DẪN NHẬP

I. TÌNH HÌNH DI DÂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI MACAO

II. ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO TẠI MACAO

1. Sự đa dạng tôn giáo

2. Giáo hội Công giáo tại Macao

3. Vai trò và thách thức

III. DI DÂN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI MACAO TRONG DÒNG CHẢY CỦA CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

1. Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Macao

2. Di dân Công giáo Việt Nam tại Macao trong công cuộc truyền giáo của Giáo hội

2.1. Vai trò của giáo sĩ

2.2. Vai trò của tu sĩ

2.3. Vai trò của giáo dân

3. Những thách đố đối với di dân Công giáo Việt Nam trong sứ mạng loan báo Tin mừng tại Macao

KẾT LUẬN

DẪN NHẬP

Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy biến động, do những cuộc cách mạng mang tính toàn cầu như: hiện đại hóa, đô thị hóa, công nghiệp hóa, toàn cầu hóa, đặc biệt là công nghệ thông tin. Chính những cuộc cách mạng này đã kéo biết bao người đang ở trong các vùng quê yên ổn đến những nơi chốn xa lạ mà phần đông họ chưa bao giờ biết đến, tạo nên một làn sóng di dân với quy mô rộng lớn trên toàn thế giới.[1] Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi đã phác họa hiện tượng di dân trong thế giới hiện tại như sau: “Ngày nay di dân đang trở thành một làn sóng dịch chuyển của con người lớn nhất trong lịch sử mọi thời đại... Di dân đang trở nên một vấn đề ngày càng phức tạp dưới các khía cạnh xã hội, văn hóa, chính trị, tôn giáo, kinh tế và mục vụ…”[2] Tài liệu nói thêm: “Di dân là vấn đề mà hiện nay toàn thế giới phải đối mặt. Thực tế thì gần như tất cả mọi quốc gia đều phải đương đầu với hiện tượng di dân đang bùng nổ dưới hình thức này hay hình thức khác. Nó ảnh hưởng tới đời sống xã hội, kinh tế, chính trị, tôn giáo của họ, đồng thời đang ngày càng trở thành một hiện tượng thường trực trong cấu trúc xã hội”.[3]

Cũng trong xu hướng chung của di dân toàn cầu, nhiều năm trở lại đây, làn sóng di dân của người Việt[4] ngày càng trở nên rầm rộ hơn bao giờ hết. Việc di cư không dừng lại ở tầm mức vùng miền trong nước như nhiều năm trước đây, mà ngày nay, người Việt chuyển hướng di cư đến nhiều quốc gia phát triển như Anh, Mỹ, Úc, Canada, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,…

Bỏ qua những lý do mang nặng tính xã hội, kinh tế và các yếu tố tiêu cực của hiện tượng di dân, ở góc nhìn Giáo hội, theo Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, chúng ta phải thừa nhận rằng “di dân là một trong các dấu chỉ thời đại”.[5] Cách nào đó, Hội thánh nhận ra tín hiệu của Thiên Chúa thông qua hiện tượng di dân. Và “như thế chúng ta có thể coi hiện tượng di dân hiện nay là một ‘dấu chỉ thời đại’ đầy ý nghĩa, là một thách đố cần khám phá và sử dụng trong công tác canh tân nhân loại và loan báo Tin mừng bình an”.[6]

Điểm qua một vài luận điểm về hiện tượng di dân như thế để chúng ta có thể nhận thấy di dân không chỉ dừng lại ở việc tìm kiếm và mưu cầu một cuộc sống mới về mặt xã hội nhưng di dân còn là một hình thái mà qua đó, Giáo hội muốn con cái mình thực thi việc truyền giáo ở những nơi mà họ đang sống cuộc sống của một người di dân. Cũng từ góc nhìn của Giáo hội, người di dân đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong sứ vụ truyền giáo của Giáo hội.

Là một tu sĩ thuộc Hội Dòng Truyền Giáo Ngôi Lời (SVD), tôi đã có dịp sống, gắn bó và đồng hành với các cộng đoàn di dân Công giáo Việt Nam tại Macao suốt bốn năm qua. Giữa nhịp sống hối hả mưu sinh nơi đô thị phồn hoa, người Công giáo Việt vẫn vững vàng giữ lấy đức tin của mình. Ngay trong lòng “Las Vegas của châu Á”, những người di dân ấy không chỉ kiên cường sống đạo mà còn âm thầm loan báo Tin mừng qua chính công việc và đời sống hằng ngày. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi xin được chia sẻ đôi nét khái quát về Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Macao, một vài suy nghĩ về đời sống của người di dân nơi đây, cũng như vai trò của người Công giáo Việt trong việc sống và loan báo Tin mừng giữa lòng Đặc khu hành chính này.


I. TÌNH HÌNH DI DÂN TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI MACAO

Di cư là một hiện tượng phức tạp, gắn liền với các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và những khát vọng cá nhân. Nó diễn ra song hành cùng các xu hướng toàn cầu như hội nhập, số hóa và đô thị hóa. Theo báo cáo năm 2020, có khoảng 281 triệu người di cư quốc tế, chiếm 3,6% dân số toàn cầu. Đa số di cư vì công việc, học tập hoặc đoàn tụ gia đình; một số khác phải rời quê hương do xung đột hay thiên tai. [7]

Macao là một thành phố hình thành và phát triển nhờ dòng người nhập cư. Từ một làng nhỏ với 400 cư dân vào năm 1555,[8] Macao nhanh chóng trở thành cảng thương mại sầm uất thời Minh - Thanh. Dân số biến động mạnh theo các biến cố lịch sử, từ 40.000 người năm 1640 xuống dưới 4.000 sau lệnh cấm biển, rồi tăng mạnh nhờ làn sóng nhập cư và chính sách thương mại sau này. Đến năm 1910, Macao có khoảng 75.000 người và vọt lên 250.000 vào thập niên 1940 do dòng người tị nạn từ Trung Quốc đại lục.

Từ thập niên 1980, chính sách Cải cách và Mở cửa của Trung Quốc khiến số lượng người nhập cư từ đại lục tăng nhanh, đưa dân số Macao lên hơn 680.000.[9] Ngành may mặc từng là trụ cột kinh tế, thu hút lượng lớn lao động từ vùng Đồng bằng sông Châu Giang. Nhiều người trong số họ được hợp pháp hóa qua hai đợt ân xá lớn vào các năm 1982 và 1990.[10]

Hiện nay, Macao phân biệt rõ giữa lao động di cư (lao động không cư trú) và người nhập cư (người có giấy phép một chiều hoặc định cư qua các chương trình khác). Người nhập cư được cấp quyền cư trú vĩnh viễn sau bảy năm, trong khi lao động không cư trú không có quyền này. Đến cuối năm 2019, lao động di cư và người nhập cư chiếm lần lượt 26% và 27% dân số Macao.

Macao là thành phố quốc tế đa sắc tộc với khoảng 30–35% dân số là người nước ngoài đến từ Trung Quốc đại lục, Hồng Kông, Đông Nam Á, châu Âu và các nơi khác trên thế giới.[11] Họ giữ vai trò thiết yếu trong ngành du lịch, khách sạn, nhà hàng và dịch vụ. Trong đó, đội ngũ giúp việc gia đình đến từ Philippines, Việt Nam và Indonesia đóng góp quan trọng vào đời sống của nhiều gia đình tại Macao.


II. ĐỜI SỐNG TÔN GIÁO TẠI MACAO

Luật Cơ bản của Đặc khu hành chính Macao quy định: “Cư dân Macao có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, tự do truyền đạo và tham gia các hoạt động tôn giáo công khai”.[12] Chính phủ, theo nguyên tắc này, không can thiệp vào công việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo hay những nỗ lực của họ trong việc duy trì, phát triển quan hệ với các đối tác bên ngoài, miễn là không vi phạm pháp luật của đặc khu.

Luật Tự do Tôn giáo và Thờ phượng bảo đảm quyền tự do tôn giáo,[13] tín ngưỡng và quy định rằng Macao không công nhận quốc giáo. Các mối quan hệ với các tôn giáo đều dựa trên nguyên tắc phân ly và trung lập; mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật.

1. Sự đa dạng tôn giáo

Macao là một cộng đồng đa dạng về tín ngưỡng. Bên cạnh Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo, vốn gắn bó lâu đời với người dân địa phương còn có các tôn giáo du nhập như Công giáo, Tin lành và Hồi giáo.

Các cộng đồng tôn giáo duy trì những nghi lễ và lễ hội riêng. Chẳng hạn, giáo phận Macao tổ chức các cuộc rước theo lịch Công giáo, như lễ Đức Mẹ Fatima, Chúa Giêsu Chịu Nạn và Lễ Mình Thánh Chúa. Trong các dịp lễ Phật giáo, tín đồ tụ tập tại chùa, thắp hương và tụng kinh cầu nguyện cho chúng sinh. Lễ hội truyền thống của người Hoa, như mừng sinh nhật Thiên Hậu, vị thần bảo hộ người đi biển, lễ Thần Đất, Tam Công hay Na Tra… vẫn được tổ chức long trọng.

2. Giáo hội Công giáo tại Macao

Giáo phận Macao được thành lập ngày 23 tháng 01 năm 1576 theo sắc chỉ của Đức Giáo hoàng Grêgôriô XIII,[14] trở thành trung tâm truyền giáo Công giáo đầu tiên tại Viễn Đông, từng quản hạt một vùng rộng lớn gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và các đảo Đông Nam Á. Vị Giám quản Tông toà đầu tiên là linh mục Dòng Tên Melchior Carneiro.

Từ năm 1565, các tu sĩ Dòng Tên đã mở trung tâm truyền giáo và trường đại học tại đây,[15] với trình độ được công nhận ngang tầm các đại học châu Âu vào cuối thế kỷ XVI. Nhà thờ Mẹ Thiên Chúa, thường gọi là Nhà thờ Thánh Phaolô từng ba lần bị cháy; phần còn lại hiện nay là di tích nổi tiếng sau vụ hỏa hoạn năm 1835. Ngoài Dòng Tên, các dòng Phanxicô, Augustinô, Đa Minh và nữ tu Thánh Clara cũng đến truyền giáo trong thế kỷ XVI – XVII.

Hiện nay, giáo phận Macao có 9 giáo xứ, 18 nhà thờ độc lập và 55 nhà nguyện. Năm 2022, có 17.217 giáo dân thường trú và khoảng 15.210 giáo dân tạm trú, gồm người Bồ Đào Nha, người nói tiếng Anh, lao động Philippines, Việt Nam và nhiều quốc tịch khác, tổng cộng 32.427 người.[16]

Đội ngũ phục vụ gồm 1 giám mục giáo phận, 1 nguyên giám mục, 13 linh mục nghỉ hưu, 20 linh mục đang phục vụ, 60 linh mục và 30 tu sĩ nam thuộc các dòng tu, cùng 142 nữ tu và 175 tình nguyện viên trong các hoạt động bác ái.[17]

Về giáo dục, tính đến năm 2024, Giáo phận quản lý 31 cơ sở với 32.339 học sinh gồm: 1.184 đại học, 10.992 trung học, 14.072 tiểu học và 6.091 mầm non. Về xã hội, Giáo hội vận hành 22 cơ sở gồm 7 trung tâm chăm sóc trẻ, 6 viện dưỡng lão, 4 cơ sở phục hồi chức năng và 5 lưu xá cho học sinh khó khăn. Ngoài ra còn có nhà sách, thư viện, trung tâm văn hóa và truyền thông, cơ sở hội nghị, tổ chức phúc lợi, trại hè, tĩnh tâm, cùng nhiều ấn phẩm tôn giáo.[18]

3. Vai trò và thách thức

Là một trong những khu định cư châu Âu sớm nhất tại Đông Á, Macao giữ vị trí chiến lược trong việc lan tỏa đức tin Công giáo trong khu vực. Trải qua nhiều thế kỷ, đức tin này đã hòa nhập sâu vào đời sống văn hóa. Người bản địa và cộng đồng gốc Bồ Đào Nha vẫn tích cực tham gia các sinh hoạt tôn giáo.

Ngày nay, dù chịu tác động của hiện đại hóa, đạo Công giáo vẫn hiện diện rõ nét qua các di tích, trường học, bệnh viện và hoạt động xã hội. Nhiều nghi lễ và lễ hội truyền thống vẫn được duy trì, trở thành nét đặc sắc thu hút du khách.

Tuy nhiên, Giáo hội cũng đối mặt thách thức: làn sóng di cư từ Trung Quốc đại lục đem theo nhiều tín ngưỡng khác nhau, làm giảm tỷ lệ người Công giáo; đồng thời, sự thế tục hóa và chủ nghĩa tiêu dùng khiến một số người lơ là với đời sống đức tin.

Dẫu vậy, đức tin Công giáo vẫn gắn bó chặt chẽ với bản sắc Macao. Các nhà thờ, lễ hội và hoạt động bác ái tiếp tục là cầu nối giữa quá khứ thuộc địa và hiện tại năng động, góp phần định hình đời sống tinh thần và xã hội nơi đây.


III. DI DÂN CÔNG GIÁO VIỆT NAM TẠI MACAO TRONG DÒNG CHẢY CỦA CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI

1. Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Macao

Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Macao (thường được gọi là Cộng đoàn Thánh Giuse) được thành lập năm 2007 bởi hai linh mục Dòng Truyền giáo Ngôi Lời (SVD): Gioan Baotixita Lê Văn Bá và Giacôbê Hồ Ngô Lữ Viên. Những ngày đầu, cộng đoàn chỉ có vài chục thành viên, sinh hoạt tạm thời tại nhà nguyện của Dòng Ngôi Lời ở Macao. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, số tín hữu gia tăng nhanh chóng. Do không gian nhà nguyện hạn hẹp, với sự chấp thuận của Đức Giám mục José Lai Hung-seng, Giám mục Giáo phận Macao, cộng đoàn đã chính thức chuyển về sinh hoạt tại Giáo xứ Đức Mẹ Fatima từ năm 2009 cho đến nay.

Cộng đoàn quy tụ những người Công giáo Việt Nam đang sinh sống và làm việc tại đặc khu. Trước đại dịch Covid-19, số thành viên dao động từ 300 đến 400 người.[19] Tuy nhiên, do tác động của dịch bệnh, khó khăn kinh tế và một số chính sách nhập cư mới của chính quyền Macao, nhiều người đã trở về Việt Nam. Hiện nay, cộng đoàn còn khoảng hơn 200 thành viên.

Cộng đoàn Thánh Giuse là một tập thể gắn bó, yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Mỗi người đều nuôi dưỡng niềm tin sâu sắc vào Thiên Chúa, thể hiện qua đời sống đạo đức, lao động lương thiện và tinh thần phục vụ. Hiện cộng đoàn chỉ có một linh mục chính là Cha Giacôbê Hồ Ngô Lữ Viên, SVD; cùng một số tu sĩ nam Dòng Ngôi Lời, các nữ tu Dòng Chúa Chiên Lành, nữ tu và chị em đệ tử Dòng Đa Minh Truyền giáo Mân Côi. Dù nhân sự khiêm tốn, các vị vẫn luôn nhiệt thành, tận tụy chăm lo cho đời sống thiêng liêng và mục vụ của cộng đoàn.

Hằng ngày, cộng đoàn có Thánh lễ lúc 21g15, là dịp để mọi người cùng nhau cầu nguyện và tôn vinh Thiên Chúa. Ngoài ra, cộng đoàn còn có Hội Thánh Tâm Chúa Giêsu, nơi các thành viên cùng cầu nguyện, chia sẻ và nâng đỡ nhau trong tình bác ái, với một đức tin son sắt và lòng mến bền chặt.

2. Di dân Công giáo Việt Nam tại Macao trong công cuộc truyền giáo của Giáo hội

Trong Tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm vui Tin mừng), Đức Giáo hoàng Phanxicô mời gọi: “Tôi muốn hướng đến mọi Kitô hữu Công giáo, mời gọi họ bước vào một giai đoạn mới của việc Phúc âm hóa, được ghi dấu ấn của niềm vui này và vạch lối đi cho Giáo hội trong những năm tới”.[20] Sứ vụ truyền giáo là sứ mạng cốt yếu của Giáo hội nói chung và của mỗi Kitô hữu nói riêng; đó là trách nhiệm hàng đầu của chúng ta. Trong tư cách là những Kitô hữu, người di dân Việt Nam tại Macao cũng mang trong lòng thao thức và trách nhiệm góp phần vào công cuộc truyền giáo.

Dưới đây, người viết xin trình bày một số vai trò quan trọng của cộng đoàn di dân Công giáo Việt Nam trong dòng chảy chung của sứ vụ truyền giáo của Giáo hội, đồng thời phân chia theo từng thành phần trong cộng đoàn: giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân.

2.1. Vai trò của giáo sĩ

Giáo hội Công giáo, với truyền thống phong phú và nền tảng thần học vững chắc, trao cho hàng giáo sĩ sứ mạng then chốt: lãnh đạo tinh thần, giảng dạy, chăm sóc mục vụ, bảo vệ công lý xã hội, xây dựng cộng đoàn và hướng dẫn đạo đức. Tại Macao, một đô thị sôi động và đa văn hóa, các giáo sĩ, đặc biệt là giáo sĩ người Việt, hiện thực hóa sứ mạng này giữa cộng đồng người bản địa và người di dân.[21] Tính đến 8 năm 2024, chỉ có hai linh mục Việt Nam đang phục vụ tại Giáo phận Macao, nhưng vai trò của họ vẫn mang ý nghĩa đặc biệt.

Trước hết, các linh mục là người chăn dắt, hướng dẫn tín hữu đến mối tương quan sâu đậm hơn với Thiên Chúa qua việc cử hành bí tích, nhất là Thánh lễ hằng ngày cho cộng đoàn di dân. Thánh lễ không chỉ là nguồn ơn sủng, mà còn nối kết người di dân với nhau và với cộng đoàn bản địa. Bằng đời sống cầu nguyện, phụng vụ và gương sáng cá nhân, các giáo sĩ nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của cộng đoàn, giúp tín hữu nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhịp sống tất bật.[22]

Bên cạnh đó, vai trò giảng dạy và loan báo Tin mừng luôn là nền tảng của sứ vụ. Các linh mục người Việt tích cực chia sẻ Lời Chúa, dạy giáo lý, tổ chức học Kinh Thánh và thảo luận thần học, đồng thời công bố Tin mừng cho cả những người chưa nghe hoặc chưa hoàn toàn đón nhận. Họ giúp tín hữu hiểu và áp dụng giáo huấn của Giáo hội vào thực tế đời sống, từ đó khích lệ giáo dân sống đức tin một cách xác tín và chủ động tham gia vào sứ mạng loan báo Tin mừng.

Trong lãnh vực mục vụ, các linh mục đồng hành với giáo dân ở những bước ngoặt quan trọng của đời sống như rửa tội, hôn nhân, xức dầu và tiễn biệt người quá cố. Họ lắng nghe, an ủi và nâng đỡ trong lúc người di dân gặp khủng hoảng, đồng thời hiện diện giữa đời thường để thấu hiểu và chia sẻ những khó khăn của họ. Chính sự gần gũi này đã làm nổi bật tình thương của Giáo hội dành cho từng người con xa xứ.

Một khía cạnh khác là bảo vệ công lý xã hội. Theo giáo huấn Giáo hội Công giáo, hàng giáo sĩ được mời gọi lên tiếng bênh vực người yếu thế, đấu tranh chống lại bất công và thúc đẩy lợi ích chung. Giữa đại dịch Covid-19, các linh mục người Việt tại Macao đã trở thành điểm tựa tinh thần cùng những hỗ trợ thiết thực cho cộng đoàn di dân lúc gặp khó khăn.

Đồng thời, họ cũng góp phần gắn kết cộng đoàn di dân Việt với cộng đoàn bản địa. Qua việc tổ chức các sinh hoạt, khuyến khích tham gia các nhóm phục vụ, họ tạo môi trường thân thiện, nơi mọi người cảm thấy mình thuộc về và được nâng đỡ để sống đức tin. Các linh mục còn là cha linh hướng, là người tư vấn trong các vấn đề về gia đình, xã hội, môi trường, trở thành tiếng nói ngôn sứ trước những thách thức của thời đại.

Tuy vậy, sứ vụ của họ vẫn đối diện với nhiều giới hạn như: thiếu quyền tự quyết trong việc hoạch định chương trình truyền giáo, chịu tác động của định kiến hoặc phân biệt đối xử và gặp khó khăn khi tổ chức hoạt động cho cộng đoàn di dân vốn bấp bênh và đa dạng nghề nghiệp. Vì thế, ngoài việc đồng hành và khích lệ giáo dân theo định hướng giáo phận, các linh mục người Việt đã và đang tìm kiếm những phương thức truyền giáo hiệu quả hơn.

Dù ít về số lượng và gặp nhiều trở ngại, các giáo sĩ người Việt tại Macao vẫn âm thầm cống hiến, thể hiện trọn vẹn vai trò mục tử của mình. Qua việc lãnh đạo tinh thần, giảng dạy, chăm sóc mục vụ, bảo vệ công lý, xây dựng cộng đoàn và định hướng đạo đức, họ góp phần hiện thực hóa sứ mạng của Giáo hội, làm chứng cho tình yêu và lòng thương xót của Chúa Kitô giữa một thế giới khát khao niềm hy vọng và ơn chữa lành.

2.2. Vai trò của tu sĩ

Đời sống tu trì trong Giáo hội Công giáo luôn giữ một vị trí đặc biệt, gắn liền với sứ mạng loan báo Tin mừng và phục vụ con người. Qua ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục, các tu sĩ không chỉ thực hiện cam kết cá nhân với Thiên Chúa, mà còn đưa ra một chứng tá sống động, thách thức chủ nghĩa vật chất và những giá trị thế tục, nhất là tại Macao, một thành phố phồn hoa. Sự đơn sơ, tận hiến và dấn thân của họ khơi gợi nơi người khác niềm thao thức về ý nghĩa đời sống và định hướng ưu tiên của bản thân.

Số tu sĩ nam nữ người Việt tại Macao không nhiều, đa số được gửi đến theo chương trình đào tạo của hội dòng. Tuy nhiên, ngoài những công việc của nhà dòng, họ vẫn tích cực tham gia phục vụ cộng đoàn di dân và cộng đoàn bản địa. Trong vai trò chứng nhân Tin mừng, các tu sĩ hiện diện âm thầm nhưng hiệu quả, khích lệ tín hữu sống đức tin một cách sâu sắc và xác tín hơn.

Một trọng tâm trong sứ vụ của họ là phục vụ và bác ái. Nhiều tu sĩ trẻ, ngoài giờ học, đã dấn thân vào các hoạt động thăm viếng tù nhân, chăm sóc người già neo đơn, thăm bệnh nhân tại viện dưỡng lão, dạy giáo lý, phục vụ cắm hoa, trang trí nhà thờ… Những việc làm này phản ánh lựa chọn ưu tiên của Giáo hội: nâng đỡ những ai yếu thế, neo đơn hay đau khổ. Thông qua việc đồng hành, lắng nghe và phục vụ, các tu sĩ không chỉ đáp ứng nhu cầu về vật chất mà còn xoa dịu những thiếu thốn về tinh thần, để tình yêu của Thiên Chúa chạm tới đời sống của người được phục vụ. Công việc này là một biểu hiện cụ thể của lời kêu gọi công lý xã hội và tình yêu đối với tha nhân của Giáo hội,[23] tạo ảnh hưởng sâu sắc đến các cá nhân và cộng đoàn tại Macao.

Bên cạnh phục vụ, đời sống cầu nguyện và suy niệm là nền tảng vững chắc của ơn gọi tu trì. Giữa một môi trường ít sôi động về đời sống thiêng liêng, các tu sĩ duy trì nhịp sống cầu nguyện, cử hành phụng vụ và chầu Thánh Thể, qua đó nuôi dưỡng đời sống tâm linh của chính mình và của cộng đoàn. Lời cầu nguyện của họ không chỉ giúp bản thân gắn bó với Chúa, mà còn chuyển tải lời khẩn xin cho Giáo hội, xã hội và những người họ phục vụ.[24]

Giáo dục cũng là lãnh vực mà các tu sĩ người Việt đóng góp vào sứ mạng của Giáo hội tại Macao, dù không trực tiếp tham gia hệ thống giảng dạy chính quy. Qua việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy giáo lý cho các em thiếu nhi, dự tòng, các nhóm và hội đoàn, họ góp phần đào tạo thế hệ tương lai trong đức tin.[25] Sự hiện diện của các tu sĩ trong giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn gieo vào lòng người học các giá trị Tin mừng, tinh thần trách nhiệm và khả năng sống đức tin giữa đời.

Đời sống cộng đoàn là một nét đặc thù khác của ơn gọi tu sĩ. Sự hòa hợp giữa những cá tính khác nhau, cùng hướng đến một mục tiêu chung là yêu mến và phục vụ Chúa Kitô, trở thành minh chứng cụ thể cho tinh thần hiệp thông của Giáo hội. Đó cũng là lời mời gọi chống lại chủ nghĩa cá nhân vốn phổ biến trong xã hội tiêu thụ.

Qua phục vụ, cầu nguyện, giáo dục và đời sống cộng đoàn, các tu sĩ người Việt tại Macao góp phần làm phong phú sứ mạng truyền giáo của Giáo hội. Sự tận tụy và hy sinh của họ là minh chứng cho sức mạnh biến đổi của Tin mừng, đồng thời là lời kêu gọi sống yêu thương và phục vụ, để mọi người nhận ra sự hiện diện và lòng thương xót của Thiên Chúa trong thế giới hôm nay.

2.3. Vai trò của giáo dân

Giáo dân là lực lượng không thể thiếu trong việc thực hiện sứ mạng truyền giáo của Giáo hội.[26] Sứ mạng ấy mời gọi họ sống theo Tin mừng, tham gia vào đời sống cộng đoàn, thúc đẩy công lý và bác ái xã hội, đồng thời chu toàn trách nhiệm gia đình và nghề nghiệp. Mỗi hành động, dù nhỏ bé, đều góp phần xây dựng một thế giới phản chiếu tình yêu và giáo huấn của Chúa Kitô.

Tại Macao, số người Công giáo Việt Nam chỉ chiếm một phần rất nhỏ[27] trong khoảng 7.000 người Việt đang sinh sống và làm việc.[28] Khác với cộng đồng người Việt ở nhiều nước, đa số người Việt tại đây di cư vì mục đích kinh tế và chỉ lưu trú tạm thời. Khoảng hai phần ba giáo dân Việt Nam đến từ Giáo phận Vinh, phần còn lại từ Hưng Hóa, Thái Bình, Phát Diệm và một số ít thuộc các giáo xứ miền Nam. Họ làm việc trong công xưởng, nhà hàng, khách sạn, trường học và casino.

Dù mưu sinh nơi đất khách, người Công giáo Việt Nam vẫn giữ vững đức tin và tinh thần truyền giáo nhiệt thành. Họ sống các giá trị Tin mừng qua lòng từ bi, liêm chính và khiêm nhường trong mọi tương tác. Nhờ đó, đời sống và lời chứng của họ trở thành phương tiện loan báo Tin mừng, tác động tích cực đến người xung quanh và lan tỏa tinh thần đổi mới trong cộng đồng.

Ngoài công việc, giáo dân Việt Nam tích cực tham gia sinh hoạt cộng đoàn: tham dự Thánh lễ, lãnh nhận các bí tích, tham gia hội đoàn, phục vụ trong giáo xứ. Sự hiện diện và đóng góp này không chỉ củng cố sức sống đức tin, mà còn nuôi dưỡng sự gắn bó và hiệp nhất giữa cộng đoàn di dân và cộng đoàn bản địa.

Truyền giáo luôn là trọng tâm của sứ mạng. Giáo dân Việt Nam làm chứng bằng chính đời sống hằng ngày và qua những hành động chủ động: chia sẻ đức tin với đồng nghiệp, mời người ngoài đạo đến dự Thánh lễ, tham gia các chương trình mục vụ, bác ái do linh mục đặc trách, tu sĩ hay hội đoàn tổ chức. Họ lập các nhóm cầu nguyện cho gia đình ở quê nhà, thành lập Hội Thánh Tâm Chúa Giêsu để cùng nhau thực hiện các công tác bác ái tại Macao và hỗ trợ nhiều nơi ở Việt Nam. Họ cũng đảm nhận những phần vụ cụ thể như tham gia ca đoàn, phục vụ Thánh lễ và cộng đoàn với tinh thần tận tâm và ý thức sứ mạng.

Nhờ đời sống yêu thương, thân tình và chân thành, người Công giáo Việt Nam tại Macao đã làm thay đổi cái nhìn tiêu cực của một số người Việt ngoài Kitô giáo. Nhiều người, sau khi tiếp xúc, đã cảm nhận được những giá trị tốt đẹp nơi người Công giáo, và dần tìm đến nhà thờ, tham dự Thánh lễ, tham gia hoạt động từ thiện, văn nghệ và gắn bó hơn với cộng đoàn.

Có thể khẳng định, vai trò của giáo dân trong sứ mạng truyền giáo vừa đa dạng, vừa sâu sắc. Khi họ sống theo Tin mừng, dấn thân cho cộng đoàn, thực thi công lý và bác ái, chu toàn bổn phận gia đình và nghề nghiệp, họ đang góp phần xây dựng một xã hội công bằng, yêu thương và làm sáng danh Chúa. Thông qua chứng tá sống động, người Công giáo Việt tại Macao tiếp tục mang tình yêu và bình an của Thiên Chúa đến với nhiều người, góp phần hoàn thành sứ mạng cứu rỗi nhân loại của Giáo hội.

3. Những thách đố đối với di dân Công giáo Việt Nam trong sứ mạng loan báo Tin mừng tại Macao

Qua những phân tích ở trên, có thể thấy Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Macao giữ một vai trò quan trọng trong bức tranh đa dạng tôn giáo và văn hóa của đặc khu này. Tuy nhiên, cộng đoàn vẫn đối diện với nhiều thách thức đáng kể, ảnh hưởng trực tiếp đến sứ vụ truyền giáo và quá trình hội nhập vào đời sống xã hội Macao.

Thách thức lớn đầu tiên là vấn đề hòa nhập văn hóa. Với tư cách là người di cư, giáo dân Việt Nam mang trên vai nhiệm vụ kép: vừa bảo tồn bản sắc văn hóa riêng, vừa thích nghi với phong tục và truyền thống địa phương. Dù Macao từng chịu ảnh hưởng từ Bồ Đào Nha trong nhiều thế kỷ,[29] nền văn hóa nơi đây chủ yếu mang đậm dấu ấn Trung Hoa. Sự tương đồng văn hóa Việt – Hoa chỉ phần nào giúp họ dễ tiếp cận, nhưng việc định hình một phương thức truyền giáo phù hợp với bối cảnh đặc thù này vẫn là điều khó khăn. Bài toán đặt ra là làm sao tiếp nhận những phong tục hiện đại của xã hội Macao mà không đánh mất di sản đức tin và truyền thống vốn có. Nhiều khi, điều này khiến các nhà truyền giáo cảm thấy bị cô lập hoặc bị gạt ra bên lề đời sống bản địa.

Ngôn ngữ và sự phân tầng xã hội là rào cản tiếp theo. Tiếng Quảng Đông và tiếng Bồ Đào Nha, hai ngôn ngữ chính tại Macao, lại không phải là thế mạnh của đa số người Công giáo Việt Nam. Rào cản này hạn chế khả năng giao tiếp, gây khó khăn trong việc tham gia đầy đủ vào các hoạt động của giáo xứ, hội đoàn và cộng đoàn địa phương. Ngôn ngữ hạn chế đồng nghĩa với việc khó tạo dựng mối quan hệ, giảm cảm giác thuộc về và làm chậm tiến trình truyền giáo đến với người bản địa. Song song đó, tâm lý phân tầng xã hội vẫn tồn tại: dù là giáo sĩ, tu sĩ hay giáo dân, người Việt vẫn bị xem là “người di cư”, không hoàn toàn ngang hàng với người bản địa. Điều này để lại tác động tâm lý và phần nào làm chùn bước những nỗ lực truyền giáo sâu rộng.

Sự đa dạng tôn giáo của Macao, bên cạnh nét phong phú, cũng gây ra những trở ngại. Phật giáo và các tín ngưỡng truyền thống vẫn chiếm ưu thế, trong khi cộng đồng Công giáo, đặc biệt là nhóm thiểu số người Việt, có thể gặp khó khăn khi chia sẻ và giải thích niềm tin của mình. Dù pháp luật bảo đảm sự tự do tôn giáo, nhưng thực tế cho thấy nhu cầu được chấp nhận và thấu hiểu vẫn chưa phải lúc nào cũng dễ dàng. Những nỗ lực loan báo Tin mừng của người di dân đôi khi vấp phải sự thờ ơ hoặc hoài nghi, dẫn đến tâm trạng nản lòng, làm giảm nhiệt huyết trong việc xây dựng các mối liên kết liên tôn giáo và liên văn hóa.

Tóm lại, Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại Macao đang đối diện với nhiều thách thức đa chiều, từ văn hóa, ngôn ngữ, vị thế xã hội cho đến môi trường tôn giáo. Việc vượt qua những rào cản này đòi hỏi sự kiên trì và đồng lòng từ mọi thành phần trong cộng đoàn, sự hỗ trợ và định hướng của Đức Giám mục giáo phận Macao, cũng như sự cởi mở và đón nhận từ phía người bản địa. Chỉ khi đó, người di dân mới có thể thăng tiến trong sứ mạng truyền giáo, vừa giữ vững bản sắc đức tin, vừa đóng góp tích cực vào bức tranh văn hóa – tôn giáo phong phú của Macao.


KẾT LUẬN

Sứ mạng truyền giáo của Giáo hội Công giáo tại Macao được làm phong phú đáng kể nhờ những nỗ lực tận tụy của các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong cộng đoàn Công giáo di dân Việt Nam. Mỗi thành phần đảm nhận một vai trò riêng, nhưng tất cả cùng góp phần xây dựng một cộng đoàn đức tin vững mạnh, sống động và tích cực lan tỏa thông điệp của Chúa Kitô trong bối cảnh đa văn hóa của đặc khu.

Các giáo sĩ Việt Nam đang thi hành mục vụ tại Macao đóng vai trò như những mục tử tinh thần quan trọng của các giáo xứ. Bằng việc giảng dạy, cử hành các bí tích và đồng hành mục vụ, họ không chỉ nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng mà còn vun đắp cảm giác gắn kết và thuộc về trong cộng đoàn. Vai trò lãnh đạo của họ giúp giáo dân hiểu sâu hơn về đức tin, khơi dậy tinh thần tham gia tích cực vào các sinh hoạt chung và cổ vũ họ sống chứng tá giữa đời.

Các nam nữ tu sĩ Việt Nam cũng góp phần thiết thực vào sứ vụ truyền giáo qua đời sống tận hiến và phục vụ âm thầm. Họ tham gia các sáng kiến đáp ứng cả nhu cầu tinh thần lẫn nhu cầu xã hội, thể hiện rõ các giá trị Tin mừng về lòng nhân ái và sự liên đới. Bằng cách kiến tạo môi trường bao dung, họ giúp người di dân dễ hòa nhập hơn vào cộng đoàn địa phương. Những nỗ lực của họ trong việc thúc đẩy công bằng xã hội và phục vụ cộng đồng còn truyền cảm hứng để các Kitô hữu mạnh dạn dấn thân hơn cho công cuộc loan báo Tin mừng.

Với giáo dân, sứ mạng truyền giáo được thể hiện bằng đời sống chứng tá hằng ngày. Người Công giáo Việt Nam tại Macao, dù là di dân tạm thời, vẫn mang theo một di sản văn hóa phong phú và góc nhìn độc đáo, góp phần làm giàu đời sống Giáo hội. Sự hiện diện của họ trong các nhóm cầu nguyện, lễ hội văn hóa, hoạt động bác ái, từ việc giúp đỡ người khó khăn đến phục vụ trong phụng vụ, đều là bằng chứng sống động cho đức tin được thể hiện bằng hành động. Qua mối tương quan hằng ngày, họ trở thành những “nhà truyền giáo” gần gũi, chia sẻ tình yêu và thông điệp của Chúa Kitô một cách tự nhiên và hiệu quả.

Sự hợp tác chặt chẽ giữa giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân trong cộng đoàn di dân tạo nên một sức mạnh hiệp thông, giúp sứ vụ truyền giáo của Giáo hội tại Macao trở nên sâu rộng và hiệu quả hơn. Trong một xã hội đa dạng, nơi sự tôn trọng và thấu hiểu văn hóa khác biệt là điều cần thiết, cách tiếp cận cộng tác này càng trở nên quan trọng. Cùng nhau, họ đáp ứng những nhu cầu tâm linh và xã hội của cộng đoàn địa phương, đồng thời thể hiện hình ảnh một Giáo hội rộng mở và hiệp nhất.

Như vậy, sự hiện diện và dấn thân của các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân Việt Nam tại Macao là yếu tố không thể thiếu trong công cuộc truyền giáo. Những nỗ lực kết hợp của họ không chỉ nuôi dưỡng đức tin của cộng đồng địa phương mà còn góp phần thúc đẩy sứ mạng của Giáo hội trong việc chia sẻ Tin mừng cho mọi người. Bằng sự tận tâm và tinh thần cộng tác, họ trở thành minh chứng sống động cho tính phổ quát của đức tin Công giáo, một sứ mạng vượt qua mọi biên giới, văn hóa và ngôn ngữ, để tình yêu và ân sủng của Chúa Kitô được lan tỏa khắp nơi. n

Lm. Giuse Nguễn Văn Thanh, SVD

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 150 (tháng 11 & 12 năm 2025)




[1] Lm. Gio-an Lưu Ngọc Quỳnh, C.Ss.R, Những thách đố trong đời sống đức tin của di dân, https://www.tonggiaophanhanoi.org/nhung-thach-do-trong-doi-song-duc-tin-cua-di-dan/, (Truy cập ngày 10/12/2024.)

[2] x. Vatican, Huấn thị Erga Migrantes Caritas Christi, Lời giới thiệu, 2004,  https://www.vatican.va/roman_curia/pontifical_councils/migrants/documents/rc_pc_migrants_doc_20040514_erga-migrantes-caritas-christi_en.html. (Truy cập ngày 10/12/2024.)

[3] Ibid., số 1.

[4] Ở đây, người viết muốn nói tới hiện tượng di dân của người Việt trong hiện tại, khác với các vấn đề di dân sau biến cố 1975.

[5] Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty, SDB., Một số khía cạnh chưa được bàn tới của mục vụ di dân: Mục vụ di dân của Giáo hội địa phương nơi xuất phát, https://dcvxuanloc.net/mot-so-khia-canh-chua-duoc-ban-toi-cua-muc-vu-di-dan-muc-vu-di-dan-cua-giao-hoi-dia-phuong-noi-xuat-phat/ (Truy cập ngày 10/12/2024.)

[6] Ibid.

[8] Zhou, Bo, and Lei Jiang. 2022. “Unsustainable Urban Development Based on Temporary Workers: A Study on the Changes of Immigration in Macau between 1992 and 2019” Land 11, no. 11: 1985. https://doi.org/10.3390/land11111985.

[9] Macao Statistics and Census Service (DSEC), Macao Yearbook of Statistics 2019 (Macao: Welfare Printing, 2020), 58–60.

[10] Richard Louis Edmondsand William John Kyle, “Land use in Macao: Changes between 1972 and 1994.” Land Use Policy 15, no. 4 (1988): 271–292.

[11] Bo Zhou and Lei Jiang, “Unsustainable Urban Development Based on Temporary Workers: A Study on the Changes of Immigration in Macau between 1992 and 2019,” Land 11, no. 11 (2022): 1985, https://doi.org/10.3390/land11111985.

[12] The Basic Law of the Macao Special Administrative Regions of the People’s Republic of China, Article 34.

[13] Ibid., số 5/98/M.

[14] “Giới thiệu ngắn gọn về Giáo phận Công giáo Macau.”, https://www.catholic.org.mo/en/page-77 (Truy cập ngày 05 tháng 11 năm 2024.)

[15] Ibid.

[16] X. Sổ tay Macau 2023: Tôn giáo và Phong tục, 512.

[17] Ibid.

[18] Ibid., 513–514.

[19] Chỉ tính số lượng những người thường xuyên tham dự Thánh lễ Chúa Nhật hằng tuần và tham gia các sinh hoạt chung của cộng đoàn.

[20] x. ĐGH. Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium – Niềm vui Tin mừng: Về việc loan báo Tin mừng trong thế giới ngày nay (Hà Nội: Nxb. Tôn Giáo,0 2014), số 1.

[21] X. Ibid., số 47, 130, 210.

[22] X. Giáo Lý Hội Thánh Công giáo, số 2044.

[23] X. Giáo Lý Hội Thánh Công giáo, số 2443.

[24] X. Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Giáo hội “Ánh sáng muôn dân” (Lumen Gentium), số 42.

[25] X. Vaticanô II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay “Vui mừng và hy vọng” (Gaudium et Spes), số 60.

[26] X. ĐGH. Phaolô VI, Tông huấn loan báo Tin mừng trong thế giới hôm nay “Evangelii Nuntiandi,” số 70.

[27] Theo thống kê của Ban Mục vụ CĐCGVN tại Macao, hiện có khoảng 400 người Công giáo Việt đang sinh sống và làm việc tại Macao.

[28] X. “Người Việt tại Macau (Trung Quốc) Hòa chung niềm tự hào dân tộc,” https://vovworld.vn/vi-VN/nguoi-viet-muon-phuong/nguoi-viet-tai-macau-trung-quoc-hoa-chung-niem-tu-hao-dan-toc-1290831.vov (Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2024.)

[29] Macao được đặt dưới sự quản lý của Bồ Đào Nha khoảng 442 năm. Người Bồ Đào Nha lần đầu tiên đến Macao vào năm 1557 và thiết lập nơi đây thành một trạm thương mại để tiến đến các quốc gia khác trong khu vực. Tuy nhiên, chỉ đến năm 1887, Bồ Đào Nha mới chính thức có chủ quyền đối với Macao thông qua một thỏa thuận cho thuê với Trung Quốc. Thỏa thuận này kéo dài cho đến ngày 20 tháng 12 năm 1999, khi Macao được chuyển giao cho Trung Quốc và trở thành Đặc khu Hành chính (SAR).