A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 60,1-6

Đáp ca    Tv 71,1-2.7-8.10-11.12-13 (Đ. x. c.11)

Bài đọc 2: Ep 3,2-3a.5-6

Tin Mừng   Mt 2,1-12

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài chia sẻ 1

1. Bài đọc 1: Is 60,1-6

2. Đáp ca: Tv 71

3. Bài đọc 2: Ep 3,2-3a.5-6

4. Bài Tin Mừng : Mt 2,1-12

Bài chia sẻ 2

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Cả nhân loại được mời gọi

2. Lên đường


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 60,1-6

Vinh quang của Đức Chúa chiếu toả trên ngươi.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

1 Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi, vì ánh sáng của ngươi đến rồi.
Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi.
2 Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân ;
còn trên ngươi, Đức Chúa như bình minh chiếu toả, vinh quang Người xuất hiện trên ngươi.
3 Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.
4 Đưa mắt nhìn tứ phía mà xem,
tất cả đều tập hợp, kéo đến với ngươi : con trai ngươi từ phương xa tới,
con gái ngươi được ẵm bên hông.
5 Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng dạ ngươi hớn hở tưng bừng,
vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả,
của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi.
6 Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha : tất cả những người từ Sơ-va kéo đến,
đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.

Đó là lời Chúa.

Đáp ca    Tv 71,1-2.7-8.10-11.12-13 (Đ. x. c.11)

Đ. Lạy Chúa, muôn dân nước sẽ thờ lạy Ngài.

1 Tâu Thượng Đế,
xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,
2 để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn. Đ.

7 Triều đại Người, đua nở hoa công lý và thái bình thịnh trị
tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn.
8 Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất. Đ.

10 Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống.
Cả những vua Ả-rập, Xơ-va, cũng đều tới tiến dâng lễ vật.
11 Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự. Đ.

12 Người giải thoát bần dân kêu khổ
và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,
13 chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ. Đ.

Bài đọc 2: Ep 3,2-3a.5-6
Nay mầu nhiệm được mặc khải là các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.

2 Thưa anh em, hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. 3a Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Ki-tô. 5 Mầu nhiệm này, Thiên Chúa đã không cho những người thuộc các thế hệ trước được biết, nhưng nay Người đã dùng Thần Khí mà mặc khải cho các thánh Tông Đồ và ngôn sứ của Người. 6 Mầu nhiệm đó là : trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.

Đó là lời Chúa.

Tung hô Tin Mừng   Mt 2,2

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên Phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng   Mt 2,1-12

Từ Phương Đông, chúng tôi đến bái lạy Người.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi Đức Giê-su ra đời tại Bê-lem, miền Giu-đê, thời vua Hê-rô-đê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ Phương Đông đến Giê-ru-sa-lem, 2 và hỏi : “Đức Vua dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu ? Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên Phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.” 3 Nghe tin ấy, vua Hê-rô-đê bối rối, và cả thành Giê-ru-sa-lem cũng xôn xao. 4 Nhà vua liền triệu tập tất cả các thượng tế và kinh sư trong dân lại, rồi hỏi cho biết Đấng Ki-tô phải sinh ra ở đâu. 5 Họ trả lời : “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách Ngôn Sứ, có chép rằng : 6 Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì ngươi là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.”

7 Bấy giờ vua Hê-rô-đê bí mật vời các nhà chiêm tinh đến, hỏi cặn kẽ về ngày giờ ngôi sao đã xuất hiện. 8 Rồi vua phái các vị ấy đi Bê-lem và dặn rằng : “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến bái lạy Người.” 9 Nghe nhà vua nói thế, họ ra đi. Bấy giờ ngôi sao họ đã thấy ở Phương Đông, lại dẫn đường cho họ đến tận nơi Hài Nhi ở, mới dừng lại. 10 Trông thấy ngôi sao, họ mừng rỡ vô cùng. 11 Họ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và một dược mà dâng tiến. 12 Sau đó, họ được báo mộng là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê nữa, nên đã đi lối khác mà về xứ mình.

Đó là lời Chúa.


B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài chia sẻ 1

1. Bài đọc 1: Is 60,1-6

Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách I-sai-a đệ tam. Nhân dịp này chúng ta cùng nhau tìm hiểu về tầm quan trọng và những đặc điểm của sách I-sai-a. Thưa anh chị em, với 66 chương, sách I-sai-a là sách dài thứ hai trong toàn bộ Sách Thánh, chỉ thua sách Thánh vịnh (150). Xét về thời gian, thì những lời rao giảng trong sách này bao trùm hơn hai thế kỷ, từ năm 740 đến khoảng năm 500 hoặc 450 trước Công nguyên. Xét về phương diện văn chương, I-sai-a nổi bật giữa tất cả các sách Cựu Ước. I-sai-a là cuốn sách được ưa thích đặc biệt trong dân Do-thái. Còn trong Tân Ước thì I-sai-a là sách được trưng dẫn nhiều nhất sau các thánh vịnh. Những lời loan báo về nguồn gốc, sứ mạng và số phận của Đấng Mê-si-a thật sát với những gì Chúa Giê-su đã sống và đã dạy, khiến có người gọi I-sai-a là “sách Tin Mừng thứ năm”. Qua các bài giảng và các thư, thánh Phao-lô cho thấy đây là cuốn sách ưa thích nhất của ngài trong các sách Cựu Ước. Chính khi viết cuốn giảng luận về I-sai-a, thánh Giê-rô-ni-mô đã viết câu nổi tiếng : “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Ki-tô.”

1. Đọc I-sai-a, ta thấy rõ có ba phần khác nhau : I-sai-a đệ nhất (1–39), I-sai-a đệ nhị (40–55), I-sai-a đệ tam (56–66). Vậy đâu là sứ điệp của sách I-sai-a ? Thưa giữa cuộc bể dâu của thế giới Cận Đông thời đó trong tay những đế quốc khổng lồ, I-sai-a nhận ra kế hoạch cứu độ thế giới của Thiên Chúa. Kế hoạch này bộc lộ sự công chính của Thiên Chúa. Thiên Chúa thực hiện mọi lời hứa ngoài sự trông đợi của dân Chúa và bất chấp tội lỗi của họ. Có cả một nền thần học về ơn cứu độ được triển khai trong truyền thống I-sai-a theo nhịp độ dân Chúa can dự vào lịch sử thế giới. I-sai-a không những mời gọi các dân tộc đón nhận ơn cứu độ từ Giê-ru-sa-lem, mà còn mời gọi họ đóng góp phần của mình cho việc phụng tự thêm phong phú. Tính phổ quát trong kế hoạch cứu độ được I-sai-a triển khai đã mở cho chúng ta con đường hội nhập văn hoá, con đường tìm sự hài hoà giữa sự hợp nhất và tính phổ quát của Giáo Hội.

2. Một điểm khác chúng ta cũng cần biết thêm : công chính là một từ được nhắc đi nhắc lại làm thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt 66 chương sách I-sai-a. Ngay từ chương đầu, I-sai-a đã cho chúng ta thấy sự công chính của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã tự ý nhận lấy mối tương quan với dân Ít-ra-en như một tương quan ruột thịt (cha - con), và Thiên Chúa trung thành làm cho họ xứng đáng là dân của Người, dù phải dùng đến hình phạt để thanh luyện họ, làm cho họ trở nên “thành phố công chính, thành phố trung tín”. Với I-sai-a đệ tam thì sự công chính của Thiên Chúa được bộc lộ tột cùng trong việc làm nên Giê-ru-sa-lem mới và trời mới đất mới.

3. Bài đọc 1 hôm nay thuộc về sách I-sai-a đệ tam. Chúng ta đang ở trong những năm 525—520 trước Công nguyên, nghĩa là khoảng 15 hoặc 20 năm khi dân Ít-ra-en trở về từ chốn lưu đày ở Ba-by-lon với biết bao mộng đẹp, nhưng trong thực tế, những gì họ ước mong đều không trở thành hiện thực: trước tiên, vẫn có một số người Do-thái ở lại quê hương mà không bị đi đày ; tiếp đến, những người đi lưu đày trở về đòi lại của cải, tài sản họ bị chiếm dụng. Mà cuộc lưu đày kéo dài đến 50 năm, nên những người lớn tuổi đều đã chết ở Ba-by-lon và những người trở về là con cháu của họ. Cho nên cuộc hội ngộ sau 50 năm không đơn giản chút nào. Cuối cùng là có nhiều người nước ngoài đã định cư tại Giê-ru-sa-lem và trong cả nước Ít-ra-en. Họ đưa vào những tập tục, tôn giáo xa lạ. Nguyên nhân bất hoà chủ yếu là vấn đề tái thiết Đền Thờ Giê-ru-sa-lem : những người Ít-ra-en từ chốn lưu đày trở về muốn tái lập lại bàn thờ cổ xưa của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và cử hành việc thờ phượng như xưa và nhất quyết xây dựng lại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nhưng bị những người ở lại trong xứ sở phản đối kịch liệt vì nhiều lý do : những người ngoại giáo, những cuộc hôn nhân hỗn hợp, và những tập tục mà người Do-thái lưu đày trở về cho là lạc đạo.

Trong tình hình rối ren như vậy, ngôn sứ I-sai-a đã vực dậy tinh thần của dân Ít-ra-en, mời gọi họ hãy tin tưởng và hy vọng : Giê-ru-sa-lem sẽ được chiếu sáng, sẽ gặp lại con cái mình, và được ngoại bang đến tăng cường lực lượng, của cải, dân số. Câu cuối cùng của bài đọc 1 : “Lạc đà từng đàn che rợp mắt, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha ; tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.” Những gợi ý về các kho tàng châu báu Phương Đông đi đôi với cái nhìn đại đồng. Do đó, Giáo Hội sử dụng đoạn này cho Phụng vụ ngày lễ Chúa Hiển Linh.

--> Sứ điệp của bài đọc 1: Hãy tin tưởng vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa trong cuộc sống thường ngày.

2. Đáp ca: Tv 71

Thánh vịnh 71 mô tả vị Vua lý tưởng, Đấng dân Ít-ra-en trông chờ từ nhiều thế kỷ qua : khi Đức Giê-su giáng sinh tại Bê-lem, khoảng gần 1.000 năm sau khi ngôn sứ Na-than đi gặp Đa-vít theo lệnh Đức Chúa và báo cho nhà vua biết về lời hứa của Đức Chúa mà thánh vịnh 71 cho chúng ta biết : “Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. Đối với nó, Ta sẽ là Cha, đối với Ta, nó sẽ là con … Trước mặt Ta, nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ muôn đời bền vững, và ngai vàng của ngươi sẽ được củng cố đến muôn đời” (2 Sm 7,12-16).

Thánh vịnh 71 hôm nay kể cho chúng ta vài nét về dung mạo của vị Vua lý tưởng : “Người giải thoát bần dân kêu khổ và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương, chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo, mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ.”

Thưa anh chị em, vị Vua lý tưởng đó là Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Hãy yêu mến và tin tưởng Người hết lòng, vì chỉ có Người mới đem lại cho ta bình an, niềm vui và hạnh phúc lâu dài.

3. Bài đọc 2: Ep 3,2-3a.5-6

Dân ngoại và dân Do-thái đang sống chung như anh em trong một cộng đoàn, làm thành một thân thể, cùng nhau loan báo Tin Mừng. Điều đó ngày nay là sự kiện, nhưng trước đây không một ai, kể cả các thiên thần biết được ý định kêu gọi và hoà giải của Thiên Chúa. Đó là mầu nhiệm Thiên Chúa mặc khải nơi Đức Giê-su Ki-tô : tất cả mọi người có thể lại gần và thờ phượng Thiên Chúa. Thánh Phao-lô được Thiên Chúa gọi để công bố mầu nhiệm đó.

Trong bài đọc 2 hôm nay, chúng ta nghe lại từ “mầu nhiệm”. Thưa anh chị em, mầu nhiệm là đề tài căn bản của hai thư Ê-phê-xô và Cô-lô-xê. Đó là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, đã có từ trước muôn đời, loài người trước đây không được biết, nhưng nay Thiên Chúa đã mặc khải ra. Mầu nhiệm này được thực hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô và được công bố trong Hội Thánh nhờ các Tông Đồ, nhất là thánh Phao-lô ; đó là dân ngoại được đón nhận ơn cứu độ ; dân Do-thái và dân ngoại được hoà giải với nhau, làm thành một thân thể.

Câu cuối cùng của bài đọc 2 chúng ta vừa nghe : “Trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” là một lời mời gọi : Thiên Chúa chờ đợi sự cộng tác của chúng ta vào kế hoạch cứu độ của Người. Các đạo sĩ đã nhận ra một ánh sao, thế là các ông lên đường. Chúng ta nhất thiết phải sống Lời Chúa, đặc biệt là sống bác ái yêu thương để nhờ đó mà trở nên ánh sao dẫn đưa người khác đến với Thiên Chúa Tình Yêu.

4. Bài Tin Mừng : Mt 2,1-12

Các nhà chiêm tinh đến bái lạy Đức Giê-su Hài Nhi

Trình thuật này muốn đưa về ý tưởng sau đây : Hài Nhi mới sinh chính là Vị Cứu Tinh (Mê-si-a) Ít-ra-en đã mong chờ từ lâu. Chào đời tại Bê-lem, Người làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Mi-kha nói trước : Người thống lãnh toàn thể Ít-ra-en theo ý muốn của Thiên Chúa (Mk 5,1) : “Phần ngươi, hỡi Bê-lem Ép-ra-tha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giu-đa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ít-ra-en. Nguồn gốc của Người có từ thời trước, từ thuở xa xưa …” và đáp ứng nguyện vọng của tất cả các chi tộc như phụ vương Đa-vít (x. 2 Sm 5,2).

Ngôi sao vốn là dấu chỉ vương quyền, ở đây gợi lại lời sấm của thầy chiêm tinh Bi-lơ-am trong Dân số 24,17 nói về triều đại vua Đa-vít và về chính Đấng Mê-si-a : “Một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng trỗi dậy từ Ít-ra-en.” Hơn nữa, Hài Nhi còn nắm một vương quyền bao quát toàn cầu nữa. Quả thế, qua các vị chiêm tinh, dân ngoại đã nhìn nhận vương quyền của Người ngay từ lúc Người mới chào đời. Như thế là ứng nghiệm những sấm ngôn của Cựu Ước về tôn giáo phổ quát thời cánh chung (x. Is 49,23). Ở Trung Đông xưa, nhất là tại Ba-tư, các vị chiêm tinh hoặc đạo sĩ là lớp người trí thức của thời đại, thường thường thuộc hàng tư tế và làm cố vấn cho các vua. Các vị trong bài Tin Mừng hôm nay đến từ Phương Đông, quê hương của Bi-lơ-am (x. Ds 23–24). Ông Bi-lơ-am thấy vì sao còn xa ; các vị này thấy ngôi sao đã mọc lên.

Sau hết, câu chuyện còn cho thấy sự đối kháng rõ rệt giữa thái độ thờ ơ và thù nghịch của dân Do-thái đối với Hài Nhi và lòng tin mau mắn, quảng đại của dân ngoại : Các thượng tế và kinh sư nắm vững các lời ngôn sứ mà không nhận ra Đấng Mê-si-a, trong khi những người dân ngoại này (cũng như ông Bi-lơ-am ngoại đạo xưa) lại nhìn nhận Người và tìm kiếm mà thờ lạy. Các giáo phụ thường giải thích các lễ vật dâng Chúa Hài Nhi theo nghĩa tượng trưng : vàng chỉ Hài Nhi là Vua ; nhũ hương chỉ Hài Nhi là Thiên Chúa ; một dược chỉ nhân tính của Hài Nhi.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su Hài Đồng, chúng con xin dâng lên Chúa cuộc đời của mỗi người chúng con với tất cả những vui buồn, thành công hay thất bại, hạnh phúc hay đau khổ, và cả những việc thiện mà chúng con đã làm để Danh Chúa được vinh quang rạng rỡ hơn. Xin Chúa thương chúc lành cho tất cả chúng con trong năm mới này.

Tự vấn :

Chúng ta cùng nhau hồi tâm suy niệm xem trong năm vừa qua, chúng ta đã sống niềm tin của mình như thế nào, có đặt trọn niềm tin vào Chúa là Cha giàu lòng thương xót khi chúng ta gặp thử thách gian truân không ?

Bài chia sẻ 2

Lễ Hiển Linh là một lễ đặc biệt quan trọng đối với tất cả các Ki-tô hữu không phải gốc Do-thái mà là gốc dân ngoại, trong số đó có người Việt Nam chúng ta, mà Thiên Chúa không hề ban cho chúng ta lời hứa nào cả. Lễ Hiển Linh cho ta thấy ý định của Thiên Chúa là kêu gọi tất cả mọi người ngoại giáo tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế lễ này có một vị trí hết sức ý nghĩa trong đời sống đức tin của tất cả chúng ta.

* Câu chuyện do thánh Mát-thêu kể lại khiến chúng ta ngỡ ngàng. Các nhà chiêm tinh từ Phương Đông đến Giê-ru-sa-lem để thờ lạy vị vua Do-thái mới sinh. Đây là các nhà thiên văn học đã thấy một ngôi sao xuất hiện và các ông liền lên đường đến thờ lạy vị vua mà ngôi sao báo vừa mới chào đời. Tuy nhiên dấu chỉ mà các ông đi theo là ngôi sao, không chỉ cho biết rõ ràng nơi Hài Nhi đã được sinh ra. Vì thế các ông phải đến Giê-ru-sa-lem để có được những tin tức cần thiết khác mà các ông đã tìm thấy trong Kinh Thánh. Tất cả mọi việc này đều có một ý nghĩa. Trong khi tạo dựng, Thiên Chúa đã sắp xếp mọi loài thụ tạo một cách hết sức hoàn hảo đến nỗi qua đó con người có thể nhận biết Người và được Người thu hút. Nhưng sự mặc khải trong việc tạo dựng chỉ là khúc dạo đầu, không rõ ràng : để hiểu rõ hơn, cần phải tìm sự Mặc khải chứa đựng trong Kinh Thánh. Các nhà chiêm tinh tìm hiểu xem Đấng Mê-si-a phải chào đời ở đâu, các ông được các thượng tế và kinh sư của Giê-ru-sa-lem cho biết : “Tại Bê-lem, miền Giu-đê, vì trong sách Ngôn Sứ có chép rằng : Phần ngươi, hỡi Bê-lem, miền đất Giu-đa, ngươi đâu phải là thành nhỏ nhất của Giu-đa, vì người là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Ít-ra-en dân Ta sẽ ra đời.” Biết được tin tức quan trọng này, các nhà chiêm tinh lại lên đường. Ở đây chúng ta cần ghi nhận sự khác biệt giữa cách ứng xử của các nhân vật khác nhau. Các nhà chiêm tinh, dù ở rất xa, nhưng đã lên đường và dấn thân vào một hành trình thật dài và nhiều bất trắc. Ngược lại, các thượng tế và kinh sư là những người đã biết về Mặc khải, nhưng họ không hề đi, dù một bước, để đến thờ lạy Đấng Mê-si-a. Cách ứng xử của vua Hê-rô-đê còn tệ hại hơn. Vào thời điểm đó, ông ta cai trị toàn miền Giu-đê và Ga-li-lê. Hê-rô-đê là một con người có tài, nhưng đầy tham vọng. Ông ta hết sức đam mê quyền lực đến nỗi sẵn sàng tiêu diệt các đối thủ của mình và, nếu cần, cả những người ruột thịt của mình. Ông ta chỉ thấy vị vua Do-thái mới sinh là một đe doạ nghiêm trọng cho ngai vàng của mình. Vì thế ông ta nói cách giả hình với các nhà chiêm tinh : “Xin quý ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi, và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cũng đến thờ lạy Người.” Trong thực tế, ông ta chỉ tìm cách triệt hạ đối thủ của mình. Nhờ ngôi sao dẫn đường, các nhà chiêm tinh đã đến Bê-lem. Họ vào nhà thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Ma-ri-a, liền sấp mình thờ lạy Người. Cách ứng xử của họ mang tính tiên tri vì chứng tỏ Hài Nhi này là Con Thiên Chúa và cũng báo trước vô vàn vô số những người khác thuộc dân ngoại sẽ đến thờ lạy Đức Giê-su Ki-tô. Ngoài ra các nhà chiêm tinh mang một món quà lớn đó là vàng, nhũ hương và một dược. Người ta thường cho các món quà khác nhau này một ý nghĩa tượng trưng : tượng trưng cho vương quyền của Đức Giê-su, thần tính và nhân tính của Người. Các nhà chiêm tinh vì được báo trước trong giấc mơ là đừng trở lại gặp vua Hê-rô-đê, nên họ đã đi lối khác mà về xứ mình.

Bài đọc 1 cho ta thấy tất cả tầm quan trọng của mầu nhiệm nhờ một đoạn văn đầy tính thi vị. Ngôn sứ I-sai-a hướng về Giê-ru-sa-lem và hô to : “Đứng lên, bừng sáng lên, Giê-ru-sa-lem hỡi ! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu toả trên ngươi.” Bấy giờ ánh sáng của thế giới xuất hiện ở Bê-lem, gần Giê-ru-sa-lem. “Kìa bóng tối bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân.” Sự kiện được nói đến ở đây là bóng tối của lầm lạc, của tội lỗi. Mây mù phủ lấp chư dân nhưng Đức Chúa lại chiếu sáng Giê-ru-sa-lem. “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi ; vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước.” Ở đây ngôn sứ I-sai-a không chỉ báo cho biết các nhà chiêm tinh sẽ đến thờ lạy Chúa Hài Đồng, nhưng là đoàn lũ đông đảo không đếm xuể, các dân ngoại nhận ra ánh sáng của Đức Ki-tô mà cuộc đời của họ sẽ hoàn toàn thay đổi khi gặp gỡ Người. Một câu của vị ngôn sứ dường như báo trước việc các nhà chiêm tinh đến thờ lạy Chúa Hài Đồng : “Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Ma-đi-an và Ê-pha ! Tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng và trầm hương và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.” Câu này là nguồn cảm hứng cho nhiều hoạ sĩ sáng tác các bức tranh tuyệt đẹp về việc các nhà chiêm tinh đến thờ lạy Chúa Hài Nhi, cùng với đàn lạc đà đông đảo. Thật ra, Tin Mừng chưa đề cập rõ ràng, nhưng đoạn văn trích từ sách ngôn sứ I-sai-a có một ý nghĩa rất rộng rãi vì báo trước Tin Mừng được loan báo đến toàn thể các dân tộc, nghĩa là toàn thể nhân loại.

Trong bài đọc 2, trích từ thư gửi tín hữu Ê-phê-xô, thánh Phao-lô diễn tả rõ hơn “mầu nhiệm này”. “Mầu nhiệm này, là trong Đức Ki-tô Giê-su và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do-thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa.” Thánh Phao-lô vô cùng phấn khởi về sự mới mẻ này.

Việc lời hứa của Thiên Chúa không chỉ dành cho dân Ít-ra-en mà còn lan toả đến toàn thể thế giới, quả thật là một sự kiện vô cùng mới mẻ. Ngay từ đầu Thiên Chúa đã cho biết kế hoạch ân sủng của Người liên quan đến toàn thể các dân tộc. Người đã phán với ông Áp-ra-ham : “Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3). Nhưng những chỉ dẫn trong Cựu Ước vẫn còn bí mật, nên ít được chú ý và ý nghĩa cũng chưa rõ ràng, chính thánh Phao-lô hiểu rõ ý nghĩa sâu xa của các bản văn này là Mặc khải được gửi đến tất cả các dân tộc, một Mặc khải dẫn đưa tất cả mọi người hiệp thông thân mật với Thiên Chúa. Đó là một việc kỳ diệu khiến chúng ta cũng vui mừng nữa, vì chúng ta cũng được mời gọi thừa hưởng tất cả các lời hứa của Thiên Chúa : đó là đặc ân của dân Chúa chọn, dân Ít-ra-en, nhưng cũng được thông ban cho chúng ta một cách hết sức rộng rãi.

* Lễ Hiển Linh phải là dịp để chúng ta tạ ơn Chúa, một dịp làm mới lại tinh thần thừa sai nơi mỗi người chúng ta, vì chúng ta phải cộng tác với kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Chúng ta đã được ánh sáng Đức Ki-tô chạm đến, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều người chưa nhận được ân huệ này. Do đó chúng ta phải là nhân chứng đích thực của Thiên Chúa Tình Yêu, một vị Thiên Chúa muốn cứu độ tất cả mọi người vì yêu thương mọi người.

Chúng ta phải dùng cả cuộc đời chúng ta, tất cả mọi kinh nguyện của chúng ta, mọi khả năng của chúng ta để cộng tác vào kế hoạch ân sủng này của Thiên Chúa muốn hợp nhất tất cả mọi dân tộc trong Giáo Hội của Đức Ki-tô, để vinh quang của Người được rạng rỡ hơn.

Cầu nguyện :

Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con, chúng con cảm tạ Chúa đã thương mời gọi chúng con gia nhập đại gia đình Giáo Hội của Chúa. Xin Chúa luôn ban ơn nâng đỡ chúng con trong đời sống đức tin thường ngày.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có quan tâm đến việc làm chứng nhân cho Chúa là Cha giàu lòng thương xót bằng chính đời sống bác ái yêu thương của chúng ta chưa ?


C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Cả nhân loại được mời gọi

(Gérard Bessière, “Dieu si proche”, Desclée de Brouwer, 1992).

Thánh Mát-thêu viết một truyện kể uyên bác và giàu biểu tượng ám chỉ đến cả quá khứ lẫn tương lai. Ngài đã dệt nên những đề tài mà Tin Mừng của ngài đã khai triển.

Đây là hai ông vua : bạo chúa khát máu ở Giê-ru-sa-lem và trẻ thơ mới sinh ở Bê-lem. Vua Hê-rô-đê đã lầm khi lo sợ. Đức Giê-su đâu đến để tranh cướp quyền hành chính trị. Danh hiệu vương đế chỉ đến với Người trong cuộc Thương Khó. Đức Giê-su là Vua thực thụ, nhưng vượt xa những vương triều trần gian, trong thẳm sâu nơi người ta đón nhận hay chối từ Thiên Chúa. Truyện kể giúp ta hiểu điều đó. Vị vua bé bỏng ở Bê-lem sẽ bị bắt bớ, bởi những con người quyền lực, Người sẽ bị loại trừ.

Thánh Mát-thêu cũng muốn cho thấy Đức Giê-su làm ứng nghiệm các lời Kinh Thánh và những lời sấm xa xưa. Chính Người là Đấng Ít-ra-en mong đợi. Chính Người làm cho các thế kỷ chín muồi.

Các đại giáo trưởng, các luật sĩ đã có mặt, nhưng họ không đi Bê-lem. Sau này ta sẽ thấy họ đối mặt với Đức Giê-su. Rồi nhiều người trong bọn họ sẽ trở thành thù địch của Người. Chỉ có những người nước ngoài xa lạ đến phủ phục như ta làm trước mặt vua chúa hoặc trước mặt Thiên Chúa.

Như thế Đức Giê-su được dân ngoại nhìn nhận, trái lại các vị đại diện dân Người không nhìn nhận mà còn tìm cách diệt trừ Người. Thế là ứng nghiệm lời sấm của I-sai-a 60,3-6 mà các hình ảnh được sử dụng lại sau này : “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước … Lạc đà từng đàn che rợp đất … tất cả những người từ Sơ-va kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Đức Chúa.” Số mệnh phổ quát của Giê-ru-sa-lem, sẽ được Đức Giê-su thực hiện. Các thủ lãnh dân Người sẽ ra sức tiêu diệt Người, nhưng vương quốc của Thiên Chúa sẽ được ban cho cả nhân loại.

Còn những dân tộc, những thủ đô đang từ trên cao hướng về những Bê-lem nhỏ bé của các quốc gia khác. Lễ Hiển Linh cho thấy toàn thể nhân loại được Thiên Chúa mời gọi, và đối với Thiên Chúa, tất cả nhân loại chỉ là một gia đình. Cách nhìn này nằm trong ký ức Ki-tô giáo như một nắm men để xây dựng tương lai. Ta không thể đến gần Thiên Chúa mà không gặp gỡ các mục đồng và các đạo sĩ, nghĩa là, những con người xa lạ vì khiêm tốn. Họ là nhân loại của Thiên Chúa.

2. Lên đường

(Mgr. L. Daloz, “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer, 1994).

Họ từ đâu tới, các đạo sĩ đã khiến cả Giê-ru-sa-lem xôn xao lên ấy ? Họ lướt qua như ánh sao, những nhân vật kỳ bí mà người ta chỉ cho ta biết rằng họ đến từ Phương Đông và họ theo đường khác mà trở về quê quán. Họ loan báo những người mà Đức Giê-su tiên báo : Nhiều người sẽ từ Phương Đông, Phương Tây đến ngồi vào bàn tiệc cùng các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp trong Nước Thiên Chúa … (8,11). Hê-rô-đê dò hỏi các thượng tế, các luật sĩ nhưng không phải để đi đến thờ lạy trẻ sơ sinh. Ông chỉ nhìn thấy nơi con trẻ một địch thủ, một ông vua như mình, và ông tìm cách tiêu diệt Người.

Có những người tìm kiếm như các đạo sĩ, lên đường như ông Áp-ra-ham. Cũng có những người ngồi một chỗ như ông Hê-rô-đê. Muốn biết ư ? Ông đã có các chuyên viên. Muốn tiêu diệt đối phương ư ? Ông có cả ngàn quân lính dưới quyền. Thiên Chúa hướng dẫn những ai muốn tìm Người cách lạ lùng. Người trốn thoát khỏi những kẻ muốn tìm bắt. Người không hung hãn chống lại những kẻ muốn huỷ diệt Người. Người tự xoá mình đi và biến mất …

Người ở đâu, Đức Giê-su ẩn giấu của thời đại. Trong làng quê heo hút nào, trong gia đình nghèo khó nào có ánh sáng Thiên Chúa mời ta nhận ra Người ? “Ta đói, các ngươi đã cho ăn … Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,35-40). Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng có lời Kinh Thánh : Ta đã không bị cám dỗ dùng lời Kinh Thánh để át giọng kẻ quấy rầy ư ? Đức Giê-su đâu để cho ta đền bù. Nếu ta muốn nắm lấy Người để được an tâm, Người sẽ thoát khỏi tầm tay ta. Nếu ta chấp nhận lên đường kiếm tìm Người, ta sẽ như các nhà đạo sĩ, được đầy tràn niềm vui và tìm thấy Người. Truy tìm, thờ lạy, chiêm ngưỡng … với họ, lời sấm của ngôn sứ Mi-kha không là những con chữ nằm chết. Đọc kỹ Kinh Thánh thôi chưa đủ : còn phải để Kinh Thánh gợi hứng cho đời ta, để ta đem ra thực hành, để ta đặt mình dưới sự điều khiển của Kinh Thánh. Các luật sĩ và các thầy thượng tế biết lời sấm lắm chứ. Nhưng họ chỉ biết trưng dẫn mà thôi … Ông Hê-rô-đê thì dùng Kinh Thánh để tìm cách giết Hài Nhi … Còn các đạo sĩ, bản thân chẳng biết Kinh Thánh, chỉ được ông Hê-rô-đê chỉ dẫn, đã lên đường tìm kiếm Đức Giê-su và họ đã gặp Người. Suốt dọc chiều dài Tân Ước, ta thấy biểu lộ mầu nhiệm này : dân ngoại quay về với Đức Ki-tô, trong khi các bậc thầy thông luật chối từ Người … Ta cũng vậy, cũng có nguy cơ lặp lại Lời Chúa mà chẳng lên đường. Trong khi đó, biết bao người khác đã đến gặp Đức Giê-su dù chẳng biết lời Người ! Ta tự hào là những người hiểu biết, các thầy thông luật : vấn đề quan trọng là ta biết trở nên tôi tớ của Lời Chúa. Nếu ta để Lời Chúa hướng dẫn, hoạt động trong trái tim và cuộc đời ta, Lời Chúa sẽ dẫn đưa ta đến nơi bí mật ấy, nơi Đức Giê-su đang chờ đợi ta.