Phần I: Vì sao chúng ta cần tính hiệp hành?

Phần II: Tính hiệp hành là gì?

Phần III: Sống tính hiệp hành trong đời sống giáo phận như thế nào?

Trong hai phần trước của loạt bài này, tôi đã suy tư về lý do tại sao Đức Phanxicô nhấn mạnh đến tính hiệp hành và bản chất của tính hiệp hành là gì. Giờ đây, đã đến lúc suy nghĩ về cách chúng ta phải sống tính hiệp hành trong đời sống giáo phận.Văn kiện Chung kết mời gọi chúng ta xác định các đường lối cụ thể và các tiến trình đào tạo để đạt được một sự hoán cải hiệp hành hữu hình trong các bối cảnh khác nhau của Giáo hội (Văn kiện Chung kết, số 9). Xin lưu ý đến từ bối cảnh. Trong thời gian diễn ra Thượng Hội đồng, đã có sự “nhìn nhận và trân trọng tính đặc thù của bối cảnh nơi mỗi Giáo hội địa phương, cùng với lịch sử và truyền thống riêng của mình” (Văn kiện Chung kết, số 124). Vì thế, không thể đưa ra một khuôn mẫu đồng nhất áp dụng cho mọi nơi để hướng dẫn tất cả các Giáo hội địa phương về cách thực hiện Văn kiện Chung kết. Thay vào đó, văn kiện cung cấp một danh sách những nguyên tắc định hướng mà chúng ta cần theo để đáp ứng những nhu cầu đặc thù của các cộng đoàn Giáo hội địa phương. Như Đức Phanxicô giải thích trong lời giới thiệu cho văn kiện của Thượng Hội đồng rằng mỗi Giáo hội địa phương cần tìm ra những giải pháp phù hợp hơn với văn hóa, truyền thống và nhu cầu mục vụ tại địa phương (x. Văn kiện Chung kết, số 14).

Nguyên tắc đầu tiên và quan trọng nhất cần ghi nhớ để sống tính hiệp hành là: mỗi bước đi mới là một cuộc trở về nguồn.” Đó là một kinh nghiệm được canh tân về cuộc gặp gỡ của các môn đệ với Đấng Phục sinh, Đấng ôm lấy chúng ta trong lòng thương xót và lôi kéo chúng ta đến với vẻ đẹp của Người, từ đó tạo nên sự hiệp nhất và hài hòa giữa những khác biệt (Văn kiện Chung kết, số 1). Văn kiện tiếp tục nói rằng: “Chúa Kitô hằng sống là nguồn tự do đích thực, là nền tảng của niềm hy vọng không làm thất vọng, là sự mặc khải về dung mạo đích thực của Thiên Chúa và về vận mệnh cuối cùng của con người (Văn kiện Chung kết, số 14). Chính vì thế, Giáo hội hiện hữu “để làm chứng trong thế giới về biến cố mang tính quyết định nhất của lịch sử: sự Phục sinh của Đức Giêsu” (Văn kiện Chung kết, số 14). Tuy nhiên, “để bước vào đức tin Phục sinh và trở thành chứng nhân của đức tin này, mỗi người cần phải nhận ra sự trống rỗng nội tâm mình, đó là bóng tối của sự sợ hãi, hoài nghi và tội lỗi” (Văn kiện Chung kết, số 14). Chỉ khi ý thức sâu xa về sự nghèo khó tuyệt đối và nhu cầu của bản thân, chúng ta mới có thể nhận ra rằng mình đang được tìm kiếm, được gọi đích danh, được trao ban ơn tha thứ và được sai đi đến với anh chị em mình. Vì thế, không thể sống tính hiệp hành nếu không bước vào một hành trình sám hối và hoán cải, điều mà chính Thượng Hội đồng Giám mục đã nêu gương khi khai mạc bằng một nghi thức sám hối.

Như Đức Phanxicô dạy chúng ta trong thông điệp Dilexit Nos rằng nơi Đức Kitô, Thiên Chúa chọn gặp gỡ chúng ta trong sự hạ mình và bé nhỏ, và nhờ đó chỉ cho chúng ta con đường của hiền lành, dịu dàng và tự hạ. Nếu không có sự khiêm nhường ấy, nếu không từ bỏ lòng kiêu ngạo và cái tôi của mình, Đức Kitô sẽ không thể tỏ mình ra cho chúng ta và cho người khác (x. Dilexit Nos, số 202). Kiêu ngạo và tội lỗi là những chướng ngại ngăn cản tình yêu của Đức Kitô tỏa sáng nơi chúng ta và chạm đến tha nhân. Chính vì thế, nếu không có ân sủng của sự tha thứ, nếu không mang tội lỗi của mình đến với Đức Kitô trong tòa giải tội để xin lòng thương xót và sự chữa lành của Người, chúng ta sẽ không thể sống sự hiệp thông và sứ mạng mà Chúa mời gọi. Điều này hết sức quan trọng. Như Văn kiện Chung kết khẳng định một cách rõ ràng rằng hiệp thông, tham gia và sứ mạng là một ân sủng, một hồng ân từ trên cao (x. Văn kiện Chung kết, số 142). Nếu không có hồng ân ấy, mọi nỗ lực của chúng ta trong việc thực thi tính hiệp hành sẽ trở nên vô ích.Trước hết và trên hết, tính hiệp hành là một “cuộc hoán cải liên lỉ”; đó là việc “lớn lên trong tình yêu cho đến tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,13), và mở lòng đón nhận các ân huệ của Chúa Thánh Thần để làm chứng cho đức tin cách sống động và tràn đầy niềm vui (x. Văn kiện Chung kết, số 142). Vì thế, không có gì quan trọng hơn để sống tính hiệp hành cho bằng việc “từng bước học hỏi và áp dụng thái độ của Chúa Giêsu vào đời sống mình, nghĩa là để Chúa Thánh Thần uốn nắn trái tim chúng ta nên giống trái tim của Người (x. Văn kiện Chung kết, số 51).

Ở đây, chúng ta lại trở về với vai trò trung tâm của đời sống bí tích trong việc thực hành tính hiệp hành: sự hiệp thông và sứ mạng, tức là việc lớn lên trong Đức Kitô, nên đồng hình đồng dạng với trái tim Người, trước hết diễn ra nhờ hồng ân ân sủng đến với chúng ta qua việc lắng nghe Lời Chúa và đón nhận Chúa trong Bí tích Thánh Thể.[1] Văn kiện Chung kết nhiều lần nhấn mạnh đến nhu cầu hoán cải tâm hồn: “cuộc hoán cải hiệp hành mời gọi mỗi người mở rộng không gian của trái tim mình” để các mối dây hiệp thông của chúng ta có thể vượt ra ngoài nhóm nhỏ những người vốn dễ tạo sự đồng cảm với mình (x. Văn kiện Chung kết, số 110). Tính hiệp hành đòi hỏi khổ chế, khiêm nhường, kiên nhẫn và sự sẵn sàng tha thứ cũng như đón nhận sự tha thứ. Tính hiệp hành cũng đón nhận với lòng biết ơn và khiêm tốn sự đa dạng của các ân huệ và sứ vụ mà Chúa Thánh Thần phân phát để phục vụ một Chúa duy nhất (x. 1 Cr 12,4–5). Điều đó phải được thực hiện không vì tham vọng, ghen tị, hay khát vọng thống trị và kiểm soát, nhưng với cùng một tâm tình như Đức Kitô, “Đấng đã tự hủy mình ra không, mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2,7) (Văn kiện Chung kết, số 43).

Tính hiệp hành, hay nói cách khác, chính là đời sống Kitô hữu, cốt ở việc để Chúa thánh hóa và cứu độ chúng ta, để chúng ta có thể “nhận biết Người trong chân lý và phụng sự Người trong sự thánh thiện” (Văn kiện Chung kết, số 16; trích Lumen Gentium, số 9). Đó không phải là sản phẩm của nỗ lực riêng của chúng ta, nhưng là hoa trái của ân sủng nhưng không mà chúng ta lãnh nhận. Chúng ta phải hoàn toàn cậy dựa vào Chúa và loại bỏ mọi chướng ngại mà tội lỗi đặt ra trước sự lan tỏa của tình yêu Đức Kitô nơi chúng ta, bằng cách thường xuyên lao mình vào vòng tay chữa lành của lòng thương xót Thiên Chúa. Tất cả những điều ấy có thể được nói ngắn gọn như sau: nếu chúng ta muốn sống tính hiệp hành - nếu chúng ta muốn vun đắp sự hiệp thông, tham gia và sứ mạng, và chạm đến cuộc sống của con người bằng ngọn lửa tình yêu Thiên Chúa, thì chúng ta phải trở nên các thánh. Đó chính là cốt lõi. Một Giáo hội hiệp hành là một Giáo hội đầy các thánh, nghĩa là đầy những tội nhân hoàn toàn cậy dựa vào lòng thương xót của Chúa và để cho ngọn lửa tình yêu Đức Kitô thiêu đốt mọi sự ngăn cách họ với Người. Đức Phanxicô đã nhấn mạnh chiều kích này khi trích dẫn ca tiếp liên lễ Hiện Xuống: “Xin uốn lòng chai đá, sưởi ấm chốn lạnh lùng, dẫn người lạc bước.”[2]

Tôi nhấn mạnh rất nhiều đến nhu cầu hoán cải, cũng là một cách nói khác về nhu cầu của ân sủng, Lời Chúa, bí tích Hòa giải và Thánh Thể - bởi vì tôi lo ngại rằng chính sự nhấn mạnh này, vốn hiện diện xuyên suốt trong Văn kiện Chung kết, lại thường bị lãng quên. Chúng ta dễ bị cám dỗ nghĩ rằng tất cả những điều nói về hoán cải, ân sủng và các bí tích chỉ là một thứ đạo đức nhàm chán mà chúng ta phải chịu đựng trước khi bước vào cái gọi là “nội dung hiệp hành thực sự”. Nhưng ngay từ đầu hành trình Thượng Hội đồng, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cảnh báo mọi người về cám dỗ giản lược tính hiệp hành vào những gì chúng ta làm và những gì chúng ta thay đổi. Ngài đã lặp đi lặp lại điều này nhiều lần: thật là một ảo tưởng khi nghĩ rằng Giáo hội sẽ phát triển chỉ nhờ việc cải tổ cơ cấu hay ban hành những hướng dẫn và chương trình mới. Đức Giáo hoàng Phanxicô giải thích rằng: “Hoán cải là một câu chuyện không bao giờ kết thúc.”[3] “Điều tệ hại nhất có thể xảy đến cho chúng ta là nghĩ rằng mình không còn cần phải hoán cải nữa, dù với tư cách cá nhân hay cộng đoàn.”[4] Thật vậy, “hoán cải là luôn học lại cách đón nhận sứ điệp Tin mừng một cách nghiêm túc và đem nó vào đời sống. […] Trước Tin mừng, chúng ta luôn như những trẻ nhỏ cần được học hỏi. Ảo tưởng cho rằng mình đã học biết mọi sự khiến chúng ta rơi vào kiêu ngạo thiêng liêng.” Ngài kết luận: “Suy tư hiện nay của chúng ta về tính hiệp hành của Giáo hội là hoa trái của xác tín rằng tiến trình hiểu biết sứ điệp của Đức Kitô không bao giờ chấm dứt, nhưng luôn không ngừng thách đố chúng ta.”[5] Nếu không có một sự thay đổi trong cách nghĩ, nếu không rời xa lòng kiêu ngạo và mọi thói quen xấu phát sinh từ đó, thì mọi nỗ lực cải thiện trên bình diện thực hành của chúng ta sẽ trở nên vô ích.

Nếu không có sự hoán cải đích thực, không những những nỗ lực của chúng ta trở nên vô ích, mà thậm chí còn có thể gây tổn hại. Đức Giáo hoàng Phanxicô không hề mù quáng trước những thách đố của cuộc cải tổ hiệp hành mà ngài kêu gọi kéo theo. Vì thế, ngay từ đầu hành trình Thượng Hội đồng, Đức Thánh Cha đã chỉ ra một số tội lỗi, cám dỗ và những lệch lạc có thể ngăn cản chúng ta thể hiện cách chân thực những đề nghị mà Văn kiện Chung kết đưa ra.

Trước hết, có nguy cơ biến Thượng Hội đồng Giám mục, và cùng với nó là mọi cơ cấu của Giáo hội, thành một cuộc đấu nghị trường, nơi con người đối đầu với nhau trong nỗ lực hình thành phe nhóm đa số và thiểu số. Một cái nhìn như thế về tính hiệp hành đã giản lược nó thành việc tranh luận các quan điểm về khía cạnh này hay khía cạnh khác trong giáo huấn của Giáo hội.[6]Thứ hai, có nguy cơ mắc kẹt trong chủ nghĩa hình thức; chúng ta thực hiện những gì được yêu cầu, nhưng không thực sự đặt cả con tim mình vào đó. Chúng ta có thể nói rất nhiều về tính hiệp hành, đáng buồn thay, nó thực sự đang trở thành một từ khóa được sử dụng ở khắp nơi, nhưng lại không để cho chiều sâu của lời mời gọi ấy dẫn chúng ta bước vào một hành trình thực sự. Chủ nghĩa hình thức này thường gắn liền với nỗi sợ phải khám phá và gọi tên những vấn đề và câu hỏi đang hiện hữu. Chúng ta thích để mọi sự tiếp tục như cũ hơn là để mình bị chất vấn bởi những điều Chúa Thánh Thần có thể muốn giúp chúng ta khám phá.

Thứ ba, có nguy cơ của chủ nghĩa duy trí và lòng kiêu ngạo, tức là ý nghĩ cho rằng cách hiểu riêng của mình là giải pháp cho mọi vấn đề, và vì thế không cần mở lòng trước điều Chúa Thánh Thần muốn nói với chúng ta. Một thái độ như vậy khiến chúng ta bị mắc kẹt trong những chia rẽ phe nhóm quen thuộc. Thứ tư, có nguy cơ của sự tự mãn, nghĩa là bám víu vào những thói quen và giải pháp cũ, vội vàng loại bỏ bất kỳ đề nghị nào có thể phát sinh từ tiến trình phân định chung. Thứ năm, có nguy cơ muốn tìm kiếm “những kết quả tức thời, tạo ra hậu quả nhanh chóng và dễ làm hài lòng truyền thông”[7], thay vì dấn thân vào tiến trình xây dựng đức tin của Dân Thiên Chúa một cách tiệm tiến.

Thứ sáu, như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã viết trong thư gửi các tín hữu tại Đức, có nguy cơ cho rằng “các giải pháp cho những vấn đề hiện tại và tương lai chỉ có thể đến từ những cải tổ thuần túy về cơ cấu hoặc hành chính”. Ngài cảnh báo: “Đó là một dạng thuyết Pelagiô mới, khiến chúng ta đặt niềm tin vào các cơ cấu quản trị, vào những tổ chức hoàn hảo”
( EG, số 32). Ở trung tâm của cám dỗ này là ý nghĩ cho rằng, trước quá nhiều vấn đề và thiếu sót, câu trả lời tốt nhất là tái tổ chức mọi sự, thực hiện những thay đổi về mặt cơ chế, nhằm thích nghi đời sống Giáo hội với logic đang thịnh hành hoặc với logic của một nhóm riêng biệt.[8]

Thứ bảy, có nguy cơ nghĩ rằng những thách đố mà Giáo hội đang đối diện sẽ được giải quyết chỉ bằng cách, như Đức Thánh Cha nói trong cùng bức thư ấy, “tin tưởng và chỉ tập trung vào sức riêng hay phương pháp riêng của mình, vào trí tuệ, ý chí hoặc uy tín của mình”, mà quên mất rằng chúng ta cần mở lòng đón nhận ân sủng của Chúa, Đấng luôn là người khởi xướng và canh tân Giáo hội.[9]

Thứ tám, có nguy cơ hiểu sai về sứ vụ và công cuộc loan báo Tin mừng. Một số người bị cám dỗ xem đó như một “hành vi chinh phục, thống trị hoặc mở rộng lãnh thổ.”[10] Một số khác lại đồng hóa nó với việc tìm cách phục hồi những tập tục hay thực hành từng có ý nghĩa trong một bối cảnh văn hóa khác.[11] Thứ chín, Đức Thánh Cha cảnh báo rằng có những người nhầm lẫn việc đổi mới với sự thay đổi nhằm “thích nghi Giáo hội với tinh thần của thời đại, nhưng lại làm Giáo hội đánh mất tính độc đáo và căn tính ngôn sứ của mình.”[12]

Sau cùng, có nguy cơ xem tính hiệp hành như một nỗ lực hoàn toàn mang tính nhân loại. Như tôi đã nhấn mạnh từ đầu, thay vì là một thực tại đặt cầu nguyện, sám hối và chầu Thánh Thể ở vị trí trung tâm. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói trong nghi thức khai mạc: “Thượng Hội đồng là một tiến trình phân định thiêng liêng, một tiến trình phân định mang tính Giáo hội, diễn ra trong sự thờ lạy, cầu nguyện và đối thoại với Lời Chúa. […] Chính Lời ấy mời gọi chúng ta bước vào phân định và soi sáng cho tiến trình đó. Lời Chúa hướng dẫn Thượng Hội đồng, ngăn không cho nó trở thành một hội nghị Giáo hội, một nhóm nghiên cứu hay một cuộc tụ họp chính trị, một nghị viện, nhưng bảo đảm để nó trở thành một biến cố đầy ân sủng, một tiến trình chữa lành do Thần Khí hướng dẫn.”[13]

Như anh chị em có thể thấy, Đức Giáo hoàng Phanxicô không hề ngây thơ và đã rất minh nhiên trong việc chỉ ra cũng như lên án những cách hiểu sai có thể làm méo mó tiến trình tiếp nhận hành trình hiệp hành. Cũng như đã từng xảy ra với Công đồng Vaticanô II - và Đức Bênêđictô XVI đã nhiều lần diễn tả điều này rất sâu sắc - ngay cả đối với Thượng Hội đồng cũng có Thượng Hội đồng thực sự và Thượng Hội đồng của truyền thông. Đáng buồn thay, chính điều thứ hai, chứ không phải điều thứ nhất, lại thu hút sự chú ý của người ta nhiều hơn. Trong khi Thượng Hội đồng thực sự là một hành trình diễn ra dưới ánh sáng đức tin tìm cách đọc các dấu chỉ thời đại và tìm nơi Thiên Chúa câu trả lời cho những dấu chỉ ấy, thì “Thượng Hội đồng của truyền thông” lại vận hành theo các phạm trù của thế gian. Khi điều đó xảy ra, chúng ta dễ giản lược tính hiệp hành và mọi diễn biến trong đời sống Giáo hội thành một cuộc đấu tranh chính trị, một cuộc tranh giành quyền lực giữa các xu hướng khác nhau trong Giáo hội.

Vì thế, chúng ta cần ý thức về những lăng kính ý thức hệ mà truyền thông - kể cả một số phương tiện truyền thông Công giáo dùng để trình bày đời sống Giáo hội cho chúng ta. Chúng ta phải chống lại sức lôi cuốn của những lăng kính méo mó ấy và đồng thời bảo vệ Dân Chúa khỏi ảnh hưởng của chúng. Chúng ta cần chú tâm và trở nên những chứng nhân sống động của tính hiệp hành đích thực mà Văn kiện Chung kết đề nghị, chứ không phải thứ “hiệp hành ảo” được tạo dựng bởi những người chuyên giật tít và gây tranh luận trên truyền thông ngày nay.

Giờ đây, xin cho tôi nhấn mạnh những nguyên tắc định hướng chính mà văn kiện đã trình bày.

Khi hiểu rõ những nguyên tắc ấy, chúng ta có thể tiếp tục suy tư xem chúng được áp dụng thế nào trong những bối cảnh cụ thể của mình, chẳng hạn như các giáo xứ hay giáo phận nơi chúng ta đang phục vụ, cũng như trước những nhu cầu mục vụ của các cộng đoàn ấy. Để dễ theo dõi, tôi xin quy tụ các nguyên tắc này quanh ba chủ đề cốt lõi của Thượng Hội đồng: hiệp thông, tham gia và sứ vụ.

Trước hết là hiệp thông. Chúng ta xây dựng sự hiệp nhất trong các cộng đoàn của mình bằng cách vun đắp một bầu khí gặp gỡ và hiểu biết lẫn nhau (x. Văn kiện Chung kết, số 39). Mục tiêu ấy đòi hỏi chúng ta phải biết lắng nghe nhau, cùng nhau bước đi, và nhận ra hồng ân nơi câu chuyện đời sống cũng như đặc sủng của mỗi người (x. Văn kiện Chung kết, số 24).

Thứ đến là sự tham gia. Chúng ta xây dựng tinh thần đồng trách nhiệm và sự tham gia trong các cộng đoàn của mình bằng việc không ngừng trao đổi và chia sẻ các ân huệ ơn gọi (Văn kiện Chung kết, số 7). Hơn nữa, sự tham gia được thúc đẩy qua việc tổ chức những tiến trình đưa ra quyết định có sự tham dự của cộng đoàn trong một tiến trình phân định mang tính Giáo hội,[14] dựa trên sự tham gia rộng rãi, một bầu khí tín nhiệm lẫn nhau và đời sống cầu nguyện. Sau cùng, sự tham gia còn đòi hỏi việc hình thành một nền văn hóa minh bạch, trách nhiệm giải trình và lượng giá (Văn kiện Chung kết, số 79-80).[15]

Thứ ba là sứ vụ. Chúng ta sống và thúc đẩy sứ vụ trong các cộng đoàn của mình khi, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, chúng ta đạt tới “một ý thức sâu xa về ơn gọi và sứ mạng”, nhờ đó trở thành những chứng nhân cho niềm vui của Tin mừng (Văn kiện Chung kết, số 141). Chúng ta phải để cho sự đa dạng của các ơn gọi và đặc sủng trong Giáo hội mà Chúa ban vì thiện ích chung được chia sẻ và được đặt vào việc phục vụ sự phát triển của cộng đoàn Kitô hữu cũng như toàn xã hội (Văn kiện Chung kết, số 57).

Đó là những nguyên tắc định hướng mà Văn kiện Chung kết trao cho chúng ta. Dưới ánh sáng của những nguyên tắc ấy, văn kiện đưa ra nhiều đề nghị khác nhau, trải dài từ việc thiết lập một thừa tác vụ mới về lắng nghe và đồng hành cho đến đề nghị về một Thượng Hội đồng đại kết về loan báo Tin mừng. Ngoài ra còn có những đề nghị liên quan đến mối tương quan giữa Giáo hội Công giáo Latinh và các Giáo hội Công giáo Đông phương, những thay đổi trong Giáo luật, việc nhấn mạnh hơn đến các vùng mục vụ và các đại hội cấp châu lục, việc thành lập một sáng kiến nghiên cứu về người khuyết tật, việc sử dụng thường xuyên hơn các Thượng Hội đồng giáo phận, cải tổ phạm vi thẩm quyền của Hội đồng Giám mục, và nhiều điều khác nữa. Nhiều bài khảo luận cần được viết để xem xét chi tiết từng đề nghị ấy. Trong bài này, tôi chỉ giới hạn ở việc nêu bật một vài thực hành cụ thể phát sinh từ các nguyên tắc định hướng vừa nêu, những điều có thể trở thành nguồn suy tư hữu ích cho các cộng đoàn giáo phận.

Trước hết, giáo xứ giữ vai trò nền tảng trong đời sống của mọi Kitô hữu, bởi vì giáo xứ là nơi mọi người có thể lãnh nhận ân sủng qua các bí tích, từ đó tạo nên mảnh đất thuận lợi để phát triển những mối tương quan có ý nghĩa trong sự gần gũi và hỗ tương. Tuy nhiên, đồng thời, giáo xứ cũng phải trở thành một nơi nâng đỡ những ai đang làm chứng cho đức tin của mình giữa lòng thế giới, luôn ghi nhớ rằng nhiệm vụ đầu tiên của người giáo dân nam nữ chính là thấm nhập và biến đổi các thực tại trần thế bằng tinh thần Tin mừng (x. Văn kiện Chung kết, số 66). Giáo xứ không nên chủ yếu tập trung vào các sinh hoạt diễn ra bên trong hoặc vào các nhu cầu tổ chức của mình. Trái lại, giáo xứ phải phục vụ sứ mạng mà các tín hữu đang thi hành trong xã hội, trong gia đình và tại nơi làm việc. Hơn nữa, trong bối cảnh ngày càng có nhiều người không còn đến giáo xứ nữa, có thể cần đến những hình thức mục vụ mới biết chủ động đi ra những không gian nơi đời sống con người đang diễn ra (x. Văn kiện Chung kết, số 117). Chúng ta không thể đơn giản tiếp tục chỉ dựa vào những cơ cấu hữu ích và những cách làm quen thuộc từ trước đến nay. Văn kiện Chung kết giải thích rằng “chúng ta cũng cần một ‘sự sáng tạo mang tính truyền giáo’ để khám phá những hình thức mục vụ mới” có khả năng chạm đến con người ngay trong môi trường họ đang sống và làm việc (Văn kiện Chung kết, số 111).

Thứ đến, trong một bối cảnh đã thay đổi, cách thức chúng ta tổ chức việc đào tạo đức tin ở mọi cấp độ cũng cần phải thay đổi theo. Một đàng, việc đào tạo phải trở thành một sự trao đổi hồng ân giữa các ơn gọi khác nhau (nhằm vun đắp sự hiệp thông), được thực hiện để hướng tới một việc phục vụ cụ thể (nhằm thúc đẩy sứ vụ), và theo một phong cách đòi hỏi sự cộng tác (nhằm cổ võ sự tham gia) (Văn kiện Chung kết, số 147). Đàng khác, việc đào tạo không chỉ dừng lại ở việc trình bày cho người ta biết Giáo hội dạy gì, nhưng còn phải bước vào cuộc đối thoại với những thao thức và hành trình tìm kiếm ý nghĩa của con người (Văn kiện Chung kết, số 145). Điều này rất quan trọng, bởi như Đức Phanxicô nói rằng, “trong thời đại chuyển mình phức tạp và nhanh chóng mà chúng ta đang sống, chỉ những người có lương tâm trưởng thành [nghĩa là những người có xác tín cá vị và có những lý do bền vững cho đức tin của mình] mới có thể thực thi trong xã hội một tác động Tin mừng lành mạnh để phục vụ anh chị em mình.”[16] Chẳng hạn, chỉ khi chúng ta hiểu và cảm nghiệm rằng trung thành với Chúa là một con đường dẫn đến hạnh phúc, chúng ta mới có thể vượt qua những khó khăn và hy sinh tất yếu đi kèm.[17] Nhưng để giúp con người, đặc biệt là giới trẻ, đạt tới mức độ xác tín ấy, chúng ta phải sẵn sàng bước đi với họ trong đời sống hằng ngày, kiên nhẫn đồng hành với họ một cách thấu đáo và bền bỉ (Văn kiện Chung kết, số 62). Nhìn chung, chúng ta cần cung cấp một nền đào tạo “toàn diện, liên tục và mang tính chia sẻ. Việc đào tạo này không chỉ nhắm đến việc tiếp thu kiến thức lý thuyết mà còn phải cổ võ khả năng mở lòng và gặp gỡ, chia sẻ và cộng tác, suy tư và cùng nhau phân định. Vì thế, việc đào tạo phải chạm đến mọi chiều kích của con người (trí tuệ, cảm xúc, tương quan và thiêng liêng), đồng thời bao gồm những kinh nghiệm cụ thể, những kinh nghiệm này cần được đồng hành cách thích hợp” (Văn kiện Chung kết, số 143). Và điều này chỉ có thể thực hiện được khi có những nhà đào tạo “có khả năng làm chứng bằng chính đời sống của họ cho những gì họ truyền đạt qua lời nói. Chỉ bằng cách này, việc đào tạo mới thực sự có sức trổ sinh và biến đổi (Văn kiện Chung kết, số 143).

Thứ ba, vì mối liên kết giữa việc đưa ra quyết định và tiến trình phân định cộng đoàn thực sự là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong đề nghị của Văn kiện Chung kết, chúng ta cần bảo đảm rằng các cơ quan tư vấn và quyết nghị mà Giáo luật đã dự liệu thực sự được triệu tập và vận hành cách hiệu quả. Văn kiện nhấn mạnh rằng sự hiện hữu, hiệu quả và sự sinh động của các cơ quan này là điều cần thiết (x. Văn kiện Chung kết, số 104). Điều đó có nghĩa là chúng ta phải vượt qua một não trạng khiến chúng chỉ tồn tại trên giấy tờ, để biến chúng thành những dịp thực sự cho tiến trình phân định cộng đoàn vì sứ vụ mà Thượng Hội đồng mời gọi. Do tầm quan trọng của khía cạnh này, Văn kiện Chung kết trình bày khá chi tiết những thực hành tốt nhất cần định hướng cho hoạt động của các cơ cấu tham gia và quyết nghị trong Giáo hội ở mọi cấp độ. Những thực hành ấy bao gồm: a) trình bày rõ ràng mục tiêu phân định đồng thời cung cấp thông tin và các phương cách thích hợp để hiểu đúng mục tiêu đó; b) dành thời gian thích hợp để chuẩn bị qua việc cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và suy nghĩ về chủ đề; c) giữ sự tự do nội tâm đối với những lợi ích riêng của cá nhân và của nhóm, hết lòng kiếm tìm ích chung; d) tôn trọng và hết lòng lắng nghe lời người khác nói; e) tìm kiếm sự đồng thuận rộng rãi nhất có thể, sự đồng thuận sẽ xuất hiện qua những gì làm “lòng chúng ta bừng cháy” (x. Lc 24,32), không che giấu những xung đột, cũng không tìm kiếm những thỏa hiệp dễ dãi nửa vời; f) người điều phối tiến trình phải soạn thảo bản đồng thuận đã đạt được và trình bày bản đồng thuận đó cho mọi người tham gia để họ có thể cho biết họ có thừa nhận bản đồng thuận đó hay không (Văn kiện Chung kết, số 84). Những thực hành tốt đẹp này, cùng với sự minh bạch và những thời điểm lượng giá thường xuyên, sẽ bảo đảm khả năng thực thi một tiến trình đồng trách nhiệm mang tính tham gia thực sự, giúp các cộng đoàn lớn lên trong sự hiệp nhất và đáp lại lời mời gọi sứ vụ cách tốt hơn.

Trong bối cảnh này, Văn kiện Chung kết cũng trình bày rõ những cơ cấu và thực hành cần thiết để bảo đảm trách nhiệm giải trình và việc lượng giá liên tục. Những điều này bao gồm: hội đồng tài chính và hội đồng mục vụ, các báo cáo tài chính được kiểm toán, việc lượng giá định kỳ kế hoạch mục vụ, các báo cáo liên quan đến việc bảo vệ trẻ vị thành niên và người dễ bị tổn thương, cũng như việc đánh giá thường xuyên tất cả các thừa tác vụ và vai trò trong Giáo hội (Văn kiện Chung kết, số 102). Khi nhìn vào danh sách này, thật đáng khích lệ khi nhận thấy rằng hầu hết những đề nghị ấy đã trở thành thực hành thông thường trong phần lớn các cộng đoàn Giáo hội tại Hoa Kỳ. Tuy nhiên, như Đức Giêsu đã nói rõ trong các sách Tin mừng, đôi khi chúng ta có thể tuân giữ chữ của luật trong các hành vi bên ngoài mà không để cho tâm hồn mình thực sự được biến đổi bởi điều đó. Điều này có nghĩa là luôn luôn còn chỗ cho chúng ta lớn lên để trở thành cộng đoàn của tình yêu, sự tham gia và sứ vụ như tầm nhìn mà Thượng Hội đồng đã phác họa. Đồng thời, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng vẫn còn những nhà lãnh đạo ở mọi cấp độ trong Giáo hội cần tiếp tục trưởng thành trong cách thi hành quyền bính của mình, bằng việc dấn thân vào “sự phân bổ rộng rãi hơn các nhiệm vụ và trách nhiệm, cũng như một tiến trình phân định can đảm hơn về điều gì thực sự thuộc về thừa tác vụ có chức thánh và điều gì có thể và phải được ủy thác cho người khác” (Văn kiện Chung kết, số 74).

Ở đây, cần đặc biệt nhấn mạnh đến những khó khăn mà nhiều người trong tiến trình hiệp hành đã chỉ ra liên quan đến mối tương quan giữa nam giới và nữ giới trong Giáo hội. Theo gương mẫu và giáo huấn của Đức Giêsu, những tương quan ấy phải được xây dựng trên nền tảng bình đẳng, tôn trọng, hỗ tương, cộng tác và yêu thương (x. Văn kiện Chung kết, số 52). Tuy nhiên, những tương quan ấy đang rất cần một cuộc hoán cải đặc biệt, để tái lập phẩm giá bình đẳng và tính hỗ tương mà Thiên Chúa đã dựng nên để chúng ta sống. Dĩ nhiên, còn rất nhiều điều cần được nói để có thể phản ánh đầy đủ sự phức tạp trong kinh nghiệm của phụ nữ trong đời sống Giáo hội. Ở đây, chỉ cần nói rằng Văn kiện Chung kết đã đặc biệt nêu bật mối tương quan giữa nam và nữ nói chung, và giữa phụ nữ với hàng giáo sĩ nói riêng, như một lãnh vực mà Giáo hội cần tiếp tục trưởng thành. Vì thế, Thượng Hội đồng khuyến khích mọi mục tử tận dụng tất cả những cơ hội mà Giáo luật đã dự liệu để mời gọi phụ nữ ở mọi lứa tuổi và trong mọi bậc sống tham gia vào vai trò lãnh đạo và thừa tác vụ trong cộng đoàn, đồng thời bảo đảm rằng không có bất kỳ rào cản hay định kiến vô căn cứ nào ngăn cản họ chia sẻ các hồng ân của mình và đặt chúng vào việc phục vụ thiện ích chung của cộng đoàn cũng như sứ vụ của cộng đoàn ấy (x. Văn kiện Chung kết, số 60).

Việc tiến tới những hình thức đồng trách nhiệm mang tính tham gia hơn không những giúp củng cố sự hiệp thông và gia tăng hiệu quả của sứ vụ Giáo hội, mà còn giúp các thừa tác viên có chức thánh vượt qua tình trạng kiệt sức, cô đơn và cảm giác bị quá tải vốn thường xuyên đè nặng trên họ (x. Văn kiện Chung kết, số 74). Sau cùng, cũng cần lưu ý rằng không một thực hành mang tính tham gia nào trong số này có thể tự động xảy ra. Điều cấp thiết là phải có một tiến trình đào tạo toàn diện và rõ ràng, bao gồm các yếu tố kỹ thuật, thần học, Kinh thánh và thiêng liêng hiện diện trong việc phân định và quyết nghị chung. Đồng thời, nếu Giáo hội thực sự muốn theo đuổi tầm nhìn hiệp hành mà Văn kiện Chung kết đề ra, Giáo hội cần đầu tư đáng kể về nguồn lực để có những nhà đào tạo thích hợp cho sứ vụ này.

Như Đức Lêô XIV đã dạy trong bài giảng đầu tiên lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Giáo hội phải trở nên như một môi trường đào luyện “về tình huynh đệ và sự sẻ chia.” Giáo hội được mời gọi trở thành nơi mà Thần Khí của Đức Giêsu biến đổi thế giới bằng cách biến đổi chính tâm hồn chúng ta, nghĩa là giúp chúng ta từ bỏ “sự tự khẳng định mình, thái độ than phiền, cạnh tranh và cám dỗ kiểm soát lương tâm cũng như các nguồn lực.” Chỉ khi “biến lời của Đức Giêsu thành hiện thực trong đời sống mình”, chúng ta mới có thể cảm nghiệm niềm vui và niềm hy vọng phát sinh từ sự hiệp thông với Chúa. Khi lớn lên trong hiệp thông, chúng ta cũng sẽ lớn lên trong việc đóng góp cho công cuộc loan báo Tin mừng, vốn “không phải là nỗ lực của chúng ta nhằm chinh phục thế giới, nhưng là ân sủng vô biên tỏa sáng từ những cuộc đời được Nước Thiên Chúa biến đổi,” nơi những người nam nữ bước theo con đường của Đức Giêsu, con đường của đức ái và các Mối phúc, và vì thế “không cần đến những chỗ dựa quyền lực, những thỏa hiệp trần thế hay những chiến lược cảm xúc.”[18] Loan báo Tin mừng là công việc của Thiên Chúa và là sứ mạng hàng đầu của Giáo hội. Tính hiệp hành gọi tên toàn bộ những dấn thân về mặt thần học, thiêng liêng và thực hành làm cho sự tham gia của chúng ta vào công việc cốt yếu ấy trở nên khả thể. Giai đoạn thực hiện Thượng Hội đồng là một thời điểm phong phú, trong đó chúng ta được mời gọi canh tân cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Kitô, để Người chữa lành những thương tích và tội lỗi của chúng ta, và bước theo lệnh truyền của Người là loan báo Người cho muôn dân.

 Hoài Ân

Chuyển ngữ từ: hprweb.com

____________

[1] Dựa trên trình thuật của Thánh Gioan về bữa điểm tâm của Đức Giêsu Phục sinh với các môn đệ, Văn kiện Chung kết đã diễn tả thật đẹp về Bí tích Thánh Thể như bàn tiệc của sự hiện diện và lòng thương xót của Đức Kitô, ban cho chúng ta một sự nếm hưởng trước bàn tiệc cánh chung, nơi sự hiệp thông với Chúa và với nhau trong Chúa sẽ được nên trọn vẹn (Văn kiện Chung kết, số 152).

[2] Đức Phanxicô, “Diễn văn khai mạc Khóa họp thứ hai của Đại hội Thường lệ lần thứ XVI của Thượng Hội đồng Giám mục,” ngày 02 tháng 10 năm 2024.

[3] Đức Phanxicô, “Lời chúc Giáng sinh gửi Giáo triều Rôma,” ngày 22 tháng 12 năm 2022.

[4] Đức Phanxicô, “Lời chúc Giáng sinh gửi Giáo triều Rôma.”

[5] Đức Phanxicô, “Lời chúc Giáng sinh gửi Giáo triều Rôma.”

[6] Đức Phanxicô, “Diễn văn gửi các tín hữu Giáo phận Rôma,” ngày 18 tháng 9 năm 2021.

[7] Đức Phanxicô, “Diễn văn gửi các tín hữu Giáo phận Rôma,” ngày 18 tháng 9 năm 2021.

[8] Đức Phanxicô, Thư gửi Dân Chúa lữ hành tại Đức, ngày 29 tháng 6 năm 2019.

[9] Đức Phanxicô, “Thư gửi Dân Chúa lữ hành tại Đức.”

[10] Đức Phanxicô, “Thư gửi Dân Chúa lữ hành tại Đức.”

[11] Đức Phanxicô, “Thư gửi Dân Chúa lữ hành tại Đức.”

[12] Đức Phanxicô, “Thư gửi Dân Chúa lữ hành tại Đức.”

[13] Đức Phanxicô, “Bài giảng khai mạc Hành trình Hiệp hành,” ngày 10 tháng 10 năm 2021.

[14] “Kêu cầu ánh sáng của Chúa Thánh Thần, Dân Thiên Chúa, những người tham dự vào chức năng ngôn sứ của Đức Kitô (x. Lumen Gentium, số 12), ‘nỗ lực phân định những dấu chỉ đích thực về sự hiện diện và ý định của Thiên Chúa trong các biến cố, nhu cầu và khát vọng mà mình cùng chia sẻ với toàn thể nhân loại hôm nay’ (Gaudium et Spes, số 11). Tiến trình phân định này được nuôi dưỡng bởi mọi hồng ân khôn ngoan mà Chúa ban cho Giáo hội và bởi cảm thức đức tin (sensus fidei) mà Chúa Thánh Thần ban cho mọi người đã lãnh nhận phép Rửa” (Văn kiện Chung kết, số 81). Đặc biệt, việc phân định trong Giáo hội đòi hỏi một sự hiểu biết sâu sắc về bối cảnh, Kinh thánh, giáo huấn của Giáo hội, Thánh truyền, thần học, cũng như các ngành khoa học nhân văn, lịch sử, xã hội và quản trị (Văn kiện Chung kết, số 85).

[15] Trách nhiệm giải trình và việc lượng giá là những yếu tố thiết yếu, và được bắt nguồn từ thực hành của cộng đoàn Tông đồ, nơi mọi người, kể cả Phêrô, đều phải trình bày lý do cho những quyết định của mình (Văn kiện Chung kết, số 95). Hơn nữa, tính minh bạch gắn liền với sự trong sạch của tâm hồn mà Đức Giêsu đòi hỏi nơi các môn đệ: “sự thật, lòng trung tín, sự rõ ràng, tính chân thành, sự liêm chính, tính nhất quán, việc loại bỏ sự mờ ám, giả hình và nhập nhằng, cũng như không có những động cơ ẩn giấu” - tất cả đều cần thiết để xây dựng một Giáo hội hiệp hành, trong đó con người gia tăng sự hiệp thông với nhau và cộng tác cho sứ vụ (x. Văn kiện Chung kết, số 96).

[16] Đức Phanxicô, “Diễn văn gửi các tham dự viên Hội nghị do Học viện Alphonsian tổ chức,” ngày 23 tháng 3 năm 2023.

[17] Đức Phanxicô, “Cuộc gặp gỡ với các giám mục, linh mục, phó tế, người sống đời thánh hiến, chủng sinh và các nhân viên mục vụ tại Bruxelles.”

[18] Đức Lêô XIV, “Bài giảng Đêm Canh thức lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống trong dịp Năm thánh các Phong trào Giáo hội.”