A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 1,1-11

Đáp ca : Tv 46,2-3.6-7.8-9 (Đ. c.6)

Bài đọc 2 : Ep 1,17-23

Tung hô Tin Mừng : x. Mt 28,19a.20b

Tin Mừng : Mt 28,16-20

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 1,1-11

Đáp ca : Tv 46

Bài đọc 2 : Ep 1,17-23

Bài Tin Mừng : Mt 28,16-20

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Bài kết thúc Tin Mừng thánh Mát-thêu thật ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở”

2. “Là dịp để ta canh tân lại quyết định làm môn đệ trung thành của Đức Ki-tô”

3. “Em-ma-nu-en - Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 1,1-11

Đức Giê-su được cất lên ngay trước mắt các ông.

Khởi đầu sách Công vụ Tông Đồ.

1 Thưa ngài Thê-ô-phi-lô, trong quyển thứ nhất, tôi đã tường thuật tất cả những việc Đức Giê-su làm và những điều Người dạy, kể từ đầu 2 cho tới ngày Người được rước lên trời. Trước ngày ấy, Người đã dạy bảo các Tông Đồ mà Người đã tuyển chọn nhờ Thánh Thần. 3 Người lại còn dùng nhiều cách để chứng tỏ cho các ông thấy là Người vẫn sống sau khi đã chịu khổ hình : trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các ông về Nước Thiên Chúa. 4 Một hôm, đang khi dùng bữa với các Tông Đồ, Đức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa, “điều mà anh em đã nghe Thầy nói tới, 5 đó là : ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần”.

6 Bấy giờ những người đang tụ họp ở đó hỏi Người rằng : “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không ?” 7 Người đáp : “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, 8 nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.”

9 Nói xong, Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa. 10 Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh 11 và nói : “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 46,2-3.6-7.8-9 (Đ. c.6)

Đ. Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo, Chúa ngự lên, vang dội tiếng tù và.

Hoặc :

Đ. Ha-lê-lui-a.

2 Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi !
Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo !
3 Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý,
là Vua Cả thống trị khắp địa cầu. Đ.

6 Thiên Chúa ngự lên, rộn rã tiếng hò reo,
Chúa ngự lên, vang dội tiếng tù và.
7 Hãy đàn ca, đàn ca lên mừng Thiên Chúa,
đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính Vua ta ! Đ.

8 Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu,
hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ.
9 Thiên Chúa là Vua thống trị chư dân,
Thiên Chúa ngự trên toà uy linh cao cả. Đ.

 

Bài đọc 2 : Ep 1,17-23

Thiên Chúa đã đặt Đức Ki-tô ngự bên hữu Người trên trời.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.

17 Thưa anh em, tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mặc khải cho anh em nhận biết Người. 18 Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, 19 đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, 20 mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời. 21 Như vậy, Người đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng, trên mọi tước vị có thể có được, không những trong thế giới hiện tại, mà cả trong thế giới tương lai. 22 Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô và đặt Người làm đầu toàn thể Hội Thánh ; 23 mà Hội Thánh là thân thể Đức Ki-tô, là sự viên mãn của Người, Đấng làm cho tất cả được viên mãn.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : x. Mt 28,19a.20b

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Anh em hãy đi giảng dạy cho muôn dân. Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Mt 28,16-20

Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.

Kết thúc Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

16 Khi ấy, mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17 Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. 18 Đức Giê-su đến gần, nói với các ông : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19 Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20 dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Cv 1,1-11

1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách Công vụ Tông Đồ tóm tắt mọi hoạt động của Đức Giê-su Phục Sinh. Trước khi thăng thiên, Người dạy bảo các Tông Đồ để các ông am hiểu Nước Thiên Chúa và hứa ban Thánh Thần để các ông có thể làm chứng cho Đức Ki-tô đến tận cùng trái đất. Đức Giê-su lên trời chấm dứt sự hiện diện hữu hình của Người ; nhưng Người còn hiện diện cách mầu nhiệm qua hoạt động của các Tông Đồ và đời sống của các cộng đoàn tín hữu.

Chúng ta cần ghi nhớ thánh Lu-ca viết hai tác phẩm : Tin Mừng thứ ba – Tin Mừng theo thánh Lu-ca và sách Công vụ Tông Đồ. Nếu Tin Mừng Lu-ca kể lại việc rao giảng Tin Mừng của Đức Giê-su, thì sách Công vụ Tông Đồ tường thuật sứ vụ và việc rao giảng của các Tông Đồ. Do đó có tên là sách Công vụ Tông Đồ. Trong khi Tin Mừng Lu-ca bắt đầu và kết thúc tại Giê-ru-sa-lem, trung tâm của thế giới Do-thái và của Giao ước thứ nhất, thì sách Công vụ Tông Đồ bắt đầu ở Giê-ru-sa-lem, vì Giao ước mới tiếp theo ngay sau Giao ước cũ, nhưng kết thúc tại Rô-ma là ngã tư quốc tế thời đó, vì từ này về sau, Giao ước mới vượt ra khỏi biên giới Ít-ra-en. Đối với thánh Lu-ca, việc lan truyền này là thành quả của Chúa Thánh Thần, Người sẽ là Đấng tác động đến mọi sinh hoạt của các Tông Đồ trong việc rao giảng Đức Ki-tô Phục Sinh, đến nỗi người ta thường gọi sách Công vụ Tông Đồ là “Tin Mừng của Chúa Thánh Thần”.

Vì Đức Giê-su chuẩn bị cho sứ vụ rao giảng của Người bằng bốn mươi ngày sống trong sa mạc, sau khi chịu phép Rửa tại sông Gio-đan, thì Người cũng chuẩn bị cho Giáo Hội của Người trong bốn mươi ngày : “Trong bốn mươi ngày, Người đã hiện ra nói chuyện với các Tông Đồ về Nước Thiên Chúa.” Trong một bữa ăn, Đức Giê-su trao cho các ông ba điều : một lệnh truyền, một lời hứa, một sự sai đi (thi hành sứ vụ).

Lệnh truyền khiến các Tông Đồ ngỡ ngàng : chờ đợi và không được đi đâu hết : “Đức Giê-su truyền cho các ông không được rời khỏi Giê-ru-sa-lem, nhưng phải ở lại mà chờ đợi điều Chúa Cha đã hứa.” Việc ước mong những lời hứa của Thiên Chúa trở thành hiện thực tại Giê-ru-sa-lem chắc chắn không làm mười một Tông Đồ bỡ ngỡ vì các ông đều là người Do-thái, vì tất cả những lời rao giảng của các ngôn sứ đều gán cho Giê-ru-sa-lem một tầm quan trọng khá đặc biệt trong việc hoàn thành kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Chẳng hạn, chúng ta nhớ lại sách ngôn sứ I-sai-a nói về vẻ huy hoàng của Giê-ru-sa-lem : “Đứng lên, bừng sáng lên ! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi. Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân ; còn trên ngươi Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi. Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước” (Is 60,1-3).

Thánh Lu-ca xác nhận nội dung của lời hứa : “Ông Gio-an thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần.” Điều đó cũng khá quen thuộc với các Tông Đồ, vì các ông có thể nhớ lại lời của các ngôn sứ : Giô-en 3,1 : “Ta sẽ đổ thần khí Ta trên hết thảy người phàm” và ngôn sứ Da-ca-ri-a : “Ta sẽ đổ ơn xuống cho nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem, giúp chúng biết sống đẹp lòng Ta và tha thiết cầu nguyện” (Dcr 12,10).

Câu trả lời của Đức Giê-su khi các Tông Đồ hỏi : “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không ?” cho thấy Chúa cần con người cộng tác với Chúa để thực hiện chương trình cứu độ. Ơn cứu độ của Thiên Chúa được ban qua Đức Giê-su Ki-tô và con người có thể tự do đón nhận. Trách nhiệm của các Tông Đồ là làm chứng nhân cho Đức Ki-tô Phục Sinh : Thánh Thần được ban cho các ông là vì sứ vụ đó : “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất.” Sách Công vụ Tông Đồ thực hiện trọn vẹn kế hoạch này.

Vào sáng ngày Phục Sinh, hai thiên thần y phục sáng chói, đứng bên các bà và nói với các bà : “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết ? Người không còn ở đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi”, thì trong ngày Thăng Thiên cũng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh các Tông Đồ và nói : “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn trời ? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” Chúng ta tin chắc Người sẽ trở lại, cho nên trong thánh lễ, sau phần Truyền phép, khi linh mục chủ tế xướng : “Đây là mầu nhiệm Đức Tin” thì cộng đoàn thưa : “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết, và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa ngự đến.”

* Sống xứng đáng với tình thương hải hà của Chúa, nhất là cố gắng làm tròn sứ mạng Chúa giao là làm chứng cho Đức Ki-tô Phục Sinh bằng lời nói, nhất là bằng gương bác ái yêu thương là lý tưởng của người Ki-tô hữu chúng ta.

 

Đáp ca : Tv 46

Để có thể hiểu thánh vịnh 46, ta cần đọc lại câu chuyện lên ngôi của vua Sa-lô-môn, vị Tân vương được rước từ suối Ghi-khôn lên đồi cao nơi hoàng cung toạ lạc. “Tư tế Xa-đốc lấy sừng đựng dầu từ Nhà Lều và xức cho Sa-lô-môn. Người ta đã rúc tù và ; toàn dân hô : ‘Vua Sa-lô-môn muôn năm !’ Toàn dân tiến lên theo sau vua. Dân chúng thổi sáo và reo vui đến nỗi đất cũng chuyển động vì tiếng hò la của họ” (1 V 1,39-40).

Vào thời không còn vua ở Ít-ra-en, nghĩa là sau thời lưu đày ở Ba-by-lon, người ta áp dụng cho chính Thiên Chúa những hình ảnh và những từ ngữ dùng vào việc lên ngôi của một vị vua mới và vương quyền của ngài. Khi làm việc này, người ta khơi dậy trong tâm hồn mọi người Ít-ra-en niềm trông đợi Vua Mê-si-a mà Thiên Chúa sẽ sai đến như Người đã hứa. Vương quyền của Đức Ki-tô còn rất bí ẩn : các tác giả Tin Mừng không có thể tường thuật nghi lễ đăng quang của Người vì chưa xảy ra, nhưng vào thời sau hết, tất cả con cái của Thiên Chúa sẽ tập họp lại và đồng thanh reo vang : “Vỗ tay đi nào, muôn dân hỡi ! Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo ! Vì Đức Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng khả uý, là Vua Cả thống trị khắp địa cầu.”

 

Bài đọc 2 : Ep 1,17-23

Đoạn thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Ê-phê-xô đã được chọn một cách cố ý để tưởng niệm biến cố Thăng Thiên của Đức Ki-tô, vì thánh Phao-lô đem lại cho bản văn một chiều kích thần học, tuy không nói rõ ra.

Chúa Giê-su trở về bên Chúa Cha nhận vinh quang và uy quyền, và mời gọi tất cả các tín hữu chia sẻ chính cuộc sống vinh quang này.

Thánh Phao-lô đã viết bức thư này lúc ngài đang ở tù tại Rô-ma, vào khoảng các năm 61-63. Ngài gửi đến cho chúng ta trong các bức thư viết trong tù những suy tư sâu sắc của ngài về mầu nhiệm Cứu Độ và mầu nhiệm Giáo Hội, nhiệm thể Đức Ki-tô.

Ta có thể phân biệt trong bài đọc 2 hôm nay hai phần : phần thứ nhất mang hình thức một lời cầu nguyện ; phần thứ hai là một cái nhìn về những mối liên hệ giữa Đức Ki-tô vinh hiển và Giáo Hội.

* Cầu nguyện

Cầu nguyện chiếm một chỗ ngày càng quan trọng trong các bức thư cuối cùng của thánh Phao-lô. Tất cả các thư thánh Phao-lô viết trong ngục đều mang hình thức một lời cầu nguyện. Thánh Phao-lô thường lặp lại : “Anh em hãy cầu nguyện không ngừng. Hãy cầu nguyện mọi lúc.” Và chính thánh nhân làm gương cho ta về cầu nguyện, và ngài thân thưa với Chúa Cha trong lời cầu nguyện của mình. Thánh Phao-lô thường nói : “Xin Chúa Cha vinh hiển”, kiểu nói này là một danh xưng trong Phụng vụ, gợi nhớ một viễn cảnh tốt đẹp vinh quang mà Chúa Cha cho Chúa Con Phục Sinh tham dự, sau đó là tất cả những ai tin Chúa.

Thánh Phao-lô cầu xin Chúa Cha ban cho các tín hữu mà ngài ngỏ lời thần khí khôn ngoan để mặc khải cho họ ơn nhận biết Chúa, mà theo Kinh Thánh, đó là tin Chúa và yêu Chúa một cách cụ thể. Ngài cầu xin tiếp : “Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng của anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh.” Hai kiểu nói diễn tả cùng một thực tại thiêng liêng là tham dự vào đời sống vinh quang của Đức Ki-tô Phục Sinh.

* Đức Ki-tô vinh quang và Giáo Hội

Lời cầu nguyện soi sáng thánh Phao-lô giúp ngài tôn vinh Đức Ki-tô, Đấng đã được Chúa Cha đặt làm Chúa Tể vũ trụ càn khôn và làm Đầu toàn thể Hội Thánh. “Thiên Chúa đã tôn Đức Ki-tô lên trên mọi quyền lực thần thiêng.” Thánh Phao-lô ám chỉ những niềm tin rất phổ biến trong giới Do-thái theo văn hoá Hy-lạp. Trong số các quyền lực thần thiêng, chắc chắn phải kể đến quyền lực của sự dữ (mà quyền lực của tử thần là một) đã bị Đức Giê-su đánh bại. Trong đoạn trích hôm nay, thánh Phao-lô không nói rõ, nhưng ngài nói ở xa hơn một chút : “Vì chúng ta chiến đấu không phải với phàm nhân, nhưng là với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm này, với những thần linh quái ác chốn trời cao” (Ep 6,12).

“Thiên Chúa đã đặt tất cả dưới chân Đức Ki-tô.” Đó là lời trích dẫn trực tiếp thánh vịnh 8 : “Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên, cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo, đặt muôn loài muôn sự dưới chân.” Như thế thánh Phao-lô cho ta thấy Đức Ki-tô là con người tuyệt vời nhất.

Thiên Chúa đã đặt Đức Ki-tô làm đầu toàn thể Hội Thánh. Hình ảnh này tạo nên chủ đề chính của thư Ê-phê-xô. Hình ảnh này là kết quả của một suy niệm lâu dài về mầu nhiệm Đức Ki-tô. Người là Đầu, còn Hội Thánh là thân thể Người.

 

Bài Tin Mừng : Mt 28,16-20

Sau lễ Phục Sinh, chúng ta không đọc Tin Mừng Mát-thêu là Tin Mừng của năm nay, năm A, mà là đọc Tin Mừng Gio-an. Hôm nay trong ngày lễ Thăng Thiên, chúng ta đọc lại Tin Mừng Mát-thêu và đọc chương cuối cùng. Tin Mừng Mát-thêu không đề cập rõ đến biến cố Thăng Thiên, nhưng Tin Mừng kết thúc trong một cảnh tượng thật hoành tráng : Đức Ki-tô Phục Sinh hiện ra với mười một Tông Đồ, báo cho các ông biết là Người đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất và trao cho các ông sứ mạng đặc biệt quan trọng là hãy đi rao giảng và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Người đã truyền cho các ông và hứa ở cùng các ông mọi ngày cho đến tận thế. Thánh Mát-thêu không tường thuật một lần hiện ra nào khác của Chúa Phục Sinh ngoài lần hiện ra đó. Ngài tập trung vào lần gặp gỡ duy nhất này chứng từ về sự sống của Đấng Phục Sinh và những lệnh truyền cuối cùng của Người. Như vậy biến cố này mang một chiều kích đặc biệt.

1. Tại Ga-li-lê

Cuộc gặp gỡ xảy ra tại Ga-li-lê. Đó là nơi Chúa Giê-su hẹn gặp các Tông Đồ. Ba lần Chúa Giê-su đã yêu cầu các ông có mặt ở đó. Lần thứ nhất khi Người báo trước cho họ biết về việc ông Phê-rô chối Người và sự hèn nhát của các ông : “Khi đã sống lại từ cõi chết, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em.” Vào buổi sáng Phục Sinh, thiên thần báo cho các bà : “Hãy đi nói với các môn đệ là Người đã đến Ga-li-lê trước các ông.” Chúa Giê-su lặp lại sứ điệp này : “Hãy đi báo cho các anh em Thầy là họ phải đi đến Ga-li-lê.” Thánh Mát-thêu là tác giả Tin Mừng duy nhất nhắc lại ba lần Chúa Giê-su hẹn gặp các môn đệ ở Ga-li-lê. Trong khi thánh Lu-ca đặt cuộc gặp gỡ cuối cùng của Chúa Giê-su với các môn đệ tại Giê-ru-sa-lem. Thánh Mác-cô – vốn không thích Giê-ru-sa-lem vì đã phản bội sứ mạng của mình – nên dành cho Ga-li-lê sứ điệp cuối cùng của Đức Ki-tô. Cuộc gặp gỡ diễn ra trên một ngọn núi, núi ở đây chỉ mang tính biểu tượng. Trong Tin Mừng Mát-thêu, không phải trên một ngọn núi đã vang lên những lời chúc phúc trong “tám mối phúc thật” đó sao ?

2. Các ông bái lạy Người

“Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi.” Dường như ta thấy ở đây một cảnh tượng giống như trong Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca : “Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy” (Mc 16,14). “Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo : ‘Bình an cho anh em !’ Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói : ‘Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ?’” (Lc 24,36-38). Đức Giê-su đến gần để các ông thấy Người rõ hơn. Sau khi củng cố niềm tin của các ông, Người trao cho các ông sứ điệp tối hậu : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.” Lời này đã được ngôn sứ Đa-ni-en nói trong chương 7,14 : “Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị, muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một ; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7,14).

3. Sai đi rao giảng Tin Mừng

Rồi Đức Giê-su sai các Tông Đồ ra đi thực hiện một sứ vụ đặc biệt quan trọng : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

Tác giả Tin Mừng, vốn rất nhạy cảm với tính phổ quát của ơn cứu độ, nên đã kết thúc tác phẩm của mình về viễn cảnh bao la khi các dân tộc hoán cải. Đồng thời ông định nghĩa “huấn quyền của Giáo Hội” : “Anh em hãy dạy họ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” Để cho lời giáo huấn của Giáo Hội mãi mãi tinh tuyền, trung thực, Chúa Giê-su hứa nâng đỡ các ông mãi cho đến ngày tận thế : “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Sự ra đi của Chúa Giê-su có nghĩa là Người hiện diện dưới một hình thức mới : “Thầy ở với anh em” là một quả quyết thần linh, qua dòng thời gian, đã nâng đỡ dân Ít-ra-en. Như thế, thánh Mát-thêu cho ta thấy Chúa Giê-su hoàn tất Kinh Thánh : Người là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.

Hơn hai ngàn năm qua, Giáo Hội không ngừng vâng theo lệnh Chúa truyền và tích cực thực hiện lời Chúa dạy là rao giảng Tin Mừng cứu độ, loan báo sứ điệp yêu thương, giới thiệu Thiên Chúa Tình Yêu là Cha giàu lòng thương xót, muốn cứu độ hết thảy mọi người, cho tất cả những ai chưa nhận biết Chúa bằng chính đời sống bác ái yêu thương của mỗi người chúng ta.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin Chúa dạy chúng con hiểu rằng sứ mạng phải giới thiệu Chúa cho người khác, không chỉ là trách nhiệm của hàng giáo sĩ, của các tu sĩ, mà là của tất cả chúng con, những người đã nhận bí tích Thêm Sức, bằng một đời sống thấm nhuần tinh thần “tám mối phúc thật”, thấm đẫm lòng bác ái yêu thương.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có ý thức về trách nhiệm truyền giáo, nghĩa là giới thiệu “Đạo yêu thương”, Chúa là Tình Yêu, là Cha giàu lòng thương xót cho những người chưa nhận biết Chúa chưa ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Bài kết thúc Tin Mừng thánh Mát-thêu thật ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở”

(Mgr. L. Daloz, trong “Le Règne de Dieu s’est approché”).

Bài kết thúc Tin Mừng thánh Mát-thêu thật ra là một sự khởi đầu, một màn khai mở : đó là khai mạc công cuộc truyền giáo toàn cầu. Phải suy niệm và nhìn ngắm mới thấy rõ việc truyền giáo là con tim đang đập trong lồng ngực Giáo Hội có tác dụng kích thích Giáo Hội. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các Tông Đồ, và qua các ông, cho chung tất cả mọi môn đệ, Đức Giê-su thành người sống đương thời với chúng ta : “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” … Việc gặp gỡ Mười Một Tông Đồ là điều có liên hệ chặt chẽ với mầu nhiệm Phục Sinh. Trước khi đi vào cuộc Thương Khó, Người đã báo trước : “Sau khi sống lại, Thầy sẽ đến Ga-li-lê trước anh em.” Sau khi Phục Sinh, Người nói lại sứ điệp ấy với các phụ nữ đứng bên mồ và triệu tập các môn đệ : “Các bà hãy về báo cho anh em Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.” Vì nhờ mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Ki-tô, sự phục sinh nhân loại mới có thể được thực hiện. Khi sai các môn đệ … Đức Giê-su Phục Sinh là cội nguồn của việc truyền giáo. Quyền năng Thiên Chúa đã cho Người sống lại trở nên quyền năng cứu độ cho mọi dân tộc. Chúng ta nhận biết quyền năng ấy, và chỉ có lòng tin mới tiếp nhận được thôi (cũng như mười một Tông Đồ), các ông gặp Đức Giê-su trên núi, là nơi vốn xảy ra những cuộc hiển linh của Chúa, như ở núi Xi-nai hay ở núi Hiển Dung. Thái độ của các Tông Đồ lúc ấy diễn tả lòng tin của ta : tôn thờ mà lại do dự : “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi”. Cảnh tượng thật long trọng, giống như một cuộc hành lễ, chứ không còn là buổi gặp gỡ thân tình như những lần hiện ra trước đây. Là vì lần gặp gỡ này xác định nền tảng, hình thức và chân trời cho sứ mạng truyền giáo vậy.

Nền tảng ấy là quyền hành mà Đức Giê-su nhận được : “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.” Không phải là quyền của kẻ có sức mạnh trong tay và thống trị, mà là ách êm ái và gánh nhẹ nhàng. Không phải là quyền chiếm đoạt như Tên Cám Dỗ đã đề nghị cho Người, nhưng là quyền của tình yêu không để bị khuất phục. Đó là sức mạnh của sự phục sinh được khơi nguồn trong Đức Giê-su và nhờ Người, sức mạnh ấy làm thay đổi cả thế giới. Những nỗ lực truyền giáo, tinh thần can đảm để không ngừng thực thi sứ mạng, tất cả đều nhờ sức mạnh ấy mà tìm được chỗ dựa bảo đảm. Sức mạnh này không phải do ta khôn ngoan, tài khéo, tận tuỵ mà có được … “Anh em hãy đi !” Đó là một lệnh truyền. Từ buổi đầu cho đến nay, lệnh sai đi này vẫn vang lên không ngừng, vẫn luôn luôn gợi ra những sáng kiến mới lạ, những cuộc lên đường mới, một đà tiến mới tới miền xa xăm hay rất gần mà chúng ta đều mắt thấy tai nghe qua suốt dòng lịch sử.

Bởi lẽ chân trời truyền giáo là tất cả mọi quốc gia, và hạn kỳ là cho đến tận thế. Việc truyền giáo chẳng bao giờ cùng về mặt địa lý cũng như về lịch sử. Ta tham gia vào công việc này ngay nơi ta đang ở và thời đại ta đang sống. Mỗi người lãnh phần trách nhiệm của mình, nhưng mỗi người không phải chịu trách nhiệm về tất cả. Quan tâm thôi, không đủ, mà phải hành động. Mỗi người chúng ta được sai đến ở nơi mình đang ở ; ta không thể chỉ là người hưởng ơn cứu độ, mà cũng còn là dụng cụ Chúa dùng để ơn cứu độ của Đức Giê-su Ki-tô đạt tới những kẻ khác, những người ta đang sống với, những người ta được sai đến với họ ở cận kề bên ta hay ở xa ta. Nhiệt tình do Đức Giê-su Phục Sinh ban cho vẫn có trong con tim của mọi cuộc đời Ki-tô hữu. Đời sống này trở nên suy nhược khi bóp nghẹt nhiệt tình này bằng lối sống vị kỷ, khép kín. Cần phải biết sống chia sẻ để khỏi xơ cứng và chết. Cũng vậy, Giáo Hội không thể ở thể tĩnh. Giáo Hội được sai đi …

Hình thức việc truyền giáo cũng được chỉ rõ ràng : “Làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em.” Chúng ta nhận thấy có ba mặt : loan báo Tin Mừng để khơi dậy được những con người môn đệ, tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh bằng việc lãnh nhận phép Rửa và các bí tích, sống đời sống mới bằng cách thi hành các điều Chúa truyền. Truyền giáo là tất cả như thế đó. Không có ba yếu tố này, công việc ấy không đầy đủ, và chẳng một yếu tố nào trong ba làm nên được công chuyện, bởi lẽ “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Quả thật, đây là một thách đố đặt ra cho Giáo Hội, vì rằng mọi dân tộc đều có quyền chia sẻ mầu nhiệm Phục Sinh, đón nhận ơn cứu độ của Đức Giê-su để được biến đổi và trở nên mới. Như thế các dân tộc ấy cũng hội nhập vào mầu nhiệm sự sống Thiên Chúa : “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” Qua việc truyền giáo của các Tông Đồ, Đức Giê-su vẫn theo đuổi công việc Người đã khởi sự trong mầu nhiệm Phục Sinh của Người. “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Ta còn sợ hãi gì nữa, một khi có Đức Giê-su Phục Sinh đang ở cùng chúng ta.


2. “Là dịp để ta canh tân lại quyết định làm môn đệ trung thành của Đức Ki-tô”

“Célébrer” (Nguyệt san của Trung Tâm Quốc Gia về Mục Vụ Phụng Vụ, số 258, tr. 42).

“Thiên Chúa vẫn luôn luôn là Em-ma-nu-en”, vẫn là ‘Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’. Việc Người lên trời không hẳn là một sự lìa bỏ. Phải học hỏi để nhận ra điều này dầu không trông thấy Người như các môn đệ đã thấy xưa. Chúa lên trời nhắc nhở ta sống thân phận của một người tin và yêu : tin rằng Người vẫn đang có mặt, và thực hành yêu thương để làm cho Người được hiện diện. Lễ này phải là dịp để ta canh tân lại quyết định trở thành những môn đệ trung tín của Đức Ki-tô : những môn đệ vững tâm vì Người vẫn có mặt bên ta “mọi ngày”, những môn đệ sẵn sàng đáp lại tiếng gọi sai đi truyền giáo cho “muôn dân” của thời đại hôm nay.


3. “Em-ma-nu-en - Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”

(J. Radermakers chú giải thêm cho bài viết ở trên).

Đức Giê-su Na-da-rét xuất thân
từ miền Ga-li-lê của chư dân,
Đấng thuộc Dơ-vu-lun và Náp-ta-li.

Người là ánh sáng bừng lên
soi cho dân ngồi trong tăm tối ;
Người là Quý Tử chí ái
của Ngôi Thánh Phụ muôn đời quang vinh.

Để tha tội lỗi muôn dân,
Người đành hiến máu để làm Giao ước ;
Người đã trỗi dậy ngày thứ ba,
làm cho muôn dân trở thành môn đệ.

Người là Em-ma-nu-en vẫn luôn có mặt,
Người còn đi trước các anh em
đến những Ga-li-lê của mọi miền trái đất.