PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Đn 7,9-10.13-14
Áo người trắng như tuyết.
Bài trích sách ngôn sứ Đa-ni-en.
9 Tôi là Đa-ni-en, ban đêm trong một thị kiến,
tôi đang nhìn thì thấy đặt những chiếc ngai
và một Đấng Lão Thành an toạ.
Áo Người trắng như tuyết,
tóc trên đầu Người tựa lông chiên tinh tuyền.
Ngai của Người toàn là ngọn lửa,
bánh xe của ngai cũng rừng rực lửa hồng.
10 Từ trước nhan Người,
một sông lửa cuồn cuộn chảy ra.
Ngàn ngàn hầu hạ Người,
vạn vạn túc trực trước Thánh Nhan.
Toà bắt đầu xử, sổ sách được mở ra.
13 Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa :
có ai như một Con Người
đang ngự giá mây trời mà đến.
Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành
và được dẫn đưa tới trình diện.
14 Đấng Lão Thành trao cho Người
quyền thống trị, vinh quang và vương vị ;
muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ
đều phải phụng sự Người.
Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu,
không bao giờ mai một ;
vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 96,1-2.5-6.9 (Đ. c.1a và 9a)
Đ. Chúa là Vua hiển trị, là Đấng cao cả trên khắp địa cầu.
1 Chúa là Vua hiển trị, hỡi địa cầu, hãy nhảy mừng lên,
vui đi nào, ngàn muôn hải đảo !
2 Mây u ám bao phủ quanh Người,
bệ ngai rồng là chính trực công minh. Đ.
5 Núi tan chảy như sáp, khi diện kiến Thánh Nhan, vị Chúa Tể hoàn cầu.
6 Trời xanh tuyên bố Người là Đấng chính trực,
hết mọi dân được thấy vinh quang Người. Đ.
9 Chính bởi vì Ngài, muôn lạy Chúa, là Đấng cao cả trên khắp địa cầu,
Ngài trổi vượt chư thần hết thảy. Đ.
Bài đọc 2 : 2 Pr 1,16-19
Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra.
Bài trích thư thứ hai của thánh Phê-rô tông đồ.
16 Anh em thân mến, khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người. 17 Quả thế, Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến.” 18 Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người.
19 Như vậy chúng tôi lại càng thêm tin tưởng vào lời các ngôn sứ. Anh em chú tâm vào đó là phải, vì lời ấy như chiếc đèn tỏ rạng giữa chốn tối tăm, cho đến khi ngày bừng sáng và sao mai mọc lên soi chiếu tâm hồn anh em.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : Mt 17,5c
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng năm A: Mt 17,1-9
Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khiấy, Đức Giê-suđemcácông Phê-rô, Gia-cô-bêvà Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo. Người đưa các ông đi riêng với mình lên một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ thấy một mình Đức Giê-su mà thôi.
9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”
Đó là lời Chúa.
Tin Mừng năm B: Mc 9,2-10
Đây là Con Ta yêu dấu.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.
2 Khi ấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông. 3 Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy. 4 Và ba môn đệ thấy ông Ê-li-a cùng ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Đức Giê-su. 5 Bấy giờ, ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay ! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 6 Thật ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng. 7 Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng : “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.” 8 Các ông chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giê-su với các ông mà thôi.
9 Ở trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. 10 Các ông tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu “từ cõi chết sống lại” nghĩa là gì.
Đó là lời Chúa.
Tin Mừng năm C: Lc 9,28b-36
Đang lúc Đức Giê-su cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca.
28b Khi ấy, Đức Giê-su lên núi cầu nguyện đem theo các ông Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê. 29 Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà. 30 Và kìa, có hai nhân vật đàm đạo với Người, đó là ông Mô-sê và ông Ê-li-a. 31 Hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem. 32 Còn ông Phê-rô và đồng bạn thì ngủ mê mệt ; nhưng khi tỉnh hẳn, các ông nhìn thấy vinh quang của Đức Giê-su, và hai nhân vật đứng bên Người. 33 Đang lúc hai vị này từ biệt Đức Giê-su, ông Phê-rô thưa với Người rằng : “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay ! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” Ông không biết mình đang nói gì. 34 Ông còn đang nói, thì bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Khi thấy mình vào trong đám mây, các ông hoảng sợ. 35 Và từ đám mây có tiếng phán rằng : “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người !” 36 Tiếng phán vừa dứt, thì chỉ còn thấy một mình Đức Giê-su. Các môn đệ giữ kín chuyện này, và trong những ngày ấy, các ông không kể lại cho ai biết gì cả về những điều mình đã thấy.
Đó là lời Chúa.
CHIA SẺ LỜI CHÚA NĂM A
* Chúa Hiển Dung là một lễ mang đến cho chúng ta một niềm khích lệ lớn lao vì chúng ta được nhìn thấy vinh quang của Chúa, “được xác nhận bởi chứng từ của hai ông Mô-sê và Ê-li-a chân lý của các mầu nhiệm Đức Tin”, như lời nguyện nhập lễ đã nói lên. Quả thật, hai ông Mô-sê và Ê-li-a đã xuất hiện bên cạnh Chúa. Bài đọc 1 trình bày cho chúng ta một thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en nói về vinh quang của Con Người, vinh quang liên hệ mật thiết với biến cố Hiển Dung. Bài đọc 2, trích từ thư thứ hai của thánh Phê-rô nhắc lại cho chúng ta nhớ về mặc khải mà thánh Phê-rô đã nhận được là rất quan trọng, vừa cho niềm tin của thánh nhân, vừa cho niềm tin của chúng ta.
Bài Tin Mừng theo thánh Mát-thêu kể lại cho chúng ta câu chuyện Hiển Dung, xảy ra sau khi Đức Giê-su báo cho các môn đệ biết lần thứ nhất về cuộc Thương Khó của Người. Các môn đệ kinh hoàng vì lời loan báo nhiệm mầu và đáng sợ này, vì thế Đức Giê-su bày tỏ vinh quang của Người để củng cố niềm tin của các ông nhằm chuẩn bị cho mầu nhiệm Phục Sinh của Người. Việc Đức Giê-su Hiển Dung biểu lộ vinh quang của Người Con.
* Khi xuống thế làm người và ở cùng chúng ta, Ngôi Lời không mang dáng vẻ bề ngoài vinh hiển ; nhưng là sự tự hạ đến cùng, từ một vị Thiên Chúa, Người đã chọn làm một con người ; trong loài người, Người đã chọn làm thân nô lệ ; trong giới nô lệ, Người lại chọn cái chết thập giá hổ nhục, như thánh Phao-lô nói với chúng ta trong thư gửi tín hữu Phi-líp-phê. Nhưng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, có đầy đủ mọi vinh quang của Thiên Chúa. Sự vinh quang này được ngôn sứ Đa-ni-en mô tả trong bài đọc 1. Ông thấy Thiên Chúa ngự trên ngai vinh quang của Người, từ trước nhan Người, một dòng sông lửa cuồn cuộn chảy ra, và có hàng ngàn thiên sứ hầu hạ Người. Ở giữa khung cảnh huy hoàng vĩ đại này, một Con Người ngự giá mây trời mà đến, lãnh nhận quyền thống trị, vinh quang và vương vị. Muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một.
* Thị kiến của ngôn sứ Đa-ni-en báo trước vinh quang của Đức Ki-tô sau cuộc Thương Khó của Người. Tuy nhiên, biến cố Hiển Dung cho chúng ta thấy vinh quang Phục Sinh này là phù hợp với sự vinh quang đích thực của Người. Theo chiều hướng này, biến cố Hiển Dung giúp các Tông Đồ hiểu vinh quang Phục Sinh của Đức Giê-su và không chỉ giúp các ông vượt thắng xì-căng-đan của cuộc Thương Khó của Đức Giê-su, nhưng đồng thời cũng cho các ông hiểu biết về sự Phục Sinh của Người, mặc khải cho các ông về sự vinh quang của Con Thiên Chúa, mặc khải về thần tính của Người.
* Thánh Mát-thêu kể lại rằng Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an đi theo, ba tông đồ tin cẩn, những người hiện diện bên cạnh Đức Giê-su lúc Người làm phép lạ cho con gái ông Gia-ia sống lại (Mt 9,18-26) và là những chứng nhân thân cận nhất khi Đức Giê-su hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni (Mc 14,33). Người đưa các ông đi riêng với mình lên một ngọn núi cao. Ở đó, dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Chi tiết cuối cùng này được tất cả các Tin Mừng Nhất Lãm kể lại, trong khi Mát-thêu chỉ nói đến dung nhan sáng láng của Đức Giê-su. Chúng ta cũng có thể chiêm ngắm dung nhan của Đức Giê-su : một dung nhan vinh hiển đến nỗi chúng ta không dám nhìn thẳng vào một dung nhan rực rỡ như vậy. Trái lại chúng ta có thể suy gẫm về sự vinh quang lạ thường này. Đứng gần Đức Giê-su, có hai ông Mô-sê và Ê-li-a, tượng trưng cho Cựu Ước để nói lên rằng toàn thể Cựu Ước trở thành hiện thực trong mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giê-su. Mô-sê là người đã chuyển giao “Mười Điều Răn” và các lề luật cho dân Do-thái, còn ông Ê-li-a, vị đại ngôn sứ là người đã khiến cho lửa từ trời bừng cháy trên mặt đất trong cuộc đấu với các tư tế của thần Ba-an tại núi Các-men, hai ông đàm đạo với Đức Giê-su.
* Ông Phê-rô lúc nào cũng táo bạo và nhanh nhẹn đưa ra sáng kiến, ông thưa với Đức Giê-su : “Lạy Ngài, chúng con ở đây thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều một cho Ngài, một cho ông Mô-sê và một cho ông Ê-li-a.” Ông Phê-rô đang phấn khởi nên muốn kéo dài sự hiện diện của hai ông Mô-sê và Ê-li-a bên cạnh Đức Giê-su, bên cạnh chúng ta. Tuy nhiên, các ân sủng này không thể có lâu dài được, không thể kéo dài cả cuộc đời của chúng ta được : đây là những ơn đặc biệt soi sáng cuộc sống của chúng ta trong một trường hợp đặc biệt nào đó, một kinh nghiệm thật ngắn ngủi. Nhân lời đề nghị này của ông Phê-rô, chúng ta nghĩ đến biến cố Truyền Tin cho Đức Ma-ri-a. Cuối câu chuyện, Tin Mừng kể lại : “Rồi sứ thần từ biệt ra đi” (Lc 1,38). Vì thế, việc Truyền Tin là một ân sủng phi thường không thể kéo dài được. Biến cố đó xảy ra để soi sáng, chỉ dẫn một con đường, chứ không phải đặt con người vào trong vườn địa đàng. Mỗi ngày chúng ta phải sống trong đức tin, đôi lúc được Chúa ban cho những ơn đặc biệt, nhưng chúng ta đừng bao giờ tìm cách kéo dài những ân sủng này. Ông Phê-rô còn đang nói, thì có một đám mây sáng ngời bao phủ các ông và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.”
Trong bài đọc 2 trích từ thư thứ hai của thánh Phê-rô tông đồ, ngài nhắc lại câu chuyện rất ấn tượng này : “Chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người.” Quả thế, Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, vinh quang phát xuất từ Thiên Chúa, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến.” Những lời này của Chúa Cha gồm một mặc khải về Thần Tính của Đức Giê-su, đích thực là Con Thiên Chúa, nơi Người, Chúa Cha đã đặt trọn tình yêu. Ngoài ra là một quy chiếu về lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, trong đó Thiên Chúa giới thiệu “Tôi Trung của Người” (Is 42,1) cũng như hình ảnh thứ hai về Người Tôi Trung này là người phải chịu đựng tất cả mọi đau khổ để cứu chuộc nhân loại (Is 52,13–53,12). Tiếng nói thêm vào : “Hãy vâng nghe lời Người.” Ở đây chúng ta thấy sự ích lợi của biến cố Hiển Dung, là một mặc khải vinh quang của Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, không chỉ đem lại cho chúng ta đức tin mà còn giúp cho chúng ta sống trọn vẹn niềm tin đó nữa : ai đã thấy vinh quang của Đức Ki-tô thì phải vâng nghe lời Người, người đó không thể viện bất cứ lý do nào để từ chối không vâng nghe lời Đức Giê-su, Con vô cùng vinh quang của Thiên Chúa, khi Người nói với chúng ta, vì Người có quyền đòi chúng ta phải hoàn toàn vâng nghe lời Người.
* Chúng ta cần biết rằng việc sống theo đức tin, việc lắng nghe lời Chúa, cũng sẽ giúp chúng ta hướng đến vinh quang Thần linh, là con đường cần thiết để có thể bước vào vinh quang này. Chính Đức Giê-su cũng chỉ nhận được vinh quang của Người Con trong nhân tính của Người nhờ sự vâng phục Chúa Cha và đón nhận ý muốn của Người. “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.” “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 6,10 ; 26,42). Chúng ta cũng vậy, chúng ta chỉ có thể đạt được vinh quang, một cuộc sống trọn vẹn, khi chúng ta lắng nghe và bước theo Thiên Chúa làm người, đã trở nên một người đau khổ, chấp nhận mọi khổ đau và đón nhận thánh ý Cha trong tất cả mọi sự. Khi thị kiến trên núi cao chấm dứt, các Tông Đồ hết sức kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất, nhưng Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” Lúc đó các ông không thấy ai nữa, chỉ thấy một mình Đức Giê-su mà thôi. Thị kiến đã được ban cho không thể kéo dài, nhưng để lại một hiệu quả kéo dài suốt cả cuộc đời. Sau đó Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết sống lại.” Lý do của lệnh cấm này thật dễ hiểu : Đức Giê-su không muốn vinh quang Thần linh của Người được mặc khải cho đám đông biết trước cuộc Thương Khó của Người, vì dân chúng sẽ tôn Người làm vua trần thế, vua chính trị, trái với kế hoạch của Thiên Chúa. Đức Giê-su không hề muốn làm vua, một người vinh quang, nhưng luôn là Người Con luôn vâng theo ý Cha, đi đến cuộc Thương Khó để cứu độ tất cả mọi người. Vì thế, Đức Giê-su cấm các Tông Đồ nói cho dân chúng biết thị kiến ấy. Các môn đệ không thể nói về thị kiến đó sau cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su và lúc bấy giờ lại có thể trình bày tất cả vinh quang của con người đồng thời là Con Thiên Chúa : vinh quang của Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể làm người. Chúng ta hãy đón nhận mặc khải về việc Chúa Hiển Dung với một tâm tình con thảo. Mặc khải này rất hữu ích vì giúp chúng ta sống trọn vẹn niềm tin của mình và luôn vâng theo thánh ý Chúa Cha. Đó là con đường duy nhất để đạt được vinh quang vĩnh cửu.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con. Xin ban thêm đức tin cho chúng con trong cuộc lữ hành trần thế nhiều gian nan khốn khó này.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có luôn đặt trọn niềm tin vào Chúa là Cha nhân hậu từ bi không ?
CHIA SẺ LỜI CHÚA NĂM B
* Lễ Chúa Hiển Dung là một lễ đầy ánh sáng đem lại cho tâm hồn chúng ta một niềm vui to lớn. Phụng vụ mời chúng ta đọc trong chu kỳ ba năm hai bài đọc 1 và 2 giống nhau ; một trích từ sách ngôn sứ Đa-ni-en, một trích từ thư thứ 2 của thánh Phê-rô. Trái lại, bài Tin Mừng thay đổi từng năm, năm nay, năm B, chúng ta đọc Tin Mừng Mác-cô.
* Đoạn sách Đa-ni-en nói với chúng ta về sự xuất hiện trên đám mây từ trời cao ai đó giống như một “Con Người” mà Thiên Chúa, tức Đấng Lão Thành trao cho quyền thống trị, vinh quang và vương vị. Lời sấm này hoàn tất trong vinh quang của Đức Giê-su. Trong thánh lễ này, việc Hiển Dung của Đức Giê-su báo trước vinh quang của Người. Tuy nhiên, Đức Giê-su không nhận, trong cuộc Hiển Dung, quyền năng của Cha và quyền hành trên các dân tộc. Cuộc Hiển Dung không phải là một sự vinh quang cuối cùng của Đức Giê-su, nhưng là sự mặc khải vinh quang của Người Con, một mặc khải báo trước vinh quang của Đức Giê-su Ki-tô sau này.
* Trong khi sứ vụ của Đức Giê-su gặp vô vàn khó khăn, Người phải đối diện với những chống đối, từ chối và đe doạ, Đức Giê-su đem theo Người các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an. Người báo trước về cuộc Thương Khó và Phục Sinh của mình cho các Tông Đồ đang hoàn toàn hoang mang : Các ông không hề chờ đợi một Đấng Mê-si-a bị sỉ nhục, bị xử tội và bị ruồng bỏ. Bây giờ Đức Giê-su hướng dẫn các Tông Đồ lên một ngọn núi cao, nơi đó Người đã biến đổi hình dạng trước mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy.
Vẻ huy hoàng rực rỡ này không thuộc lãnh vực trần thế, nhưng thuộc lãnh vực siêu nhiên. Sau đó ông Ê-li-a và ông Mô-sê xuất hiện để đàm đạo với Đức Giê-su. Ở đây chúng ta có một biểu lộ đầy ấn tượng vinh quang của Đức Giê-su, cũng như mặc khải mối liên hệ với Lề Luật và các ngôn sứ, với ông Mô-sê là người đã lãnh nhận Lề Luật của Chúa trên núi Xi-nai, và ông Ê-li-a, vị đại ngôn sứ của Cựu Ước. Ông Phê-rô kinh hoàng và chỉ biết nói. Vốn là một con người nhanh nhẹn và năng động, ông đề nghị dựng ba cái lều : một cho Đức Giê-su, một cho ông Mô-sê và một cho ông Ê-li-a. Ông cũng kinh hãi như hai tông đồ kia. Tuy nhiên, thay cho ba cái lều, có một đám mây từ trời bao phủ các ông. Trong Cựu Ước, mây cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính từ đám mây có tiếng phán rằng : “Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người.” Cảnh tượng kết thúc ngay lập tức và các môn đệ không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su với các ông mà thôi. Người ra lệnh cho các ông không được nói với ai về những điều vừa thấy trước khi Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu “từ cõi chết sống lại” nghĩa là gì ?
* Biến cố Hiển Dung là một sự kiện rất quan trọng vì liên hệ mật thiết với sự Phục Sinh của Đức Giê-su. Một số nhà chú giải cho rằng biến cố Hiển Dung được ban cho vài Tông Đồ nhằm giúp các ông khỏi vấp phạm vì xì-căng-đan Thương Khó và việc Đức Giê-su bị đóng đinh trên thập giá. Điều này không hoàn toàn chính xác vì biến cố Hiển Dung không giúp các ông vượt qua xì-căng-đan này. Trong cuộc Thương Khó, các ông chẳng nghĩ gì đến việc Chúa Hiển Dung và hoàn toàn bị các biến cố đau thương và sỉ nhục chi phối. Các ông đã bỏ rơi Thầy của mình. Ông Phê-rô chối Chúa ba lần. Biến cố Hiển Dung có một mối liên hệ mật thiết với mầu nhiệm Phục Sinh. Biến cố này biểu lộ trước vinh quang Thần linh của Đức Giê-su và cho chúng ta hiểu rằng Đức Giê-su đã có vinh quang này trước khi Phục Sinh. Mầu nhiệm Phục Sinh không phải là việc Chúa nhận làm nghĩa tử, một người đơn giản như người ta có thể nghĩ vậy khi đọc vội vã đoạn thư Híp-ri vào lễ Phục Sinh. Thiên Chúa nói với Đức Giê-su : “Con là Con của Cha, ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Hr 1,5). Trong thực tế, biến cố Hiển Dung chứng tỏ Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, được sinh ra rất lâu trước khi được Phục Sinh. Tất cả những điều này rất quan trọng để giúp ta hiểu vinh quang Phục Sinh của Đức Giê-su. Như Tin Mừng Gio-an nói : sự Phục Sinh của Đức Giê-su là tái lập lại vinh quang Người đã có, được hưởng bên Cha trước khi có thế gian (Ga 17,5). Như vậy, biến cố Hiển Dung giúp chúng ta hiểu đúng sự Phục Sinh, đồng thời ban cho các Tông Đồ một thị kiến mà Đức Giê-su Phục Sinh sẽ không ban cho các ông nữa. Chỉ có ông Phao-lô là không được chứng kiến (Cv 9,1-6). Các Tông Đồ khác sẽ chỉ thấy Người tỏ mình ra cách khiêm tốn để chứng tỏ rằng chính Người trở về từ cõi chết. Vì thế Phục Sinh là một sự thể hiện sáng chói, huy hoàng và ấn tượng, chứng tỏ vinh quang Thần linh của Đức Giê-su và biến cố Hiển Dung là việc báo trước cho các môn đệ. Biến cố Hiển Dung đáp ứng ước muốn của con người muốn nhìn thấy Thiên Chúa. Trong tâm hồn của con người, có một ước muốn sâu xa được chiêm ngắm Chúa của mình. Chúng ta biết rằng vẻ đẹp của Người là tuyệt mỹ, vì thế chúng ta lúc nào cũng mong ước được chiêm ngưỡng Người. Trong câu chuyện Thiên Chúa mặc khải trên núi Xi-nai, ông Mô-sê bày tỏ nguyện vọng sâu xa này khi xin Thiên Chúa : “Xin Ngài thương cho con được thấy vinh quang của Ngài.” Người phán : “Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là Đức Chúa trước mặt ngươi. Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót.” Người phán : “Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống” (Xh 33,18-20). Một người không thể thấy Thiên Chúa. Vì thế, Đức Chúa cho phép ông Mô-sê không phải thấy tôn nhan Người, nhưng thấy Người đi qua : “Người đi qua trước mặt ông Mô-sê và xưng danh ‘Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Lúc ấy ông Mô-sê vội vàng phục xuống đất thờ lạy để không nhìn thấy Người, và nhận Lề Luật của Thiên Chúa, Mười điều răn Đức Chúa Trời. Vì vậy trong câu chuyện này của Cựu Ước liên quan đến ông Mô-sê, có một sự mặc khải thật sự của Thiên Chúa và một sự hiệp thông với thánh ý Người. Cũng có một sự tương tự trong trường hợp của ông Ê-li-a. Trong lúc cực kỳ nguy cấp, khi bà hoàng hậu I-dê-ven tìm giết ông, ông đã đi đến núi Khô-rếp, nơi đó ông nhận được một mặc khải của Thiên Chúa (1 V 19,9-18). Ở đó ông cũng không được phép thấy tôn nhan Đức Chúa nhưng chỉ thấy Người đi qua, rất khác với trường hợp của ông Mô-sê trên núi Xi-nai, Thiên Chúa tỏ mình ra trong tiếng thì thầm của cơn gió nhẹ và cho ông Ê-li-a biết ý muốn của Người là giao cho ông một sứ mạng phải hoàn thành. Trong biến cố Hiển Dung, Thiên Chúa tỏ mình ra trên dung mạo nhân loại của Đức Giê-su. Đối với chúng ta, không chỉ đơn giản là việc Thiên Chúa đi qua, nhưng từ nay về sau, chúng ta có thể chiêm ngắm và thán phục vẻ đẹp rực rỡ của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa. Tiếng nói từ đám mây : “Đây là Con Ta yêu dấu.” Trong câu chuyện này, chúng ta được mặc khải về tử hệ thần linh của Đức Giê-su, một tử hệ vĩnh cửu vì Thiên Chúa luôn yêu thương Con của Người, đồng thời chúng ta cũng được biết thánh ý của Chúa, tóm tắt trong một lời : “Hãy vâng nghe lời người.” Trên núi Xi-nai, ông Mô-sê nhận được Lề Luật ghi trên hai tấm bia đá. Đó là một Lề Luật nghiêm khắc buộc phải tuân giữ. Một Lề Luật chính đáng nhưng không thay đổi được lòng dạ con người. Đàng khác Cựu Ước kể cho ta nghe dân chúng liên tục vi phạm Lề Luật của Chúa.
* Ở đây, trong biến cố Hiển Dung, thay cho hai bia đá Lề Luật, chúng ta có một con người : Đức Ki-tô, Con yêu dấu của Chúa Cha. Việc chiêm ngắm vẻ huy hoàng của Người giúp chúng ta biết sẵn sàng và khiêm tốn, lắng nghe Người, tiếng của Đức Chúa Cha : “Hãy vâng nghe lời Người.” Đó là luật mới, không phải là hai bia đá Lề Luật nữa nhưng là một con người thật. Người luôn muốn điều tốt lành cho chúng ta và hy sinh mạng sống vì chúng ta. Chúng ta hãy luôn vâng nghe lời Người vì Người luôn yêu thương chúng ta.
Trong bài đọc 2, thánh Phê-rô cho chúng ta hiểu rằng biến cố Hiển Dung có một ý nghĩa như thế nào đối với ngài. Ngài nói : “Khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người.” Thánh Phê-rô xác nhận ngay trước cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su : “Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người : ‘Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến.’ Tiếng đó chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người.”
* Chúng ta không được lên núi thánh với Đức Giê-su, nhưng chúng ta có thể xin Người ban cho chúng ta ơn soi sáng nội tâm. Chúng ta cũng có thể nhận biết một số dung mạo của Chúa qua bàn tay tài hoa của các hoạ sĩ nổi tiếng giúp chúng ta chiêm ngắm vinh quang của Người. Khăn liệm thánh đặc biệt giúp chúng ta việc này vì sau những đau khổ Chúa phải chịu trong cuộc Thương Khó, Người vẫn giữ một phẩm giá phi thường, một vẻ uy nghi tuyệt vời và đó chính là vinh quang của Người. Đàng khác, dung mạo của Đức Giê-su trong cuộc Thương Khó, mặc khải cho chúng ta tình yêu bao la của người khi đón nhận cái chết hổ nhục trên thập giá vì yêu thương chúng ta và để cứu độ chúng ta, và đó là cuộc Hiển Dung tuyệt vời nhất.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin cho tình yêu tự hiến của Chúa luôn soi sáng, hướng dẫn mọi suy nghĩ, lời nói và việc làm của chúng con trong cuộc sống thường ngày.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có tâm tình nào đối với việc Chúa Hiển Dung ?
CHIA SẺ LỜI CHÚA NĂM C
* Phụng vụ lễ Chúa Hiển Dung năm nay đề nghị chúng ta đọc Tin Mừng Lu-ca sau khi đã nghe một lời sấm của ngôn sứ Đa-ni-en ghi nhận sự xuất hiện của Thiên Chúa và Con Người. Tiếp đến một đoạn thư thứ hai của thánh Phê-rô nhắc cho ta nhớ biến cố này thật là quan trọng vì khích lệ cho các môn đệ rất nhiều.
Biến cố Hiển Dung xảy ra vào một thời điểm đặc biệt quan trọng của Tin Mừng. Đức Giê-su không được chấp nhận. Ông Phê-rô nhận ra Người là Đấng Mê-si-a, là Con Thiên Chúa, nhưng lúc ấy, Đức Giê-su lại báo trước về cuộc Thương Khó của Người và ông Phê-rô có một phản ứng không phù hợp. Đức Giê-su quở trách ông nặng lời. Chính trong bối cảnh nhạy cảm này, Đức Giê-su đem theo Người ba ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an. Cùng với ba Tông Đồ tín cẩn này, Người lên núi và bắt đầu cầu nguyện. Trước mỗi hoàn cảnh khó khăn, trước mỗi biến cố đau khổ, cần phải cầu nguyện, cầu nguyện liên tục. Trong khi Đức Giê-su cầu nguyện, dung mạo Người thay đổi, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà. Biến cố Hiển Dung cho ta thấy mối liên hệ mật thiết giữa Đức Giê-su và Chúa Cha. Thư Híp-ri nói rằng Đức Ki-tô là “Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa” (Hr 1,3). Bản thể thật sự của Người trở nên hữu hình cho ba Tông Đồ được nhìn thấy. Đồng thời hai nhân vật nồng cốt của Cựu Ước xuất hiện rạng ngời vinh hiển : đó là ông Mô-sê và ông Ê-li-a. Trong cuộc Xuất hành, ông Mô-sê đã lên núi. Ông đã chứng kiến một mặc khải và đã lãnh nhận Lề Luật. Lúc ấy ông ước ao được nhìn thấy tôn nhan Đức Chúa, vinh quang của Người nhưng Đức Chúa trả lời là không được phép. Ông chỉ có thể nhìn thấy lưng của Người lúc ấy, ông Mô-sê nhìn thấy Đức Chúa cách gián tiếp và Người mặc khải cho ông cách ấn tượng Đức Chúa đi qua trước mặt ông và nói : “Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Chính vào dịp này mà Thiên Chúa đã ban Lề Luật để hướng dẫn dân Ít-ra-en đi trên đường ngay nẻo chính.
Ông Ê-li-a cũng đã lên núi vào một thời điểm bi đát trong cuộc đời ông. Bà hoàng hậu I-dê-ven tìm cách giết ông, lúc ấy vị ngôn sứ đi lên núi Khô-rếp nơi đó ông đã nhận được một mặc khải hoàn toàn khác với mặc khải ông Mô-sê nhận được trên núi Xi-nai. Thiên Chúa không xuất hiện trong bão tố, động đất hay lửa. Người đã nói trong tiếng thì thầm của một cơn gió nhẹ (1 V 19,9-12), vào dịp đó, Chúa trao cho ông ba sứ vụ (1 V 19,15-18). Tuy nhiên trên núi Chúa Hiển Dung, các Tông Đồ không muốn nhìn thấy lưng của Thiên Chúa, các ông nhìn thấy Thiên Chúa trên một dung mạo, trên gương mặt của Đức Giê-su. Gương mặt sáng ngời của Người tỏ cho biết Chúa Cha, bày tỏ sự vinh quang sâu xa của Người. Đồng thời các Tông Đồ cũng nhận luật dành riêng cho các ông. Đám mây bao phủ các ông chứng tỏ quyền năng Thần Linh của Thiên Chúa, và từ đám mây có tiếng phán rằng : “Đây là Con Ta, Người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người.” Luật mới dành cho các Tông Đồ được tóm tắt trong một chữ : “Hãy vâng nghe lời Người.” Luật mới không được khắc ghi trên đá, nhưng là một con người mà các ông phải lắng nghe và bước theo, một con người có lòng quảng đại vô biên, lòng thương xót của Thiên Chúa biểu lộ trong đời sống của Đức Giê-su cách hoàn toàn mới mẻ, không thể so sánh được.
Biến cố Hiển Dung chuẩn bị cho các Tông Đồ đối diện với thảm kịch Thương Khó của Đức Giê-su, khi Người sẽ bị hạ nhục, bị tố cáo, bị kết án và cuối cùng là bị đóng đinh thập giá. Ngoài ra, biến cố Hiển Dung chuẩn bị cho các ông có thể hiểu chính xác mầu nhiệm Phục Sinh. Vì trong thực tế có nhiều cách giải thích khác nhau. Người ta có thể nghĩ rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa theo kiểu người ta nói về các vua Ít-ra-en, nghĩa là một người thuộc về Thiên Chúa, lúc đó sự phục sinh chỉ là vinh quang của một người phàm. Đối với Đức Giê-su, sự Phục Sinh là việc Người trở lại vinh quang Người đã có trước khi Người Nhập Thể trong lòng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Điều này Tin Mừng Gio-an nói rất rõ. Như vậy biến cố Hiển Dung có một vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đời của Đức Giê-su và của các Tông Đồ. Nhưng biến cố Hiển Dung cho ta thấy Đức Giê-su không chỉ là một người phàm, Người là Con duy nhất của Thiên Chúa, Người được Thiên Chúa tuyển chọn.
Bài đọc 1 đặt song song biến cố Hiển Dung và thị kiến mà ngôn sứ Đa-ni-en đã có về Thiên Chúa. “Áo Người trắng như tuyết, tóc trên đầu Người tựa long chim tinh tuyền ; ngai của Người toàn là ngọn lửa, bánh xe của ngai cũng hừng hựng lửa hồng.” Hơn nữa từ thị kiến này về chính Thiên Chúa, vị ngôn sứ thấy “có ai như một Con Người ngự giá mây trời mà đến”. Mà trong Tin Mừng, Đức Giê-su nói rằng : “Ngài là Con Người”. Sách Đa-ni-en nói rõ là Con Người nhận “quyền thống trị, vinh quang và vương vị ; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người”. Điều chúng ta thấy ở đây, đó là quyền năng Đức Giê-su nhận được sau khi Người sống lại từ cõi chết.
Bài đọc 2 trích từ thư thứ hai của thánh Phê-rô không nói trực tiếp về biến cố Hiển Dung nữa nhưng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của mặc khải này. Thánh nhân viết : “Để giúp cho anh biết về quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người.” Thánh Phê-rô nhớ lại rằng ngài đã được mặc khải khi Đức Giê-su lãnh nhận vinh quang và danh dự, khi có tiếng Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến.” Thánh Phê-rô mời gọi chúng ta củng cố đức tin và hiểu lời ngôn sứ dưới ánh sáng của biến cố Hiển Dung, để có thể dấn thân theo Người đến cùng đời sống Ki-tô hữu được chiếu sáng bởi ánh huy hoàng của Đức Ki-tô Hiển Dung. Cuộc đời chúng ta phải phản ánh vinh quang của Đức Ki-tô, Đấng đã yêu chúng ta đến cùng.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, xin cho mầu nhiệm Hiển Dung luôn chiếu soi cuộc đời chúng con, để chúng con luôn bước đi trong chính lộ.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có vâng nghe lời Chúa Giê-su không ?
