà nhân loại phải chết, thì cũng nhờ một người mà kẻ chết được sống lại. 22 Quả thế, như mọi người vì liên đới với A-đam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô, cũng được Thiên Chúa cho sống. 23 Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình : mở đường là Đức Ki-tô, rồi khi Đức Ki-tô quang lâm thì đến lượt những kẻ thuộc về Người. 24 Sau đó mọi sự đều hoàn tất, khi Người đã tiêu diệt hết mọi quản thần, mọi quyền thần và mọi dũng thần, rồi trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha.

25 Thật vậy, Đức Ki-tô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Người. 26 Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết, 27 vì Thiên Chúa đã đặt muôn loài dưới chân Đức Ki-tô.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.

Đức Ma-ri-a được rước lên trời,

muôn vàn thiên sứ hoan hỷ mừng vui. Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Lc 1,39-56

Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả. Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.

39 Hồi ấy, bà Ma-ri-a lên đường, vội vã đi đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giu-đa. 40 Bà vào nhà ông Da-ca-ri-a và chào bà Ê-li-sa-bét. 41 Bà Ê-li-sa-bét vừa nghe tiếng bà Ma-ri-a chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, và bà được đầy Thánh Thần. 42 Bà Ê-li-sa-bét kêu lớn tiếng và nói rằng : “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. 43 Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ? 44 Quả thật, này tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vì vui sướng. 45 Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

46 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói :

“Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa,

47 thần trí tôi hớn hở vui mừng

vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.

48 Phận nữ tỳ hèn mọn,

Người đoái thương nhìn tới ;

từ nay, hết mọi đời

sẽ khen tôi diễm phúc.

49 Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi

biết bao điều cao cả,

danh Người thật chí thánh chí tôn !

50 Đời nọ tới đời kia,

Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.

51 Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh,

dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.

52 Chúa hạ bệ những ai quyền thế,

Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.

53 Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,

người giàu có, lại đuổi về tay trắng.

54 Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,

55 như đã hứa cùng cha ông chúng ta,

vì Người nhớ lại lòng thương xót

dành cho tổ phụ Áp-ra-ham

và cho con cháu đến muôn đời.”

56 Bà Ma-ri-a ở lại với bà Ê-li-sa-bét độ ba tháng, rồi trở về nhà.

Đó là lời Chúa.

 

B.CHIA SẺ LỜI CHÚA

Lịch sử hình thành

Hôm nay chúng ta dâng lễ trọng thể kính Đức Mẹ Hồn Xác lên trời, còn gọi là lễ Đức Mẹ Mông Triệu, là việc Đức Mẹ được lên hưởng vinh quang thiên quốc cả hồn lẫn xác khi hoàn tất cuộc đời trần thế (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 966).

* Niềm tin này đã có ngay từ những thế kỷ đầu của Ki-tô giáo. Đến thế kỷ VI, trong kinh nguyện và Phụng vụ của Giáo Hội Đông Phương có lễ kính “Đức Mẹ Yên Giấc” vào ngày 15-08. Còn Giáo Hội Tây Phương cũng có lễ Đức Mẹ Lên Trời vào thế kỷ VIII.

* Niềm tin đó trở thành một tín điều được Đức Giáo Hoàng Piô XII long trọng công bố ngày 01-11-1950 qua Tông Hiến “Munificentissimus Deus” (Thiên Chúa vô cùng đại lượng) : “Kết thúc cuộc đời dương thế, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội là Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời, đã được đưa lên hưởng vinh quang thiên quốc cả hồn lẫn xác”. Tín điều này có nghĩa là : “vì là Mẹ của Đấng Cứu Thế, Đức Ma-ri-a đã được hưởng ngay ơn cứu độ của Chúa Giê-su Ki-tô” Việc lên trời của Đức Trinh Nữ rất thánh là sự tham dự độc nhất vô nhị vào sự việc thể hiện trước sự phục sinh của các Ki-tô hữu khác (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 966).

 

Bài đọc 1

Trở lại bài đọc 1, ta phải hiểu thế nào về người Phụ Nữ và con Mãng Xà ?

Một người Phụ Nữ xuất hiện trong ánh vinh quang : mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao, nhưng lại quằn quại vì sắp sinh con. Người Phụ Nữ tượng trưng cho nhân loại. Ở đầu Sách Thánh, trong sách Sáng thế, tượng trưng cho nhân loại là người phụ nữ đã phạm tội, đó là bà E-và. Giờ đây thì ngược lại, chúng ta thấy một nhân loại đẹp ý Thiên Chúa : quằn quại trong cơn đau sinh nở bởi vì toàn bộ lịch sử của chúng ta là bước đường gian khổ chuẩn bị chờ đón ơn cứu độ. Người Phụ Nữ sinh một người con trai chính là Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Thế, là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa dành cho loài người. Ơn cứu độ phát xuất từ Thiên Chúa đồng thời cũng phát xuất từ nhân loại.

Người Phụ Nữ tượng trưng cho nhân loại biết cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa, và cũng là biểu tượng của Đức Ma-ri-a sinh hạ Đức Giê-su ; đó cũng là hình ảnh Hội Thánh trốn vào sa mạc, nghĩa là sống cuộc sống thiêng liêng của mình, xa cách thế trần và được Lời Chúa nuôi dưỡng trong những cơn bách hại.

Con Mãng Xà là con rắn xưa trong câu chuyện tội nguyên tổ, chỉ khác là nó được trang bị hùng hậu hơn. Bảy đầu và mười sừng của nó chỉ tính đa mưu túc trí của nó, nhưng con số 10 (chỉ sự bất toàn) nói lên rằng quyền lực của nó không phải là bách chiến bách thắng. Nó đã bị đánh bại trên trời, nhưng khi bị tống xuống đất, nó đã kéo theo một số thiên thần, một phần ba các ngôi sao trên trời.

Còn người con trai thì Xa-tan đang chuẩn bị tiêu diệt Người trên thập giá, nhưng khi sống lại, Người đã thoát khỏi sự độc ác của nó.

* Thiên Chúa luôn an ủi, nâng đỡ chúng ta trong mọi cơn thử thách gian truân. Ta hãy đặt trọn niềm tin vào Người, hãy phó thác cho Người cuộc đời của chúng ta và những người thân yêu của chúng ta cho tình yêu quan phòng của Chúa là Cha giàu lòng thương xót.

 

Đáp ca : Tv 44

Thánh vịnh 44 chúng ta vừa nghe hát đề cập đến hôn lễ quân vương. Thánh vịnh làm nổi bật vai trò của nhà vua trong những câu đầu trước khi nói đến hoàng hậu tương lai mà Phụng vụ lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đề nghị chúng ta đọc hôm nay. Theo nhiều nhà chú giải Kinh Thánh, hôn lễ này tượng trưng cho sự kết hợp giữa Chúa Ki-tô và Giáo Hội của Người. Vị Hôn Thê phải nghe theo tiếng gọi của hôn phu của mình, như xưa ông Áp-ra-ham đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12,1). Đức Ma-ri-a, Mẹ của Giáo Hội, cũng đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa qua trung gian của sứ thần Gáp-ri-en, Đức Mẹ báo trước tiếng “Xin Vâng” mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa qua tiếng “xin vâng” của mỗi người khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy.

 

Bài đọc 2 : 1 Cr 15,20-27a

1. Ngày chúng ta mừng kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Phụng vụ mời ta lắng nghe suy niệm của thánh Phao-lô về sự sống lại của Đức Ki-tô đối lại với sự chết của ông A-đam. Mời anh chị em cùng tôi, chúng ta tìm hiểu xem có điểm nào chung giữa Đức Ki-tô và Đức Ma-ri-a, mà ông A-đam không có.

Bài Tin Mừng hôm nay giúp ta chiêm ngắm Đức Ma-ri-a, người tín hữu đầu tiên “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”, bà Ê-li-sa-bét nói. Đức Mẹ đã tin, nghĩa là Người đã chấp nhận bước vào kế hoạch Thiên Chúa đã dành cho Người, tuy không hiểu tất cả. “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”

2. Trong Kinh Thánh, ta thấy có một việc duy nhất chúng ta được khuyên nên làm, là luôn sẵn sàng đáp lại tiếng Chúa gọi theo gương các ông Áp-ra-ham, Mô-sê, Sa-mu-en : “Lạy Chúa, con đây.” Nhờ các ngài mà công trình của Thiên Chúa có thể tiến triển trong từng giai đoạn. Đến lượt mình, Đức Ki-tô thực hiện lại hành trình đức tin này và Tân Ước không ngừng nêu gương cho chúng ta. Trong lúc bị ma quỷ cám dỗ, Người đã đáp trả tên cám dỗ bằng những lễ tế đức tin. Và nếu trong kinh Lạy Cha, Người dạy chúng ta đọc “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, vì đó là mối bận tâm chính của Người. Như Người đã nói với các Tông Đồ trong câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Gia-cóp : “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,3). Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, Người thân thưa với Chúa Cha : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.” (Mt 26,39). Tác giả thư Híp-ri, khi tóm tắt cuộc đời của Đức Giê-su, đã nói : “Khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói : ‘Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài.’” (Hr 10,5).

Trong thư gửi tín hữu Rô-ma và Cô-rin-tô, thánh Phao-lô không ngừng đối chọi thái độ của Đức Ki-tô và thái độ của ông A-đam : ông A-đam, vì đã bất tuân lệnh Chúa nên đã đem tội vào thế gian, trong khi Đức Ki-tô, nhờ vâng lời Chúa Cha, nên đã chuộc tội cho thế gian qua cái chết trên thập giá.

3. Trở lại bài đọc 2 hôm nay, ta thấy sau khi đã rút ra những hậu quả từ quan điểm của tín hữu Cô-rin-tô cho rằng không có chuyện kẻ chết sống lại, thì trong bài đọc 2 chúng ta vừa nghe, thánh Phao-lô trình bày những hệ quả của Tin Mừng ngài rao giảng : Đức Ki-tô thật sự đã trỗi dậy từ cõi chết, nghĩa là Đức Ki-tô là hoa trái đầu mùa của những người sẽ được cho sống lại từ cõi chết : điều đã xảy ra với Đức Ki-tô sẽ xảy ra cho mọi tín hữu. Bởi vì sự chết đã đi vào thế gian qua một người là ông A-đam, thì sự sống lại từ cõi chết cũng đến qua một người là Đức Ki-tô, A-đam mới. Tuy nhiên, mọi sự xảy ra cách tuần tự. Trước hết, Đức Ki-tô được trỗi dậy, rồi lúc Người trở lại lần thứ hai, kẻ chết sẽ được trỗi dậy với Người. Sau đó, Đức Ki-tô sẽ trao lại mọi sự cho Chúa Cha. Tử thần sẽ bị tiêu diệt, mọi sự sẽ tùng phục Thiên Chúa, và Thiên Chúa sẽ có toàn quyền trên muôn loài.

Luôn vâng theo thánh ý Chúa, lúc vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi hạnh phúc cũng như lúc gặp khổ đau, khi cuộc đời phẳng lặng cũng như khi gặp sóng gió gian truân. Hãy đặt trọn niềm tin vào Chúa.

 

Bài Tin Mừng : Lc 1,39-56

1. Chúng ta vẫn còn đang ở phần mở đầu của Tin Mừng Lu-ca. Trước hết, có hai câu chuyện về truyền tin : một cho ông Da-ca-ri-a về việc chào đời của Gio-an Tẩy Giả, một cho Đức Trinh Nữ Ma-ri-a về việc Đức Giê-su giáng sinh. Và câu chuyện trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe kể lại việc Đức Ma-ri-a viếng thăm bà Ê-li-sa-bét. Chúng ta đừng tưởng thánh Lu-ca kể chuyện về gia đình. Không, thánh Lu-ca đề cập đến vấn đề thần học. Ta cần quan tâm đặc biệt đến câu chính yếu của bản văn : “Bà Ê-li-sa-bét được đầy tràn Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng …” Thánh Thần đã tác động khiến bà Ê-li-sa-bét nói : “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc”, điều đó muốn nói rằng Thiên Chúa đang hành động nơi Đức Ma-ri-a và nhờ Đức Ma-ri-a, và Thiên Chúa hành động nơi Người Con của Đức Ma-ri-a, và nhờ Người Con của Đức Ma-ri-a là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.

Chắc chắn thánh Lu-ca không hề quên lời nói của bà Ê-li-sa-bét mà chúng ta vừa nghe ở trên, lấy lại một phần lời nói của ông Út-di-gia ca tụng bà Giu-đi-tha sau khi bà chặt đầu tướng Hô-lô-phéc-nê, chỉ huy quân đội Át-sua : “Bà được Thiên Chúa Tối Cao ban phúc hơn tất cả các phụ nữ trên cõi đất này.”

“Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này ?” gợi lại một giai đoạn đặc biệt trong Cựu Ước : “Rước Hòm Bia về Giê-ru-sa-lem” (2 Sm 6,2-11).

2. Ta có thể nghĩ rằng thánh Lu-ca rất hạnh phúc khi tập họp lại trong câu chuyện thăm viếng những chi tiết gợi lại câu chuyện vua Đa-vít rước Hòm Bia về Giê-ru-sa-lem : hai cuộc hành trình, một của Hòm Bia Giao Ước và một của Đức Ma-ri-a diễn ra trong cùng một vùng, các ngọn đồi của miền Giu-đa ; Hòm Bia Giao Ước vào nhà của ông Ô-vết Ê-đôm, Thiên Chúa giáng phúc cho ông cùng cả nhà ông (2 Sm 6,12). Đức Ma-ri-a vào nhà ông Da-ca-ri-a và bà Ê-li-sa-bét, mang hạnh phúc đến cho nhà đó. Hòm Bia Giao Ước ở lại nhà ông Ô-vết Ê-đôm ba tháng, Đức Ma-ri-a cũng ở nhà bà Ê-li-sa-bét ba tháng. Cuối cùng, Đa-vít nhảy múa hết sức mình trước nhan Đức Chúa (2 Sm 6,16) và thánh Lu-ca cho biết Gio-an Tẩy Giả “đã nhảy lên vui sướng” trước Đức Ma-ri-a đang cưu mang Đấng Cứu Thế.

3. Rõ ràng điều này không phải là ngẫu nhiên đâu, vì thánh Lu-ca muốn cho ta chiêm ngắm nơi Đức Ma-ri-a – Hòm Bia Giao ước mới. Mà Hòm Bia Giao Ước là nơi Thiên Chúa hiện diện. Vì thế, Đức Ma-ri-a đang mang cách nhiệm mầu trong cung lòng trinh khiết của Người sự hiện diện của Thiên Chúa. Nhờ Người, Thiên Chúa mặc lấy bản tính loài người chúng ta : “Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” Tất cả việc này xảy ra là nhờ niềm tin sắt son của Đức Ma-ri-a. Bà Ê-li-sa-bét nói : “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.”

4. Bài ca Magnificat : bài ca ngợi khen

Thay vì trả lời bà Ê-li-sa-bét, Đức Ma-ri-a hát lên bài ca Magnificat : bài ca ngợi khen. Vì câu mở đầu của bài ca trong tiếng La-tinh là “Magnificat anima mea Dominum” (linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa), nên thường được gọi là bài ca Magnificat. Bài ca phỏng theo bài ca của bà An-na, mẹ ngôn sứ Sa-mu-en (x. 1 Sm 2,1-10). Trong bài ca này của Đức Ma-ri-a, ta thấy những chủ đề cầu nguyện quan trọng của Kinh Thánh :

a. Niềm vui vì được đức tin : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.” Ta thấy câu này gần như lặp lại lời ngôn sứ I-sai-a : “Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa, nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao.”

b. Lòng trung tín của Thiên Chúa đối với những lời hứa và Giao ước của Người : “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời.” (Tv 24,6).

c. Lời tạ ơn vì công trình của Thiên Chúa. Đây là một trong những chủ đề chính của Kinh Thánh : “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en, chỉ có Ngài làm nên những công trình kỳ diệu. Muôn muôn đời xin chúc tụng danh Chúa hiển vinh, ước gì vinh quang Chúa chiếu toả khắp hoàn cầu.” (Tv 71,18-19).

d. Tình thương Thiên Chúa dành cho những người nghèo và những ai bé mọn. “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc … Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro.” (Tv 112,7).

Ta hãy cùng với Đức Ma-ri-a dâng lên Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót lời ca ngợi : “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng.”

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Đức Ma-ri-a, người tin đầu tiên, gương mẫu của Giáo Hội, Mẹ các người tin

(Hội Đồng Giám Mục Pháp trong cuốn “Catéchisme pour adultes”, 1991, tr. 215-216).

Giữa Kinh Nguyện Thánh Thể I, “Trong sự hiệp thông của toàn thể Giáo Hội, chúng ta kính nhớ Đức Ma-ri-a trọn đời đồng trinh.” Thật vậy, Đức Ma-ri-a là chi thể của Giáo Hội, tối cao và độc nhất vô nhị, cũng như mẫu mực và gương sáng phi thường của Giáo Hội trên phương diện đức tin và đức ái (Lumen Gentium, số 53).

Vào cuối Công Đồng Va-ti-ca-nô II, Đức Phao-lô VI đã tuyên bố Đức Ma-ri-a là “Mẹ Giáo Hội”, nghĩa là mẹ của các chủ chăn và mẹ các tín hữu. Giống như một người mẹ, Đức Ma-ri-a có vai trò đặc biệt trong gia đình mà Mẹ là thành phần, vai trò đã được phác hoạ trong Tân Ước.

Ngay từ lúc sinh Đức Giê-su, Đức Ma-ri-a đã được trình bày như người tin đầu tiên, tượng trưng Giáo Hội đang cầu nguyện, “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19). Khi Giáo Hội sinh ra vào buổi sáng lễ Ngũ Tuần ở Giê-ru-sa-lem, Đức Ma-ri-a cùng với các môn đệ, đã dùng lời cầu nguyện kéo ơn Chúa Thánh Thần xuống trên dân Chúa (Lumen Gentium, số 59). Bởi vậy, Đấng đã hiện diện trong mầu nhiệm Đức Ki-tô như người mẹ, thì theo ý muốn của Chúa Con và Chúa Thánh Thần, cũng có mặt trong mầu nhiệm Giáo Hội. Và trong Giáo Hội, Mẹ vẫn tiếp tục hiện diện như người mẹ.

Bởi vậy, khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện của Đức Trinh Nữ, Hội Thánh cũng được làm Mẹ nhờ lời Thiên Chúa mà Hội Thánh trung thành lãnh nhận : thật vậy, nhờ việc rao giảng và ban phép Thánh Tẩy, Hội Thánh sinh hạ những người con được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh ra do Thiên Chúa để họ lãnh nhận một đời sống mới và bất diệt (Lumen Gentium, số 64).

Sau cùng, vào ngày lên trời, Đức Ma-ri-a đã được cất nhắc lên toà vinh hiển trên trời : hình ảnh hoàn hảo của Hội Thánh trong tương lai, bình minh của Hội Thánh khải hoàn, Người hướng dẫn và nâng đỡ niềm hy vọng của đoàn dân trên đường lữ thứ (xem kinh Tiền Tụng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời). “Ngay từ bây giờ, Mẹ đã chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành” (Lumen Gentium, số 68).

Tôn kính Đức Ma-ri-a : đó là gia nhập vào việc tôn sùng của dân Chúa (Lumen Gentium, số 66) đối với Đức Trinh Nữ, đó là gia nhập phong trào lâu đời qua các thế hệ tung hô Mẹ diễm phúc, đó là sùng bái tôn kính, ngợi khen Đức Ma-ri-a Mẹ Thiên Chúa. Tất nhiên không phải là việc thờ phượng, vì thờ phượng chỉ dành cho Thiên Chúa.

Noi gương Đức Ma-ri-a : là mở tâm hồn đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, là sống đức tin như Mẹ đã sống, là phục vụ như Mẹ đã phục vụ. Đức Ma-ri-a là gương mẫu, là mẫu mực tuyệt hảo sống đời Ki-tô hữu. Về điều đó mọi Ki-tô hữu đều nhất trí.

Cầu xin Đức Ma-ri-a : là phó thác vào tình mẫu tử của Mẹ, kêu xin sự trợ giúp và nâng đỡ, là kêu cầu Mẹ bầu cử cho ta trước mặt Con Mẹ.

 

2. “Đức Ma-ri-a, một phụ nữ tuyệt vời”

(G. Boucher, trong cuốn “Entre ciel et terre” bán tại nhà tác giả Residence de Kérampir, 29820 BOHARS).

Trong quá trình cuộc phiêu lưu lạ đời của Mẹ, Đức Ma-ri-a được gọi để đương đầu với mầu nhiệm. Một mầu nhiệm với tính cách vượt trội nhất của nó : đó là nhân tính của Thiên Chúa.

Bị hoang mang vì ngôn ngữ trong biến cố Truyền Tin, Mẹ đã đặt tin tưởng vào Thiên Chúa, vào ý định cứu rỗi của Người.

Ngạc nhiên vì cách cư xử của Đức Giê-su lúc mười hai tuổi, Mẹ đã suy gẫm sự việc này trong lòng để vâng theo kế hoạch của Thiên Chúa về Người.

Mẹ lo âu muốn giữ con lại nhà lúc con vào tuổi trưởng thành, đừng tiến tới để gặp gỡ lịch sử đời mình.

Đau khổ trong lòng vì lời Con phán, nhìn nhận cả nhân loại là gia đình, Mẹ đã tin trong đau đớn.

Dầm dề nước mắt, Mẹ đã theo Con trên đường nhục nhằn, đánh đập, nhạo báng, khi Con bị án tử và bị dẫn đi đóng đinh.

Con tim dập nát và cả thân xác bầm dập, Mẹ đã chứng kiến, bất lực và đầy yêu mến cái chết của kẻ tử tù, khi Con bị treo trên cây gỗ thập tự.

Trung thành cho đến cùng, Mẹ đã ghi khắc lời trối trăng của Con bị đóng đinh. Mẹ đã lấy tình mẫu tử phục vụ các môn đệ và các tín hữu tiên khởi của Giáo Hội mới được khai sinh.

Đức Thiên Chúa ngự trị đến ngay cả trong thân xác, Mẹ đã hoàn tất sứ mạng của mình một cách hoàn hảo.

Tràn ngập Thiên Chúa, Mẹ được thông phần vinh quang của Người, cả xác lẫn hồn, trong lời ca tụng Magnificat muôn thuở.