Trong bài chia sẻ về những năm đầu đời sống hôn nhân, Giáo sư María Marcela Mazzini cho rằng Bí tích Hôn phối không chỉ là một biến cố đã diễn ra trong quá khứ. Ân sủng của bí tích cần tiếp tục triển nở trong đời sống thường ngày. Điều đã được cử hành trước bàn thờ phải thành hình trong căn bếp, trong việc chăm sóc con cái, những lo toan tài chính, những cuộc tranh cãi và những lần hòa giải.

Bởi sống đời vợ chồng không đơn giản là hai người cùng chung một mái nhà. Mỗi người bước vào hôn nhân với những khác biệt, thói quen, kỳ vọng và cả những tổn thương riêng. Chính khi đối diện với thực tế ấy, đôi vợ chồng bắt đầu học cách đón nhận người kia như họ thực sự là, chứ không phải như hình ảnh mình từng tưởng tượng.

Tác giả nhắc nhở rằng hiệp nhất không có nghĩa là xóa bỏ những khác biệt; thuộc về nhau không có nghĩa là chiếm hữu nhau. Tình yêu vợ chồng cần được nuôi dưỡng bằng sự tôn trọng, chia sẻ trách nhiệm, tha thứ và không ngừng làm mới sự hiệp thông. Vì thế, những năm đầu hôn nhân là thời gian đặc biệt quan trọng. Các đôi vợ chồng trẻ không chỉ cần được chuẩn bị trước ngày cưới, mà còn cần được Giáo hội và những gia đình có kinh nghiệm tiếp tục đồng hành, nâng đỡ.

Như Giáo sư María Marcela Mazzini kết luận, nghệ thuật thiêng liêng của việc làm vợ, làm chồng là điều người ta bắt đầu học trong những năm đầu hôn nhân, nhưng không bao giờ học xong một lần là đủ.

Sau đây là toàn văn bản dịch Việt ngữ bài chia sẻ “Khai tâm vào mầu nhiệm của mối dây liên kết bí tích – Học nghệ thuật thiêng liêng của việc làm vợ, làm chồng” của Giáo sư María Marcela Mazzini trong cuộc gặp gỡ “Mười năm sau Amoris laetitia” diễn ra tại Vatican từ ngày 07-14/10/2026.

________________

Đời sống vợ chồng. Những năm đầu hôn nhân: thời gian mang tính quyết định

Lắng nghe và đồng hành với các đôi vợ chồng trong những năm đầu hôn nhân và ở mọi giai đoạn cuộc đời

Thứ Bảy, ngày 10 tháng 10 năm 2026

Giáo sư María Marcela Mazzini

 

Khai tâm vào mầu nhiệm của mối dây liên kết bí tích

Học nghệ thuật thiêng liêng của việc làm vợ, làm chồng


Kính thưa Đức Thánh Cha, quý Đức Hồng y, quý Đức Giám mục,
Anh chị em thân mến,

Tôi muốn bắt đầu suy tư của mình bằng một câu hỏi đơn giản, nhưng có ý nghĩa then chốt đối với thần học và mục vụ hôn nhân: điều gì thực sự xảy ra sau lễ cưới? Hai người đã ưng thuận kết hôn, cử hành bí tích và nói với nhau: “Tôi nhận…”. Thế nhưng, chính lúc ấy, tiến trình lâu dài và kiên nhẫn để thực sự đón nhận người kia mới bắt đầu: bước chuyển không bao giờ kết thúc từ “tôi” và “bạn” sang “chúng ta”. Tôi đề nghị nhìn những năm đầu hôn nhân như một cuộc khai tâm thực sự vào mầu nhiệm của bí tích đã được cử hành.

Giáo hội sơ khai gọi việc từng bước đi vào một mầu nhiệm đã được lãnh nhận qua bí tích là khai tâm mầu nhiệm: điều đã được cử hành là chân thực và hữu hiệu, nhưng cần được hiểu từ bên trong và trở thành một thực tại sống động. Điều tương tự cũng xảy ra trong hôn nhân. Sự ưng thuận khởi đầu một mối dây liên kết thực sự, một communio personarum – sự hiệp thông giữa các ngôi vị – được mời gọi từng bước đón nhận sự thật của chính mình: chuyển từ sacramentum celebratum – bí tích đã được cử hành – sang sacramentum vivendum – bí tích cần được sống – mà không tách rời hồng ân khỏi nhiệm vụ, cũng không tách rời ân sủng khỏi tự do. Amoris laetitia diễn tả rõ điều này: qua lời “xin vâng”, đôi vợ chồng “bắt đầu một hành trình”, và hôn nhân không thể được hiểu như “một điều xảy ra một lần là xong” (AL 218).[1]

Theo chương 5 Thư Êphêsô, hôn nhân tham dự vào mysterion – mầu nhiệm – tình yêu giữa Đức Kitô và Hội thánh, để sự thuộc về nhau của đôi vợ chồng được mời gọi biểu lộ một tình yêu trung tín, hoà hợp thân xác, sinh hoa trái và mang tính Vượt Qua.[2] Bí tích không chỉ là một điều thuộc quá khứ, giới hạn trong ngày cưới: ân sủng đã lãnh nhận phải được triển nở trong đời sống vợ chồng. Vì thế, những năm đầu mang tính khai tâm mầu nhiệm: điều đã được cử hành trước bàn thờ phải thành hình trong căn bếp, trong phòng ngủ, trong nước mắt của một đứa trẻ, trong tài khoản ngân hàng, trong một cuộc tranh cãi và trong một lần hòa giải. Mầu nhiệm trở thành một phần của đời sống thường ngày, và đời sống thường ngày có thể trở thành nơi mầu nhiệm được tỏ lộ.

1. Thực tế lên tiếng

Hãy lắng nghe kinh nghiệm: những năm đầu đòi hỏi phải tổ chức lại việc tài chính, công việc, nội trợ, tương quan với gia đình hai bên, đời sống tính dục và, thường là, việc đón con cái chào đời. Mức độ hài lòng trong hôn nhân có thể giảm, dù sự suy giảm ấy không phải là điều tất yếu. Bốn lĩnh vực khủng hoảng chính cho thấy chiều kích Vượt qua trong đời thường.

Thứ nhất, giao tiếp và giải quyết xung đột: sự chỉ trích, thái độ phòng vệ, việc thu mình về cảm xúc hoặc khó hàn gắn làm xói mòn cảm giác an toàn trong mối dây liên kết. Đây là một tương quan hai chiều, bởi giao tiếp kém làm suy yếu hôn nhân, và mối dây liên kết suy yếu lại khiến giao tiếp trở nên khó khăn.[3] Thứ hai, việc tổ chức đời sống chung – việc nhà, việc chăm sóc và gánh nặng tinh thần – nơi đôi vợ chồng tranh luận không chỉ về việc ai làm gì, mà còn về ý nghĩa của sự phân công ấy đối với việc nhìn nhận nhau, tính tương hỗ và sự công bằng.[4] Thứ ba, tài chính và những dự định của cuộc sống: các ưu tiên, nhà ở, công việc và kế hoạch tương lai. Thứ tư, tính dục và sự thân mật, nơi những khác biệt về ham muốn, sự mệt mỏi, khả năng sinh sản và cách biểu lộ tình cảm đan xen với chất lượng chung của mối dây liên kết.[5]

Những khủng hoảng này tạo thành một hệ thống: áp lực kinh tế làm tăng gánh nặng; gánh nặng gây ra mệt mỏi và oán giận; oán giận làm suy yếu giao tiếp và sự thân mật. Điều quan trọng không phải là không có xung đột, mà là khả năng cùng nhau hành động, nhìn nhận những nỗ lực của người kia và hàn gắn mối dây liên kết: một hành trình Vượt qua của việc chết đi và phục sinh mỗi ngày. Ở đây, thực tế dẫn chúng ta đến câu hỏi thần học căn bản: điều gì đang bị đặt vào thử thách? Theo tôi, đó là khả năng chuyển từ “tôi” và “bạn” sang “chúng ta”.

2. “Chúng ta” của đời sống vợ chồng: hồng ân và nhiệm vụ

“Chúng ta” không tự động hình thành chỉ vì hai người yêu nhau; cũng không phải là tổng của hai cá nhân hay sự hòa nhập làm một, nhưng là hai nền văn hóa gia đình làm nảy sinh một nền văn hóa thứ ba, mới mẻ và độc đáo. Sự hiệp thông đích thực hiện hữu ở nơi tính khác biệt vẫn được giữ lại: chúng ta là một mà vẫn là hai; câu chuyện của chúng ta trở thành câu chuyện chung, nhưng mầu nhiệm của người kia vẫn vượt quá tôi.[6]

Sự ưng thuận này không chỉ làm phát sinh những nghĩa vụ: nó tạo nên một mối dây liên kết bao gồm ký ức, tổn thương, những lần hòa giải và sự phong nhiêu. Gia đình là một mạng lưới các mối dây liên kết định hình căn tính và trao truyền lịch sử qua các thế hệ.[7] Cụm từ “một xương một thịt” diễn tả một giao ước mang tính thân xác và lịch sử, trong đó đôi vợ chồng được trao ban một thời gian chung: ký ức, lời hứa và sự mở ra với tương lai để sinh hoa trái.[8]

Ghi chú tín lý Una caro đề cập đến sự thuộc về nhau phát sinh từ sự ưng thuận này, đồng thời làm rõ rằng thuộc về không có nghĩa là chiếm hữu. Mỗi người trao ban chính mình và đón nhận người kia như một chủ thể không thể bị giản lược. Những năm đầu mang tính quyết định, bởi chính lúc ấy đôi vợ chồng khám phá rằng “chúng ta”, đã được khởi đầu qua bí tích, phải trở nên cụ thể bằng những hành vi yêu thương.[9]

Mỗi người bước vào hôn nhân với hoàn cảnh xuất thân, những thương tích và cách thức riêng để yêu thương và để mình được yêu thương. Đời sống thường ngày làm lộ ra những khác biệt trước đó còn ẩn khuất, và người kia trong thực tế không giống với người kia trong tưởng tượng. Điều này có thể được trải nghiệm như một nỗi thất vọng, nhưng cũng có thể là khởi đầu đích thực của tình yêu: tôi được trao một kinh nghiệm thiêng liêng là yêu thương điều mình không thể chiếm hữu. “Tôi đón nhận bạn” có nghĩa là đón nhận một người mà tôi không tạo ra, cũng không thể làm lại theo hình ảnh của mình. Vì thế, đằng sau biết bao xung đột là một câu hỏi sâu xa hơn: có chỗ cho tôi và cho bạn trong “chúng ta” của chúng mình không? Điều này buộc chúng ta phải nói rõ rằng sự hiệp thông Kitô giáo không bao giờ có thể bị nhầm lẫn với sự thống trị, lạm dụng hoặc hy sinh một chiều.

Vì thế, một cuộc khủng hoảng không nhất thiết có nghĩa là mối dây liên kết đã biến mất. Nhiều khi, chính một cách sống cụ thể của “chúng ta” đang rơi vào khủng hoảng. Việc một đứa trẻ chào đời, tình trạng vô sinh, di cư, bệnh tật hoặc chăm sóc cha mẹ cao tuổi đều đòi hỏi phải sắp xếp lại các nhiệm vụ, kỳ vọng và tài sản. Đây là những bước chuyển mà Amoris laetitia và Các hành trình đào luyện cho đời sống hôn nhân mời gọi chúng ta đặc biệt lưu tâm.[10] Trong mỗi bước chuyển ấy, câu hỏi lại trở về: giờ đây chúng ta là ai, và chúng ta được mời gọi yêu thương nhau như thế nào trong hoàn cảnh mới này? Trung tín là khả năng tái tạo sự hiệp thông qua những biến đổi ấy. “Mỗi cuộc khủng hoảng đều có một bài học để dạy chúng ta; chúng ta cần học cách lắng nghe bài học ấy bằng đôi tai của trái tim” (AL 232).

3. Mối dây liên kết như một không gian thần học

Như thế, chúng ta đi đến cốt lõi bí tích đã được đề cập. Nếu mối dây liên kết mang tính bí tích, thì đời sống thường ngày trở thành một không gian thần học: khó khăn trong việc tha thứ, bắt đầu một cuộc trò chuyện mới, tìm lại sự dịu dàng, chăm sóc thân thể đau yếu, quyết định tìm kiếm sự giúp đỡ, tính dục như ngôn ngữ của sự trao ban, và việc phân chia công bằng trách nhiệm chăm sóc. Đức Phanxicô nói đến một linh đạo hôn nhân được dệt nên từ “hàng ngàn cử chỉ nhỏ bé nhưng có thật” (AL 315). Ân sủng không thay thế chiều kích nhân bản của tình yêu, nhưng cư ngụ trong đó.

4. Đồng hành với mối dây liên kết và học hỏi từ các gia đình

Vậy, đồng hành với đôi vợ chồng trong những năm đầu hôn nhân có nghĩa là gì? Trước hết, đó là nhìn nhận rằng chúng ta không chỉ đồng hành với hai cá nhân riêng lẻ, mà còn với một mối dây liên kết đang hình thành: một “chúng ta” vẫn còn mong manh nhưng đầy những khả năng. Các hành trình đào luyện kêu gọi việc đồng hành liên tục sau khi cử hành bí tích và mô tả những năm đầu như một thời gian giáo lý khai tâm mầu nhiệm.[11] Nhưng việc giáo lý này đặt ra một câu hỏi: ai là người thích hợp nhất để đảm nhận tác vụ này? Đó là những người đang sống bí tích: các đôi vợ chồng thuộc nhiều độ tuổi và có thời gian sống đời hôn nhân khác nhau, những người cảm nghiệm niềm vui của hình thức sống đời Kitô hữu này. Không nhất thiết là những người thánh thiện nhất, nhưng là những người từ lâu đã biết nhìn nhận các giới hạn và thương tổn của mình mà vẫn tìm thấy sự thành toàn trong bí tích. Tôi xác tín rằng, xét đến sự nhạy cảm của con người đương đại, một trong những lý do khiến số cuộc hôn nhân giảm là người trẻ không nhìn thấy nhiều gương đôi vợ chồng hạnh phúc giữa chúng ta.

Đức Lêô XIV nhắc nhở chúng ta rằng, khi đối diện với những câu hỏi khó khăn của các gia đình, vấn đề không phải là đưa ra những câu trả lời vội vàng, mà là đến gần và cùng với chính những người ấy tìm hiểu cách đối diện với khó khăn của họ. Nếu Thiên Chúa hoạt động trong những câu chuyện đời sống cụ thể của họ, thì việc lắng nghe mục vụ là một phần của việc phân định ân sủng.[12] Vì thế, chúng ta nên tự hỏi mục vụ gia đình có thể lắng nghe và học hỏi từ kinh nghiệm này qua những phương thức cụ thể nào.

Ở đây, tôi muốn đảo chiều câu hỏi. Mười năm sau Amoris laetitia, chỉ tự hỏi Giáo hội có thể làm gì cho các gia đình là chưa đủ. Việc đón nhận tông huấn theo tinh thần hiệp hành đích thực còn đòi hỏi chúng ta tự hỏi Giáo hội học được gì khi lắng nghe kinh nghiệm đức tin của họ. Một đôi vợ chồng xây dựng “chúng ta” mà không xóa bỏ những khác biệt có thể dạy nhiều điều cho một Giáo hội được mời gọi sống tính hiệp hành; một đôi vợ chồng vượt qua xung đột mà không biến người kia thành kẻ thù có thể dạy chúng ta cách sống với sự đồng thuận và bất đồng mà không từ bỏ sự hiệp thông.

Vậy, làm thế nào để các đôi vợ chồng trẻ giữ vai trò chủ động trong việc học hỏi của chính mình, đồng thời góp phần vào hành trình của những đôi vợ chồng khác cùng thế hệ?

Thật khó đề xuất những thực hành mục vụ gia đình có thể áp dụng cho các bối cảnh rất khác nhau tại những vùng khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên, điều đặc biệt quan trọng là gần gũi với các đôi vợ chồng trong những năm đầu, bởi họ thường không có ai để chia sẻ những băn khoăn khi khám phá tính khác biệt trong đời sống hôn nhân. Thánh Augustinô đã nói về chính mình: “mihi quaestio factus sum”, “Tôi đã trở thành một câu hỏi đối với chính mình”.[13] Nếu chính hữu thể của chúng ta vẫn phần nào là một mầu nhiệm, thì hữu thể của người kia còn là mầu nhiệm biết bao, nhất là khi chúng ta cũng thay đổi theo thời gian! Vì thế, tình yêu vợ chồng vừa là nghệ thuật, vừa là huyền nhiệm: chúng ta yêu thương điều mình sẽ không bao giờ khám phá hết; và các đôi mới kết hôn cần học điều này với sự trợ giúp của ân sủng và của những đôi vợ chồng có kinh nghiệm vững vàng.

Những năm đầu mang tính quyết định không phải vì mọi sự đều phải được giải quyết, nhưng vì chính ở đó người ta bắt đầu học – lần đầu tiên và không bao giờ học xong một lần là đủ – nghệ thuật thiêng liêng của việc làm vợ, làm chồng. Đó là việc khai tâm vào mầu nhiệm hôn nhân. “Chúng ta” được đón nhận như một hồng ân và trở thành một nhiệm vụ: cần được nuôi dưỡng, canh tân, tha thứ và, đôi khi, xây dựng lại.

Ở cốt lõi sâu xa nhất, hôn nhân bí tích có thể được hiểu như thế này: hai sự tự do, được nâng đỡ bởi lòng trung tín của Đức Giêsu Kitô, làm cho việc đón nhận nhau trở thành dấu chỉ hữu hình của một Tình yêu lớn hơn. Đây cũng là một sứ điệp dành cho Giáo hội và thế giới: hiệp nhất không có nghĩa là xóa bỏ những khác biệt; thuộc về không có nghĩa là chiếm hữu; chăm sóc không có nghĩa là thống trị; và lòng trung tín giúp chúng ta đi qua những biến đổi mà không từ bỏ giao ước.

Thư mục

Avellaneda, Carlos. Yo y el otro en busca del nosotros: La vida en relación [Tôi và người khác đi tìm chúng ta: Đời sống trong tương quan]. Buenos Aires: Guadalupe, 2021.

Borobio, Dionisio. Pastoral de los sacramentos [Mục vụ các bí tích]. Salamanca: Secretariado Trinitario, 1996.

Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo. Vatican: Libreria Editrice Vaticana, 1992.

Ủy ban Giám mục về Giáo dân và Gia đình. Aportes para la pastoral familiar de la Iglesia en la Argentina [Những đóng góp cho mục vụ gia đình của Giáo hội tại Argentina]. Buenos Aires: Oficina del Libro, 2009.

Công đồng Vaticanô II. Hiến chế mục vụ Gaudium et spes. Ngày 7/12/1965.

Bộ Giáo lý Đức tin. Una caro: Elogio de la monogamia. Nota doctrinal sobre el valor del matrimonio como unión exclusiva y pertenencia recíproca [Una caro: Ca ngợi chế độ một vợ một chồng. Ghi chú tín lý về giá trị của hôn nhân như sự kết hợp độc hữu và thuộc về nhau]. Ngày 25/11/2025.

Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống. Itinerarios catecumenales para la vida matrimonial: Orientaciones pastorales para las Iglesias particulares [Các hành trình đào luyện cho đời sống hôn nhân: Định hướng mục vụ cho các Giáo hội địa phương]. Vatican: Libreria Editrice Vaticana, 2022.

Đức Phanxicô. Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Amoris laetitia. Ngày 19/3/2016.

Granados García, José. Una sola carne, en un solo Espíritu: Teología del matrimonio [Một xương một thịt, trong cùng một Thần Khí: Thần học hôn nhân]. Madrid: Palabra, 2014.

Harris, Emily A., Aki M. Gormezano và Sari M. van Anders. “Gender Inequities in Household Labor Predict Lower Sexual Desire in Women Partnered with Men” [“Bất bình đẳng giới trong việc nhà dự báo ham muốn tính dục thấp hơn ở phụ nữ có bạn đời là nam giới”]. Archives of Sexual Behavior 51, số 8 (2022): 3847–3870.

INDEC. Encuesta Nacional de Uso del Tiempo 2021. Resultados definitivos [Khảo sát quốc gia về sử dụng thời gian năm 2021. Kết quả chính thức]. Buenos Aires: INDEC, 2022.

Đức Gioan Phaolô II. Tông huấn Familiaris consortio. Ngày 22/11/1981.

Đức Lêô XIV. “Sứ điệp gửi các tham dự viên hội thảo ‘Loan báo Tin mừng cùng với các gia đình hôm nay và ngày mai: Những thách đố về Giáo hội học và mục vụ’”. Ngày 28/5/2025.

Đức Lêô XIV. “Sứ điệp nhân dịp kỷ niệm mười năm Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Amoris laetitia”. Ngày 19/3/2026.

Scabini, Eugenia và Vittorio Cigoli. La identidad relacional de la familia [Căn tính tương quan của gia đình]. Madrid: Biblioteca de Autores Cristianos, 2014.

Giáo sư María Marcela Mazzini (amorislaetitia.va)

__________

[1] X. Dionisio Borobio, Pastoral de los sacramentos [Mục vụ các bí tích] (Salamanca: Secretariado Trinitario, 1996), tr. 43–54, 261–292. X. Đức Phanxicô, Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Amoris laetitia, ngày 19/3/2016.

[2] Ep 5,21–33; Công đồng Vatican II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, số 48; Đức Gioan Phaolô II, Tông huấn Familiaris consortio, ngày 22/11/1981, số 13; Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, các số 1639–1642.

[3] Williamson HC, “The development of communication behavior over the newlywed years” [“Sự phát triển của hành vi giao tiếp trong những năm đầu hôn nhân”], J Fam Psychol. 2021 Feb;35(1):11–21. DOI: 10.1037/fam0000780. Công bố trực tuyến ngày 13/7/2020. PMID: 32658517; PMCID: PMC7856059. Xem tại: https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC7856059/.

[4] Tại Argentina, Khảo sát quốc gia về sử dụng thời gian năm 2021 cho thấy sự bất bình đẳng lớn giữa phụ nữ và nam giới trong công việc không được trả công; việc đứa con đầu lòng chào đời thường làm gia tăng căng thẳng này. Instituto Nacional de Estadística y Censos (INDEC), Encuesta Nacional de Uso del Tiempo 2021. Resultados definitivos [Khảo sát quốc gia về sử dụng thời gian năm 2021. Kết quả chính thức] (Buenos Aires: INDEC, 2022).

[5] Harris EA, Gormezano AM, van Anders SM, “Gender Inequities in Household Labor Predict Lower Sexual Desire in Women Partnered with Men” [“Bất bình đẳng giới trong việc nhà dự báo ham muốn tính dục thấp hơn ở phụ nữ có bạn đời là nam giới”], Arch Sex Behav. 2022 Nov;51(8):3847–3870. DOI: 10.1007/s10508-022-02397-2. Công bố trực tuyến ngày 16/9/2022. PMID: 36112330; PMCID: PMC9483460. Xem tại: https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/36112330/.

[6] X. Carlos Avellaneda, Yo y el otro en busca del nosotros: La vida en relación [Tôi và người khác đi tìm chúng ta: Đời sống trong tương quan] (Buenos Aires: Guadalupe, 2021), tr. 137–154, 183–205.

[7] X. Eugenia Scabini và Vittorio Cigoli, La identidad relacional de la familia [Căn tính tương quan của gia đình], bản dịch của Ricardo Lázaro Barceló và Carlos Granados García (Madrid: Biblioteca de Autores Cristianos, 2014), tr. 19–46, 69–94.

[8] X. José Granados García, Una sola carne, en un solo Espíritu: Teología del matrimonio [Một xương một thịt, trong cùng một Thần Khí: Thần học hôn nhân] (Madrid: Palabra, 2014), tr. 177–202, 247–276.

[9] X. Bộ Giáo lý Đức tin, Una caro: Elogio de la monogamia. Nota doctrinal sobre el valor del matrimonio como unión exclusiva y pertenencia recíproca [Una caro: Ca ngợi chế độ một vợ một chồng. Ghi chú tín lý về giá trị của hôn nhân như sự kết hợp độc hữu và thuộc về nhau], ngày 25/11/2025, các số 1, 5–7, 11–12, 151–155.

[10] Đức Phanxicô, Amoris laetitia, các số 223–230; Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, Itinerarios catecumenales para la vida matrimonial: Orientaciones pastorales para las Iglesias particulares [Các hành trình đào luyện cho đời sống hôn nhân: Định hướng mục vụ cho các Giáo hội địa phương] (Vatican: Libreria Editrice Vaticana, 2022), các số 74–86.

[11] Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống, Itinerarios catecumenales para la vida matrimonial, đặc biệt các số 74–86; Ủy ban Giám mục về Giáo dân và Gia đình, Aportes para la pastoral familiar de la Iglesia en la Argentina [Những đóng góp cho mục vụ gia đình của Giáo hội tại Argentina] (Buenos Aires: Oficina del Libro, 2009), số 15 và chương 6.

[12] Đức Lêô XIV, “Sứ điệp gửi các tham dự viên hội thảo ‘Loan báo Tin mừng cùng với các gia đình hôm nay và ngày mai: Những thách đố về Giáo hội học và mục vụ’”, ngày 28/5/2025.

[13] Thánh Augustinô thành Hippo, Tự thuật, X, 33, 50.