“Tình yêu chưa hoàn hảo không có nghĩa là tình yêu ấy giả dối hay không có thật” (AL 113). Lời nhắc nhở của Đức Thánh cha Phanxicô được Giáo sư Julie Hanlon Rubio gợi lại trong bài chia sẻ về những khó khăn và sự mong manh của đời sống hôn nhân, gia đình hôm nay. Ngày càng nhiều người trì hoãn hoặc không lựa chọn kết hôn. Đằng sau thực trạng ấy không chỉ là những biến đổi xã hội, nhưng còn có những nỗi lo rất thực: Liệu mình có đủ khả năng yêu thương và nâng đỡ một người suốt đời? Liệu cuộc hôn nhân có bền vững? Và nếu không thể sống trọn vẹn lý tưởng ấy thì sao?

Giáo sư Julie Hanlon Rubio cho rằng, trước những mong manh này, Giáo hội cần tiếp tục trình bày một tầm nhìn tích cực và đầy sức thuyết phục về hôn nhân, đồng thời mở rộng việc thực hành đồng hành với các gia đình. Bởi hôn nhân không đòi hỏi một tình yêu hoàn hảo ngay từ đầu, nhưng là hành trình hai người học cách yêu thương, chăm sóc, tha thứ và cùng nhau trưởng thành. Những yếu đuối và thất bại không nhất thiết phủ nhận tình yêu, nhưng có thể trở thành nơi tình yêu được làm mới.

Đặc biệt, Giáo sư Julie Hanlon Rubio nhắc đến những người vì hoàn cảnh gia đình mà cảm thấy mình không xứng đáng thuộc về Giáo hội. Họ không chỉ cần nghe về vẻ đẹp của hôn nhân, mà trước hết cần được đón tiếp, lắng nghe và nâng đỡ. Giáo hội được mời gọi trở thành một cộng đoàn, nơi mọi người, dù độc thân hay đã kết hôn, dù đang hạnh phúc hay trải qua đổ vỡ, đều có thể cảm nhận rằng mình không đơn độc trên hành trình theo Chúa Kitô.

Sau đây là toàn văn bản dịch Việt ngữ bài chia sẻ Giữa những khó khăn của cuộc sống: đồng hành và nâng đỡ - Tầm nhìn và thực hành của Amoris Laetitia: Mười năm nhìn lại của Giáo sư Julie Hanlon Rubio trong cuộc gặp gỡ “Mười năm sau Amoris laetitia” diễn ra tại Vatican từ ngày 07-14/10/2026.

___________________

Đức Giáo hoàng Lêô mời gọi chúng ta suy xét sự mong manh của các gia đình hôm nay, khi nhớ đến và tiếp tục đón nhận Tông huấn Amoris Laetitia. Hôm nay, tôi muốn trình bày một phân tích về sự mong manh của gia đình, tìm hiểu những vấn đề thần học sâu xa hơn mà sự mong manh ấy đặt ra, và đề xuất ngắn gọn cách nhìn này có thể định hình việc thực hành sự đồng hành của Giáo hội như thế nào.

Trong Amoris Laetitia, Đức Giáo hoàng Phanxicô tiếp cận hôn nhân và đời sống gia đình bằng những chủ đề đặc trưng của ngài: lòng thương xót, sự đón tiếp và đồng hành, cùng một tầm nhìn luân lý chú trọng tính phức tạp và việc tôn trọng lương tâm. Tôi tin rằng ngài muốn mời gọi mọi người Công giáo đón nhận sâu sắc hơn nữa đời sống môn đệ Chúa Kitô, nhưng ngài biết nhiều người cảm thấy mình không hoàn toàn thuộc về Giáo hội vì hoàn cảnh gia đình. Trước khi có thể làm được nhiều hơn, họ cần cảm thấy mình thuộc về Giáo hội. Có lẽ đó là lý do các Thượng Hội đồng về gia đình và Amoris Laetitia đi trước những công việc của ngài về sinh thái, tình huynh đệ và tính hiệp hành. Dù văn kiện được nhớ đến nhiều nhất vì chương VIII gây tranh luận, văn kiện cũng đưa ra một tầm nhìn tích cực về hôn nhân, nhằm khắc phục tính trừu tượng và tiêu cực mà nhiều người vẫn gắn với giáo huấn của Giáo hội, cùng một cách thực hành đồng hành vẫn chưa được thực hiện trọn vẹn. Hôm nay, những hình thức mong manh mới đòi hỏi chúng ta vừa tiếp tục đào sâu tầm nhìn này về hôn nhân, vừa mở rộng việc thực hành đồng hành.

I. Gặp gỡ sự mong manh

Sự mong manh vừa là một cuộc khủng hoảng, vừa là một đặc điểm của thân phận con người. Năm 2026, hôn nhân và gia đình đang trở nên mong manh theo những cách mới. Như chúng ta đã thảo luận, xu hướng toàn cầu rời xa hôn nhân đang tăng tốc. Tỷ lệ kết hôn đang giảm gần như ở khắp nơi, từ Philippines đến Ba Lan, từ Argentina đến Nam Phi, từ Hoa Kỳ đến Nhật Bản. Trong khi ngày càng nhiều người kết hôn muộn hơn, tỷ lệ những người kết hôn vào một thời điểm nào đó trong đời cũng giảm.[1] Tại Hoa Kỳ, năm 1980, chỉ có sáu phần trăm người ở tuổi 40 chưa từng kết hôn. Ngày nay, con số ấy là 25 phần trăm, và các xu hướng hiện tại cho thấy tỷ lệ người trưởng thành chưa từng kết hôn sẽ tiếp tục tăng, có thể lên đến một phần ba.[2] Sự suy giảm hôn nhân tại Hoa Kỳ cũng được ghi nhận trên khắp thế giới, dù mức độ suy giảm không đồng đều.[3] Trong số người Công giáo Hoa Kỳ, số người kết hôn ngày nay ít hơn nhiều so với năm mươi năm trước, và chỉ một phần tư trong số đó kết hôn trong Giáo hội.[4] Số lễ cưới Công giáo đang giảm trên toàn cầu.[5]

Tỷ suất sinh và số người lãnh nhận bí tích Rửa tội cũng đang giảm. Cũng như hôn nhân, các quốc gia có thu nhập cao thường đi đầu trong xu hướng này, trong khi nhiều quốc gia châu Phi tiếp tục có tỷ lệ cao hơn. Tuy nhiên, sự suy giảm đã thể hiện rõ ngay cả tại những quốc gia như Kenya, Ukraine và Ấn Độ, cũng như tại các khu vực đô thị ở những quốc gia mà tỷ suất sinh vẫn tương đối cao.[6] Số người lãnh nhận bí tích Rửa tội, cũng như số lễ cưới, đang giảm, với mức giảm khoảng một phần ba so với những năm 1990.

Các xu hướng suy giảm về kết hôn và sinh con, về lễ cưới và Bí tích Rửa tội, đã xuất hiện tại một số nơi, mới bắt đầu ở những nơi khác và đang gặp sức kháng cự tại một vài nơi. Tuy nhiên, các sử gia nghiên cứu sự phát triển của hôn nhân và gia đình cho rằng sự suy giảm sẽ tiếp tục lan rộng. Họ ghi nhận một sự chuyển dịch toàn cầu từ “hôn nhân mang tính thiết chế”, do các gia đình sắp đặt và được tổ chức xoay quanh những nhu cầu kinh tế cùng việc nuôi dạy con cái, sang “hôn nhân dựa trên tình bạn đời”, lấy tình yêu làm trung tâm.[7] Hôn nhân ngày nay có tính tương hỗ hơn và đem lại sự thành toàn nhiều hơn, nhưng cũng đặt ra những kỳ vọng cao hơn, ít sinh hoa trái hơn và mong manh hơn.[8] Và dường như chúng ta đang bước vào một giai đoạn mới, trong đó hôn nhân ngày càng trở thành một lựa chọn không bắt buộc.

II. Những câu hỏi sâu xa hơn

Tại sao ngày càng nhiều người chọn không kết hôn hoặc không sinh con? Có nhiều cách lý giải: Khi tình yêu trở thành yếu tố thiết yếu của hôn nhân, việc tìm được một người bạn đời phù hợp trở nên khó khăn hơn. Một số người tìm kiếm và nỗ lực để tìm được “người duy nhất”, người tri kỷ của mình. Một số phụ nữ khước từ điều họ nhìn thấy xung quanh: những cuộc hôn nhân mang dấu ấn của sự bất trung và bạo lực gia đình, điều mà Đức Giáo hoàng Phanxicô nói là “mâu thuẫn với chính bản chất của sự kết hợp vợ chồng”.[9] Đáng chú ý, nhiều người lo lắng về mức độ sẵn sàng bước vào hôn nhân của chính mình và của những người có thể trở thành bạn đời. Phần lớn nói rằng họ vẫn muốn một ngày nào đó kết hôn, nhưng không chắc mình có thực sự làm điều ấy hay không.[10] Một số người đã từ bỏ hoặc muốn giữ cho mình nhiều lựa chọn khác nhau.Nhiều người cũng có những lo lắng tương tự về sự sẵn sàng làm cha mẹ, nên trì hoãn việc này.

Dĩ nhiên, đời sống hôn nhân còn mong manh theo những cách khác. Như nhiều nhà thần học đã kết hôn từng viết, đời sống hôn nhân đòi hỏi một mức độ tự hủy hay hoán cải nhất định, ngay cả giữa những người bình đẳng với nhau, và điều đó khiến người ta e ngại.[11] Đặc biệt, các đôi vợ chồng Công giáo thường bị cô lập trong những khó khăn của mình và ít tìm đến giáo xứ để được nâng đỡ. Dù tỷ lệ ly hôn đã ổn định sau mức đỉnh vào những năm 1980, nhìn chung tỷ lệ ấy vẫn cao, và “ly hôn ở tuổi xế chiều”, sau nhiều năm chung sống, đang gia tăng.[12]

Tại sao sự mong manh này khiến chúng ta quan tâm? Tại sao Giáo hội quan tâm đến hôn nhân? Xét cho cùng, Chúa Giêsu không kết hôn, và phần lớn các thánh cũng vậy. Phần lớn Tân ước nói rất ít về đời sống gia đình. Khi Chúa Giêsu nói về gia đình, Người đặt ra những câu hỏi về vị trí ưu tiên của gia đình so với việc làm môn đệ.[13]

Tuy nhiên, các trình thuật sáng tạo trong những chương đầu của sách Sáng thế, được đọc dưới ánh sáng những lời Đức Giêsu dạy về hôn nhân (Mt 19,4-6), cùng với thần học bí tích, học thuyết xã hội Công giáo và kinh nghiệm của giáo dân, cho thấy rằng hôn nhân có thể là một không gian tương quan đặc biệt, nơi tình yêu Thiên Chúa “ngỏ lời” trong chúng ta, qua chúng ta và với chúng ta. Nói rõ hơn, những mối tương quan chăm sóc và quan tâm đến nhau cũng có thể nói với chúng ta về tình yêu. Nhưng “sự kết hợp mật thiết giữa đời sống và tình yêu vợ chồng” là điều độc đáo.[14]Được khai sinh từ lời hứa rằng tình yêu của mình sẽ luôn ở lại với người kia, hướng đến một tương lai mà bản thân không thể hình dung đầy đủ, đôi vợ chồng phục vụ lẫn nhau, phục vụ Giáo hội và thế giới qua những thực hành hằng ngày của sự thân mật, lòng hiếu khách, sự phục vụ, trao ban và cầu nguyện.[15]Tình yêu của họ là một tình yêu mang tính bí tích, với cả chiều kích công khai lẫn riêng tư.

Dĩ nhiên, Giáo hội không chỉ gồm các gia đình. Đời sống tu trì giữ một vị trí trung tâm. Những người độc thân cũng hiện diện đông đảo trong các nhà thờ của chúng ta. Như cộng đoàn môn đệ quy tụ quanh Chúa Giêsu và những dụ ngôn Người kể, cộng đoàn Công giáo đón nhận không chỉ các gia đình, mà còn nhiều người khác nhau, sống những ơn gọi khác nhau, với biết bao cách thức yêu mến Thiên Chúa, yêu thương người khác và phục vụ thế giới. Nhưng điều quan trọng là đời sống hôn nhân phải là một trong những ơn gọi ấy.

Trong Amoris Laetitia, Đức Phanxicô trao cho chúng ta một hình ảnh giàu sức gợi: một đôi vợ chồng tay trong tay bước đi, cùng hướng nhìn ra bên ngoài khi cùng nhau dấn thân cho công lý.[16] Quý vị có biết rằng nếu tìm kiếm một hình ảnh với cụm từ “đôi vợ chồng đang nhìn…”, trên mạng sẽ xuất hiện vô số hình ảnh đôi vợ chồng nhìn nhau không? Tìm được một hình ảnh đôi vợ chồng cùng hướng nhìn ra bên ngoài khó hơn nhiều. Nhưng đó chính là điều Amoris Laetitia, giáo huấn Công giáo quan trọng nhất của chúng ta về hôn nhân đưa ra: một mối gắn bó thân mật cùng dấn thân cho điều lớn hơn chính mình.

Ngày nay, hơn bao giờ hết, người ta khó tin tưởng vào hôn nhân (“Liệu một người khác có thực sự yêu thương và nâng đỡ tôi suốt đời không? Tôi có khả năng yêu thương và nâng đỡ người khác không? Liệu chúng tôi có đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu của nhau và của con cái trong tương lai không? Nếu chúng tôi làm hỏng mọi chuyện thì sao?”).Càng khó hơn để họ tin rằng cuộc hôn nhân của mình có thể có ý nghĩa quan trọng đối với Giáo hội và thế giới. Nếu các xu hướng hiện nay tiếp diễn, sẽ có thêm nhiều người bỏ lỡ chiều sâu của sự thân mật với người bạn đời; những hy sinh và niềm vui của việc làm cha mẹ; việc xây dựng một mái nhà rộng mở; và ân sủng được cùng già đi với người bạn đời trong cuộc sống và tình yêu. Những người khác cũng sẽ bỏ lỡ những ân ban mà các gia đình đã kết hôn mang lại. Trong thời điểm này, thế giới cần Giáo hội đáp lại sự mong manh của hôn nhân bằng tầm nhìn đầy sức thuyết phục của mình.

Tuy nhiên, tôi không muốn nói rằng vấn đề bị gạt ra bên lề mà Đức Giáo hoàng Phanxicô quan tâm đã được giải quyết. Khi chuẩn bị bài phát biểu này, tôi đã nghe những câu chuyện đau lòng. Một người kể với tôi về người mẹ cao tuổi mắc chứng sa sút trí tuệ. Khi được trao Mình Thánh Chúa trong Thánh lễ, bà đã kêu lên: “Không!”, rồi lấy tay che miệng, bởi một điều bà còn nhớ là: vì người chồng đã chung sống với bà năm mươi năm từng kết hôn trước đó, nên bà không xứng đáng lãnh nhận Mình Thánh Đức Kitô. Một người khác, khi tôi nói về việc Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh sự đón tiếp và đồng hành, đã nhìn tôi với vẻ không tin, nghĩ đến việc cha mẹ không đến dự lễ cưới của mình và những trải nghiệm bị phán xét, bị làm cho xấu hổ đã quá nhiều.

Vì thế, điều quan trọng là tầm nhìn mà Giáo hội truyền đạt không phải là một tầm nhìn đòi hỏi sự hoàn hảo. Đức Phanxicô nói rằng “tình yêu chưa hoàn hảo không có nghĩa là tình yêu ấy giả dối hay không có thật”, và khẳng định rằng “mọi gia đình, bất chấp những yếu đuối của mình, đều có thể trở thành ánh sáng giữa bóng tối của thế giới”.[17] Trong thời đại mà những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội khoe hình ảnh những gia đình “truyền thống” có vẻ như hoàn hảo của mình, với đầy đủ bánh mì tự làm và những con gà, thì cách tiếp cận của Đức Phanxicô về việc nhìn nhận và đón nhận những yếu đuối có ý nghĩa hết sức quan trọng.Magnifica Humanitas cũng khẳng định rằng sự mong manh của con người không phải là một vấn đề cần giải quyết, mà là một yếu tố căn bản của thân phận con người cần được đón nhận và hòa nhập.[18] Hôn nhân là nơi cung cấp điểm tựa cho sự dễ bị tổn thương và dành thời gian để những thất bại không thể tránh khỏi được bù đắp bằng những nỗ lực yêu thương được làm mới. Tầm nhìn của Amoris Laetitia về tình yêu vợ chồng, vừa thân mật vừa hướng ra bên ngoài, chưa hoàn hảo nhưng có thật, có thể đáp lại sự mong manh của thời đại và thân phận con người chúng ta.

Tầm nhìn của tông huấn về Giáo hội cũng có thể làm được điều ấy: một nơi mà khi con người chưa đạt đến lý tưởng, họ được nghe chúng ta nói rằng “ân sủng Thiên Chúa cũng hoạt động trong cuộc đời họ”, và giữa sự mong manh của mình, họ nhận được từ chúng ta sự chăm sóc cùng một cuộc “đối thoại mục vụ” đích thực. Đức Phanxicô nói với chúng ta: “Không ai có thể bị kết án mãi mãi! Đó không phải là lôgíc của Tin mừng!”, và lôgíc ấy cần được mở rộng đến “mọi người”.[19] Thái độ mục vụ mà ngài mời gọi chúng ta thực hiện là “luôn sẵn sàng thấu hiểu, tha thứ, đồng hành, hy vọng và trên hết là giúp hòa nhập”.[20]

Kết luận

Năm 2016, Đức Thánh cha Phanxicô đã mời gọi Giáo hội đồng hành với các gia đình, đặc biệt là những gia đình cảm thấy mình bị loại trừ, đồng thời mang đến cho họ một viễn tượng đầy sức thuyết phục và sự hỗ trợ cụ thể. Mười năm sau, đời sống hôn nhân và việc làm cha mẹ đang đối diện với một cuộc khủng hoảng sâu sắc hơn, khi ngày càng ít người lựa chọn kết hôn và làm cha mẹ, mặc dù cả hai ngày càng đặt tình yêu ở vị trí trung tâm, điều mà phần lớn mọi người vẫn tìm kiếm. Đằng sau sự suy giảm này là một tình trạng mong manh sâu xa hơn, đi kèm với cảm giác mình không xứng đáng và chưa sẵn sàng. Sự mong manh ấy có thể được đón nhận như một phần cốt lõi của thân phận con người. Hôn nhân và gia đình là những môi trường thiết yếu để nâng đỡ sự mong manh ấy.

Giáo hội có thể đưa ra một viễn tượng đầy thách đố về hôn nhân như một mối tương quan kết hợp mật thiết, hướng đến tình yêu và công lý, nhưng không đòi hỏi sự hoàn hảo. Giáo hội có thể trở thành nơi các đôi vợ chồng và những người độc thân cảm nhận rằng mình được bao quanh bởi các Kitô hữu thuộc nhiều ơn gọi khác nhau, những người đang cùng họ bước đi trên hành trình làm môn đệ Chúa Kitô. Dù họ độc thân hay đã kết hôn, có con hay không có con; dù họ đã ly hôn, góa bụa hay tái hôn, chúng ta đều có thể đón tiếp họ ngay tại cửa với vòng tay rộng mở, nói với họ rằng ơn gọi của họ là một ơn gọi đầy thách đố nhưng cần thiết, và bảo đảm với họ rằng họ không đơn độc.

Thứ Hai, ngày 12 tháng 10 năm 2026

Giáo sư Julie Hanlon Rubio (amorislaetitia.va)



[1] KIM PARKER và RACHEL MINKIN, “The Future of the Family” [“Tương lai của gia đình”], Pew Research Center, ngày 14/9/2023, https://www.pewresearch.org/social-trends/2023/09/14/the-future-of-the-family/.

[2] RICHARD FRY, “A Record-High Share of 40-year-olds in the U.S. Have Never Been Married” [“Tỷ lệ người ở tuổi 40 tại Hoa Kỳ chưa từng kết hôn đạt mức cao kỷ lục”], Pew Research Center, ngày 28/6/2023, https://www.pewresearch.org/short-reads/2023/06/28/a-record-high-share-of-40-year-olds-in-the-us-have-never-been-married/; FRANCESCA A. MARINO, “Geographic Variation in Percentage of Mid-Life Never Married Adults, 2021” [“Sự khác biệt theo địa lý về tỷ lệ người trưởng thành ở tuổi trung niên chưa từng kết hôn, năm 2021”], Family Profile 13 (2023), National Center for Family & Marriage Research, https://doi.org/10.25035/ncfmr/fp-23-13.

[3] BASTIAN HERRE, VERONIKA SAMBORSKA, ESTEBAN ORTIZ-OSPINA và MAX ROSER, “Marriage and Divorces” [“Hôn nhân và ly hôn”], Our World in Data, tháng 7/2020, cập nhật tháng 2/2025, truy cập ngày 19/8/2026 tại: https://ourworldindata.org/marriages-and-divorces.

[4] MARK M. GRAY, chủ biên, “Will You Marry? Will It Be in Church? Will Your Spouse Be Catholic? Will It End in Divorce?” [“Bạn có kết hôn không? Có kết hôn trong Giáo hội không? Người bạn đời của bạn có phải là người Công giáo không? Cuộc hôn nhân ấy có kết thúc bằng ly hôn không?”], 1964, ngày 12/8/2024, https://nineteensixty-four.blogspot.com/2024/08/will-you-marry-will-it-be-in-church.html.

[5] Số lễ cưới Công giáo giảm từ 3,8 triệu năm 1991 xuống còn dưới 2 triệu năm 2020. CAROL GLATZ, “Vatican Stats: Number of Catholics and Deacons Up, but Priests, Nuns and Baptisms Down” [“Thống kê Vatican: Số người Công giáo và phó tế tăng, nhưng số linh mục, nữ tu và người lãnh nhận bí tích Rửa tội giảm”], America, ngày 17/10/2024, https://www.americamagazine.org/faith/2024/10/17/vatican-statistic-decline-baptism-clergy-religious-worldwide-249052/.

[6] GLATZ, “Vatican Stats”.

[7] STEPHANIE COONTZ, Marriage: A History: How Love Conquered Marriage [Lịch sử hôn nhân: Tình yêu đã chinh phục hôn nhân như thế nào] (Penguin Books, 2006).

[8] MARK B. PADILLA và cộng sự, chủ biên, Love and Globalization: Transformations of Intimacy in the Contemporary World [Tình yêu và toàn cầu hóa: Những biến đổi của sự thân mật trong thế giới đương đại] (Vanderbilt University Press, 2007).

[9] ĐỨC PHANXICÔ, Amoris Laetitia, số 154. Xem thêm các số 19, 20, 45, 51, 53, 153 và 156.

[10] STEPHANIE COONTZ, For Better and for Worse: The Complicated Past and Challenging Future of Marriage [Khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan: Quá khứ phức tạp và tương lai đầy thách đố của hôn nhân] (Viking Press, 2026).

[11] RICHARD GAILLARDETZ, A Daring Promise: A Spirituality of Christian Marriage [Một lời hứa táo bạo: Linh đạo hôn nhân Kitô giáo] (Liguori Publications, 2007); EMILY REIMER-BARRY, Catholic Theology of Marriage in the Era of HIV and AIDS: Marriage for Life [Thần học Công giáo về hôn nhân trong thời đại HIV và AIDS: Hôn nhân vì sự sống] (Lexington Books, 2015); BRIDGET BURKE RAVIZZA và JULIE DONOVAN MASSEY, Project Holiness: Marriage as a Workshop for Everyday Saints [Dự án nên thánh: Hôn nhân như một trường rèn luyện cho những vị thánh đời thường] (Liturgical Press, 2015).

[12] SUSAN L. BROWN và I-FEN LIN, “The Graying of Divorce: A Half Century of Change” [“Ly hôn ở tuổi xế chiều: Nửa thế kỷ biến đổi”], Journals of Gerontology, Psychological Science, and Social Science 77, số 9 (2022): 1710–1720, https://doi.org/10.1093/geronb/gbac057.

[13] LISA SOWL CAHILL, Family: A Christian Social Perspective [Gia đình: Một góc nhìn xã hội Kitô giáo] (Fortress Press, 2000), tr. 18–47.

[14] Gaudium et Spes, số 48.

[15] MARGARET A. FARLEY, Personal Commitments: Beginning, Keeping, Changing [Những cam kết cá nhân: Khởi đầu, giữ gìn và thay đổi], ấn bản hiệu đính (Orbis Books, 2014); JULIE HANLON RUBIO, Family Ethics: Practices for Christians [Đạo đức gia đình: Những thực hành dành cho Kitô hữu] (Georgetown University Press, 2010); JULIE HANLON RUBIO, “Families Weren’t Perfect in the Bible, but We Can Still Learn from Them” [“Các gia đình trong Kinh thánh không hoàn hảo, nhưng chúng ta vẫn có thể học hỏi từ họ”], America, ngày 20–27/6/2016.

[16] ĐỨC PHANXICÔ, Amoris Laetitia, số 181.

[17] ĐỨC PHANXICÔ, Amoris Laetitia, số 113 và số 66.

[18] ĐỨC LÊÔ XIV, Magnifica Humanitas, số 120.

[19] ĐỨC PHANXICÔ, Amoris Laetitia, số 296. Ngày nay, điều này chắc chắn bao gồm những người ly hôn, các gia đình đơn thân, các gia đình có con riêng của vợ hoặc chồng, các đôi chung sống không kết hôn và những người tự nhận mình thuộc cộng đồng LGBTQ.

[20] ĐỨC PHANXICÔ, Amoris Laetitia, số 312. Xem thêm số 305, chú thích 351.