Trong khi Tin mừng Nhất lãm thuật lại có ít nhất hai người phụ nữ đến viếng mộ vào sáng Phục sinh, Tin mừng Gioan lại trình bày cuộc gặp gỡ riêng tư giữa Đức Giêsu và Maria Mađalêna (20, 1-2, 11-18). Ở đấy, bà trải nghiệm một hành trình độc đáo, mà kết thúc là mối quan hệ của bà với Chúa của mình được định hình lại hoàn toàn. Không tìm thấy điều mình tìm kiếm, nhưng bà được ban cho khả năng sống với sự vắng mặt. Bức họa Noli me tangere (Đừng chạm vào Thầy)[1] của Fra Angelico minh họa rõ ràng sự căng thẳng này giữa mong muốn níu giữ lại và sự chấp nhận buông ra.
Maria Mađalêna, đến mộ trước khi bóng tối hoàn toàn tan biến, đã nhanh chóng nhận thấy tảng đá được lăn ra và, không cần phải xác minh thêm, bà đã đưa ra kết luận vội vàng khi chia sẻ với Simon Phêrô và môn đệ khác: “Họ đã đem Chúa ra khỏi mộ” (câu 2). Nhưng sự hiểu biết này bị lấm lem bởi một sự thiếu hiểu biết nhất định: "Chúng tôi không biết họ đã đặt Ngài ở đâu" (câu 2). Chúa “bị lấy đem đi”: Chỉ riêng điều này thôi đã đủ quan trọng và khiến bà đau lòng, nó khoét một khoảng trống không thể chịu đựng được trong lòng bà. Thực vậy, con người không thích mất đi những gì mình yêu thương. Nhân tiện, chúng ta hãy lưu ý cách văn bản nhanh chóng chuyển sang đại từ “chúng tôi”, điều này cho thấy sự hiện diện của ít nhất một người khác bên cạnh bà; nhưng đây không phải là điều mà văn bản muốn dẫn dắt độc giả chúng ta.
Trong tám câu tiếp theo, câu chuyện chuyển từ Maria Mađalêna đến hành trình chạy ra mộ của hai môn đệ. Chúng ta không biết chính xác bà ở đâu trong thời gian này nữa: Liệu bà có ở gần mộ, như thì quá khứ chưa hoàn thành (imparfait) trong câu 11 gợi ý? Hay bà lạc lối trong không gian mơ hồ, không xác định nơi bà gặp hai môn đệ? Dù sao đi nữa, sẽ không có mối liên hệ nào khác giữa trải nghiệm của họ và bà trong phần còn lại của câu chuyện.
Chúa nào?
Dù sao đi nữa, bà đang "ở gần mộ, bên ngoài, đang khóc" (câu 11). Bà cúi mình vào trong mộ và chiêm ngưỡng "hai thiên thần mặc áo trắng" (câu 12). Họ đánh dấu chính xác vị trí nơi đặt "thi thể của Đức Giêsu". Lời của họ vang lên từ nơi vắng mặt này, hoàn toàn phù hợp với những gì bà thể hiện qua con người mình: "Này bà, sao bà khóc?" (câu 13). Bà lặp lại với họ gần như từng chữ một những gì bà đã nói với Simon Phêrô và bạn đồng hành của ông. Chỉ trừ có một điều, khi chỉ nói bằng ngôi thứ nhất ("tôi"), giờ đây dường như bà là người duy nhất quan tâm đến sự biến mất của… Của cái gì, chính xác là của cái gì? Của một thân xác, một xác chết mà bà ta vẫn khăng khăng gọi là "Chúa" và thậm chí còn chiếm hữu nó: "Chúa của tôi" (câu 13).
Cú quay lại đầu tiên
Không rõ lý do, bà quay lại (câu 14). Chẳng phải là bà đã quay đi khi bỏ lại sau lưng ngôi mộ và cái chết đó sao? Sau đó, bà nhìn thấy Đức Giêsu, nhưng vẫn bám víu vào ý nghĩ rằng Chúa của bà là một xác chết bất động, bà nhầm Ngài với người làm vườn. Từ đó, hình ảnh một ngôi mộ trong vườn[2] chiếm lấy tâm trí bà, và đây chính xác là điều mà Fra Angelico, giống như rất nhiều nghệ sĩ khác, đã miêu tả. Đức Giêsu hỏi bà cùng một câu hỏi như các thiên thần, nhưng Ngài nói thêm: “Bà tìm ai?” (câu 15).
Đây là cách hành văn của Tin mừng thứ tư. Nhiều lần lặp lại, được tô điểm bằng một vài biến thể và bổ sung, hoạt động như một làn sóng thủy triều lên;[3] mỗi làn sóng mới lại làm bờ biển ướt xa hơn. Câu hỏi tuyệt vời của Đức Giêsu có thể định hướng lại cuộc tìm kiếm của Maria Mađalêna. Cuộc tìm kiếm ấy có thực sự khao khát tìm lại một xác chết không? Há chẳng phải trong lòng bà, cũng như trong mỗi người, đều khao khát một cuộc gặp gỡ thực sự, với một chủ thể, là "ai" (câu 15), chứ không phải với một đối tượng, là "thân xác của Đức Giêsu" hay sao?
Tuy nhiên, bị ám ảnh bởi nỗi mất mát đau đớn mà bà trải qua, Maria vẫn cứng nhắc tin rằng điều bà tìm kiếm đã bị đánh cắp. Có lẽ chính người đàn ông trước mặt bà đã chiếm lấy quyền mà giờ đây bà tự cho là mình có: Quyền lấy đi thân thể bất động này mà bà vẫn coi là Chúa của mình.
Cú quay lại thứ hai
Phải cần thêm một lời nữa từ Đức Giêsu để kéo bà ra khỏi nỗi ám ảnh của mình. Đức Giêsu thốt ra một từ duy nhất, tên của bà: “Maria!” (câu 16). Đột nhiên, mọi thứ thay đổi, và bà quay lại. Nếu hiểu theo nghĩa đen, chúng ta sẽ hiểu một cách phi lý rằng bà đang đứng quay lưng về phía Đức Giêsu. Nhưng cú quay lại này thuộc một cấp độ khác, một cú xoay nội tâm. Nó cho phép bà lấy lại chỗ đứng trong cuộc sống và khám phá lại căn tính của mình - Maria!
Đến lượt mình, bà thốt ra chỉ một lời: “Rabôni!” (câu 16). Khi ấy, bà nhận ra Đức Giêsu là thầy - đó là ý nghĩa của từ được sử dụng. Vả lại, Ngài vẫn chưa dạy bà xong việc bà phải rời khỏi nấm mồ của trí tưởng tượng. Điều gì ẩn sau cử chỉ bà cố níu giữ Ngài lại? Ảo tưởng trở về trạng thái trước khi chịu đóng đinh trên thập tự giá, khi bà có thể ở gần hoặc thậm chí chạm vào Ngôi Lời nhập thể chăng (Ga 1,14; 1 Ga 1,1)? Trong bức bích họa của Fra Angelico, cử chỉ bàn tay phải của Đức Giêsu làm dịu đi hoặc ngăn chặn chuyển động của người môn đệ. Ngài nói với Maria “Đừng chạm vào Thầy” (câu 18). Mệnh lệnh sắc bén này rõ ràng đã nêu lên điều cấm, ranh giới không được vượt qua. Maria, sau khi phải từ bỏ hình ảnh Chúa là xác chết và ước muốn sở hữu thân xác Ngài, phải đi xa hơn nữa trong sự mất mát. Bà không thể nắm giữ được Chúa; bà sẽ không bao giờ làm được. Không thể nào nắm giữ được Đấng Phục sinh; Ngài thoát khỏi mọi nỗ lực chiếm hữu. Mối quan hệ của họ từ nay sẽ phải sống khác đi. Vẫn trong tác phẩm của Fra Angelico, đôi tay của Maria, hầu như sẵn sàng chạm vào Thầy, cuối cùng có lẽ đang mở ra trong một cử chỉ buông bỏ và chấp nhận. Đức Giêsu đã phác họa sự ra đi của Ngài, như được thể hiện qua tư thế bắt chéo chân kỳ lạ và vạt áo choàng bay phất phới sang bên trái. Và Đức Kitô Phục sinh giải thích: “Vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em’” (câu 17).
Điểm đến của Đức Giêsu không phải là một nơi chốn, mà là một chủ thể thần linh, một Thiên Chúa đồng thời cũng là "Cha" - của chính Ngài, của các môn đệ, của Maria Mađalêna, và của chúng ta, miễn là chúng ta tham gia vào cộng đồng anh chị em của Ngài. Thực tại vắng mặt của Ngài được khẳng định, không thể phủ nhận, và nó đòi hỏi sự chấp thuận. Một cách kín đáo, Ngài thừa nhận rằng Maria đã chấp nhận khi Ngài giao phó cho bà trách nhiệm làm cho các môn đệ khác nghe được lời này, trong đó Ngài công bố sự tái cấu trúc các mối quan hệ của họ. Và bà quả thật đã đồng ý khi, mọi nỗi đau được xóa bỏ, mọi khát khao nắm giữ lấy Ngài được xoa dịu, bà đã chạy đến với các môn đệ.
“Tôi đã thấy và vẫn tiếp tục thấy”
Ba động từ Hy Lạp được sử dụng trong đoạn văn này để mô tả những gì Maria thấy: blepô (thấy; câu 1) để miêu tả việc hòn đá được dời đi, theôreô (chiêm ngưỡng; câu 12) để khám phá ra các thiên thần và Đức Giêsu, và cuối cùng, horaô (đã thấy; câu 18) ở thì hoàn thành (parfait), khi bà nói với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa, và đây là điều Ngài đã nói với tôi”. Thì “parfait” này diễn tả những ảnh hưởng lâu dài của một hành động đã xảy ra trong quá khứ. Có thể dịch nó là “Tôi đã thấy và tôi vẫn tiếp tục thấy”. Bà thấy và tiếp tục thấy, nhưng một cách khác biệt, sâu sắc hơn qua đức tin, về một Thiên Chúa vắng mặt. Bà đã để cho Lời của Đấng Phục sinh thấm vào xác thịt mình và làm nó quay trở lại, biến đổi nó. Bà trở thành người đầu tiên mang Lời ấy để những người khác có thể đón nhận mầu nhiệm và sự hiện diện của Lời ấy trong chính mình. Lời ấy vẫn còn đến với chúng ta ngày hôm nay.
Tác giả: Anne-Marie Chapleau
Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
Nguồn: gpquinhon.org
----------
[1] Bức bích họa nổi tiếng của Fra Angelico được vẽ năm 1450 trong một căn phòng tại Tu viện San Marco ở Florence.
[2] Về vấn đề này, một số người cho rằng có sự liên hệ giữa Maria Mađalêna và người yêu dấu trong Diễm ca. Những người khác lại thấy sự ám chỉ đến mộ của Đavít, nằm trong một khu vườn (2 Étra 13,16; Sách Étra thứ hai, không có trong Kinh thánh Công giáo, được tìm thấy trong bản Septuagint).
[3] Hình ảnh của nhà chú giải Michel Gourgues, O.P.
