DẪN NHẬP

1. “CHÚNG TA HÃY VUI MỪNG UỐNG SỰ DỒI DÀO TỪ TỐN THẦN KHÍ”

“Cơn say từ tốn” nơi các Giáo Phụ

Sự từ tốn thiêng liêng trong Tân Ước

Chúng ta có tin đó thực sự là điều Kinh Thánh nói không?

Nhãn quan cho cuộc Canh tân

2. TỪ TỐN VÀ KHIÊM NHƯỜNG

Sự khiêm nhường của Đức Giêsu

Khiêm nhường và từ tốn

Sự khiêm nhường của Thiên Chúa

Thực tập khiêm nhường

Khiêm nhường giữa vợ chồng

Khiêm nhường trong cuộc Canh tân

3. HOÁN CẢI CÁ NHÂN VÀ HÒA GIẢI

Sự hoán cải trong Phúc Âm

Sự hoán cải trong huấn giáo của các Tông Đồ

Sự hoán cải thứ hai trong công cuộc Canh tân

4. TỪ CON NGƯỜI CŨ ĐẾN CON NGƯỜI MỚI

Từ con người cũ đến con người mới: bước vượt qua đã được hoàn tất

Lề Luật và ân sủng

Điều răn mới

Từ con người cũ đến con người mới : bước vượt qua phải thực hiện

Hãy mang lấy ách của tôi

5. NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC THÁNH HIẾN

“Ngươi là một dân được thánh hiến cho Chúa”

Đức Kitô, Đấng được thánh hiến

Kitô hữu là những người được thánh hiến

Vua, tiên tri, tư tế

Chức tư tế phổ quát của các Kitô hữu

Đừng rập theo thói đời này

Thánh hiến và trong sạch

6. TẤT CẢ CHÚNG TA ĐÃ ĐƯỢC ĐẦY TRÀN MỘT THẦN KHÍ DUY NHẤT

Nước từ tảng đá

Cơn say và sự từ tốn

Cơn mưa thấm sâu của Thần Khí

Phép rửa trong Thần Khí

7. SỰ TUÔN ĐỔ THẦN KHÍ HAY PHÉP RỬA TRONG THẦN KHÍ

Để mình được đổi mới trong Thần Khí

Phép rửa, một bí tích “bị ngăn trở”

Công trình của Thiên Chúa và công trình của con người trong phép rửa

Ý nghĩa của phép rửa trong Thần Khí hoặc sự tuôn đổ Thần Khí

Đức Giêsu, Đấng rửa trong Chúa Thánh Thần

Bác ái huynh đệ, kinh nguyện và đặt tay

8. NHỮNG ĐẶC SỦNG

Đặc sủng và bí tích

Đặc sủng và phục vụ

Thực hành đặc sủng

9. BẤY GIỜ CÁC ÔNG SẼ BIẾT LÀ TÔI HẰNG HỮU

Ngài trao Thần Khí

Hiện hữu trong Đức Giêsu Kitô

Một lời cho cuộc Canh tân

Để không phải “kết thúc trong xác thịt”

Phép rửa trong Thần Khí

10. HÃY XÂY LẠI NHÀ CỦA TA

Canh tân trong Thần Khí và Giáo Hội “Công giáo”

Canh tân trong Thần Khí và Giáo Hội địa phương

Làm mọi sự trong sự hiệp thông với giám mục

11. VĨNH CỬU ! VĨNH CỬU

“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi”

Nước hằng sống và bánh hằng sống

Phúc cho mắt nào được thấy điều anh em thấy

Hoài niệm về vĩnh cửu

Khai ân của Thần Khí

12. VĨNH CỬU VÀ BÁC ÁI


DẪN NHẬP

Cuốn sách này tập hợp một loạt các bài giảng và suy niệm nhân dịp các đại hội quốc gia và quốc tế về Canh tân Đặc sủng ở Ý hoặc tại Phủ Giáo Hoàng. (*)

Tác giả thấm nhuần tác phẩm của các Giáo Phụ, đã tìm thấy trong kinh nghiệm của chính mình về phép rửa trong Thần Khí những hoa trái thiêng liêng mà các bản văn của các thế kỷ đầu tiên trong Giáo Hội nói đến, như chúng đã tỏ hiện trên các tông đồ vào ngày Ngũ Tuần hoặc trên mỗi Kitô hữu ngày họ được rửa tội. Tựa đề tác phẩm, La sobre ivresse de l’Esprit, ám chỉ trực tiếp đến việc đó.

Bởi vậy, chủ đề tổng quát của cuốn sách là Sống trong Thần Khí và - ngay cả khi nhắc tới kinh nghiệm của sự “Canh tân trong Thần Khí”, một phong trào đã tái khám phá cách xác thực Phép Rửa trong Thần Khí (hoặc Sự Tuôn Đổ Thần Khí) trong các Giáo Hội hiện nay - không đề cập một phong trào cụ thể nào, nhưng tiếp vào con đường dẫn đến sự thánh thiện của mọi tín hữu được Thần Khí chạm tới. “Thiên Chúa đã cứu chúng ta không phải nhờ những công việc mà bản thân chúng ta lẽ ra phải làm trong sự công chính, nhưng nhờ lòng thương xót của Ngài, nhờ được tắm rửa để tái sinh và canh tân bởi Chúa Thánh Thần. Thần Khí này, Ngài đã tuôn đổ trên chúng ta cách dồi dào nhờ Đức Giêsu Kitô của chúng ta, Đấng Cứu Độ chúng ta…” (Tt 3,5-6). Bất cứ cuộc canh tân nào của Giáo Hội cũng đều phải tôn trọng sự kiện nguyên thủy này để có thể là một sự đổi mới - công việc của Thần Khí chứ không tiên vàn của con người - trong đó Thần Khí là người gây dựng chính và nhân vật chủ chốt.

Những suy tư ở đây, không phải là một khảo luận thần học, nhưng đề cập hơn những ý nghĩa hàm chứa thiết thực của việc đón nhận Thần Khí Đức Giêsu trong cuộc sống của con người và được gửi đến tất cả những ai cảm thấy cần phải mở rộng hơn nữa đời sống nội tâm của họ cho hơi thở mạnh mẽ ngày nay đang thổi qua các Giáo Hội, và mong muốn được nếm thử các hoa quả của chúng.

———

(*) Bản dịch tiếng Pháp chia thành hai tập: tập I (chương 1-6), xuất bản năm 1995; tập II (chương 7-12), xuất bản năm 1996.


1. “CHÚNG TA HÃY VUI MỪNG UỐNG SỰ DỒI DÀO TỪ TỐN THẦN KHÍ”

Ngày lễ Ngũ Tuần, thứ Hai năm 1975, khi kết thúc Đại hội Thế giới để Canh tân Đặc sủng Công giáo, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã đọc trước mười ngàn người tham dự đang tụ tập tại Vương cung Thánh đường thánh Phêrô một bài diễn văn mà, đối với cuộc Canh tân, vẫn còn là điểm tham chiếu về những gì phẩm trật Giáo Hội nghĩ và mong đợi nơi cuộc Canh tân. Sau khi đọc bản văn chính thức này, ngài nói thêm: “Trong bài thánh thi chúng ta đọc sáng nay trong sách nguyện và có từ thời thánh Ambrôsiô, ở thế kỷ thứ 4, có câu này rất khó dịch nhưng rất đơn giản: “Laeti bibamus sobriam profusionem Spiritus.” Laeti, có nghĩa là “với niềm vui”; bibamus, “chúng ta hãy uống”; sobriam, “được xác định rõ ràng và vừa phải”; profusionem Spiritus, tức là sự dồi dào Thần Khí. Đây hẳn sẽ là phương châm của các bạn: một chương trình và sự công nhận của chính phong trào.”

Vậy, qua miệng vị Mục Tử tối cao của mình, Giáo Hội đã vạch ra một chương trình dành cho chúng ta. Chúng ta không thể bỏ sót một từ nào trong bản văn này. Trái lại, chúng ta phải tìm cách đào sâu toàn bộ nội dung của nó, đặc biệt nội dung của từ latinh đề cập sự dồi dào từ tốn Thần Khí.

“Cơn say từ tốn” nơi các Giáo Phụ

Đức Giáo Hoàng đã xác định rõ cho chúng ta là ngài lấy chương trình này từ đâu: từ các tác phẩm của thánh Ambrôsiô, một trong những Giáo Phụ, từ kho tàng vô tận là Truyền Thống sống động của Giáo Hội. Các Giáo Phụ muốn nói gì khi nói về “cơn say từ tốn Thần Khí”? Đây có phải là ý tưởng của một giám mục riêng rẽ, hay còn hơn thế nữa?

Khi tìm cách trả lời cho câu hỏi này, tôi đã khám phá ra một điều đáng ngạc nhiên. Có một thời kỳ trong đời sống Giáo Hội - khoảng một thế kỷ - khi tất cả Kitô giới trải nghiệm về một cơn say thuộc linh, cơn say Chúa Thánh Thần. Một vài tiếng nói giữa lòng Truyền Thống sẽ giúp chúng ta hiểu về cơn say đó.

Giêrusalem, năm 384: Cyrillô, giám mục địa phương, khi bình giải cho các người dự tòng những lời của Phêrô trong trình thuật về lễ Ngũ Tuần: “Những người này không say rượu như anh em nghĩ” (Cv 2,15), đã nói: “Nếu họ say, thì không phải theo nghĩa anh em hiểu … Họ say bằng một cơn say từ tốn (nefalios methe) bị tội lỗi giết chết, nhưng trái tim lại làm cho nó sống động, bằng một cơn say đối lập với cơn say của thân xác. Là vì cơn say này khiến chúng ta quên ngay cả những gì chúng ta biết, trong khi cơn say kia khiến chúng ta biết ngay cả những điều chúng ta đã không biết. Họ say vì đã uống rượu của cây nho thần bí, Đấng đã nói: ‘Thầy là cây nho, anh em là cành’ (Ga 15,5).”[1]

Do đó, cơn say do Chúa Thánh Thần ban là một tình trạng trong đó con người được rửa sạch tội lỗi của mình; trái tim của họ cháy bỏng tình yêu dành cho Thiên Chúa, tư tưởng của họ được đưa lên tới chỗ hiểu biết đặc biệt về Thiên Chúa: một sự hiểu biết không phải do biện luận, nhưng do trực giác, gần như thực nghiệm, đi kèm với sự bình an nội tâm.

Từ Giêrusalem, chúng ta chuyển sang Milano. Đức Giáo Hoàng đã lặp lại câu trong một bài thánh thi của thánh Ambrôsiô. Không phải đó là lần duy nhất giám mục Milanô nói đến cơn say từ tốn Thần Khí. Khi giảng cho các người tân tòng, ngài nói: “Mỗi lần anh em uống, anh em được tha tội và được Thần Khí làm cho say. Chính vì thế mà thánh Tông Đồ đã nói: “Chớ say sưa rượu chè, nhưng hãy say sưa Thần Khí” (Ep 5,18). Bởi vì kẻ nào say rượu thì lảo đảo và loạng choạng, còn người say Thần Khí thì bén rễ trong Đức Kitô. Vậy đây là một cơn say tuyệt vời tạo ra sự từ tốn của tâm hồn!”[2]

Các Kitô hữu ở Milanô cũng có kinh nghiệm tương tự: Chúa Thánh Thần được lãnh nhận trong các bí tích, đặc biệt trong bí tích Thánh Thể, mang đến cho tâm hồn một sự say sưa không vô trật tự hay hời hợt tí nào, một sự say sưa đưa tâm hồn ra khỏi thói quen, sự nghèo khó và bất lực của nó, để vào trong một “tình trạng ân sủng”, nơi không còn chỗ cho những nghi ngờ, hối tiếc, thu mình lại, mà chỉ có chỗ cho niềm vui và cảm tạ. Linh hồn “cắm rễ” trong Đức Kitô.

Còn đây là một tiếng nói khác từ Truyền Thống, tiếng nói của thánh Augustinô. Thánh nhân nói với các người tân tòng: “Chúa Thánh Thần đến cư ngụ trong anh em (hôm đó là lễ Phục Sinh và họ vừa lãnh nhận phép rửa!); đừng để Ngài lìa xa anh em; hãy cẩn thận đừng loại Ngài ra khỏi lòng anh em. Ngài là một vị khách tốt: Ngài thấy anh em nghèo và Ngài làm cho anh em nên giàu; Ngài thấy anh em đói, và Ngài làm cho anh em được no; Ngài thấy anh em khát và Ngài làm cho anh em đã khát. Ước gì Ngài làm cho anh em được say sưa! Thánh Tông Đồ nói: “Chớ say rượu, vì nó đưa tới trụy lạc.” Sau đó, như thể ngài muốn dạy chúng ta phải say sưa cái gì, thì ngài nói thêm: “Hãy thấm nhuần Thần Khí. Hãy cùng nhau đối đáp những bài Thánh vịnh, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng. Hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5,18tt). Ai vui mừng trong Chúa và ca hát rất hân hoan, lại chẳng giống như người say hay sao? Tôi thích cơn say này […]. Thần Khí Thiên Chúa vừa là thức uống vừa là ánh sáng.”[3]

Thánh Augustinô tự hỏi tại sao Kinh Thánh lại sử dụng một hình ảnh táo bạo như say rượu, và ngài trả lời: đó là vì tình trạng của một người say rượu đến chỗ mất trí có thể cho thấy một ý tưởng - mặc dù theo nghĩa tiêu cực - về những gì xảy ra trong lý trí con người khi nhận được niềm vui khôn tả của Chúa Thánh Thần; lý trí gần như biến mất, nó trở nên thần linh, say sưa về sự phong phú của nhà Thiên Chúa, có nghĩa là bằng cách nếm thử trước một cái gì đó trong những thú vui của Giêrusalem trên trời.[4] Trong cơn say thiêng liêng, con người thoát ra khỏi mình, nhưng không phải để sống mà mất trí (như trường hợp say rượu hoặc ma túy), nhưng để vượt qua nó trong ánh sáng của Thiên Chúa.

Vài câu trích dẫn trên đây cho chúng ta một ý tưởng về nhận thức, vào thời kỳ đó, liên quan đến đời sống Kitô hữu. Không chỉ là về một vài người được ưu đãi, về các nhà thần bí, nhưng là về đời sống của tất cả những người đã được rửa tội (nói chung là về những lời nói dành cho người dự tòng và tân tòng). Rõ ràng người ta đang đứng trước một Kitô giáo đặc sủng, vốn tin chắc, cùng với tất cả Tân Ước, rằng ân sủng là khởi đầu của vinh quang và kinh nghiệm trực tiếp nào đó về Thiên Chúa là điều có thể.

Những vị chủ chăn trong các Giáo Hội không những không sợ sự nhiệt tình này và kìm hãm nó, nhưng còn nuôi dưỡng nó. Họ trở thành những người thúc đẩy và hướng dẫn khai sáng nó. Các nhà sử học gọi thời này là “thời kỳ hoàng kim” của lịch sử Giáo Hội, nhưng hẳn là họ không tự hỏi từ đâu mà có sự nở rộ bất thường của các thiên tài trong Giáo Hội, những nét huy hoàng về giáo lý trong những tác phẩm của các Giáo Phụ, khả năng vô song đọc Kinh Thánh “theo hướng thiêng liêng”, để từ đó rút ra của ăn nuôi dưỡng đời sống cho toàn thể dân Chúa. Tất cả là do vào thời kỳ này Chúa Thánh Thần đã “đi lại” tự do trong Giáo Hội, như mật trên các tầng ong, theo một hình ảnh được nhiều người biết đến vào thời đó; người ta chưa vạch ra những lối đi bắt buộc (các kênh ân sủng!) bằng một sự thể chế hóa cứng nhắc, những luật pháp và những khoản luật do con người đặt ra. Đức tin của Giáo Hội không dựa quá nhiều vào hiệu năng tổ chức của mình - hiệu năng của một xã hội hoàn hảo - nhưng là đáp lại sự hiện diện của Chúa Thánh Thần nơi mình, nghĩa là một xã hội thuộc linh, một thân thể được Chúa Thánh Thần huy động.

Việc công nhận đầy đủ và dứt khoát thần tính của Chúa Thánh Thần vào lúc này mang lại cho Giáo Hội - như một phần thưởng - kinh nghiệm về một lễ Hiện Xuống mới. Đã có lúc người ta có thể nghe thấy một giám mục (vậy không phải là một nhà thần học đơn thuần) nói với dân của mình bằng cách thốt lên: “Cho tới khi nào chúng ta còn giấu đèn (Chúa Thánh Thần) dưới đáy thùng […] trong khi nó phải được đặt trên giá đèn để soi sáng cho tất cả các Giáo Hội, tất cả các linh hồn, toàn thế giới”.[5] Vài năm sau, trong Công đồng chung Constantinôpôli năm 381, lời tuyên xưng đức tin vào thần tính trọn vẹn của Chúa Thánh Thần đã được đưa vào Kinh Tin Kính một cách dứt khoát: ngọn đèn lớn đã được đặt trên giá cao nhất của Giáo Hội.

Thời đó những tình cảnh khốn cùng của con người không thiếu; tình cảnh đó có rất nhiều, thậm chí rất nghiêm trọng: những lạc giáo, những tranh chấp giữa các Giáo Hội, những vụ tiểu ly khai, nhưng tất cả đều không thể ngăn cản công việc của Thiên Chúa, cũng như không thể khiến cho Giáo Hội phải thu mình lại. Giáo Hội “có thể làm được mọi sự” (nói như thánh Phaolô), nhờ Đấng nâng đỡ mình, nghĩa là Đấng đã ban sức mạnh và an ủi cho Giáo Hội: Chúa Thánh Thần. Giữa lòng Giáo Hội có một loại núi lửa đang phun trào, nhờ những dòng chảy nóng sáng của nó, đã thanh tẩy và làm sạch mọi sự, không cho cỏ dại tội lỗi của con người mọc lâu trên sườn của nó.

Bằng cách đề xuất lý tưởng về một cơn say từ tốn, như thể người đứng đầu tối cao của Giáo Hội đã yêu cầu chúng ta - cũng như tất cả những người Kitô hữu - làm sống lại trong Kitô giáo hôm nay một kinh nghiệm nhiệt tình thiêng liêng tương tự như kinh nghiệm đã làm cho thế kỷ V trở thành “thời kỳ hoàng kim” của lịch sử Kitô giáo.

Sự từ tốn thiêng liêng trong Tân Ước

Các Giáo Phụ đã nói đến “cơn say”, nhưng không xác định rõ thế nào là “từ tốn” (sobre) như các ngài muốn nói. Để giúp người ta hiểu từ này, các ngài nại tới Kinh Thánh, vì Kinh Thánh thường nói về sự từ tốn. Đối với các ngài, ý nghĩa của cơn say từ tốn là rõ ràng, vì các ngài vẫn sử dụng cùng một ngôn ngữ như Kinh Thánh; các thuật ngữ vẫn giữ nguyên ý nghĩa như nơi thánh Phaolô. Đối với chúng ta, thì không còn như vậy nữa; chúng ta đã đánh mất ý nghĩa của toàn bộ thái độ mà Kinh Thánh gọi là “sự từ tốn”; từ này chỉ còn là một sự điều độ mơ hồ, liên hệ đến nói năng hoặc (ăn) uống. Do đó, chúng ta phải khám phá lại ý nghĩa này, với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, bằng cách xem xét Tân Ước.

Trong tiếng Hy Lạp, “từ tốn” (sofron) chỉ đơn giản có nghĩa là “lành mạnh và liêm khiết”, hoặc “hợp lý”. Nhưng trong Kinh Thánh, nó không chỉ có nghĩa là lương tri, sự cân bằng tự nhiên hay sự tự chủ. Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô nói: “Đừng vui mừng (fromùntes) tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn, và đừng vui mừng (fronimoi) cho mình là khôn ngoan” (Rm 12,16). Trong bản văn này, từ tốn có nghĩa là khiêm tốn, đừng đề cao mình, ý thức về những giới hạn của mình, ý thức mình là gì; đừng quên rằng tất cả đều là quà tặng và tất cả những gì tốt lành, con người đều đã lãnh nhận (1Cr 4,7), nên “ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa” (1Cr 1,31).

Trong một bản văn khác, Phaolô nói về sự từ tốn chính xác trong tương quan với “những người thuộc thần khí”, nghĩa là những người có đặc sủng, những người, trong sự nhiệt thành của Thần Khí và những biểu hiện quyền năng của Ngài, có xu hướng đi đến một chủ thuyết tĩnh tịch (quiétisme) nào đó hoặc đi đến tính khách quan bên ngoài, do đó, lơ là với việc dấn thân tích cực trong cộng đồng. Phaolô nói: “Thật vậy, chúng tôi có điên (đó là cơn say, hoặc xuất thần thiêng liêng!), thì cũng là vì Thiên Chúa; chúng tôi có khôn (đó là sự từ tốn!) thì cũng là vì anh em. Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết. Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình” (2Cr 5,13tt).

Thánh Tông Đồ muốn nói gì? Muốn nói rằng trong Kitô giáo, cơn say thiêng liêng mà người ta cảm thấy khi cầu nguyện phải được thể hiện bằng một cam kết tích cực và đầy đủ có lòng bác ái đối với anh em. Nếu không, cơn say đó là đáng ngờ. Cũng chính ngài, ngài biết sự nhiệt tình nói tiếng lạ (ngài cho biết mình nói tiếng lạ hơn tất cả những người khác), sự nhiệt tình của các tiên tri, biết xuất thần lên đến tầng trời thứ ba; nhưng ngài không thể hãnh diện về những điều đó (đấy là “ân huệ” của Thiên Chúa, sáng kiến và vinh quang thuộc về Thiên Chúa), nhưng hãnh diện về thập giá (x. Gl 6,4), nghĩa là do không còn sống cho chính mình nữa, nhưng cho người khác, như Đức Giêsu. Thế rồi, ngài xướng lên bài thánh thi mà chúng ta không bao giờ quên: “Giả như tôi nói được thứ tiếng của các loài người và các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến…” (1Cr 13,1tt).

Chúng ta bắt gặp ý nghĩa cuối cùng của “từ tốn” trong các thư mục vụ, trong đó có vấn đề về sự trong sạch, nghĩa là về sự thánh thiện trong đời sống tình cảm và tình dục. Một đời sống khiết tịnh, trong sáng, phù hợp với bậc sống của mỗi người, phải là phản ánh tự nhiên của đời sống trong Thần Khí, và, theo những thư này, phải cho thấy “vẻ đẹp” của ơn gọi Kitô hữu. Đối với người cao tuổi nhất, đây là một sự từ tốn đồng nghĩa với xứng đáng và chừng mực, chẳng hạn trong việc uống rượu (Tt 2,2); đối với cô dâu trẻ, người ta khuyên sống khiết tịnh, một đức tính được thể hiện bằng tình yêu và sự chung thủy với chồng con (Tt 2,4tt); đối với những người trẻ chưa lập gia đình, người ta đòi hỏi sự từ tốn như một khả năng làm chủ các đam mê và sống phù hợp với đức tin (Tt 2,6). Quả thực trong các thư mục vụ, chúng ta thấy cách diễn đạt này rất giàu ý nghĩa: “Vì Thiên Chúa đã không ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên hèn nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương và từ tốn “(2Tm 1,7). Một Thần Khí can đảm và hăng hái, nhưng thể hiện bằng tình bác ái huynh đệ và sự từ tốn. Chính đó là “Thần Khí làm cho anh em trở nên nghĩa tử” (Rm 8,5).

Như vậy, “cơn say từ tốn” Thần Khí là một tình trạng mà con người cảm thấy được Thiên Chúa bắt chộp và dẫn dắt; nhưng là một tình trạng, thay vì làm cho chúng ta vong thân khiến chúng ta quay lưng lại với việc dấn thân nơi các anh em, lại thúc đẩy chúng ta dấn thân, thậm chí đòi hỏi chúng ta phải làm điều đó và thường làm cho sự dấn thân này trở nên dễ dàng và vui vẻ hơn. Để sử dụng các thuật ngữ truyền thống hơn, thì đây thực sự là sự nhiệt thành (entheos = tràn ngập Thiên Chúa) nhưng là một sự nhiệt thành dựa trên thập giá (“thập giá” có nghĩa là tất cả những gì đã liệt kê ở trên: khiêm nhường, bác ái, khiết tịnh), do đó được giải phóng khỏi tất cả những dè dặt mà từ “nhiệt thành” luôn khơi dậy nơi các tín hữu, giữa những người hăng hái bảo vệ lý trí, hiệu năng và sự điều độ.

Ở đây, nói một cách ngắn gọn, là những gì các Giáo Phụ đã truyền cho các Kitô hữu thời bấy giờ và những gì Đức Giáo Hoàng truyền cho chúng ta, những Kitô hữu ngày nay; một lòng nhiệt thành, nhưng sự nhiệt thành được xây dựng trên thập giá và được nuôi dưỡng bằng thập giá.

Chúng ta có tin đó thực sự là điều Kinh Thánh nói không?

Có phải chúng ta đang đi giật lùi, đang “dập tắt Chúa Thánh Thần” bằng cách liên kết Ngài với các yếu tố phụ thuộc vào con người, chẳng hạn như khiêm nhường, phục vụ lẫn nhau hoặc khiết tịnh? hay chúng ta đang đối mặt với một ý muốn và đòi hỏi rõ ràng nhất của Thiên Chúa trong Tân Ước? Con đường này là bắt buộc: mọi sự khác đưa chúng ta trở lại với chính mình, với trí tưởng tượng của mình và đưa chúng ta đến thất bại về đường thiêng liêng. Ân huệ của Thiên Chúa là Chúa Thánh Thần - chỉ vì Ngài là một ân huệ - đòi hỏi một sự chấp nhận tự do, cũng như quà tặng ngày cưới của người chồng đòi hỏi sự “đáp lại” tự do của người vợ; nhưng sự đáp lại của con người chỉ thật sự và sâu sắc khi được tuyên bố trên thập giá. Như chúng ta thấy, vấn đề thật nghiêm trọng: liệu phong trào tổng quát hóa này đang xuyên qua dân Chúa, để đổi mới sâu xa về đường thiêng liêng, có sẽ kết thúc chớp nhoáng (như đã xảy ra đối với rất nhiều đà vươn lên “được chiếu sáng và đặc sủng” trong quá khứ) hay nó sẽ bén rễ và thực sự đổi mới các Kitô hữu, như đã xảy ra trong “thời hoàng kim”?

Vấn đề không phải là từ bỏ bất cứ điều gì: hát, giơ tay, hoặc nói tiếng lạ, nếu điều đó được Chúa ban, hoặc ngay cả sự vui mừng hoặc nhiệt thành; nhưng vấn đề là không “tự hào” về những chuyện đó, không dừng lại ở đó, không chú ý đến chúng, không xem chúng như một làn gió nhẹ trên mặt, mà đúng hơn như một cơn gió mạnh thổi căng buồm để con thuyền (của chúng ta và toàn thể Giáo Hội) tiến lên mạnh mẽ và can đảm, kéo theo thế giới đã lạc mất và vô vọng.

Một lần nữa phải tra vấn Kinh Thánh. Tra vấn về điểm cụ thể này: tại sao lòng nhiệt thành của chúng ta nhất thiết phải đi qua thập giá của sự khiêm nhường, bác ái huynh đệ và sự trong sạch?

Tân Ước trả lời: vì chính qua thập giá mà Đức Giêsu Kitô đã đi tới vinh quang của phục sinh và cuộc sống “theo Thần Khí”. Ngài “bị giết chết theo thân xác, nhưng đã được phục sinh nhờ Thần Khí” (1Pr 3,18). “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?” (Lc 24,26). Chúng tôi tuyên xưng “Đức Giêsu là Chúa”. Lời tuyên xưng này, được thực hiện “trong Thần Khí và quyền năng” trong Đại hội ở thành phố Kansas, đang chứng tỏ là linh hồn của cuộc Canh tân, sức mạnh lớn nhất của cuộc Canh tân. Nhưng chúng ta phải ý thức rõ rằng Đức Giêsu mà chúng ta, sau thánh Phaolô, tuyên xưng là “Chúa” (Pl 2,11), không phải là một Giêsu tầm thường, một Giêsu của nghệ thuật Xuân Bích, hay của tình cảm mầu mè; đó là Đức Giêsu bị đóng đinh! Chính Đức Giêsu này mà Chúa Cha ban cho chúng ta để làm Chúa.

Thập giá không chỉ là cây gỗ mà Đức Giêsu được treo trên đó. “Cả cuộc đời của Đức Giêsu Kitô - như sách Gương Chúa Giêsu chỉ rõ - là thập giá và tử đạo.” Cả cuộc đời khiêm nhường và vâng phục Chúa Cha, cách Ngài trở thành “tôi tớ” của con người (x. Mc 10,45; Ga 13,13tt), toàn bộ việc loan báo Tin Mừng, tất cả đều là thập giá. Để hoàn thành sứ mệnh, Đức Giêsu đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần (x. Lc 4,18tt) và khi thi thành sứ mệnh này, lúc sống lại, Ngài đã trở nên “Thần Khí ban sự sống” (1Cr 15,45), Đấng ban Thần Khí cho Giáo Hội.

Người ta không thể đi đến lễ Ngũ Tuần mà không qua lễ Vượt Qua. Thật xúc động khi thấy cộng đồng Kitô giáo, ngay sau lễ Ngũ Tuần, được thúc giục quay trở lại với Đức Giêsu, tái khám phá Ngài, thu thập lời nói và ký ức của Ngài. Chúa Thánh Thần chỉ được ban cho những ai nên giống Đức Giêsu.

Làm thế nào để đạt tới chỗ giống Đức Giêsu? Đây là cách Tân Ước trả lời: bằng cách chết cho xác thịt, để sống theo Thần Khí; “xác thịt” là con người cũ, ích kỷ, hướng chiều về sự xấu và dục vọng, là con người có thái độ chống lại Thiên Chúa và đầu hàng thế gian. “Ai thuộc về Đức Kitô Giêsu thì đã đóng đinh tính xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê. Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,24tt). “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những việc làm của thân xác, anh em sẽ được sống” (x.Rm 8,13). Cũng như vào thời Êlia (x. 1V 18,38), lửa từ trời xuống chỉ đậu tại nơi nào đã chuẩn bị sẵn củi cho lễ tế hy sinh!

Cái chết thường hay nói đến này tương ứng với điều gì? Không có gì u ám và buồn bã cả; đó là một sự “sinh” vào sự sống thật; một sự “tái sinh”, như lời Đức Giêsu nói với Nicôđêmô; một cách cụ thể hơn, theo thánh Phaolô, điều đó có nghĩa là không còn sống chỉ cho mình, nhưng là sống phù hợp với Đức Kitô phục sinh, nghĩa là mở lòng mình với anh em trong sự khiêm nhường, vâng phục, bác ái, phục vụ huynh đệ: tóm lại, bằng cách mở lòng với tất cả những gì đã liệt kê ở trên, khi tra vấn về ý nghĩa của từ “từ tốn” trong Tân Ước.

Lịch sử Giáo Hội cho chúng ta những ví dụ cụ thể về những người, trong cuộc đời của họ, đã sống theo lý tưởng “cơn say từ tốn” được đề ra cho chúng ta ở đây. Tôi nghĩ tới thánh Ignatiô Antiôkia, người sắp chịu tử đạo và viết cho các anh em ở Rôma, xin họ đừng làm gì để ngăn cản cái chết của ngài. Ngài nói: “Thật là đẹp khi chết cho thế gian để được sống lại trong Thiên Chúa. Hãy để tôi làm mồi cho thú dữ, nhờ chúng mà tôi sẽ có thể tìm thấy Thiên Chúa. Tôi là lúa mì của Thiên Chúa, và tôi được răng thú nghiền nát để trở thành bánh tinh khiết của Đức Kitô. Bây giờ tôi bắt đầu trở thành một môn đệ chân chính; hãy để tôi noi gương sự thương khó của Thiên Chúa tôi; hãy để tôi gặp được ánh sáng tinh tuyền […] Ước muốn trần thế của tôi đã bị đóng đinh thập giá và không còn ngọn lửa nào trong tôi để yêu mến vật chất, mà chỉ còn một nguồn nước hằng sống thì thầm trong tôi: “Hãy đến với Chúa Cha!” (chính là những lời Thần Khí nói với Tân Nương trong sách Khải huyền!)

Và này, những gì chúng ta vừa nghe chắc chắn thuộc về cơn say thiêng liêng; đúng là tiếng nói của một kẻ có đặc sủng thực sự, nhưng là một cơn say đưa đến tử đạo; đúng là sự điên rồ, nhưng là “sự điên rồ của thập giá” (x. 1Cr 1,18), nghĩa là sự điên rồ duy nhất có thể được gán cho Chúa Thánh Thần, và có quyền được kể đến trong Giáo Hội.

Tôi cũng nghĩ đến thánh Phanxicô, người trên đường đến Assisi, vào mùa đông, đi chân trần, gần như đóng băng, giải thích cho anh Lêô biết “niềm vui trọn vẹn” là ở đâu: không ở chỗ thực hiện các phép lạ và làm cho người chết sống lại; cũng không ở chỗ nói tiên tri và nói mọi thứ tiếng trên trái đất; nhưng đúng hơn, ở chỗ sẵn sàng đón nhận mọi lời sỉ nhục từ những người anh em trong tu viện nơi họ đến, vẫn giữ tình bác ái khi đối mặt với hành vi xúc phạm, và điều đó - như ngài giải thích - chính là vì: “Trên mọi ân sủng và quà tặng của Chúa Thánh Thần, mà Đức Kitô dành cho bạn hữu của mình, có một ân huệ là chiến thắng bản thân và sẵn sàng, vì yêu mến Đức Kitô, chịu đựng những đau đớn, những sỉ nhục, những áp bức, những bất tiện.”[6] Chỉ cần đọc đoạn văn trong những bông hoa nhỏ của thánh Phanxicô về sự “canh tân trong Thần Khí” hẳn là đủ, thay vì “niềm vui trọn vẹn” để biết liệu đó có phải là, và khi nào là, một sự canh tân hoàn hảo hay không.

Do đó, bí mật của cuộc canh tân (giống như bí mật về sự thánh thiện) nằm ở chỗ cân bằng giữa sự nhiệt thành, hoặc phó mặc cho hành động của Thần Khí, và sự dấn thân tích cực của cá nhân; không phải theo nghĩa tước đoạt cái của người này mà cho người khác, nhưng theo nghĩa người này phải nuôi dưỡng người kia, tất nhiên, quyền ưu tiên luôn thuộc về sáng kiến của Thiên Chúa. Rượu của thập giá là loại rượu duy nhất đem lại cơn say Thần Khí!

Nhãn quan cho cuộc Canh tân

Từ những lời của Đức Giáo Hoàng được nhắc tới ở phần đầu của giáo huấn này và từ các bản văn của Kinh Thánh, xuất hiện một “nhãn quan” cho tương lai: Cuộc Canh tân phải đi từ giai đoạn khởi đầu, có đặc tính là một cơn say có thể giải thích được, đến giai đoạn từ tốn, hoặc tốt hơn, giai đoạn cơn say từ tốn. Lời cầu nguyện tự phát và sáng tạo, ca hát, tiếng lạ, niềm vui được sống với nhau như bạn hữu, được uống sữa tinh tuyền của Lời Chúa, tất cả những việc đó kèm theo một sự dấn thân ngày càng mạnh mẽ hơn để xây dựng vương quốc của Thiên Chúa nơi ta và trong Giáo Hội; nói cách khác, để “lớn lên”. “Lớn lên vươn tới Đức Kitô, vì Người là Đầu”, như lời thánh Tông Đồ nói (Ep 4,15).

Một ngày nọ, Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài hàn huyên với nhau như sau:

Các môn đệ: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang.”

Đức Giêsu: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?”

Các môn đệ: “Thưa được.”

Đức Giêsu: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu” (Mc 10,37-39)

Cuộc đối thoại này - giống như tất cả các cuộc đối thoại mà Đức Giêsu tham gia - chưa kết thúc, nó vẫn luôn diễn ra. Bất cứ môn đệ nào xin được ở bên cạnh Ngài trong vinh quang và trong niềm vui của Thần Khí Ngài, đều được Đức Giêsu chỉ cho con đường tình yêu: uống chén của Ngài, lãnh nhận cùng một phép rửa như Ngài. Do đó, cần phải khám phá nơi Thần Khí kêu gọi các môn đệ của Đức Giêsu, và phải can đảm dấn thân theo hướng này; phải lắng nghe những gì Thần Khí nói với các Giáo Hội vì Thần Khí nhắc lại những gì chính Đức Giêsu đã nói: “Ai muốn trở thành môn đệ của tôi…” và những đòi hỏi đi kèm với việc này:

Một đời sống cá nhân thánh thiện, đặc biệt trong lãnh vực tình dục, mà ngày nay người ta đánh giá thấp tầm quan trọng của nó đối với sự tăng trưởng (hoặc không tăng trưởng) về đường thiêng liêng. Làm chứng Đức Giêsu là Chúa của cuộc đời chúng ta, ngay cả ở mức độ thân mật và thường bị che giấu, nơi - như có người đã viết - cuộc chiến diễn ra hàng ngày hơn và chiến thắng khó khăn hơn. Sống trong sạch như một ân huệ, một đặc sủng, nhưng hãy sống nó! Tôi thậm chí dám nói: hãy ngừng đến với nhóm cầu nguyện, nếu sau một thời gian nhất định, người ta tiếp tục sa ngã một cách dễ dàng, dù điều đó không đặc biệt làm phiền chúng ta trên bình diện thiêng liêng, trong những lỗi nghiêm trọng ở cấp độ này, nếu thường xuyên vi phạm các đòi hỏi của bậc sống mình (cho dù đó là đính hôn, kết hôn hay độc thân). Về một thành viên của cộng đồng Côrintô, Phaolô viết: “Hãy loại trừ kẻ làm điều ấy ra khỏi cộng đoàn anh em. Anh em không biết rằng chỉ một chút men cũng đủ làm cho cả khối bột dậy men lên sao?” (1Cr 5,6). Hồng y Suenens đã nói trong một cuộc phỏng vấn về sự Canh tân: khi bạn thắp đèn ban đêm, luôn có nguy cơ thu hút các con bọ nhỏ. Trong cuộc Canh tân vẫn còn lẫn lộn quá nhiều con bọ nhỏ; chúng có thể làm hại rất nhiều cho công việc của Thần Khí, đặc biệt nếu chúng không có ý ngay.

Sự khiêm nhường, trên hết là hình thức khiêm nhường chiến đấu chống lại cám dỗ muốn chiếm đoạt công việc của Thiên Chúa, luôn muốn ở nơi mà hành động của Thần Khí rõ ràng nhất; khiêm nhường duy trì sự phục vụ để “phục vụ” các anh em, và không nắm quyền hoặc thống trị các anh em; khiêm nhường khiến chúng ta sợ có thể có người gắn bó với chúng ta, quên rằng chỉ có một Thầy duy nhất, còn tất cả chúng ta đều là anh em; đây là những điều tạo ra các phe phái: “Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôllô, tôi thuộc về ông Kêpha” (1Cr 1,12).

Bác ái huynh đệ trong nhóm, và không chỉ lúc họp nhóm mà cả ở nhà, chỗ làm việc, mọi nơi. Một bác ái kiên nhẫn, bao dung, không ghen tương, không khoe khoang, tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả (x. 1Cr 13,4-7), dấn thân nơi những người nghèo được Đức Giêsu rất mực yêu thương mà ngày nay hầu như không được ai chăm sóc, nghĩa là những người bị áp bức bởi những thứ nô lệ khác nhau cho tội lỗi và ma quỷ, những kẻ bị ruồng bỏ, những tâm trí đau khổ, những người bị tước mất hy vọng hơn là bị tước mất sung túc vật chất.

Một khía cạnh khác của bác ái là phục vụ Giáo Hội: phục vụ các giáo xứ, các công trình của Giáo Hội; không chỉ trong một số hoạt động, nhưng còn trong các việc thiêng liêng liên quan đến đời sống thực tế của cộng đồng: truyền giáo, dạy giáo lý, cầu nguyện, linh hoạt phụng vụ, phục vụ người nghèo. Nói cách khác, tham gia tích cực vào “sứ mệnh” của Giáo Hội.

Phải có thể vượt qua một cách tự nhiên từ cơn say “cho Thiên Chúa” - như thánh Phaolô nói - tới sự “từ tốn cho các anh em”, nghĩa là tới tình trạng tỉnh thức, trong đó chúng ta luôn mở to đôi mắt và đôi tai để phát hiện những nhu cầu của người lân cận.

Nơi nào các dấu hiệu của Thần Khí dường như cho thấy cần những cộng đồng Kitô hữu mới, thì phải nghĩ đến việc thành lập các cộng đồng này, nơi người ta có thể sống sự Canh tân trong tất cả sự phong phú và sức mạnh của nó, có liên hệ với các giám mục và được các ngài đồng ý. Cộng đồng đã luôn là dụng cụ được Thần Khí sử dụng để thực hiện những công cuộc đổi mới vĩ đại trong lịch sử Giáo Hội (thế kỷ thứ IV, nhờ các cộng đồng đan viện; thời Trung cổ, nhờ các huynh đoàn hành khất, Phan Sinh và Đa Minh; sau cuộc Cải Cách, nhờ các cộng đồng chiến sĩ Dòng Tên). Để việc đó xảy ra, cần phải cầu nguyện, để nhiều mục tử, cha sở và bề trên các nhà dòng “đổi mới chính mình”, vì có lẽ, trước khi tạo lập các cộng đồng mới, Thần Khí muốn canh tân các cộng đồng “cũ” đã có, phục hồi sự sống cho “các xương khô” trong Giáo Hội.

Ngày nay cộng đồng phải là giá trên đó người ta có thể đặt ngọn đèn lớn là Chúa Thánh Thần, để có thể “soi chiếu cho mọi người trong nhà” (Mt 15,15). Đặt đèn trên giá là kinh Tin Kính thì không còn đủ nữa…

Ở cấp độ quốc gia, cấp độ nhóm và, trong một số trường hợp, thậm chí ở cấp độ thành phố, chúng ta đã là một cộng đồng, cho dù là một cộng đồng tinh thần chứ không phải pháp lý. Bởi vì chúng ta chia sẻ nhiều điều, chúng ta cảm thấy một sự kết hợp nhờ các mối dây bác ái sâu xa và, trên hết, chúng ta hy vọng được Chúa Thánh Thần hiện diện, Đấng là - trong Giáo Hội cũng như trong Ba Ngôi - mối dây hòa bình và niềm vui hiệp thông.

Nhưng không phải từ cộng đồng này, hoặc từ các cộng đồng, mà chúng ta hy vọng được thấy tình cảm thuộc về Giáo Hội của chúng ta phát sinh và tùy thuộc vào đó. Cộng đồng cơ bản của chúng ta đã tồn tại và vấn đề là Giáo Hội của chúng ta. Mặc dù bất xứng, chúng ta là một phần sống động của Giáo Hội đó. Chúng ta không muốn tạo thành “một hội thánh nhỏ của riêng chúng ta”, nhưng muốn ở trong Giáo Hội! Tôi biết các anh em đau khổ và trải qua những thời kỳ khó khăn vì bị ngờ vực hoặc bị từ chối trong một số môi trường của Giáo Hội. Tôi muốn nói là hãy bình tĩnh; chúng ta không phải là những cô nhi; chúng ta đã mồ côi, nhưng giờ đây chúng ta đã trở thành con cái của Thiên Chúa và do đó con cái của Giáo Hội; chúng ta đã không là một dân, nhưng giờ đây chúng ta là dân Thiên Chúa; dân tư tế và tiên tri này được Chúa kêu gọi từ bóng tối ra ánh sáng để loan báo những kỳ công của Chúa (x. 1Pr 2,9tt). Chúng ta có một mái nhà, một ngôi nhà và một mái ấm: cung lòng của Mẹ Thánh Giáo Hội; một người mẹ không thể xua đuổi đứa con đang bám vào váy của mình. Chúng ta phải rúc vào trong lòng Giáo Hội; chính đó là nơi của những người tìm kiếm Chúa Thánh Thần.

Giáo Hội giống như một khoảng nước rộng, một biển cả; giống như nước, nó có khả năng lạ lùng này là “cân” các vật thể rơi xuống nước: các vật thể “vật chất” và nặng buộc phải chìm xuống; nhưng những vật nhẹ, những vật trống rỗng, những vật nhỏ bé, không chìm xuống đáy. Nếu “kinh nghiệm” này đến từ Chúa Thánh Thần, nó sẽ trôi nổi trong Giáo Hội.

Chúng ta phải yêu mến Giáo Hội và chuẩn bị sẵn sàng chịu khổ và chịu chết cho Giáo Hội. Nhưng không ai có thể “dập tắt Thần Khí”, hay các đặc sủng đích thực, để làm hài lòng người nào đó, ngay cả hàng giáo phẩm của Giáo Hội. Vả lại, đây không phải là điều mà hàng giáo phẩm mong muốn; hàng giáo phẩm muốn biết chúng ta như chúng ta là, và với những mục tiêu chúng ta đặt ra cho mình. Vào lúc thích hợp, hàng giáo phẩm sẽ xét đoán và chúng ta sẽ được yêu cầu tuân theo. Theo cách này, các thực tại thiêng liêng và mới mẻ luôn được sinh ra trong lịch sử Giáo Hội.

Vậy, đó là con đường được vị Mục Tử tối cao của Giáo Hội chỉ ra cho chúng ta; ngài đã đề nghị với chúng ta sự từ tốn, nhưng trong cơn say; ngài đã đề nghị cho chúng ta thập giá, nhưng trong sự nhiệt thành. “Laeti bibamus sobriam profusionem Spiritus”, ngài đã nói với chúng ta như vậy. Chúng ta hãy vui mừng uống cạn cơn say từ tốn Thần Khí.


2. TỪ TỐN VÀ KHIÊM NHƯỜNG

Chúng ta sắp nói về sự khiêm nhường, vì khiêm nhường là cách chuẩn bị tốt nhất để đón nhận Chúa Thánh Thần. Tôi cũng muốn bổ túc giáo huấn về “cơn say từ tốn Thần Khí”, bằng cách khai triển một điểm vừa mới đề cập trong dịp này: ý nghĩa của tính từ “từ tốn”. Việc có “cơn say” Thần Khí, như đã xảy ra vào chính ngày lễ Ngũ Tuần, là tùy thuộc vào Thiên Chúa; nhưng chính chúng ta phải “từ tốn” và điều đó cũng có nghĩa là “khiêm nhường”.

Sự khiêm nhường của Đức Giêsu

Đức Giêsu kết luận dụ ngôn về những khách được mời dự tiệc bằng cách quả quyết rằng ai đưa mình lên sẽ bị hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được đưa lên. Nhưng hạ mình nghĩa là gì? Tôi chắc nếu hỏi nhiều người xem sự khiêm nhường có nghĩa gì đối với họ, thì có bao nhiêu người là có bấy nhiêu câu trả lời, mỗi người nói lên một phần sự thật, nhưng câu trả lời không đầy đủ. Nếu tôi hỏi một người đàn ông mà, do tính khí, có xu hướng bạo lực và áp đặt quan điểm của mình bằng vũ lực, có lẽ anh ta sẽ trả lời: “Khiêm nhường là không lên giọng, không áp chế gia đình, dịu dàng và hòa giải hơn…” Nếu tôi hỏi một thiếu nữ cùng câu hỏi đó, có lẽ cô ấy sẽ trả lời: Khiêm nhường không phải là hợm hĩnh, không muốn thu hút ánh mắt của người khác, không chỉ sống cho bản thân hoặc với vẻ bề ngoài…” Một linh mục sẽ trả lời: “Khiêm nhường có nghĩa nhận mình là tội nhân.” Nhưng người ta thấy rõ: như vậy, vẫn chưa đi tới tận gốc rễ của sự khiêm nhường.

Để khám phá ra gốc rễ thực sự của khiêm nhường, cũng như mọi khi, chúng ta phải nhìn về vị Thầy duy nhất: Đức Giêsu. Ngài nói: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Tôi thú thực đôi khi câu nói này của Đức Giêsu đã làm tôi vô cùng kinh ngạc. Là vì, Đức Giêsu cho thấy sự khiêm nhường của mình ở chỗ nào? Đọc trong Phúc Âm, người ta không bao giờ thấy Đức Giêsu thú nhận mình mắc một lỗi lầm nào. Đây là một trong những bằng chứng thuyết phục nhất về duy nhất tính và thần tính của Đức Kitô: Đức Giêsu là người duy nhất đã đi qua trên thế gian, đã gặp cả bạn lẫn thù mà không cần phải thú nhận: “Tôi đã sai!”, không bao giờ cần xin tha thứ, ngay cả với Chúa Cha. Lương tâm của Ngài tinh tuyền và trong sáng như pha lê: không một tình cảm tội lỗi nào lướt qua Ngài. Người ta không thể nói như thế về bất cứ ai khác, về bất kỳ nhà sáng lập tôn giáo nào.

Do đó, Đức Giêsu không khiêm nhường, nếu chúng ta hiểu khiêm nhường là đánh giá thấp bản thân, thú nhận mình sai. “Ai trong các ông chứng minh được là tôi có tội?” (Ga 8,46). Thế mà cũng chính Đức Giêsu này đã đã dám bảo đảm: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Vậy điều này muốn nói rằng sự khiêm nhường không phải như chúng ta thường nghĩ, nhưng là điều gì khác phải khám phá trong Phúc Âm.

Đức Giêsu đã làm gì để có thể là và cho mình là “khiêm nhường”? Một điều rất đơn giản: Ngài đã hạ mình. Nhưng không phải trong tư tưởng hay lời nói. Không phải vậy! Chính trong những việc làm mà Đức Giêsu đã hạ mình, đã chịu nhục. Mặc dù Ngài đang mang thân phận Thiên Chúa, trong vinh quang, nghĩa là trong điều kiện mà người ta không thể muốn gì hơn hoặc không có gì tốt hơn, thì Ngài đã hạ mình; Ngài đã mặc lấy thân nô lệ, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết (x. Pl 2,6tt). Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận nô lệ, nhưng sự hạ mình của Ngài không dừng lại ở đó; Ngài đã tiếp tục hạ mình trong suốt cuộc đời. Ngài quỳ xuống rửa chân cho các tông đồ và nói: “Thầy ở giữa anh em như người phục vụ” (Lc 22,27). Ngài tiếp tục hạ mình cho đến chỗ vượt qua điểm mà không thụ tạo nào có thể chạm tới: cái chết. Chính ở đó, vào lúc tột cùng của sự hạ mình, Ngài được trở lại nhờ quyền năng của Chúa Cha, nghĩa là Chúa Thánh Thần, Đấng chộp lấy thi hài Đức Giêsu trong mộ, làm cho xác sống và sống lại, đưa lên tầng trời cao nhất, ban cho Danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu và truyền cho mọi người phải bái quỳ trước mặt Ngài. Đây là một mẫu gương cụ thể, là sự thực hiện hoàn hảo lời nói: “Ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.”

Nhìn dưới góc độ hành động của Đức Kitô, sự khiêm nhường không còn là vấn đề của tình cảm, cho mình là hèn mọn. Đúng hơn, nó trở thành một vấn đề về sự kiện, về những hành động cụ thể; không phải là vấn đề của từ, nhưng là vấn đề của thực tế, của hành động. Khiêm nhường là sẵn sàng hạ mình, trở nên nhỏ bé và phục vụ anh em; khiêm nhường là ý muốn phục vụ. Và làm điều đó chỉ vì một mục đích: tình yêu. Ngay cả những người không phải Kitô hữu cũng có thể đi tới chỗ phục vụ anh em mình và trong một số trường hợp, họ thậm chí còn là tấm gương cho chúng ta trong cách đối xử với những người nghèo và những người sống bên lề. Sự khác biệt nằm ở chỗ đối với một Kitô hữu, sự sẵn sàng phục vụ này phải được gợi hứng và có thể nói là được tóm gọn trong tình yêu.

Một cách nào đó, người ta có thể nói rằng khiêm nhường là cho không, đó là việc hạ mình mà không tìm kiếm lợi ích cá nhân và không tính toán. Dụ ngôn những vị khách dự tiệc tiếp tục bằng những lời của Đức Giêsu: “Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc” (Lc 14,13tt). Đây là một dịch vụ miễn phí, bởi vì không mong được đền ơn. Khi đó, sự khiêm nhường trở thành chị em song sinh của lòng bác ái, một khía cạnh của agapè mà thánh Phaolô ca ngợi trong chương 13 của thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô. Khi thánh Tông Đồ nói rằng bác ái “không ghen tương, không vênh vang, không làm điều gì bất chính…”, thì ngài muốn nói rằng bác ái là khiêm nhường, và khiêm nhường là bác ái.

Vậy, khiêm nhường theo gương Đức Giêsu có nghĩa là tiêu hao sức lực cách nhưng không, không chỉ sống cho mình (x. 2Cr 5,15). Khi người ta tìm kiếm sự tán thành và công nhận của anh em, người ta thiếu khiêm nhường vì vi phạm sự nhưng không. Ở đó người ta tìm kiếm phần thưởng riêng của mình. Tôi có thể đến một nơi nào đó để có bài phát biểu và trở về nhà với phần thưởng gấp đôi: hoặc bằng tiền hoặc bằng cách hài lòng với bản thân. Trong cả hai trường hợp, Đức Giêsu nói với tôi: ngươi đã nhận được phần thưởng của mình.

Khiêm nhường và từ tốn

Sự khiêm nhường hiếm khi trong sáng và tinh tuyền như vậy. Nó cũng luôn liên quan đến điều gì đó phủ định, một sự từ bỏ bản thân, phủ nhận những gì không ngay thẳng trong ý định và hành động của chúng ta. Một sự hạ mình, trước khi đi tới người khác. Khi Đức Giêsu hạ mình, Ngài làm như vậy từ một tầm cao thực sự, khách quan, vì Ngài là Đấng Thánh của Thiên Chúa (Ga 6,69). Ngược lại, khi con người chúng ta hạ mình, chúng ta làm như vậy không từ một tầm cao thực sự, tầm cao thật, mà từ một tầm cao giả, một tầm cao không thật; chúng ta hạ mình so với tầm cao mà chúng ta đã tự nâng mình lên một cách không chính đáng bằng sự kiêu ngạo, phù phiếm, tức giận… Vì vậy, khiêm nhường bao giờ cũng là một đức tính “phủ định”, nhằm phủ nhận điều gì đó không tốt nơi chúng ta, khiến chúng ta đưa mình lên trên người lân cận.

Theo nghĩa này, người ta nói đúng rằng khiêm nhường là sự thật. Đó là tái lập sự thật về bản thân, nhận ra rằng chúng ta không ở trên người khác, mà đúng hơn là ở dưới. Thánh Têrêxa Avila viết: “Một ngày nọ, khi tôi đang thắc mắc tại sao Chúa chúng ta lại yêu mến đức khiêm nhường đến vậy, dường như tôi không suy xét trước, thì đột nhiên điều sau đây có vẻ hiển nhiên đối với tôi, đó là: Thiên Chúa là Sự Thật tối cao, và khiêm nhường chính là ở trong Sự Thật.”[7] Thánh Phaolô cũng nói về sự khiêm nhường bằng những lời như sau: “Ai tưởng mình là gì, mà kỳ thực không là gì hết, thì là lừa gạt chính mình” (Gl 6,3). Đối với thánh Tông Đồ, người ta hẳn có thể nói rằng khiêm nhường trên hết là từ tốn theo nghĩa thiêng liêng, nghĩa là một tình cảm từ tốn, lành mạnh, không thái quá, không cuồng nhiệt trong tương quan với chính mình. Ngài nói: “Đừng đi quá mức khi đánh giá mình, nhưng hãy đánh giá mình cho đúng mức” (Rm 12,3). Nguyên văn tiếng Hy lạp nói: “Hãy đánh giá mình cho từ tốn.” Thánh Phaolô nhấn mạnh khi nói: “Anh em đừng cho mình là khôn ngoan” (Rm 12,16).

Sự khiêm nhường-từ tốn này cho phép mỗi người ở trong sự thật trước mặt Thiên Chúa. Chúng ta không theo đuổi một chân lý trừu tượng, không muốn như nhà phân tâm học tìm cách dẫn dắt một người đi đến sự thật về bản thân, để giải thoát anh ta khỏi những mặc cảm. Chúng ta theo đuổi một sự thật khác; sự thật trước mặt Thiên Chúa ngay cả trước khi đối diện với chính mình và những người khác. Kinh Thánh cho biết Thiên Chúa nhân từ và rộng lượng đối với người chân thành, nhưng Người trở nên “mưu mẹo” đối với kẻ gian ngoan, nghĩa là đối với kẻ có tấm lòng dối trá (x. Tv 18,27). Trên hết Thiên Chúa đòi hỏi nơi tất cả những ai đến gần Người một “tâm hồn chân thật” (x. Tv 51,8).

Sự khiêm nhường của Thiên Chúa

Tôi nói sự khiêm nhường có những khía cạnh phủ định nơi chúng ta, những khía cạnh khước từ, hy sinh, thập giá, chính vì chúng ta là tội nhân và chúng ta phải loại bỏ những điều xấu trong mỗi hành động của chúng ta. Nhưng nếu vậy, chúng ta có thể tìm thấy sự khiêm nhường này ở đâu, sự khiêm nhường thậm chí sẽ không chết vào lúc chết và không liên quan gì đến tội lỗi?

Câu trả lời đầu tiên xuất hiện ngay trong trí là: nơi Đức Giêsu Nadaret! Nhưng suy cho kỹ, chúng ta thấy rằng ngay cả nơi Đức Giêsu, chúng ta cũng không tìm thấy sự khiêm nhường này trong trạng thái tinh tuyền, không liên quan gì đến tội lỗi. Đúng là Đức Giêsu không có tội, vô tội và thánh thiện; Ngài đã không có tội, nhưng đã gánh lấy tội lỗi của mọi người và, trước mặt Thiên Chúa, Ngài bị coi là “tội lỗi”. Do đó, ngay cả nơi Đức Giêsu, sự sỉ nhục bằng cách vâng lời cho đến chết cũng cho thấy một khía cạnh chuộc tội, và nhắc tới tội. Chỉ khi nào Ngài trở lại trong vinh quang, ngày tận thế - như thư Do thái nói - Ngài sẽ không còn liên hệ gì với tội lỗi nữa (x. Dt 9,28).

Vậy chúng ta sẽ - và cho phép tôi nhấn mạnh điểm này - tìm thấy ở đâu sự hạ mình tinh tuyền và nhưng không dẫn đến việc phục vụ vì tình yêu? Phải đi tới nguồn mạch, nơi mà đức khiêm nhường múc lấy tất cả sức mạnh của nó. Sự khiêm nhường, người ta thấy nó nơi Thiên Chúa, nơi Ba Ngôi!

Có một lời cầu nguyện của thánh Phanxicô Assisi, chắc chắn rất xác thực (do tay ngài viết và được lưu giữ tại Assisi trong Vương cung thánh đường thánh Phanxicô), được gọi là Ca ngợi Thiên Chúa, trong đó thánh nhân ca lên một bài tuyệt vời ngợi khen Một Thiên Chúa Ba Ngôi, một trong số những lời của bài ca như sau: Chúa là bác ái, Chúa là khôn ngoan, Chúa là khiêm nhường, Chúa là kiên nhẫn, Chúa là vẻ đẹp, Chúa là bảo đảm, Chúa là công chính, Chúa là tiết độ…”. Khi tôi đọc câu: “Chúa là khiêm nhường” lần đầu tiên tôi tự nhủ: “Ôi thánh Phanxicô, Cha của con, con không còn hiểu Cha nữa! Có lẽ Cha đã để mình bị bắt chôp; Cha đã liệt kê các nhân đức thấy nơi Thiên Chúa và Cha đã đặt trong đó sự khiêm nhường, mà không nghĩ rằng khiêm nhường là một nhân đức không thể có nơi Ba Ngôi, vì Ba Ngôi chỉ là vinh quang, thánh thiện, huy hoàng.” Nhưng chính tôi đã lầm! Thánh Phanxicô đã đúng. Với những lời này, ngài thậm chí đã cho chúng ta một trong những định nghĩa nhạy cảm và tuyệt vời nhất về Thiên Chúa: Thiên Chúa là khiêm nhường!

Nếu khiêm nhường có nghĩa là vì yêu mà hạ mình, thì khi ấy Thiên Chúa là khiêm nhường vì từ địa vị của Ngài, Ngài chỉ có thể hạ mình mà thôi; không có gì ở trên Ngài, Ngài không thể vươn lên trên. Khi làm điều gì đó “hướng ngoại” (ad extra), Thiên Chúa chỉ có thể “hạ mình”, tự hạ. Và Ngài đã luôn làm như vậy kể từ khi tạo thành thế giới. Lịch sử cứu độ chỉ là lịch sử của những “sỉ nhục” mà Thiên Chúa đã phải chịu. Thánh Phanxicô đã nhìn lịch sử này như thế: “Này đây mỗi ngày Ngài hạ mình như khi từ ngai vàng của Ngài, Ngài đã vào trong lòng Đức Trinh Nữ. Mỗi ngày từ trong cung lòng của Chúa Cha Ngài đã xuống trên bàn thờ trong tay linh mục”[8]; và nói về Thánh Thể, thánh nhân kêu lên: “Này anh em, hãy nhìn xem sự khiêm nhường của Thiên Chúa!”[9]

Đó là một ý tưởng người ta đã thấy nơi các Giáo Phụ. Các ngài nói về synkatàbasis của Thiên Chúa, được dịch là “hạ cố”, nghĩa là làm cho bản thân trở nên nhỏ bé để có thể đến gần con người và xuống vào hàng ngũ con người. Thánh Gioan Kim Khẩu - người đặc biệt thích từ này - nói rằng chính sự sáng tạo đã là một hành động hạ cố của Thiên Chúa; rằng sự mạc khải Kinh Thánh - sự kiện Thiên Chúa bắt đầu lắp bắp tiếng nói của con người - là một hành vi hạ cố của Thiên Chúa; cũng hệt như vậy, đặc biệt là sự Nhập Thể.

Ngay cả lễ Ngũ Tuần cũng là một hành vi khiêm nhường của Thiên Chúa. Tại sao người ta lại nói Chúa Thánh Thần “xuống”, nếu không phải vì cùng một lý do, nghĩa là vì mọi sự can thiệp của Thiên Chúa làm lợi cho con người đều là một sự hạ cố, một sự sỉ nhục? Trong trường hợp lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần hạ mình, mặc lấy những dấu chỉ hèn mọn như lửa, gió, tiếng nói. Ngài hạ mình đến nỗi cư ngụ nơi người trần mắt thịt, biến họ thành đền thờ của mình.

Khi đó tôi hiểu tại sao thánh Phanxicô viết trong Bài ca Tạo vật: “Lạy Chúa, xin ngợi khen Chúa vì chị nước của chúng con, chị rất hữu ích, khiêm nhường, quý giá và tinh sạch.” Nước thì khiêm nhường vì, cũng như Thiên Chúa, nó không bao giờ đi lên so với vị trí của nó, nhưng nó đi xuống, luôn đi xuống, cho đến khi nó đạt đến điểm thấp nhất; nó luôn có xu hướng chiếm chỗ cuối cùng.

Thiên Chúa là khiêm nhường. Và chúng ta, chúng ta phải khiêm nhường để là con cái của Cha chúng ta, để “giống” Cha chính đáng của chúng ta. Chúng ta phải khiêm nhường để giống Cha chúng ta trước nguy cơ người ta nói cho chúng ta nghe những gì Đức Giêsu đã nói với những người Pharisêu, những người nghĩ mình là con cái Abraham: “Còn các ông, các ông làm những việc của một người cha không phải là Abraham…” (x. Ga 8,38tt).

Thực tập khiêm nhường

Giờ đây chúng ta có thể một lần nữa đặt ra câu hỏi ban đầu: “Khiêm nhường là gì?”, nhưng từ một quan điểm khác, sâu sắc hơn nhiều. Khiêm nhường có phải là một thái độ đối với chính mình, đối với người khác, hay đối với Thiên Chúa không? Cách đây vài năm, tôi đã viết một bài suy niệm về sự khiêm nhường, trong đó tôi lập luận rằng đó không phải là một thái độ đối với mình hay đối với người khác, nhưng chỉ đối với Thiên Chúa mà thôi. Giờ đây tôi muốn đính chính lại điều tôi đã nói: khiêm nhường cùng một lúc là tất cả những đối tượng đó, nó là một cách để tự định vị đối với chính mình, đối với người khác và đối với Thiên Chúa.

Trước đó tôi đã khẳng định khiêm nhường là chị em song sinh của bác ái; bác ái được thể hiện qua hai thái độ có liên hệ rất mật thiết với nhau: “Ngươi phải yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng ngươi và người lân cận như chính mình”, khiêm nhường cũng phải vậy. Sự khiêm nhường thực sự hệ tại ở chỗ khiêm nhường đối với Thiên Chúa và đối với người lân cận. Người ta không thể khiêm nhường trước Thiên Chúa, trong kinh nguyện, nếu người ta không khiêm nhường trước anh em. Bởi vì nếu bạn không khiêm nhường đối với người anh em mà bạn thấy, làm sao bạn có thể nói rằng bạn khiêm nhường đối với Thiên Chúa mà bạn không thấy? Nếu bạn không rửa chân cho người anh em mà bạn thấy, thì bạn muốn rửa chân cho Thiên Chúa mà bạn không thấy, điều đó có nghĩa gì? Chân của Thiên Chúa, đó là anh em của bạn! Người ta có thể nói về sự khiêm nhường như thánh Gioan nói về bác ái (x. 1Ga 4,20).

Có những người (trong đó chắc chắn có tôi) có khả năng nói ra tất cả những điều xấu có thể có và tưởng tượng ra được, về bản thân họ; những người, trong khi cầu nguyện, tự buộc tội mình với sự thẳng thắn và can đảm đáng ngưỡng mộ. Đó là dấu hiệu của sự khiêm nhường đối với Thiên Chúa và đối với chính mình. Nhưng ngay khi một người anh em nhận xét những người đó thú nhận như vậy là đúng, hoặc dám nói một phần rất nhỏ những gì họ đã nói về bản thân họ, thì chắc là có chuyện! Quả thực, đây không phải là khiêm nhường thật. Người thật sự khiêm nhường là người nhìn mình trong Thiên Chúa, khám phá ra nơi Thiên Chúa mình là gì, và sau đó sống sự thật này trong mối liên hệ của mình với các anh em.

Sự khiêm nhường mà chúng ta khám phá ra là một điều tốt từ trời cao mà đến; nó là “phúc lộc hoàn hảo từ trên, tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên mọi tinh tú” (x. Gc 1,17). Đó là một cây không tình cờ mọc trên trái đất này; thế giới không biết đến nó. Chính sự khôn ngoan của Phúc Âm đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian chưng hửng. Trên trận địa này, hai sự khôn ngoan va chạm thẳng vào nhau, đến mức thánh Phaolô có thể nói: “Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời, thì hãy trở nên như điên rồ, để được khôn ngoan thật. Vì sự khôn ngoan đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa” (1Cr 3,18tt).

Chúng ta thấy rõ điều đó xung quanh mình: thay vì vun trồng sự khiêm nhường, thế gian lại đề cao sự kiêu ngạo. Thế gian dựa trên tham vọng, tranh đấu cho sự nghiệp, tiến dần trên bậc thang xã hội. Ngay từ khi mới vào học, các bạn trẻ được dạy gì, nếu không muốn nói là tạo sự nghiệp, khẳng định mình, đứng ở hàng đầu?

Tư tưởng của Đức Giêsu hoàn toàn trái ngược với tất cả những điều đó. Nhưng cũng phải hiểu cho đúng. Mục đích của sự khiêm nhường theo Phúc Âm là gì? Tạo ra một cộng đồng những con người cam chịu, vô định hình, không có đà tiến, không có khát vọng nào đánh đổi tài năng của mình chăng? Tuyệt đối không phải! Nietzsche, triết gia đã quả quyết như thế, không hiểu gì về Phúc Âm. Sự khiêm nhường theo Phúc Âm không có nghĩa là người ta không được làm sinh lợi những tài năng đã lãnh nhận, mà ngược lại. Điều khác biệt so với thế gian là những tài năng này, người ta không sử dụng chúng chỉ cho riêng mình, để ở trên người khác và thống trị họ, nhưng dùng chúng để phục vụ người khác; không sử dụng chúng để được phục vụ, nhưng để phục vụ.

Khiêm nhường giữa vợ chồng

Ở đây tôi muốn đề cập một vài lãnh vực mà sự khiêm nhường là đặc biệt quan trọng. Trước hết là gia đình: làm thế nào và tại sao khiêm nhường trong hôn nhân.

Hôn nhân, được hiểu là dây liên hệ yêu thương giữa một người nam và một người nữ, bắt nguồn từ sự khiêm nhường. Yêu một ai đó - nếu là yêu thương thực sự - là hành vi khiêm nhường triệt để nhất có thể tưởng tượng ra được. Nó có nghĩa là đến với một ai đó và nói với người ấy rằng: Anh (em) thấy mình không đủ; anh (em) cần em (anh). Như thể người ta đưa bàn tay ra xin một người khác nhận một phần nhỏ bản thân mình làm của bố thí. Thiên Chúa tạo ra con người nghèo túng và ăn xin; Ngài đã khắc ghi sự khiêm nhường trong chính xác phàm của họ, khi tạo ra họ có nam có nữ, nghĩa là không đầy đủ. Ngay từ đầu, từ hai con người đó, Ngài đã làm ra những con người chuyển động, người này tìm kiếm người kia, mỗi người đều “không hài lòng” về chính mình. Do đó, Ngài đã đặt thụ tạo con người trên một mặt phẳng nghiêng lên trên chứ không phải nghiêng xuống dưới, vì sự kết hợp phải nâng thụ tạo thuộc giới tính khác lên tới Đấng khác tuyệt vời là chính Thiên Chúa.

Vì vậy, hôn nhân bắt nguồn từ sự khiêm nhường và nếu nó bắt nguồn từ sự khiêm nhường của thân phận con người, thì hôn nhân chỉ có thể tồn tại trong sự khiêm nhường. Thánh Phaolô đã nói với những vợ chồng Kitô hữu: “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia” (Cl 3,12tt). Sự khiêm nhường và tha thứ, một cách nào đó, là một chất bôi trơn, cho phép ngày qua ngày làm tan biến mọi khởi đầu rỉ sét, phá vỡ những bức tường nhỏ của sự không hiểu biết nhau và oán giận nhau, trước khi chúng trở thành những bức tường lớn không thể phá vỡ. Vợ chồng phải cảnh giác điều mà “người cha khác”, người cha giả, dựng nên giữa họ thứ lôgíc của sự trả thù vụn vặt, của sự báo thù… Đừng nghe tiếng nói bên trong: Tại sao tôi lại là người luôn phải đầu hàng và nhượng bộ? Nhượng bộ, đó không phải là thua, nhưng là chiến thắng, là đánh bại kẻ thù thực sự của tình yêu là sự vị kỷ của chúng ta, cái ‘tôi’ của chúng ta.

Khiêm nhường trong cuộc Canh tân

Cuộc Canh tân cần những gia đình được đổi mới và những gia đình, như chúng ta đã thấy, cũng được đổi mới nhờ sự khiêm nhường. Tất nhiên, chính tình yêu đổi mới các gia đình, nhưng chính sự khiêm nhường mới làm cho tình yêu thành khả dĩ.

Giờ đây tôi muốn nói một lời về sự khiêm nhường trong cuộc “Canh tân”. Nếu Canh tân, như người ta đã nói rất đúng, có nghĩa là “trao quyền cho Thiên Chúa”, thì người ta hiểu sự khiêm nhường cấp bách như thế nào nơi cuộc canh tân trong Thần Khí. Sự khiêm nhường là điều ngăn cản cuộc Canh tân biến thành một công việc thuần túy của con người. Chúng ta cần thường xuyên lại đặt quyền trong tay Thiên Chúa, và điều đó được thực hiện nhờ khiêm nhường. Phải học cách nói, như sách Khải huyền và phụng vụ của Giáo Hội đã làm: “vương quốc, quyền năng và vinh quang thuộc về Chúa đến muôn thuở muôn đời!”

Mỗi lần chúng ta quên điều đó và chỉ dựa vào con người, thì đó là thảm họa, như trường hợp của Côrintô. Sự khiêm nhường trong cuộc Canh tân cũng quan trọng như chất cách điện. Hiệu số điện thế của dòng điện chạy qua dây càng lớn thì độ dày và hiệu năng của lớp cách điện phải càng lớn; nếu không, là chập mạch! Tôi nhớ loáng thoáng đến những ý niệm mà giáo sư vật lý cũ thời tôi học trung học đã dạy chúng tôi về chủ đề này. Ông nói: “Chất cách điện là một chất liệu trơ và không quý, nhưng lại tuyệt đối cần thiết, cũng như dây đồng tải dòng điện. Những dây đó có chức năng tải dòng điện, chất cách điện có chức năng không làm phân tán nó. Sự tiến bộ đạt được trong kỹ thuật dẫn điện luôn phải đi kèm với sự tiến bộ tương xứng trong kỹ thuật cách điện. Nếu không, là chập mạch!”

Đặc biệt, sự khiêm nhường phải có nơi những người có trách nhiệm và những người thi hành các tác vụ riêng biệt. Phải để mình bị chất vấn mà không được các anh chị em giải đáp, tiếp thu và sửa sai; phải để mình bị thay thế và thậm chí đi trước những người chịu trách nhiệm về điểm này.

Trong cuộc Canh tân, người ta có thể bị cám dỗ luôn muốn ở chính nơi mà, theo chúng ta nghĩ, dòng chảy của Thần Khí đang đi qua, muốn ở trong tâm bão, nghĩa là nơi có người nổi tiếng nhất, có nhóm tài năng nhất… Nếu Chúa cho chúng ta hiểu tất cả điều đó, thì chính là vì Ngài muốn giải thoát chúng ta khỏi nó. Thật tốt khi muốn ở chính nơi Thần Khí Thiên Chúa hành động; nhưng nơi Thần Khí hành động chính xác không phải là nơi con người được thấy rõ nhất, vì Thần Khi Thiên Chúa được thấy ưu tiên trong cuộc sống ẩn dật. Vì vậy nếu muốn thực sự ở trong tâm bão Thần Khí, chúng ta hãy nhanh chóng chiếm lấy chỗ cuối cùng. Chính tại đó, Chúa Thánh Thần đã tìm thấy Đức Maria và ban cho Người đầy quyền năng của mình.

Cuộc Canh tân cần những ơn gọi sống ẩn dật. Người ta phải khó lòng kéo chúng ta ra khỏi nơi cuối cùng; các anh chị em chúng ta phải vấp phải sự phản kháng của chúng ta, khi kéo chúng ta xa khỏi nơi cuối cùng, chứ không phải nơi đầu tiên.

Sự khiêm nhường cũng cần thiết trong các mối quan hệ giữa chúng ta, những người đang trong công cuộc Canh tân, và những anh chị em đang phục vụ Chúa trong các nhóm khác và trong các thực tại của Giáo Hội. Đừng bao giờ cho mình thuộc loại tinh hoa (élitiste), là điều làm hỏng mọi sự. Đừng coi mình là người có “đặc sủng” theo nghĩa nắm giữ những quyền năng đặc biệt, có khả năng huấn luyện người khác, nhưng đúng hơn theo nghĩa phục vụ Thần Khí.

Sự khiêm nhường làm Thiên Chúa hài lòng. Cái nhìn của Thiên Chúa về người khiêm nhường là cái nhìn của một người cha, cái nhìn của sự dịu dàng và nhân từ. Tiên tri Isaia cho chúng ta thấy cái nhìn của Thiên Chúa rảo khắp vũ trụ để tìm kiếm nơi có thể đáp xuống, nhưng tìm không ra, vì mọi sự là của Người, mọi sự đều do tay Người làm ra; cho đến giây phút Người tìm thấy một “tâm hồn nghèo khó và khiêm nhường” và đoái nhìn người ấy (x. Is 66,2). Có lời chép rằng “Chúa tuy thật cao cả, nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn; đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Người đã biết” (Tv 138,6). Từ nơi Người ngự, Chúa không thể vượt lên trên chính mình; cũng vậy, Người không thể hướng cái nhìn của mình lên trên chính mình; Người chỉ có thể đi xuống, và chỉ có thể nhìn xuống. “Nếu bạn đưa mình lên, Người lìa xa bạn, ngược lại nếu bạn hạ mình xuống, Người quan tâm đến bạn”[10]. Đây là lý do tại sao Đức Maria nói: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới” (Lc 1,48).

Để kết thúc, tôi dùng lời Thánh vịnh 131 ca ngợi hoa trái của sự khiêm nhường, để cùng với anh chị em cầu nguyện:

Lòng con chẳng dám tự cao

Mắt con chẳng dám tự hào Chúa ơi

Đường cao vọng chẳng đời nào bước

Việc diệu kỳ vượt sức chẳng cầu

Hồn con, con vẫn trước sau

Giữ cho thinh lặng giữ câu an bình

Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ

Trong con, hồn lặng lẽ an vui

Cậy vào Chúa Israel ơi

Từ nay đến mãi muôn đời muôn năm.


3. HOÁN CẢI CÁ NHÂN VÀ HÒA GIẢI

Đức Giêsu rao giảng cho những người phải đưa ra quyết định triệt để đi vào Nước Trời, và Ngài đang làm việc đó để giúp họ đưa ra quyết định này; huấn giáo của các Tông Đồ nhắm đến những người đã vào Nước Trời, là những người đã hoán cải theo Phúc Âm và từ lâu đã ở trong Giáo Hội. Trong việc rao giảng này nảy sinh nhu cầu về một cuộc hoán cải thứ hai mà, cả chúng ta nữa, cũng nên suy nghĩ rất cẩn thận vì, trong nhiều khía cạnh, nó cũng liên quan đến chúng ta, những người đã luôn ở trong Giáo Hội và từ ít lâu nay ở trong công cuộc Canh tân. Nhưng không thể hiểu hoặc thực hiện sự hoán cải thứ hai này, nếu tiên vàn không hiểu sự hoán cải mà Phúc Âm nói đến.

Sự hoán cải trong Phúc Âm

Phúc Âm theo nghĩa đen - nghĩa là tin mừng do Đức Giêsu loan báo là Nước Thiên Chúa đã đến với con người - bắt đầu bằng những lời sau: “Thời kỳ đã mãn và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần: anh em hãy sám hối (metanoéite) và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).

Chủ đề hoán cải không mới; nó được nói đến bằng mọi cách trong Cựu Ước và đặc biệt là nơi các tiên tri. Ngay cả Do Thái giáo thời Đức Giêsu cũng rao giảng phải hoán cải và Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng, rao giảng việc hoán cải để dọn đường cho Đức Kitô: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2), và: “Tôi làm phép rửa cho các anh trong nước, để giục lòng các anh sám hối” (Mt 3,11).

Chính việc so sánh với sự hoán cải của Cựu Ước và của Do Thái giáo, kể cả một phần sự hoán cải do Gioan Tẩy Giả rao giảng, cho thấy tính chất tuyệt đối mới mẻ của sự hoán cải do Đức Giêsu rao giảng. Điều mới chính là mối liên hệ chặt chẽ giữa sám hối và tin vào Phúc Âm. Mối liên hệ này có nghĩa là sự hoán cải phải dẫn đến đức tin; và hơn thế nữa, sự hoán cải hệ tại ở chỗ tin và đón nhận Phúc Âm.

Trước Đức Giêsu, hoán cải thường có nghĩa là thay đổi đời sống, thay đổi hạnh kiểm, “dọn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mt 3,3), để Chúa có thể đến với con người. Nói cách khác: hoán cải có nghĩa là xứng đáng được cứu rỗi, hoặc đẩy nhanh sự cứu rỗi, với ý nghĩa khổ chế và luân lý. Người ta hoán cải trên hết bằng việc trung thành giữ luật, bằng nỗ lực riêng của mình; việc này luôn được đặt lên hàng đầu, ít nhất trong tâm trí của những người xung quanh Đức Giêsu (các kinh sư, người Pharisêu).

Đức Giêsu đã đảo ngược tương quan này; hoán cải và sự cứu độ đã được đổi chỗ. Không phải trước tiên là hoán cải và sau đó là sự cứu độ, nhưng trước tiên là sự cứu độ, sau đó mới là hoán cải. Hoán cải có nghĩa là tin vào tin mừng rằng sự cứu độ được ban cho con người như một ân huệ cho không của Thiên Chúa; hoán cải có nghĩa là chiếm lấy Vương quốc đã đến và đổi mọi sự để lấy Vương quốc này. Đây là lý do tại sao, trong lời rao giảng của Đức Giêsu, hoán cải có nghĩa là tự quyết định. Một “quyết định mang tính quyết định”, vì mọi sự đều tùy thuộc vào quyết định này.

Xuyên suốt Phúc Âm, ý nghĩa và nội dung của quyết định triệt để này dần dần rõ ràng hơn. Trong Phúc âm Matthêu, chương 13, chúng ta thấy hai dụ ngôn rất ngắn trong đó hành động này được so sánh với việc một người bán tất cả những gì anh ta có để mua kho báu mà anh ta đã tìm thấy trong thửa ruộng, rồi với việc một người lái buôn bán tất cả những gì mình có để mua viên ngọc quý (x. Mt 13,44-46). Cùng một giáo huấn như vậy trong câu chuyện về người thanh niên giàu có; người thanh niên này đã không có can đảm cho đi mọi sự mình có để đổi lấy Nước Trời; trong trường hợp này Nước Trời được đại diện bởi một người: Đức Giêsu; phải theo Đức Giêsu để tìm thấy Nước Trời. Chàng thanh niên đã bỏ lỡ cơ hội lớn của đời mình! (x. Mc 10,17 và các đoạn song song).

Những đòi hỏi của hoán cải Phúc Âm là triệt để: phải sẵn sàng từ bỏ mọi sự. Mọi sự, ngay cả sức khỏe và tính mạng thể xác: “Nếu mắt phải của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi” (Mt 5,29). Từ bỏ mọi sự: ngay cả những tước hiệu, công trạng, lợi nhuận, mà một người đã có được trong Nước Trời; ngay cả những ân huệ của Thiên Chúa! Điều đáng chú ý là: Đức Giêsu minh nhiên nói về sự hoán cải lúc kết thúc lời rao giảng, cho các môn đệ đã theo Ngài; ở đó, hoán cải có nghĩa là “trở nên như trẻ nhỏ”: “Lúc ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giêsu rằng: ‘Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước trời?’ Đức Giêsu liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông và bảo: ‘Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ nhỏ, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mt 18,1-3).

Không dính bén với những ân huệ và đặc ân thiêng liêng, những bậc thầy tu đức biết rõ điều đó có nghĩa gì! Phải sẵn sàng để luôn bắt đầu lại mà không dựa dẫm và tin tưởng vào bất cứ điều gì khác ngoài tình yêu tinh tuyền của Chúa Cha. Giống như con cái ngỏ ý xin, không phải vì chúng thấy “xứng đáng” với những gì chúng xin qua việc làm của chúng, nhưng vốn sẵn tin chắc bố mẹ chúng yêu thương chúng: đó là sự bảo đảm của chúng và chúng không lầm.

Ân huệ có thể trở thành một sự bảo đảm, một tước hiệu vinh quang và ưu thế hơn những người khác, giống như chúng đang trở nên như thế nơi các Tông Đồ khi các ông tranh luận xem ai trong các ông là người lớn nhất. Đây là kiểu hoán cải cấp thiết nhất đối với một số người trong cuộc Canh tân: ngừng dựa vào những kinh nghiệm sống, vào các đặc sủng đã nhận được, vào các dịch vụ dành cho nhóm hoặc cho toàn bộ cuộc Canh tân và khởi sự lại từ đầu, mà chỉ có Thiên Chúa là sự giàu có của chúng ta…, “như trẻ sơ sinh” (x. 1Pr 2,2), như người để cho mình bị Nước Trời đang đến bắt chộp khi ở ngoài đồng và không trở lại phía sau lấy áo choàng của mình (x. Mt 24,18). Nhiều rắc rối trong các nhóm do những cạnh tranh tiềm tàng, những so sánh giữa con người với nhau sẽ tan đi và công việc của Thiên Chúa sẽ chiếu sáng nhiều hơn trên thái độ kiêu căng đang sụp đổ của chúng ta.

Vậy, đó là việc hoán cải trong Phúc Âm: bỏ mọi sự để có Nước Trời, tức là Đức Giêsu. Bỏ mọi sự để có Tất Cả!

Tông Đồ Phaolô cho chúng ta một mẫu gương về sự hoán cải hoàn hảo này theo Phúc Âm. Trong sự hoán cải của Phaolô, có một khía cạnh gây ấn tượng mạnh bên ngoài (Saun ngã xuống đất và nghe tiếng nói: “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?”) Và một khía cạnh nội tâm, ẩn giấu hơn và tiến bộ hơn, khía cạnh được dần dần xác định rõ. Trong thư Philípphê, chương 3, câu 3 và tiếp theo, chính vị Tông Đồ mô tả quá trình hoán cải nội tâm này như là con đường đưa ngài đến chỗ, vào một lúc nào đó trong đời, xem tất cả những gì ngài đã có và những gì ngài đã làm cho đến lúc đó, là “thiệt thòi”, là “rác rưởi” so với cơ may độc nhất vô nhị và chưa từng có là có được Đức Giêsu Kitô: “Từ nay tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi” (Pl 3,8).

Thánh Phaolô làm gương cho chúng ta về sự hoán cải lần thứ hai, ở chỗ không gắn bó với quá khứ của mình trong Giáo Hội, để phục vụ Đức Giêsu, phục vụ cuộc Canh tân. Đó là sự tách rời cần thiết để không bị giam hãm trong sự “công chính riêng” của mình, trái lại, để có thể tự do chạy theo bước chân của ân sủng và Thần Khí, Đấng muốn luôn làm những sự mới. Ngài lại nói: “Tôi không nghĩ mình đã chiếm được rồi. Tôi chỉ chú ý đến một điều, là quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Tôi chạy thẳng tới đích, để chiếm được phần thưởng tự trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu” (Pl 3,13tt).

Việc hoán cải mà Phúc Âm nói đến hệ tại ở chỗ phó thác hoàn toàn và vĩnh viễn vào ân sủng của Thiên Chúa, để Ngài dẫn dắt cuộc đời của mình (chính là hình ảnh đi kèm với quyết định của tôi nhận “phép rửa trong Thần Khí”); nó hệ tại ở chỗ nói với tất cả tấm lòng: “Tôi muốn Thiên Chúa và đó là tất cả!” Nói tắt, đó là nhường sự tự do của mình cho Thiên Chúa, bằng cách nói với Ngài: “Đối với mọi sự, dù sự gì đi nữa, con làm theo ý Chúa!” Con người cũ sẽ phản ứng. Phản ứng hết sức mạnh mẽ mà nói: “Tất cả, nhưng không phải sự tự do của con!” Thánh Augustinô đã biết cuộc đấu tranh giữa hai ý muốn này, và ngài đã phải dứt bỏ chính mình để nhờ Chúa che chở: “Đừng sợ, hãy lao vào vòng tay Chúa, Ngài sẽ không lui lại đâu. Ngài sẽ không để bạn gục ngã”[11]. Những gì thánh nhân nói có thể giúp những người ở trong tình huống tương tự: một đàng, họ bị lôi cuốn bởi ước muốn một cuộc sống mới và mong được dự phần vào niềm vui của các anh em, và đàng khác, những thói quen cũ và nỗi sợ bị buộc phải từ bỏ điều gì đó nếu họ hoán cải, cản họ lại. Để giúp những anh em này, tôi sẽ trích dẫn trang mà Augustinô mô tả cuộc chiến giữa xác thịt và tinh thần:

“Con đã buộc tội con kịch liệt hơn bao giờ hết, con đã quay lại và giãy giụa trong xiềng xích của con cho đến khi con phá vỡ nó tất cả. Nó hầu như không cản được con, tuy vậy nó vẫn giữ con lại. Lạy Chúa, Chúa thúc bách con, trong nơi bí mật của linh hồn con, và lòng thương xót nghiêm nhặt của Chúa, khi tăng thêm gấp đôi cú đánh, Chúa đánh con bằng những cây roi sợ hãi và xấu hổ, để con không bỏ rơi một lần nữa, để xiềng xích mỏng manh nhẹ nhàng của con được phá vỡ, và nó không lấy lại được sức mạnh để quấn con chặt hơn.

“Trong thâm tâm, con tự nhủ: ‘Vào việc đi, đừng trì hoãn nữa, đừng trì hoãn nữa.’ Những lời này đưa con đến quyết định. Con đã chuẩn bị hành động mà lại không hành động. Sau một nỗ lực mới, con đã ở đó, chỉ một chút nữa thôi, vâng, chỉ một chút nữa thôi, con đã chạm tới đích, con đã giữ được nó, nhưng rồi con đã không ở đó, con đã không chạm tới đích, con không giữ được nó, do dự trước việc chết cho cái chết, sống bằng sự sống. Cái xấu thâm căn cố đế chiếm lĩnh con hơn là điều tốt mà con đã không quen; và, lúc trở thành một con người khác càng đến gần, càng khiến cho con sợ hãi, nhưng không làm cho con thay đổi thái độ, cũng không làm cho con đổi hướng đi; nó chỉ giữ con ở tình trạng lơ lửng.

“Điều đã kìm hãm con là những điều vụn vặt, những sự phù phiếm, những người bạn cũ của con: họ kéo áo xác thịt và thì thầm: “Mày đuổi chúng tao đi sao? Kể từ giây phút này, chúng tao sẽ không bao giờ ở với mày nữa, và từ giây phút này con sẽ không còn có thể làm điều này hay điều kia, không bao giờ nữa sao?” Và những gì chúng đã gợi ý cho con trong những gì con vừa gọi là cái này cái kia, lạy Chúa! Cầu xin lòng thương xót của Chúa loại bỏ ý nghĩ về điều đó khỏi tâm hồn tôi tớ Chúa! Những gợi ý này, đúng là rác rưởi! thật đáng xấu hổ. Con còn không nghe thậm chí một nửa những đề nghị của chúng: vì chúng không xuất hiện trước mắt, như những đối thủ thẳng thắn, nhưng chúng nói với con nhỏ tiếng từ phía sau, và nếu con cố di chuyển ra xa, chúng sẽ véo con một cách thô bạo để buộc con phải quay lại. Tuy nhiên, chúng làm cho con trì hoãn, vì con do dự tách ra khỏi chúng, gạt bỏ chúng để đáp lại tiếng gọi đã lôi cuốn con, và thói quen độc tài nói với con: “Mày có nghĩ rằng mày sẽ có thể sống mà không cần chúng không?”[12]

Trong cuộc đấu tranh nội tâm này, thánh Augustinô đã được giúp đỡ rất nhiều khi nghĩ đến đoàn chiên của những người đã theo Đức Kitô: thanh niên, thiếu nữ, binh lính, người già, và ngài tự nhủ: “Nếu họ đã có thể, sao tôi lại không? Suy nghĩ này có thể giúp ích cho tất cả những ai do dự và trì hoãn: “Trong bao nhiêu lần tôi sẽ nói: ngày mai, ngày mai sao? Sao không phải ngay bây giờ? Tại sao chính lúc này không phải là lúc kết thúc cuộc đời buồn bã và vô dụng của tôi, xa lìa Thiên Chúa? Có lẽ, nhiều lần bạn sẽ lấy đà nhảy qua mương, băng qua Biển Đỏ nhỏ bé của bạn, và sau đó thấy mình được tự do trong Đất Hứa, bên ngoài Ai Cập, nhưng dần dần đà tiến của bạn yếu đi và bạn đã dừng lại, trên vạch xuất phát, bên phía Ai Cập. Giờ đây Chúa mời gọi bạn bắt đầu lại bằng cách đặt tin tưởng không phải vào chính bạn, nhưng vào Thần Khí thánh của Ngài. Với Đấng ấy, bạn sẽ đạt tới điều đó. Hãy lấy đà và đừng dừng lại bao lâu bạn chưa ở trong vòng tay của Chúa Cha, Đấng đang chờ đợi bạn…”

Sự hoán cải trong huấn giáo của các Tông Đồ

Giờ đây chúng ta đi từ Đức Giêsu sang thời của Giáo Hội, từ bờ hồ Tibêria, nơi Đức Giêsu nói chuyện đúng giờ với các nhóm thính giả không thường xuyên, đến Tiểu Á. Ở đó, vào cuối thế kỷ I, có những tín hữu từ lâu đã được nghe loan báo Phúc Âm, đã hoán cải và đang sống đời sống mới trong Đức Kitô. Tôi chọn bối cảnh Tiểu Á vì tôi muốn dùng bảy lá thư gửi các Giáo Hội ở châu Á trong sách Khải huyền (x. Kh 2-3) làm khởi điểm cho những suy tư của mình.

Vấn đề hoặc mối quan tâm cơ bản của những bức thư này rất rõ ràng: làm thế nào để đánh thức sự nhiệt thành lúc khởi đầu, hoặc - như nói trong bối cảnh này - tình yêu thuở ban đầu, trong các cộng đồng Kitô giáo đã mất nhiệt tình và có nguy cơ chìm vào trong sự hâm hẩm (không nóng không lạnh). Chúng ta sẽ quan tâm đến vấn đề hoán cải trong tình huống rõ rệt này, bởi vì hiển nhiên điều đó liên quan chặt chẽ đến các nhóm Canh tân, những nhóm mà, sau một vài năm, nhận thấy nguy cơ mệt mỏi và hâm hẩm. Lời khuyên: “Ai có tai, thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” (Kh 2,7), đọc thấy ở cuối mỗi lá thư, là nói với chúng ta, ở đây và lúc này: “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các nhóm Canh tân!”

Bảy lá thư của sách Khải huyền rất giống nhau về cấu trúc của bản văn. Nhưng trước khi bình giải, tiên vàn chúng ta lắng nghe một vài thư. Chúng ta hãy đọc thư gửi Giáo Hội Êphêsô và Giáo Hội Laođikia (x. Kh 2,1-7; 3,14-22).

Chính Đức Giêsu nói (Ngài được chỉ định bằng các tước hiệu “Đầu và Cuối”, “Con Thiên Chúa”, “Amen”, v.v.). Ngài bắt đầu bằng cách nói với từng Giáo Hội, “Ta biết các việc ngươi làm.” Sau đó là tán thành những việc tốt được thực hiện trong cộng đồng và phản đối những việc xấu. Trong năm lá thư, lời kêu gọi long trọng hoán cải xuất hiện ở chỗ này: “Metanóeson, hãy hoán cải!” hoặc, như chúng ta thường dịch: “Hãy ăn năn thống hối!”

Yếu tố này là mới. Trong khi Đức Giêsu nói trong Phúc Âm: “Hãy hoán cải và và tin”, thì sau khi sống lại, Ngài nói: “Hãy hoán cải và thực hiện việc làm!” Đây là một số câu trích từ những lá thư này: “Hãy nhớ lại xem ngươi đã từ đâu rơi xuống, hãy hối cải và làm những việc ngươi đã làm thuở ban đầu” (Kh 2,5); “Ta nhận thấy các việc của ngươi không được hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa của Ta… Hãy hối cải” (Kh 3,2 tt); “Hãy nhiệt thành và hối cải ăn năn!” (Kh 3,19).

Sự hoán cải mà Phúc Âm nói đến là sự hoán cải từ việc làm tới đức tin; trái lại, sự hoán cải mà huấn giáo của các tông đồ nói đến, là sự hoán cải từ đức tin sang việc làm. Điều đó khiến chúng ta ngạc nhiên. Liệu chúng ta có trở lại thời Cựu Ước, liệu chúng ta có từ bỏ đức tin tinh tuyền vào Phúc Âm, để làm những việc tốt không? Tuyệt đối không! Như chúng ta biết Tông Đồ Phaolô, người bảo vệ xuất sắc sự cứu rỗi bởi đức tin chứ không phải bởi việc làm (x. Gl 2,16tt; Rm 3,28), chính ngài giải thích cho chúng ta sự hoán cải Kitô giáo hướng tới việc làm bao gồm những gì.

Ngài gọi những công việc năm xưa - những việc làm dưới chế độ lề luật - là “những việc làm của xác thịt”, trong khi những việc làm mà các tín hữu phải thực hiện giờ đây, dưới chế độ ân sủng, được gọi là “những hoa quả của Thần Khí” (Ep 5, tt; Gl 5,18tt). Có khác biệt lớn giữa hoán cải hướng tới các việc làm được rao giảng trong Giáo Hội và hoán cải được rao giảng trong Cựu Ước; trong Giáo Hội, các việc làm không còn được khuyến khích như điều kiện hay nguyên nhân của sự cứu rỗi, nhưng như hệ quả. Người ta không còn nói: “Hãy làm những việc như vậy  bạn sẽ được cứu”, nhưng nói: “Hãy làm những việc như vậy  bạn đã được cứu.” Việc làm tốt là hệ quả hợp lý, là biểu hiện tự nhiên của sự cứu rỗi nhận được từ Đức Kitô. Không làm những việc đó có nghĩa là từ điều kiện của đời sống mới trở lại với đời sống cũ, với tình trạng nô lệ.

Những việc làm này không còn là hoa quả của xác thịt, kết quả của nỗ lực riêng của con người, nhưng là hoa quả của Thần Khí. Thần Khí khơi dậy trong chúng ta ý chí và hành động và chỉ yêu cầu chúng ta ngoan ngoãn, đồng ý với các ý định của Ngài một cách hoàn toàn tự do, đòi hỏi theo Ngài. Cũng trong đoạn này, thánh Phaolô lên án những việc làm, như là nguyên nhân của ơn cứu độ, và cổ võ những việc làm, như là hệ quả và hoa quả của việc cứu độ được Đức Giêsu thực hiện: “Quả vậy, chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh làm, để không ai có thể hãnh diện. Thật thế, chúng ta là tác phẩm của Thiên Chúa, chúng ta được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu, để sống mà thực hiện công trình tốt đẹp Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta” (Ep 2,8-10).

Giáo lý này của thánh Tông Đồ về hoa quả của hoán cải, hay hoa quả của Thần Khí, dựa trên giáo huấn của Đức Giêsu, Đấng đánh giá chúng là những “hoa quả tốt”. Ngài đã nói: “Cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu” (Mt 7,19). Cây vả chỉ có lá, không có quả, bị Đức Giêsu nguyền rủa, tượng trưng cho kẻ dừng lại ở lần hoán cải thứ nhất, không đi đến lần thứ hai, tức là không sinh hoa kết quả (Mc 11,12tt). Ý tưởng này cũng được lặp lại trong diễn từ của Đức Giêsu về cây nho và cành nho: một khi đã tháp vào cây nho hoặc đã ra hoa thì cành nho phải kết trái, bằng không sẽ bị chặt: “Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi” (Ga 15,2).

Sự hoán cải thứ hai trong công cuộc Canh tân

Cần nhắc lại những nền tảng giáo lý này để tránh nhầm lẫn. Một số người tái khám phá chân lý vĩ đại của Phaolô: chúng ta được cứu một cách nhưng không, không phải bởi việc làm của chúng ta mà bởi tin nơi Đức Kitô, nhưng dừng lại ở đó, mà không thực hiện bước tiếp theo - là điều cần thiết - hướng tới hoa quả của sự hoán cải. Cái bẫy của sự hâm hẩm ẩn giấu ở đó. Người ta gạt bỏ những giá trị truyền thống luôn nuôi dưỡng sự thánh thiện đích thực của Giáo Hội, chẳng hạn như hành xác, từ bỏ mình, cảnh giác liên quan đến giác quan và bản năng, nỗ lực khổ chế để thanh tẩy tội lỗi. Người ta đã hiểu rằng không trở nên thánh “vì” những việc đó (và ở đây, người ta có lý), nhưng người ta đã không hiểu rằng không trở nên thánh “mà không có” những việc đó. Nhãn quan Công giáo về đức tin đòi hỏi người ta phải tính đến hai khía cạnh này. Đây là lý do tại sao tôi nói rằng sự hoán cải thứ hai là sự hoán cải từ đức tin sang việc làm, nghĩa là từ đức tin đơn thuần sang đức tin “hành động nhờ đức ái” (x. Gl 5,6), sang đức tin thể hiện bằng việc làm.

Mối nguy hiểm này đã được biết đến trong một thời gian dài dưới cái tên “thuyết tĩnh tịch” (quiétisme), hệ tại ở chỗ tin rằng mọi sự nơi chúng ta hoạt động chỉ nhờ ân sủng của Thiên Chúa, và chỉ cần phó mặc cho ân sủng một cách thụ động, trong một thái độ tĩnh lặng và không hoạt động, giống như trên một con thuyền để mặc cho sóng vỗ nhẹ.

Một nguy hiểm khác, tương tự như thuyết tĩnh tịch, là “thuyết thiên cảm” (illuminisme): người ta hành động dưới sự thúc đẩy của sự soi sáng bên trong được coi là do Thần Khí ban cho, mà không kể đến các tiêu chuẩn của chân lý và sự phân định của Giáo Hội.

Trong số những tai vạ của cộng đồng, trong các lá thư gửi cho các Giáo Hội châu Á, Gioan chỉ ra sự hiện diện của những người đi theo các giáo lý đặc biệt và kỳ lạ, không liên quan gì đến cốt lõi của đức tin. Đây là những người bảo vệ học thuyết của Balaam và của người phái Nicôla (là những học thuyết riêng của một số tâm trí được soi sáng cách giả tạo, những học thuyết này đã tàn lụi cùng với các tác giả của chúng). Các thư mục vụ mạnh mẽ tố cáo những tai vạ của các tiến sĩ giả dạy các học thuyết cá nhân và là những người đã thành công nơi những người chất phác, thiếu tiêu chuẩn phân biệt (x. 2Tm 2,16-18; 3,6-9).

Ngày nay người ta tìm thấy lại mối nguy hiểm của thuyết thiên cảm và những học thuyết sai lầm, quá chú ý đến những mặc khải tư và những việc sùng kính mới lạ, là những điều làm cho sự hoán cải trệch hướng và cuối cùng thường gây thiệt hại cho Giáo Hội; chúng giúp cho các hiện tượng cuồng tín và suy đoán về những sự việc thứ yếu làm cho các tín hữu đi trệch khỏi điều cốt yếu của đức tin.

Cùng với sự nguy hiểm của các tiến sĩ giả, người ta chỉ ra sự nguy hiểm của các tiên tri giả. Trong thư gửi Giáo Hội Thyatira, Đức Giêsu nói: “Ta trách ngươi điều này: ngươi dung túng Idêven, người đàn bà xưng mình là nữ tiên tri, mê hoặc các tôi tớ của Ta” (Kh 2,20). Lời khiển trách liên quan không phải với Idêven, nhưng với cộng đồng, có lẽ vì sợ người đàn bà này tố cáo gì đó hoặc những lời đe dọa bí hiểm của bà, hoặc đơn giản vì thích cuộc sống yên tĩnh. Lời nhắc nhở này cũng phải thức tỉnh các nhóm: chính là những thứ ngăn cản sự thức tỉnh thiêng liêng thực sự và khiến một cộng đồng phải chịu sự phán xét của Thiên Chúa (x. Kh 2,22tt).

Vậy đó là một số hoa quả xấu mà Gioan đã chỉ ra cho các Giáo Hội của ngài và là những hoa quả tôi thấy vẫn luôn có tính thời sự và rất khó phân biệt. Nhưng chúng ta không muốn tập trung vào khía cạnh tiêu cực này của vấn đề. Điều quan trọng đối với chúng ta là trên hết phải biết những hoa quả tốt của Thần Khí để có thể vun trồng chúng và hết lòng nhiệt thành với chúng.

Những hoa quả tốt này của Thần Khí đặc biệt là gì? Thật ra, tất cả đời sống mới trong Đức Giêsu Kitô đều là hoa quả của Thần Khí. Nhưng thánh Phaolô chỉ rõ hơn những hoa quả này, đó là: bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ (x. Gl 5,22). Hoa quả làm cho những hoa quả khác có phẩm chất là hoa quả được đặt lên hàng đầu: bác ái, agape. Bác ái là điều răn “mới” làm nên những con người mới, những người hát bài ca mới, những con người của Tân Ước. Nó là hoa quả tuyệt vời của Thần Khí, đến độ nó ở đâu thì mọi sự đều ở đó: “Anh em hãy cố đạt cho được đức ái” (1Cr 14,1).

Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô, phải đi từ chương 12 sang chương 13 - từ các đặc sủng sang hoa quả của Thần Khí. Đi từ các đặc sủng sang hoa quả của Thần Khí không có nghĩa là rời bỏ các đặc sủng để cố gắng có được các hoa quả, nhưng là thêm các hoa quả vào các đặc sủng, tăng cường các đặc sủng bằng các hoa quả của Thần Khí! Vấn đề là đi từ việc thực hành đúng lúc một đặc sủng, hoặc thậm chí mọi đặc sủng, sang một đời sống đặc sủng, nghĩa là một đời sống được sống mỗi lúc theo Thần Khí. Sự thánh thiện tùy thuộc kiểu thái độ cuối cùng này, chứ không phải kiểu thái độ đầu tiên. Hoa quả của Thần Khí là một “gratia gratum faciens” làm cho con người đẹp lòng Thiên Chúa; đặc sủng là một “gratia gratis data” (ân sủng được ban không) mà, ở cực hạn, có thể thậm chí đưa tôi đến hỏa ngục. Với một số người tuy đã làm phép lạ, Đức Giêsu vẫn nói: “Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta” (x. Mt 7,23).

Có một sự khác biệt lớn giữa sức mạnh và sự rạng rỡ thiêng liêng của những người này và những người khác. Những người này - những người chỉ dựa vào việc thực thi các đặc sủng - có thể thực hiện các hành động trong quyền năng của Thần Khí. Nhưng những hành động này sẽ dần dần giảm bớt, nếu việc thực thi những đặc sủng này không dựa trên một đời sống thiêng liêng vững chắc. Những người khác, “y theo hình ảnh của Đức Kitô”, được biến hình trong Đức Giêsu Kitô, hoặc có xu hướng kết hợp với Đức Kitô, có được một quyền năng ổn định; trong mọi việc họ làm, trong mọi điều họ nói, họ tỏa ra sức mạnh của Thần Khí và người ta hoán cải khi thấy họ cầu nguyện. Chính đó là hoán cải, hoặc là bước tiến, cần thiết nhất cho cuộc Canh tân và đặc biệt cho những người đến nay đã ở trong cuộc Canh tân một thời gian.

Bao lâu chúng ta hài lòng đón nhận và sử dụng các ân huệ của Thần Khí, các đặc sủng, chúng ta sẽ giống như một cây thông Noel, treo đầy những món quà rực rỡ mà cha mẹ mang đến trong đêm. Nhưng sau một thời gian cây thông Noel khô héo và người ta vứt đi, vì nó không phải là cây thật; nó đã hoàn thành nhiệm vụ của mình nơi trẻ em.

Khi bắt đầu sống trong Thần Khí (nhờ bác ái, không ngừng sám hối, hành xác), người ta như một cây thật, trồng trong đất, sẽ sinh hoa kết trái vào thời kỳ của nó: “Người ấy tựa cây trong bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh, cành lá chẳng khi nào tàn tạ. Người như thế làm chi cũng sẽ thành” (Tv 1,3).

“Dòng nước” mà cây này mọc gần đó là nước mà Đức Giêsu đã ban: Chúa Thánh Thần (x. Ga 7,37-39). Cũng giống như cây ăn trái trong thiên nhiên, cây này, để có thể là cây thực và sống, phải trải qua mùa đông rụng hết lá, mùa xuân phải cắt tỉa, mùa hạ phải nóng bức, nói cách khác là phải qua thập giá. Tôi đang nghĩ đến một loại cây chỉ kết trái vào cuối mùa, khoảng cuối thu, đó là cây hồng. Để cho những quả vàng óng, nó rụng hết lá, tự lột xác hoàn toàn. Và ở vùng quê cằn cỗi, người ta nhìn thấy quả của nó từ xa. Nhưng có thể nói, cây đã sản sinh ra chúng không còn tồn tại nữa: nó đã mất hết vẻ đẹp và nét hoa mỹ… Nó nhắc chúng ta nhớ đến cây sinh hoa trái cứu rỗi toàn thế giới: cây thập giá! Ai có tai thì hãy nghe…

Và người ấy hãy chọn: cây thông Noel, thậm chí có thể bằng nhựa, hay cây sống đây? Bây giờ người ta biết sự khác biệt!

Phúc Âm đã nói với chúng ta về việc hoán cải như một quyết định; huấn giáo của các Tông Đồ về việc hoán cải như một sự thức tỉnh. Và chúng ta sẽ biết niềm vui! Là vì lời kêu gọi hoán cải là để làm cho chúng ta hạnh phúc. Hoán cải là niềm vui lớn nhất mà người ta có thể trải nghiệm. Người đã tìm thấy kho báu giấu trong ruộng mình, đã “vui mừng ra đi” để bán tất cả mọi sự; ngược lại, người thanh niên giàu có, không có can đảm bán hết của cải, đã “buồn rầu bỏ đi” (x. Mt 19,22). Hoán cải là ở lại với Chàng Rể, và làm sao người ta có thể buồn hay ăn chay, bao lâu Chàng Rể còn ở đó?

Nhưng có một điều còn lạ lùng hơn trong việc hoán cải so với niềm vui của con người: đó là niềm vui của Thiên Chúa! “Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (x. Lc 15,7). Đó là một mầu nhiệm: Tôi có thể làm cho Chúa của tôi hạnh phúc! Bởi vì Thiên Chúa không hạnh phúc trọn vẹn chừng nào phía sau cánh cửa có một người con không chịu vào, dù nó là đứa con hoang đàng hay người con cả.

Làm thế nào chống lại suy nghĩ này? Làm sao không nói ngay: “Hôm nay, chính hôm nay tôi muốn hoán cải.”


4. TỪ CON NGƯỜI CŨ ĐẾN CON NGƯỜI MỚI

So sánh hai bản văn Tân Ước sử dụng cùng một kiểu nói “cởi bỏ con người cũ và mặc lấy con người mới”, chúng ta nhận thấy một sự khác biệt kỳ lạ. Thánh Phaolô nói: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa, để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,22-24). Trong bản văn này “cởi bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới” có tính chất mệnh lệnh, phải thực hiện trong đời sống chúng ta. Trái lại, nếu chuyển sang một bản văn khác của thánh Tông Đồ, chúng ta nhận thấy mọi sự được trình bày như một điều đã xảy ra và thuộc về quá khứ: “Anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa” (Cl 3,9-10).

Cùng một sự khác biệt khi nói đến “mặc lấy Đức Giêsu Kitô”. Đôi khi đó là một lệnh truyền, một việc phải làm: “Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô” (Rm 13,14); những lần khác, được trình bày như điều đã xảy ra trong phép rửa tội. “Bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27).

Tại sao có hai kiểu nói này? Lời Chúa có mâu thuẫn với chính nó không? Không. Sự mâu thuẫn này là căn bản vì chuyển từ con người cũ sang con người mới, vừa là công việc của chúng ta vừa là công việc của Thiên Chúa, công việc phải thực hiện và công việc đã được thực hiện.

Trước khi trở thành một quyết định, hay một chương trình khổ chế, việc thực hiện con người mới là một biến cố trọng đại trong lịch sử, và có hiệu quả nơi từng cá nhân trong phép rửa tội. Trước khi là công việc của chúng ta, nó đã là công việc của Thiên Chúa. Thật vậy, nó trùng hợp với việc chuyển từ giao ước cũ đến giao ước mới, từ văn tự đến Thần Khí, từ lề luật đến ân sủng. Chúng ta phải khám phá điều chúng ta đã trở thành trong phép rửa tội, để biết điều chúng ta phải làm trong đời sống. Bổn phận của chúng ta phát sinh từ hữu thể của chúng ta: “Nếu chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước” (Gl 5,25).

Chính là điều mới lạ và ân sủng lớn nhất của cuộc Canh tân trong Thần Khí: giúp các tín hữu tái khám phá họ là gì, thực tại thần linh nơi họ, để thực hiện dễ dàng hơn những gì Phúc Âm đòi hỏi, không phải bằng sức mạnh nữa, nhưng bằng lòng biết ơn, không vì sợ hãi nữa, nhưng vì tình yêu.

Cuộc Canh tân không được coi như một giải pháp thay thế, càng không được coi như đối nghịch hoặc cạnh tranh với các sức mạnh khác thuộc Giáo Hội. Vai trò của nó không phải là chỉ ra các định hướng về cách sống đức tin và thể hiện nó bằng cách lựa chọn hành động trên bình diện văn hóa và chính trị, nhưng chỉ cho thấy nơi người ta tìm được sức mạnh để thực hiện tất cả các chương trình, nghĩa là trong Chúa Thánh Thần. Do đó, sự đóng góp của nó thật khiêm tốn, thậm chí tôi dám nói là khiêm tốn nhất, vì nó không có gì đặc biệt để cống hiến, không có gì là thành quả của sự phân định, phát minh và lập trình của nó. Những gì nó đề xuất là dành cho mọi Kitô hữu, theo cùng một cách; mọi người đều sở hữu nó. Nó là yếu tố Kitô giáo nguyên thủy, trước các tình huống lịch sử khác nhau và những đa dạng hóa địa phương của nó. Vì thế, nó “lợi ích mọi bề” như lòng mộ đạo (x. 1Tm 4,8). Nó thậm chí không phải là một chuyển động, như người ta quen hiểu; hơn nữa, nó không có người sáng lập hay lý thuyết gia. Hẳn là không nên có những con người đó. Chính vì thế chúng ta rất quý trọng và biết ơn những anh em đang đảm nhận gánh nặng khó khăn khi giúp thực hiện bước tiếp theo, bằng cách chỉ ra những cách cụ thể để thể hiện đức tin trong những tình huống khác nhau của cuộc đời.

Trong thư thứ nhất, thánh Gioan Tông Đồ nói với chúng ta: “Hỡi các bạn trẻ, tôi đã viết cho anh em: anh em là những người mạnh mẽ; lời Thiên Chúa ở lại trong anh em và anh em đã thắng ác thần” (1Ga 2,14). Tôi dám dùng những lời này để nói: Hỡi các bạn trẻ, tôi ngỏ lời với các bạn, để giúp các bạn nhận ra rằng các bạn mạnh mẽ, và “Đấng ở trong các bạn mạnh hơn kẻ ở trong thế gian” (x. 1Ga 4,4) và để khích lệ các bạn luôn mạnh mẽ hơn; để nhắc nhở các bạn rằng các bạn là những con người mới và để mời gọi các bạn trở nên con người ấy hơn nữa.

Từ con người cũ đến con người mới: bước vượt qua đã được hoàn tất

Chủ đề vượt qua từ con người cũ đến con người mới hoặc từ sống theo xác thịt đến sống theo Thần Khí, được thánh Phaolô bàn đến, đặc biệt trong thư Rôma 8,1-13. Chủ đề bắt đầu như sau: “Vậy giờ đây, những ai ở trong Đức Kitô Giêsu, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết.” Tất cả diễn từ về Thần Khí được quảng diễn ở đây đối lập với diễn từ về lề luật. Tôi dám nói thêm, chính Thần Khí được định nghĩa là luật: “Luật của Thần Khí” quả thực có nghĩa “luật là Thần Khí”.

Điều này có thể khiến chúng ta ngạc nhiên, vì thông thường luật pháp và tinh thần loại trừ lẫn nhau, và nếu đôi khi người ta nói “tinh thần của luật”, thì người ta sẽ không bao giờ nói “luật của tinh thần”. Đối với Kinh Thánh thì không như vậy. Và để thuyết phục chúng ta về điều này, chỉ cần nghĩ lại biến cố Thần Khí, lễ Ngũ Tuần.

Trong Cựu Ước, có hai cách giải thích cơ bản về ngày lễ Ngũ Tuần. Khởi đầu, lễ Ngũ Tuần là “lễ bảy tuần” (x. Tb 2,1), “lễ mùa màng” (x. Ds 28,26 tt), khi hoa trái đầu mùa được dâng lên Thiên Chúa (x. Xh 23,26; Đnl 16,9). Sau đó, vào thời Đức Giêsu, ý nghĩa của ngày lễ được phong phú nhờ gợi lại việc ban lề luật tại Sinai và giao ước; là lễ kỷ niệm các biến cố được mô tả trong sách Xuất hành 19-20. Theo những tính toán mà chúng ta thấy trong Kinh Thánh, lề luật thực sự đã được ban hành trên Sinai, năm mươi ngày sau khi cử hành lễ Vượt Qua, lúc ra khỏi Ai Cập. Trên núi Sinai, Thiên Chúa đã ban lề luật cho Môsê, thập giới, lập giao ước với dân và biến dân trở thành “một vương quốc tư tế, một dân thánh” (x. Xh 19,4-6). Trong sách Công vụ, Luca đã chọn cách mô tả việc Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông Đồ bằng những dấu chỉ của thần hiện ở Sinai.

Vậy thì lễ Ngũ Tuần của chúng ta có ý nghĩa gì? Tại sao Chúa Thánh Thần xuống trên Giáo Hội đúng vào ngày dân Israel nhớ đến ân huệ lề luật và giao ước? Chúng ta thấy rõ câu trả lời: để chỉ ra rằng Chúa Thánh Thần là luật mới, luật thiêng liêng, đóng ấn giao ước mới và vĩnh cửu, là giao ước thánh hiến dân mới vương giả và tư tế, là Giáo Hội. Quả là một mạc khải tuyệt vời về lễ Ngũ Tuần và Chúa Thánh Thần! Bỗng chốc những lời tiên báo của Giêrêmia và Êdêkien về giao ước mới, trở nên rõ ràng: “Đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Israel sau những ngày đó - sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta” (Gr 31,33). Không còn trên những tấm bia bằng đá, nhưng là trong lòng, không còn là luật bên ngoài, nhưng là luật bên trong, Êdêkien xác định rõ luật bên trong hệ tại ở điều gì: “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi” (Ed 36, 26tt). Luật mới là “thần khí mới”, Chúa Thánh Thần.

Thánh Phaolô ám chỉ rõ ràng lời các tiên tri này được ứng nghiệm khi ngài gọi cộng đồng giao ước mới là một “bức thư của Đức Kitô, không phải viết bằng mực đen, nhưng bằng Thần Khí của Thiên Chúa hằng sống, không phải ghi trên những tấm bia bằng đá, nhưng trên những tấm bia bằng thịt, tức là lòng người” (x. 2Cr 3,3).

Lề Luật và ân sủng

Thánh Tông Đồ cho chúng ta biết sự khác biệt lớn giữa hai luật là luật mới ban sự sống, còn luật cũ thì không: “Luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu, đã giải thoát tôi khỏi tội và sự chết” (Rm 8,2). Luật Môsê - và cùng với nó là tất cả luật thiết định - bao trùm bên ngoài con người, không thay đổi tình huống bên trong, không làm mất đi tội lỗi, nhưng làm nó lộ ra; không ban sự sống, nhưng chỉ làm nổi bật tình trạng chết chóc của nó.

Đây là lý do tại sao tội lỗi, bắt đầu từ tội Ađam, là đã muốn nên như Thiên Chúa, ước ao và nghĩ rằng có thể hiện hữu mà không cần đến Ngài. Không phải tội bắt nguồn từ sự vi phạm luật, nhưng chính sự vi phạm luật bắt nguồn từ tội. Tội nguyên tổ có trước sự vi phạm lệnh truyền của Thiên Chúa; đó là đã tách mình ra khỏi Thiên Chúa, là mâu thuẫn với Ngài từ nơi sâu thẳm trong tâm hồn. Việc bất tuân luật không được ăn trái cấm là cách bày tỏ và hậu quả của mâu thuẫn nội tâm này, cũng như, cho đến lúc đó, việc tuân thủ luật này là hậu quả, chứ không phải nguyên nhân, của tình bạn bên trong với Thiên Chúa. Sự sống và sự chết có trước lề luật, đó là chuyện xảy ra trong sâu thẳm trái tim con người, và lề luật, trong trường hợp này cũng như trường hợp khác, nghĩa là trong việc tuân giữ cũng như vi phạm, chỉ là cách bày tỏ ra bên ngoài.

Đây là lý do tại sao tội căn bản, sự ích kỷ, yêu bản thân chống lại Thiên Chúa, không thể được xóa bỏ bởi lề luật, mà chỉ bằng cách khôi phục mối quan hệ yêu thương ban đầu. Và đó là điều mà Đức Giêsu đã mang lại cho chúng ta: “Điều mà Lề Luật không thể làm được…thì Thiên Chúa đã làm: khi sai chính Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta… Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình” (Rm 8,3). Quả thật, nhờ sự chết và sự sống lại của mình, vào ngày lễ Ngũ Tuần và, cho mỗi người khi chịu phép rửa tội, Đức Giêsu đã ban Chúa Thánh Thần, là Thần Khí Đức Giêsu. Thần Khí biến đổi con người. Chừng nào con người muốn giống như Thiên Chúa và sống dưới ảnh hưởng của tội lỗi, thì Thiên Chúa chắc chắn xuất hiện trước người đó như một kẻ thù nghịch, như một chướng ngại vật. Giữa người đó và Thiên Chúa có một sự thù nghịch tiềm ẩn mà lề luật chỉ có thể cho thấy hiển nhiên. Con người ích kỷ “ham muốn”, trong khi Thiên Chúa là Đấng, qua các điều răn của mình, chống lại những ham muốn đó bằng những mệnh lệnh “Ngươi phải… Ngươi không được!” “Hướng đi của tính xác thịt là sự phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì tính xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa” (Rm 8,7).

Nhờ chế độ ân sủng, Thiên Chúa không còn là chướng ngại vật. Không phải vì con người có khả năng thay đổi chính mình, nhưng vì Thiên Chúa đến hủy bỏ sự thù nghịch nhờ máu Đức Giêsu. Đó là sự mới mẻ do Chúa Thánh Thần đem đến vào ngày lễ Ngũ Tuần: Người biến đổi tâm hồn con người và làm cho họ có khả năng yêu mến Thiên Chúa và tuân giữ các điều răn của Ngài. Thật vậy, Thần Khí chứng thực rằng Thiên Chúa yêu thương họ, Ngài là đồng minh chứ không phải kẻ thù của họ; Thần Khí cho thấy tất cả những gì Thiên Chúa Cha đã có thể làm cho họ trong Đức Giêsu Kitô và Ngài đã không tha Con mình vì họ như thế nào. Thiên Chúa lấp đầy trái tim của con người và Ngài không còn là Đấng ra lệnh phải làm hay không được làm, mà chính Ngài làm, cùng với con người và trong con người, những gì Ngài ra lệnh cho họ. Do đó, là Thần Khí, luật không chỉ là một chỉ dẫn của ý chí; nó là một hành động, một nguyên tắc sống và hoạt động. Luật mới là đời sống mới. Vì vậy luật mới được gọi đơn giản là ân sủng: “Anh em không còn lệ thuộc vào Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng” (Rm 6,14; x. Ga 1,17). Nếu Đức Giêsu định nghĩa luật của Ngài, so với luật Môsê, là “một ách êm ái và một gánh nhẹ nhàng” (Mt 11,30), không phải vì nó ít đòi hỏi hơn luật Môsê (luật Môsê không thể sánh bằng), nhưng vì nó không còn là ách và gánh mà con người phải một mình mang lấy.

Điều răn mới

Luật mới này là tình yêu. Đây là điều răn mới mà Đức Giêsu dạy chúng ta. Chúa Thánh Thần đã ghi khắc luật mới trong tâm hồn chúng ta bằng cách in sâu tình yêu vào đó. Quả thật theo Kinh Thánh, “Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Đây không chỉ là về tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, nhưng còn là về tình yêu khiến chúng ta có khả năng yêu mến Thiên Chúa và người lân cận của chúng ta; chính là một khả năng mới để yêu. Tình yêu là dấu chỉ và là yếu tố mạc khải sự sống mới của Thần Khí. Thánh Gioan viết: “Chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em” (1Ga 3,14).

Sự mới mẻ của điều răn này chính là giờ đây nó không còn là “một” điều răn nữa, mà là điều răn. Không chỉ đối tượng của tình yêu được thay đổi (quả thực nó đã mở rộng đến tất cả mọi người, không chỉ với đồng hương hay bạn bè) nhưng là chính bản chất của nó. Thật vậy, vấn đề không phải là một tình yêu có được bằng những nỗ lực riêng, nhưng là một tình yêu được Thiên Chúa tuôn đổ vào lòng chúng ta một cách cho không. Không còn là văn tự nữa, nhưng là Thần Khí.

Đức Giêsu không chỉ ban điều răn mới bằng cách nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau” (Ga 13,34). Vào ngày lễ Ngũ Tuần, Ngài đã dùng Thần Khí ghi dấu tình yêu này vào lòng các môn đệ, và khi đó điều răn này trở thành luật mới, luật của Thần Khí ban sự sống. Điều răn này mới trong hai khía cạnh: trong cách nó được phát biểu và làm cho nên mới; không chỉ theo nghĩa thụ động, nhưng còn theo nghĩa năng động. Thánh Augustinô kêu lên: “Chính tình yêu này đã đổi mới chúng ta, để chúng ta trở thành những con người mới, những người thừa kế Tân Ước, những ca viên của bài ca mới. Tình yêu đó đổi mới các dân ngoại, và từ toàn thể nhân loại, rải rác trên khắp mặt đất, làm ra và quy tụ một dân mới, thân thể của hiền thê mới của Con Thiên Chúa…”[13]

Người nào đến với Phúc Âm với một não trạng thế tục đều thấy thật kỳ quặc khi người ta biến tình yêu thành một “điều răn”. Tình yêu nào vậy, nếu nó không được tự do nhưng được truyền lệnh? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải biết rằng có hai cách để con người bị thôi thúc làm hoặc không làm điều gì đó: hoặc bằng cách ép buộc hoặc bằng cách lôi cuốn. Luật hoạt động bằng cách ép buộc, bằng cách đe dọa trừng phạt, tình yêu hoạt động bằng cách lôi cuốn. Mọi người đều bị thu hút bởi điều mình thích, mà không phải chịu bất cứ ép buộc nào.

Hiểu theo nghĩa này, tình yêu là một luật, một điều răn: nó tạo ra nơi người Kitô hữu một sự năng động khiến người ấy làm bất cứ điều gì Thiên Chúa muốn, ngay lập tức, không cần nghĩ ngợi, vì từ đây, người ấy làm cho ý muốn của Thiên Chúa thành của mình và yêu tất cả những gì Thiên Chúa yêu. Tình yêu biết ý muốn của Thiên Chúa, trước khi ý muốn ấy được quy tắc hóa thành các luật và quy định thành văn. Tình yêu múc từ Thần Khí thánh ý sống động của Thiên Chúa.

Đó là một luật không thể cưỡng lại, thúc đẩy người ta làm những việc gian khổ nhất mà không luật thành văn nào có thể thực hiện được nếu không có đe dọa trừng phạt. “Người yêu thương, bay, chạy, vui mừng, là con người tự do và không gì có thể giữ chân anh ta lại… Tình yêu thường không có thước đo. Tình yêu không có trọng lượng, không lo mệt mỏi, muốn làm nhiều hơn có thể; nó không lấy lẽ là không thể, vì tin rằng mọi sự đều được phép và mọi sự đều có thể. Và vì vậy, nó có thể làm mọi sự, và làm nhiều việc đem lại mệt mỏi và kiệt sức một cách vô ích cho người không yêu.”[14]

Từ con người cũ đến con người mới : bước vượt qua phải thực hiện

Mô tả về sự hiện hữu mới này do Thần Khí mang lại, hoàn toàn dựa trên tình yêu, khơi dậy niềm khao khát. Đây chính là điều mà lời Chúa muốn có được: gợi lên trong ta niềm khao khát mãnh liệt thuộc về thế giới mới này. Cùng với khao khát, chúng ta cũng có thể hoài nghi và chán nản: ai đó có thể tự hỏi tìm thấy tự do, khả năng yêu thương và vâng lời này ở đâu. Cuộc sống mới này ở nơi nào? Phải chăng nó chỉ là một lý thuyết? Và tại sao một số người cuối cùng đạt tới cuộc sống mới và sự tự do này, trong khi những người khác thì không?

Thánh Phaolô trả lời tất cả những thắc mắc này bằng câu: “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi ích kỷ của con người anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8,13). Từ khóa được nêu rõ: hãm dẹp thân xác. Từ người cũ đến người mới chỉ có một cây cầu và cây cầu này được gọi là hãm dẹp thân xác. Đây là nơi mà vai trò của chúng ta bắt đầu. Thánh Tông Đồ nói với chúng ta ở đầu bản văn là: Thần Khí “ban sự sống”, nhưng nói ở cuối bản văn là: Thần Khí ban nó cho chúng ta “qua sự hãm dẹp thân xác”. Phép rửa đã làm cho chúng ta trở thành những con người mới; nhưng để tồn tại lâu dài, sự mới mẻ này cũng phải được đổi mới từng ngày (x. 2Cr 4,16). Origen viết: “Đừng nghĩ rằng chỉ cần đổi mới một lần là đủ. Ngày qua ngày, phải đổi mới chính sự mới mẻ (ipsa novitas innovanda est)”[15]. Điều kiện sống sự đổi mới liên tục này là hãm dẹp thân xác con người cũ.

Như vậy, Thần Khí ban sự sống, nhưng ban sự sống qua sự chết. Giống như đối với Đức Giêsu! Ngài “bị giết chết theo xác thịt” và vì đó Thiên Chúa đã làm cho Ngài “được sống theo Thần Khí” (x. 1Pr 3,18). Con người mới thực sự là Đức Giêsu; chúng ta chỉ có thể trở thành những con người mới bằng cách “trở nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người” (x. Pl 3,10). “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người” (2Tm 2,11).

Khi nói về sự sống mới trong Thần Khí, chúng ta luôn có nguy cơ diễn giải nó theo cách của con người, như một cách đáp ứng với nhu cầu sống theo tự nhiên và theo bản năng của chúng ta, như một làn sóng yêu sự sống xâm chiếm chúng ta cả thân xác lẫn linh hồn. Đời sống mới là một cái gì đó hoàn toàn khác và triệt để hơn; đó là một đời sống mới, một đời sống bắt đầu lại, nhưng sau một cái chết. Giống như một người lữ hành có thể đi vào một con đường “mới” theo hai cách: hoặc vì con đường mà anh ta đang đi đã được làm lại, trải nhựa, thẳng tắp, hoặc nó đến một khúc cua và rẽ vào một con đường khác. Đời sống trong Thần Khí là mới theo khía cạnh thứ hai này.

Chúng ta hãy tập nhìn bằng một cách khác khía cạnh hãm dẹp thân xác rất đáng sợ này. Đức Giêsu nói: “Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn” (Ga 15,1-2). Hãm dẹp thân xác giống như cắt tỉa. Khi rửa tội, một mầm sống mới đã được cấy vào trong chúng ta. Chúng ta hãy quan sát những gì xảy ra trong nông nghiệp, khi người ta ghép cây. Trong một thời gian, người ta để một phần cây được sống, để cả cây cũ lẫn cây mới không chết, nhưng ngay khi cành ghép đã bén rễ và bắt đầu có những chồi đầu tiên, người nông dân cắt tỉa từng cành một của cây cũ, là những cành hút hết sinh lực của cây và chỉ cho những trái dại trước đó.

Nơi chúng ta cũng vậy, sau phép rửa, cây cũ tượng trưng cho con người cũ của chúng ta vẫn còn. Cành cây là những đam mê của nó và trái dại là những việc làm của xác thịt. Trong một đoạn văn khác, thánh Tông Đồ kể ra cho chúng ta một danh sách các loại hoa trái của thịt: “Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tuông, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy” (x. Gl 5,19-21).

Sự thánh thiện, giống như tác phẩm điêu khắc, có được “bằng thuật loại bỏ”, có nghĩa là bằng cách loại bỏ những phần vô dụng. Người ta kể chuyện một hôm Michelangelo, khi đang đi dạo trong sân ở Firenze, đã nhìn thấy một khối đá cẩm thạch thô ráp đầy bụi và bùn. Ông dừng lại để nhìn, rồi như thể được một tia sáng bất ngờ rọi chiếu, ông nói: “Trong khối đá cẩm thạch này ẩn chứa một thiên thần: Tôi muốn đưa thiên thần đó ra ngoài!” Và ông bắt đầu đục đẽo để tạo hình dạng cho thiên thần mà ông đã nhận thấy.

Đối với chúng ta cũng vậy. Chúng ta còn là những khối đá thô. Thiên Chúa Cha nhìn chúng ta và nói: “Trong khối đá này có ẩn chứa hình ảnh của Con Ta; Ta muốn đưa nó ra, để nó sáng mãi bên cạnh Ta trên trời!” Nếu chúng ta nghe thấy tiếng đục và thấy các mảnh rơi xuống đất, thì đừng lầm! Chúng ta không còn phải nói: “Tôi đã làm gì sai? Tại sao Chúa lại trừng phạt tôi như thế này?” Nhưng: “Chính Thiên Chúa yêu tôi và muốn hình thành trong tôi hình ảnh Đức Giêsu của Ngài.” Thập giá chính là cái đục mà Thiên Chúa dùng để tạo nên những người được Ngài tuyển chọn. Mãi mãi là như thế.

Những người quảng đại nhất không chỉ chấp nhận những cú đục từ bên ngoài, mà còn cộng tác, khi có thể, bằng những việc hãm mình nhỏ hay lớn, và bằng cách từ bỏ ý riêng. “Vậy, nếu muốn được hoàn toàn tự do và giải phóng, chúng ta hãy tập từ bỏ ý riêng, và như vậy, khi được Thiên Chúa giúp đỡ mà dần dần tiến bộ, chúng ta sẽ đi đến chỗ không còn dính bén […]. Thế mà, trong một thời gian ngắn, có thể từ bỏ nhiều ý riêng. Đây là một cách: Một người anh em đang đi dạo chơi, nhìn thấy một cái gì đó, ý nghĩ bảo anh ta: “Nhìn kìa”, nhưng có tiếng trả lời: “Không, tôi không nhìn.” Anh ta từ bỏ ý riêng và không nhìn.”[16] Vị Giáo Phụ này lấy ví dụ từ cuộc sống đan viện dễ dàng thích nghi với cuộc sống của chúng ta. Có một chương trình không lành mạnh trên truyền hình, một quảng cáo khêu gợi trên tường, cầm trong tay một tạp chí khiêu dâm: con người cũ nói: “Nhìn đi!” và đồng thời sẽ viện dẫn hàng trăm cớ để làm như vậy. Nhưng bạn, bạn trả lời: “Không!” và bạn từ bỏ ý riêng. Có một cuộc tranh luận vô ích giữa bạn bè; người ta đang nói xấu ai đó: con người cũ nói với bạn: “Nói đi; nói những gì ngươi biết.” Nhưng bạn, bạn trả lời: “Không!” Và bạn hãm dẹp thân xác con người cũ. Bạn đi ngang qua một người mà bạn không ưa hoặc không ưa bạn và bạn không thấy thiện cảm; sự kiêu căng của bạn nói với bạn: “Tránh xa ra, đừng nói chuyện với anh ta!” Nhưng bạn lại mỉm cười với anh, chào hỏi anh, và như vậy bạn làm chủ mình bằng cách phá vỡ sự kiêu căng của mình. Bạn gặp một người nghèo, hoặc một người lạ, biết anh ta sẽ xin điều gì đó; bạn có lẽ muốn đi thẳng hoặc thay đổi lối đi, nhưng bạn đi về phía anh ta vì tình yêu của Đức Giêsu; bạn đã làm cho con người mới giành chiến thắng.

Ngày nay, có những trận chiến lớn phải thắng: trong cuộc chiến chống ma túy, nạn đói, bất công, ô nhiễm, chiến tranh… Đức Giêsu chỉ ra một trận chiến không giống như tất cả những trận chiến khác, mà nếu không có trận chiến đó thì tất cả những trận chiến khác chỉ là những biện pháp tạm thời: chiến tranh chống lại “cái tôi” của chúng ta, chống lại con người cũ. Chiến tranh chống lại chính chúng ta.

Khi chịu phép rửa tội và thêm sức (sau đó vào lúc tuôn đổ Chúa Thánh Thần, Đấng đã đổi mới các bí tích này cho nhiều người trong chúng ta), chúng ta đã là những người lính được thánh hiến của Đức Giêsu Kitô. Nhưng không được lẫn lộn. Trước hết chính vì cuộc chiến này mà chúng ta trở thành những người lính: “Anh em hãy đồng lao cộng khổ như một người lính giỏi của Đức Kitô Giêsu” (2Tm 2,3).

Trong cuộc Canh tân đặc sủng, chúng ta phải làm cho người ta không nghi ngờ về sự “hãm mình”, một sự nghi ngờ xung quanh nó. Ngày nay, người ta biện minh và thậm chí đề cao việc làm thỏa mãn những bản năng hoặc, như người ta nói, những thúc đẩy tự nhiên, khi coi đó là sự tự thực hiện (autoréalisation) của con người. Như thể, trong lãnh vực này, phải khuyến khích con người, chứ bản chất hư hỏng và ích kỷ là không đủ! Sự hãm mình là vô ích và trở thành một “việc làm của xác thịt”, nếu được thực hiện cho chính nó, không có tự do, hoặc tệ hơn, nếu nó được thực hiện để biện minh cho mình trước mặt Thiên Chúa hoặc để khoe khoang trước mặt người ta. Thật không may, chính như thế mà nhiều Kitô hữu đã hiểu về sự hãm mình và, khi đã hưởng sự tự do của Thần Khí, họ sợ lại rơi vào tình trạng đó. Nhưng như lời Chúa đã chỉ rõ cho chúng ta, chúng ta có thể thấy sự hãm mình theo một cách thức thiêng liêng và đặc sủng, vì nó từ Thần Khí mà đến: “Nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em sẽ được sống” (Rm 8,13). Sự hãm mình này là hoa quả của Thần Khí và nó dành cho sự sống.

Thánh Phanxicô Assisi đã dung hòa những con người thời ngài với sự nghèo khó mà ai nấy đều ghê sợ, lấy tình yêu mà giới thiệu nó như một bà lớn, như “Bà Chúa Nghèo”. Tôi cũng muốn làm điều tương tự đối với sự hãm mình: giới thiệu nó như một hiền thê của Thần Khí, như người kết hiệp với Thần Khí để ban sự sống cho chúng ta. Như “Bà Chúa Hãm Mình”.

Sự hãm mình bảo vệ tình yêu. Kierkegaard viết: “Nếu một người nói một cách thực sự và chân thành: ‘Thiên Chúa là tình yêu’, thì vì lý do đó, anh ta chỉ có một ước muốn duy nhất: ước muốn yêu Thiên Chúa là tình yêu, hết lòng, hết sức. Khi Thiên Chúa thấy một người có ước muốn như vậy, Ngài nói ngay với anh: “Này con yêu dấu của Ta, Ta sẽ đến giúp con, Ta sẽ giúp con hãm mình, vì nếu không, con không thể làm được.” Cũng vậy, nếu một người yêu không thể nói ngôn ngữ của người mình yêu, thì một trong hai người phải học ngôn ngữ của người kia, dù điều đó có khó khăn, nếu không, mối quan hệ của họ sẽ không thể trở thành một mối quan hệ hạnh phúc, họ sẽ không bao giờ có thể nói chuyện với nhau. Vì yêu Thiên Chúa mà hãm mình thì cũng vậy. Thiên Chúa là Thần Khí; chỉ người nào hãm mình mới có thể, một cách nào đó, nói ngôn ngữ của Ngài. Nếu bạn không muốn hãm mình, khi đó bạn không thể yêu Thiên Chúa; quả thực, bất cứ sự gì bạn nói đều khác với Ngài”[17].

Hãy mang lấy ách của tôi

Giờ đây tôi muốn nghe tiếng gọi bắt nguồn từ tất cả những gì chúng ta đã nghe. Chính Đức Giêsu đưa ra lời kêu gọi này: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi” (Mt 11,29). Hình ảnh cái ách thường được sử dụng trong Kinh Thánh để chỉ lề luật. Ngay cả luật mới của Đức Giêsu, luật của Thần Khí, cũng là cái ách, là lễ hy sinh cho loài người sa ngã, là thứ “đè nặng” lên con người cũ, vì nó đòi hãm mình, chối bỏ mình. Nhưng đó là một cái ách “êm ái”, một cái gánh “nhẹ nhàng”. Điều gì làm cho ách này trở nên êm ái, đáng yêu và đáng mơ ước? Điều gì đã luôn khiến các thánh và những tâm hồn quảng đại chấp nhận ách hãm mình, thậm chí muốn nó, đến độ không thể sống mà thiếu nó? Chính vì ách này là ách của tình yêu, ách kết hợp với người yêu. Trong một tác phẩm vào thế kỷ thứ hai sau Đức Giêsu Kitô, được viết theo cùng một phong cách như các Thánh vịnh, người ta có thể đọc những lời kỳ diệu này được đặt vào miệng Đức Giêsu Kitô: “Ta đặt trên họ ách tình yêu của Ta, như cánh tay người chồng trên người vợ, ách của Ta trên những người biết Ta”[18]

Đúng vậy, sự hãm mình là cái ách kết hợp chúng ta với Thiên Chúa. Trước hết, Đức Giêsu đã đặt mình dưới ách thập giá, và ngay cả khi đã sống lại, Ngài vẫn ở đó để chờ đợi người muốn ở bên cạnh Ngài, để mang phần bên kia của ách; chờ đợi người chấp nhận cánh tay của phu quân đặt trên vai mình.

Sự hãm mình giúp chúng ta kết hợp với Đức Giêsu và với nhau; nhờ đó chúng ta có thể hiệp nhất với anh em mình. Chúng ta sẵn sàng chịu mất đi bằng nào, thì chúng ta cho đi bằng ấy; để chiều theo sở thích của người lân cận, chúng ta phải từ bỏ việc lúc nào cũng muốn chiều theo sở thích của mình (x. Rm 15,1-2). Vậy, “cái tôi” của chúng ta càng chết đi, thì sự hiệp nhất càng được thực hiện trong các nhóm của chúng ta, trong các giáo xứ của chúng ta, trong Giáo Hội.

Sự hãm mình làm cho vợ chồng trong hôn nhân kết hợp với nhau. Nó gạt bỏ tính ích kỷ và sự tự khẳng định mình vốn là kẻ thù chính. Trong hôn nhân, sự hãm mình bảo vệ tình yêu. Nó dạy chúng ta giữ miệng lưỡi khỏi nói điều xấu, chỉ nói những lời tốt đẹp, xây dựng cho nhau (x. Ep 4,29).

Vợ chồng là “phối ngẫu” hay “liên hợp”, nghĩa là “kết hợp với nhau dưới cùng một ách”. Nếu ách đó là ách của xác thịt, của vui khoái, hay chỉ là ách của bổn phận, nó sẽ nhanh chóng trở nên nặng nề và không thể chịu đựng. Đức Giêsu ban cho những vợ chồng Kitô hữu sống theo Thần Khí khả năng trở thành “phối ngẫu” theo một nghĩa hoàn toàn khác: phối ngẫu, vì mang cùng một ách, ách của Đức Giêsu Kitô, ách tình yêu của Ngài. Ngài lặp lại với họ cách rất đặc biệt: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,29).

Bạn sẽ tìm được sự an ủi. Đây là lý do tại sao thánh Phaolô mời gọi những người kết hôn hãy làm như vậy “trong Chúa” (1Cr 7,39). Kết hôn trong Chúa là đặt hôn nhân của mình dưới quyền làm chúa của Đức Giêsu Kitô, là quyết định cho một cam kết thuộc về vĩnh cửu. Nếu một người nào đó kết hôn mà chỉ tin tưởng vào tình cảm hoặc vào nhiệt huyết của tình yêu ở “tình trạng non trẻ”, nếu tình yêu cạn kiệt, người đó sẽ thấy mình đơn độc với nghĩa vụ phải yêu mãi mãi, và chỉ nghĩa vụ mà thôi sẽ không đủ để chịu đựng nổi. Ngược lại, nếu bạn đã sống dưới sự che chở của ân sủng, nếu bạn đã xây dựng trên đá tảng không thay đổi, thì bạn sẽ luôn có thể trở lại…; mỗi khi bạn đào bới, bạn sẽ tìm thấy những nền tảng của sự hiệp nhất. Lời của tiên tri Dacaria cũng nói với những người kết hôn: “Không phải nhờ quyền năng hay sức mạnh, nhưng nhờ Thần Khí của Ta - Chúa các đạo binh phán” (Dcr 4,6).

Đổi mới thừa tác vụ cũng vậy. Thánh Phaolô nói về một sự phục vụ Thần Khí (diakonà pneumatos), là sự phục vụ của các thừa tác viên của Tân Ước (x. 2Cr 3,8). Việc phục vụ này được thực hiện cụ thể qua chức tư tế và đời sống thánh hiến. Và Giáo Hội không ngừng kêu gọi: “Mùa màng bội thu, mà thợ gặt thì ít, ngày càng ít”.

Thiên Chúa đang kêu gọi ngày hôm nay qua Giáo Hội; Giáo Hội là tiếng nói của Chúa. “Ngày hôm nay nếu anh em nghe tiếng Chúa, thì đừng cứng lòng.” Các bạn, những người trẻ, các bạn cứu cuộc sống của mình bằng cách đánh mất nó. Đừng chán nản vì sự tầm thường của chúng ta; các bạn có thể là - và các bạn sẽ là - những linh mục tốt hơn chúng tôi: những linh mục mới của một Giáo Hội mới.

Hai ơn gọi - hôn nhân và đời sống thánh hiến - phát xuất từ cùng một thần trí; cả hai đều là một đặc sủng (x. 1Cr 7,7). Như bất cứ đặc sủng nào, mỗi đặc sủng đều “vì lợi ích chung”. Trong dân Thiên Chúa, một sự hiệp nhất mới đang được khai sinh, một sự bổ sung cho nhau giữa các cặp vợ chồng và những người độc thân được thánh hiến, để xây dựng lẫn nhau. Những người kết hôn là một dấu chỉ và một ân huệ cho các linh mục và tu sĩ, và các linh mục cũng như tu sĩ là dấu chỉ và ân huệ cho các cặp vợ chồng. Chúng ta cần nhau.

Có những quốc gia và nền văn hóa trong thế giới không phải Kitô giáo (nhưng cũng không may là trong thế giới Kitô giáo) nơi mà mối quan hệ giữa linh mục và dân chúng dựa trên sự phân chia giữa thiêng và tục: linh mục cầu nguyện, thực hiện các nghi lễ và hy sinh cho dân, chuyển đạt cho họ những gì của Thiên Chúa; còn dân thì có trách nhiệm lo cho linh mục và cung cấp cho ngài những gì của thế gian. Tôi nhận thấy điều này gần đây, trong một chuyến đi đến Đông phương, và tôi đã rất xúc động về nó. Tất cả việc tôn giáo của người dân trong làng quy về việc đổ đầy bát của nhà sư vào buổi sáng, người sau đó cầu nguyện và thiền định cho họ.

Đó không phải là mối quan hệ được thiết lập giữa chúng ta. Nói như Công đồng Vaticanô II: “Giáo dân thánh hóa dân Chúa”[19]. Thần Khí đặt chúng ta vào một mối tương quan hoàn toàn khác. Tất nhiên, giáo dân đôi khi góp phần vào việc nuôi dưỡng hàng giáo phẩm, vì Nhà Nước ngày càng ít hỗ trợ các ngài, nhưng sự đóng góp của họ cho Nước Trời và cho các linh mục chắc chắn không dừng lại ở đó. Chúa ngày càng kêu gọi các tín hữu cầu nguyện.

Chức tư tế vương giả hoặc phổ quát của tín hữu tìm ra một cách mới tự thể hiện và góp phần vào việc thánh hóa chức tư tế thừa tác. Chẳng hạn, có những tín hữu thuần túy ngày nay sống đời sống đan sĩ, vốn dành cho các đan sĩ nam nữ cho đến nay. Trong cuộc Canh tân Đặc sủng, thực tế này đang lan rộng, đó là một lời kêu gọi mà Thiên Chúa gửi đến cho nhiều người. Qua lời cầu nguyện, họ hỗ trợ cho việc loan báo Lời, gia tăng hiệu năng và hoa quả của Lời ấy. Chẳng hạn như tôi, lúc này, tôi được hỗ trợ nhờ lời cầu nguyện và sự đau khổ của nhiều người.

Để kết thúc, chúng ta hãy lắng nghe những lời sôi nổi của thánh Augustinô là bài bình giải hay nhất về chủ đề của chúng ta: “Hỡi anh em, hỡi con cái, hỡi những mầm Kitô giáo, những cây thánh thiện tuyệt vời, anh em là những người được tái sinh trong Đức Kitô và được sinh ra trên trời, hãy nghe tôi, hay đúng hơn, hãy nghe qua tôi: “Hãy hát lên mừng Chúa một bài ca mới!” (Tv 149,1).

“Hãy loại bỏ những vết nhơ cũ. Anh em biết bài ca mới này. Con người mới, giao ước mới, bài ca mới. Để biết cách hát nó, cần có những con người mới, được ân sủng đổi mới, được kéo ra khỏi những vết nhơ cũ, đã thuộc về giao ước mới, là giao ước mở cửa nước Trời […]. Hãy để con người mới hát bài ca này, không phải bằng môi miệng nhưng bằng cả cuộc đời […]. Hãy thỏa mãn với niềm hân hoan. Hát hay trước mặt Thiên Chúa chính là hân hoan. Nhưng đó là gì vậy? Đó là từ bỏ sự hiểu biết, từ bỏ việc nói thành lời những gì hát trong tim. Anh em hãy xem những người hát, những người thu hoạch, những người hái nho hay những người khác, niềm vui của họ sáng lên trước tiên nơi những lời của bài hát, nhưng sớm tràn ngập họ, và các lời ca sẽ không thể mở rộng nó nữa, khi đó bài hát bỏ lại từ ngữ và âm tiết, tất cả những gì nghe được là niềm hân hoan. Đó là nhạc không lời vì con tim muốn đưa ra ánh sáng điều không thể nói ra.

“Điều đó thích hợp với ai hơn là với Thiên Chúa khôn tả? Khôn tả: bạn không thể nói Ngài là gì. Bạn không thể nói Ngài là gì, và bạn cũng không thể im lặng. Vậy bạn có thể làm gì nếu không phải là hân hoan? Hãy mở rộng trái tim cho một niềm vui sẽ không còn phải tìm kiếm từ ngữ, mở rộng niềm vui vượt xa giới hạn các âm tiết. Hãy hát mừng Ngài một bài ca tuyệt đẹp bằng niềm hân hoan của bạn.”[20]


5. NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC THÁNH HIẾN

Trong những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, tuần sau lễ Phục sinh là giai đoạn mà giám mục dạy nhiệm huấn (catéchèse mystagogique), gọi như vậy vì nó giúp đưa người ta đến chỗ hiểu biết các mầu nhiệm.

Các người tân tòng, được rửa tội trong đêm Phục Sinh, trong suốt bảy ngày, mặc áo trắng, trở lại dưới chân giám mục, người đã lần đầu tiên giúp họ hiểu biết ý nghĩa sâu xa của các nghi thức và các mầu nhiệm mà họ mới lãnh nhận. Cứ như thể họ bước vào căn phòng kho báu của Giáo Hội. Do “luật bảo mật”, những nghi thức thánh nhất của đức tin, vào thời đó, được giấu kín không cho người dự tòng biết, cho đến khi có lời huấn dụ trọng thể của giám mục. Đó là lúc được chờ đợi từ lâu và không thể nào quên. Tertullianô nói về điều đó trong một bản chép tay, trong đó ông cho biết những người từ ngoại giáo trở lại đã “kinh ngạc trước ánh sáng của sự thật”[21]. Có lẽ, chính trong một hoàn cảnh thuộc loại này mà những lời sau đây được công bố, những lời chúng ta đọc thấy trong thư đầu tiên của thánh Phêrô, có thể được viết ra như một nhiệm huấn cho các người tân tòng: “Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưởng ơn cứu độ” (1Pr 2,2).

Một trong những mầu nhiệm được giải thích cho các người tân tòng trong tuần lễ đó là mầu nhiệm xức dầu, bí tích thêm sức hiện nay, vào thời kỳ đó được thực hiện ngay sau phép rửa, giữa các nghi thức khai tâm Kitô giáo. Vào ngày thứ sáu của tuần bát nhật Phục Sinh, chúng ta thấy trong Phụng vụ các Giờ Kinh một đoạn trích trong các bài nhiệm huấn của thánh Cyrillô, giám mục Giêrusalem, trong đó ngài giải thích nghi thức và bí tích xức dầu hoặc thánh hiến. “Được thanh tẩy trong Đức Kitô và mặc lấy Đức Kitô, anh em đã trở nên đồng hình đồng dạng với Con Thiên Chúa […]. Vậy từ nay, là những người dự phần vào Đức Kitô, anh em được gọi chính xác là “những kitô” (những người được xức dầu) và chính về anh em mà Thiên Chúa nói: “Đừng chạm vào những kitô của ta”. Vậy là anh em đã trở thành những kitô, nhờ lãnh nhận dấu ấn Chúa Thánh Thần […].

“Về phần Đức Giêsu Kitô, khi Ngài được dìm trong sông Giođan và cho nước được tiếp xúc với thần tính của Ngài, Ngài đã lên khỏi nước và Chúa Thánh Thần xuống trên Ngài […] và về phần chúng ta, một cách tương tự, một khi lên khỏi hồ nước thánh, thì đó là xức dầu thánh, hình ảnh chính xác của hình ảnh Đức Kitô đã được xức dầu thánh: tôi muốn nói là Chúa Thánh Thần […]. Thân xác được xức dầu thánh bằng hương thơm hữu hình này, nhưng linh hồn được thánh hóa nhờ Chúa Thánh Thần làm cho sống.”[22]

Còn chúng ta, chúng ta đã không bao giờ có bài nhiệm huấn của chúng ta, nghĩa là một dẫn nhập sâu sắc vào các mầu nhiệm đức tin. Giờ đây chúng ta có nó! Sự canh tân trong Thần Khí thực sự là nơi giới thiệu cho mọi người những thực tại đức tin sâu sắc nhất và sống động nhất. Vào lúc này, chúng ta là những đứa trẻ sơ sinh khao khát dòng sữa tinh tuyền của Chúa Thánh Thần.

“Ngươi là một dân được thánh hiến cho Chúa”

Các thực tại lớn của Kitô giáo giáo đã được tiên trưng trong Cựu Ước, nghĩa là đã được loan báo trước và chuẩn bị bằng các biểu tượng và lời tiên tri. Lễ Vượt Qua Kitô giáo được tiên trưng bằng hy tế chiên vượt qua, phép rửa bằng phép cắt bì, Thánh Thể bằng manna, v.v. và cứ như vậy. Cũng thế là việc thánh hiến. Đó là hành vi mà một đối tượng, hoặc một người, hoặc cả một dân, được chọn, tách khỏi tất cả những thứ còn lại và được dành cách đặc biệt để thờ phượng và phụng sự Thiên Chúa, có quan hệ đặc biệt với Ngài, so với các dân khác, hoặc với những hạng người khác thuộc về dân này. Đó là hành vi mà nhờ đó họ “trở nên thánh” và làm nên một “bậc”, bậc của những người được thánh hiến.

Với tư cách là một dân, Israel được thánh hiến cho Chúa, và vì thế không giống như tất cả các dân khác. Môsê nói: “Anh em là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em. Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người. Đức Chúa đã đem lòng quyến luyến và chọn anh em, không phải vì anh em đông hơn mọi dân, thật ra anh em là dân nhỏ nhất trong các dân” (Đnl 7,6-7). Đức Chúa phán: “Vậy giờ đây, nếu các ngươi thật sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta, vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh” (Xh 19,5-6).

Trong dân được thánh hiến này, một số người được thánh hiến cách rất đặc biệt. Nghi thức thánh hiến bao gồm xức dầu thơm. Để hiểu cử chỉ này, phải nhớ rằng, đối với người xưa, dầu là một yếu tố quý giá được săn lùng. Một Thánh vịnh nói dầu “làm gương mặt sáng tươi”, cùng với rượu làm phấn khởi lòng người và bánh làm no lòng chắc dạ (x. Tv 104,15). Chúng ta đừng ngạc nhiên khi thấy yếu tố này được đưa vào thế giới tôn giáo, để chỉ phẩm giá và vẻ đẹp nhờ tiếp xúc với Thiên Chúa, và để tượng trưng cho Chúa Thánh Thần.

Ba hạng người được xức dầu: vua, tư tế và tiên tri. Chẳng hạn, chúng ta biết Samuel đã xức dầu thơm cho vua Saun, sau đó là Đavít, bằng cách đổ một sừng dầu thơm lên đầu họ (x. 1Sm 10,1; 16,13). Trong sách Xuất hành, chúng ta thấy mô tả việc xức dầu Aarôn, với chi tiết về tất cả các loại hương liệu cần thiết cho thành phần của dầu (x. Xh 30,22tt). Êlia đã xức dầu cho Êlisê làm tiên tri thay ông (x, 1V 19,16); tiên tri Isaia nói về Thần Khí của Chúa, Đấng đã xức dầu cho ông để đem tin mừng cho người nghèo khó (x. Is 61,1tt) và Giêrêmia nói mình đã được thánh hiến làm tiên tri ngay từ trong lòng mẹ (x. Gr 1,5).

Từ Cựu Ước sang Tân Ước, chúng ta thấy có lời quả quyết long trọng rằng Giáo Hội là dân thánh mới và vương quốc mới các tư tế: “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người” (1Pr 2,9). Tất cả những người được rửa tội đã được xức dầu và được thánh hiến. Thánh Phaolô viết: “Đấng củng cố chúng tôi cùng với anh em trong Đức Kitô và đã xức dầu cho chúng ta, Đấng ấy là Thiên Chúa. Chính Người cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2Cr 1,21-22). Về phần mình, Gioan viết: “Phần anh em, anh em nhận được dầu, do tự Đấng Thánh” (1Ga 2,10). Mọi Kitô hữu đã được thánh hiến, hay được thánh hóa, nghĩa là đã được tuyên bố và trở nên thánh để phụng sự Thiên Chúa: “Anh em đã được tẩy rửa, được thánh hóa” (1Cr 6,11).

Đức Kitô, Đấng được thánh hiến

Nhưng tại sao chúng ta lại nói các Kitô hữu đã được thánh hiến? Họ đã nhận được loại xức dầu nào? Để thấy được điều này, chúng ta phải bắt đầu từ Đức Giêsu, Đấng đầu tiên được thánh hiến, Đấng mà tất cả những thánh hiến trong giao ước cũ hướng tới. Chính tên của Đấng Mêsia, Đấng Kitô, có nghĩa là Đấng được xức dầu, được thánh hiến. Chính nơi Ngài mà bước vượt qua từ văn tự đến Thần Khí, từ hình bóng đến thực tại, từ bên ngoài và thời gian đến bên trong và vĩnh cửu. Đức Giêsu coi những lời của tiên tri Isaia là của mình và tuyên bố: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi” (Lc 4,18).

Thời điểm Đức Giêsu gợi lên là lúc Ngài chịu phép rửa ở sông Giođan, khi “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người” (Cv 10,38).

Tertullianô giải thích tên Kitô có từ sự xức dầu này: “Kitô vì được Chúa Cha xức dầu cùng với Chúa Thánh Thần”.[23] Đó là một hành động mà cả Ba Ngôi cùng góp phần: “Trong danh xưng “Kitô”, có hiểu ngầm Đấng đã xức dầu, Đấng đã được xức dầu, và sự xức dầu mà nhờ đó Ngài đã được xức dầu: Đấng đã xức dầu là Chúa Cha, Đấng đã được xức dầu là Chúa Con, và Ngài đã được xức dầu trong Thần Khí, là sự xức dầu.”[24] Chúa Cha thánh hiến, Đức Giêsu được thánh hiến và Chúa Thánh Thần là sự thánh hiến. Chúng ta thấy rõ vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc thánh hiến: Người là dầu hoan lạc mà “người đẹp nhất trong số con cái loài người” đã được xức bằng dầu ấy (x. Tv 45,8).

Nhưng điều này có thể có nghĩa gì và tại sao Đức Giêsu chỉ được xức dầu tại sông Giôđan? Chắc chắn Đức Giêsu đã được đầy Thánh Thần ngay từ khi sinh ra. Đúng vậy, nhưng điều đó tùy thuộc vào ân sủng cá nhân, không thể chuyển đạt, gắn liền với sự ngôi hiệp giữa Lời và xác thịt Đấng Cứu Thế. Khi chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng được xức dầu hoặc thánh hiến với tư cách là Đầu của nhiệm thể, vì sứ mệnh mà Ngài phải chu toàn; Ngài lãnh nhận xức dầu mà Ngài phải truyền đạt cho thân thể mình là Giáo Hội. Ngài được xức dầu làm Đấng Mêsia, Ngài lãnh nhận một loại phong ban chính thức. Chúng ta hãy nghe chân lý sâu sắc này từ những thầy dạy đức tin lâu đời nhất, là các Giáo Phụ, để được nuôi dưỡng một cách vững chắc. Thánh Ignatiô Antiokia viết: “Nếu Chúa được xức dầu trên đầu, thì đó là để đổ tràn trên Giáo Hội của Ngài một hơi thở của sự bất hoại”.[25] Thánh Irênê xác định rõ: “Quả thật, chính Thần Khí của Thiên Chúa đã ngự xuống trên Đức Giêsu và xức dầu cho Ngài, để khi nhận được từ sự dồi dào của việc Xức dầu này, chúng ta được cứu rỗi”.[26] Một vị đại tiến sĩ khác, thánh Athanasiô, cũng bày tỏ sự xác tín tương tự khi nói: “Việc Chúa Thánh Thần xuống trên Đức Giêsu ở sông Giôđan […] là để thánh hóa chúng ta, để chúng ta có thể tham dự vào việc xức dầu này và để người ta có thể nói về chúng ta: “Anh em không biết anh em là đền thờ của Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần ngự trong anh em sao?”[27]

Nhưng nếu việc xức dầu của Đức Giêsu Kitô là dành cho chúng ta, thì chúng ta phải trả lời câu hỏi này: Tại sao việc xức dầu không được chuyển đạt tức khắc cho chúng ta? Tại sao lại có khoảng thời gian dài như vậy giữa thời điểm Đức Giêsu lãnh nhận Thần Khí tại sông Giođan và thời điểm lễ Vượt Qua và lễ Ngũ tuần, Ngài mới đổ Thần Khí trên các môn đệ? Thánh Irênê cho biết Thần Khí phải “quen với việc ở giữa con người”, trước hết Ngài phải tìm một nơi nghỉ ngơi. Ngài đã hoàn toàn thu mình trong nhân tính rất tinh tuyền của Đức Kitô, giống như nước hoa trong một bình alêbat, nhưng không thể lan tỏa cho đến khi Đức Kitô được “tôn vinh” (x. Ga 7, 39). Trong cuộc khổ nạn, bình alêbat đã bị vỡ, nghĩa là nhân tính của Đức Giêsu đã bị xé nát, và hương thơm tràn ngập khắp ngôi nhà là Giáo Hội. Thánh Gioan nói: “Ngài đã trao thần khí” (Ga 19,30): hơi thở cuối cùng của Đức Giêsu trở thành hơi thở đầu tiên của Giáo Hội; chính buổi chiều ngày Phục Sinh, Đức Giêsu đã thổi hơi trên các môn đệ và nói: “Anh em hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần” (Ga 20,22).

Giữa chúng ta và Chúa Thánh Thần có ba bức tường ngăn cách: bản tính, tội lỗi và sự chết. Chúa Giêsu đã phá bỏ bức tường đầu tiên, bằng cách kết hợp nơi Ngài bản tính thần linh và bản tính nhân loại, Thần Khí và xác thịt, lúc nhập thể; Ngài đã phá bỏ bức tường thứ hai, tức tội lỗi, bằng cách chết trên thập giá để tha thứ tội lỗi thế gian; Ngài đã phá bỏ bức tường thứ ba, tức sự chết, bằng cách sống lại từ trong kẻ chết. Giờ đây không có gì ngăn cản dầu lan rộng. Dầu thơm từ trên đầu Aarôn, tức là từ trên đầu Vị Thượng Tế mới là Đức Kitô, tràn lan trên khắp thân thể, đến tận cổ áo chầu của Ngài (x. Tv 133,2). Giáo Hội, với tư cách là Giáo Hội, là nơi tuyệt hảo để thực hiện hình ảnh đẹp đẽ mà tác giả Thánh vịnh nói đến, nơi “anh em được sống vui vầy bên nhau”.

Kitô hữu là những người được thánh hiến

Phép rửa là lúc mà mỗi người chúng ta nhận được sự xức dầu thánh hiến này. Nguyên thủy, khi phép rửa được ban cho người lớn, có một nghi thức đặc biệt gọi là xức dầu, nói lên ý nghĩa của bí tích này. Dần dần vì việc rửa tội trẻ sơ sinh, nghi thức này được tách khỏi phép rửa và trở thành một bí tích riêng: bí tích thêm sức, có nghĩa chính xác là xức dầu bằng dầu thánh.

Trong bản văn vừa đề cập, thánh Cyrillô Giêrusalem ám chỉ nghi thức này gắn liền với phép rửa. Cũng như Đức Giêsu đã hoàn toàn trở thành Kitô, nghĩa là được thánh hiến, nhờ việc xức dầu phép rửa của Ngài tại sông Giođan, thì những người tin vào Ngài, trở thành và được gọi là “những kitô”, hoặc những Kitô hữu, bằng việc xức dầu khiến họ tham dự vào việc xức dầu của Đức Giêsu Kitô. Đối với các Giáo Phụ đầu tiên, “Kitô hữu” có nghĩa là “được xức dầu, được thánh hiến”, noi gương Đức Giêsu Kitô, người được thánh hiến tuyệt vời. “Chính vì vậy chúng ta được gọi là Kitô hữu (christianoi), vì được xức dầu (chriometha) bằng dầu của Thiên Chúa”.[28]

Như vậy, chúng ta có nơi mình cùng một Thần Khí đã có nơi Đức Giêsu Nadarét. Chúa Thánh Thần mà chúng ta đã lãnh nhận thực sự là Ngôi Ba trong Ba Ngôi, nhưng do việc nhập thể, Ngài đã trở nên Thần Khí của Chúa Con. “Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em” (Gl 4,6). Cùng một Thần Khí của Chúa Con, chứ không phải Thần Khí nào khác. Chúng ta như được thấm nhiễm bằng dầu của Ngài và do đó chúng ta là “hương thơm của Đức Kitô” (x. 2Cr 2,15).

Thật vui mừng khi nghĩ rằng trong tôi có cùng một Thần Khí đã có trong Đức Giêsu khi Ngài còn sống ở trần gian; rằng Đấng đã từng là “bạn đồng hành không thể tách rời của Ngài” (thánh Basiliô), giờ đây cũng là bạn đồng hành không thể tách rời của tôi, vị khách dịu dàng của linh hồn tôi. Khi chúng ta có một nguồn cảm hứng, thì đó là tiếng của Đức Giêsu nói với chúng ta, Ngài khuyến khích và khuyên nhủ chúng ta qua Thần Khí của Ngài. Trong sâu thẳm con người chúng ta, nhờ sự thánh hiến mà chúng ta đã lãnh nhận, chúng ta được ghi bằng một dấu ấn mầu nhiệm (x. Ep 1,13), được khắc bằng lửa của Chúa Thánh Thần, một dấu ấn vương giả. Nhờ Người mà chúng ta lại là hình ảnh của Thiên Chúa và là hình ảnh của Đức Giêsu Kitô. Người huy hoàng đến độ Catarina Siena, một hôm thị kiến thấy một linh hồn tràn đầy ân sủng Thiên Chúa, kể lại rằng bà sẽ ngay lập tức quỳ gối để tôn thờ linh hồn ấy, vì coi đó là chính Thiên Chúa nếu bà đã không được báo trước đây là một thụ tạo chứ không phải Thiên Chúa.

Vua, tiên tri, tư tế

Nhưng sự thánh hiến không bao giờ là một cứu cánh tự tại. Người ta luôn được thánh hiến cho một điều gì đó, cho một mục đích. Kitô hữu chúng ta được thánh hiến cho điều gì? Điều này chúng ta cũng khám phá ra nơi Đức Giêsu, nguồn mạch và khuôn mẫu cho sự thánh hiến của chúng ta. Đức Giêsu đã kết hợp và hoàn thành ba cuộc thánh hiến: làm vua, làm tiên tri và làm tư tế.

Lúc chịu phép rửa, Đức Giêsu đã được xức dầu trước hết với tư cách là Vua để chống lại Satan và thiết lập Nước Thiên Chúa. Ngài nói: “Nếu tôi dựa vào Thần Khí của Thiên Chúa, thì quả là Triều Đại của Thiên Chúa đã đến với các ông” (Mt 12,28). Trong Cựu Ước, các vua được xức dầu để chống lại những kẻ thù hữu hình: người Cananêa, người Philitinh, người Amorit v.v; trong Tân Ước, Đức Giêsu được xức dầu vương giả để đương đầu với các trận chiến thiêng liêng, chống lại kẻ thù vô hình: tội lỗi, sự chết, Satan, kẻ thống trị đế quốc của tử thần.

Đức Giêsu được xức dầu như một Tiên Tri để đem tin mừng đến cho người nghèo khó. Như chúng ta đã nhắc lại, Đức Giêsu đã áp dụng cho mình việc thánh hiến mà Isaia đã tiên báo: “Thần Khí của Đức Chúa ngự trên tôi, vì Đức Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, sai đi báo tin mừng cho người nghèo hèn” (Is 61,1 và Lc 4,18).

Cuối cùng, Đức Giê-su đã được xức dầu với tư cách là Tư Tế khi nhập thể và khi chịu phép rửa, để dâng mình làm hy tế. Như viết trong thư Do thái, Đức Giêsu “nhờ Thần Khí hằng hữu thúc đẩy, đã tự hiến tế chính mình như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa, thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết.” (Dt 9,14).

Chúng ta cũng vậy, được thánh hiến làm vua, tiên tri và tư tế. Vào lúc được xức dầu bằng dầu thánh, trong cử hành nghi thức rửa tội, Giáo Hội công bố: “Thiên Chúa toàn năng, Cha của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã giải thoát con khỏi tội lỗi và làm cho con được tái sinh bởi nước và Thánh Thần. Giờ đây con thuộc thành phần dân của Người, Người ghi dấu con bằng dầu thánh để con mãi mãi là chi thể của Đức Giêsu Kitô, tư tế, tiên tri và là vua.”

Là vua, các Kitô hữu được xức dầu để chiến đấu chống lại tội lỗi, để “tội lỗi không còn ngự trị trong thân xác hay chết của anh em” (Rm 6,12), và chống lại Satan; họ được xức dầu cho cuộc chiến đấu thiêng liêng (Ep 6,10-20). Họ được thánh hiến làm tiên tri, vì được mời gọi để “loan truyền những kỳ công của Thiên Chúa” (1Pr 2,9), và để rao giảng Phúc Âm. Cuối cùng, họ được thánh hiến làm tư tế để thực thi chức tư tế vương giả của họ.

Đức Giáo Hoàng Lêô Cả đã nói cho các Kitô hữu đương thời về vấn đề này như sau: “Đối với tất cả những ai đã thực sự được tái sinh trong Đức Kitô, dấu Thánh giá làm cho họ trở thành vua, và việc xức dầu Thánh Thần thánh hiến họ làm tư tế. Như vậy, ngoài việc phục vụ riêng biệt của thừa tác vụ của chúng ta, mọi Kitô hữu sống theo Thần Khí và theo lôgic ơn gọi của họ phải nhìn nhận mình đang tham dự vào dòng giống vương giả và chức vụ tư tế. Quả thực có gì vương giả bằng một tâm trí quy phục Thiên Chúa, và biết điều khiển thân thể mình? Và có gì tư tế bằng việc dành cho Thiên Chúa một lương tâm trong sạch và dâng lên bàn thờ trái tim mình những hy lễ vô tì tích của lòng đạo đức? Điều đó đã do ân sủng của Thiên Chúa ban cho anh em, chung với mọi người”.[29]

Chức tư tế phổ quát của các Kitô hữu

Có một chức tư tế phổ quát kết hợp tất cả chúng ta, linh mục và giáo dân. Đó là tư tưởng xác thực nhất của Giáo Hội. Hiến chế Lumen Gentium của Vaticanô II nói: “Những người đã lãnh nhận phép Thánh tẩy, nhờ sự tái sinh và xức dầu của Thánh Thần, được cung hiến để trở thành chỗ ở thiêng liêng và nhận chức tư tế thánh, hầu qua mọi hoạt động của con người Kitô hữu, dâng của lễ thiêng liêng […]. Các môn đệ của Chúa Kitô, trong khi kiên trì cầu nguyện và ca tụng Thiên Chúa, họ phải dâng mình làm của lễ sống động, thánh thiện, đẹp lòng Thiên Chúa” (GH 10).

Theo một nghĩa nào đó, đối với sự thánh hóa cá nhân, chức tư tế phổ quát này quan trọng hơn sự thi hành thừa tác của linh mục. Tương tự như vậy là đối với đức ái và các đặc sủng mà Phaolô nói. Theo thánh Grêgôriô Nadian: “Hiến dâng thân xác Đức Giêsu Kitô có ích gì cho tôi, nếu tôi không hiến dâng chính mình với Đức Giêsu Kitô?”[30] Chức tư tế phổ quát, chính là hiến dâng chính mình với Đức Giêsu Kitô. Đó là “hy tế thiêng liêng” của dân tư tế. Thánh Phaolô viết: “Tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người” (Rm 12,1). Thân mình là tất cả đời sống, đó chính là thuật ngữ được Đức Giêsu sử dụng khi lập phép Thánh Thể.

Tất cả đời sống, chứ không chỉ những khoảnh khắc nhất định. Cả niềm vui lẫn nỗi khổ. Hy tế sống động là cuộc đời của một người làm mẹ dệt bằng những việc rất nhỏ cho con cái và gia đình; Hy tế sống động là ngày của một công nhân Kitô hữu; Hy tế sống động là cuộc đời của một chị em, một linh mục, các tu sĩ, trong Giáo Hội, những người được thánh hiến với một danh hiệu rất đặc biệt; Hy tế sống động là cuộc đời của một thanh niên, một thiếu nữ phải chiến đấu để chống lại những quyến rũ của thế gian; Hy tế sống động là những ngày, thường là cô đơn, của một người cao tuổi. Hy tế, chính là cuộc sống của một bệnh nhân. Người đó có thể xin cho khỏi uống chén, như Đức Giêsu đã xin, và xin cho mình được khỏi bệnh. Nhưng nếu nhờ ân sủng mạnh mẽ của Thiên Chúa, người đó chấp nhận bệnh tật của mình, thì quả là hạnh phúc. Cuộc sống của người đó, bất chấp những gò bó và giới hạn, có thể mang lại hoa trái dồi dào. Mỗi cuộc sống có thể bứt ra khỏi sự tầm thường và phù phiếm, nhờ sự thánh hiến mà chúng ta sống.

Khi cùng với Đức Giêsu hiến dâng mình cho Thiên Chúa, thì ý nghĩa và mục tiêu cuối cùng của đời sống con người được thực hiện. Giống như trong Thánh Thể. Trong Thánh lễ, chúng ta dâng cho Thiên Chúa bánh mà chúng ta đã lãnh nhận do lòng nhân hậu của Ngài. Tất cả chúng ta đều được thánh hiến làm linh mục để hiến dâng đời sống chúng ta cho Thiên Chúa, “bằng cách thiêu hủy đời sống ấy” như một hương thơm ngào ngạt bay lên trước nhan Ngài.

Bằng cách này, thay vì làm một vài hy sinh trong đời, chúng ta biến đời sống mình thành một hy tế. Trong cuốn Gương Chúa Giêsu Kitô (IV, 9), chúng ta bắt gặp lời cầu nguyện tuyệt vời này, một lời kinh làm mới lại việc hiến dâng cho Thiên Chúa đời sống hằng ngày của chúng ta: “Lạy Chúa, mọi sự trên trời dưới đất là của Chúa. Con muốn dâng mình con cho Chúa làm của lễ tự nguyện và thuộc về Chúa luôn mãi. Lạy Chúa, với tâm hồn đơn thành, ngày hôm nay con dâng mình con cho Chúa để phục vụ Chúa luôn mãi, vâng ý Chúa trong hy lễ ca ngợi đời đời. Xin chấp nhận con cùng với của lễ thánh là thân xác quý giá của Chúa.”

Đừng rập theo thói đời này

Không có hy sinh nếu không có cái chết nào đó. Trong Thánh lễ, bài ca dâng lễ dẫn vào việc thánh hiến; tất cả lễ dâng trở nên hoàn hảo trong lễ toàn thiêu, nghĩa là khi lễ vật được sát tế và hy tế. Không thể tưởng tượng được rằng có thể dâng cả thế giới làm hy lễ, nếu chúng ta không chết cho thế gian. Thánh Phaolô tiếp tục lời khuyên hiến dâng thân mình làm của lễ sống động và thánh thiện khi nói: “Anh em đừng có rập theo thói đời này” (Rm 12,2) và ở chỗ khác ngài nói: “Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi và tôi đối với thế gian” (Gl 6,14).

Theo nghĩa nguyên thủy và nền tảng, “được thánh hiến và thánh” trong tiếng Do Thái là qadosh, nghĩa là khác nhau, tách biệt, để qua một bên. Phải khám phá lại ý nghĩa của qadosh. Tiên tri Isaia nói về người sẽ nói “tôi thuộc về Đức Chúa” và người sẽ viết trên tay dấu chỉ “thuộc về Đức Chúa” (44,5). Cũng như sách Khải huyền gợi lên khả thể thích dấu trên tay hoặc trên trán “tên Con Thú” (13,16) dấu thuộc về Satan.

Thế gian thâm nhập vào chúng ta và tấn công chúng ta bằng những sứ điệp của nó hoàn toàn trái ngược với những sứ điệp của lời Chúa. Lời cảnh báo của sách Khải huyền luôn mang tính thời sự: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi thành ấy đi, để khỏi thông đồng với tội lỗi của nó và hứng lấy những tai ương dành cho nó” (Kh 18,4). Thánh Augustinô giải thích rằng Babylon là thành phố đối lập với thành phố của Chúa; đó là thành phố của Satan, thành phố được xây trên sự yêu mình đến độ khinh mạn Thiên Chúa. Chúng ta phải ra khỏi Babylon này, nhưng không ra khỏi xã hội loài người và tình liên đới với anh em. Ngược lại, vì theo định nghĩa, nguyên lý của thế gian là tính vị kỷ, nên không rập theo thói đời này có nghĩa là yêu thương và gần gũi với tất cả mọi người.

Sự tách biệt này với thế gian phải được ghi dấu cụ thể bằng những hố ngăn cách rõ ràng. Chúng ta không thể cho mình là chết cho thế gian và tiếp tục như trước, khi tin vào tất cả những gì thế gian nói, nghĩ và làm; khi chạy theo những lời mời gọi và những phỉnh phờ của nó. Đức Giêsu nói: “Không ai có thể làm tôi hai chủ” (Mt 6,24).

Ngay cả thế gian cũng cần những “tách biệt” này, để không phải chìm vào sự phù phiếm và khô cằn thiêng liêng. Thế gian cần “muối đất”, để không bị hư hoại đè bẹp.

Thánh hiến và trong sạch

Có một khía cạnh của sự tách biệt khỏi thế gian, một trong những khía cạnh cấp bách nhất phải nhắc lại: sự trong sạch. Thánh Phaolô đã viết cho các Kitô hữu ở Corintô: “Anh em chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. Như thế anh em đâu còn thuộc về mình nữa. Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em” (1Cr 6,19tt).

Lý do của sự trong sạch Kitô giáo là ở trong sự thánh hiến. Chúng ta không thuộc về chúng ta nữa, chúng ta thuộc về Chúa; Vì thế chúng ta không còn có thể sử dụng thân xác theo ý muốn của chúng ta, để làm cho mình hài lòng như một mục đích tự tại. Đây là điều xúc phạm đến đền thờ của Thiên Chúa, là một “sự giải thiêng hóa” (désacralisation), hoàn toàn trái ngược với sự thánh hiến. Có biết bao nhiêu xúc phạm, bao nhiêu giải thiêng hóa nơi chúng ta, và trên thế giới hôm nay!

Sự trong sạch Kitô giáo không có nghĩa là từ chối hoặc miệt thị tình yêu, nhưng ngược lại, vun đắp tình yêu. Nhưng phải là tình yêu đích thực. Cái mà thế gian gọi là tình yêu, như chúng ta biết, rất thường chỉ là tính ích kỷ mở rộng. Người ta không sống một tình yêu mà không có hy sinh, không biết từ bỏ; khả năng trao ban theo mức độ khả năng từ bỏ chính mình. Thói dâm dục, tìm kiếm cuồng nhiệt về mình hoặc cho mình, là mồ chôn tình yêu.

Tôi đã mời gọi đặc biệt những người trẻ mà tôi dám ủy thác một lệnh truyền của Đức Giêsu: Hãy sống trong sạch, hãy yêu mến sự trong sạch! Hãy là hương thơm của Đức Giêsu Kitô. Lời Chúa đề nghị với bạn một lý tưởng: “Anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những người con vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà và sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời, là làm sáng tỏ lời ban sự sống” (Pl 2,15).

Bạn có thể làm điều đó; nó không vượt quá sức bạn, vì có lời chép: “Đấng ở trong anh em mạnh hơn kẻ ở trong thế gian” (1Ga 4.4). Bạn không được để cho thế gian làm chủ bạn và nghĩ rằng không thể sống trong sạch. Tôi dám nhận về mình những lời của Tông Đồ Gioan gửi cho những người trẻ của cộng đồng Kitô giáo tiên khởi: “Hỡi các bạn trẻ, tôi đã viết cho anh em: anh em là những người mạnh mẽ; lời Thiên Chúa ở lại trong anh em và anh em đã thắng ác thần” (1Ga 2,14). Ngài nói: “vì anh em mạnh mẽ”, chứ không nói: “để anh em mạnh mẽ”; đây là điều nhận thấy, chứ không phải một mong muốn hoặc ước nguyện đơn thuần.

Một khía cạnh quan trọng của ơn gọi sống trong sạch là e thẹn. Chỉ mình nó mà thôi, sự e thẹn nói lên mầu nhiệm của thân xác ta kết hợp với một linh hồn; nói lên rằng chúng ta không thuộc về mình, rằng có một cái gì đó trong thân xác vượt quá nó. E thẹn là tự trọng và kính trọng người khác. Nơi nào không còn ý thức về sự e thẹn, nơi đó tình dục cũng trở nên tầm thường, hết phản xạ thiêng liêng, chỉ còn là một sản phẩm tiêu dùng. Thế gian chế nhạo sự e thẹn, khiến cho những người trẻ cảm thấy xấu hổ về điều mà lẽ ra họ phải tự hào nhất, tha thiết nhất. Đó là một hành vi hung bạo chống lại những người trẻ.

E thẹn là một chứng từ huy hoàng cho thế gian. Nó là nét trang điểm đẹp nhất của sự trong sạch. Dostoievski viết: “Thế giới sẽ được vẻ đẹp cứu rỗi” nhưng ông cũng nói thêm rằng “trên thế giới chỉ có một hữu thể tuyệt đối xinh đẹp là Đức Kitô”. Sự trong sạch cho phép vẻ đẹp của Đức Giêsu Kitô lộ ra trên khuôn mặt của một thiếu nữ hoặc của một thanh niên Kitô hữu. Sự trong sạch biểu hiện đặc tính “đẹp đẽ” của ơn gọi Kitô giáo. Đây là một vẻ đẹp không hoàn toàn đi đôi với tuổi tác và vì thế không tàn tạ như vẻ đẹp thể xác. Biết bao nhiêu khuôn mặt của nữ tu cao tuổi sống trong nơi kín cổng cao tường đã khiến cho vô số du khách ra về phải kêu lên: “Ôi, khuôn mặt quá đẹp, rạng ngời ánh sáng!”

Chớ gì Thiên Chúa làm mới nơi chúng ta, nhờ Thánh Thần của Ngài, sự thánh hiến nhận được nơi phép rửa tội và được xác nhận nơi phép thêm sức. Chúng ta hãy biến lời cầu nguyện mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa khi làm phép dầu thánh trong Thánh lễ Thứ Năm tuần thánh thành lời cầu nguyện của chúng ta: “Xin cho dầu này thấm vào chúng con và thánh hóa chúng con, để khi được thoát khỏi sự hư hoại và được thánh hiến thành đền thờ của vinh quang Chúa, chúng con làm lan tỏa hương thơm bằng một đời sống thánh thiện.”


6. TẤT CẢ CHÚNG TA ĐÃ ĐƯỢC ĐẦY TRÀN MỘT THẦN KHÍ DUY NHẤT

Nước từ tảng đá

Trong Giáo Hội, sách Xuất hành được dùng để hỗ trợ cho việc dạy giáo lý mẫu, và tạo ra một chìa khóa để đọc theo Kitô học và Giáo Hội học. Như vậy, Phaolô, sau khi đã xem xét các yếu tố chính của cuộc xuất hành - đi qua Biển Đỏ, đám mây, manna, nước từ tảng đá -, kết luận bằng cách nói rằng tất cả những sự kiện này đã xảy ra “để làm bài học (typoi) cho chúng ta” và được chép ra “để răn dạy chúng ta” (1Cr 10,6.11).

Thánh Gioan nhấn mạnh hình bóng Đức Kitô. Trong Phúc Âm thứ tư, Đức Kitô xuất hiện cho chúng ta như Môsê đích thực ban nước hằng sống (Ga 4), ban manna đích thực từ trời (Ga 6) và là Đấng, cuối cùng trên thập giá, là tế vật được tiên trưng bằng chiên vượt qua chịu sát tế ở Ai Cập (Ga 19,36). Thánh Phaolô ưu tiên khai triển cách đọc theo hướng Giáo Hội học, qua lịch sử cuộc xuất hành mà thấy những hình bóng các bí tích của Giáo Hội và tất cả đời sống Kitô giáo. Thư Do thái tập hợp hai cách áp dụng, cho thấy Đức Kitô “vượt trên Môsê” và đối chiếu chặt chẽ giữa hành vi của những người Do Thái được giải thoát khỏi Ai Cập và hành vi của các Kitô hữu được giải thoát khỏi tội lỗi.

Nhưng ngoài giá trị kiểu mẫu song đối này, hình bóng của các thực tại Kitô giáo, cuộc Xuất hành còn có một ý nghĩa hiện sinh và nói với con người trong chiều kích cá nhân nhất của họ. Chính thuật ngữ “xuất hành” còn có những âm hưởng tượng trưng và sử thi được tìm thấy nhiều trong văn chương. Cuộc xuất hành của dân tuyển chọn giống như một biểu tượng và một dụ ngôn về thân phận chúng ta là “những người lữ hành”, “những khách hành hương và khách lạ” trong thế giới này, trên đường đi đến một quê hương khác.

Cuộc xuất hành có một giá trị tôn giáo lớn lao. Nhưng để có thể hiểu được nó, chúng ta phải đồng hóa với dân này là dân đã sống nó, phải ý thức rằng đây là việc của chúng ta, rằng trên bình diện thiêng liêng và hiện sinh, chúng ta là dân bị áp bức đang rên siết và làm cho tiếng kêu than của mình vang tới Thiên Chúa (Xh 3,7) Chúng ta dùng một lời kinh phụng vụ mà xin: “Bị áp bức từ lâu dưới ách tội lỗi, chúng con chờ đợi ơn cứu chuộc chúng tôi.” Một bản văn người Do Thái đọc trong bữa ăn vượt qua cho biết: “Qua mỗi thế hệ, mỗi người phải coi mình như thể chính mình đã ra khỏi Ai cập.”[31] Sự xác tín mà Giáo Hội đã coi là của mình.

Chính trong tinh thần này, chúng ta suy niệm về một trong những biến cố và một hình ảnh của cuộc xuất hành: hình ảnh nước vọt ra từ tảng đá (Xh 17,1-7). Trong sách Xuất hành, có hai thời điểm mà nước đóng một vai trò quan trọng: lúc qua Biển Đỏ và lúc nước vọt ra từ tảng đá. Trong cả hai trường hợp, nước có vai trò khác nhau. Trong biến cố đầu tiên, con người đi vào trong nước; trong khi ở biến cố thứ hai, nước đi vào trong con người. Nước Biển Đỏ cứu sống những người này và giết chết những người kia. Nó là dụng cụ phán xét của Thiên Chúa. Còn nước từ tảng đá thực hiện một nhiệm vụ khác: nó làm dịu cơn khát, phục hồi sức lực, cho phép tiếp tục con đường đã khởi sự. Nước đó không phải chỉ dùng một lần, nhưng dùng hàng ngày. Thật vậy, theo truyền thống giáo sĩ do thái, được thánh Phaolô lặp lại, tảng đá làm vọt ra nước, kể từ ngày đó, tiếp tục “đi theo” hoặc “đồng hành” với dân chúng trên đường đi trong sa mạc (1Cr 10, 4).

Huấn giáo Kitô giáo lập tức liên kết hai chức năng này của nước với phép rửa và phép Thánh Thể. “Tất cả cùng được chịu phép rửa dưới đám mây và trong lòng biển” và “tất cả cùng uống một thức uống linh thiêng” (1Cr 10,2.4). Và chính xác hơn nữa, liên quan tới hành động của Chúa Thánh Thần trong phép rửa và trong phép Thánh Thể: “Tất cả chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí… tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1Cr 12,13).

Vậy có hai hành động căn bản của Thần Khí trong đời sống Kitô giáo: một hành động là độc nhất, khởi đầu, cấu tạo và đáp ứng với phép rửa, hành động kia là hàng ngày, như ăn uống, và có đỉnh điểm trong phép Thánh Thể, cho dù nó không phải là hành động duy nhất. Tương quan giữa chúng cũng giống như sinh ra và lớn lên trong đời sống, giống như “sinh bởi Thần Khí”và “sống bởi Thần Khí”.

Cơn say và sự từ tốn

Trong truyền thống Kitô giáo, chủ đề cơn say từ tốn Thần Khí gắn liền với Chúa Thánh Thần, “sự đầy tràn Thần Khí”. Điều khiến các Giáo Phụ lấy lại chủ đề “cơn say từ tốn”, vốn đã được Philon người Do Thái mô tả, và tạo cho nó một chỗ đứng trong Giáo Hội, là bản văn mà thánh Tông Đồ mời gọi các Kitô hữu Êphêsô: “Chớ say sưa rượu chè, vì rượu chè đưa tới trụy lạc, nhưng hãy thấm nhuần, thánh thi và thánh ca do Thần Khí linh hứng; hãy đem cả tâm hồn mà ca hát chúc tụng Chúa” (Ep 5,18-19). Cách mà thánh Tông Đồ, trong phần thứ hai của bản văn, minh họa hành vi của những người được “đầy tràn Thần Khí” (“bằng cách ca hát và chúc tụng…”) có thể ám chỉ chủ đề về cơn say từ tốn.

Khởi đầu từ Origen, có vô số bản văn của các Giáo Phụ về chủ đề này, khi thì về sự loại suy, khi thì về sự tương phản giữa cơn say vật chất và cơn say thiêng liêng. Như người ta nói, cả hai đều là nguồn vui, khiến chúng ta quên đi những lo lắng, làm cho chúng ta ra khỏi chính mình. Trong khi cơn say vật chất khiến bạn lảo đảo và thiếu quyết đoán, thì cơn say thiêng liêng lại làm cho bạn trở nên vững chắc trong điều thiện; trong khi cơn say trước khiến bản thân thoát ra khỏi chính mình để sống dưới mức lý trí, thì cơn say thứ hai khiến bản thân thoát ra khỏi chính mình để sống trên lý trí, thực hiện sự “xuất thần” thiêng liêng thực sự. Cơn say trước là một “cơn say tội lỗi”, cơn say sau là một “cơn say ân sủng”.

Lấy cảm hứng chính xác từ câu chuyện nước chảy ra từ tảng đá, thánh Ambrôsiô viết: “Đức Giêsu đã làm cho nước vọt ra từ tảng đá và mọi người đều uống nước ấy. Tất cả những ai uống theo nghĩa ẩn giấu của Cựu Ước đều được đã khát; những ai uống theo nghĩa được mạc khải của Tân Ước thậm chí còn say nữa. Cơn say đem lại niềm vui sướng thực tốt biết bao […] Cơn say làm vững bước người từ tốn thực tốt biết bao […] Hãy uống Đức Kitô là cây nho; hãy uống Đức Kitô là tảng đá làm vọt ra nước […] hãy uống Đức Kitô để uống lời giảng dạy của Ngài […]. Kinh Thánh được uống, được ngấu nghiến khi nhựa sống của lời hằng sống đi vào huyết quản của tâm trí và vào năng lực của linh hồn”.[32] Đây không phải là một bài giảng về cơn say từ tốn, nhưng chính là cơn say từ tốn!” Các Giáo Phụ đã sống lý tưởng này, các ngài không hài lòng với việc nói về nó.

Chủ đề gợi mở này về cơn say từ tốn Thần Khí có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Có hai cách hành động khác nhau đối với một Kitô hữu: một cách của con người và một cách của Thiên Chúa, một cách tự nhiên và một cách siêu nhiên. Một cách mà tác nhân chính là con người, với lý trí của anh ta, ngay cả khi nó được đức tin soi sáng, và một cách mà diễn viên chính hay “tác nhân chính”, như Đức Phaolô VI nói trong Evangelii nuntiandi (Loan báo Tin Mừng), là Chúa Thánh Thần. Đây là điều mà thánh Phaolô gọi là “được Thần Khí hướng dẫn” (Gl 5,18), hay hành động “theo Thần Khí”. Ngay cả các thành quả cũng khác nhau, tùy thuộc vào việc người ta hành động “cách khôn ngoan”, dựa trên sự thận trọng, lương tri, kinh nghiệm, tổ chức, ngoại giao, hoặc khi “dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa” (1Cr 2,4).

Sức mạnh và sức sống của Giáo Hội luôn thể hiện khi Giáo Hội hành động theo cách đặc sủng hoặc nhờ Thánh Thần, khi Giáo Hội thực hiện những hành động có dấu ấn minh nhiên của Thần Khí.

Nhưng làm thế nào chúng ta có thể tìm lại được lý tưởng cơn say từ tốn này và thể hiện nó trong hoàn cảnh lịch sử và Giáo Hội của chúng ta? Có lời chép là cách sống Phúc Âm và cảm nghiệm về Thần Khí rất “mạnh mẽ” này là đặc quyền riêng của các Giáo Phụ thời sơ khai, lời chép đó ở đâu? Thánh Tông Đồ thốt lên: “Tất cả là của anh em”. Tất cả thuộc về mọi người trong Giáo Hội, nhờ sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô. Ân huệ của Đức Giêsu không có giới hạn lịch sử và kho tàng ơn cứu chuộc là dành cho mọi người. Chưa kể chúng ta cần cơn say từ tốn Thần Khí, hơn nhiều so với các Giáo Phụ. Thế giới đã trở nên trơ ỳ với Phúc Âm, vững tin vào mình, kiêu căng đến mức chỉ có “rượu mạnh” của Thần Khí mới có thể thắng được sự vô tín của nó và đưa nó ra khỏi sự dè dặt duy lý được gọi là “tính khách quan khoa học”.

Trong quá khứ, người ta đã đi từ sự từ tốn đến cơn say. Quả thực, “từ tốn” không chỉ cho thấy một phẩm chất của cơn say thiêng liêng, phân biệt nó với bất cứ loại say nào khác (rượu, ma túy, thành công, v.v.), mà còn cho thấy cách thức, phương tiện để đạt tới cơn say thiêng liêng, khía cạnh khổ hạnh của nó, vai trò thuộc về con người. Cách thức đạt tới cơn say thiêng liêng, hay nhiệt tình, đó là sự từ tốn, nghĩa là tiết chế những gì thuộc xác thịt, chay tịnh những sự thế gian, sự điều độ.

Theo nghĩa này, sự thanh luyện thông qua sự từ tốn đã được phát triển do linh đạo đan tu Chính thống giáo, đặc biệt là do Hesychius de Batos, mà theo ông, sự từ tốn là đức tính mấu chốt của trí khôn, không chỉ ngăn cấm bản thân bất cứ gánh nặng tư tưởng xấu nào, mà còn hoán cải (metanoia, ăn năn) để chỉ chú ý đến sự trong sạch trong tâm hồn, hầu đạt tới sự trong suốt nguyên thủy. Liên kết với sự từ tốn (nepsis, cũng có nghĩa là tỉnh thức) là hesychia - sự nghỉ ngơi của tâm hồn, sự thinh lặng an bình, với lời cầu nguyện hướng về Đức Giêsu.[33]

Với những tên gọi khác nhau (trút bỏ, thanh tẩy, hãm mình), học thuyết khổ hạnh này cũng gặp thấy nơi các tiến sĩ Latinh. Thánh Gioan Thánh Giá nói về việc “vì Chúa mà trút bỏ tất cả những gì không thuộc về Chúa”.[34] Chúng ta đang trong giai đoạn thứ hai của đời sống thiêng liêng, giai đoạn được gọi là thanh tẩy. Ở giai đoạn này, linh hồn giải thoát mình khỏi những thói quen tự nhiên, để chuẩn bị cho sự kết hợp với Thiên Chúa, và đón nhận ân sủng của Ngài trong giai đoạn thứ ba, gọi là “con đường kết hiệp”.

Chúng ta thừa kế linh đạo này, vốn đã quan niệm con đường hoàn thiện của giai đoạn thanh tẩy, nơi mà chúng ta phải ở lại lâu trong giai đoạn kết hiệp. Phải thực hành lâu trong sự từ tốn, trước khi có thể thưởng thức cơn say. Mọi sự nhiệt thành nào thể hiện trước đó đều đáng ngờ. Cơn say thiêng liêng là mục tiêu dành cho những người “hoàn hảo”. Những người khác, những “người mới bắt đầu”, phải quan tâm đặc biệt đến việc hãm mình, trong khi còn đang đấu tranh với lỗi lầm của mình thì không được cho rằng mình đang có một kinh nghiệm trực tiếp và mạnh mẽ về Thiên Chúa trong Thần Khí.

Có một sự khôn ngoan và kinh nghiệm tuyệt vời ở đó. Nhưng lược đồ này nhấn mạnh nỗ lực của con người liên quan tới ân sủng với một chút xê xích: Tân Ước chỉ ra một sự đồng thời: sự từ tốn là cần thiết để đạt tới cơn say Thần Khí, nhưng cơn say Thần Khí giúp thực hành sự từ tốn.

Thực hành khổ chế mà không có sự thúc đẩy ban đầu của Chúa Thánh Thần là một sự mệt nhọc vô ích, và hẳn sẽ chỉ tạo ra “sự kiêu căng của xác thịt”. Đối với thánh Phaolô, chính “nhờ Thần Khí” mà chúng ta phải “diệt trừ những công việc của xác thịt” (Rm 8,13). Thần Khí được ban cho ta để giúp ta hãm mình, hơn là như một phần thưởng cho việc hãm mình.

Một Giáo Phụ xưa có nói: một đời sống Kitô hữu khổ hạnh và hãm mình mà không có dấu ấn sống động của Thần Khí sẽ giống như một Thánh lễ có nhiều bài đọc, nhiều nghi thức và lễ vật, nhưng không có việc truyền phép bánh rượu. Chẳng có gì thay đổi cả. Giáo Phụ đó kết luận: “Cũng như vậy đối với người Kitô hữu: cho dù người đó đã giữ chay hoàn hảo, canh thức, cầu nguyện, khổ hạnh và mọi nhân đức, nhưng nếu Thần Khi không hoạt động trong tâm hồn người đó, thì tất cả các loại khổ hạnh này vẫn chưa hoàn thành và gần như vô ích, vì không mang niềm vui của Thần Khí, là niềm vui hoạt động cách thần bí trong tâm hồn”.[35]

Con đường thứ hai này - con đường đi từ cơn say đến sự từ tốn - là con đường Đức Giêsu đã bắt các Tông Đồ đi theo. Trước lễ Ngũ Tuần, họ không có khả năng thực hành các lệnh truyền Phúc Âm. Nhưng ngày lễ Ngũ Tuần, khi được rửa trong Chúa Thánh Thần, họ được biến đổi, và có thể vì danh Đức Giêsu mà chịu mọi khó khăn cho đến chỗ tử đạo. Chúa Thánh Thần là nguồn gốc lòng nhiệt thành của họ, còn hơn cả tác dụng của Ngài.

Có một lý do khác thúc đẩy chúng ta tìm lại con đường đi từ cơn say đến sự từ tốn. Đời sống Kitô giáo không chỉ là vấn đề tăng trưởng cá nhân về đường thiêng liêng; nó còn là một thừa tác vụ, một sự phục vụ, một sự loan báo: và để hoàn thành sứ vụ này, chúng ta cần “quyền năng đến từ trên”, cần những đặc sủng, một kinh nghiệm mạnh mẽ, trong ngày lễ Ngũ Tuần, của Chúa Thánh Thần. Phải mở lòng đón nhận Thần Khí để có thể quảng đại, nhiệt thành, “với tinh thần sốt sắng” (Rm 12,11), để hoàn thành các công việc của Thiên Chúa “với lòng nhiệt thành, kiên trì và vui mừng”, theo định nghĩa của thánh Basiliô về sự nhiệt thành.

Cơn mưa thấm sâu của Thần Khí

Những nơi mà Thần Khí hành động ngày hôm nay theo cách của ngày lễ Ngũ Tuần là những nơi nào? Thánh Ambrôsiô đã mời chúng ta như đã nói trên: “Uống đi, uống đi, uống đi.” Nhưng nước này ở đâu? Một hôm, nói về Chúa Thánh Thần mà những kẻ tin vào Ngài sắp lãnh nhận, Đức Giêsu hô lên: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống” (Ga 7,37). Nhưng Ngài ở đâu, người ta có thể tìm thấy Ngài ở đâu lúc này là lúc Ngài đã sống lại và đã rời bỏ trái đất?

Chúng ta sẽ tìm thấy nơi thánh Ambrôsiô, một trong những ca viên tuyệt vời về cơn say từ tốn Thần Khí, những yếu tố để trả lời. Sau khi nhắc lại hai nơi “kinh điển” để kín múc Thánh Thần là Thánh Thể và Sách Thánh (“say sưa chén cứu độ và say sưa sự dồi dào của Sách Thánh”), ngài gợi lên một khả năng thứ ba: “Còn có một cơn say khác hoạt động như cơn mưa thấm sâu của Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn, trong sách Công vụ, những ai nghe các Tông Đồ nói các thứ tiếng khác nhau đều nghĩ rằng họ đã bứ rượu.”[36] Sau khi đã nhắc lại những phương tiện “bình thường”, thánh Ambrôsiô ám chỉ tới một phương tiện khác, “bất thường” (nghĩa là không được thiết lập) hệ tại ở chỗ làm sống lại kinh nghiệm của các Tông Đồ vào ngày lễ Ngũ Tuần.

Thánh Ambrôsiô không nghĩ rằng kinh nghiệm này được dành cho thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Ngược lại, ngài muốn khuyến khích các tín hữu của mình trải nghiệm “cơn mưa thấm sâu Thần Khí” đã xảy ra ngày lễ Ngũ Tuần. Công đồng Vaticanô II đã làm sáng tỏ viễn tượng này, khi tuyên bố rằng “Chúa Thánh Thần không chỉ thánh hóa và hướng dẫn dân Thiên Chúa bằng các bí tích và các thừa tác vụ […], Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mỗi người theo ý Ngài” (GH 12).

Khả năng kín múc Thần Khí theo cách mới mẻ, cá nhân này được mở ra cho chúng ta, và chỉ tùy thuộc vào sáng kiến tự do và tối cao của Thiên Chúa. Hãy cẩn thận để đừng rơi vào chủ trương vụ luật của người Pharisêu và các kinh sư thời Đức Giêsu. Họ phản đối Đức Giêsu: “Có sáu ngày để làm việc, vậy tại sao lại chữa bệnh và làm phép lạ trong ngày Sabát?” Phần chúng ta, chúng ta có lẽ bị cám dỗ nói: “Có bảy bí tích để thánh hóa và ban Thánh Thần rồi, sao lại hành động bên ngoài chúng, theo cách mới này?”

Đôi khi tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra nếu một ngày kia có tin đồn là sẽ xảy ra cùng một điều như ngày lễ Ngũ Tuần đầu tiên, cùng một hiện tượng, tin đồn là nhà Tiệc ly lại mở cửa, “cơn gió mạnh” lại thổi và làm rung chuyển ngôi nhà; một nơi mà từ đó người ta trở về mà được biến đổi, với lòng nhiệt thành mới và tình yêu mới đối với Giáo Hội. Phải chăng sẽ không có một đoàn người vô tận tiến về nơi này? Quả thực, từ hai mươi lăm năm nay, tin tức này lan truyền trong Giáo Hội, và chính là điều đang xảy ra. Có hàng triệu triệu người nói rằng mình biết nơi này, và đã sống lễ Ngũ Tuần này. Và đây không chỉ là tiếng nói của những người cuồng nhiệt, của những người dễ bị kích động và tin vào phép lạ. Khi nói về thực tại này vào năm 1975, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói rằng đó là cơ may cho Giáo Hội, và trích dẫn một câu trong bài thánh thi của thánh Ambrôsiô, ngài đã nhắc lại một cách đúng đắn lý tưởng về “cơn say từ tốn Thần khí”, coi nó như là một chương trình sống cho cuộc Canh tân Đặc sủng Công giáo. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II hiện nay, trong lễ kỷ niệm mười năm cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa cuộc Canh tân và người đứng đầu Giáo Hội, đã nói rằng mười năm vừa trôi qua đã xác nhận tính chính xác của những lời vị tiền nhiệm phát biểu.

Trong báo cáo của mình trước Đại hội Quốc tế về Thánh Thần học, nhà thần học Yves Congar, khi bàn về những dấu chỉ thức tỉnh của Chúa Thánh Thần trong thời đại chúng ta, đã nói: “Làm sao không xác định được ở đây dòng chảy đặc sủng, còn được gọi là cuộc Canh tân trong Thần Khí?” “Nó đã được bày tỏ và lan rộng như ngọn lửa rừng trong các Giáo Hội truyền thống […]. Người ta không thể phủ nhận Thiên Chúa hành động ở đó: Ngài biến đổi cuộc sống ở đó và đôi khi dùng quyền năng mà hành động ở đó. Ngài đề ra cho Giáo Hội một con đường trẻ hóa và đầy sức sống.

“Điều đáng chú ý là ngay từ đầu nó đã nằm trong khuôn khổ của đức tin Kitô giáo […] Nó không chống lại thể chế, nhưng đúng hơn, muốn hồi sinh thể chế.

“Chấp nhận kế hoạch của Ngài, theo cách của Ngài và không phải là không biết những gì nảy mầm, mọc lên và nở hoa khắp nơi, cuộc Canh tân là một cách đáp lại sự mong đợi Ngũ Tuần được Đức Gioan XXIII bày tỏ […], chúng tôi nghĩ rằng cuộc Canh tân là một ân sủng mà Thiên Chúa đã làm cho thời đại của chúng ta”.[37]

Đúng là thực tại này, cũng như các thực tại mới khác của Giáo Hội hôm nay, đôi khi có những khía cạnh khó khăn, thái quá, chia rẽ và tội lỗi. Nhưng không phải như vậy với tất cả các ân huệ của Thiên Chúa, ngay khi chúng rơi vào tay loài người sao? Phải chăng quyền bính đã được hay đang được thực thi trong Giáo Hội mà không do lỗi của con người là độc đoán và tìm kiếm quyền lực? Tuy nhiên, không ai muốn loại bỏ đặc sủng này ra khỏi đời sống của Giáo Hội. Ngay cả những cộng đồng đặc sủng Kitô giáo đầu tiên cũng không tránh khỏi những rối loạn và khiếm khuyết, như cộng đồng Côrintô. Thần Khí không phải bỗng đâu làm cho nên thánh. Ngài hoạt động theo từng giai đoạn. Hơn nữa, phải phân biệt hành động thánh hóa đích danh của Thần Khí (gratia gratum faciens) với hành động đặc sủng (gratia gratis data) là ơn được ban để phục vụ và vì lợi ích chung, hơn là cho chính con người.

Phép rửa trong Thần Khí

Phương tiện chính yếu giúp cho cuộc Canh tân trong Thần Khí “thay đổi đời sống con người” là phép rửa trong Thần Khí. Đó là một nghi thức rất đơn giản về cử chỉ, bình thản và vui vẻ, trong một thái độ khiêm nhường, ăn năn, sẵn sàng trở thành con cái để được vào Nước Trời. Đó là một loại kinh epiclesis, nghĩa là lời khẩn cầu Chúa Thánh Thần, xuống trên một chi thể của thân thể Đức Giêsu Kitô, là kinh nhắc lại kinh trong Thánh lễ, sau truyền phép, xuống trên cộng đoàn các tín hữu, để Chúa Thánh Thần biến họ thành “một hy tế sống động đẹp lòng Thiên Chúa”. Đó là một sự đổi mới và hiện tại hóa tất cả việc khai tâm Kitô giáo, chứ không chỉ phép rửa. Người ta chuẩn bị cho việc đó bằng cách tham dự các buổi gặp gỡ huấn giáo để lại tiếp xúc sống động và vui vẻ với những chân lý chính yếu và những thực tại đức tin, đó là: tình yêu của Thiên Chúa, tội lỗi, ơn cứu độ, sự sống mới, sự biến đổi trong Đức Kitô, các đặc sủng, hoa trái của Thần Khí.

Nhưng phải chăng mọi người cần có kinh nghiệm này? Đây có phải là cách duy nhất trải nghiệm về ân sủng của lễ Ngũ Tuần không? Nếu qua phép rửa trong Thần Khí, chúng ta muốn nói đến một nghi thức nào đó, được thực hiện cách nào đó, trong một bối cảnh nhất định, thì chúng ta phải trả lời là không; đó không phải là cách duy nhất để có một kinh nghiệm mạnh mẽ trong Thần Khí. Đã có và có nhiều Kitô hữu có kinh nghiệm kiểu này, mà không biết gì về phép rửa trong Thần Khí, hoặc bằng cách nhận được một “sự tuôn đổ tự nhiên Thần Khí”, như người ta có thể thấy trong cuộc đời của nhiều vị thánh. Tuy nhiên, tôi thấy rằng đó là một phương tiện đơn giản và mạnh mẽ để đổi mới đời sống của hàng triệu tín hữu trong hầu hết các Giáo Hội Kitô. Vì vậy chúng ta phải suy nghĩ trước khi nói rằng cái đó không được tạo ra cho chúng ta và bỏ qua một bên, nếu Chúa cho chúng ta cơ hội.

Tôi đã sắp trở thành một trong số họ và, ngay cả khi tôi phải trả giá đắt, tôi muốn kể cho các bạn nghe một chút về kinh nghiệm cá nhân của tôi, bởi vì tôi nghĩ rằng những khó khăn của tôi có thể giống như những khó khăn của nhiều linh mục và nhà thần học, và rằng kinh nghiệm của tôi có thể hữu ích cho những người khác. Hẳn là thiếu lòng biết ơn Thiên Chúa và thiếu tin tưởng nơi các bạn, nếu giữ im lặng về trải nghiệm này vốn đã thay đổi cuộc đời của tôi. Mặt khác, tôi luôn nghĩ rằng Thiên Chúa quan phòng đã cho tôi thừa tác vụ này để tôi khiêm nhường làm chứng, ở giữa lòng Giáo Hội, sự run sợ của lễ Ngũ Tuần trải qua thân thể Đức Giêsu Kitô, dưới các hình thức khác nhau, và là một dấu hiệu hy vọng lớn lao giữa tất cả những thử thách mà Giáo Hội phải trải qua, điều vẫn còn thấy ngày nay.

Một khó khăn đầu tiên tôi gặp là thế này. Tôi nghĩ: nhưng tôi, tôi có thánh Phanxicô, với tư cách một người cha; tôi có một linh đạo tuyệt vời đằng sau tôi, rất nhiều vị thánh… Tôi còn tìm kiếm điều gì nữa? Những người anh em này có thể mang lại cho tôi điều gì? Trong khi tôi đang suy nghĩ về tất cả những điều đó, trong một nhóm cầu nguyện, ở cuối căn phòng, một nữ tu mở Kinh Thánh và bắt đầu đọc. Đó là đoạn Gioan Tẩy Giả nói với những người Pharisêu: “Đừng tưởng có thể bảo mình rằng: chúng ta đã có tổ phụ Abraham” (Mt 3,9) (Thường là như thế khi Thần Khí nói, hành động, cho thấy là tội, trong một buổi cầu nguyện đặc sủng). Tôi hiểu rằng lời này là dành cho tôi.

Ý kiến phản đối khác là: Nhưng tôi, tôi là một linh mục, được giám mục truyền chức; tôi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần; tôi còn phải nhận điều gì, hơn nữa lại từ giáo dân? Lần này thần học của tôi đã trả lời cho tôi. Tôi tưởng tượng Đức Giêsu sẽ trả lời tôi như thế này: “Thế Ta thì sao? Ta đã không được Chúa Cha thánh hóa và sai đến thế gian sao? Ta đã không được đầy Thánh Thần từ khi sinh ra trong lòng mẹ Maria của Ta sao? Vậy mà Ta đã đi đến sông Giođan để được Gioan Tẩy Giả, cũng chỉ là một giáo dân, làm phép rửa đó sao! “

Chính như thế mà tôi đồng ý lãnh nhận lời cầu nguyện “để được đổ tràn Thần Khí mới mẻ”. Tôi đã trải nghiệm nó như một sự đổi mới có ý thức về phép rửa của tôi, như thể cuối cùng chính tôi nói những lời thưa “vâng” và “tôi tin”! mà những người khác đã nói thay cho tôi, lúc tôi được chịu phép rửa. Một cách để trao dây cương cho Đức Giêsu dẫn dắt cuộc đời tôi. Trong khi tôi được mời gọi lại chọn Đức Giêsu làm Chúa duy nhất của cuộc đời tôi, tôi ngước mắt lên và nhìn vào thập giá trên bàn thờ của nhà nguyện. Như thể Ngài đã chờ đợi tôi để làm cho tôi hiểu: “Đây là Đức Giêsu mà ngươi đã chọn làm Chúa, không phải một Đức Giêsu dễ dãi, tô hồng.” Điều đó là đủ để khiến tôi thừa nhận rằng dòng chảy ân sủng này được gọi là cuộc Canh tân Đặc sủng không phải là một cảm xúc hời hợt; nó đi thẳng vào tâm điểm của Phúc Âm và Khởi giảng, là thập giá Đức Kitô.

Thánh Ambrôsiô nói: “Chúng ta hãy vui mừng uống sự dồi dào từ tốn Thần Khí”. Vâng, lạy Chúa, chúng con thực sự cần cơn say thiêng liêng này. Chúng con cần nó để thi hành lệnh truyền của Chúa, để cho thế gian phải nhận ra tội lỗi vì đã khước từ Chúa; nhất là chúng con cần nó để thánh hóa bản thân. Và khi đó, lạy Chúa, chúng con thưa với Chúa như Phêrô: “Thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay cùng đầu con nữa” (Ga 13,9). Xin Chúa rửa chúng tôi hoàn toàn bằng Thần Khí Chúa!


7. SỰ TUÔN ĐỔ THẦN KHÍ HAY PHÉP RỬA TRONG THẦN KHÍ

Trước khi nói về phép rửa hoặc sự tuôn đổ Thần Khí, dường như tôi thấy việc cố gắng hiểu cuộc Canh tân trong Thần Khí là quan trọng, vì kinh nghiệm tuôn đổ Thần Khí được định vị trong khuôn khổ cuộc Canh tân và tạo nên thời điểm mạnh nhất. Khi đó, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn rằng sự tuôn đổ không phải là mục đích tự thân, nhưng đúng hơn là sự khởi đầu của một con đường nhằm đổi mới đời sống sâu xa trong Giáo Hội.

Để mình được đổi mới trong Thần Khí

“Đổi mới trong Thần Khí” là một cách diễn tả Kinh Thánh bắt gặp hai lần trong Tân Ước, dưới các hình thức tương đương. Để hiểu linh hồn của phong trào đặc sủng, cảm hứng sâu sắc của nó, trước tiên chúng ta phải tra vấn Kinh Thánh.

Bản văn đầu tiên trong hai bản văn là thư Êphêsô, chương 4,23-24: “Anh em phải để mình được hướng dẫn bên trong bởi một thần khí đổi mới và phải mặc lấy con người mới”. Trong đoạn này, từ “thần khí” được viết thường, điều này là chính xác, vì nói tới thần trí (tâm trí) “của chúng ta” và thậm chí đến phần thâm sâu của thần trí chúng ta (sự phán xét), phần mà Kinh Thánh thường gọi là “trái tim”. Ở đây từ “thần trí” có nghĩa là nơi người ta phải để bản thân được đổi mới hầu nên giống Đức Kitô, Con Người mới tuyệt hảo. “Để bản thân được đổi mới” có nghĩa là cố gắng để có được trong lòng những tình cảm giống như Đức Giêsu Kitô (x. Pl 2,5), đấu tranh để có được một “trái tim mới”.

Bản văn này đã soi sáng ý nghĩa, mục đích và kinh nghiệm của chúng ta: cho chúng ta biết rằng cuộc Canh tân trước hết phải là đổi mới nội tâm, đổi mới con tim. Kể từ Công Đồng Vaticanô II, nhiều mặt đã được đổi mới trong Giáo Hội: phụng vụ, mục vụ, giờ đây là Bộ Giáo Luật, các hiến pháp và tu phục nam nữ. Tất cả những mặt này đều có tầm quan trọng của chúng, nhưng chúng chỉ là sơ bộ của việc đổi mới thực sự; không được dừng lại ở đó, vì tin là đã hoàn thành công việc này đến cùng. Thiên Chúa không quan tâm đến cơ cấu, nhưng đến các linh hồn. Chính nơi các tâm hồn mà Giáo Hội đẹp đẽ, nên chính nơi các tâm hồn mà Giáo Hội phải “làm cho mình đẹp đẽ”. Thiên Chúa quan tâm đến tấm lòng của dân Người, đến tình yêu của dân Người; mọi sự khác phát xuất từ đó.

Tuy nhiên, bản văn đầu tiên này không đủ để biện minh cho kiểu nói “Canh tân trong Thần Khí”. Nó nêu bật nghĩa vụ đổi mới chính mình (“anh em phải đổi mới chính mình!”) và đối tượng của việc đổi mới này (trái tim), nhưng không giải thích phải đổi mới chính mình như thế nào. Nói với chúng ta là chúng ta “phải” đổi mới chính mình thì có ích gì, nếu không cắt nghĩa cho chúng ta biết chúng ta được coi như làm việc đó nhờ sức mạnh nào? Tóm lại, còn thiếu chủ thể đổi mới, người ta vẫn chưa biết được tác giả thực và vai chính của cuộc đổi mới. Đây chính là điều mà bản văn Kinh Thánh thứ hai mà tôi trích dẫn, tiết lộ cho chúng ta; bản văn nói rằng: “Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót, nên Người đã cứu chúng ta nhờ phép rửa tái sinh và đổi mới trong Thần Khí” (Tt 3,5).

Trong bản văn này, “Thần Khí” được viết hoa vì nó không chỉ thần trí “của chúng ta”, nhưng là Thần Khí của Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần. Ở đây giới từ “trong” không chỉ nơi diễn ra sự đổi mới, nhưng đúng hơn, chỉ dụng cụ, tác nhân. Do đó, danh xưng mà chúng ta gán cho kinh nghiệm của mình biểu thị một điều gì đó khá chính xác: một sự đổi mới là công việc của Chúa Thánh Thần; một sự đổi mới mà Thiên Chúa, chứ không phải con người, là tác giả chính, nhân vật chính. “Này đây, Ta (không phải ngươi) đổi mới mọi sự” (x. Kh 21,5); “Thần Khí của Ta, chỉ mình Ngài, có thể đổi mới mặt đất” (x. Tv 104,30).

Điều này có vẻ không có ý nghĩa, chỉ là xác định rõ hơn thôi, có lẽ, nhưng thực ra đây là một cuộc cách mạng Copernicus thực sự, một sự đảo lộn mà con người, thể chế, các cộng đồng và toàn thể Giáo Hội, trong nhân tính của mình, phải trải qua, để trải nghiệm một cuộc đổi mới tâm linh đích thực.

Trên bình diện đức tin, chúng ta thường lập luận theo “hệ thống Ptolémée”: tự nền tảng có nỗ lực, tổ chức, hiệu quả, những cải cách, thiện chí của chúng ta; ở đó, “trái đất” là trung tâm; Thiên Chúa đến thúc đẩy chúng ta, Ngài đến khen thưởng cho nỗ lực của chúng ta bằng ân sủng của Ngài. “Mặt trời” xoay quanh và hoạt động như một vệ tinh của trái đất; Thiên Chúa là vệ tinh của con người chứ không phải ngược lại.

Lúc đó lời Chúa kêu to: “Hãy trả lại sức uy hùng cho Thiên Chúa” (x. Tv 68,35), vì “sức mạnh thuộc về Thiên Chúa” (Tv 62,12). Đây là một tiếng kèn báo động! Trong suốt một thời gian quá lâu chúng ta tiếm quyền của Thiên Chúa, sử dụng nó như thể của chúng ta, như thể chính chúng ta “điều khiển” quyền năng của Thiên Chúa. Chính chúng ta phải xoay quanh “mặt trời”; đó là cuộc cách mạng Copernicus như đã nói.

Nhờ nó, chúng ta nhận ra một cách khá đơn giản là, không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể làm được gì, thậm chí không thể nói “Đức Giêsu là Chúa” (x. 1Cr 12,3); ngay cả nỗ lực bền bỉ nhất cũng luôn là kết quả của sự cứu rỗi, hơn là nguyên nhân. Khi đó, chúng ta hãy thực sự bắt đầu “ngước mắt lên”, “nhìn lên cao”, như nhà tiên tri khuyên giục chúng ta (x. Hs 11,7), và bắt đầu nói: “Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao? Ơn phù hộ tôi đến tự Đức Chúa, là Đấng dựng nên cả đất trời” (Tv 121,1tt).

Nhiều lần trong Kinh Thánh, lệnh truyền của Thiên Chúa vang lên: “Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng thánh” (Lv 19,2; x. Lv 11,44; 1Pr 1,15tt); trong sách Lêvi, chúng ta tìm thấy lời giải thích tất cả những đoạn này: “Các ngươi phải giữ các quy tắc của Ta và đem ra thực hành. Ta là Đức Chúa, Đấng thánh hiến các ngươi” (Lv 20,8). Ta là Đức Chúa, Đấng muốn đổi mới các ngươi bằng Thần Khí của mình! Hãy để ngươi được đổi mới bằng Thần Khí của Ta!

Phép rửa, một bí tích “bị ngăn trở”

Giờ đây chúng ta có thể tiếp cận trực tiếp chủ đề liên hệ đến chúng ta: sự tuôn đổ Thần Khí.

Sự tuôn đổ Thần Khí không phải là một bí tích, nhưng gắn liền với một bí tích, thậm chí với nhiều bí tích: những bí tích khai tâm Kitô giáo. Sự tuôn đổ hiện tại hóa và, theo một cách nào đó, đổi mới sự khai tâm Kitô giáo. Nhưng mối dây cơ bản liên quan đến bí tích rửa tội. Kiểu nói “phép rửa trong Thần Khí” gần đây còn chỉ định sự tuôn đổ, và vẫn luôn chỉ định như thế nơi những người anh em Hoa Kỳ của chúng ta, đơn giản có nghĩa là sự tuôn đổ dựa trực tiếp trên bí tích rửa tội. Chúng ta nói rằng sự tuôn đổ Thần Khí hiện tại hóa và làm sống lại phép rửa của chúng ta. Để hiểu làm thế nào một bí tích mà một người đã lãnh nhận nhiều năm trước, ngay cả vừa lúc chào đời, lại có thể đột nhiên được hồi sinh và tạo ra năng lượng mà người ta nhận thấy lúc tuôn đổ, phải nhớ lại một vài yếu tố của thần học bí tích.

Thần học Công giáo biết đến ý niệm bí tích hữu hiệu và hợp pháp, nhưng “bị ngăn trở”. Một bí tích được coi là “bị ngăn trở” nếu không mang lại kết quả, vì không hội đủ mọi điều kiện để hoàn toàn bày tỏ hiệu lực của nó. Một ví dụ: bí tích hôn phối hay truyền chức thánh được lãnh nhận trong tình trạng tội trọng. Trong một tình huống như vậy, các bí tích này không thể chuyển đạt ân sủng cho con người; nhưng ngay khi chướng ngại vật tội lỗi được loại bỏ bằng sự thống hối, thì bí tích được cho là sống lại (reviviscit) nhờ sự trung thành và không thể hủy bỏ của hồng ân Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn trung thành ngay cả khi chúng ta bất trung, vì Người không thể chối bỏ chính mình (x. 2Tm 2,13).

Trường hợp của hôn nhân hoặc truyền chức thánh lãnh nhận trong tình trạng tội lỗi là, như tôi đã nói, một trường hợp hãn hữu, nhưng các trường hợp khác có thể xảy ra khi bí tích, mặc dù không hoàn toàn bị ngăn trở, cũng không hoàn toàn tự do, nghĩa là tự do tiến hành các hiệu quả của nó. Trong trường hợp phép rửa, điều gì khiến cho kết quả của bí tích vẫn bị ngăn trở? Ở đây phải nhắc lại học lý cổ điển về các bí tích. Các bí tích không phải là những nghi thức ma thuật tự động hành động mà con người không biết, hoặc không phụ thuộc vào bất cứ sự cộng tác nào của họ. Hiệu năng của chúng là kết quả của một sự hiệp lực (synergie) hay sự cộng tác, giữa sự toàn năng của Thiên Chúa (đặc biệt là ân sủng của Đức Kitô hoặc Chúa Thánh Thần) và sự tự do của con người. Như thánh Augustinô đã nói: “Đấng đã dựng nên bạn mà không cần bạn cộng tác, nhưng không cứu bạn nếu không có sự cộng tác của bạn”.[38]

Chính xác hơn, hoa trái của bí tích hoàn toàn tùy thuộc vào ân sủng của Thiên Chúa; nhưng ân sủng này chỉ hành động khi có lời “xin vâng”, nghĩa là với sự đồng ý và tham gia của thụ tạo, đó là một điều kiện sine qua non (không thể không có) hơn là một nguyên nhân. Thiên Chúa cư xử giống như người chồng không áp đặt tình yêu của mình bằng vũ lực, nhưng chờ đợi tiếng “vâng” mà người vợ tự do nói lên.

Công trình của Thiên Chúa và công trình của con người trong phép rửa

Tất cả những gì tùy thuộc vào ân sủng của Thiên Chúa và ý muốn của Đức Kitô trong bí tích được gọi là opus operatum (do sự)có thể dịch là: công việc đã hoàn tất, kết quả khách quan và không thể thiếu của bí tích, khi nó đã được ban cách hiệu quả; ngược lại, tất cả những gì tùy thuộc vào sự tự do và tâm thái của chủ thể được gọi là opus operantis (do nhân), nghĩa là công việc phải làm, sự góp phần của con người.

Opus operatum của phép rửa, nghĩa là sự góp phần của Thiên Chúa hay ân sủng, rất nhiều và vô cùng phong phú: tha thứ tội lỗi, ban các nhân đức đối thần tin, cậy, mến (trong hạt mầm), tình nghĩa tử; tất cả được tiến hành bởi tác động hữu hiệu của Chúa Thánh Thần. “Một khi được rửa tội, chúng ta được chiếu sáng; một khi được chiếu sáng, chúng ta được nhận làm nghĩa tử; một khi được nhận làm nghĩa tử, chúng ta được nên hoàn hảo; một khi trở nên hoàn hảo, chúng ta nhận được sự bất tử… Sự tiến hành này của phép rửa mang nhiều tên gọi: ân sủng, chiếu sáng, hoàn hảo, tắm rửa. Tắm rửa, nhờ đó chúng ta được thanh tẩy khỏi tội lỗi của chúng ta; ân sủng, nhờ đó mà những hình phạt xứng đáng với tội lỗi của chúng ta được xóa bỏ; chiếu sáng, trong đó chúng ta chiêm ngưỡng ánh sáng đẹp đẽ và thánh thiện của ơn cứu độ, nghĩa là trong đó chúng ta thâm nhập vào thiêng thánh bằng cái nhìn; hoàn hảo, vì không thiếu gì”.[39]

Phép rửa là một ân huệ vô cùng quý giá mà chúng ta lãnh nhận khi được sinh ra trong Thiên Chúa. Nhưng đó là một món quà vẫn còn được niêm phong: chúng ta giàu có vì chúng ta sở hữu món quà này (do đó chúng ta có thể thực hiện mọi hành vi cần thiết cho đời sống Kitô hữu), nhưng chúng ta không biết mình đang sở hữu những gì; để diễn giải một lời của Gioan, người ta có thể nói: hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ (x. 1Ga 3,2). Đó là lý do tại sao người ta nói rằng, nơi phần đông các Kitô hữu, phép rửa là một bí tích “bị trói buộc”.

Tất cả những điều đó là về opus operatum. Nhưng opus operantis, nghĩa là sự góp phần của con người, hệ tại ở điều gì trong phép rửa? Hệ tại ở đức tin! “Ai tin và chịu phép rửa, thì sẽ được cứu” (Mc 16,16). Vì thế, trong phép rửa có một yếu tố khác: đức tin của con người. “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12). Chúng ta cũng có thể nhớ lại đoạn văn đẹp trong sách Công vụ tường thuật phép rửa của quan thái giám nữ hoàng Canđakê. Đến chỗ có nước, ông này nói: “Sẵn nước đây, có gì ngăn trở tôi chịu phép rửa không? Ông Philipphê đáp: “Nếu ngài tin hết lòng thì được” (Cv 8,36-37, câu 37 là câu bổ sung của cộng đồng Kitô hữu tiên khởi minh chứng cho sự xác tín chung của Giáo Hội lúc ấy). Phép rửa là một loại ấn của Thiên Chúa đóng trên đức tin của con người: “[…] anh em đã được nghe lời chân lý, là Tin Mừng cứu độ anh em, một khi đã tin, anh em được đóng ấn Thánh Thần, Đấng Thiên Chúa đã hứa” (Ep 1,13).

Thánh Basiliô viết: “Quả thực, đức tin và phép rửa là hai phương thức cứu rỗi, được liên kết với nhau và không thể phân chia. Đức tin được hoàn tất nhờ phép rửa, phép rửa dựa trên đức tin”.[40] Và ngài gọi phép rửa là “dấu ấn đức tin”.[41]

Công việc của con người, tức đức tin, không có cùng một tầm quan trọng và sự tự trị như công việc của Thiên Chúa, vì trong chính hành vi tin có sự góp phần của Thiên Chúa; chính hành vi tin này là công việc của ân sủng khơi dậy nó; tuy nhiên, hành vi tin coi việc đáp trả, “Credo” (kinh Tin Kính) của con người, như yếu tố chủ chốt, và theo nghĩa này, nó là opus operantis, nghĩa là công việc của con người.

Giờ đây, chúng ta đã hiểu tại sao thời Giáo Hội sơ khai, phép rửa đã là một biến cố thật quan trọng và đầy ân sủng, và tại sao sự tuôn đổ mới Thần Khí, như sự tuôn đổ chúng ta thấy ngày nay, nói chung là không cần thiết. Phép rửa được ban cho những người lớn, từ ngoại giáo trở lại, và là những người, khi được dạy dỗ thích hợp, có thể thực hiện một hành vi tin và một sự lựa chọn hiện sinh tự do và chín chắn lúc chịu phép rửa (chỉ cần đọc những bài nhiệm huấn về Phép rửa, được gán cho Cyrillô Giêrusalem, để nhận ra chiều sâu đức tin của những người sắp lãnh nhận phép rửa.

Người ta đến với phép rửa sau khi trải qua một cuộc hoán cải thực sự; phép rửa không chỉ là sự tắm rửa tái sinh trong Chúa Thánh Thần, mà còn là sự đổi mới cá nhân (x. Tt 3,5). Tôi cảm thấy ấn tượng về một bản văn của thánh Basiliô. Một hôm thánh Basiliô trả lời cho một người xin ngài viết một khảo luận về phép rửa, rằng ngài không thể giải thích ý nghĩa của phép rửa mà tiên vàn không giải thích ý nghĩa của việc làm môn đệ Đức Giêsu, vì lệnh truyền của Chúa nói: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28, 19-20).

Để phép rửa phát huy hết tác dụng, người đến với phép rửa phải là một môn đệ, hoặc có ý định nghiêm túc trở thành một môn đệ: “Được! Anh ta là một môn đệ, chúng ta học được điều đó từ chính Chúa, bất cứ ai đến gần Chúa để theo Ngài, nghĩa là nghe lời Ngài, tin vào Ngài và vâng lời Ngài như vâng lời một đấng tối cao, một ông vua, một thầy thuốc, một bậc thầy dạy chân lý […] Người tin nơi Chúa và trình diện với những điều kiện cần thiết để trở thành môn đệ, thì như chúng ta biết, trước hết phải tránh xa mọi tội, rồi cũng phải tránh xa mọi đối tượng khiến anh ta không vâng phục mà, vì nhiều lý do, anh ta mắc nợ Chúa, và anh ta làm như vậy, khi coi những lý do này hoàn toàn hợp lý.[42]

Điều kiện thuận lợi mà, vào thời kỳ đầu của Giáo Hội, cho phép phép rửa hành động với quyền năng như vậy, chính là sự gặp gỡ giữa công việc của Thiên Chúa và công việc của con người trong cùng một lúc: giữa chúng có một sự đồng bộ hoàn hảo; điều đó xảy ra khi hai cực, cực dương và cực âm, chạm vào nhau tạo ra ánh sáng.

Giờ đây, sự đồng bộ này đã bị phá vỡ, vì chúng ta lãnh nhận phép rửa khi còn bé, dần dần, chúng ta đã không còn thực hiện một hành vi tin tự do và cá nhân. Hành vi này được thực hiện, một cách nào đó, do một người trung gian (cha mẹ, cha đỡ đầu hoặc mẹ đỡ đầu). Trước đây, khi đứa trẻ lớn lên trong môi trường Kitô giáo thấm nhuần đức tin, đức tin này có thể triển nở, dù có triển nở chậm hơn. Giờ đây mọi sự đã thay đổi; tình hình thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn so với thời Trung cổ. Một môi trường như vậy nơi đứa trẻ đang sống không giúp nó phát triển đức tin: điều này thường đúng trong những gì liên hệ tới gia đình, còn đúng hơn trong những gì liên hệ tới trường học và còn đúng hơn nữa trong những gì liên hệ tới xã hội và văn hóa. Điều đó không có nghĩa là không thể có một đời sống Kitô hữu bình thường trong những điều kiện này, hoặc sự thánh thiện và đặc sủng đi kèm với đời sống Kitô hữu là hoàn toàn không có; nhưng thay vì là một sự kiện bình thường, đối với các các Kitô hữu, điều đó ngày càng trở thành một ngoại lệ.

Trong hoàn cảnh này, người được rửa tội hiếm khi, đôi khi thậm chí không bao giờ, có thể tuyên bố “trong Chúa Thánh Thần” rằng: “Đức Giêsu là Chúa”. Và cho đến lúc công bố được như vậy, đời sống Kitô hữu là không chắc chắn và chưa trưởng thành. Phép lạ không tồn tại. Người ta thấy mình ở trong hoàn cảnh của cư dân Nadaret: “Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin” (x. Mt 13,58).

Ý nghĩa của phép rửa trong Thần Khí hoặc sự tuôn đổ Thần Khí

Phép rửa trong Thần Khí là một sự đáp lại của Thiên Chúa trước “sự trục trặc” trong đó đời sống Kitô hữu đã sa sút. Trong những năm gần đây, người ta biết rằng Giáo Hội, chính các giám mục, đã bắt đầu lo lắng về thực tế là các bí tích, đặc biệt là phép rửa, được ban cho những người sau đó không bao giờ để tâm đến nó, và các ngài đã tính đến khả năng từ chối phép rửa nếu không có sự chắc chắn tối thiểu là đứa trẻ sẽ gìn giữ và phát huy những ân sủng nhận được khi chịu phép rửa. Là vì người ta không thể “vứt ngọc trai cho heo”, như Đức Giêsu đã nói, và phép rửa là một hạt ngọc trai vì nó là kết quả của máu Đức Kitô. Nhưng có vẻ như Thiên Chúa, từ rất lâu trước Giáo Hội, đã quan tâm tới sự “trục trặc” này và đã khơi dậy, ở chỗ này chỗ khác trong Giáo Hội, các phong trào có xu hướng đổi mới việc khai tâm Kitô giáo cho người lớn.

Cuộc Canh tân trong Thần Khí là một trong những phong trào này, và ân sủng chính của nó chắc chắn gắn liền với sự tuôn đổ Thần Khí và những gì đi trước nó. Hiệu quả của nó trong việc hiện tại hóa phép rửa bao gồm việc giúp con người góp phần của mình, nghĩa là lựa chọn đức tin, chuẩn bị cho sự lựa chọn này bằng cách ăn năn và cho phép công việc của Thiên Chúa “tự do” và phát huy tất cả sức mạnh của nó. Như thể bàn tay của Thiên Chúa, hướng về phía con người, cuối cùng đã bắt gặp bàn tay của con người và, bằng cách siết chặt nó, cho phép chuyển qua tất cả sức mạnh sáng tạo của mình, tức là Chúa Thánh Thần; như thể, dùng một hình ảnh được rút ra từ lãnh vực vật lý, cắm phích vào ổ cắm và đèn bật sáng. Quà tặng của Thiên Chúa cuối cùng “được cởi dây buộc” và Thần Khí lan tỏa như một loại nước hoa trong đời sống người Kitô hữu.

Đối với người lớn, người đã lâu ngày sống đời sống Kitô giáo, sự lựa chọn đức tin này nhất thiết phải có đặc tính của một sự hoán cải; sự tuôn đổ Thần Khí là một sự đổi mới phép rửa và như một sự hoán cải lần thứ hai.

Để hiểu rõ hơn sự tuôn đổ Thần Khí, người ta có thể liên kết nó với phép thêm sức, ít nhất trong cách thực hành hiện nay, khi mà bí tích này tách biệt với phép rửa, và được ban muộn hơn. Như chúng ta vừa nói, sự tuôn đổ Thần Khí là một sự đổi mới ân sủng của phép rửa, nhưng nó cũng là một sự “xác nhận” phép rửa, một tiếng “xin vâng” có ý thức liên quan đến bí tích này, với các hoa trái và các cam kết của nó, và như vậy, nó được liên kết (ít nhất trên bình diện chủ quan) với điều phép thêm sức thực hiện trên bình diện khách quan và bí tích: phép này được xem như một bí tích phát huy, củng cố và hoàn tất công việc của phép rửa; sự tuôn đổ là một sự xác nhận chủ quan và tự phát (không phải là bí tích), trong đó Thần Khí hành động không phải do thể chế, nhưng do sáng kiến tự do riêng của Ngài và do tâm thái sẵn sàng của con người.

Từ việc tham chiếu này đến phép thêm sức cũng nảy sinh cảm giác về tầm quan trọng của một sự dấn thân nhiều hơn vào chiều kích tông đồ và truyền giáo của Giáo Hội. Nói chung, đây là một hoa trái của phép rửa trong Thần Khí: ước muốn cộng tác nhiều hơn vào việc xây dựng Giáo Hội, phục vụ Giáo Hội trong các thừa tác vụ khác nhau nơi người có chức thánh và nơi giáo dân, làm chứng cho Đức Kitô; đây là những điều nhắc nhớ biến cố lễ Ngũ Tuần và được hiện tại hóa trong bí tích thêm sức.

Đức Giêsu, Đấng rửa trong Chúa Thánh Thần

Việc tuôn đổ Thần Khí không phải là phương tiện duy nhất mà Giáo Hội có, để canh tân các bí tích khai tâm và, cách riêng, những ân sủng của Chúa Thánh Thần đã lãnh nhận khi chịu phép rửa. Cũng có, chẳng hạn, việc canh tân các lời hứa lúc chịu phép rửa, trong Đêm Vọng Phục Sinh, các buổi linh thao, khấn dòng, được coi như “phép rửa lần thứ hai” và, trên bình diện các bí tích, cả phép thêm sức nữa, như chúng ta vừa nhấn mạnh.

Không khó để khám phá ra trong cuộc đời của các thánh một sự “tuôn đổ tự phát”, đặc biệt trong quá trình hoán cải của các ngài. Chẳng hạn những gì chúng ta đọc về thánh Phanxicô, vào lúc ngài hoán cải: “Tiệc tan, họ ra khỏi nhà. Bạn bè của ngài đi trước ngài; còn ngài thì tay cầm một loại cây trượng, đi sau cùng, nhưng thay vì hát, ngài chìm đắm trong những suy nghĩ của mình. Thình lình, Chúa đến thăm ngài và trái tim ngài tràn ngập sự êm dịu của Chúa, đến nỗi ngài không thể cử động cũng không nói được, chỉ thấy sự êm dịu này đã cách ly ngài khỏi mọi cảm giác khác […] Bạn bè của ngài, khi quay lại và nhìn thấy ngài từ xa, đã chạy đến với ngài và sửng sốt khi thấy ngài gần như biến đổi thành một con người khác. Họ hỏi ngài: “Anh nghĩ gì vậy, thay vì đi theo chúng tôi? Anh nghĩ đến việc lấy vợ sao? Ngài trả lời không do dự: “Đúng vậy. Tôi nghĩ sẽ lấy cô gái cao quý, giàu có và xinh đẹp nhất mà anh em chưa từng thấy”. Các bạn đồng hành của ngài bắt đầu cười. Phanxicô đã nói thế không phải do sáng kiến riêng của mình, nhưng do Thiên Chúa linh hứng.”[43]

Tôi đã nói sự tuôn đổ Thần Khí không phải là cách duy nhất để đổi mới các ân sủng của phép rửa. Dầu vậy, nó có một chỗ đứng rất đặc biệt vì dành cho tất cả dân Chúa, từ già đến trẻ, chứ không chỉ dành cho một số người được ưu đãi có cơ hội thực hành linh thao của thánh Ignatiô, hoặc khấn dòng. Sức mạnh phi thường này đến từ đâu mà chúng ta cảm nghiệm được khi có sự tuôn đổ Thần Khí? Chúng ta không nói về lý thuyết, nhưng nói về những gì chính mình đã cảm nghiệm, khiến chúng ta nói được như thánh Gioan: “Điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến… chúng tôi loan báo cho anh em… để chính anh em cùng hiệp thông với chúng tôi” (x. 1Ga, 1-3). Nếu sức mạnh này tồn tại, đơn giản là vì Thiên Chúa đã muốn nó, vì Ngài hoàn toàn hài lòng đổi mới Giáo Hội theo cách đó.

Chắc chắn có những tiền lệ trong Kinh Thánh như trình thuật của sách Công vụ 8,14-17: nghe tin người Samari đã đón nhận lời Chúa, Phêrô và Gioan đã đến gặp họ, cầu nguyện cho họ và đặt tay trên họ, để họ lãnh nhận Thánh Thần. Nhưng bản văn Kinh Thánh căn bản, giúp chúng ta hiểu phép rửa trong Thần Khí, là Gioan 1,32-33: “Ông Gioan làm chứng: Tôi đã thấy Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Người. Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng đã sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”

“Đức Giêsu là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”, điều đó có nghĩa gì? Kiểu nói này không chỉ nhằm mục đích phân biệt phép rửa của Đức Giêsu với phép rửa của Gioan (người chỉ làm phép rửa “trong nước”), nhưng còn làm nên sự khác biệt giữa con người Đức Kitô và công việc của Ngài với con người của vị Tiền Hô và công việc của ông. Nói khác đi, trong toàn bộ công việc của mình, Đức Giêsu là Đấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần. “Làm phép rửa” ở đây có ý nghĩa ẩn dụ làm ngập, tắm rửa hoàn toàn, dìm mình, giống như nước vây kín toàn thân. Đức Giêsu “làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần” theo nghĩa là Ngài “ban đầy tràn Thần Khí” (x. Ga 3,34), Ngài “tuôn đổ” Thần Khí của Ngài (x. Cv 2,33) trên toàn thể nhân loại được cứu chuộc. Kiểu nói này nhắc đến biến cố lễ Ngũ Tuần hơn là nhắc đến bí tích rửa tội, như người ta cũng thấy trong đoạn sách Công vụ sau đây: “Ông Gioan thì làm phép rửa bằng nước, còn anh em thì trong ít ngày nữa sẽ chịu phép rửa trong Thánh Thần” (Cv 1,5).

Như vậy kiểu nói “làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần” xác định công việc thiết yếu của Đức Kitô, mà trong các lời tiên tri của Cựu Ước về đấng Thiên Sai dường như là tái sinh nhân loại bằng một sự tuôn đổ dồi dào Chúa Thánh Thần (Ge 3,1tt). Áp dụng tất cả những điều này vào đời sống và thời kỳ của Giáo Hội, người ta kết luận rằng Đức Giêsu phục sinh không chỉ làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần trong bí tích rửa tội, mà còn trong những lúc khác, theo một cách khác: trong phép Thánh Thể, trong việc lắng nghe lời Chúa, và nói chung, trong tất cả các “phương tiện của ân sủng”.

Phép rửa trong Thần Khí là một trong những phương tiện nhờ đó Đức Giêsu phục sinh tiếp tục công việc thiết yếu của mình là “làm phép rửa trong Thần Khí”. Chính vì vậy, nếu một đàng, thật chính đáng khi cắt nghĩa ân sủng này liên hệ tới phép rửa và việc khai tâm Kitô giáo, như tôi vừa mới làm, thì đàng khác, phải hết sức tránh khư khư với nhãn quan này về sự việc. Sự tuôn đổ Thần Khí không chỉ đổi mới những ân sủng của phép rửa, nhưng cả những ân sủng của phép thêm sức, của việc rước lễ lần đầu, của việc truyền chức linh mục hay giám mục, của việc khấn dòng, của hôn nhân, tất cả những ân sủng và đặc sủng mà chúng ta đã lãnh nhận. Đó thực sự là ân sủng của một lễ Hiện Xuống mới. Và có nơi, đó là một sáng kiến mới mẻ và cao cả của ơn Thiên Chúa, mà, cũng như mọi cái khác, dựa trên phép rửa, nhưng không dừng lại ở đó. Sáng kiến này không chỉ nhắm vào việc “khai tâm” Kitô giáo, mà còn nhắm vào sự “hoàn hảo” của đời sống Kitô giáo.

Chính như thế mà chúng ta hiểu sự hiện diện của phép rửa trong Thần Khí nơi những người anh em thuộc phái Ngũ Tuần của chúng ta. Theo những người anh em này việc khai tâm là một ý niệm xa lạ, và phép rửa bằng nước không phải lúc nào cũng có cùng một tầm quan trọng như đối với những người công giáo và các Giáo Hội khác. Khởi thủy, phép rửa trong Thần Khí có một thành phần đại kết phải được bảo tồn bằng mọi giá, như một lời hứa và dụng cụ hiệp nhất các Kitô hữu, tránh một sự “công giáo hóa” quá mức của kinh nghiệm chung này về phép rửa trong Thần Khí.

Bác ái huynh đệ, kinh nguyện và đặt tay

Trong sự tuôn đổ có một vai trò bí mật, mầu nhiệm thuộc về Thiên Chúa và khác nhau cho mỗi người. Chỉ mình Ngài biết những sự sâu thẳm của chúng ta và có thể hành động bằng cách làm nổi bật nhân cách độc đáo của chúng ta. Vai trò thứ hai, hữu hình, là của cộng đồng và giống nhau cho mọi người. Đây là một loại dấu chỉ, sử dụng cách loại suy với các bí tích. Phần hữu hình, hay thuộc cộng đồng, bao gồm ba yếu tố thiết yếu: bác ái huynh đệ, đặt tay và cầu nguyện. Đây không phải là những yếu tố bí tích, nhưng là những yếu tố thuộc Kinh Thánh và Giáo Hội.

Việc đặt tay có thể có hai ý nghĩa: một nghĩa kêu cầu và một nghĩa thánh hiến (truyền phép). Hai loại đặt tay này đều thấy có, chẳng hạn, trong Thánh Thể: một lúc đặt tay kêu cầu, ít nhất nơi người Latinh chúng ta (linh mục đặt tay trên lễ vật và đọc kinh epiclesis: “Nguyện xin Chúa Thánh Thần thánh hóa những lễ vật này để trở thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô”); và một lúc đặt tay truyền phép (các vị đồng tế đặt tay trên lễ vật lúc truyền phép). Trong nghi thức thêm sức, như thấy hiện nay, có hai lúc đặt tay: đặt tay lần đầu để thánh hiến và đặt tay kèm với cử chỉ xức dầu thánh trên trán, trong đó bí tích đích danh được thực hiện.

Trong sự tuôn đổ Thần Khí, việc đặt tay chỉ có tính chất kêu cầu (x. St 48,14; Lv 9,22 ; Mc 10,13-16; Mt 19,13-15). Nó cũng có một giá trị biểu trưng cao: gợi lên hình ảnh Chúa Thánh Thần rợp bóng (x. 1,35); cũng nhắc lại Chúa Thánh Thần đã “bay là là” trên nước (x. St 1,2). Trong bản văn gốc, thuật ngữ được dịch là “bay là là” có nghĩa là “che phủ bằng đôi cánh của mình” hoặc “ấp ủ”, như gà mẹ ấp ủ gà con”. Tertullianô giải thích ý nghĩa biểu trưng của cử chỉ đặt tay, khi ông nói về việc đặt tay trên người chịu phép rửa: “Thân xác được việc đặt tay phủ bóng, để linh hồn được Thần Khí chiếu sáng”.[44]Ở đó có một nghịch lý, như trường hợp đối với tất cả những sự việc của Thiên Chúa: Việc đặt tay chiếu sáng bằng cách phủ bóng, như đám mây đi theo dân tuyển chọn trong cuộc Xuất hành và như đám mây bao phủ các môn đệ trên núi Tabor (x. Mt 17,5).

Như đã nói, hai yếu tố khác là cầu nguyện và bác ái huynh đệ; Hẳn người ta có thể nói: bác ái huynh đệ được diễn tả trong kinh nguyện. Tình yêu huynh đệ là dấu chỉ và chiếc xe chuyên chở Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần, Đấng là Tình Yêu, tìm lại được trong bác ái huynh đệ môi trường tự nhiên của nó, dấu chỉ tuyệt vời của nó (chúng ta cũng có thể nói ở đây, như chúng ta nói nhân bàn về dấu chỉ bí tích, mặc dù theo một ý nghĩa khác, significando causa). Chúng ta không bao giờ gán tầm quan trọng quá mức đối với sự hiện diện của một bầu không khí bác ái đích thực xung quanh người anh em sắp được tuôn đổ.

Trong Tân Ước, kinh nguyện cũng liên kết chặt chẽ với sự tuôn đổ Thần Khí. Về việc Đức Giêsu chịu phép rửa, Phúc Âm cho biết: “Đang khi Người cầu nguyện thì trời mở ra và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu” (x. Lc 3.21). Có vẻ như chính lời cầu nguyện của Đức Giêsu khiến cho trời mở ra và Chúa Thánh Thần xuống trên Ngài. Giống như vậy là sự tuôn đổ ngày lễ Ngũ Tuần: trong khi tất cả cùng nhau kiên trì cầu nguyện, thì từ trời bỗng phát ra một tiếng động như tiếng gió mạnh ùa vào căn nhà và họ thấy những hình lưỡi như lưỡi lửa (x. Cv 1,14-2,1tt). Vả lại chính Đức Giêsu đã nói: “Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác” (Ga 14,16). Lần nào cũng xảy ra sự tuôn đổ Thần Khí trong bầu khí cầu nguyện.

Những dấu chỉ này (đặt tay, cầu nguyện và bác ái huynh đệ) nói lên sự đơn giản: đó là những dụng cụ đơn giản. Sự đơn giản này chính xác là dấu Thiên Chúa hành động. Tertullianô viết về phép rửa: “Không gì làm cho tâm trí con người thấy chướng giống như sự tương phản giữa sự đơn giản rõ ràng của các công việc của Thiên Chúa và sự to lớn của những hiệu quả đã hứa […] Bạn không thừa nhận Thiên Chúa có những gì là của riêng Ngài: sự đơn giản và quyền năng”.[45] Chính là điều trái ngược với những gì thế giới làm: trên thế giới, các mục tiêu cần đạt được càng lớn thì bộ máy phương tiện càng phức tạp; và nếu người ta muốn lên mặt trăng, thì bộ máy này sẽ trở nên khổng lồ.

Nếu sự đơn giản là dấu ấn hành động của Thiên Chúa, thì tuyệt đối cần phải gìn giữ dấu ấn này lúc ban phép rửa Thần Khí. Chính vì thế sự đơn giản phải tỏa sáng trong mọi sự: trong kinh nguyện và trong cử chỉ; không có những thái độ kịch tuồng, những cử chỉ kích thích, quá nhiều lời. Về hy lễ trên núi Carmel, Kinh Thánh chỉ ra sự tương phản mạnh mẽ giữa cách hành động của các tư tế thần Baal, đang kêu to, nhảy múa như những người điên và rạch mình đến chảy máu, và cách hành động của Elia, người chỉ cầu nguyện đơn giản thế này: “Lạy Đức Chúa, Thiên Chúa của Abraham, Isaac và Giacop […] xin đáp lời con, để dân này nhận biết Ngài là Đức Chúa, Thiên Chúa thật, và Ngài đã khiến họ thay lòng đổi dạ” (1V 18,36-37).

Lửa của Đức Chúa ập xuống trên lễ vật của Elia và không ập xuống trên lễ vật của các tư tế thần Baal (x. 1V 18,25-38). Không lâu sau đó, Elia phát hiện ra Thiên Chúa không ở trong cơn bão, trong cơn động đất, hoặc trong lửa; Ngài ở trong tiếng động của cơn gió hiu hiu (x. 1V 19,11-12).

Ân sủng người ta nghiệm thấy trong sự tuôn đổ từ đâu mà đến? Từ sự giúp đỡ chăng? Không! Từ người nhận được sự tuôn đổ chăng? Cũng không nữa! Nó đến từ Thiên Chúa! Việc tự hỏi xem nó đến từ bên trong con người hay từ bên ngoài không có ý nghĩa gì cả. Người ta chỉ có thể nói ân sủng này liên quan đến phép rửa, vì Thiên Chúa luôn hành động trong sự gắn bó và trung thành, Ngài không làm để rồi phá. Ngài tôn vinh sự cam kết và thiết lập của Đức Kitô. Một điều chắc chắn: không phải là các anh em ban Chúa Thánh Thần; họ không ban Chúa Thánh Thần cho người anh em mình, nhưng họ kêu cầu Chúa Thánh Thần xuống trên người anh em này. Thần Khí, không ai có thể ban, ngay cả Đức Giáo Hoàng hay một giám mục cũng không, vì không người nào chính mình làm chủ Chúa Thánh Thần. Chỉ mình Đức Giêsu có thể ban Chúa Thánh Thần theo nghĩa riêng; những người khác không làm chủ Chúa Thánh Thần, nhưng ngược lại họ bị Ngài làm chủ.

Về cách thức của ân sủng này, người ta có thể nói về một lần đến mới của Chúa Thánh Thần, một sứ mệnh mới của Chúa Cha qua Đức Giêsu Kitô hoặc một sự xức dầu mới tương ứng với mức độ mới của ân sủng. Theo nghĩa này, sự tuôn đổ, ngay cả khi không phải là một bí tích, vẫn là một biến cố, một biến cố thiêng liêng: định nghĩa này có lẽ là gần nhất với thực tại. Một biến cố, như vậy là một điều gì đó xảy ra, để lại dấu ấn của nó, kéo theo một sự mới mẻ trong đời sống; Nhưng đó là một biến cố thiêng liêng (không phải biến cố lịch sử): thiêng liêng, vì nó xảy ra trong tâm trí, nghĩa là ở bên trong con người, và những người khác rất có thể không nhìn thấy gì về tất cả điều đó; thiêng liêng, đặc biệt vì đó là công việc của Chúa Thánh Thần.

Để kết thúc, chúng ta hãy lắng nghe Phaolô, người nói về sự đổi mới ân huệ của Thiên Chúa như một lời kêu gọi mỗi người trong chúng ta: “Tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh. Vì Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ” (2Tm 1,6-7).


8. NHỮNG ĐẶC SỦNG

“Mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tùy theo mức độ Đức Kitô ban cho. Vì thế có lời Kinh Thánh nói: Người đã lên cao, dẫn theo đám tù; Người đã ban ân huệ cho loài người” (Ep 4,7-8).

Những lời này của thánh Tông Đồ đặt chúng ta đối diện với biến cố nền tảng mà mọi suy tư về đặc sủng phải dựa vào đó: Đức Kitô, đã sống lại và lên trời, đã gửi Chúa Thánh Thần đến. Ngài đã ban ân huệ cho loài người. Ngài là cội nguồn phải nhìn đến, là “tảng đá thiêng liêng” từ đó vọt ra “một dòng sông chảy ra bao nhánh đem niềm vui cho thành của Chúa Trời” (Tv 46,5).

Cách an toàn nhất để nói về những đặc sủng là bình giải một số bản văn Tân Ước, những bản văn chủ yếu giúp hiểu biết chủ đề này. Bản văn đầu tiên là chương 4 thư Êphêsô, mà chúng ta vừa nghe một số câu: “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí […] một Thiên Chúa Cha của mọi người […] Chính Người đã ban cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng” (Ep 4,4.6.11).

Bản văn này cho chúng ta biết trong Giáo Hội có hai bình diện: bình diện duy nhất, hoặc hiệp thông (koinonia) và bình diện đa dạng, hoặc phục vụ (diakonia). Bản văn cũng cho chúng ta biết những đặc sủng thuộc về hạng thứ hai này. Nói cách khác, Giáo Hội bao gồm một số thực tại nhất định chung cho mọi người và đồng nhất cho mọi người (nhất là: một Thiên Chúa duy nhất là Cha, một Chúa duy nhất là Đức Giêsu Kitô, một Thần Khí duy nhất, một đức tin duy nhất, một đức cậy duy nhất, một phép rửa duy nhất) và những thực tại khác, ngược lại, khác nhau cho mỗi người (các thừa tác vụ và các đặc sủng). Các thừa tác vụ và các đặc sủng là biểu hiện của sự phong phú, năng động và đa dạng của Giáo Hội. Chính nhờ chúng mà Giáo Hội là một thân thể, không chỉ “lắp ghép và kết nối tốt” mà còn “ăn khớp theo năng lực riêng cho mỗi thành viên”.

Đặc sủng và bí tích

Như thánh Phaolô nói, phép rửa có mặt trong số những yếu tố chung cho mọi người, giống như tất cả các bí tích. Sự khác biệt giữa duy nhất và đa dạng xuất hiện trong sự khác biệt giữa các bí tích và các đặc sủng.

Trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Côrintô, Phaolô viết: “Có nhiều đặc sủng khác nhau nhưng chỉ có một Thần Khí. Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có nhiều hoạt động khác nhau nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người” (1Cr 12,4-6). Trong bản văn này, chúng ta nhắc lại một lần nữa sự phân biệt thấy rõ giữa những gì khác nhau trong Giáo Hội (các đặc sủng, thừa tác vụ, hoạt động) và những gì là “duy nhất và đồng nhất” cho mọi người. Thánh Tông Đồ đặt các bí tích trong số các yếu tố giống nhau cho tất cả mọi người, vì sau đó ngài viết: “Tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí, để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” (1Cr 12,13).

Kiểu nói “được đầy tràn một Thần Khí duy nhất” có thể ám chỉ về Thánh Thể được lãnh nhận lần đầu tiên cùng lúc với phép rửa, trong việc khai tâm Kitô giáo về cội nguồn. Dầu sao, điều chắc chắn là Thánh Thể cũng nằm trên bình diện hiệp thông này, bởi vì ngay trước đó thánh Tông Đồ đã nói về Thánh Thể bằng những lời sau đây: “Bởi vì chỉ có một tấm bánh […] chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1Cr 10,17).

Vậy đâu là mối liên hệ giữa đặc sủng và bí tích? Các bí tích thuộc lãnh vực chung, nơi không có sự khu biệt giữa các tín hữu: tất cả đều lãnh nhận theo cùng một cách thức, và nếu có sự khu biệt, thì điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào đức tin và mức độ thánh thiện của mỗi người, chứ không tùy thuộc vào chỗ đứng của họ trong Giáo Hội. Thánh Thể luôn luôn là một, cho dù là người lãnh nhận là Giáo Hoàng, giám mục, linh mục hay giáo dân. Phép rửa luôn luôn là một, cho dù người ban là Giáo Hoàng, linh mục hoặc, nếu cần thiết, một giáo dân thuần túy. Khi đó, các bí tích là những thực tại chung, nhờ đó Giáo Hội trước hết là sự hiệp thông và hiệp nhất. Ngược lại, các đặc sủng là “một sự tỏ mình ra cách đặc biệt của Thần Khí cho mỗi người” (x. 1Cr 12,7). Do đó, chúng không giống hệt nhau; trái lại, tất cả chúng đều khác nhau.

Bằng sự khôn ngoan vô biên của mình, Thiên Chúa đã thiết lập cách nào đó hai kênh riêng biệt để thánh hóa Giáo Hội, hai hướng khác nhau của hơi thở Thần Khí. Người ta có thể nói rằng một mặt, có Thần Khí thổi từ trên cao xuống và được truyền qua Đức Giáo Hoàng, các giám mục, các linh mục, và hành động trong Huấn quyền của Giáo Hội, trong phẩm trật, trong quyền bính và đặc biệt trong các bí tích. Ở đây, Thần Khí, hay ân sủng, đến với chúng ta qua các kênh do Đức Kitô thiết lập và được ủy thác cho Giáo Hội thể chế. Không ai có thể thay đổi các kênh này, ngay cả phẩm trật của Giáo Hội.

Có thể so sánh các bí tích với các ổ cắm điện, đặt ở những nơi nhất định của ngôi nhà. Trên núi, có một trung tâm điện lực lớn; với dây cáp lớn, nó vượt qua núi đồi và thung lũng, đến với thành phố, phân nhánh và nối với các ổ cắm điện của mỗi nhà; bất cứ khi nào người ta cắm phích vào một ổ cắm, nó sẽ tỏa nhiệt, năng lượng, ánh sáng, tùy theo nhu cầu. Cũng như vậy là trên bình diện ân sủng: chỉ có một trung tâm ân sủng duy nhất, hy tế cứu chuộc của Đức Kitô hoàn tất trên thập giá; từ đó, qua các kênh Đức Kitô thiết lập, ân sủng không ngừng chảy đến với chúng ta trong các bí tích khi chúng ta lãnh nhận.

Tất cả những điều đó liên hệ tới hướng mà tôi đã xác định là “từ trên cao”. Nhưng Thần Khí cũng thổi theo hướng ngược lại: “từ bên dưới”, từ nền tảng, từ các tế bào của thân thể Giáo Hội. Chính đó là vấn đề khi Đức Giêsu nói: “Gió muốn thổi đâu thì thổi” (x. Ga 3,8). Thánh Phaolô dường như lặp lại ý tưởng này của Đức Giêsu khi ngài khẳng định: “Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách tùy theo ý định của Người” (1Cr 12,11). “Tùy theo ý định của Người”: sự tự do của Thiên Chúa là tối cao, nó không gắn chặt với những lựa chọn được thực hiện một lần mãi mãi thời Giáo Hội sơ khai, nhưng luôn mới mẻ và không thể đoán trước được. Đặc sủng là những cách bày tỏ cụ thể của Thần Khí, Đấng muốn thổi đâu thì thổi, và không ai có thể tiên liệu hoặc xác lập trước. Nếu các bí tích là các “phích cắm (prise)” của ân sủng, thì các đặc sủng là những “phích cắm bất ngờ (surprise)” của ân sủng và của Chúa Thánh Thần.

Toàn bộ Giáo Hội, cơ quan sống động, được Chúa Thánh Thần tưới tắm và làm cho linh hoạt, được cấu tạo bởi toàn bộ hai kênh hoặc là kết quả của hai hướng ân sủng. Các bí tích là ân huệ được ban cho mọi người vì thiện ích của từng người, còn đặc sủng là ân huệ được ban cho từng người vì thiện ích của mọi người. Các bí tích là những ân huệ ban cho toàn bộ Giáo Hội để thánh hóa các cá nhân; còn các đặc sủng là những ân huệ ban cho các cá nhân để thánh hóa toàn bộ Giáo Hội.

Chúng ta hiểu rất rõ Giáo Hội sẽ mất mát gì nếu một ngày kia người ta nghĩ có thể bỏ qua kênh này hoặc kênh kia, các bí tích hoặc các đặc sủng, hoặc Thần Khí xuống “từ trên cao” hoặc Thần Khí lan tỏa tại nền tảng của Giáo Hội. Thế mà, rất tiếc phải nói rằng Giáo Hội đã có kinh nghiệm mất mát này, ít nhất trên bình diện cụ thể, nếu không phải trên bình diện các nguyên tắc. Kể từ Công đồng Vaticanô II, mọi người đều nhận ra rằng trong quá khứ đã có sự giảm bớt cơ quan thánh hóa của Giáo Hội, gây thiệt hại cho các đặc sủng. Tất cả đều đi qua những kênh gọi là kênh “dọc”, được phẩm trật tạo ra hoặc được ủy thác cho phẩm trật; chính qua các kênh này mà dân Kitô giáo đã nhận được lời Chúa, các bí tích, lời tiên tri (nói chung, người ta hiểu lời tiên tri là đặc sủng giảng dạy không thể sai lầm chân lý, điều thuộc Huấn quyền của Giáo Hội!). Đó là Giáo Hội hình “kim tự tháp” nổi tiếng, nơi mọi sự được cho là đi theo một trình tự rất chính xác và một chiều: từ Thiên Chúa đến Giáo Hoàng, từ Giáo Hoàng đến giám mục, từ giám mục đến linh mục, từ linh mục đến tín hữu. Một tình trạng như vậy gây nên sức ỳ của giáo dân là điều không thể tránh.

Nguồn gốc của sự nghèo nàn giáo thuyết này là một quan niệm về Giáo Hội đã được hình thành trong thời cận đại và được chỉ định theo cách loại suy là “quan niệm tự nhiên thần giáo (conception déiste)” về Giáo Hội (H. Muhlen). Với Descartes, đã có một quan niệm tự nhiên thần giáo về thế giới. Theo quan niệm này, lúc đầu Thiên Chúa đã tạo ra thế giới và rút lui sau khi đã làm cho nó vận hành; như vậy thế giới bước đi một mình, theo những quy luật đã được ghi một lần vĩnh viễn. Quan niệm này về thế giới còn được gọi là “máy móc”. Một cách cụ thể, người ta đã phủ nhận sự Quan phòng, phủ nhận sự kiện là Thiên Chúa vẫn tiếp tục cai quản thế giới mọi lúc.

Bằng cách loại suy, người ta gọi là “tự nhiên thần giáo” quan niệm về Giáo Hội mà đã biến Giáo Hội thành một tổ chức hoàn hảo do Đức Giêsu lập ra và ngay từ đầu được trang bị bằng tất cả các quyền hành và phương tiện (bí tích, phẩm trật, Huấn quyền) để độc hành cho tới ngày quang lâm. Do đó, người ta cũng từ chối quyền làm chúa hiện nay và không ngừng của Đức Kitô đối với Giáo Hội của Ngài; một quyền làm chúa được thể hiện bằng quyền tự do của Đức Kitô can thiệp bất cứ lúc nào vào Giáo Hội bằng Thánh Thần của Ngài và luôn chuẩn bị những điều ngạc nhiên luôn mới mẻ cho Hiền Thê của Ngài. Trên thực tế, người ta giới hạn phạm vi của các đặc sủng. Ngay trong thần học, người ta hầu như không nói về các đặc sủng nữa hoặc, nói cách khác, người ta nói về chúng để chỉ những ân sủng và những hiện tượng khác thường đã được ghi nhận trong cuộc đời của một vài vị thánh.

Với Công đồng Vaticanô II, hình ảnh có phần tĩnh và “máy móc” này của Giáo Hội đã thay đổi. Người ta đã tái ý thức rằng Giáo Hội không thể bỏ qua nguồn phong phú bao la của ân sủng lan tỏa tỉ mỉ trong thân thể Giáo Hội, nơi tất cả các chi thể của Giáo Hội, và được biểu lộ trong các ân huệ, hay các đặc sủng, của mỗi người.

Đây là những gì Công đồng đã viết về chủ đề này trong một bản văn rất nổi tiếng: “Hơn nữa cũng chính Thánh Thần ấy không chỉ thánh hóa và hướng dẫn dân Thiên Chúa bằng các bí tích, các thừa tác vụ, và trang điểm họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các an6 sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc các tín hữu “phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài” (1Cr 12,11), khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo Hội như lời chép: “Thánh Thần hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại lợi ích” (1Cr 12,7). Phải lãnh nhận những đặc sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh được, với lòng tri ân và yên ủi vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp với nhu cầu của Giáo Hội” (GH 12).

Trong bản văn này, chuyển động kép của Thần Khí được phục hồi; người ta nói rằng vấn đề không chỉ qua các bí tích, nghĩa là từ trên cao, mà còn từ bên dưới, qua mạng lưới ân sủng dày đặc này, vốn là những đặc sủng của tất cả những người đã lãnh nhận phép rửa. Hơn nữa, trong cả hai trường hợp, đây là một hành động có mục đích thánh hóa dân Thiên Chúa, vậy là một điều gì đó chủ yếu, cấu tạo nên Giáo Hội, chứ không thuần túy là một sự tô điểm hay làm phong phú ngẫu nhiên.

Đặc sủng và phục vụ

Bản văn Công đồng cho thấy rõ mục đích của những đặc sủng này là gì: làm cho tín hữu “có khả năng và sẵn lòng” đảm nhận những trách nhiệm đổi mới bên trong và mở rộng bên ngoài Giáo Hội. Giáo Hội không làm gì hơn là hoàn toàn lặp lại giáo huấn Tân Ước về đặc sủng. Thánh Phaolô viết rằng chính Thiên Chúa “ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ. Nhờ đó dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng thân thể Đức Kitô” (Ep 4,11-12). Về phần mình, thánh Phêrô khuyên: “Ơn riêng (charisma) Thiên Chúa đã ban, mỗi người trong anh em phải dùng mà phục vụ (diakonía) kẻ khác” (1Pr 4,10).

Vậy mục đích của các đặc sủng là diakonía, phục vụ, thừa tác vụ. Thuật ngữ cuối cùng này, thừa tác vụ (ministère), là thuật ngữ phổ biến nhất trong các bản dịch Kinh Thánh của chúng ta; nhưng theo cách nói thông thường của chúng ta, nó đã trở nên mơ hồ và hàm hồ đến mức cần phải hiểu rõ, để không gây hiểu lầm (cũng có những “bộ” (ministères) của chính quyền, không phải lúc nào cũng là những cơ quan phục vụ hoặc những cơ quan không được dân chúng coi là như vậy). Trong Tân Ước, từ này chỉ đơn giản có nghĩa là “phục vụ” (ministrare, có nghĩa là phục vụ). Do đó, mục đích của các đặc sủng không phải là để tạo ánh hào quang, uy tín hay danh tiếng về sự thánh thiện cho người nhận được chúng; không phải là để giúp cho người đó có được sự tự tin hoặc quyền hành đối với người khác. Tuyệt đối không! Như thế là làm cho các đặc sủng bị biến chất. Khi Đức Giêsu lên trời, đổ các ân huệ của Ngài xuống người ta như mưa, Ngài nghĩ đến thân thể Ngài, nghĩ đến Giáo Hội, một Giáo Hội mà Ngài yêu thương và muốn “xây dựng”. Bình giải về chương 4, câu 8, của thư Êphêsô, thánh Augustinô nhận xét rằng thánh Tông Đồ nói: “[…] Người đã ban ân huệ cho loài người”, trong khi câu thánh vịnh mà ngài trích dẫn nói: “Người đã nhận đám người này làm lễ vật triều cống” (x. Tv 68,19), và ngài giải thích rằng trong Đức Giêsu Kitô cả hai điều đều đúng: với tư cách là Đầu, Ngài đã ban các đặc sủng cho loài người, với tư cách thân thể, Ngài đã lãnh nhận những đặc sủng ấy (vì Đức Kitô toàn thể là Đầu và thân thể cùng với nhau, Đức Kitô và Giáo Hội cùng với nhau). Điều mỗi người nhận được như một ân huệ của Chúa Thánh Thần, cũng chính là toàn thể Giáo Hội nhận được nó.[46]

Vậy các đặc sủng là dành cho Giáo Hội: cho vẻ đẹp, sức sống và sự đa dạng của Giáo Hội. Điều này giúp chúng ta khám phá lý do tại sao thánh Phaolô gọi bác ái là “con đường trổi vượt hơn cả”, là đặc sủng của các đặc sủng. Hãy để thánh Augustinô dẫn dắt chúng ta. Sau khi nhắc lại những đặc sủng khác nhau được thánh Tông Đồ liệt kê trong 1Cr 12,8-10, thánh Augustinô nói: “Nhưng có lẽ bạn không có ân huệ nào trong số những ân huệ mà tôi đã đề cập. Nếu bạn yêu, bạn không phải là không có gì, vì nếu bạn yêu mến Giáo Hội, thì ai có gì trong Giáo Hội cũng là có cái đó cho bạn. Bạn hãy dập tắt lòng ghen tỵ và những gì tôi có là của bạn; chớ gì tôi dập tắt lòng ghen tỵ và những gì bạn có là cho tôi. Ghen tị chia lìa, sức khỏe liên kết. Trong thân thể, chỉ mình mắt là thấy, nhưng phải chăng mắt nhìn cho mình nó? Nó cũng nhìn cho bàn tay, nó cũng nhìn cho bàn chân, nó cũng nhìn cho mọi chi thể khác, vì nếu người ta dọa đánh bàn chân, mắt không quay đi để tránh khỏi cảnh báo cho chân. Cũng vậy, trong thân thể, chỉ có bàn tay hành động, nhưng phải chăng nó hành động cho mình nó? Nó cũng hành động cho mắt nữa; vì nếu người ta đánh thẳng, không phải vào tay, nhưng vào mặt, phải chăng bàn tay sẽ nói: Tôi mặc kệ, vì người ta không nhắm vào tôi? Cũng vậy, khi đi bộ, bàn chân chống đỡ cho tất cả các chi; tất cả các chi thể khác giữ im lặng và cái lưỡi nói cho tất cả. Vậy, chúng ta có Chúa Thánh Thần, nếu chúng ta yêu mến Giáo Hội; chúng ta yêu mến Giáo Hội, nếu chúng ta ở trong sự hiệp nhất và bác ái của Giáo Hội. Là vì, sau khi đã liệt kê những ân huệ khác nhau được ban cho những người khác nhau, như là chức năng của từng chi thể, cũng thánh Tông Đồ nói thêm: “Tôi xin chỉ cho anh em con đường trổi vượt hơn cả” (1Cr 12,31) và ngài bắt đầu nói đến lòng bác ái. Ngài xếp nó trên ơn nói tiếng lạ của loài người và thiên thần, xếp nó trên những phép lạ của đức tin, xếp nó trên khoa học và lời tiên tri. Ngài thậm chí còn xếp nó trên công trình lớn lao của lòng thương xót, bao gồm việc phân phát cho người nghèo những của cải người ta có, và cuối cùng, ngài còn đi xa đến mức xếp nó trên sự tử đạo của thân xác; ngài xếp bác ái trên tất cả những ân huệ tuyệt vời này. Hãy có bác ái và bạn sẽ có mọi sự, vì không có nó, tất cả những gì bạn có thể có sẽ chẳng có ích gì cho bạn”.[47]

Bí mật được tiết lộ: bác ái là “con đường trổi vượt hơn cả” bởi vì nó làm cho tôi yêu mến sự hiệp nhất (nghĩa là Giáo Hội, và cụ thể hơn là cộng đồng nơi tôi sống), và trong sự hiệp nhất, tất cả các đặc sủng đều trở thành “của tôi”. Nhưng đó không phải là tất cả. Nếu bạn thực sự yêu thích sự hiệp nhất, đặc sủng mà tôi có, thuộc về bạn hơn thuộc về tôi. Giả sử tôi có đặc sủng rao giảng Phúc Âm, tức là loan báo lời Chúa, tôi có thể vui mừng về điều đó và khoe khoang về điều đó: khi ấy tôi trở thành “thanh la phèng phèng” và đặc sủng “chẳng ích gì cho tôi” như thánh Tông Đồ đã nói với tôi, trong khi nó luôn làm điều tốt cho bạn, là người lắng nghe lời đã loan báo, bất chấp tội lỗi của tôi. Nhờ bác ái, bạn sở hữu mà không gặp nguy hiểm những gì người khác sở hữu mà gặp rủi ro nào đó. Quả là một phát minh phi thường của Thiên Chúa thượng trí. Ngài làm cho đặc sủng của một người thành đặc sủng của mọi người.

Nhưng để phép lạ này xảy ra, thì, như thánh Augustinô nói, phải loại bỏ sự ghen tỵ, nghĩa là phải chết cho cái “tôi” cá nhân và vị kỷ của mình, tìm kiếm vinh quang cho riêng mình, và mặc lấy cái “Tôi” vĩ đại, bao la của Đức Kitô và của Giáo Hội. Và điều đó giả thiết một tình trạng hoán cải sâu xa. Các đặc sủng giả thiết rằng người ta sống trong tình trạng hoán cải liên tục; chỉ với điều kiện này chúng mới khỏe mạnh và toàn vẹn.

Khi thánh Phaolô quả quyết rằng nếu không có bác ái, thì ngay cả đặc sủng cao cả nhất cũng “chẳng ích gì cho tôi”, thì giờ đây rõ ràng là điều đó không có nghĩa là, nếu không có bác ái, đặc sủng chẳng ích gì cho ai và chúng bị hư mất; nó chỉ có nghĩa là đặc sủng không ích gì “cho tôi” nhưng luôn hữu ích cho Giáo Hội, ngay cả khi chúng không phục vụ người sở hữu và thực hành chúng.

Thực hành đặc sủng

Điều này đưa chúng ta đến điểm cuối cùng: thực hành cụ thể các đặc sủng. Thánh Phaolô nói: “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách là vì ích chung” (1Cr 12,7). Tôi muốn nhấn mạnh những chữ: “Thần Khí tỏ mình ra”. Vậy đặc sủng là một sự bày tỏ, hoặc thần hiện, của Thần Khí; là sự bày tỏ một phần, nhưng rất xác thực, của Thần Khí (thuật ngữ Hy lạp sử dụng ở đây là thuật ngữ chỉ sự bày tỏ của Đức Kitô trong Tân Ước: phanérosis). Điều vừa nói là rất nghiêm túc: chúng ta vừa quả quyết rằng những đặc sủng, hoặc sẽ hoàn toàn vắng bóng nơi một người, hoặc sẽ tiêu ma nhanh chóng, dĩ nhiên giả thiết là chúng đã hiện diện ngày nào đó, nếu chúng không phải là sự bày tỏ tự ý và gần như phản ánh tự nhiên của Thần Khí, Đấng lấp đầy trái tim và cuộc sống của người đó, nói cách khác, nếu chúng tách biệt và giả tạo trong cuộc đời của người thực hành chúng. Đức Giêsu nói với chúng ta rằng, với các đặc sủng, chúng ta có thể thậm chí bị sa hỏa ngục: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa’ là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: ‘Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri [đặc sủng thứ nhất], nhân danh Chúa mà trừ quỷ [đặc sủng thứ hai], nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ [đặc sủng thứ ba] đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi; xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,21-23).

Làm sao những người nói tiên tri, trừ quỷ, làm được nhiều phép lạ, mà Đức Giêsu lại bảo “xéo đi cho khuất mắt Ta” trong ngày phán xét? Bởi vì những đặc sủng này không phải là sự “bày tỏ” đích thực của một đời sống được Thần Khí Đức Giêsu hướng dẫn; đúng hơn, đó là một sự phô trương Thần Khí, chứ chắc chắn không phải là một sự bày tỏ của Thần Khí. Đây là trường hợp khi người ta lạm dụng các ân huệ của Thiên Chúa vì vinh quang hay lợi ích riêng của mình, mà không chấp nhận những đòi hỏi khắc khổ do chính Thần Khí đặt ra và do Tin Mừng trình bày, được tóm gọn trong từ “thập giá”.

Thế nên, chúng ta phải đi vào viễn tượng hoán cải thực sự, không còn nghĩ về các đặc sủng như những ân huệ đẹp đẽ mà một ngày nào đó sẽ xuất hiện trên cây đời sống chúng ta, nhờ sự tuôn đổ Thần Khí. Trong trường hợp này, cây này sẽ là một cây thông Noel hơn là một cây thật. Tôi đã minh họa trong một dịp khác về sự khác biệt giữa cây thông Noel và cây thật. Nói chung, cây thông Noel là một cây nhỏ bằng nhựa trên đó người ta treo những món quà Giáng sinh và được ném vào thùng rác ngay sau khi món quà được lấy ra và ngày lễ kết thúc. Người Kitô hữu nào có các đặc sủng, nhưng cuộc đời của người đó về cơ bản không ghi dấu Phúc Âm, thì giống như cây nhỏ bằng nhựa không còn hữu dụng ngay khi người ta lấy những món quà đi, sau đó nó bị ném vào thùng rác. Không giống như vậy, người Kitô hữu nào có đời sống như cây mọc bên bờ suối: luôn sinh hoa kết trái đúng mùa và lá cây không bao giờ khô héo (x. Tv 1,3). Chắc chắn, nó sẽ trải qua mùa đông, nghĩa là qua thời gian dường như sẽ không sinh trái nào, và bị tước bỏ mọi sự, nhưng khi mùa xuân đến, nó sẽ bắt đầu đâm chồi trở lại; chính khi người ta không thấy trái của nó, thì nó lại mang nhiều trái nhất.

Thánh Phaolô đã diễn tả đúng tất cả điều đó khi ngài quả quyết rằng các đặc sủng phải là sự thể hiện của một đời sống “theo Thần Khí”; Các đặc sủng chỉ được bảo đảm nơi những ai “nhờ Thần Khí, mà tiêu diệt những công việc của xác thịt” (x. Rm 8,13). Chúng ta hiểu vì sao có nhiều người đã dừng bước trên đường, hoặc thậm chí thụt lùi, sau một khởi đầu rực rỡ trong cuộc Canh tân.

Điều xảy ra trong cuộc Canh tân giống như những gì xảy ra khi người ta nhóm lửa; trước hết, nhóm lửa bằng những vật liệu dễ cháy, chẳng hạn như giấy, rơm hoặc các cành khô. Một khi ngọn lửa đầu tiên đã tàn, thì, hoặc lửa bén vào những mảnh gỗ lớn và sẽ kéo dài đến sáng hôm sau và sưởi toàn bộ ngôi nhà, hoặc nó đã không bén, và khi đó không có gì xảy ra cả. Đó đúng là một thứ “lửa rơm”. Trên bình diện đổi mới thiêng liêng, hoặc ngọn lửa bén tới trái tim và biến trái tim đá thành trái tim thịt, hoặc nó không bén tới trái tim và vẫn ở ngoại vi; trong trường hợp này, nó tàn tạ nhanh chóng, không để lại dấu vết nào.

Nếu trong các nhóm của chúng ta có rất ít “than hồng”, rất ít cuộc đời thực sự được lửa của Thần Khí thâm nhập và cháy lên cho Giáo Hội, thì chính xác là vì điều này: chúng ta đã không để lửa tiếp cận với trái tim. Chúng ta không trải qua cái mà thánh Phaolô gọi là “cắt bì trong tâm hồn” (x Rm 2,29).

Chúng ta phải coi là quan trọng một số quy tắc cơ bản của sự thánh thiện đã được tuân giữ trong cuộc đời các vị thánh đã được Giáo Hội công nhận. Tôi ngạc nhiên, đau khổ và đôi khi run lên vì phẫn nộ, khi nghe thấy anh chị em của cuộc Canh tân nói rằng phải công bố niềm vui phục sinh, không được nói quá đáng về thập giá, từ bỏ mình, để không trở lại với linh đạo cũ quá tập trung vào đau khổ. Tất nhiên, phải thúc đẩy đến tột độ niềm tin và niềm vui phục sinh, nhưng sự cân bằng không hệ tại ở chỗ định mức độ một chút phục sinh và một chút thập giá, là cách nghĩ rất nhân bản. Cân bằng là ở chỗ đưa cả hai đến tột độ: chấp nhận thập giá đến cùng, để trải nghiệm sự phục sinh đến cùng.

Giáo Hội không phủ nhận chính mình, Đức Giêsu không phủ nhận chính mình: trong hai mươi thế kỷ, chính như thế mà các thánh đã nên thánh. Lúc bắt đầu tiến trình thiêng liêng của các ngài, ân sủng được bày tỏ bằng những an ủi và những ân huệ quan trọng, để tách các ngài ra khỏi thế gian, giúp các ngài quyết định dâng mình cho Thiên Chúa. Nhưng sau đó, khi các ngài đã tách khỏi thế gian, Thần Khí đưa các ngài vào “con đường hẹp” của Phúc Âm, con đường hãm mình, vâng phục và khiêm nhường. Chúng ta không hiểu tại sao Chúa lại thay đổi tận căn phương pháp, khi chọn cách thánh hóa con người bằng một con đường khác, con đường đầy lạc thú và kinh nghiệm kích động từ đầu đến cuối. Chúng ta không hiểu tại sao và bằng cách nào Ngài sẽ đưa mọi người đi từ vinh quang này đến vinh quang khác, mà không dẫn dắt họ từ thập giá này đến thập giá khác.

Đức Giêsu đã cứu chúng ta bằng cách vượt từ thập giá này sang thập giá khác và làm nên các thánh bằng cách cũng làm cho họ vượt từ thập giá này sang thập giá khác, cho dù Ngài đã cho các ngài nếm trước niềm vui Phục sinh. Các đặc sủng phải đi kèm với những hoa trái của Thần Khí; và nếu không có những hoa trái này, mọi sự đều nguy hiểm và phải dừng lại để suy nghĩ. Đức Giêsu nói: “Xem quả biết cây”. Hoa quả mà Ngài nói đến là hoa quả của Thần Khí: bác ái, niềm vui, bình an, nhịn nhục, nhẫn nại, khiêm nhường, vâng phục…

Tôi muốn nói thêm một chút về vâng phục. Các đặc sủng phải được thực hiện trong sự vâng phục. Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng các đặc sủng thuộc về những người, nhờ Thần Khí, làm cho các công việc của xác thịt chết đi; vậy là thuộc về những người biết chết đi cho sự tự ái, kiêu căng, nhãn quan về sự việc, thông qua sự vâng phục. Tất cả đều lâm nguy, tất cả đều hàm hồ trong nhóm nào không sống trong bầu không khí vâng phục và phục tùng (đối với người chủ trì cuộc gặp gỡ, hoặc đơn giản là đối với nhau). Tình trạng bè phái và thất vọng xảy ra ngay sau đó. Vâng phục là dấu hiệu giúp ta nhận ra xem một người anh em có được một đặc sủng đích thực hay không; chỉ cần xem người anh em này, trước lời yêu cầu của người có trọng trách, có sẵn sàng rút lui và trình đặc sủng của mình cho cộng đồng hay không.

Làm sao có thể có người trong chúng ta nói: “Người ta hạ nhục tôi, kìm hãm tôi, trong khi tôi cảm thấy Chúa kêu gọi tôi làm việc này việc nọ.” Hỡi người anh em yêu quý, bạn cảm thấy, nhưng bạn không thấy rằng “tình cảm” này làm bạn đi trệch đường. Quan trọng không phải là điều bạn cảm thấy. Những quan trọng là điều Giáo Hội “cảm thấy”. Nếu bạn muốn có những tình cảm này bằng mọi giá, thì giữa anh em với nhau, hãy có những tâm tình như chính Đức Giêsu Kitô, đặc biệt sự vâng phục và khiêm nhường, như thánh Phaolô nói (x. Pl 2,5 tt).

Tôi nói thêm một nhận xét cuối cùng về việc thực hành các đặc sủng: những đặc sủng này không thể đi đôi với tội lỗi. Trước hôm có sự tuôn đổ Thần Khí, đây là điều Chúa yêu cầu nơi bạn: đừng chọn đặc sủng mà bạn định xin (trái lại, tốt hơn là đừng đòi hỏi gì và để cho Thần Khí tự do phân phát các ân huệ của mình “như Ngài muốn”). Điều thực sự quan trọng là dâng lên Chúa một trái tim thống hối và khiêm nhường, một trái tim không còn dính bén với tội lỗi. Hạnh phúc cho bạn, nếu ngày đó, trong một lúc tĩnh tâm, bạn có thể nói với Đức Giêsu: “Lạy Chúa, con đã hiểu đâu là gốc rễ thật sự của tội lỗi con, dây ràng buộc còn ngăn cản con hoàn toàn tự do đến với Chúa; chính vì vậy, dù rất run sợ vì sự yếu đuối của mình, nhưng tin tưởng vào ơn Chúa, con xin thưa: không có điểm chung nào giữa con và tội lỗi đó. Con nói: đủ rồi! Con dứt khoát cắt đứt với tội lỗi của con!”

Nhân nói về tội, cho phép tôi kêu lên một tiếng thiết tha chưa được nói ra, đã từ lâu âm ỉ trong lòng tôi. Trong các nhóm, nơi một số anh em, có những điều dối trá; có những tình huống mà người ta có vẻ đang đùa cợt với Thiên Chúa. Thánh Phaolô nói: “Thiên Chúa không để cho người ta nhạo báng đâu” (Gl 6,7). Thế mà, có những người dường như đã không hiểu rõ Thiên Chúa coi tội lỗi nghiêm trọng đến mức nào. Tôi không nói về những tội lỗi mà tất cả chúng ta đều phạm, xảy ra bất ngờ với chúng ta và cuối cùng chúng ta đã ăn năn và xưng thú; tôi nói về “tình trạng tội lỗi”, về những tình huống đã được định nghĩa là những tình huống đoạn giao nghiêm trọng với Thiên Chúa và với Giáo Hội, tuy nhiên lại không ngăn cản anh em sống yên hàn và tham gia vào buổi gặp gỡ cầu nguyện hàng tuần. Thật khủng khiếp: thư Do thái khẳng định ai sống trong loại tội lỗi này “là đã tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa, và đã công khai sỉ nhục Người” (x. Dt 6,6). Người nào cư xử như vậy và tham gia nhóm cầu nguyện mà không chút ăn năn, là người sẽ vỗ tay và ca ngợi Đức Kitô là Chúa, trong khi trong lòng người đó đang đóng đinh Ngài một lần nữa. Nếu trong chúng ta có những trường hợp như vậy, tôi hết sức khuyên những anh em này hãy ăn năn và xưng tội! Cư xử như một kẻ giả hình che giấu tội mình, như vậy quá đủ rồi! “Hôm nay, nếu anh em nghe tiếng Người, anh em đừng cứng lòng!”

Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một tâm hồn thống hối và khiêm nhường, giúp chúng con cắt đứt mọi liên hệ với tội lỗi cố ý, để Chúa có thể đổ xuống trên chúng con Thần Khí của Chúa và cho chúng con được phong phú bằng những ân huệ của Ngài, vì sự vinh quang của Chúa Cha và để gây dựng Hội Thánh Chúa. Amen.


9. BẤY GIỜ CÁC ÔNG SẼ BIẾT LÀ TÔI HẰNG HỮU

Ngay trước lễ Phục Sinh, tôi đang cử hành Thánh Thể trong một đan viện; trong bài Phúc Âm hôm ấy, Đức Giêsu nói: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy” (Ga 8,28).

Sự kiện những từ “Tôi Hằng Hữu” được viết bằng chữ hoa trong sách bài đọc đã làm tôi choáng váng và đột nhiên tôi được soi sáng. Những từ này “dội lên” trong tâm hồn tôi và từ ngày đó, tôi nghe chúng vang vang bên trong và bên ngoài tôi, trong thời gian và ngoài thời gian, như một giai điệu uy nghi và trọng thể: đó là tiếng kêu của Đấng Phục Sinh công bố: “Tôi Hằng Hữu, Tôi Hằng Hữu!” Đó đã là lễ Phục Sinh thực sự của tôi. Giờ đây tôi cảm thấy được thúc đẩy phải làm cho cả anh em nữa, anh em cũng nghe thấy tiếng kêu này. Nhân danh Đức Giêsu tôi kêu to cho mọi người: “Epheta! Hãy mở ra! Hãy mở ra để đón nhận tiếng kêu cứu thoát anh em”. Tiếng kêu chứng minh chân lý về mọi sự, vì chân lý về mọi sự là: Thiên Chúa “là”, còn con người “không là”; Thiên Chúa là tất cả và con người không là gì hết nếu không có Thiên Chúa.

Tôi xác tín rằng tiếng kêu của Đấng Phục Sinh: “Tôi Hằng Hữu” có điều gì đó quan trọng để nói với chúng ta, những thành viên của cuộc Canh tân, vào lúc đặc biệt này trong lịch sử của chúng ta. Nhưng trước tiên, chúng ta hãy cố gắng hiểu rõ hơn ý nghĩa của tiếng kêu này dưới ánh sáng của Phúc Âm Gioan và của tất cả Kinh Thánh.

Kiểu nói “Tôi Hằng Hữu” thường được Đức Giêsu nói trong Phúc Âm Gioan, và hầu như luôn đưa về biến cố thập giá: “Khi các ông giương cao Con Người lên”, có nghĩa là: khi các ông đóng đinh Ngài, “khi đó các ông sẽ biết Tôi Hằng Hữu!” Người ta có thể nói rằng toàn bộ Phúc Âm Gioan là một bước chuẩn bị lâu dài cho cảnh đồi Canvê; tất cả đều hướng về “giờ” này, bắt đầu bằng câu hô lên của Gioan Tẩy Giả: “Đây Chiên Thiên Chúa” (x. Ga 1,29). Chương 13 cũng của Phúc Âm này viết: “Thầy nói với anh em điều đó ngay từ lúc này, để khi sự việc xảy ra, anh em tin là Thầy Hằng Hữu” (Ga 13,9). Trong chương 18, khi Đức Giêsu bị bắt, tác giả sách Phúc Âm thuật lại cuộc đối thoại này: “Các anh tìm ai?” Họ đáp: “Tìm Giêsu Nadaret”. Người nói: “Chính tôi đây!” (bản gốc bằng tiếng Hy lạp luôn dùng cùng một kiểu nói: “Ego eimi”, “Tôi Hằng Hữu”). Khi Người vừa nói: “Chính tôi đây! Thì họ lùi lại và ngã xuống đất” (Ga 18,6). Chính vì những từ này, Tôi Hằng Hữu, mà kẻ thù của Ngài lùi lại và ngã xuống đất: sức mạnh như sét đánh của Hữu Thể thần linh, ngay khi Thiên Chúa cho Ngài được tự do biểu lộ!

Thế nhưng có gì mầu nhiệm trong những từ này? Tại sao chúng bắt đầu bằng chữ hoa trong các Phúc Âm? Cuối cùng, đây là về một chủ ngữ “tôi” và một vị ngữ “là”, tức là về một mệnh đề sơ đẳng của ngôn ngữ con người, đơn giản như bánh mì trong lãnh vực dinh dưỡng. Mầu nhiệm ở chỗ: “Tôi Hằng Hữu” là danh xưng của Thiên Chúa và trong danh xưng, theo Kinh Thánh, ẩn chứa mầu nhiệm con người và quyền năng của Ngài. Con người chúng ta không bao giờ nói hai từ này một mình; chúng ta nói: “Tôi là đàn ông, tôi là phụ nữ, tôi mệt mỏi, v.v.”, không bao giờ cụt ngủn: “tôi là”. Chỉ mình Thiên Chúa có thể nói như vậy, không buộc phải thêm bất cứ điều gì.

Thiên Chúa nói với Môsê: “Ta là Đấng Hiện Hữu”; và Ngài thêm: “Ngươi nói với con cái Israel thế này: Đấng Hiện Hữu sai tôi đến nói với anh em” (x. Xh 3,14tt). Ý nghĩa danh xưng này của Thiên Chúa là: “Ta là Đấng thực sự hiện hữu, Đấng có đó, Đấng hằng sống, Đấng cứu độ”; tất cả những điều đó đối nghịch với các thần tượng, những thần tượng này, ngược lại, không có uy tín nào bên ngoài suy nghĩ của con người.

Nhưng chúng ta hãy nghe chính Thiên Chúa giải thích tên mình thế nào trong một số đoạn Kinh Thánh. Trong bài ca của Môsê, trong sách Đệ nhị luật, chúng ta đọc: “Đâu rồi các thần của chúng? […] Bây giờ hãy coi đây: Ta chính là Ta, bên cạnh Ta, chẳng có thần nào khác!” (x. Đnl 32,37.39). Trong Isaia, Thiên Chúa hô lên với sức mạnh tương tự: “Há chẳng phải Ta, chẳng phải Đức Chúa. Ngoài Ta ra không có thần nào nữa, chẳng có thần công minh cứu độ, ngoại trừ Ta [..] vì Ta là Thiên Chúa, chẳng có chúa nào khác… (Is 45,21-23). Chỉ một Đấng trong toàn thể vũ trụ có thể tập hợp những từ này: “Ta là Thiên Chúa Hằng Hữu.” Tiên tri Amos nói về Thiên Chúa: “Sư tử đã gầm lên, ai mà không sợ hãi?” (x. Am 3.8). Đó là những tiếng gầm thét của sư tử làm rung chuyển trời đất. Tiếng gầm thét này đã quăng Satan xuống: “Ai bằng Thiên Chúa?” Tôi rất thích một câu trong Thánh vịnh 46: “Dừng tay lại: Hãy biết Ta đây là Thiên Chúa” (Tv 46,11). Thiên Chúa như người cha mời gọi chúng ta “dừng lại” (bản Phổ thông cũ nói “Hãy dành một thời gian nghỉ ngơi”, vacate) để khám phá điều duy nhất thực sự quan trọng là biết rằng Ngài là Thiên Chúa.

Khi Đức Giêsu công bố “Tôi Hằng Hữu”, Ngài áp dụng cho mình Tên của Thiên Chúa; như thể Ngài nói, “Tôi là Thiên Chúa! Ngài, Đấng “thừa hưởng muôn vật muôn loài” (x. Dt 1,2; Mc 12,7), trước hết Ngài thừa hưởng Tên của Cha mình. Yêu cầu của Ngài mang Tên của Thiên Chúa dựa trên một yếu tố có trước, là sự tiền hữu của Ngài với tư cách Ngôi Lời: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời” (Ga 1,1); Quả thực Đức Giêsu có lần đã nói: “Trước khi có ông Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,58). Nhưng rất thường thì tước hiệu này dựa trên một biến cố sẽ đến, biến cố Vượt Qua: Khi các ông giương cao Con Người lên…” Nhưng giữa hai biến cố có một sự khác biệt lớn: sau Phục Sinh, Đức Giêsu là “Đấng là”, không chỉ là Ngôi Lời Thiên Chúa, mà còn là một con người; đó là sự thật lạ lùng: một người chia sẻ chính tên của Thiên Chúa.

Đức Giêsu Nadaret chỉ mạc khải chân tính thực sự của mình trên thập giá. Nhưng làm sao có thể như thế được? Trên thập giá, Đức Giêsu là “Đấng không là”, “một con sâu chứ không phải một con người”, “một người mà trước mặt người đó người ta giấu mặt […]”. Mầu nhiệm chính xác là ở đó. Hữu thể của Đức Giêsu hoàn toàn dựa trên thái độ không là gì hoặc không làm gì cả, phụ thuộc vào Chúa Cha theo cách hoàn toàn và tuyệt đối: “Bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy” (Ga 8,28). Đức Giêsu là “Tôi Hằng Hữu” vì Ngài vâng phục. Vì Ngài “vét rỗng” chính mình và đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban cho ngài danh hiệu (x. Pl 2,6tt). Danh hiệu gì vậy? Không chỉ danh hiệu Giêsu, mà còn nhiều hơn thế: Chúa, Kyrios, Adonai; danh hiệu không thể thốt ra: Yahve, Đấng là!

Ngài trao Thần Khí

Giờ đây chúng ta sẽ đi theo Gioan, người sẽ dẫn chúng ta lên đồi Canvê để chiêm ngưỡng lúc mà tất cả những điều đó được hoàn tất. Đức Giêsu đã nói: “Khi các ông giương cao Con Người lên …”: thì đây, cuối cùng, Con Người đã được giương lên; điều gì lại xảy ra nữa đây? Trong Phúc Âm Gioan, chương 19, câu 30, chúng ta đọc: “Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí”. Chính là nơi phát sinh Thánh Thể; chính đó là nguồn gốc, nếu chúng ta muốn đi ngược lên dòng sông không gián đoạn của tất cả mọi Thánh lễ - hai ngàn năm Thánh lễ - để xem dòng sông Thánh Thể này đã vọt ra từ “tảng đá” nào, thì nó ở ngay trước mắt chúng ta: “Họ cùng uống nước chảy ra từ tảng đá linh thiêng vẫn đi theo họ; tảng đá ấy chính là Đức Kitô” (1Cr 10,4). Từ tảng đá này vọt ra “thức uống thiêng liêng” là Chúa Thánh Thần, Đấng ban các bí tích, và ban mình qua các bí tích. Câu “Ngài trao Thần Khí” có một nghĩa kép, như thường thấy nơi thánh Gioan: một nghĩa tự nhiên và một nghĩa thần bí. Trên bình diện tự nhiên, điều đó có nghĩa là: “Ngài đã trút hơi thở cuối cùng, Ngài thở hắt ra; trên bình diện thần bí, thì có nghĩa là: “Ngài trao Chúa Thánh Thần”. Hơi thở cuối cùng của Đức Giêsu là hơi thở đầu tiên của Giáo Hội, hơi thở này bắt đầu có vào chính lúc này. Nó được tượng trưng bằng nước và máu, mà, ngay sau đó, vọt ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô.

Có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa “Tôi Hằng Hữu” của Đức Kitô và sự tuôn đổ Thần Khí; cả hai tùy thuộc vào sự kiện Ngài được giương cao trên thập giá. Gioan nói: “Thật thế, bấy giờ họ chưa nhận được Thần Khí, vì Đức Giêsu chưa được tôn vinh” (Ga 7,39). Điều đó có nghĩa là Đức Giêsu “là”, Ngài là Chúa, vì Ngài ban Thần Khí. Việc trao ban Thần Khí cho thấy Ngài “là”, Ngài là Đấng Hằng Sống, Ngài “sống trong Thần Khí” (x. 1Pr 3,8), hoặc “sống theo Thần Khí” (x. Rm 1,4). Đức Giêsu thực hiện quyền làm chúa và sự cứu độ trong Thần Khí; Chúa, Đấng Cứu Chuộc, Đấng Cứu Độ, nơi Ngài không phải là những tước hiệu pháp lý trừu tượng hay những ký ức thuần túy về các biến cố đã qua, nhưng là những thực tại sống động và hiện tại. Giờ đây, Đức Giêsu là Chúa của tôi vì Ngài hoạt động trong tôi, trong Giáo Hội, trong thế giới: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta, đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta” (1Ga 4,13). Như vậy, “Tôi Hằng Hữu” được bao bọc bằng tình yêu, vì Đức Giêsu xuất hiện như một Đấng “là cho chúng ta”, Đấng yêu thương chúng ta.

Hiện hữu trong Đức Giêsu Kitô

Giờ đây chúng ta phải thực hiện bước quyết định, đi sâu hơn vào mầu nhiệm này, chuyển từ chiêm niệm sang bắt chước. Đức Giêsu đã trở thành “Tôi Hằng Hữu” bằng cách trải qua việc chối bỏ chính mình, qua sự vâng phục hoàn toàn nhất. Tôi cũng phải làm như vậy; phải trải qua việc chối bỏ chính mình, sự “không là” (non-être) của mình, để cuối cùng có thể thực sự là (être vraiment). Nhưng là ai, là cái gì? Phải chăng là một cái tôi mới, mạnh mẽ hơn? Không phải! Để Đức Giêsu “là” trong tôi, tôi phải không là. Để Đức Giêsu là “Tôi Hằng Hữu” cho tôi, tôi phải nhỏ đi và Ngài phải lớn lên, như thánh Gioan Tẩy Giả nói. Cuối cùng, tôi phải có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20).

Nhận thức bản thân, tìm thấy nhân cách của mình: đây là những từ khóa trong văn hóa thế giới ngày nay. Nhưng trong những lời này lại vang lên tiếng rít của con rắn xưa: “Ông bà sẽ […] ông bà sẽ nên giống Thiên Chúa”, tức là độc lập với tất cả, không cần phải cảm ơn bất cứ ai về những gì mình đang là. Chủ nghĩa vô thần đang lan tràn khắp nơi trên thế giới đặc biệt phát xuất từ gốc rễ độc hại này.

Nhưng Đức Giêsu đã mạc khải cho chúng ta con đường dẫn đến thành công, một con đường chống lại con đường do con rắn đề nghị. Ngài đã cho thấy một cây khác mà những hoa trái của nó làm cho chúng ta trở nên “giống Thiên Chúa”: cây thập giá, cây của sự vâng phục, của ý muốn không sống cho chính mình. Kitô hữu là những người “hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu”. Thánh Phaolô viết: “Chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Đức Kitô Giêsu (1Cr 1,30); “Bình an cho anh em, những người đang sống trong Đức Kitô” (1Pr 5,14). Hiện hữu trong Đức Kitô, không phải trong chúng ta, có nghĩa là hiệp thông với chính Hữu Thể của Đức Giêsu.

Điều này phải khơi dậy trong lòng chúng ta một khát vọng lớn lao là không còn sống cho chính mình nữa, tách “cái Tôi” khủng khiếp của chúng ta ra khỏi những gì chúng ta nói và làm, đến độ coi “cái Tôi” này gần như một “người thứ ba” và nói: “cái Tôi nói, cái Tôi làm…” thay vì “tôi nói, tôi làm…” Mong muốn bỏ qua “cái Tôi” này để quan tâm đến “cái Tôi” đích thực của chúng ta, là “cái Tôi” của Đức Kitô. Mong muốn giết chết “con sâu” làm hư tất cả các hoa quả của chúng ta…

Một lời cho cuộc Canh tân

Ngay từ đầu tôi đã nói rằng “Tôi Hằng Hữu” của Đức Giêsu có điều gì đó muốn nói với cuộc Canh tân vào lúc này, chúng ta sẽ xem nói về vấn đề gì. Không khó: chỉ cần khám phá xem, đối với cuộc Canh tân, cám dỗ “ăn trái cây cho biết điều thiện điều ác” ẩn núp chỗ nào. Để cho lời Chúa tra vấn và xét xử chính là một dấu chỉ cho thấy sức khỏe tốt và sức sống. Cần phải có can đảm để Chúa khiển trách mình: “Khi Chúa xét xử là Người sửa dạy chúng ta, để chúng ta khỏi bị kết án cùng với thế gian” (1Cr 11,32). Chúng ta thoát khỏi sự xét xử của Thiên Chúa không phải như người thắng cũng không phải như kẻ thua: chỉ có lời Chúa mới chiến thắng. Vì vậy, chúng ta hãy hạ mình xuống dưới bàn tay quyền năng của Thiên Chúa, để Ngài được tôn vinh và để Ngài tôn vinh chúng ta khi nào Ngài muốn.

Sự cám dỗ ăn trái cây biết điều thiện điều ác hệ tại ở chỗ - đối với cuộc Canh tân - muốn là một cái gì đó cho chính mình, muốn nhìn vào chính mình, muốn thống kê, muốn tránh nhìn mặt trời để nhìn vào cái bóng. Khi cuộc Canh tân nhìn vào chính nó - khi tranh luận về chính nó, khi tự vệ - nó nhìn vào cái bóng chứ không nhìn vào mặt trời là Đức Giêsu Kitô là Chúa. Vào chính lúc này, chúng ta có thể là một cộng đoàn nhìn vào mặt trời, hoặc một cộng đoàn nhìn vào cái bóng.

Thánh Phaolô đã viết: “Những gì thế gian cho là hèn mạt không đáng kể, là không có, thì Thiên Chúa đã chọn để hủy diệt những gì hiện có” (1Cr 1,28): vấn đề là xem cuộc Canh tân có muốn là cái “không đáng kể” này về phương diện nhân bản, mà Thiên Chúa có thể sử dụng để “hủy diệt những gì hiện có”; hoặc xem nó muốn trở thành một trong những gì “hiện có”, “đáng kể”, làm cho tiếng nói của nó được nghe, tạo thành một sức mạnh về con số và tổ chức, quan trọng về phương diện xã hội học, nhưng bị Thiên Chúa thẳng tay hủy diệt.

Thật không may, phải nói rằng có một cái gì đó không thể tránh khỏi ở đây. Một khi đi vào lịch sử và được giao cho con người, công việc của Thiên Chúa - tất cả công việc của Thiên Chúa - có xu hướng ngày càng trở nên của con người hơn; lời tiên tri có xu hướng trở thành định chế. Đây là những gì đã xảy ra trong giáo đoàn Galat.

Tuy nhiên, điều đó không ngăn cản được thánh Tông Đồ - và cả chúng ta nữa - đau buồn mà kêu lên: Sớm vậy sao? Anh em đã có đủ công việc để bước đi trên những dòng nước đức tin tinh tuyền, thế mà tất cả anh em lại bị những công việc chi phối sao? Công việc của anh em thuộc về anh em! “Hỡi những người Galat ngu xuẩn, ai đã mê hoặc anh em […] Anh em ngu xuẩn như thế sao? Anh em đã khởi sự nhờ Thần Khí, nay lại kết thúc nhờ xác thịt sao? Bấy nhiêu kinh nghiệm anh em đã trải qua, lại uổng công sao?…” (Gl 3,1tt).

Thành thật mà nói, tôi không biết “kết thúc trong xác thịt” có nghĩa gì trên bình diện cụ thể, chúng ta sẽ phải cùng nhau khám phá nó; nhưng tôi biết nguy hiểm này có thực, đe dọa tất cả cuộc Canh tân, và không chỉ ở Ý. Chính vì thế, giống như một lính canh, tôi lên tiếng báo động để ngày nguy hại ít nhất được đẩy lui: Thiên Chúa vẫn là Chúa duy nhất, là chủ duy nhất nơi chúng ta, càng lâu càng tốt, Ngài phải được tôn vinh, “chỉ mình Ngài mà thôi”.

Đôi khi tôi tự hỏi Đức Giêsu thích gì trong một số nhóm cầu nguyện của chúng ta hoặc trong những mầm non của cộng đồng đang phát triển hầu như khắp nơi trong cuộc Canh tân, đến độ bày tỏ ở đó nhiều quyền năng và những điều kỳ diệu. Và tôi đã có cảm tưởng rằng bí mật khiến cho Thiên Chúa mến họ là sự nghèo khó tuyệt đối của họ, sự kiện khiến họ không có quá khứ cũng không có tương lai. Họ gần như “không là gì”, giống như một số hình thức sống ra đời buổi sáng và biến mất buổi chiều, giống như một đám mây âm thầm tan biến trên bầu trời sau khi trút hết nước xuống trái đất.

Các dòng tu truyền thống có một quá khứ, thường vinh quang; những tu hội gần đây nhất (những tu hội đời, những phong trào giáo hội) có một tương lai, và đôi khi họ ý thức được điều đó. Trong số những sự việc lớn và vững chắc (được Thiên Chúa yêu thương và sử dụng cho việc tốt), Chúa tìm kiếm một sự việc khác rất nhỏ bé, mà Ngài có thể có sao sử dụng vậy, không cần phải lo lắng cả quá khứ lẫn tương lai của nó. Ngài tìm kiếm một sự việc giúp Ngài chỉ trong một khoảnh khắc, một sự việc cho không, không muốn là gì cả, không đòi hỏi gì bù lại, vì đã làm cho Chúa hạnh phúc và cho phép quyền năng và sự sáng tạo của Ngài rạng rỡ trên thế giới.

Cuộc Canh tân trong Thần Khí có muốn là sự việc rất nhỏ bé này, nhưng làm cho Thiên Chúa hài lòng chăng? Có muốn là dụng cụ này (một dụng cụ chẳng là gì) trong tay toàn năng của Ngài chăng? Này nhé, khi đó đừng lo “sắp xếp công việc”, bảo đảm cho cuộc Canh tân một tương lai trong số các thực tại của Giáo Hội hôm nay; đừng quan tâm tới những thống kê.

Chính tương lai của Giáo Hội phải được chúng ta coi là đủ; tương lai ấy đã được bảo đảm và đủ cho mọi người. Chính Giáo Hội phải đáp ứng đủ cho chúng ta ở cấp độ tổ chức. Về phía chúng ta, trong mức độ có thể, chúng ta hãy tìm cách duy trì lời tiên tri cho Giáo Hội. Chúng ta hãy tiếp tục kín múc tất cả những gì cần để sống sự sống của Thần Khí (các bí tích, quyền bính, thừa tác vụ, học thuyết) trực tiếp trong Giáo Hội, đặc biệt trong Giáo Hội địa phương, mà không đặt những rào cản hoặc cơ cấu trung gian. Chúng ta hãy tiếp tục trút tất cả những gì chúng ta là, cho dù những cái đó không đáng kể, trực tiếp vào trung tâm của đời sống là Giáo Hội. Tất cả điều này làm trong thinh lặng, hoặc công khai nếu có thể hoặc nếu đòi chúng ta làm như thế. Chúng ta hãy tìm cách trở thành đám mây nhỏ sẵn sàng tan đi, khi đã trút hết nước xuống trên Giáo Hội.

Đôi khi tôi quan sát những gì đang xảy ra trong các tu hội và các dòng tu, những thực thể có cả một quá khứ phải quản lý. Một phần lớn năng lực của họ (đôi khi thậm chí toàn bộ năng lực) dấn thân vào việc duy trì và đổi mới dòng (các nhà và công việc phải điều hành, các thỉnh sinh phải đào tạo…); Chỉ còn đôi chút sự việc trực tiếp đổ vào kho tàng của toàn thể Giáo Hội. Người ta không yêu cầu chúng ta “tích lũy vốn”: chúng ta phải hao tốn tất cả để làm lợi cho Giáo Hội và làm điều đó ngay lập tức.

Có hôm, ngay sau cuộc gặp gỡ của tôi với công cuộc Canh tân, tôi đã cầu nguyện và những suy nghĩ rất chính xác xuất hiện trong trí; Tôi có ấn tượng khi nhìn thấy những gì Chúa đang làm trong Giáo Hội qua cuộc Canh tân. Tôi lấy một mảnh giấy, cầm bút ghi chú một vài suy nghĩ khiến tôi ngạc nhiên, vì chúng không phải là kết quả của bất cứ suy niệm nào. Những suy nghĩ ấy cho biết: “Chúa Cha muốn tôn vinh Con mình là Đức Giêsu Kitô trên thế gian theo một cách mới, bằng một phát minh mới. Chúa Thánh Thần chịu trách nhiệm về sự tôn vinh này, vì có lời chép: “Ngài sẽ tôn vinh tôi và chính từ điều tốt đẹp của tôi mà Ngài sẽ nhận được.” Một đời sống Kitô giáo hoàn toàn tận hiến cho Thiên Chúa, không có người sáng lập mới, không có quy luật mới, không có hội dòng mới. Người sáng lập là Đức Giêsu. Quy luật là Phúc Âm, được Chúa Thánh Thần diễn giải. Hội dòng là Giáo Hội. Không phải lo lắng cho tương lai. Đừng tìm cách làm những việc còn lại, tham gia vào các cơ quan được công nhận, là những cơ quan trường tồn nhờ những người kế vị… Đức Giêsu là người sáng lập không bao giờ chết, vì vậy Ngài không cần người kế vị. Phải để Ngài làm mọi việc luôn luôn mới mẻ, ngay cả trong tương lai. Chúa Thánh Thần cũng sẽ ở trong Giáo Hội ngày mai!”

Để không phải “kết thúc trong xác thịt”

Chúng ta có thể chỉ ra những nguy hiểm đáng đề phòng và trên thực tế, chúng có thể đưa chúng ta trở lại với những thói quen cũ và khiến chúng ta “kết thúc trong xác thịt”. Nguy hiểm lan rộng nhất là muốn “thuần hóa” công cuộc Canh tân và chính Thần Khí. Nhờ cuộc Canh tân, người ta - mỗi người theo cách riêng của mình - đã cảm nghiệm được sự thánh thiện của Thiên Chúa như “lửa thiêu hủy”. Người ta thậm chí có thể nói rằng cuộc Canh tân Đặc sủng trong Giáo Hội công giáo phát sinh từ một kinh nghiệm như kinh nghiêm đó. Một trong những người tham gia vào cuối tuần nổi tiếng ở Duquesne đã mô tả kinh nghiệm sống của nhóm tụ tập trong nhà nguyện: “Sự kính sợ Chúa đã tác động mạnh đến chúng tôi; một loại khủng bố thánh ngăn cản chúng tôi nhìn lên. Ngài ở đó, hiện diện cá nhân và chúng tôi sợ không thể chịu đựng được tình yêu thương như vậy. Chúng tôi đã tôn thờ Ngài, lần đầu tiên khám phá ra ý nghĩa của việc tôn thờ. Chúng tôi đã có một kinh nghiệm nóng bỏng về thực tại đáng sợ và sự hiện diện của Chúa. Từ đó chúng tôi đã hiểu theo một cách mới những hình ảnh về Đức Chúa, Đấng, trên núi Sinai, đến trong sấm sét và vang lên từ ngọn lửa của Hữu Thể Ngài, cũng như kinh nghiệm của Isaia và câu nói rằng “Thiên Chúa chúng ta là “lửa thiêu hủy”. Nỗi sợ thánh này, cách nào đó, cũng giống như tình yêu, ít nhất đó là cảm tưởng của chúng tôi. Đó là một cái gì đó vô cùng đáng yêu và đẹp đẽ, mặc dù không ai trong chúng tôi đã nhìn thấy bằng một hình ảnh nhạy cảm. Như thể thực tại ngôi vị của Thiên Chúa, rực rỡ và chói lọi, đã xuống trên căn phòng này để lấp đầy nó và cùng lúc lấp đầy chúng tôi.[48]

Nhưng con người không thể ở yên lâu trong một bầu không khí như vậy và trước mặt một sự hiện diện như vậy, một sự hiện diện xét xử mọi sự và tiết lộ mọi sự. Do đó, con người kêu lên như Isaia: “Ai trong chúng ta ở gần được lửa thiêu? Ai trong chúng ta ở gần được hỏa hào muôn kiếp?” (Is 33,14). Không thể chịu đựng được lửa thiêu này, con người tội lỗi làm gì? Anh ta thuần hóa nó, che mình đi, tránh xa nó. Anh xoay sang những sự việc anh ít ngán hơn. Ngọn đèn như vậy được đặt “dưới đáy thùng” của các lời nói và các sáng kiến của con người. Dần dần, con người dành lại thế thượng phong bằng cách hoạt động uổng công. Khi đó phát sinh giai đoạn ý thức hệ: người ta quan tâm đến những ý tưởng về sự việc hơn là chính sự việc. Một điều rất có ý nghĩa là thấy rằng lúc đầu, từ khi hai hoặc ba anh em tham dự cuộc Canh tân đã ở bên nhau, bắt đầu cầu nguyện; Bây giờ, trong tình huống tương tự, rất thường khi họ bắt đầu nói về tầm quan trọng của lời cầu nguyện! Sự khác biệt về thái độ này dường như không quá lớn, nhưng thực ra lại rất lớn!

Trong giai đoạn này xuất hiện một thứ vụ hình thức: chúng ta làm những việc tương tự như trước đây, nhưng không có sức mạnh của ngày xưa, bởi vì bên trong chúng ta không có Thần Khí và sự sống. Ở cả hai bờ đại dương, chúng ta đều thấy mệt mỏi và “kiệt sức” như nhau. Đôi khi tôi có ấn tượng rằng Mẹ Maria theo dõi các buổi nhóm cầu nguyện của chúng ta và Mẹ hơi buồn mà nói với Con Mẹ, khi Mẹ lặp lại lời kêu cầu tại Cana xứ Galilê: “Họ hết rượu rồi!”

Chúng ta phải đấu tranh, để không phải kết thúc trong xác thịt; đấu tranh để trả lại cho Thiên Chúa quyền năng của Ngài. Bất cứ sự xâm nhập nào của xác thịt mà chúng ta thấy nơi chúng ta, đều không phải là một thất bại, nhưng đúng hơn, là một chiến thắng, bởi vì đánh bật kẻ thù là đã đánh bại chúng. Đó là một hành động giải phóng mà lời Chúa đang thực hiện.

Một cách đặc biệt “kết thúc trong xác thịt” là tính ngoại tại. Qua thuật ngữ này, tôi không nói đến việc giơ tay lên hoặc một kiểu cách nào đó, những cử chỉ đi kèm với lời cầu nguyện của chúng ta, nhưng đến một sự quan tâm quá mức về hình ảnh bên ngoài của chúng ta, về những gì người ta nói hoặc nghĩ về chúng ta; hoặc, tôi nghĩ đến việc công khai hóa (và ngay lập tức) tất cả những gì Chúa làm tốt ở trong lòng mỗi người hoặc trong nhóm, ngay cả khi là về những việc hẳn là tốt nếu giữ thận trọng, vì chúng là “bí mật của nhà vua”. Đôi khi phải nhớ lại một số lời của Đức Giêsu, chẳng hạn: “Đừng khua chiêng gióng trống…” hoặc “Đừng cho tay trái biết việc tay phải làm.” Sự kiện việc gì cũng công khai hóa (trừ những việc có thể hoặc phải minh chứng để góp phần vào việc xây dựng mọi người) làm cho những công việc của Thần Khí chịu cùng số phận như những hạt giống gieo vãi trên đường: Những con chim sà xuống và mang chúng đi mất. Và chúng ta biết ai là những con chim này…

Cách hành xử này rất thường phát xuất từ những ý định tốt: ý định làm cho mình được biết đến trong Giáo Hội, ý định làm chứng cho những điều kỳ diệu của Chúa. Nhưng đó là bước đi khó khăn. Sự quý trọng và chấp thuận của Giáo Hội - của Giáo Hoàng và các giám mục - là một điều tốt, là một quà tặng của Thiên Chúa; không thể thiếu nó nếu chúng ta muốn hành động trong sự hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội và nếu chúng ta muốn chắc chắn đi đúng đường. Nhưng mong muốn và tìm kiếm quá mức sự quý trọng và chấp thuận đó có thể không còn tốt nữa; việc đó có thể tương đương với việc “tìm cách lấy lòng người đời hơn là Thiên Chúa”, điều mà thánh Phaolô khiển trách người Galat (x. Gl 1,10). Thánh Phaolô viết cho tín hữu Rôma: “Bạn muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được họ khen ngợi” (Rm 13,3). “Hãy làm điều thiện” là điều liên hệ đến chúng ta. Sự kiện nhận được lời khen ngợi chỉ đến sau và không tùy thuộc vào chúng ta. Không được tìm cách thấy khói trước khi thấy lửa: chúng ta được kêu gọi quan tâm đến “lửa” trong Giáo Hội, chứ không phải khói; đến vinh quang của Thiên Chúa, chứ không phải danh tiếng của chúng ta! Chúng ta hãy nhớ những lời của Đức Giêsu và sống theo lời đó: “Tôi không tìm vinh quang cho mình. Có Đấng tìm cho tôi và xét xử cho tôi” (Ga 8,50), Đấng ấy là Chúa Cha.

Một cách khác “kết thúc trong xác thịt” đang đe dọa chúng ta là cám dỗ muốn làm mọi sự, trở thành một sức mạnh của Giáo Hội bao trùm mọi lãnh vực, hiện diện trong mọi khâu. Có những anh em muốn - với thiện ý - rằng cuộc Canh tân chăm lo cho các công trình văn hóa xã hội, công việc thiện nguyện, trường học, thanh thiếu niên, ma túy… Kinh nghiệm của Giáo hội cho thấy bình thường đây là cách tốt nhất san bằng các dòng tu khác nhau, tước đi đặc sủng riêng của họ, và như vậy, tước đi sức mạnh nguyên thủy của họ. Cuối cùng - như đôi khi xảy ra ngày nay - mọi dòng tu đều làm cùng một việc và các dòng tu chiêm niệm hầu như không phân biệt được với các dòng tu hoạt động. Đây cũng là một cám dỗ kiêu ngạo: muốn là mọi sự và làm mọi sự!

Một hôm, hồi thánh Phanxicô còn sinh tiền, các bề trên (“ministres ou supérieurs) đã cùng đi với một Hồng y đến gặp ngài. Họ thúc giục ngài đưa những quy tắc phải giữ rút ra từ các quy luật của thánh Bênêđictô, thánh Augustinô và thánh Bênađô vào trong “Dòng Anh Em Hèn Mọn”, để làm cho cuộc sống của các anh em được “trật tự” hơn và việc học của họ nghiêm túc hơn. Người Nghèo cầm tay vị Hồng y, dẫn đến trước hội đồng anh em đang tập trung trong tổng tu nghị và kêu lên: “Thưa các anh em, những người anh em của tôi, xin hãy nghe; Thiên Chúa đã kêu gọi tôi đi theo con đường đơn sơ. Ngài đã cho tôi thấy tôi phải giống như một người điên mới trên thế giới! Ngài sẽ làm anh em bẽ mặt vì sự thông thái của anh em […] và khi đó anh em sẽ xấu hổ mà trở lại với ơn gọi của mình”[49]; Thánh Phanxicô coi trọng các dòng tu khác, đến độ xét rằng, đối với một số nhiệm vụ, Giáo Hội đã chuẩn bị những gì phải có và do đó không cần phải thiết lập một loại cạnh tranh.

Ai biết đâu rằng Thiên Chúa kêu gọi đổi mới, và tất cả chúng ta, những người đang sống nó, phải là “những người điên mới” trên thế giới; những người điên có sự điên rồ đặc biệt mà thánh Phaolô đề cập khi ngài nói với người Corintô: “Chúng tôi điên dại vì Đức Kitô, còn anh em thì khôn ngoan trong Đức Kitô” (1Cr 4,10).

Khi ấy chúng ta tự hỏi: “đặc sủng”của chúng ta là gì, đâu là mục đích Chúa gợi ra cuộc Canh tân? Tôi thiết nghĩ không một ai nghi ngờ rằng “chúng ta đã khởi đầu theo Thần Khí”; để không “kết thúc theo xác thịt”, phải trở về với những gì đã bắt đầu, trở về với điều thiết yếu, trở về với ngày - không quá xa vời - chúng ta còn trẻ. Ơn của chúng ta hệ tại ở chỗ khẳng định quyền làm chúa sống động hiện nay của Đức Giêsu nhờ Thần Khí của Ngài trong Giáo Hội; hệ tại ở chỗ “trả lại quyền năng cho Thiên Chúa” hoặc “nhìn nhận sức uy hùng của Thiên Chúa” (x. Tv 68,35); chính là quả quyết rằng Thiên Chúa là Thiên Chúa, và đó là tất cả. Để công bố điều đó, chỉ cần trở nên như trẻ em và người nghèo, giống như những người đã chào đón Đức Giêsu khi Ngài vào thành Giêrusalem. Vì nếu người ta làm thinh, thì Đức Giêsu sẽ buộc phải làm cho sỏi đá kêu lên.

Phép rửa trong Thần Khí

Có những khoảnh khắc và cử chỉ mà quyền năng này của Thiên Chúa được tuyên bố một cách tinh tuyền hơn. Đây là sự tuôn đổ Thánh Thần, hay phép rửa trong Thánh Thần! Chúng ta đã làm gì với sự tuôn đổ Thánh Thần? Chính sự tuôn đổ đó đã che giấu ân sủng riêng của cuộc Canh tân. Qua sự tuôn đổ đó, Đức Giêsu cho thấy mình là Đấng “hiện hữu”, là Chúa ban Thần Khí. Trong đó con người không là gì cả và Thiên Chúa là tất cả. Nếu có thể thu thập kinh nghiệm của rất nhiều anh em, nhất là những anh em đầu tiên, chúng ta sẽ phát hiện ra bao nhiêu cuộc đời đã được đổi mới, bao nhiêu ơn gọi đã được sự tuôn đổ gợi ra.

Nhưng giờ đây, sự “tuôn đổ” đã được đưa xuống hạng hai. Có những nhóm mà ít anh em đã đón nhận nó và coi nó không quan trọng lắm đối với việc sống sự Canh tân. Người ta tiếp tục nói: “Này, chúng ta đã lãnh nhận phép rửa và đó là nơi Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta…” Đức Giêsu cũng được đầy Thánh Thần từ lúc thụ thai trong lòng Đức Maria; tuy nhiên, Ngài đã muốn nhận phép rửa tại sông Giođan và Thánh Thần ngự trên Ngài một lần nữa. Mỗi sứ mệnh và ơn gọi mới tương ứng với một sự tuôn đổ mới của Thần Khí, cho dù chỉ có sự tuôn đổ đầu tiên có tính bí tích.

Tôi tin rằng cuộc Canh tân mất đi sức mạnh bắt nguồn từ việc lơ là với phép rửa trong Thần Khí; vì không có nó, cuộc Canh tân không khác mấy so với các phong trào khác của Giáo Hội. Điều này khiến chúng ta muốn nhắc lại lời thánh Phaolô đã nói với tín hữu Galát: “Bấy nhiêu kinh nghiệm anh em đã trải qua, lại uổng công sao?” (Gl 3,4). Phải bắt đầu đánh giá lại quà tặng này. Phải đánh thức các đời sống Kitô hữu đang ngủ yên hoặc bị dập tắt. Khi đó, con người sẽ có thể làm mọi sự, tùy theo tâm thái riêng của mỗi người: dấn thân vào xã hội, truyền giáo, ơn gọi tu trì. Nhưng khi ấy tất cả những điều đó sẽ là một biểu hiện của sự năng động của Thần Khí hơn là một hình thức hiếu động của con người. Trong cảnh mà tôi vừa nhắc đến, khi các anh em yêu cầu thánh Phanxicô xin Đức Giáo Hoàng ban đặc ân được giảng và giải tội trong các nhà thờ khác nhau (vì các linh mục không cho phép), “Người Nghèo” trả lời: “Đừng lo: những người hoán cải không khó tìm được cha giải tội đâu![50]Vì vậy, mối quan tâm chính của chúng ta trên hết phải là giúp cho người ta hoán cải, thức tỉnh đức tin, tin chắc rằng mọi người sẽ tìm thấy trong Giáo Hội tất cả những gì họ cần để nuôi dưỡng đời sống mới họ đã tìm lại được.

Chúng ta phải có một ước muốn lớn lao trong lòng: cuộc Canh tân phải là, hoặc phải trở thành, nơi mà Đấng Phục Sinh có thể tuyên bố “Tôi Hằng Hữu”, danh xưng không thể tranh cãi của Ngài. Chớ gì Ngài vui mừng mà nói: “Ở đây chỉ có mình Tôi Hằng Hữu, không ai khác như thế!”

Lạy Chúa Giêsu, Vua vinh quang, Phu Quân rạng rỡ của Giáo Hội, chúng con đã thực sự đưa Chúa lên thập giá và giờ đây chúng con biết rằng Chúa Hằng Hữu. Lạy Chúa Giêsu! Xin ngự trong con, trong nhóm của con, trong cuộc Canh tân, trong Giáo Hội! Chúng con vui mừng, vì Chúa Cha đã ban cho Chúa Danh hiệu và trước Danh hiệu này, chúng con cùng quỳ gối tôn thờ. Amen!


10. HÃY XÂY LẠI NHÀ CỦA TA

“Đức Chúa các đạo binh phán thế này: Dân đó dám nói: “Bây giờ chưa phải lúc tái thiết Đền thờ kính Đức Chúa”. Nhưng có lời Đức Chúa phán, qua trung gian ngôn sứ Khác-gai, rằng: “Bây giờ có phải là lúc để các ngươi ở trong các nhà có ghép gỗ đóng trần, còn Đền thờ thì lại hoang tàn đổ nát không? Vậy giờ đây, Đức Chúa các đạo binh phán thế này : Các ngươi hãy để tâm suy cho kỹ về lối sống của các ngươi. Các ngươi gieo vãi nhiều, nhưng thu hoạch chẳng bao nhiêu. Các ngươi ăn mà không đủ no, uống không đủ say, mặc không đủ ấm. Đồng lương của người làm thuê lọt qua túi thủng. Đức Chúa các đạo binh phán thế này : các ngươi hãy để tâm suy cho kỹ về lối sống của các ngươi. Hãy lên núi, đưa gỗ về tái thiết Đền thờ cho Ta. Ta sẽ vui thích và tỏ vinh quang Ta ở đó, Đức Chúa phán” (Kg 1,2-8).

Lời tiên tri này, đọc cách “thiêng liêng” ngày hôm nay trong Giáo Hội, có tất cả quyền năng của một sự phán xét từ Thiên Chúa: lời đó “phán xét” tình trạng của chúng ta, phán xét chúng ta. Tương tự như vậy hôm nay, cũng như hôm sau khi từ cuộc lưu đày trở về, một công cuộc tái thiết đang được tiến hành, một sự thức tỉnh giữa lòng dân Chúa. Nhưng việc tái thiết này diễn ra như thế nào? Nhiều người bận rộn xây “nhà riêng” của họ, không thèm để ý đến Nhà của Thiên Chúa đang đổ nát. Theo nghĩa đen, nhà riêng của họ có thể có nghĩa là nơi ở của họ (có những Kitô hữu sống trong lâu đài, được trang bị mọi thứ tiện nghi, nhưng không bao giờ bỏ tiền giúp cho công cuộc truyền giáo, cho việc xây dựng các nhà thờ mới, hoặc để bảo dưỡng giáo xứ của họ), nhưng theo nghĩa bóng, nhà riêng đó cũng có thể có nghĩa là nhóm riêng của họ, kinh nghiệm riêng của họ, dòng tu riêng của họ, nghĩa là thế giới nhỏ bé mà mỗi người chúng ta bị cám dỗ tạo ra trong Giáo Hội, mà quên đi mọi sự khác. Ngày nay Thiên Chúa cũng có nhà của Ngài trong thế giới, là Giáo Hội. Thánh Phaolô viết cho Timôtê: “Tôi muốn anh biết phải ăn ở thế nào trong nhà của Thiên Chúa, tức là Hội Thánh của Thiên Chúa hằng sống, cột trụ và điểm tựa của chân lý” (1Tm 3,15). Thiên Chúa mời gọi chúng ta làm việc cho ngôi nhà vĩ đại này, Ngài muốn nó ở trong lòng trí chúng ta. Như thể Thiên Chúa đang nói với chúng ta: “Trước hết hãy tìm kiếm Giáo Hội, rồi mọi sự khác sẽ được ban thêm cho ngươi! Nó sẽ được ban cho ngươi trong Giáo Hội và qua Giáo Hội.” Giáo Hội là người cộng tác đích thực và duy nhất của Thiên Chúa trong lịch sử. Ai không thu góp với Giáo Hội, thì sẽ phân tán; như tiên tri Khacgai nói, người đó để tiền lương của mình vào trong một chiếc “ví bị thủng”.

Do đó, đối với những thực tại mới đang xuất hiện hôm nay, điều rất quan trọng là phải tìm thấy mối tương quan đúng đắn với Giáo Hội. Tương lai không thuộc về các nhóm cũng như các phong trào của Giáo Hội; tương lai thuộc về Giáo Hội. Như nước chảy ra biển, cuộc Canh tân trong Thần Khí phải chảy về phía Giáo Hội, đổ vào Giáo Hội. Giờ đây tôi sẽ cố gắng đào sâu mối tương quan giữa cuộc Canh tân và Giáo Hội dưới hai khía cạnh: trước hết bằng cách đặt cuộc Canh tân liên hệ với Giáo Hội Công giáo, và sau đó là liên hệ với Giáo Hội địa phương.

Canh tân trong Thần Khí và Giáo Hội “Công giáo”

Thông thường, chúng ta hiểu Giáo Hội Công giáo là Giáo Hội Công giáo Rôma, đối lập với Giáo Hội Chính thống và Tin lành. Tư tưởng này đúng, nhưng là thứ yếu. Tính từ “Công giáo” đã thuộc về Giáo Hội từ rất lâu trước khi có những chia rẽ này và chỉ ra một thực tế sâu xa hơn nhiều so với thực tế mà chúng ta đã đề cập ở trên.

Thánh Ignatiô Antiokia, người đầu tiên dùng thuật ngữ này cho Giáo Hội, đã viết: “Giám mục xuất hiện ở đâu thì ở đó có cộng đồng, cũng như ở đâu có Đức Giêsu, ở đó có Giáo Hội Công giáo”.[51] Tính từ catholicos phát xuất từ trạng từ catholou có nghĩa là: “toàn bộ, nói chung, mọi nơi, phổ quát”. Trong Huấn giáo được gán cho thánh Cyrillô Giêrusalem, chúng ta thấy định nghĩa tốt nhất về tính từ được áp dụng cho Giáo Hội: “Giáo Hội được gọi là ‘Công giáo’ vì có mặt trên khắp thế giới, từ đầu này đến đầu kia của trái đất; vì dạy một cách phổ quát và không sai lầm tất cả những học lý mà con người cần biết […], vì đưa tôn giáo thật cho tất cả loài người […],vì săn sóc và chữa lành mọi tội lỗi cách phổ quát [.. .], vì có nơi mình tất cả các nhân đức, trong hành động hoặc trong lời nói, và mọi loại ân huệ thiêng liêng”.[52]

Do đó tính từ “Công giáo” bao hàm tính phổ quát kép: một tính phổ quát bên ngoài, hoặc địa lý, bao gồm mọi người từ khắp nơi trên thế giới; một tính phổ quát bên trong, hoặc của nội dung, đó là lý do tại sao nó sở hữu mọi tín điều, nghĩa là tất cả sự thật và mọi đặc sủng.

Giáo Hội là Công giáo vì Giáo Hội là “sự toàn túc”, là “sự viên mãn của Đấng làm cho mọi sự được viên mãn” (x. Ep 1,23). Giáo Hội là tất cả chứ không phải một phần; là thân thể sống động chứ không phải một chi thể, hoặc một toàn bộ chi thể.

Từ đó, chúng ta hiểu tại sao chỉ có thể có một Giáo Hội “Công giáo”; vì không thể có hai “toàn bộ”, hai thân thể Đức Kitô phân biệt nhau. Chính vì thế dự phần vào Giáo Hội này dường như là chuyện hiển nhiên đối với chúng ta, để có sự sống: vì chỉ nơi Giáo Hội, chúng ta mới rút ra được chân lý của Thiên Chúa và chỉ trong Giáo Hội, các đặc sủng được kết hợp với nhau và có liên hệ sinh tử với nguồn mạch, là Thần Khí của Đức Giêsu phục sinh.

Thánh Irênê Lyon, người đã chuyển đạt cho chúng ta mật hoa tinh tuyền nhất của Truyền Thống, thông qua một trong những môn đệ của Thánh sử Gioan là thánh Polycarpô, đã viết chống lại những kẻ lạc giáo như sau: “Quả thực, chính cho Giáo Hội mà ‘Ân huệ của Thiên Chúa’ được giao phó”, như hơi thở đã được ban cho tác phẩm đã nặn đúc, để mọi chi thể có thể dự phần vào đó và nhờ thế mà được làm cho sống động; chính nơi Giáo Hội mà sự hiệp thông với Đức Kitô được ký thác, tức là Chúa Thánh Thần, khai ân của sự bất hoại, củng cố đức tin của chúng ta và là nấc thang đưa ta lên tới Thiên Chúa: là vì, như sách Thánh nói, “trong Giáo Hội, Thiên Chúa đã đặt các tông đồ, các tiên tri, các thầy dạy” (1Cr 12,28) và tất cả những hoạt động khác của Thần Khí. Vậy tự tách ra khỏi Thần Khí này tất cả những ai, khi từ chối đến với Giáo Hội, tự làm mất đi sự sống do những học thuyết sai lầm và những hành động đồi bại của mình. Vì Giáo Hội ở đâu thì Thần Khí của Thiên Chúa cũng ở đó, và Thần Khí của Thiên Chúa ở đâu, thì Giáo Hội và tất cả ân sủng cũng ở đó. Và Thần Khí là Chân Lý. Chính vì vậy những ai tự tách ra khỏi Người, thì cũng không được nuôi bằng sữa Mẹ nữa để sống và không dự phần vào nguồn mạch trong suốt từ thân thể Đức Kitô chảy ra, nhưng “họ làm những hồ nứt rạn, không giữ được nước” (Gr 2,13) và uống nước tanh hôi từ vũng bùn: họ trốn tránh đức tin của Giáo Hội vì sợ bị vạch mặt, và họ loại bỏ Thần Khí để không bị dạy dỗ”.[53]

Khacgai nói về “những chiếc ví bị thủng”, Irênê nói về “những cái bể chứa nứt” nhưng cả hai nói về cùng một sự thật: kẻ nào mệt mỏi bên ngoài Giáo Hội kẻ đó mệt mỏi vô ích, kẻ không gieo trong Giáo Hội kẻ đó gieo khắp nơi. Theo lời của thánh Irênê, điều chúng ta thấy rõ là Giáo Hội là “nơi” của những ai tìm kiếm Thần Khí và vun trồng các đặc sủng. Do đó, Giáo Hội Công giáo là lòng dạ mẹ nơi cuộc Canh tân phải “làm tổ” trong Thần Khí để lớn lên và sinh hoa trái.

Điều này không chỉ có nghĩa là trở thành những tôi tớ trung thành của Giáo Hội Công giáo Rôma; nó có nghĩa là có một cảm thức về tính phổ quát, về tính toàn bộ; không chú trọng vào chi tiết, vào cái riêng tư, mà đánh mất cái nhìn tổng thể; điều đó có nghĩa là cùng nhịp đập với trái tim của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu Kitô, một trái tim ôm ấp mọi sự và mọi người. Phải sentire cum Ecclesia, nghĩa là có cảm thức về Giáo Hội, cũng như mỗi chi thể trong thân thể con người có nhận thức sinh tử về toàn bộ thân thể trong đó nó chuyển động và được nuôi dưỡng. Phải luôn kín múc một phần (nhóm riêng của mình, kinh nghiệm riêng của mình) trong toàn bộ và toàn bộ trong từng phần.

Tạ ơn Chúa, cảm thức Giáo Hội này hiện diện trong cuộc Canh tân. Điều khiến tôi cảm động nhất khi nói với các anh em của cuộc Canh tân là thấy họ vui mừng và khao khát hiệp thông với các kho tàng của Giáo Hội: các Giáo Phụ, những vị thánh, những trào lưu tâm linh lớn trong quá khứ. Tại Pháp, cuộc Canh tân đánh thức sự quan tâm và lòng sùng kính ở Lộ Đức, hay ở Paray-le-Monial, đối với Đức Trinh Nữ và Thánh Tâm, đối với Têrêxa Lisieux và các vị thánh khác mà người dân Pháp yêu quý. Cũng vậy là ở Ý, với các đền thánh và các thánh của chúng ta. Đó thực sự là một cuộc trở về với nguồn mạch: những chồi non của Giáo Hội cần phải bám rễ vào nguồn nước tinh tuyền của Truyền Thống. Lời tiên báo của Isaia về Giêrusalem mới, tức là Giáo Hội, đang trở thành hiện thực: “Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì Thành Đô mà hoan hỷ, hỡi tất cả những người yêu mến Thành Đô […] để được Thành Đô cho hưởng trọn nguồn an ủi, được thỏa thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ” (Is 66,10-11).

Nhưng đây mới chỉ là khởi đầu. Chúng ta phải vun trông ân huệ này, cho đến khi hít cho đầy hai lá phổi khí ôxy của Giáo Hội. Trong một số trường hợp, phải chiến thắng một sự lười biếng nào đó. Người ta nhận ra rằng trong cuộc Canh tân, ít nhất là ở Ý, chúng ta không đọc nhiều. Tuy nhiên, đọc là một trong những cách dễ nhất để khám phá ra những sự phong phú của Truyền Thống.

Sự kiện cảm thấy hoàn toàn là một phần tử của Giáo Hội “Công giáo” theo nghĩa mà chúng ta đã gán cho tính từ này, không đóng cửa cho chiều kích đại kết. Cuộc Canh tân đặc sủng ra đời với hai đặc điểm phân biệt nó với hầu hết các phong trào thuộc linh và đặc sủng khác trong quá khứ: một sự gắn bó rất mạnh mẽ với phẩm trật và Giáo Hội thể chế, và một sự cởi mở đại kết (nhờ nguồn gốc Ngũ tuần). Làm sao có thể dung hòa và sống hai chiều dường như đối lập này?

Một yếu tố của câu trả lời được tìm thấy nơi thánh Augustinô trong cuộc tranh luận với những người phái Đonatô, những người quan niệm Giáo Hội như một hortus conclusus, nghĩa là như một vườn khép kín, một nhóm nhỏ các “thánh” được xác định rõ và đồng nhất với một nhóm xã hội trong đó có các dấu hiệu nhất định, các bí tích. Bên ngoài “vườn” vây kín này, chỉ có tội lỗi và diệt vong. Nhìn theo cách này, sự hiệp nhất với các Kitô hữu khác là không thể và cũng không được phép, vì nó sẽ làm biến tính sự tinh tuyền của các bí tích.

Thánh Augustinô đã trả lời những người phái Đonatô, bằng cách mô tả hai khía cạnh của Giáo Hội: Giáo Hội như một “xã hội của các thánh” (societas sanctorum) và Giáo Hội như một “hiệp thông các bí tích” hoặc các dấu chỉ hữu hình (Communio sacramentorum). Khía cạnh trước cho thấy khía cạnh bên trong của Giáo Hội, mà xét đến cùng, đồng nhất với Chúa Thánh Thần, hồn của Giáo Hội, và bao gồm trong một sự hiệp nhất vô hình tất cả những ai thực sự sống theo Thần Khí, nghĩa là trong ân sủng. Theo thánh Augustinô, Thiên Chúa nói về Giáo Hội này khi gợi lên “chim bồ câu độc nhất của Người” (x. Dc 6,9). Nhưng ở trần gian, nó không tách rời, cũng như không thể tách rời khỏi thân thể hữu hình là sự hiệp thông của Giáo Hội thể chế. Giữa hai bên không có đối lập hoặc không tương thích; tuy nhiên có một sự khác biệt mà chúng ta có thể gọi là về mức độ hoặc bình diện. Người ta có thể dường như đang ở trong Giáo Hội và ở bên ngoài Giáo Hội về mặt tinh thần; như người ta có thể xét về hữu hình thì ở bên ngoài Giáo Hội, nhưng về mặt tinh thần thì ở bên trong. Thánh Augustinô kêu lên: “Có bao nhiêu sói ở trong chuồng chiên và bao nhiêu chiên ở bên ngoài!”[54] Thật vậy, mức độ thuộc về Giáo Hội trên hết là do đức ái ban cho, tức là do Chúa Thánh Thần mà người ta có hoặc không có, và không do những liên hệ thuần túy pháp lý và thể chế. Sự khác biệt giữa một sự thuộc về Giáo Hội cách hữu hình và một sự thuộc về cách thiêng liêng cũng giống như (chẳng hạn đối với bí tích Thánh Thể) giữa người chỉ nhận được dấu chỉ hữu hình (bánh và rượu được thánh hiến) và người cũng nhận được ân sủng vô hình mà những dấu chỉ đó chứa đựng (res sacramenti)

Sự hiệp thông đại kết của chúng ta với tất cả những người thực sự tin vào Đức Giêsu Kitô, ngay cả ở bên ngoài Giáo Hội của chúng ta, được thiết lập như thế. Có một sự hiệp thông giữa tất cả các Kitô hữu không chỉ trong votis, nghĩa là một ước muốn hay một viễn cảnh, nhưng đã hiện hữu và hiệu quả. Làm sao có thể nghĩ rằng một anh em Tin lành hoặc Chính thống, yêu mến Đức Giêsu, đau khổ vì đức tin, người đã dùng cả cuộc đời phục vụ Nước Trời và sống trong Thần Khí, lại ít hiệp nhất với tôi hơn người anh em Công giáo, đã được rửa tội nhưng không hoàn toàn quan tâm đến Đức Giêsu, Giáo Hội, Giáo Hoàng, hay những người chỉ quan tâm đến các ngài để nhằm chỉ trích? Tuy nhiên, chúng ta phải thú nhận rằng, mối dây hữu hình và thể chế ràng buộc chúng ta với mọi người công giáo đôi khi mạnh nơi chúng ta hơn mối dây thiêng liêng ràng buộc chúng ta với những người anh em này yêu mến Đức Giêsu; sự hiệp thông qua các bí tích mạnh hơn sự hiệp thông các thánh; các dấu chỉ được cảm thấy nhiều hơn thực tại. Hai điểm này - dấu chỉ và thực tại, Giáo Hội thể chế và Giáo Hội vô hình - không nên bị tách biệt, nhưng trong chừng mực sự tách biệt này tồn tại vì tội lỗi của con người, chúng ta không thể bỏ qua nó.

Chính vì chú ý đến Chúa Thánh Thần, mối dây hiệp nhất giữa tất cả các “thánh”, mà cuộc Canh tân trong Thánh Thần được kêu gọi để hoạt động cho sự hiệp nhất các Kitô hữu; nó không thể hài lòng dự phần vào Giáo Hội Công giáo Rôma, nhưng cũng phải muốn dự phần vào thân thể của tất cả những ai thực sự tin vào Đức Kitô. (“Những người thực sự tin” không có nghĩa là những người có một đức tin chính thống, nhưng là những người chân thành tin vào Đức Giêsu Kitô, theo giáo lý được tuyên xưng trong Giáo Hội riêng của họ). Cuộc Canh tân phải vun trồng sự bén rễ đại kết này không phải bằng cách vượt qua Giáo Hội của mình, nhưng bằng cách đi qua nó, nghĩa là bằng sự vâng phục và trung thực với các chỉ thị của hàng giáo phẩm, khi cố gắng chia sẻ kinh nghiệm của mình về đời sống đại kết. Đại kết có một nhu cầu cấp thiết và sinh tử của một linh hồn: Chúa Thánh Thần; nếu cuộc Canh tân chỉ đóng góp vào “công việc” duy nhất này của Giáo Hội, thì nó có thể thanh thản, không để cho mình xúc động trước những người cáo buộc nó xa rời các vấn đề cụ thể, và như vậy là xa rời các công việc của Giáo Hội, không nhập thể đủ, không “đắm mình” trong thực tế.

Canh tân trong Thần Khí và Giáo Hội địa phương

Mối liên hệ giữa cuộc Canh tân và Giáo Hội được thể hiện như thế nào? Trước Công đồng Vatican II, khi nói đến Giáo Hội, chúng ta nghĩ đến Giáo Hội phổ quát và các cơ cấu hữu hình, cho đến Giáo Hoàng. Các Giáo Hội địa phương, các giáo phận, thường được coi là những phần tử nhỏ, mà khi kết hợp lại với nhau, tạo thành tổng thể là Giáo Hội phổ quát. Các giám mục được coi là những người đại diện của Giáo Hoàng trong giáo phận của các ngài.

Khi đánh giá lại nhiệm vụ của các giám mục, Công đồng cũng đánh giá lại Giáo Hội địa phương. Một bản văn nổi tiếng của hiến chế Lumen Gentium nói: “Giáo Hội Chúa Kitô thực sự hiện diện trong mọi đoàn thể tín hữu địa phương hợp pháp. Những đoàn thể này, vì hợp nhất với các chủ chăn, nên trong Tân Ước cũng được gọi là Giáo Hội. Thực vậy, trong phần đất của mình, mỗi đoàn thế là dân tộc mới được Thiên Chúa kêu gọi trong Thánh Thần và trong niềm xác tín sâu xa (x. 1Th 1,5). Nơi các đoàn thể đó, tín hữu được tụ họp lại nhờ sự rao giảng Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô, và mầu nhiệm Tiệc Ly của Chúa được cử hành […]. Chúa Kitô hiện diện trong các cộng đoàn ấy, dù nhỏ bé nghèo hèn hay tản mát khắp nơi. Và nhờ thần lực của Người, Giáo Hội hiệp thành duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” (LG 26).

Chính những từ đơn giản: Giáo Hội Công giáo, tức Giáo Hội phổ quát, hoàn toàn hiện diện trong Giáo Hội địa phương, là một sự mới mẻ tuyệt vời về phương diện thần học. Giống như giọt sương nhỏ bé treo trên hàng giậu, phản chiếu và chứa đựng nơi mình tất cả vòm trời, cũng vậy, tất cả thực tại cốt yếu và cấu thành được phản chiếu và hiện diện trong một Giáo Hội địa phương nhỏ bé, hợp nhất xung quanh giám mục của mình. Nếu xét về mặt xã hội học và luật pháp, Giáo Hội địa phương chỉ là một “phần” của Giáo Hội, thì một cách mầu nhiệm, nó cũng là tất cả Giáo Hội, vì nơi giám mục, nó có sự viên mãn của Lời Chúa, Thánh Thể và Chúa Thánh Thần.

Bộ Giáo luật mới tóm tắt quan điểm mới này, viết về Giáo Hội địa phương như sau: “Trong các Giáo Hội địa phương và từ các Giáo Hội địa phương hiện hữu một Giáo Hội Công giáo duy nhất […]. Giáo phận là một phần dân Chúa được trao phó cho một giám mục chăn dắt, với sự cộng tác của linh mục đoàn, nhờ sự gắn bó với chủ chăn của mình và được ngài tập hợp trong Chúa Thánh Thần nhờ Phúc Âm và Thánh Thể, phần dân ấy tạo thành một Giáo Hội địa phương, trong đó Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, Công giáo và tông truyền của Đức Kitô hiện diện và hoạt động thực sự” (các điều 368-369).

Nhãn quan này không phải là mới, trái lại đó là nhãn quan lâu đời nhất được đưa ra ánh sáng; đó là nhãn quan của Kinh Thánh và của các Giáo Phụ. Các Giáo Phụ nói về “Giáo Hội Công giáo ở Smyrna”[55]. “Giáo Hội Công giáo ở Nadian”[56]. Phải chăng Grêgôriô Nadian nghĩ rằng Giáo Hội Công giáo đồng hóa với ngôi làng nhỏ bé của mình, gồm một nửa là Kitô hữu và một nửa là kẻ cướp? Không phải vậy. Tuy nhiên, ngài biết rằng trong cộng đồng của mình, ở đầu bên kia của thế giới, toàn thể Giáo Hội Công giáo hiện diện một cách thần bí.

Trong mỗi Giáo Hội địa phương, chúng ta tìm thấy cùng một Giáo Hội, thân thể thần bí của Chúa Giêsu Kitô, như trong mỗi hình được truyền phép có cùng một thân thể thật của Đức Giêsu Kitô.

Thần học đổi mới này của Giáo Hội có những hậu quả thực tế. Trước Công đồng, bất kỳ thực tại mới nào theo ý muốn của Thần Khí đều được trung ương hoặc thượng cấp giới thiệu, nghĩa là bằng sự công nhận của Giáo Hoàng, hoặc của các thánh bộ Rôma, và được bảo đảm bởi một quy tắc và một cơ cấu phẩm trật duy nhất, khởi từ trung tâm phân nhánh ra ngoại vi. Giờ đây, kể từ Công đồng, cách thức bình thường và hợp lý nhất để dự phần vào Giáo Hội Công giáo, đặc biệt là khi liên quan đến thực tại thế tục, đã khác; nó phải được thực hiện trong và qua Giáo Hội địa phương, bởi giám mục.

Cuộc Canh tân trong Thần Khí không tùy thuộc vào bất cứ pháp chế đặc biệt nào; Bộ Giáo luật mới không tiên liệu cho nó, cũng như cho các nhóm giáo hội mới khác, một quy tắc hoặc miễn trừ cụ thể nào; nó được cấu thành bởi một dân “bình thường” của Thiên Chúa, bởi dân của những người đã được rửa tội với những ân huệ của họ (là những ân huệ tự bản thân đã khác thường!) và như vậy, nó hoàn toàn đi vào thực tại của Giáo Hội địa phương. Nếu loại bỏ dân này ra khỏi các giám mục, người ta không thấy có thể còn lại gì cho các ngài!

Tuy nhiên, chúng ta không được làm chai cứng các sự việc và tạo ra những đối nghịch mà chính Giáo Hội không muốn tạo ra, giữa trước và sau Công đồng (các dòng tu và cộng đoàn tu trì thuộc giáo phận đã tồn tại trước Công đồng và các dòng tu thuộc quyền giáo hoàng sẽ tồn tại ngay cả sau Công đồng!). Tôi chỉ đơn giản muốn nhấn mạnh một xu hướng mới đang nổi lên trong Giáo Hội có thể soi sáng và định hướng con đường của những thực tại giáo hội mới mẻ, trong đó có cuộc Canh tân. Đó là một giới thiệu của chính Giáo Hội: quả thực, Giáo Hoàng không ngừng nhấn mạnh để các phong trào giáo hội hậu Công đồng liên hệ với các giám mục, cộng tác với Giáo Hội địa phương, dự phần vào Giáo Hội này; hơn nữa, ngài mời gọi các giám mục, bằng gương sáng và bằng lời nói, nhận trách nhiệm về những thực thể này thay vì gạt chúng sang bên lề.

Làm mọi sự trong sự hiệp thông với giám mục

Điều này sẽ có những hậu quả thiết thực đối với vị trí của cuộc Canh tân trong Giáo Hội địa phương.

Giáo Hội địa phương là môi trường tự nhiên của cuộc sống, hoạt động và sự thánh hóa của các thành viên của cuộc Canh tân. Vì vậy hiệp thông với giám mục là quan trọng, ngay cả khi nó không nhất thiết phải minh nhiên và chính thức. Chính ngài là người bảo đảm Lời Chúa, Thánh Thể và các đặc sủng-thừa tác vụ, chứ không phải những người chịu trách nhiệm về cuộc Canh tân, ngay cả là học giả hay thánh nhân. Một nhóm không thể chống đối hoặc thù địch với giám mục riêng của mình; nhóm đó phải làm mọi cách để hiệp thông, cho dù có khi phải trải qua đau khổ.

Thánh Ignatiô Antiokia, người sống ngay sau thời tông đồ, giúp chúng ta không bị những ảo tưởng dễ dàng lôi kéo. Ngài đã viết cho các Kitô hữu Magnêsia như sau: “Vì tôn trọng Đấng đã yêu thương chúng ta, nên tuân theo mà không có bất cứ giả hình nào; là vì không chỉ giám mục hữu hình này đang bị lừa phỉnh, mà chính giám mục vô hình mà người ta đang tìm cách lừa dối. Vì trong trường hợp này, không phải là về xác thịt, mà là về Thiên Chúa, Đấng biết những điều ẩn giấu […], quả thực một số người luôn nói về giám mục, nhưng lại làm mọi việc mà ngài không được biết. Theo tôi, những người đó không có lương tâm tốt, vì các cuộc tụ họp của họ không hợp pháp, cũng như không hợp với lệnh truyền của Chúa […] Cũng như Chúa đã không làm gì, hoặc tự mình, hoặc thông qua các tông đồ, mà không có giám mục và các linh mục; và đừng cố cho là hữu lý những gì bạn làm riêng, nhưng hãy làm chung mọi sự”.[57]

Ngày nay, với quy mô của Giáo Hội địa phương, không còn có thể trình với giám mục cho từng sáng kiến; do đó, “không làm gì nếu không có giám mục” không có nghĩa là bất cứ lúc nào cũng quấy rầy giám mục; nó có nghĩa là tuân theo chỉ thị của ngài; không làm những gì ngài sẽ không chấp thuận; hiệp thông với các linh mục là những cộng tác viên của giám mục.

Tôi muốn nhấn mạnh phải đi theo sau chứ không đi trước Giáo Hội và giám mục. Hãy để tôi giải thích. Tin quá nhanh vào những mạc khải riêng tư, những sứ điệp, những lần hiện ra và những sùng mộ mà người ta tin là được linh ứng, trước khi Giáo Hội có thể cho ý kiến, đó là đi trước Giáo Hội, chứ không phải đi theo sau Giáo Hội; khi đó chính những con chiên chọn đồng cỏ, thay vì để cho người chăn đưa tới đó. Thật khó tin về sự ngây thơ, tin tưởng, hời hợt của một số Kitô hữu về vấn đề này, ngay cả ngày nay. Đó cũng chính là “đào các bể chứa nứt nẻ” không thể chứa nước và từ bỏ nguồn nước sinh sống, như thánh Irênê, và trước ngài là tiên tri Giêrêmia, đã nói.

Từ những điều thực sự thiết yếu và chắc chắn, như Lời Chúa, Thánh Thể, Chúa Thánh Thần, người ta dần dần chuyển sang những sứ điệp, thường là nhạt nhẽo, của những cá nhân riêng tư, và người ta rơi vào tình trạng cuồng tín tôn giáo. Sự công khai mà những người này làm hoặc cho phép người ta làm, nơi những cách bày tỏ siêu nhiên của họ, là bằng chứng hiển nhiên tố cáo sự giả dối của họ. Những con người được Thiên Chúa sai tới để mạc khải điều gì đó cho Giáo Hội, đã che đậy những hiện tượng lạ lùng, để bảo vệ sự khiêm nhường của mình. Ngược lại, những người không tưởng, vừa nghe xong một sứ điệp, hoặc được cho là sứ điệp, của Thiên Chúa, thì đã vội phổ biến nó. Tuy nhiên khó mà thuyết phục một số anh em, lóa mắt trước tất cả những điều đó, chấp nhận sự thận trọng và khôn ngoan của Giáo Hội. Thánh Gioan đã viết cho những Kitô hữu đầu tiên: “Anh em thân mến, anh em đừng cứ thần khí nào cũng tin, nhưng hãy cân nhắc các thần khí xem có phải bởi Thiên Chúa hay không, vì đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian” (1Ga 4,1). Những lời khôn ngoan, như những lời của thánh Phaolô khi ngài khuyên nhủ các Kitô hữu đừng “giống như những trẻ nhỏ, bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý (x. Ep 4,14). Chạy theo những gì được bao bọc bởi một vầng hào quang siêu nhiên và lạ lùng, khiến cho người ta phải chịu lời Đức Giêsu khiển trách đối với thế hệ của Ngài, một thế hệ luôn đòi hỏi những dấu lạ (x. Mt 12,38; Lc 11,29).

Do đó, “không làm gì nếu không có giám mục” có nghĩa là không đi trước sự xét đoán của giám mục, nhưng tuân theo ngài. Nhưng trên hết là phải yêu mến giám mục với lòng bác ái của Đức Kitô, một bác ái “không giả tạo”. Trong tình yêu có sự trọn vẹn và chân lý của mọi sự. Nhờ tình yêu mà các đặc sủng đi vào thể chế và được đón nhận ở đó, không phải bằng xét đoán hay bút chiến, cũng không phải bằng lời chỉ trích. Thánh Phaolô nói: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (x. Rm 13,8).

Tất nhiên thập giá vẫn hiện diện. Ngay cả trong các mối quan hệ giữa các mục tử và đoàn chiên, giữa các đặc sủng và các thể chế, người ta không thể quên luật quan trọng phúc âm của thập giá. Đặc sủng và thể chế là hai cánh tay của thập giá: chúng không thể không gắn bó với nhau, nhưng bằng cách tôn trọng chúng, chúng tạo thành thập giá; bên này là thập giá của bên kia, bên này là sự cứu rỗi của bên kia.

Lịch sử Giáo Hội đầy những mẫu gương về các phong trào tâm linh, mạnh mẽ và đầy hứa hẹn, đã đi trệch đường và biến mất, vì không chấp nhận quy luật của hạt lúa mì rơi xuống đất (ở đây là Giáo Hội) và chết đi, để sinh hoa trái. Chúng trở thành “giáo phái”, các thành viên bị cắt đứt (từ tiếng latinh sectum là “cắt đứt”). Khi một bộ phận của thân thể đột nhiên bị cắt đứt, sự sống lưu chuyển chốc lát trong đó, rồi sau bị tắc do thiếu dinh dưỡng và tuần hoàn máu; điều này cũng đúng đối với các thực tại thiêng liêng bị cắt rời khỏi thân thể Giáo Hội.

Những phong trào có tính cách tiên tri và đặc sủng mạnh mẽ có nguy cơ còn lớn hơn; trong những thế kỷ đầu tiên có những người phái Montanô, Messalinanô, Đonatô; thời Trung cổ là Patarinô, Lollarđô, những người nghèo thành Lyon, những anh em của thần khí tự do. Trong phong trào Phan sinh, chúng ta thấy có nhiều điểm chung với những phong trào trên, nhưng khác với chúng, Phanxicô đặt phong trào của mình trong Giáo Hội và ngài đã chiến đấu cho đến chết chống lại môi trường của mình, chống lại một số bạn đồng hành và chống lại chính mình, để giữ nó ở trong Giáo Hội. Những lời cuối cùng trong Quy luật của ngài khuyên các anh em hãy “luôn luôn là những người phục vụ dưới chân Hội Thánh, vững vàng trong đức tin Công giáo, giữ đức nghèo khó, khiêm nhường và Phúc Âm thánh của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”[58]; và trong di chúc của mình, ngài viết: “Chúa đã ban cho tôi sự tin tưởng dường ấy nơi các linh mục sống theo các những quy luật của Hội Thánh Rôma vì bí tích truyền chức thánh, đến nỗi ngay cả khi các ngài đã phải bắt bớ tôi, tôi cũng muốn chạy đến với các ngài […] và tôi không muốn thấy tội lỗi nơi các ngài”.[59]

“Ngay cả khi các ngài đã phải bắt bớ tôi”: Phanxicô biết rất rõ tội lỗi cũng có mặt trong Giáo Hội, nhưng ngài không muốn nhìn vào nó, vì ngài nhìn thấy Giáo Hội là Hiền Thê của Chúa mình. Người ta hẳn có thể nghĩ rằng Phanxicô sắp đánh mất một điều gì đó trong lý tưởng của mình, khi phục tùng Giáo Hội, và điều đó có lẽ đúng, nhưng chính như thế mà phong trào không kết thúc với ngài, điều đã xảy ra với nhiều phong trào khác thời ngài, ngược lại ngài vẫn là một phúc lành cho toàn thể Giáo Hội, mà - bất chấp tất cả những khuyết điểm và bất trung của các thành viên - ngài đã cung cấp cho Giáo Hội nhiều vị thánh.

Nhưng sẽ là bất công khi không cho thấy rằng, nếu nhiều phong trào tâm linh đã đi trệch đường, trong ly giáo hay lạc giáo, thì đó không phải lúc nào cũng là lỗi của họ; thường thì hàng giáo phẩm đã không biết cách đón nhận Thần Khí, Đấng chất vấn các ngài, và đã không biết cách vượt qua những khía cạnh bên ngoài và mơ hồ, và do lười biếng hoặc sợ thay đổi, các ngài đã “đàn áp” một số năng lực mới cho đến khi đưa chúng ra khỏi Giáo Hội. Điều này muốn nói lên rằng các chủ chăn phải xét mình, tự vấn và mở lòng với Chúa Thánh Thần. Nhưng chúng ta, những tín hữu của Giáo Hội, không thể thay thế các ngài và lên án các ngài; chúng ta phải làm những gì phải làm, và việc chúng ta phải làm là vâng phục. Thà chết trong Giáo Hội còn hơn sống bên ngoài Giáo Hội.

Để kết thúc, chúng ta lấy lại lời tiên tri Khacgai, lời mà chúng ta đã dùng lúc khởi đầu. Dân chúng đã nghe lời Thiên Chúa nhắc nhở, và sau khi ngừng làm việc nhà, họ bắt đầu xây lại nhà của Thiên Chúa. Vì vậy, Thiên Chúa làm cho người ta được nghe tiếng nói của Ngài, lần này là một tiếng nói đầy an ủi và khích lệ. Chúng ta hãy lắng nghe lời Ngài, vì bây giờ Ngài đang nói với chúng ta: “Vậy bây giờ, hỡi Dơrúpbaven, hãy mạnh bạo lên. Nào thượng tế Giôsua, mạnh bạo lên nào. Toàn dân trong xứ hãy mạnh bạo lên, sấm ngôn của Đức Chúa. Hãy bắt tay vào việc, vì chính Ta ở với các ngươi” (Kg 2,4).


11. VĨNH CỬU ! VĨNH CỬU

Trong sách Dân số, chúng ta có thể đọc thấy đoạn này: Thiên Chúa ra lệnh cho Môsê tập hợp bảy mươi kỳ mục đến Lều. Khi họ đã tụ họp, Thiên Chúa đã gửi Thần Khí của Ngài xuống trên họ và họ bắt đầu nói tiên tri. Trong khi đó, hai người tên là Eliad và Medad, đang ở một nơi khác trong trại, cũng được đầy Thần Khí Thiên Chúa, mặc dù họ không đến Lều với Môsê, và cũng bắt đầu nói tiên tri. Chàng trai Giôsuê chạy đến kể lại cho Môsê những gì đang xảy ra ngoài trại và xin ông ngăn họ lại, nhưng Môsê trả lời: “Anh ghen dùm tôi à? Phải chi Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người, để họ đều là ngôn sứ. Vì Đức Chúa đã ban Thần Khí của Người trên họ” (Ds 11,29).

Ước muốn của Môsê đã được thực hiện vào ngày lễ Ngũ Tuần, khi Thiên Chúa gửi Thần Khí của Ngài xuống trên mỗi người và tất cả bắt đầu công bố các công trình của Chúa bằng tiếng lạ. Ước muốn của Môsê hôm nay cũng được thực hiện trong Giáo Hội, vì kể từ Công đồng, chúng ta đang chứng kiến một lễ Hiện Xuống mới: một lần nữa Chúa đổ Thần Khí của Người để toàn dân có thể là tiên tri, có khả năng công bố lời Người và những điều kỳ diệu Người làm.

“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi”

Đây là lời tôi đã nhận được cho các bạn: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

Tôi sẽ nói với các bạn về “sự đau khổ và chữa lành” vì lời của Đức Giêsu là về chủ đề này. Lời ấy nói với chúng ta về sự đau khổ. Trong các động từ “vất vả và mang gánh”, chúng ta tìm lại được tất cả sự đau khổ của con người, và những hậu quả của nó trong trái tim con người: mệt nhọc và áp bức. Lời ấy đưa về sự chữa lành khi nói: “Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng […], anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.” Nhưng, như chúng ta sẽ thấy sau đây, lời đó nói với chúng ta về sự đau khổ và chữa lành vượt lên trên những khuôn mẫu thông thường của chúng ta, dưới một cái ách mới: đức tin.

Trước khi tiếp cận chính Lời, chúng ta hãy tập chú vào các nhân vật: Ai nói và lời nói với ai? Chính Đức Giêsu phục sinh, Đấng mà trong sách Khải huyền, đã giới thiệu về mình như sau: “Ta là Đầu và là Cuối. Ta là Đấng Hằng Sống. Ta đã chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời” (Kh 1,17-18). Những lời này dành cho ngày nay, chúng đến với chúng ta như một lời chất vấn.

Chính Đấng Phục Sinh nói, và Ngài trực tiếp nói với chúng ta. Chính chúng ta là những người vất vả và mang gánh nặng nề, chúng ta là những người đang chán nản, những người túng thiếu, bệnh tật, những người đến với lời mời gọi này. Một phần của lời này đã được thực hiện: chúng ta đã nghe một lời mời gọi và nhiều người trong chúng ta đã đáp lại Đấng đã mời gọi chúng ta. Nhưng đây mới chỉ là bước đầu.

Đức Giêsu nói: “Hãy đến với tôi”. “Với tôi” có nghĩa gì? Có nghĩa là đến với tôi là Giêsu. Đây là con đường đức tin. Chúng ta giống như những người đã đến bờ biển, và để tiếp tục, thì phải đi trên mặt nước. Con đường để đi không còn phải đi bằng thân thể chúng ta nữa, nhưng bằng trái tim của chúng ta. Sursum corda! Phụng vụ Thánh lễ mời gọi chúng ta, và chúng ta đáp lại: Habemus ad Dominum! “Hãy nâng tâm hồn lên! - Chúng tôi đang hướng về Chúa!” Ngay từ bây giờ chúng ta hãy hướng lòng lên tới Chúa và hãy lắng nghe Ngài nói với chúng ta.

Chúng ta nhận thấy bốn yếu tố trong lời của Đức Giêsu: một lời mời gọi, một lời hứa, một điều kiện và một bảo đảm.

Đây là một lời mời gọi chung: hãy đến với tôi, tất cả mọi người. Không phân biệt già trẻ, giàu nghèo, tin hay không tin, công chính hay tội lỗi. Mọi người! Chỉ có một hạng người bị loại trừ: những người không mệt nhọc, không vất vả nặng nề, những người cho rằng mình đủ cho mình, những người mà Đức Maria, trong kinh “Magnificat“, gọi là những người “giàu có bị đuổi về tay trắng”.

Đây cũng là một lời hứa phổ quát: Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng, tôi sẽ chữa lành. Ngài không nói: Tôi sẽ chữa lành một số người trong anh em. Nhưng tôi sẽ chữa lành cho anh em, tức là tất cả những ai đã đến với tôi. Ngài cũng không nói: Tôi sẽ chữa cho anh em một số điều chứ không phải những điều gì khác. Ngài chữa lành toàn thể con người và tất cả mọi người; Ngài là thầy thuốc của thể xác và linh hồn. Nếu ai đó đã hứa như vậy với chúng ta, có thể nói rằng đó là một người tự phụ, một lang băm. Thế giới ngày nay, đặc biệt ở các thành phố lớn, đầy dẫy những lang băm và những người cho mình là pháp sư, những người cung cấp giải pháp cho tất cả các vấn đề về sức khỏe, kinh doanh và tâm hồn của chúng ta.

Nhưng ở đây chính là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng nói như thế, Đấng mà Chúa Cha đã giao cho mọi sự (x. Mt 11,27). Sự đảm bảo tốt nhất về tính xác thực của lời hứa này là nó đã được giữ một cách hoàn hảo. Quả thực, “đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó” như thánh Phêrô đã nói về Ngài trong sách Công vụ (x. Cv 10,38).

Lời hứa gắn liền với một điều kiện, một yêu cầu: “Hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Nếu không hiểu rõ điều kiện này, chúng ta sẽ không hiểu bất cứ điều gì tiếp theo. “Hiền hậu và khiêm nhường” với ai? Chỉ giữa chúng ta với nhau chăng? Không: hiền hậu và khiêm nhường trên hết trước Thiên Chúa. Tông Đồ Phêrô nói với chúng ta: “Hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa” (x. 1Pr 5,6). Đức Giêsu đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết (x, Pl 2,8). Ngài hạ mình và vâng lời trước ai? Trước Chúa Cha!

“Ách của tôi” không có nghĩa là ách mà Đức Giêsu ban cho, nhưng là ách mà Ngài mang. Chúng ta phải trở thành “những người liên kết” chặt chẽ với Đức Kitô, những người mang ách chung với Đức Giêsu. Khi ấy, yêu cầu của Đức Giêsu có vẻ sâu sắc hơn nhiều so với những gì thoạt đầu người ta có thể nghĩ. Đây không chỉ là cải thiện tính cách của chúng ta, hiền hậu hơn một chút, tử tế hơn một chút. Ý nghĩa là: vâng ý Cha trên trời cho đến cùng, như chính tôi đã làm; phó thác anh em cho Ngài. Đức Giêsu gọi “ách của tôi” cái mà chính Ngài đã mang trên mình: ách của sự vâng phục. Mang ách trên mình là thưa với Chúa Cha, như Chúa Giêsu đã thưa ở Ghetsêmani: “xin theo ý Cha!” “Hãy mang lấy ách của tôi”: câu này rất giống với câu của Đức Giêsu: “Ai muốn theo tôi […], hãy vác thập giá mình mà theo” (Mc 8,34), để giữa hai bên có mối liên hệ chặt chẽ. Thật vậy, điều Đức Giêsu lặp lại trong bản văn của chúng ta dưới hình thức một lời mời gọi dịu dàng, thì Ngài diễn tả trong bản văn kia dưới hình thức một điều kiện, một đề nghị.

Cuối cùng, lời bảo đảm: “Anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng […], ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng”. Mầu nhiệm và nghịch lý: “hạ mình dưới bàn tay quyền năng của Thiên Chúa, chấp nhận ý muốn của Ngài, vác thập giá mình, tất cả tạo ra hiệu quả ngược với những gì con người mong đợi. Chúng ta chứng kiến một phép lạ, một sự biến đổi không thể tin được; mọi sự thay đổi về bản chất và tên gọi: mệt nhọc trở nên nghỉ ngơi, ách trở nên êm ái, gánh trở nên nhẹ nhàng.

Chỉ cần khám phá bí mật của sự biến đổi này. Chúng ta phải thực hiện một cú nhảy gần như vô hạn, đó là hoán cải. Ai thực hiện được cú nhảy này sẽ được nghỉ ngơi, người đó sẽ trở về nhà mà được bồi dưỡng. Chúng ta đến với Đức Giêsu để tìm kiếm một điều gì đó, một ân sủng, một sự chữa lành; nhưng Đức Giêsu đề nghị với chúng ta một điều gì đó khác, khẩn cấp hơn và đẹp đẽ hơn nhiều.

Làm thế nào Đức Giêsu có thể giúp chúng ta hiểu và chấp nhận sự trao đổi? Ngài có thể cho chúng ta ngay lập tức những gì chúng ta yêu cầu; Ngài có thể. Một hôm, Đức Giêsu đã nói với người Pharisêu: “Trong hai điều: một là bảo: “Con đã được tha tội rồi”, hai là bảo: “Đứng dậy mà đi”, điều nào dễ hơn?” (Mt 9,5) Điều dễ hơn nhiều cho Thiên Chúa là nói: “Đứng dậy mà đi!” vì không mắc mớ gì tới sự tự do của chúng ta. Nhưng Ngài biết rằng làm như thế không phải là điều tốt nhất cho chúng ta, mà ngược lại. Giống như chúng ta đến gặp một bác sĩ để điều trị cảm lạnh, và khi nhận ra chúng ta bị ung thư, ông chỉ điều trị cảm lạnh mà không làm gì cho căn bệnh ung thư và không cảnh báo chúng ta!

Chúng ta vẫn phải chấp nhận cuộc trao đổi này mà không càu nhàu và tuân theo lời Đức Giêsu: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,33).

Nước hằng sống và bánh hằng sống

Đây là hai tình huống phúc âm sẽ giúp chúng ta hiểu được đâu là “bước” mà chúng ta phải thực hiện, sự hoán cải mà chúng ta được kêu gọi.

Tình huống đầu tiên là ở trong chương bốn của Phúc Âm Gioan. Người phụ nữ xứ Samari, người Đức Giêsu vừa nói với, ngay lập tức xin Ngài: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy” (Ga 4,15). Chúng ta cũng vậy, khi biết Đức Giêsu ban ơn, chúng ta xin ngay với Ngài: Lạy Chúa, xin ban ơn cho con! Xin cho con được thấy, để con không còn phụ thuộc vào người khác; xin cho con đi được, để con có thể đến nơi nào con muốn; xin cho con kiếm được việc làm cho con trai con, hoặc cho nó thi đậu, để con, con, con…

Lưu ý: Đức Giêsu không coi thường những lời kêu xin này, trái lại, Ngài cảm động khi nghe thấy những lời kêu xin ấy, thậm chí còn khóc nữa. Nhưng Ngài không thể để chúng ta làm tù nhân cho cái “tôi” của chúng ta cho đến mức ấy. Ngài phải giúp chúng ta thoát khỏi tình trạng này, nơi chúng ta chỉ nhìn thấy bản thân và hạnh phúc của chúng ta ở trần gian. Ngài không thể lấy đi cọng rơm và để lại cho chúng ta cái xà.

Chúng ta hãy lắng nghe câu trả lời Ngài dành cho người phụ nữ xứ Samari (và cho nhiều người nam nữ Samari ngày nay): “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban […] thì hẳn chị đã xin, và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống” (x. Ga 4,10). Nước hằng sống: Đức Giêsu đã và muốn ban một loại nước khác, nước làm hết khát, giải quyết dứt điểm vấn đề khát nước, nước “vọt lên đem lại sự sống đời đời” (chúng ta hãy nhớ từ “đời đời” hay “vĩnh cửu”, vì nó sẽ giúp chúng ta sau này).

Người phụ nữ xứ Samari phải đưa ra lựa chọn, và chúng ta cũng phải làm như chị: phải chăng chị sẽ khăng khăng đòi cho có nước ấy - thứ mà chị biết và sẽ giúp cho chị khỏi phải đến giếng nữa - hay chị sẽ đổ nước lại xuống giếng và sẽ quên nó, vì chị say mê với việc khám phá ra thứ nước mới mà Đức Giêsu nói, nước hằng sống và vĩnh cửu?

Có vẻ như người phụ nữ đã lựa chọn đúng, vì chị chạy ngay về làng, nói với mọi người: “Đến mà xem!” Đức Giêsu đã nói rõ: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây.” Đấng Mêsia, nước hằng sống, sự sống vĩnh cửu, chính tôi là người đang nói với chị! Một cuộc trao đổi tốt đẹp. Người phụ nữ đã đến lấy nước ở giếng, và chị đã tìm thấy Thiên Chúa ở đó. Phúc cho những ai đến tìm cách để được chữa lành và tìm thấy Thiên Chúa! Phúc cho những ai xin được khỏe mạnh và tìm thấy sự cứu rỗi!

Hãy chuyển sang tình huống thứ hai trong Phúc Âm. Chúng ta vẫn đang trong Phúc Âm Gioan, chương sáu. Lần này là bánh. Không lâu trước đó, Đức Giêsu đã cho làm cho bánh và cá hóa ra nhiều, tất cả no nê xong, đã bỏ đi. Thế nhưng tin tức đã lan truyền ra và một nhóm người gặp lại Ngài bên kia biển hồ, trong hội đường Caphácnaum.

Họ bắt đầu hỏi một câu ngây thơ, nhưng lại ẩn chứa nhiều lợi lộc khác: “Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?” (Ga 6,25). Nhưng Đức Giêsu nhìn thấu tận đáy lòng họ, đi thẳng vào vấn đề: Các ông không tìm tôi vì dấu lạ - nghĩa là để thấy người mà việc làm cho bánh hóa ra nhiều chỉ là một dấu chỉ - nhưng đơn giản vì các ông đã ăn bánh này và nghĩ rằng còn được ăn nữa. Một lần nữa, Đức Giêsu bắt đầu nói về bánh của mình, và rồi, như người phụ nữ xứ Samari, họ vội nói: “Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy”. Nhưng Đức Giêsu nói đến một thứ bánh khác, một thứ bánh làm no thỏa, một thứ bánh “thường tồn đem lại phúc trường sinh”. Và cuối cùng, Ngài mạc khải rõ: “Tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói” (Ga 6,36). Một lần nữa, một sự lựa chọn, một bước phải thực hiện: chọn giữa bánh hay hư nát, cho dù nó có được cách kỳ diệu, và bánh không hư nát, là chính Đức Giêsu. Chúng ta biết kết quả ra sao. Một số người bắt đầu xầm xì và nói: “Lời này chướng tai quá. Ai mà nghe nổi?” (Ga 6,60), rồi bỏ đi. Nhưng những người khác, với Simon Phêrô đứng đầu, đã nói: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).

Vả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải đối mặt với cùng một sự lựa chọn; chúng ta thấy mình đang ở trong cùng một tình huống giống như những người vượt qua biển hồ để đi tìm Đức Giêsu. Chúng ta sẽ chọn cái gì? Chúng ta sẽ vào số những người bỏ đi hay những người ở lại? Liệu chúng ta có còn xin bánh thông thường, bánh hằng ngày, hay trái lại, chúng ta sẽ quên bánh vật chất trong một thời gian, và chúng ta sẽ giơ tay lên, đôi mắt và tâm hồn hướng về thứ bánh khác, như trong Thánh Thể, khi chúng ta dọn mình đón nhận mình thánh Đức Kitô? Thực ngu ngốc những người bỏ đi ngày hôm ấy và nói: “Lời này chướng tai quá” (Ga 6,60). Nếu họ đã tìm kiếm bánh vật chất, nếu họ thực sự đói, làm sao họ không hiểu được rằng khi chọn chính Đức Giêsu, họ đã chọn một Đấng có khả năng cũng làm cho bánh vật chất hóa ra nhiều!

Tôi nói chúng ta phải lựa chọn, như ở ngã tư nơi có hai con đường giao nhau: con đường của những người tin Chúa thật sự và con đường của những “khách hàng” thuần túy của Chúa, con đường của những người ngoại giáo. Đức Giêsu nói: “Tất cả những thứ đó, dân ngoại giáo vẫn tìm kiếm” (x. Mt 6,32) (Ở Rôma cổ đại, người ta gọi là “khách hàng” (client) những người mỗi sáng vội vã đến trước cửa nhà các ân nhân giàu có để kiếm ăn, nhưng không quan tâm gì đến ân nhân). Phải lựa chọn.

Giống như Phêrô, bạn có thể nói: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Trước hết, chúng con muốn Chúa. Chúng con muốn nước hằng sống, chứ không phải nước giếng của con người; chúng con muốn bánh hằng sống, chứ không chỉ thứ bánh hay hư nát. Chúng con muốn được chữa lành nơi tâm hồn, trước khi được chữa lành nơi thân xác. Chúng con muốn Chúa đỡ chúng con khỏi gánh nặng nề, đau đớn và khủng khiếp, đang đè nặng lên chúng con, là sự ích kỷ của chúng con! Chúng con muốn Chúa chữa lành căn bệnh ung thư đáng sợ mà tất cả chúng ta đều mắc phải và dẫn đến sự chết đời đời: tội lỗi!”

Phúc cho mắt nào được thấy điều anh em thấy

Khi đã thực hiện lựa chọn căn bản này, giờ đây chúng ta có thể đặt ra câu hỏi xuất hiện ngay trong trí, dưới hình thức một lời bác bỏ khiêm tốn mà chúng ta nói với Đức Giêsu : Lạy Chúa Giêsu, tất cả những gì Chúa đã nói với chúng con, chúng con đều đón nhận, nhưng cho phép chúng con được hỏi: Chúa có thể cho chúng con biết ách của Chúa êm ái thế nào và gánh của Chúa nhẹ nhàng ra sao. Chúa không biết rằng sự đau khổ của chúng con có lẽ cũng khủng khiếp như thập giá, nặng nề, cho đến khi chúng con nói: “Đủ rồi, con không thể chịu đựng được nữa!” Chúa là Đấng đã xúc động đến rơi lệ trước nỗi đau khổ của bà góa ở Naim, người đã đi theo con trai đến huyệt mộ? Có lẽ Chúa không biết điều sau đây đôi khi có thể có nghĩa gì: chấp nhận cái ách ý muốn của Chúa Cha và vâng lời, Chúa là Đấng mà để làm tròn ý muốn ấy, đã đổ mồ hôi máu trong vườn cây dầu?

Nếu cái ách mà Chúa nói là luật, luật mới của Phúc Âm, thì nó có nhẹ hơn, rẻ hơn luật cũ của những ký lục và tiến sĩ với cả ngàn chỉ thị không? Ồ! Tất nhiên, nó đơn giản hơn, dễ ghi nhớ hơn, cơ bản chỉ có hai điều răn, thậm chí một điều răn thôi: đó là yêu, yêu Thiên Chúa và yêu người lân cận; nhưng chắc chắn không dễ hơn khi thực hành! Chính Chúa, trước khi nói về ách nhẹ nhàng, đã nói: “Các ông đã hiểu người xưa đã nói […] còn tôi, tôi nói cho các ông hay”, nhưng mỗi lần Chúa gia tăng đòi hỏi, Chúa làm cho ách ra nặng hơn. Chúa nói với chúng ta rằng không ngoại tình thì chưa đủ; nhưng còn không được nhìn một người phụ nữ hoặc một người đàn ông mà có lòng ước muốn xấu xa; yêu người lân cận và ghét kẻ thù của mình thì không đủ; cũng phải yêu kẻ thù của mình, không chỉ yêu kẻ thù của mình bằng lời nói, nhưng cầu nguyện cho họ, làm điều lành, tha thứ cho họ; yêu những người yêu thương chúng ta thôi chưa đủ, chào hỏi những người chào hỏi chúng ta thôi chưa đủ, mời những người mời chúng ta thôi chưa đủ: những người ngoại đạo cũng làm như vậy (x. Mt 5,17-48).

Nhưng khi đó, Chúa muốn nói gì với chúng ta khi Chúa bảo ách của Chúa êm ái và gánh của Chúa nhẹ nhàng?

Phải có một mầu nhiệm trong đó: một điều gì đó mới mẻ, mà chúng ta chưa biết, phải được đưa ra ánh sáng để giải thích nghịch lý này.

Điều hiểu ngầm được gọi là Nước Trời! Điều gây ra sự đảo ngược tình huống này, chính là Vương Quốc của Thiên Chúa đã đến cùng với Đức Giêsu. Điều mới đã đến, điều thay đổi mọi sự, thổi bay - như người ta nói - mọi tham số và tiêu chí. Trong Phúc Âm Luca, ngay sau đoạn nói Đức Giêsu hớn hở vui mừng, cảm tạ Chúa Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều ấy và đã mạc khải cho những kẻ bé mọn, thì thay vì: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28), chúng ta đọc những lời khác của Đức Giêsu, tuy khác, nhưng có liên hệ với lời Matthêu nói: “Phúc thay mắt nào được thấy điều anh em thấy! Quả vậy, Thầy bảo cho anh em biết: nhiều ngôn sứ và nhiều vua chúa đã muốn thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, đã muốn nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe” (Lc 10,23-24).

Đó là điều tạo nên sự khác biệt, đó là “cái hiểu ngầm”! Tôi nhớ hiệu quả do lời này tạo ra khi tôi đã biết cuộc Canh tân trong Thần Khí. Một cô gái trẻ, có mặt trong buổi tĩnh tâm nổi tiếng nơi khai sinh ra cuộc Canh tân Đặc sủng Công giáo, đã viết trong một bài báo là lời này của Đức Giêsu áp dụng cho những gì cô đã thấy. Điều này bắt tôi suy nghĩ nhiều. Cô gái trẻ này đã có thể thấy rõ những gì cho phép cô nói một cách chắc chắn: “Phúc cho mắt nào được thấy điều anh em thấy…?” Tôi có thể nói rằng đó là một trong những lời đã khiến tôi đến với cuộc Canh tân. Bây giờ đến lượt tôi lặp lại cũng những lời đó: “Phúc cho mắt nào được thấy điều anh em thấy…”

Vậy, đó là Nước Trời; người ta tìm thấy lời giải thích ở đây. Không còn gì như trước nữa, những thước đo, “những trọng lượng” cũng đã thay đổi… Nước Trời làm cho những ai “đang vất vả gồng gánh nặng nề” được nghỉ ngơi bồi dưỡng, cho những ai nghèo khó, những ai khóc lóc, những ai đói khát, được tuyên bố là “có phúc”. “Vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Người có được Nước Trời có còn nghèo chăng? Người chờ đợi một vương quốc có còn buồn chăng? Đối với người có thể có được vương quốc, gánh có thể nặng nề, cay đắng chăng?

Hoài niệm về vĩnh cửu

Chúng ta hẳn có thể hài lòng với câu trả lời mà lời Chúa đưa ra: Nước Trời. Đối với chúng ta, như vậy là đủ. Nhưng chúng ta sẽ nói gì với người khác, với những người mà thuật ngữ “Vương quốc” không nói lên điều gì cả? “Vương quốc” không phải là một từ quá phổ biến ngày nay, khi chúng ta sống dưới chế độ cộng hòa và dân chủ… Làm thế nào để giúp cho người khác hiểu chúng ta, để “biện minh cho niềm hy vọng nơi chúng ta”?

Có một cách diễn tả khác, chính Kinh Thánh cống hiến, thậm chí còn nói đi nói lại cho chúng ta, và tôi không thể giữ được nó lâu hơn nữa: Vĩnh cửu! Vĩnh cửu! Cuộc sống vĩnh cửu! Chính là Nước Trời, biện pháp mới mà Đức Giêsu ban cho chúng ta mà chúng ta đã không lưu ý cho đủ.

Nếu muốn biết tại sao ách của Đức Giêsu êm ái và gánh của Ngài nhẹ nhàng, chúng ta hãy lắng nghe Tông Đồ Phaolô: “Thật vậy một chút gian truân tạm thời - lưu ý những chữ “một chút”, “tạm thời” - trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Vì thế chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (2Cr 4,17-18).

Một thước đo mới giúp cho những thập giá và gian truân trong chốc lát trở nên êm ái, nhẹ nhàng: Vĩnh cửu. Chính vì thế vị Tông Đồ có thể nói: “Thật vậy, tôi nghĩ rằng những đau khổ chúng ta chịu bây giờ saánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18). Không một so sánh nào có thể có!

Chúng ta cần biết người đã gọi cơn gian truân là “nhẹ nhàng” và trong một “khoảnh khắc” để không thốt lên với ông ta: “Này ông Phaolô, ông mau mắn nói thế vì ông đã không cảm nhận được những gì tôi đã cảm nhận và đang cảm nhận! Tôi muốn thấy ông ở vị trí của tôi! Trong cùng một bức thư, Phaolô đã nói về mình như thế này: “[…] bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do Thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần tôi bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi; phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng…” (2Cr 11,24-27).

Điều này làm tôi nhớ lại một khoảnh khắc trong cuộc đời của phong trào Phan sinh: Tổng tu nghị “chiếu”. Một ngày nọ, Phanxicô Assisi tập hợp tất cả các anh em của ngài ở rải rác khắp nơi trên thế giới, khoảng 5.000 người, tại Nhà Thờ Đức Mẹ Các Thiên Thần gần Assisi, dịp lễ Hiện Xuống. Cuộc họp được gọi là “Tổng tu nghị chiếu”, vì anh em sống trong những túp lều ứng biến bằng cành liễu và cây mây. Những Bông Hoa Nhỏ kể rằng có một lúc, Người Nghèo đứng dậy và, đầy nhiệt huyết, đã có một bài phát biểu rực lửa mà chúng ta lắng nghe, như thể thánh Phanxicô đang nói với chúng ta ở đây, lúc này: “Hỡi các con, chúng ta đã hứa với Chúa những điều lớn lao, nhưng những gì Ngài đã hứa với chúng ta còn lớn lao hơn. Chúng ta hãy nhìn những gì chúng ta đã hứa với Ngài, và hãy chờ đợi một cách chắc chắn những gì Ngài đã hứa với chúng ta. Thú vui của thế gian thì vắn vỏi, nhưng đau khổ sau đó thì vĩnh viễn. Đau khổ của đời này thì không đáng kể, nhưng vinh quang của đời sau thì vô cùng.”[60] Rồi tất cả hớn hở đi vào chầu.

Một ngày khác, thánh Phanxicô, đang ở trên thành lũy thánh Lêô gần Rimini, nơi đang diễn ra cuộc tranh tài của các hiệp sĩ, bắt đầu lớn tiếng từ trên một bức tường thấp: “Điều tốt tôi mong đợi lớn đến nỗi mỗi hình phạt là một lạc thú.”

Giờ đây chúng ta đi đến trọng tâm của sứ điệp mà tôi phải chuyển đạt cho các bạn - từ “vĩnh cửu”. Chúng ta bám sát vào từ này, cho tới khi làm cho nó sống lại; chúng ta sẽ lấy hơi thở sưởi ấm cho nó, cho tới khi nó lấy lại sự sống. Bởi vì “vĩnh cửu” là một từ chết; chúng ta đã để nó chết, như người ta để cho một đứa trẻ bị bỏ rơi chết.

Vậy, từ này đã là động cơ bí mật thúc đẩy người Kitô hữu hành động, là cực thu hút suy nghĩ của họ, là kim từ tính chỉ cho họ con đường như cho các thủy thủ, là thực tại nâng đỡ trái tim, như khối lượng của mặt trăng tròn nâng cao mặt nước biển khi thủy triều lên, từ ấy đã chịu một sự biến đổi nào? Ngọn đèn đã lặng lẽ được đặt lại dưới một giá đèn, lá cờ gấp lại như một đoàn quân đang rút lui. Hiện tượng này có một cái tên rất chính xác: “thế tục hóa”. Thế tục hóa, nghĩa là quên đi hoặc gác lại vĩnh cửu, để gắn bó với thời đại, với thời điểm hiện tại. Đó là lạc giáo lớn, nguy hiểm nhất trong thời đại chúng ta và không may là chúng ta ít nhiều đã bị nó tác hại. Theo nghĩa này, tất cả chúng ta đều là những người vô tín.

Trước hết, sự nghi ngờ của chủ nghĩa Mác nhắm vào từ “vĩnh cửu”, vì nó làm cho người ta không còn dấn thân trong lịch sử nhằm thay đổi thế giới và cải thiện cuộc sống hiện tại, và nó giống như một lối trốn chạy thực tế. Và dần dần, với sự nghi ngờ, vĩnh cửu chìm vào quên lãng và im lặng. Chủ nghĩa duy vật và xã hội tiêu thụ đã làm phần còn lại. Nó trở nên kỳ dị và nói về vĩnh cửu gần như không phù hợp với những người “hiện đại”. Ai còn nói về “Novissimi” (những sự sau hết) - sự chết, sự phán xét, thiên đàng, hỏa ngục - khởi đầu và những hình thức của vĩnh cửu?

Nhưng sự kiện không nói về nó không có nghĩa là những thực tại này đã không còn tồn tại. Người ta nhớ lại thảm kịch của con tàu xuyên đại tây dương Titanic.  Người ta đã gửi tin nhắn qua radio để báo cáo có một tảng băng trôi trên đường đi của con tàu. Nhưng trên sàn tàu đang có một bữa tiệc và không một ai đã nhận và lưu ý đến tin nhắn một cách nghiêm túc; đến nửa đêm, một cú va chạm khủng khiếp đã xé toạc thân tàu và mọi người bị ném xuống biển. Điều đó giúp người ta nghĩ đến những gì có thể xảy ra trên bình diện thiêng liêng, nghĩ đến những người sống mà không quan tâm đến những gì đang chờ đợi họ trên đường. Trên đường đi của chúng ta cũng vậy, có một tảng băng trôi và chính là cái chết…

Ngày nay không còn ai nói về đời sống vĩnh cửu sao? Tuy vậy Đức Giêsu trong Phúc Âm chỉ nói đến điều đó mà thôi! Ngài cảnh báo chúng ta: “Nếu muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại?” Nếu những kẻ tin mất đi cảm thức về vĩnh cửu, ai sẽ lại cho họ cảm thức ấy? “Muối cho đời” và “ánh sáng cho trần gian” chính là sự vĩnh cửu: không có nó thì không gì có mùi vị, mọi sự trở nên nhạt nhẽo, vô ích, như thánh Augustinô đã nói: “Sống tốt có ích gì, nếu không thể sống mãi mãi?” Trước ngài, Đức Giêsu đã nói: “Được lợi lãi cả thế gian mà mất linh hồn, thì ích gì?”

Điều gì có thể xảy ra với một người phải cân một thứ gì đó, khi anh ta đã làm mất đi “quả cân” hoặc thước đo của cái cân? Hãy tưởng tượng một người cầm một cái cân trong tay. Bạn biết nguyên lý của cái cân Rôma, với một bên là chiếc khay được giữ bằng dây xích, và bên kia là một cán có chia vạch giữ quả cân. (Tôi lấy ví dụ này từ triết gia Soren Kierkegaard trong sách Phúc Âm về sự Đau Khổ của ông, nơi ông bình giải cùng một đoạn văn Mt 11,28-30). Ở một bên, trên chiếc khay, người ta đặt những thứ cần cân - bột mì, bánh mì, cá hoặc bạc, vàng, bất cứ thứ gì người ta muốn - và ở bên kia, người ta móc một quả cân để cân bằng chiếc khay. Nếu quả cân quá nhẹ, tất cả những gì được đặt trên chiếc khay sẽ nâng cán lên và nghiêng cân về phía của nó. Phần thắng về bên chiếc khay, dù nó chỉ đựng một mớ lông vũ có nhẹ mấy đi nữa.

Chính là nơi chúng ta đang ở. Chúng ta đã mất cảm thức về vĩnh cửu là cảm thức đo lường mọi sự, và mọi sự trên thế giới này chiếm ưu thế và chắc chắn sẽ làm nghiêng cán cân về bên chúng. Mọi sự dường như quá khó khăn, quá nặng nề. Đức Giêsu nói: “Nếu tay ngươi là dịp tội cho ngươi, hãy chặt nó đi; nếu mắt ngươi là dịp tội cho ngươi, hãy móc nó đi. Thà được cuộc sống đời đời mà cụt một tay hay mù một mắt, hơn là còn cả hai tay và hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục đời đời, nơi phải chịu đau đớn vô tận.”

Chúng ta đoán rằng việc lấy vĩnh cửu làm thước đo thay đổi cuộc sống của chúng ta như thế nào. Chúng ta, những người đã không còn nhìn tới vĩnh cửu, thì nhắm mắt trong giây lát hoặc tắt tivi để không làm nhơ bẩn tâm hồn mình và không làm liên lụy đến cuộc sống vĩnh cửu, dường như quá sức đối với chúng ta. Mọi sự đối với chúng ta dường như quá đáng: phải dậy sớm hơn một chút hoặc bước thêm một đoạn đường để đi lễ, nỗ lực vì người thân cận, tha thứ cho một hành vi xúc phạm đến mình, chống lại một cơn cám dỗ. Và chúng ta nghĩ: “Ai ép tôi làm như thế?” Chúng ta thường chọn sự dễ dãi khi nó dẫn đến cái chết.

Chúng ta hãy nhớ lại lời của thánh Phaolô: “Những đau khổ của đời này chẳng là gì so với sức nặng của vinh quang phải được mạc khải nơi chúng ta.” Nhẹ đi, vì chúng mau qua trước sức nặng của vinh quang vĩnh cửu. Nếu thiếu đi sức nặng này, những gian truân của chúng ta, thay vì nhẹ đi, đột nhiên không thể chịu đựng nổi.

Mặt khác, khi bạn không còn chịu đựng được nữa, bị những nỗi gian truân đè bẹp, hãy thực hiện một hành vi tin bằng cách vất sang phía bên kia cái cân sức nặng khổng lồ là ý tưởng về sự vĩnh cửu, và bạn sẽ thấy sức nặng của gian truân sẽ nhẹ hơn một chút. Hãy tự hỏi: “Tất cả những điều đó là gì liên quan đến vĩnh cửu? Một ngàn năm giống như một ngày, như “một canh đêm”, như ngày hôm qua đã qua đi”. Đó chỉ là một khoảnh khắc, một hơi thở. Và những năm qua chúng ta đã sống bây giờ là gì ?

Tôi đưa ra một hình ảnh: một đám đông hỗn tạp và bận rộn; một số người làm việc, cười, khóc, đi đi lại lại, người khác thì đau khổ trong một góc nhà. Một người lớn tuổi từ xa đến, thở dốc và thì thầm một từ vào tai người đầu tiên, rồi vừa chạy vừa nói từ đó cho một người khác. Người nhận được nó chạy đi lặp lại từ đó vào tai người khác, và cứ thế. Và tôi thấy có một sự thay đổi bất ngờ: người đang đau khổ nằm trên sàn nhà đứng dậy và chạy nhanh đi nói tiếng đó tại nhà; người đã chạy dừng chân và quay lại, người khác vừa khóc vừa ôm chầm lấy một người khác…

Từ nào đã gây ra sự thay đổi như vậy? Từ: “Vĩnh cửu!” Cho phép tôi đủ táo bạo để lặp lại cho các bạn từ này: Vĩnh cửu. Đây là từ phải đi qua giữa chúng ta, giống như một ngọn đuốc đang cháy, như một tín hiệu sáng mà lính canh ngày xưa đã truyền từ tháp này sang tháp khác: Vĩnh cửu! Vĩnh cửu! Vĩnh cửu tồn tại! Người ta bảo những người Do Thái bị lưu đày ở Babylon: “Hãy hát cho chúng tôi nghe một bài ca Sion”. Họ đã trả lời thế nào cho những kẻ bắt giữ họ? “Lưỡi xướng ca sẽ dính với hàm, nếu tôi không hoài niệm, không còn lấy Giêrusalem, làm niềm vui tuyệt đỉnh của tâm hồn!” (Tv 137,3tt).

Ngọn đuốc này phải được truyền từ tay này sang tay khác trong nhóm của bạn, trong trường học của bạn, trong công việc của bạn và thắp sáng những người khác. Chớ gì ánh mắt của bạn, chỉ mình nó, có thể nói lên rằng đó không phải là một trò đùa hay một khẩu hiệu, nhưng nó khơi dậy hoài niệm về vĩnh cửu nơi những người nghe.

Tôi nói đến hoài niệm hay luyến tiếc, vì nghĩ rằng không một đàn ông hay một phụ nữ nào, khi nghĩ lại về tuổi trẻ của mình, lại không nhớ đến một khoảnh khắc hay một hoàn cảnh nào mình đã có cảm thức về vĩnh cửu; người đó như cúi xuống ngưỡng cửa của nó, thoáng nhìn thấy nó, cho dù anh (chị) ta không thể kể lại khoảnh khắc đó.

Tôi nhớ một trong những khoảnh khắc đó, khi tôi còn là học sinh trung học. Chúng tôi đang trong kỳ nghỉ hè, tôi ướt đẫm mồ hôi sau khi đã chơi, và nằm một lúc trên cỏ. Ánh mắt của tôi bị hút vào bầu trời xanh ngắt với những đám mây trắng nhẹ trôi. Tôi tự hỏi: Có gì ở bên trên vòm trời xanh này, và còn có gì ở xa hơn nữa? Trong mơ hồ, tâm trí tôi đi về phía vô tận và lạc lõng, giống như một người nhìn chằm chằm vào mặt trời quá lâu, bị lóa mắt và không còn nhìn thấy gì nữa. Vô tận đòi hỏi vĩnh cửu: từ không gian tôi đã đi sang thời gian. “Vĩnh cửu là gì: mãi mãi, không bao giờ! Một ngàn năm và đó chỉ là khởi đầu, hàng triệu và hàng tỷ năm, và đó chỉ là khởi đầu!” Tâm trí tôi lại lạc lõng. Nhưng đó là một cảm giác đẹp, khiến tôi trưởng thành hơn.

Trước khi mùa này của đời bạn trôi qua khi bạn vẫn còn có thể ngạc nhiên và bản thân bị “ấn tượng” bởi một điều gì đó, bạn hãy một lần trải qua kinh nghiệm mà tôi đã có. Hãy dừng lại, nằm ngửa trên một đồng cỏ, trong một khoảnh khắc cô đơn, và nhìn lên bầu trời. Bạn cũng vậy, hãy tưởng tượng “những không gian vô tận và những yên lặng siêu phàm”, giống như nhà thơ Leopardi trong “Infinito“, và hãy trải nghiệm lần chìm đắm hạnh phúc của tâm trí. Hãy chìm đắm trong biển khơi của sự vô tận và vĩnh cửu, và bạn sẽ thấy rằng bạn cũng sẽ nói như ông ấy: “Thật êm dịu biết bao khi tôi chìm đắm trong biển này.”

Đừng tìm kiếm cảm giác run lên của vô hạn, sự chìm đắm của tâm trí, ở nơi khác, trong ma túy, nơi chỉ có chết chóc, ảo tưởng, dối trá. Tôi đã đề nghị cho bạn một liều thuốc giải độc mạnh mẽ trước cơn cám dỗ khủng khiếp và tàn phá của ma túy: trải nghiệm cảm xúc đích thực về vĩnh cửu, tìm kiếm sự vô hạn ở trên cao, không ở dưới thấp, ở trên bạn, không ở dưới bạn. Thiên Chúa sẽ giúp bạn. Còn bạn, những người lớn tuổi! Hãy ngừng đếm những đồng xu của bạn và hãy bắt đầu đếm các vì sao.

Con người chỉ còn là gì nếu người ta lấy đi sự vĩnh cửu khỏi trái tim và suy nghĩ của nó? Theo các triết gia, con người là “một hữu thể hữu hạn, có khả năng vô hạn”, nghĩa là mở ra cho sự vô hạn, cần sự vô hạn và dành cho sự vô hạn. Thánh Augustinô nói: “Chúa đã tạo nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”.[61] Chính đó là cội rễ của sự không thỏa mãn sâu sắc này ngự trị trong lòng con người. Chúng ta đã được tạo nên cho nhiều sự khác, nhưng chúng ta tiếp tục chạy theo những sự vật của thế giới này một cách tuyệt vọng. Trong lời thơ của mình về sự vô hạn, Leopardi nói tới “một hàng rào ngăn cản chúng ta nhìn thấy cuối chân trời”. Trong cuộc sống cũng vậy, có một hàng rào ngăn cản chúng ta nhìn về bên kia hàng rào, hàng rào của “những sự vật hữu hình”, vì vậy vị Tông Đồ mời gọi chúng ta đừng nhìn chăm chăm vào đó nữa.

Khi thế giới khiêu khích bạn và cố gắng quyến rũ bạn bằng cách bày ra trước mặt bạn sự lấp lánh của những viên ngọc trai giả tạo của nó, của sự háo thắng mau qua và say xỉn, cho dù là từ rượu, ma túy, tình dục, thành công, hãy nại tới đức tin của bạn, hãy lặp lại cho mình câu này, vì đó là sự thật: “Những gì hữu hình chỉ tồn tại trong giây lát. Tôi không hài lòng với những gì của một khoảnh khắc, tôi muốn những gì vĩnh cửu, tôi muốn Thiên Chúa!”

Đừng ngại nói với thiên hạ rằng: “Bạn không thuyết phục được đâu. Bạn thiếu biện pháp, bạn không biết vĩnh cửu. Giống như thể bạn đang tán dương sức mạnh của việc trộn muối ăn với lưu huỳnh hoặc thuốc súng, cho một người biết bom nguyên tử đã được phát minh, hoặc nếu bạn ca tụng quyền năng của ngọn nến, cho người có ánh sáng điện hoặc người đang ở dưới ánh nắng ban trưa. Bạn không có thuật ngữ đúng để so sánh. Còn tôi, tôi có một lợi thế lớn hơn bạn. Tôi biết sức mạnh của bạn (và tôi thậm chí biết điều đó quá rõ); nhưng bạn không biết sức mạnh của tôi. Tôi biết những gì hoạt động trong bạn, còn bạn, bạn lại không biết những gì hoạt động trong tôi và mạnh hơn (x. 1Ga 4,4). Giữa chúng ta, bạn đúng là người ngây ngô, chứ không phải tôi là người tin!”

Khai ân của Thần Khí

Sự nghi ngờ thường ngăn cản những tín hữu nói như thế. Sức nặng của vĩnh cửu chắc chắn lớn hơn sức nặng của gian nan thử thách, nhưng chúng ta vác thập giá của mình trong thời gian, chứ không phải trong vĩnh cửu, ”Vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin, chứ không phải nhờ được thấy Chúa” (2Cr 5,7). Tự nền tảng, chúng ta chỉ phải chống lại sự thu hút của những điều hữu hình hơn là “niềm hy vọng” những điều vô hình; chúng ta chỉ phải chống lại “khoái cảm” tức thời của những gì dưới đất hơn là “lời hứa” hạnh phúc vĩnh cửu. Thời thánh Augustinô người ta đã nói: “Chúng tôi muốn được hạnh phúc trong thân xác này”, “cuộc sống này thật ngọt ngào”.

Đây là sai lầm mà chúng ta, những tín hữu, phải chống lại. Vĩnh cửu không chỉ là một “lời hứa”, một “kỳ vọng” ở đời này. Đó còn là một “sự hiện diện” và một “kinh nghiệm”! Tông đồ Gioan nói: “Tôi đã viết những điều đó cho anh em, là những người tin vào danh Con Thiên Chúa, để anh em biết rằng anh em có sự sống đời đời” (1Ga 5,13). Đây là một trong những điều chắc chắn quan trọng nhất mà cuộc Canh tân trong Thần Khí đang thức tỉnh trong Giáo Hội, một trong những đóng góp quý giá nhất của Giáo Hội vào việc đổi mới đời sống Kitô giáo.

Nếu bạn nói về vĩnh cửu và sự sống vĩnh cửu với một người không phải là tín hữu hoặc không phải là một tín hữu thực hành, anh ta sẽ nhún vai và nói với bạn: “Vĩnh cửu, vĩnh cửu! Vĩnh cửu là gì vậy? Nếu sự vĩnh cửu của bạn tồn tại thì chung quy ai có thể nói đây!” Còn bạn, bạn định trả lời thế nào? Khi đó, bạn hãy lặp lại những lời của thánh Gioan Tông đồ, ca viên vĩ đại của sự sống đời đời: “Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến đó là Lời sự sống […] chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa. Quả vậy sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời, sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi” (x. 1Ga 1,1-3).

Sự sống vĩnh cửu đã được bày tỏ. Vâng, vì chính Thiên Chúa là sự sống vĩnh cửu, và Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, đã làm người và đến ở giữa chúng ta (x. Ga 1,14). Với Đức Giêsu, vĩnh cửu đi vào thời gian, thời gian trở thành “chứa đầy” vĩnh cửu. Nói rằng Đức Giêsu là “con người và Thiên Chúa trong một ngôi vị duy nhất”, điều này có nghĩa là vĩnh cửu và thời gian kết hợp mãi mãi trong Ngài và không thể hòa lẫn với nhau hoặc tách rời nhau: tức là mỗi bên giữ lại những đặc điểm riêng của mình, trong một sự hợp nhất không thể phân chia.

Cả chúng ta nữa, chúng ta có thể nói về sự sống vĩnh cửu là nó đã xuất hiện, chúng ta nhìn thấy nó và bàn tay của chúng ta đã chạm vào nó, bởi vì Đức Giêsu đang sống giữa chúng ta. Ngài sống và hiện diện nơi lời của Ngài được loan báo. Ngài sống trong các bí tích của mình. Các bí tích, đặc biệt bí tích Thánh Thể, giống như những cửa sổ qua đó sự sống vĩnh cửu đi vào thế giới chúng ta. Các thánh cũng vậy, theo cách riêng của các ngài, là những cửa sổ mở vào thế giới của Thiên Chúa, qua đó người ta có thể nhìn thấy những gì đang chờ đợi chúng ta.

Bởi vì ngay từ bây giờ chúng ta trải nghiệm sự vĩnh cửu trong đức tin, nên ngay từ bây giờ chúng ta có thể cảm nghiệm được hạnh phúc. Người Kitô hữu chúng ta cũng vậy, giống như mọi người khác, muốn được hạnh phúc “trong thân xác bằng bằng xương bằng thịt”, nhưng chúng ta đã khám phá ra rằng có một cách khác để được hạnh phúc. Chúng ta đã cảm nghiệm được niềm vui là “hoa trái của Thần Khí”, là niềm vui đứng vững ngay cả trong hoạn nạn và không phải là niềm vui “nhất thời”, mà là sự bình an sâu xa và lâu dài. Tôi tràn đầy niềm vui trong mọi nỗi gian truân”, như thánh Phaolô đã có thể nói với dân Corintô, và chúng ta có thể thấy những môn đệ đầu tiên “được tràn đầy hoan lạc và Thánh Thần” (Cv 13,52).

Giờ đây chúng ta đã đi đến phần cuối bài suy niệm về lời Đức Giêsu: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi…” (Mt 11,28) và phần cuối này mang dấu ấn được gọi là Chúa Thánh Thần. Sự hiện diện của đời sống vĩnh cửu trong Giáo Hội và trong mỗi chúng ta đều có một danh xưng riêng: đó là Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta. Người được gọi là “ân huệ mở đầu” (x. Rm 8,23) và “bảo chứng phần gia nghiệp của chúng ta” (x, Ep 1,14; 2Cr 5,5). Người được ban cho chúng ta, để chúng ta được nếm những ân huệ mở đầu, khát vọng sự viên mãn. Nhờ Người, chúng ta “rên siết trong lòng chờ mong được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (x. Rm 8,20-23). Và chỉ một mình Người thôi có thể đốt lên trong chúng ta hoài niệm về vĩnh cửu.

Chúng ta phải công nhận rằng chúng ta cũng vậy, trong cuộc Canh Tân, đã quên điều đó đôi chút và đôi khi chúng ta cư xử như thể Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta để sống tốt hơn và lâu nhất có thể trên trần gian này, để phát triển tiềm năng của cuộc sống tự nhiên và tăng thêm nơi chúng ta niềm vui sống. Nhưng Thần Khí từ trên xuống đẩy chúng ta lên trên. Đó là Ruah Yahvé, Hơi Thở của Thiên Chúa, nâng chúng ta lên. Chúng ta biết rằng chỉ cần không khí lấp đầy các xác thuyền đã rơi xuống đáy biển là đủ để khiến chúng trồi lên: khi đó chúng nhẹ hơn nước. Thứ lỗi cho tôi đưa ra hình ảnh này. Nhưng chúng ta, những con người ngày hôm nay, và những người Kitô hữu chúng ta cũng vậy, là những thân xác đã rơi xuống đáy biển. Chúng ta đã đắm chìm trong tính thế tục. Chúng ta đã bị “thế tục hóa”. Nhưng Thần Khí đã được sai đến với chúng ta, Đức Giêsu đã thổi hơi thở vào chúng ta và đã làm lan tỏa hơi thở của Ngài với cùng một lý do: nâng chúng ta lên từ đáy, hướng lên trên cao, cho đến khi chúng ta quay lại để chiêm ngắm bầu trời vô tận và khiến chúng ta thốt lên, tràn đầy niềm vui: Vĩnh cửu! Vĩnh cửu!


12. VĨNH CỬU VÀ BÁC ÁI

Chúng ta đã nghe Đức Giêsu nói với chúng ta “Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng, Thầy sẽ an ủi các con” và “Chúa Thánh Thần cũng sẽ dạy các con mọi điều và sẽ nhắc nhở cho các con tất cả những gì Thầy đã nói với các con” “vì Thầy sẽ cầu nguyện cùng Chúa Cha và Ngài sẽ sai một Đấng Bảo Trợ khác, một Đấng an ủi khác.

Như thể, trước khi chết, khi giới thiệu Chúa Thánh Thần cho chúng ta, Đức Giêsu Phục Sinh đã nói với chúng ta: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, và Đấng Bảo Trợ sẽ an ủi anh em. Người sẽ dạy anh em mang lấy ách của tôi và học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”. Thực tại vĩnh cửu làm cho ách của Đức Giêsu Kitô êm ái và gánh nặng của Ngài nhẹ nhàng. Nhưng ý tưởng về vĩnh cửu, tự nó, không giải thích được tất cả. Hơi giống mặt trời mùa đông, chiếu sáng nhưng không tỏa nhiệt. Chúng ta phải thốt lên một từ mang tính quyết định khác: từ “bác ái”.

Vĩnh cửu là vật chứa đựng, là hình thức; bác ái là nội dung, là rượu đổ đầy bình. Vĩnh cửu sẽ ra sao, nếu không có bác ái? Biết Thiên Chúa hiện hữu thì có ích gì nếu chúng ta không biết Ngài là tình yêu? Điều này sẽ khơi dậy nỗi sợ hãi hơn là sự an ủi.

Thánh Augustinô đã bình luận như thế về đoạn Tin mừng Mt 11,28-30. Tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của các bài viết của các người anh em chúng ta trong đức tin: chính nhờ nghe họ mà chúng ta được nuôi dưỡng bằng lúa mì tinh hảo (Tv 81,17). Lúa mì tinh hảo là lúa mì được chọn lọc, xay xát và biến thành bột mịn: đó là Lời Chúa đến với chúng ta, được “nhai và tiêu hóa” do các vị tiến sĩ của Hội Thánh giống như những chiếc cối xay lúa. Và chúng ta, những tôi tớ phục vụ Lời, giống như những chủ cối xay phân phát Lời ấy.

Đây là những gì thánh Augustinô nói: “Bạn nghe Đức Giêsu nói: “ách của tôi nhẹ nhàng”, sau đó bạn nghe nói về các vị tử đạo và tất cả những gì họ nói là đã phải chịu đựng một cách dã man vì Đức Giêsu, và bạn nghĩ: Làm sao có thể nói rằng ách này nhẹ nhàng? Thánh Augustinô trả lời: Này, tôi nói cho bạn hay họ đã không đau khổ. Tại sao họ đã không đau khổ? Vì họ đã chịu đựng mọi cuộc tra tấn nhân danh bác ái. Đó là ách mà Đức Giêsu thương đặt trên vai bạn, tên nó là bác ái, tình yêu. Tất cả những gì dường như làm cho bạn rất mệt nhọc trước đây, sẽ có vẻ dễ dàng với bạn một khi có đầy bác ái; tất cả những gì bạn nghĩ là nặng nề trước đây, sẽ có vẻ nhẹ nhàng với bạn khi được bác ái nâng đỡ. Hãy mang lấy ách này; nó sẽ không đè nặng bạn, nó sẽ nâng đỡ bạn, nó sẽ như đôi cánh cho bạn… Hãy chấp nhận gánh và đôi cánh này, và nếu bạn đã bắt đầu có chúng, hãy làm cho chúng lớn lên… Một cánh là: “Bạn hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa của bạn hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn” (Mt 22,37). Nhưng dừng gắn bó với chỉ một cánh, vì bạn nghĩ rằng chỉ có một cánh, sự thật là bạn thậm chí không có cánh đó. Cánh thứ hai là: “Bạn hãy yêu người lân cận như chính mình” (Mt 22,39). Bởi vì nếu bạn không yêu người anh em mà bạn thấy, làm sao bạn có thể yêu Chúa mà bạn không thấy? Hãy thêm cánh này để bạn có thể bay.”[62]

Mẫu gương có thể được áp dụng cho nhiều chuyện khác. Ví dụ, người ta có khả năng gì để giữ dáng, vì thích vẻ đẹp riêng và thể hình? Phải chay tịnh và kiêng cữ nhiều lắm!… Phải chăng người ta sẽ chấp nhận run lên vì trời lạnh giữa mùa đông, chỉ để muốn khoác lên mình chiếc áo lụa mới? Có lần tôi thấy ở Milano những người tiếp thị ngoài trời: dù tuyết đổ, mưa rơi, dù trời nóng ngột ngạt, họ vẫn ở đó đúng giờ, từ sáu giờ sáng, dưới những bức tường của tu viện chúng tôi.

Thánh Phaolô lấy gương của những vận động viên chạy tại thao trường: “Hãy nhìn xem họ phải kiêng kỵ đủ điều… Vậy mà cuối cùng chỉ có một người trong số họ đoạt giải, và giải chỉ là một vòng nguyệt quế đơn giản, trong khi chúng ta, chúng ta chạy để tất cả đều nhận một triều thiên không bao giờ hư nát” (x. 1Cr 9,24-25). Tại sao họ làm vậy? Ai thúc ép họ, từ đâu mà họ có được lòng dũng cảm và kiên nhẫn như thế? Đó là vì họ khát khao đạt được, thích chiến thắng và nổi tiếng.

Đúng vậy, tình yêu có khả năng tạo điều kiện thuận lợi và làm nhẹ những điều khó khăn nhất. Sách Gương Chúa Giêsu Kitô nói: “Ai yêu, bay, chạy, vui mừng, thì tự do và không gì có thể giữ chân người ấy […]. Thường thì tình yêu không có mức độ, nhưng vượt ra ngoài mức độ. Không gì đè nặng nó, không gì khiến nó phải trả giá, nó cố gắng nhiều hơn có thể, nó không bao giờ viện cớ là không thể, bởi vì nó tin rằng mọi sự đều có thể và mọi sự đều được phép […]. Và vì điều đó, nó có thể làm mọi sự, và nó hoàn tất nhiều việc gây mệt nhọc và kiệt sức vô ích cho những người không yêu”.[63] Bạn là người đang yêu, bạn biết đó là sự thật. Thánh Augustinô nói: “Hãy cho tôi một người biết tình yêu là gì, và anh ta sẽ hiểu những gì tôi nói”.

Nếu tình yêu của con người có thể làm được như vậy, thì người ta sẽ nói sao về tình yêu của Thiên Chúa?

Ai sẽ cho chúng ta tình yêu này, một tình yêu làm cho ách nhẹ nhàng, một tình yêu làm chúng ta sống ách của Đức Kitô Giêsu “như cánh tay của người chồng trên người vợ?” Chúng ta hãy nhớ lại gương của đôi cánh và tự hỏi mình bằng những lời của Thánh vịnh: “Phải chi được đôi cánh bồ câu, để bay bổng tìm nơi an nghỉ?” (Tv 55,7). Câu trả lời, ai nấy trong chúng ta đều biết. “Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người đã ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Bí mật là Chúa Thánh Thần. Chính Người là luật mới ban sự sống (x. Rm 8,2). Thần Khí là ân sủng hoạt động trong chúng ta, cùng với chúng ta. Ách của Đức Giêsu, nghĩa là những giới luật và những điều răn của Ngài, thậm chí là khó nhất, cũng nhẹ nhàng, vì đó là ách mà Thiên Chúa không đặt cho chúng ta từ bên ngoài, nhưng Ngài mang cùng với chúng ta.

Người Pharisêu đã chất lên vai người ta những gánh nặng không đương nổi, nhưng chính họ “thì lại không buồn đụng ngón tay vào” (x. Mt 23,4) và bất hạnh thay, những người tội lỗi chúng ta cũng thường làm như vậy. Thiên Chúa thì không thế! Luật cổ xưa ra lệnh phải làm, luật mới là Thần Khí cho phép hoặc cho người ta làm. Nó cho người ta khả năng làm.

Ách luôn được hai người mang. Vợ chồng cũng là “những người kết hợp”, cùng mang một ách nên đáng lý cũng là một ách êm ái, nhưng thường ra lại là một ách nặng, khi thiếu vắng tình yêu là yếu tố làm cho nó êm ái. Ách của Đức Giêsu cũng được mang bởi hai: Ngài và chúng ta, và chúng ta đều biết rằng Ngài là người mang sức nặng lớn nhất, thập giá nặng nhất. Chính Ngài mang chúng ta bằng cây thập giá này. Tôi đã đọc câu chuyện về một người mang một gánh nặng. Trong lúc đau buồn, anh cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi. Một đêm kia anh có một giấc mơ; anh đang ở trong sa mạc và trên cát anh thấy có dấu chân của hai người cạnh nhau. Đó là Đức Giêsu và anh cùng nhau bước đi. Có một lúc, các dấu chân biến mất, chỉ còn lại những dấu chân của một người. Đây là tình huống hiện tại của anh trong thử thách. Khi ấy, trong giấc mơ, anh nói với Đức Giêsu: “Lạy Chúa, Chúa đã ở đâu, tại sao Chúa lại để con một mình, ngay lúc con cần Chúa nhất?” Đức Giêsu trả lời anh: “Này con, những bước chân con thấy là những bước chân của Ta vì Ta mang con trên vai Ta!”

Nếu ai đó đặt câu hỏi tương tự với Đức Giêsu: “Lạy Chúa, Chúa ở đâu, tại sao Chúa bỏ rơi con?”, người đó hãy lắng nghe vì Đức Giêsu có thể trả lời tương tự cho anh ta: “Con ơi, Ta ở đây, Ta đang mang con trên đôi vai của Ta!”

Chúng ta hiểu rằng phương thuốc độc nhất và phổ quát, phương thuốc mà chúng ta cần để chữa lành, hoặc ít nhất là để giảm bớt mọi bệnh tật và mệt nhọc của chúng ta, chính là tình yêu do Chúa Thánh Thần đổ xuống. Khi đó, chúng ta hãy biến đổi mọi lời cầu nguyện của mình và chỉ dâng lên Chúa một lời cầu nguyện duy nhất: “Lạy Chúa, xin ban cho chúng con lòng bác ái, xin cho chúng con được đầy tình yêu và như thế là đủ cho chúng con!”

Như thánh Augustinô đã nói, đừng quên lấy “cánh thứ hai” là tình yêu đối với người lân cận, vì chỉ với một cánh, chúng ta sẽ không bao giờ có thể bay được. Cánh thứ hai của tình yêu là đặc ân cho những người đau khổ, bệnh tật, mệt mỏi, bị áp bức. Không chỉ bằng cách nói với họ về vĩnh cửu mà còn bằng cách giúp đỡ họ. Không có vĩnh cửu nào mà không có bác ái. Nhân danh bác ái, chúng ta đi vào trận chiến cầu nguyện cho họ. Nói về Nước Trời làm sống lại lòng bác ái trong chúng ta.

Đối mặt với chính mình, mỗi người sẽ nhớ đến vĩnh cửu, nhưng đối mặt với anh em của mình, chúng ta sẽ chỉ nhớ đến bác ái. “Đức mến không tìm tư lợi” (1Cr 13,5). Bác ái muốn điều tốt cho người khác, không chỉ điều tốt cho mình, muốn người khác được chữa lành cũng như chính mình được chữa lành. Bác ái noi gương Thiên Chúa, Đấng mà trong Kinh Thánh thường cảm thấy “trái tim thổn thức” và “ruột gan bồi hồi” trước cảnh khốn cùng của dân Người (x. Gr 31,20; Hs 11,8).

Tội lỗi phải trốn tránh bằng mọi giá là nguyên tắc mỗi người vì mình, thúc đẩy chúng ta tiên vàn nghĩ đến bản thân hoặc một thành viên trong gia đình chúng ta, nghĩ đến việc phải mở đường, ngay cả dùng khuỷu tay để chen lấn, mong có được chỗ tốt nhất, có được sự chú ý của người nổi tiếng, hoàn toàn phớt lờ những người khác.

Làm thế nào chúng ta có thể hy vọng được Đức Giêsu chữa lành, khi chúng ta đang chà đạp lên con ngươi mắt Ngài là tình yêu đối với người lân cận? Ngay cả khi chúng ta được chữa lành như mong muốn, thì đó sẽ là sự chữa lành nào? Căn bệnh thực sự của bạn, chủ nghĩa vị kỷ, nguyên nhân đầu tiên gây ra đau khổ trên thế giới, sẽ trở nên trầm trọng hơn.

Nguyên tắc “mỗi người vì mình” sẽ được thay thế bằng nguyên tắc “mỗi người vì mọi người”. Thưa các bạn, có một bí mật kỳ diệu trong nguyên tắc này, mà tôi muốn tiết lộ cho các bạn. Bao lâu mỗi người cầu nguyện cho mình, thì người đó, nghĩa là chỉ có một người thôi, cầu nguyện cho mình và xin cho mình được chữa khỏi, nhưng nếu mỗi người cầu nguyện cho mọi người, thì đúng là mọi người sẽ cầu nguyện cho mỗi người, nghĩa là tất cả chúng ta, đang hiện diện, chúng ta sẽ cầu nguyện cho tôi, cho bạn, cho mỗi người. Và làm sao Đức Giêsu có thể cưỡng lại lời cầu nguyện của biết bao nhiêu người, khi Ngài đã hứa: “Nếu ở dưới đất hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho” (Mt 18,19)?

Sự tin tưởng của chúng ta chính là Đức Giêsu đang ở giữa chúng ta và chính Ngài bầu cử cho chúng ta bên tòa Chúa Cha: “Đức Giêsu cầu nguyện với chúng ta, trong chúng ta và cho chúng ta và Ngài được chúng ta cầu nguyện. Ngài cầu nguyện cho chúng ta với tư cách là tư tế của chúng ta, Ngài cầu nguyện cho chúng ta và trong chúng ta với tư cách là đầu của chúng ta, ngài được chúng ta cầu nguyện với tư cách là Thiên Chúa chúng ta”.[64]

Chúng ta phải đau buồn và cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho một điều duy nhất: chúng ta không phải là thánh! Chúng ta không thực sự chết cho mình và cho ý muốn tự do của mình và không hoàn toàn kết hợp với ý muốn của Thiên Chúa. Nếu chúng ta làm như thế, chúng ta sẽ có thể có can đảm để cầu nguyện và kêu lên, như vị thánh ẩn sĩ của thời Thượng cổ có ngày đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, dù Chúa muốn hay không muốn, con sẽ không buông Chúa ra trước khi Chúa cho con lành bệnh!”[65]

Tôi phải nói thêm một điều mà tôi cho là quan trọng. Sau lời cầu nguyện, cũng sẽ có chiều nay như mọi khi, một người nào đó sẽ cảm thấy tốt hơn hoặc thậm chí được chữa lành, và nhiều người khác, phần đông, sẽ không cảm thấy được chữa lành, ít nhất về thân xác. Người ta có thể nghĩ gì về tất cả những điều này? Có lẽ họ không có đủ đức tin, có một trở ngại bí mật nào đó trong họ, hoặc Chúa không yêu họ chăng? Hãy coi chừng suy nghĩ này. Đó là một ý kiến sai lầm chỉ gây ra quá nhiều thiệt hại ở những nơi khác, nếu nó cũng được đưa vào trong Giáo Hội Công giáo.

Nếu điều này là như vậy, chúng ta nên nghĩ rằng các thánh có một đức tin quá yếu, vì nhiều người trong số các ngài cũng đầy bệnh tật và trong khi chữa cho người khác được lành bệnh, các ngài không thể chữa cho mình lành bệnh. Nhưng tại sao lại nói về các thánh? Chính Đức Giêsu là một trong những người đầu tiên không được lắng nghe. Trên núi Cây Dầu, Ngài xin Chúa Cha cất chén đắng, nhưng Chúa Cha không cất và Ngài phải uống. Nhưng đổi lại Chúa Cha đã cho Ngài những gì? Chúa Cha đã ban cho Ngài danh hiệu là Chúa, đã đặt mọi sự dưới chân Ngài!

Tại châu Phi, tôi đã gặp một nhà truyền giáo giáo dân. Cô bị đau ở một bên chân, đi tập tễnh. Sau khi cầu nguyện nhiều lần xin cho mình được chữa lành nhưng vô ích, cô đã được cho biết là không thể làm gì được nữa: cô hẳn đã đặt một trở ngại thầm kín đối với ân sủng, bởi vì không có lời giải thích nào khác, vì - như người ta nói - Đức Giêsu muốn chữa cho mọi người, ngay cả phần xác. Vì vậy, cô đã bị ray rứt gấp đôi, vừa cảm thấy tồi tệ về thể xác vừa sống trong lo lắng (tâm hồn cô bị ray rứt). Cho đến ngày, như cô cho tôi biết, cô hiểu và thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa biết con rất thích được nhảy ít nhất một lần trong đời, con chấp nhận đi khập khiễng mãi mãi, nhưng Chúa sẽ phải cho phép con nhảy múa bao lâu con muốn làm điều đó trước mặt Chúa ở Giêrusalem trên trời!” Thế là cô lại vui vẻ và thanh thản.

Thiên Chúa chúng ta biết cách làm tốt hơn là giải quyết mọi vấn đề của chúng ta: Ngài biết cách dạy chúng ta sống với mọi vấn đề chưa được giải quyết! Thiên Chúa chúng ta biết làm làm tốt hơn là chữa lành ở trần gian, nơi người ta biết rằng sớm muộn gì cũng sẽ phải ngã bệnh một lần nữa hoặc chết; Ngài biết chữa lành cho đời sống vĩnh cửu.

Lời Đức Giêsu đã hứa với chúng ta lúc đầu ngày hôm nay và bây giờ Ngài đổi mới chúng ta, lời đó thật đúng và trung thành: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11, 28-30).

Lm. Micae Trần Đình Quảng chuyển ngữ

Nguồn: giaophandalat.com



[1] Saint Cyrille de Jérusalem, Catéchèses XVII, 19, collection Migne, Les Pères dans la foi, sept. 93, p. 285.

[2] Saint Ambroise, Des sacrements, V, 3, 17; SC 25, p. 92.

[3] Saint Augustin, Sermon 225; PL 38. 1098.

[4] Id., Commentaire des Psaumes, Ps. 35, 14.

[5] Grégoire de Nazianze, Discours 12,6; PG 35, 849.

[6] Fioretti, ch. 8, CEFA, p. 42.

[7] Thérèse d’Avila, Château Intérieur, ch. X, in Oeuvres complètes, Desclée de Brouwer, p. 1008).

[8] Admonitions, SF n. 144.

[9] SF, n. 221.

[10] Saint Augustin, Sermon 21,2.

[11] Confessions VIII, 11.

[12] Confessions, VIII, 11 G.F., Flammarion, p. 172-173.

[13] Saint Augustin, Sur l’Evangile de Jean, 65, CCL 36, 490.

[14] Imitation de Jésus-Christ, III, 5).

[15] Origène, Romains, 5, 8; PG 14, 1042.

[16] Dorothée de Gaza. Instructions, 1, 20. SC. No 92. Paris 1963, p. 177.

[17] Journal, no 2709.

[18] Les Odes de Salomon, 42, 8, p. 403.

[19] Cf. Lumen gentium, 33.

[20] Saint Augustin, Sermons, 34, 6 PL 38, 210, et Commentaires, Ps 32, 8 in Prier Dieu - les Psaumes, Cerf, p. 185-186.

[21] Tertullien, Apologétique, 39, 9.

[22] Saint Cyrille de Jérusalem, Catéchèse mystagogique, 3, 1-3, Sources chrétiennes, no 126, Paris, 1966.

[23] Du Baptême 7, 1.

[24] Saint Irénée, Contre les hérésies, III. 18,3, Cerf, p. 362.

[25] Lettre aux Ephésiens, 17 PA I, 225 SC 10.

[26] Contre les hérésies, III, 9, 3, Cerf, p. 301.

[27] Contre les Ariens, I, 47.

[28] Théophile d’Antioche, À Autolycus, 1,12.

[29] Discours, 4, 1-2, PL 54, 148.

[30] Discours 2, 95.

[31] Pesachim 10, 5.

[32] Commentaires des psaumes, 1, 33, PL 14, 939-940.

[33] La Philocalie, Lettre à Théodule, Desclée de Brouwer/Latès, p. 192 et ss.

[34] La Montée du Carmel, II, 5, 7, Oeuvres complètes, Desclée de Brouwer, p. 135.

[35] Saint Macaire l’Egyptien, Philocalie des Pères Neptiques, no 113.

[36] Saint Ambroise, Comm. Psaumes, 35, 19.

[37] Je crois en l’Esprit Saint, III, Renouveau dans l’Esprit, Promesses et interrogations, Cerf, p. 417 à 419.

[38] Sermon 169, 11; PL 38, 923.

[39] Clément d’Alexandrie, Pédagogue 1, 6, 26, S.C. 79.

[40] Traité du Saint-Esprit, 12; Pères dans la foi, Desclée de Brouwer, p. 74.

[41] Contre Eunone, III, 5; PG 29, 655.

[42] Saint Basile, Sur le baptême, 1, 2; SC 357.

[43] Légende des trois compagnons, 3, 7.

[44] De la résurrection des morts, 8, 3.

[45] Du baptême, 2, 1 et 2, SC, no 35.

[46] cf. saint Augustin, De Trinitate, XV, 19, 34.

[47] Saint Augustin, Homélies sur l’Evangile de Jean, BA 72, p. 683ss).48

[48] The Spirit and the Church, sous la direction de R. Martin, New York, 1976, p. 16.

[49] Sources Franciscaines, no 1673.

[50] Sources Franciscaines, n0 1678.

[51] Smirn. 8, 2 SC, n0 10.

[52] Catéch. 18, 23 PG 33, 1044.

[53] Iréné de Lyon, Contre les hérésies, III, 24, 1-2, Le Cerf. 1994, p. 395.

[54] Réf. In Ioh., tr. 45, 12; De bapt. IV, 3, 4).

[55] cf. Mart. de saint Polycarpe, 16, 2.

[56] cf. Grégoire Naz., Test.’ PG 37, 389.

[57] Magnésiens 3, 2 VII.

[58] FF, n. 109.

[59] FF, n. 112 ss.

[60] Fioretti, ch. XVIII; Sources franciscaines, n. 1848.

[61] Confessions 1,1.

[62] Saint Augustin, Sermon 126, 13; Miscellanea Agostiniana I, p.366ss.

[63] Imitation de Jésus-Christ III, 4.

[64] Saint Augustin, Commentaires Ps 85, 1 in Prier Dieu, Cerf, p. 6.

[65] Apophtegmes des Pères, XIX, 14, PL 73, traduction abbaye Saint-Pierre-de-Solesmes, 1966.