Trong bài chia sẻ về giới trẻ và việc khám phá ơn gọi hôn nhân, Đức Tổng Giám mục Timothy Costelloe, S.D.B., nhắc lại lời của một đôi vợ chồng: “Lý luận có sức thuyết phục nhất về hôn nhân Kitô giáo thường chính là một đôi vợ chồng sống tốt đời sống hôn nhân của mình.”

Bởi người trẻ không chỉ cần được nghe những lời giải thích về vẻ đẹp và giá trị của hôn nhân. Họ còn cần được gặp gỡ những đôi vợ chồng đang thực sự sống tình yêu ấy: biết trung thành, hy sinh, nâng đỡ nhau và cùng nhau vượt qua những khó khăn của cuộc sống.

Tuy nhiên, để giúp người trẻ khám phá ơn gọi hôn nhân, Giáo hội cũng cần học cách lắng nghe họ như những con người cụ thể, với những khát vọng, băn khoăn, kinh nghiệm và cả những tổn thương riêng.

Đức Tổng Giám mục nhấn mạnh rằng việc đồng hành không chỉ là trình bày những quy tắc phải tuân giữ, nhưng còn là giúp người trẻ khám phá một lý tưởng tình yêu cao đẹp, đáng để nỗ lực vươn tới, đồng thời kiên nhẫn bước đi với họ trên hành trình trưởng thành.

Như Đức Thánh cha Phanxicô từng đặt câu hỏi trong Tông huấn Amoris laetitia: “Ai sẽ giúp họ chuẩn bị một cách nghiêm túc để sống cho một tình yêu cao thượng và quảng đại?” (AL 284).

Có lẽ câu trả lời không chỉ nằm ở những chương trình chuẩn bị hôn nhân, mà còn ở chứng tá sống động của các đôi vợ chồng và những cộng đoàn biết đón nhận, lắng nghe và đồng hành với người trẻ.

Sau đây là toàn văn bản dịch Việt ngữ bài chia sẻ “Giới trẻ và việc khám phá ơn gọi hôn nhân: Lắng nghe người trẻ và đồng hành với họ trong việc khám phá giá trị của hôn nhân” của Đức Tổng Giám mục Timothy Costelloe, S.D.B., trong cuộc gặp gỡ “Mười năm sau Amoris laetitia” diễn ra tại Vatican từ ngày 07-14/10/2026.

______________

Khi tìm cách đề cập đến chủ đề này, tôi đã cố gắng kết hợp kinh nghiệm của bản thân trong việc lắng nghe người trẻ, cả với tư cách là một giám mục và một nhà giáo dục (là một tu sĩ Dòng Salêdiêng Don Bosco), cùng với những nhận định của các giáo sĩ và giáo dân thuộc Tổng Giáo phận Perth, Úc, mà tôi đã tham khảo ý kiến về chủ đề này. Thách đố mục vụ này có nhiều khía cạnh; hôm nay, tôi chỉ muốn chia sẻ một vài suy tư ban đầu để chúng ta cùng bắt đầu.

Trước hết, khi nói đến “giới trẻ”, chúng ta có nguy cơ xem họ như một nhóm xã hội học đồng nhất, thay vì nhìn nhận họ là những con người cụ thể: tuy có thể có nhiều điểm chung, mỗi người vẫn là một cá vị độc đáo, với câu chuyện, kinh nghiệm và tính cách riêng. Và nếu chúng ta nói cụ thể hơn về người trẻ Công giáo, có những người đạo đức và dấn thân (thường không phải là đa số); có những người gắn bó với Giáo hội ở những mức độ khác nhau, từ thường xuyên đến thỉnh thoảng; có những người đang tìm kiếm một điều gì đó sâu xa hơn; và có những người mà các câu hỏi về đức tin và niềm tin tôn giáo vẫn chưa thực sự thu hút sự quan tâm của họ.

Chính vì sự đa dạng này, sẽ không có những câu trả lời dễ dàng hay những giải pháp đơn giản về mặt tổ chức, chẳng hạn như các chương trình chuyên biệt, việc đổi mới các tài liệu giáo lý, khơi dậy sức sống cho các nhóm giới trẻ giáo xứ, v.v. Những điều này đều quan trọng, nhưng còn có một vấn đề căn bản hơn cần được quan tâm: đó là văn hóa. Hành trình hiệp hành, tuy phần nào liên quan đến các cơ cấu, nhưng về căn bản hơn, đòi hỏi một sự thay đổi trong văn hóa của Giáo hội – điều mà Đức Giáo hoàng Lêô XIV gọi là một phong cách nhất định, cần được thể hiện trong tất cả mối tương quan giữa chúng ta với nhau. Khi giao tiếp với người trẻ, phong cách tương tác của chúng ta vô cùng quan trọng. Chúng ta phải coi trọng họ, chúng ta phải có và thể hiện sự tôn trọng đối với họ, đồng thời lắng nghe họ một cách cẩn thận như những cá nhân cụ thể, chứ không phải như một nhóm đồng nhất. Văn hóa hiệp hành là văn hóa của sự gắn kết và đồng hành: chúng ta phải gặp gỡ họ ở nơi họ đang sống, xây dựng những mối tương quan dựa trên sự tôn trọng, lắng nghe và đón nhận, rồi cùng bước đi với họ trên hành trình trưởng thành.

Một câu hỏi trọng tâm được nhiều người trẻ đặt ra liên quan đến ý nghĩa của tính dục con người và mối liên hệ giữa tính dục với hôn nhân. Tại Úc, và có lẽ tại nhiều quốc gia khác, quan niệm về mối liên hệ tất yếu giữa hoạt động tình dục và việc sinh sản, cũng như tầm quan trọng của mối liên hệ ấy trong hôn nhân Kitô giáo, không còn được hiểu hoặc chấp nhận một cách rộng rãi. Như vị Giám đốc phụ trách về Giáo dục Tôn giáo tại bang Tây Úc, một người đã kết hôn và có các con đang ở tuổi thiếu niên, giải thích với tôi: “Nhiều người trẻ của chúng ta đã thừa hưởng những quan niệm về tính dục vốn ăn sâu trong nền văn hóa, khác biệt đáng kể so với quan điểm của Giáo hội. Họ có thể hiểu lập trường của Giáo hội, nhưng không dễ dàng đón nhận lập trường ấy.” Điều này làm lộ rõ sự căng thẳng giữa quan điểm của Giáo hội và một số trào lưu có ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội đương đại. Theo nhận định của nhiều người, điều này cũng cho thấy sức ảnh hưởng của mạng xã hội, ngành giải trí, văn hóa bạn bè đồng trang lứa và những người có ảnh hưởng trên mạng, vốn thường xuyên đưa ra một quan niệm về các mối tương quan giữa con người, trong đó đề cao sự thành toàn bản thân, quyền tự quyết và hạnh phúc tức thời hơn là tính bền vững, sự hy sinh và giao ước.

Ngoài ra, nhiều người trẻ ngày nay đang phải vật lộn với những trải nghiệm đau thương như sự đổ vỡ hôn nhân trong chính gia đình mình, bạo lực gia đình, tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ, cũng như những sai phạm về luân lý của các vị lãnh đạo Giáo hội, khiến uy tín và chứng tá của họ bị tổn hại. Chúng ta đang phải cạnh tranh với nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc lý giải ý nghĩa của hôn nhân.

Đồng thời, nhiều người trẻ đang tìm kiếm những mối tương quan có thể khơi dậy điều tốt đẹp nhất nơi họ, bền vững chứ không chóng qua, và mang lại một nền tảng vững chắc để họ xây dựng một tương lai có ý nghĩa. Người trẻ cần được khích lệ trong những khát vọng ấy và được đồng hành khi họ tìm cách xây dựng những mối tương quan như thế. Họ cũng cần được lắng nghe và đồng hành với sự thấu hiểu và lòng thương cảm, khi từng bước trưởng thành, đôi khi phải trải qua những đau đớn, để đạt tới một sự hiểu biết chín chắn hơn về những gì làm nên các mối tương quan mang lại sự sống ấy. Ở cả cấp giáo xứ và giáo phận, cần đổi mới sự tập trung vào việc phát triển các phương thức tương tác với người trẻ trong giai đoạn quan trọng này của cuộc đời họ. Vì quá nhiều cuộc hôn nhân kết thúc bằng ly dị và quá nhiều mối tương quan khác cũng tan vỡ, nhiều người trẻ hoài nghi liệu sự cam kết suốt đời có khả thi, thậm chí có đáng mong ước hay không. Trong bối cảnh ấy, chứng tá của những đôi vợ chồng và gia đình bền vững là một phương thế đầy sức thuyết phục. Một đôi vợ chồng đã nói với tôi: “Lý luận có sức thuyết phục nhất về hôn nhân Kitô giáo thường chính là một đôi vợ chồng sống tốt đời sống hôn nhân của mình.” Nếu các cộng đoàn giáo xứ địa phương có thể tìm ra những cách thức để chứng tá của các đôi vợ chồng và gia đình vừa được nhìn thấy vừa được trân trọng, thì nỗi sợ cam kết và những hoài nghi về tính bền vững đang gây băn khoăn cho nhiều người trẻ có thể phần nào được giảm bớt. Ở đây có một sứ vụ đích thực của việc làm chứng trung thành, và sứ vụ ấy rất có thể cần được chính thức nhìn nhận trong các cộng đoàn giáo xứ và giáo phận. Các khóa chuẩn bị hôn nhân hiển nhiên là một môi trường thích hợp cho “sứ vụ làm chứng trung thành” ấy. Các chương trình giáo dục tôn giáo trong trường Công giáo cũng vậy. Tại những giáo xứ biết chào đón và thân thiện với người trẻ, khả năng thực thi sứ vụ này sẽ được gia tăng đáng kể.

Gần đây, một linh mục đã chia sẻ với tôi về “nền thần học cao quý của Giáo hội liên quan đến sự thân mật trong hôn nhân”. Ngài cho rằng một trong những mục tiêu của khóa chuẩn bị hôn nhân phải là trình bày “nền thần học cao quý” ấy theo hướng tích cực chứ không tiêu cực: như một lý tưởng đáng để nỗ lực vươn tới, thay vì như một danh sách những quy tắc và quy định phải tuân giữ. Việc trình bày những lý tưởng để người ta hướng tới, thay vì chỉ đưa ra những quy tắc phải tuân theo, sẽ dễ chinh phục lòng người hơn và giúp họ nhận ra các giá trị làm nền tảng cho những quy tắc và quy định ấy. Cách tiếp cận này cũng củng cố tinh thần đồng hành và nhìn nhận rằng mỗi người đều đang trên một hành trình sống và hành trình đức tin. Mặc dù những đôi bạn trẻ sống chung trước khi kết hôn chưa đạt tới lý tưởng của hôn nhân Kitô giáo, nhưng điều đó không có nghĩa là không có gì tốt đẹp trong mối tương quan của họ. Chúng ta gặp gỡ họ trong hoàn cảnh hiện tại và đồng hành với họ khi họ tiến bước hướng tới việc thể hiện lý tưởng Kitô giáo một cách trọn vẹn hơn. Tuy nhiên, như Đức Thánh Cha Phanxicô đã đặt câu hỏi trong Tông huấn Amoris Laetitia: “Ngày nay ai là người sẽ nói về những điều này? Ai có thể quan tâm đến các bạn trẻ? Ai sẽ giúp họ chuẩn bị một cách nghiêm túc để sống cho một tình yêu cao thượng và quảng đại?” (AL 284).

Giáo hội Công giáo luôn tìm cách duy trì một sự căng thẳng mang tính sáng tạo giữa lòng trung thành với các lý tưởng của mình và sự tôn trọng đối với những người đang nỗ lực để sống theo các lý tưởng ấy, hoặc những người, ở một giai đoạn nào đó trong cuộc đời, cảm thấy các lý tưởng ấy thiếu thực tế hay chưa đủ sức thuyết phục. Khi đặt sứ vụ và thực hành mục vụ của Giáo hội trên nền tảng những mối tương quan tình yêu, lòng trắc ẩn và sự kiên nhẫn, đồng thời dấn thân vào hành trình đầy thách đố của việc đồng hành trong tôn trọng, chúng ta sẽ gieo những hạt giống mà người khác sẽ gặt hái. Đây là một lối tiếp cận mục vụ hợp tình hợp lý đối với mọi người, nhưng đặc biệt phù hợp với người trẻ.

Đức Tổng Giám mục Timothy Costelloe, S.D.B (amorislaetitia.va)