LỜI NÓI ĐẦU

I. “CHỚ GÌ MỌI MIỆNG LƯỠI TUYÊN XƯNG ĐỨC GIÊSU LÀ CHÚA”

II. “THIÊN CHÚA ĐÃ YÊU THƯƠNG THẾ GIAN”

III. “ANH EM ĐÃ GIẾT ĐỨC GIÊSU NADARÉT”

IV. “CHÚNG TA ĐƯỢC DÌM VÀO TRONG CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI”

V. “BỊ ĐÓNG ĐINH VÌ MANG THÂN PHẬN YẾU HÈN, ĐỨC KITÔ ĐANG SỐNG NHỜ QUYỀN NĂNG CỦA THIÊN CHÚA”

VI. “TỨC THÌ MÁU CÙNG NƯỚC CHẢY RA”

VII. “SỰ CÔNG CHÍNH CỦA THIÊN CHÚA ĐƯỢC TỎ HIỆN”

VIII. “SƯ TỬ XUẤT THÂN TỪ CHI TỘC GIUĐA ĐÃ CHIẾN THẮNG”

IX. “BỊ NGHIỀN NÁT VÌ CHÚNG TA PHẠM TỘI”

X. “ĐỨNG GẦN THẬP GIÁ ĐỨC GIÊSU CÓ THÂN MẪU NGƯỜI LÀ ĐỨC MARIA”

XI. “NGƯỜI ĐÃ HỦY MÌNH RA KHÔNG”

XII. “ĐỨC GIÊSU KÊU MỘT TIẾNG LỚN, RỒI TRÚT LINH HỒN”

XIII. “ĐẾN NHƯ CHÍNH CON MỘT, THIÊN CHÚA CŨNG CHẲNG TIẾC”

XIV. “VÀ NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI TRONG VINH QUANG, ĐỂ PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT”

XV. “ĐỨC KITÔ ĐÃ YÊU THƯƠNG HỘI THÁNH, VÀ HIẾN MÌNH VÌ HỘI THÁNH”

XVI. “MẦU NHIỆM THẬP GIÁ TỎA SÁNG”

XVII. “MỘT NGƯỜI ĐÃ CHẾT THAY CHO MỌI NGƯỜI”

XVIII. “LÀ CÁC NGƯƠI ĐÃ LÀM CHO TA”

XIX. “NGƯỜI ĐÃ PHÁ ĐỔ BỨC TƯỜNG NGĂN CÁCH”

XX. “NGƯỜI ĐÃ BAN CON MÌNH ĐỂ CỨU VỚT TÔI TỚ CỦA NGƯỜI”

XXI. “THẾ LÀ ĐÃ HOÀN TẤT”

XXII. “GIỜ ĐÂY THỦ LÃNH THẾ GIAN NÀY SẮP BỊ TỐNG RA NGOÀI”

XXIII. “MỘT KHI ĐƯỢC GIƯƠNG LÊN CAO KHỎI MẶT ĐẤT, TÔI SẼ KÉO MỌI NGƯỜI LÊN VỚI TÔI”

XXIV. “CHÍNH NGƯỜI LÀ SỰ BÌNH AN CỦA CHÚNG TA”

XXV. “VICTOR QUIA VICTIMA – CHIẾN THẮNG VÌ LÀ TẾ VẬT”

XXVI. “KÍNH LẠY THÂN XÁC THẬT SINH BỞI ĐỨC TRINH NỮ MARIA”

XXVII. “THIÊN CHÚA BÀY TỎ TÌNH YÊU CỦA NGÀI CHO CHÚNG TA”

XXVIII. “CÓ MẤY NGƯỜI PHỤ NỮ”

XXIX. “CHIẾC ÁO DÀI KHÔNG CÓ ĐƯỜNG KHÂU”

XXX. “CHO ĐẾN CHẾT VÀ CHẾT TRÊN CÂY THẬP TỰ”

XXXI. “CHÚNG TA CÓ MỘT VỊ THƯỢNG TẾ SIÊU PHÀM”

XXXII. “ÔNG NÀY ĐÍCH THỰC LÀ CON THIÊN CHÚA”

XXXIII. “TA ĐÃ CHẾT VÀ NAY TA SỐNG ĐẾN MUÔN THUỞ MUÔN ĐỜI”

XXXIV. ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH NHỜ TIN VÀO MÁU ĐỨC GIÊSU KITÔ

XXXV. “GIUĐA, KẺ NỘP NGƯỜI, CŨNG ĐỨNG CHUNG VỚI HỌ”

XXXVI. “ECCE HOMO – ĐÂY LÀ NGƯỜI”

XXXVII. “ANH EM HÃY LÀM HÒA CÙNG THIÊN CHÚA”

XXXVIII. “ÔI THÁNH GIÁ, NGUỒN HY VỌNG DUY NHẤT CỦA THẾ GIỚI”

 

LỜI NÓI ĐẦU

Có một ngày trong năm mà trọng tâm phụng vụ của Giáo hội và cao điểm của nó không phải là Thánh Thể, nhưng là thập giá; không phải là bí tích, nhưng là biến cố, không phải là dấu chỉ, nhưng là biểu ý. Đó là thứ Sáu tuần Thánh. Ngày đó, chúng ta không cử hành Thánh lễ, nhưng chỉ chiêm ngắm và thờ lạy Đấng bị đóng đinh.

Trong đêm Vọng Phục Sinh, cùng lúc tưởng niệm cả sự chết lẫn sự sống lại của Đức Kitô, như những khoảnh khắc của Mầu Nhiệm Vượt Qua duy nhất, thì rất mau chóng, Giáo hội cảm thấy cần phải dành thời gian tưởng niệm cuộc Khổ nạn, để làm nổi bật sự phong phú vô tận của lúc mà “mọi sự đã hoàn tất”. Do đó, ngay từ thế kỷ thứ IV, nghi thức thờ lạy thánh giá ngày thứ Sáu tuần Thánh đã được khai sinh, mà qua dòng thời gian, đã có một ảnh hưởng quyết định đến đức tin và lòng đạo đức của dân Kitô giáo.

Một ân sủng hoàn toàn đặc biệt được biểu lộ khắp nơi trong Giáo hội ngày hôm nay. Chính là ngày “mầu nhiệm thập giá tỏa sáng – fulget crucis mysterium”, như một thánh thi phụng vụ đáng kính đã ca lên.

Những suy tư được đề ra trong cuốn sách này chính xác bắt nguồn từ bầu không khí và thời điểm đó. Đây là những chú giải bài trình thuật cuộc Khổ nạn, được đưa ra trong Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô, có mặt Đức Giáo Hoàng, trong phụng vụ thứ Sáu tuần Thánh, từ năm 1980 đến năm 2017. Những bài suy niệm được lặp lại ở đây theo thứ tự thời gian, ngoại trừ bài liên quan đến Đức Giêsu là “Chúa”, là của năm 1986, nhưng chúng tôi đặt lên đầu, dùng làm chìa khóa để đọc toàn bộ cuốn sách.

Được kết hợp với nhau, các bài này tạo thành một loại suy niệm kéo dài về Đấng bị đóng đinh, được sử dụng như một loại khởi giảng, công bố, hoặc theo cách chiêm niệm hơn, như các chặng của một đàng thánh giá đặc biệt, hoàn toàn tập trung vào Lời Chúa.

Các bài này có thể phục vụ hai mục tiêu: như những bài suy niệm về cuộc Khổ nạn và như khởi điểm cho việc tân Phúc âm hóa. Dù sao có điều chắc chắn là: cũng như thời Giáo hội khai sinh, ngay cả ngày nay Phúc âm sẽ không đi vào thế giới bằng “sự khôn ngoan của các diễn từ”, nhưng bằng sức mạnh của mầu nhiệm thập giá. Lời của Thánh Phaolô, mà cuốn sách này kính cẩn làm vang vọng lại, bảo tồn tất cả ý nghĩa của nó như một chương trình: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,22-24).


I. “CHỚ GÌ MỌI MIỆNG LƯỠI TUYÊN XƯNG ĐỨC GIÊSU LÀ CHÚA”

 Đối với người Do Thái, ngày thánh nhất trong năm là Yom Kippour, ngày lễ “Xá tội”, thầy thượng tế mang máu tế vật, đi về phía bên kia của bức màn trong Đền thờ, ông vào trong “Nơi Cực Thánh”, ở đó, một mình trước Đấng Tối Cao, ông xướng lên Danh Thiên Chúa. Đây là Danh hiệu gồm bốn chữ và được mạc khải cho Môsê giữa bụi gai cháy. Nghiêm cấm bất cứ ai xướng lên Danh hiệu này, trong suốt thời gian còn lại của năm, và người ta thay thế Danh hiệu này bằng Adonai, có nghĩa là Chúa.

Danh hiệu này – tôi cũng không muốn xướng lên nữa, để tôn trọng sự nhạy cảm của dân Do Thái, được Giáo hội cầu nguyện cho, trong ngày thứ Sáu tuần Thánh – vậy Danh hiệu này, được công bố trong những hoàn cảnh này, tạo nên sự chuyển đạt giữa trời và đất, làm cho chính ngôi vị của Thiên Chúa hiện diện; Ngài xá tội cho dân, cho dù việc xá tội này đã chỉ là hình bóng của việc xá tội hoàn hảo do Đức Kitô sẽ thực hiện.

Dân Kitô giáo cũng có Yom Kippour của mình, ngày Đại xá, và chính ngày này mà chúng ta đang cử hành. Sự thực hiện này đã được công bố trong bài đọc hai của phụng vụ hôm nay, qua những lời của Thư Do Thái: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa” (Dt 4,14). Trong cùng lá thư này, chúng ta đọc thấy Đức Kitô “đã vào cung thánh không phải với máu con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình” (Dt 9,12).

Cũng trong ngày hôm nay, mà chúng ta đang cử hành ngày Đại xá, không còn phải bằng hình bóng nhưng trong thực tại, không còn phải tội lỗi của một quốc gia, nhưng là của “cả thế gian nữa” (1Ga 2,2; Rm 3,25), một Danh hiệu được tuyên xưng. Trong câu tung hô trước Phúc âm, có một lúc những lời của thánh Tông Đồ đã được hát lên: “Đức Kitô đã vâng lời cho nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban Danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu”. Chính thánh Tông Đồ cũng không tuyên xưng Danh hiệu cao cả, nhưng thay thế bằng danh hiệu Adonai, tiếng Hy Lạp là Kyrios, tiếng la tinh là Dominus, tiếng Việt là Chúa, như phần tiếp theo của bản văn minh chứng: “Để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2,11). Điều ngài muốn nói qua tiếng “Chúa”, chính là Danh hiệu này, Danh hiệu diễn tả Yếu tính của Thiên Chúa. Chúa Cha đã ban cho Đức Kitô, cho tới tận nhân tính của Ngài, Danh hiệu riêng của mình và quyền năng riêng của mình (x. Mt 28,18): đó là chân lý kỳ diệu chứa đựng trong lời công bố: “Đức Giêsu Kitô là Chúa”. Đức Giêsu Kitô là “Đấng Hằng Hữu”, Đấng Hằng Sống.

Thánh Phaolô không phải là người duy nhất công bố chân lý ấy. Đức Giêsu nói trong Phúc âm Gioan: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,28). Ngài còn nói: “Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội lỗi mình mà chết” (Ga 8,24). Kể từ nay, việc xóa bỏ tội lỗi được thực hiện nơi Danh hiệu này, nơi Ngôi Vị này. Chúng ta vừa mới nghe trong trình thuật Khổ nạn điều xảy ra khi những người lính tiến lại gần Đức Giêsu để bắt Ngài. Ngài hỏi: “Các anh tìm ai?” Họ đáp: “Tìm Giêsu Nadaret”. Đức Giêsu nói: “Chính tôi đây” (dịch theo mặt chữ: Tôi Hằng Hữu). “Khi Ngài vừa nói: “Chính tôi đây”, thì họ lùi lại và ngã xuống đất” (Ga 18,4-6). Tại sao họ lùi lại và ngã xuống đất? Vì Đức Giêsu đã nói ra Danh hiệu thần linh của mình bằng tiếng Hy Lạp: “Ego eimi – Tôi Hằng Hữu”, và lập tức tiếng này đã có thể phát ra quyền lực. Ngay cả đối với thánh sử Gioan, Danh hiệu thần linh này liên kết chặt chẽ với sự vâng phục của Đức Giêsu cho đến chết: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu, và biết tôi không tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng Chúa Cha đã dạy tôi thế nào, thì tôi nói như vậy” (Ga 8,28). Đức Giêsu không phải là Chúa chống lại Chúa Cha hay thay thế Chúa Cha, nhưng “để tôn vinh Thiên Chúa Cha” (Pl 2,11).

***

Đó là đức tin mà Giáo hội thừa hưởng từ các Tông Đồ, một đức tin đã thánh hóa nguồn gốc của Giáo hội, đã làm nên việc phụng tự, thậm chí nghệ thuật của Giáo hội. Trên vòng hào quang của Đức Kitô Pantocrator (Chúa Tể mọi sự) nơi các cửa sổ kính màu và các linh ảnh (icône) cổ thời, người ta viết bằng những chữ vàng ba chữ Hy Lạp “ΟΩΝ – Đấng Hằng Hữu”. Chúng ta ở đây để thức tỉnh đức tin này, cho dù nó phải hồi sinh từ các tảng đá.

Trong những thế kỷ đầu của Giáo hội, ở tuần lễ tiếp theo phép Rửa tội – cũng là tuần Bát nhật Phục sinh – người ta tiết lộ và chuyển đạt cho các người tân tòng những thực tại thánh thiêng nhất của Kitô giáo, mà người ta đã không cho họ biết cho tới lúc này, hoặc chỉ cho họ thấy một vài ám chỉ, do “luật bảo mật” đang thịnh hành. Người ta từng ngày khai tâm cho họ biết các “mầu nhiệm” – Rửa tội, Thánh Thể, Kinh Lạy Cha – và hệ thống biểu tượng của chúng, do đó người ta gọi huấn giáo này là “nhiệm tính” (mystagogique). Đây là một kinh nghiệm độc nhất, in dấu không phai mờ trong cả cuộc đời, không phải do cách thức diễn tiến của nó cho bằng, đúng hơn, do nét cao cả của những thực tại thiêng liêng mà mắt họ được thấy. Tertullianô kể rằng các người trở lại “đã run lên vì sợ hãi trước ánh sáng chân lý[1]”.

Ngày nay, không còn những chuyện đó nữa. Theo dòng thời gian, mọi sự đã thay đổi. Nhưng chúng ta có thể tái tạo những thời điểm như những thời điểm đó. Phụng vụ còn cho ta những cơ hội. Một trong những cơ hội đó là phụng vụ trọng thể thứ Sáu tuần Thánh hôm nay. Chiều nay, nếu phụng vụ làm chúng ta chú ý, thì Giáo hội có điều gì đó “tiết lộ” và “chuyển đạt” cho chúng ta, như cho các người tân tòng. Phụng vụ chuyển đạt cho chúng ta quyền làm chúa của Đức Kitô, tiết lộ cho chúng ta bí mật mà thế gian không được biết, là “Đức Giêsu là Chúa” (x. Rm 10,9; 1Cr 12,3), và mọi người phải quỳ gối trước mặt Ngài. Ước mong một ngày nào đó, mọi người cũng sẽ nhất thiết quỳ gối trước mắt Ngài (x. Is 45,23). Qua lời Thiên Chúa, davar, người ta nói rằng trong Cựu Ước lời ấy “rơi xuống Israel” (x. Is 9,7), “đến với người nào đó”. Và giờ đây lời ấy, “Đức Giêsu là Chúa”, tột đỉnh của mọi lời, “rơi” xuống chúng ta, xuống cộng đoàn này, thực sự trở thành sống động, ở đây, ngay giữa trung tâm của Giáo hội Công giáo. Nó đi qua như ngọn đuốc cháy rực ngày xưa đi qua giữa những con vật đã bị xẻ đôi, do Abraham chuẩn bị cho hy tế giao ước (x. St 15,17).

“Chúa” là danh hiệu thần linh liên hệ với chúng ta còn mật thiết hơn. Thiên Chúa là “Thiên Chúa” và là “Cha” trước khi có thế gian, các thiên thần và loài người, nhưng Ngài chưa phải là “Chúa”, Ngài trở nên Chúa, Dominus, từ lúc có thụ tạo, mà Ngài thi hành “quyền thống trị” trên chúng, và chúng tự do chấp nhận sự thống trị này. Nơi Ba Ngôi, không có những “Chúa”, vì không có tôi tớ, nhưng cả ba bằng nhau. Theo một cách nào đó, chính chúng ta làm cho Thiên Chúa thành “Chúa”! Sự thống trị thần linh ấy, bị tội lỗi khước từ, đã được phục hồi nhờ sự vâng phục của Đức Kitô, Ađam mới. Nơi Đức Kitô, Thiên Chúa lại trở thành Chúa, với một tước hiệu mạnh hơn: nhờ việc sáng tạo và Cứu chuộc, Thiên Chúa tái khởi sự cai trị nhờ thập giá! Regnavit a ligno Deus“Vì Đức Kitô đã chết và sống lại chính là để làm chúa kẻ sống cũng như kẻ chết” (Rm 14,9).

***

Sức mạnh khách quan của câu “Đức Giêsu là Chúa” ở chỗ nó hiện tại hóa lịch sử. Nó kết luận cho hai biến cố nền tảng: Đức Giêsu đã chết vì tội lỗi chúng ta; Ngài đã sống lại để ta được nên công chính; vì vậy Đức Giêsu là Chúa! Tiếp đến những biến cố chuẩn bị cho nó, có thể nói, ẩn giấu trong kết luận này, nhờ đó, khi nó được công bố với lòng tin, những biến cố đó từ đây trở thành hiện tại và tác động: “Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,9).

Có hai cách căn bản hiệp thông với những biến cố cứu độ: một cách là bí tích, một cách là lời. Cách chúng ta đang nói là lời, cách thức tuyệt vời, được gọi là Kérygme (khởi giảng). Kitô giáo có rất nhiều thí dụ và kiểu mẫu kinh nghiệm về Thiên Chúa. Linh đạo Chính thống giáo nhấn mạnh kinh nghiệm về Thiên Chúa trong các “mầu nhiệm”, trong tâm nguyện… Linh đạo Tây phương nhấn mạnh kinh nghiệm về Thiên Chúa trong việc chiêm niệm, khi người ta hồi tâm, và nhờ thần trí, đưa mình lên trên những sự vật và chính mình… Tóm lại, có nhiều “hành trình của tâm trí hướng về Thiên Chúa”. Nhưng lời Chúa tiết lộ cho ta một hành trình giúp mở rộng chân trời thần linh cho những thế hệ Kitô hữu đầu tiên, một hành trình không có gì khác thường và không dành cho một số người ưu tuyển nào, nhưng mở rộng cho mọi người có tâm hồn ngay chính – cho những người tin và những người đang tìm kiếm đức tin – ; một hành trình không leo những cấp bậc của chiêm niệm, nhưng những cấp bậc của các biến cố thần linh cứu độ; một hành trình không phát sinh từ thinh lặng, nhưng từ việc lắng nghe; đó là hành trình của Khởi giảng: “Đức Giêsu Kitô đã chết! Đức Giêsu Kitô đã sống lại! Đức Giêsu Kitô là Chúa!”

Có lẽ chính loại kinh nghiệm này mà các Kitô hữu đầu tiên đã trải qua, khi mà trong phụng tự họ kêu lên: “Maranatha!” (1Cr 16,22), một lời kêu biểu thị hai việc, tùy theo cách người ta kêu, tức là: “Lạy Chúa, xin hãy đến!”, hoặc: “Chúa đến”. Nó có thể diễn tả một niềm khao khát được Đức Kitô trở lại, hoặc sự nồng nhiệt đáp lại sự “tỏ hiện của Đức Kitô trong phụng tự”, nghĩa là đáp lại sự bày tỏ của Ngài trong cộng đoàn cầu nguyện.

Tình cảm về sự hiện diện này của Chúa phục sinh là một loại soi sáng bên trong đôi khi làm thay đổi hoàn toàn tình trạng tâm hồn của người có nó. Nó nhắc lại tình cảm đã xảy ra khi Đấng Phục Sinh hiện ra với các môn đệ. Một hôm sau ngày Phục sinh, các Tông đồ đi đánh cá ở biển hồ Tibêria, thì xuất hiện trên bờ một người nói với họ từ xa. Tất cả đều bình thường cho tới lúc họ than phiền không bắt được gì, như chuyện thường xảy ra với các ngư phủ. Nhưng rồi nơi tâm hồn một người trẻ trong bọn – người môn đệ Đức Giêsu yêu – một luồng sáng bất ngờ bùng lên; anh nhận ra Ngài và kêu: “Chúa đó” (Ga 21,7). Lúc ấy, ngay lập tức mọi sự thay đổi trên thuyền.

Từ đó, chúng ta hiểu tại sao Phaolô quả quyết “không ai có thể nói rằng “Đức Giêsu là Chúa” nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1Cr 12,3). Cũng như bánh trên bàn thờ trở thành mình hằng sống của Đức Kitô, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần xuống trên nó, tương tự như vậy, lời này trở thành “sống động và hữu hiệu” (Dt 4,12) nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần hoạt động trong nó. Đây là một biến cố thuộc ân sủng mà chúng ta có thể chuẩn bị, cổ võ và ước muốn, nhưng chúng ta không thể một mình gây ra. Thông thường, người ta không nhận ra nó bao lâu nó chưa xảy ra, nhưng chỉ sau khi nó kết thúc, đôi khi hằng nhiều năm sau. Điều đã xảy ra nơi tâm hồn người môn đệ Chúa yêu trên biển hồ Tibêria có lẽ xảy ra cho một người nào đó hiện diện ở đây và lúc này, đó là “nhận ra” Chúa.

***

Trong câu “Đức Giêsu là Chúa”, cũng có một khía cạnh chủ quan, tùy thuộc người tuyên xưng. Đôi khi tôi tự hỏi tại sao ma quỷ, trong Phúc âm, không bao giờ tuyên xưng tước hiệu này của Đức Giêsu. Chúng đi đến chỗ nói với Ngài: “Ông là Con Thiên Chúa”, hoặc “Ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (x. Mt 4,3; Mc 3,11; 5,7; Lc 4,41); nhưng không bao giờ chúng ta nghe thấy chúng kêu lên: “Ông là Chúa”. Câu trả lời hay nhất xem ra như sau. Nói “Ông là Con Thiên Chúa” là thừa nhận một thực tế không tùy thuộc chúng, chúng không thể nói khác được. Nhưng nói “Ông là Chúa” thì lại hoàn toàn khác, bao hàm một quyết định cá nhân, hàm chứa công nhận Ngài là như thế và phục tùng quyền làm chúa của Ngài. Nếu chúng công nhận điều này, tức khắc chúng không còn là quỷ nữa và trở lại làm các thiên thần.

Lời này thực sự phân chia hai thế giới. Nói “Đức Giêsu là Chúa” có nghĩa là đi vào lãnh vực thống trị của Ngài cách tự do. Như thể nói: Đức Giêsu là Chúa “của tôi”; Ngài là lý do hiện hữu của cuộc đời tôi; tôi sống “cho” Ngài và không còn sống “cho tôi” nữa. Thánh Phaolô viết thư cho tín hữu Rôma: “Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (Rm 14,7-8). Mâu thuẫn cực độ mà con người luôn có kinh nghiệm – mâu thuẫn giữa sự sống và sự chết – đã bị vượt qua. Giờ đây, mâu thuẫn triệt để nhất không phải là giữa sự sống và sự chết, nhưng là giữa sống “cho Chúa” và sống “cho mình”. Sống “cho mình”, đó là danh hiệu mới của sự chết.

Sau ngày Phục sinh, lời công bố “Đức Giêsu là Chúa” đã thay thế cho lời công bố của Đức Giêsu khi Ngài đi rao giảng: “Triều đại Thiên Chúa đã đến với các ông” (x. Mt 12,28). Trước khi có sách Phúc âm, ngay cả trước khi có dự án soạn thảo sách Phúc âm, đã có lời loan báo: “Đức Giêsu là Chúa”. Chính Ngài là Đấng Mêsia! Chính Ngài là Chúa! Mọi sự bắt đầu từ đó. Trong lời loan báo này, phát sinh cùng với ngày Phục sinh, đã chứa đựng tất cả sức mạnh của lời rao giảng Phúc âm, như trong hạt giống. Huấn giáo và thần học của Giáo hội là như một cây uy nghi lớn lên từ hạt giống này. Nhưng cũng như hạt giống tự nhiên, theo dòng thời gian, nó như được chôn vùi dưới cây mà nó làm ra. Lời Khởi giảng, trong ý thức hiện nay của chúng ta, là một trong những chân lý đức tin, một yếu tố quan trọng của huấn giáo và việc rao giảng. Nó không còn đứng tách riêng ở nguồn gốc đức tin.

Trước một bản văn Kinh thánh, phản ứng đầu tiên của tôi luôn là tìm kiếm những âm hưởng của nó trong Truyền Thống, tức nơi các Giáo Phụ và các Tiến Sĩ Giáo hội, trong phụng vụ, nơi các thánh. Thông thường, tôi nghĩ đến nhiều chứng từ. Nhưng khi tôi thử làm như vậy với lời “Đức Giêsu là Chúa”, tôi đã phải ngạc nhiên nhận ra rằng Truyền Thống hầu như câm lặng. Từ thế kỷ III sau Đức Giêsu Kitô, tước hiệu Chúa không còn được hiểu theo nghĩa nguyên thủy nữa, và được coi như kém hơn tước hiệu Thầy. Nó được coi như tước hiệu đặc biệt của những người luôn là “tôi tớ”, và chưa trở thành “bạn hữu”, bởi vậy tương đương với cấp “sợ hãi[2]”. Trong khi đó chúng ta biết rằng nó là một điều hoàn toàn khác.

Đối với một cuộc tân Phúc âm hóa thế giới, phải đưa về lại ánh sáng hạt giống này, trong đó chứa đựng nguyên vẹn tất cả sức mạnh của sứ điệp Phúc âm. Phải tìm ra “gươm của Thần Khí” (Ep 6,17) là mãnh liệt công bố Chúa Giêsu. Trong văn chương sử thi nổi tiếng thời Trung cổ Kitô giáo có đề cập một thế giới trong đó tất cả đều uể oải và hỗn độn, vì không ai đặt ra vấn đề chủ yếu, không ai nói ra một lời mang tính quyết định, lời của Saint Graal, lời hưng thịnh lại, khi lời này lại được nói ra và khi người ta chú ý đến sự việc mà mọi người phải nghĩ đến trước tiên. Tôi cho rằng một điều gì đó thuộc loại này xảy ra với lời Khởi giảng “Đức Giêsu là Chúa”. Tất cả chỉ là uể oải và hỗn độn nơi mà lời đó không còn hiện diện nữa, hoặc không ở trọng tâm, hoặc không được đặt “trong Thần Khí”. Tất cả được linh hoạt trở lại, được nhen lại, khi lời đó được thấy trong tất cả sự tinh tuyền của nó, trong đức tin. Bề ngoài, không gì quen thuộc với chúng ta hơn chữ “Chúa”. Nó là phần nguyên vẹn của chính Danh hiệu chúng ta dùng để kêu cầu Đức Kitô, khi kết thúc các kinh nguyện phụng vụ. Nhưng nói: “(Nhờ) Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con” là một chuyện, và nói: “Đức Giêsu Kitô là Chúa chúng ta” lại là chuyện khác. Qua nhiều thế kỷ cho tới ngày nay, người ta có thể nói, ngay cả lời công bố “Đức Giêsu là Chúa” kết thúc cho thánh thi trong thư Philípphê (Pl 2,10) vẫn còn bị che đậy vì bị dịch sai. Quả thực bản Phổ thông đã dịch: “Để mọi miệng lưỡi tuyên xưng rằng Chúa Giêsu Kitô ở trong vinh quang của Thiên Chúa Cha” (Omnis lingua confiteatur quia Dominus Iesus Christus in gloria est Dei Patris), trong khi – như giờ đây chúng ta biết – ý nghĩa không phải là Đức Giêsu Kitô ở trong vinh quang của Thiên Chúa Cha, nhưng Đức Giêsu là Chúa, và điều này để tôn vinh Thiên Chúa Cha.

***

Tuy nhiên, miệng lưỡi tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa thì không đủ; mọi người còn phải “bái quỳ”. Đây không phải là hai sự việc tách rời nhau, nhưng là một thực tại duy nhất. Người tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa còn phải vừa làm điều đó vừa bái quỳ, nghĩa là vừa tùng phục thực tại này với tình yêu, vừa bắt trí khôn vâng phục đức tin. Đây là việc từ bỏ kiểu mẫu sức mạnh và bảo đảm dựa vào sự “khôn ngoan”, kiểu mẫu khả năng đương đầu với thế giới vô tín và kiêu căng bằng những khí cụ riêng của mình, là biện chứng, tranh cãi, lý luận bất tận, tất cả những gì cho phép “tìm mà không bao giờ thấy” (x. 2Tm 3,7), và như vậy không bao giờ bị cưỡng bách phải vâng phục chân lý, một khi đã tìm thấy nó. Lời Khởi giảng không cho thấy cắt nghĩa, nhưng đòi vâng phục, vì nơi nó chính thế giá của Thiên Chúa đang hoạt động. Có chỗ cho mọi biện luận, chứng minh “tiếp theo” nó, “bên cạnh” nó, nhưng không phải “bên trong” nó. Ánh sáng mặt trời tự nó chiếu sáng, không thể được những ánh sáng nào khác soi sáng, nhưng chính nó soi sáng mọi sự. Ai quả quyết mình không thấy nó là thú nhận sự mù quáng của mình.

Phải chấp nhận sự “yếu đuối” và “điên rồ” của Khởi giảng – điều này cũng có nghĩa là sự yếu đuối, hạ nhục và thất bại của chúng ta – để cho phép Thiên Chúa thành công đến với ánh sáng và tiếp tục hoạt động. Thánh Phaolô nói: “Khí giới chúng tôi dùng để chiến đấu không phải là thứ khí giới thuộc xác thịt, nhưng là thứ khí giới, nhờ Thiên Chúa, có sức đánh đổ các đồn lũy. Chúng tôi đánh đổ các kiểu lý luận và mọi thái độ kiêu căng chống lại sự hiểu biết Thiên Chúa. Chúng tôi bắt mọi tư tưởng phải đầu hàng để đi tới chỗ vâng phục Đức Kitô” (2Cr 10.4-5). Nói khác đi, cần đứng bên thập giá, vì sức mạnh của quyền làm chúa của Đức Kitô hoàn toàn phát xuất từ thập giá.

Cần lưu ý để không xấu hổ về Khởi giảng. Cám dỗ về điều này rất mạnh. Tông Đồ Phaolô cũng đã phải chịu cám dỗ như thế, đến độ ngài thấy, về phía ngài, cần phải kêu lên: “Tôi không hổ thẹn vì Tin Mừng” (Rm 1,16). Ngày nay, cám dỗ này còn mạnh hơn. Nói về Đức Giêsu đã sống lại và là Chúa thì có nghĩa gì, trong khi chung quanh chúng ta có vô vàn vấn đề cụ thể đang tấn công con người: nạn đói, bất công, chiến tranh,…? Con người thích người ta nói về mình – cho dù nói không tốt – hơn là nghe nói về Thiên Chúa. Thời Phaolô, một phần thế giới tìm kiếm phép lạ, một phần tìm kiếm sự khôn ngoan. Ngày nay một phần (phần sống dưới chế độ tư bản) tìm kiếm chân lý, phần kia (phần sống dưới chế độ độc tài toàn trị) tìm kiếm sự tự do. Nhưng phần chúng ta, chúng ta rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh (x. 1Cr 1,23) và đã sống lại, vì xác tín rằng công bình và tự do đích thực được xây dựng trên Ngài.

***

Trong huấn giáo nhiệm tính, việc mạc khải những mầu nhiệm xảy ra theo hai cách: bằng diễn từ và bằng nghi thức. Các người tân tòng lắng nghe lời giải thích và tham dự các nghi thức, nhất là nghi thức Thánh Thể, mà trước đây họ chưa bao giờ được thấy tận mắt. Đó là điều cũng xảy ra trong phụng vụ hiện nay, trong đó mầu nhiệm của quyền làm chúa của Đức Kitô được chuyển đạt cho chúng ta. Tiếp theo phụng vụ Lời Chúa giờ đây là các nghi thức. Ảnh tượng Đức Kitô sắp được long trọng mở khăn che và chúng ta sẽ quỳ gối liên tiếp ba lần. Một cách hữu hình chúng ta cũng tỏ cho thấy, trong Giáo hội, mọi gối phải bái quỳ. Tấm khăn mầu tím che phủ ảnh tượng Đức Kitô cho tới lúc này là biểu tượng của một bức màn khác che giấu Đấng Chịu Đóng Đinh trần trụi trước mắt thế gian. Thánh Phaolô nói với người Do Thái thời ngài: “Cho đến nay, một tấm màn che phủ lòng họ. Nhưng khi người ta quay lại với Chúa, thì tấm màn mới được cất đi” (2Cr 3,15-16). Không may, tấm màn này cũng che phủ mắt của nhiều Kitô hữu. Nó chỉ được cất đi “khi người ta quay lại với Chúa”, khi người ta khám phá ra quyền làm chúa của Đức Kitô. Không phải trước đó.

Chiều nay, khi Đấng Bị Đóng Đinh trần trụi được “giơ lên cao” trước mắt chúng ta, chúng ta hãy nhìn cho kỹ. Chính Ngài là Đấng chúng ta tuyên xưng là “Chúa”, chứ không phải ai khác, một Đức Giêsu dễ dãi, tình cảm mầu mè. Việc chúng ta sắp thực hiện là quan trọng. Để chúng ta được đặc ân chào kính Ngài là Vua và là Chúa đích thực, như chúng ta sắp làm, Đức Giêsu đã chấp nhận cho người ta chào ngài như một ông vua để cười nhạo; để chúng ta được đặc ân khiêm tốn quỳ gối trước mặt Ngài, Ngài đã chấp nhận cho người ta quỳ trước mặt để chế giễu, nhạo báng. Kinh thánh viết: “Chúng khoác cho Người một tấm áo điều, và kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người. Rồi chúng bái chào Người và lấy cây sậy đập lên đầu Người, khác nhổ vào Người và quỳ gối bái lậy” (Mc 15,17-19).

Điều chúng ta làm phải được hiểu cho rõ. Cái giá Ngài phải trả càng lớn, chúng ta càng phải thờ lậy và biết ơn. Tất cả những tiếng hô vang mà Ngài đã nghe lúc sinh tiền, là những tiếng hô vang thù ghét; tất cả những cảnh quỳ gối Ngài nhìn thấy là những cảnh quỳ gối nhục mạ. Chúng ta không được thêm vào đó sự nguội lạnh và hời hợt của chúng ta. Khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, Ngài còn nghe thấy âm vang chói tai của những tiếng kêu la này, và chữ “Vua” viết trên tấm bảng treo trên đầu Ngài như một lời kết án. Giờ đây Ngài ngự bên hữu Chúa Cha và, trong Thần Khí, đang hiện diện giữa chúng ta, mắt Ngài nhìn mọi đầu gối bái quỳ, và cũng vậy là tinh thần, tấm lòng, ý muốn, mọi sự; tai Ngài đang nghe tiếng kêu vui mừng vọt lên từ trái tim của những người được cứu chuộc: “Đức Giêsu Kitô là Chúa để tôn vinh Thiên Chúa Cha!” (Pl 2,11).


II. “THIÊN CHÚA ĐÃ YÊU THƯƠNG THẾ GIAN”

Bằng một lối văn trần trụi, không có lời bình giải thần học nào hoặc có tính xây dựng, các trình thuật cuộc Khổ nạn – nhất là những trình thuật của Phúc âm Nhất lãm – đưa chúng ta trở lại với những ngày tiên khởi của Giáo hội. Đó là những phần đầu tiên của Phúc âm được hình thành (để sử dụng ngôn ngữ theo phương pháp hiện nay của “Trường phái Hình thức”) trong truyền thống truyền khẩu và loan truyền nơi các Kitô hữu.

Trong giai đoạn này, nổi bật là các sự kiện; tất cả đưa về hai biến cố: Ngài đã chết, Ngài đã sống lại. Nhưng giai đoạn các sự kiện thô qua đi mau chóng. Các Kitô hữu đặt ngay ra câu hỏi “tại sao” có các sự kiện này, nghĩa là sự kiện Khổ nạn: tại sao Thiên Chúa đã chịu khổ? Câu trả lời là: “Vì tội lỗi chúng ta!” Chính từ cách thức này mà phát xuất ra niềm tin phục sinh, được diễn tả trong công thức nổi tiếng của Phaolô: “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta; Ngài đã sống lại để chúng ta được nên công chính” (x. 1Cr 15,3-4; Rm 4,25). Từ đây, vừa có những sự kiện – Ngài đã chết, Ngài đã sống lại – vừa có ý nghĩa của những sự kiện đối với chúng ta: vì tội lỗi chúng ta, để chúng ta được nên công chính. Câu trả lời có vẻ đầy đủ: cuối cùng lịch sử và niềm tin tạo thành một mầu nhiệm Vượt Qua duy nhất.

Ngược lại, người ta chưa bắt gặp nền tảng đích thực của vấn đề. Câu hỏi trở lại dưới một hình thức khác: tại sao Ngài đã chết vì tội lỗi chúng ta? Câu trả lời lập tức soi sáng cho đức tin của Giáo hội, như ánh rực rỡ của mặt trời, đó là: “Vì Ngài đã yêu thương chúng ta!” “Ngài đã yêu thương chúng ta, và vì thế đã nộp mình vì chúng ta” (x. Ep 5,2); “Ngài đã yêu mến tôi và đã hiến mạng vì tôi” (x. Gl 2,20); “Ngài yêu thương Hội Thánh và hiến mạng vì Hội Thánh” (x. Ep 5,25). Như ta thấy, đó là một chân lý không tranh cãi, chân lý hàng đầu, tràn ngập mọi sự, áp dụng cho toàn thể Giáo hội lẫn từng cá nhân. Thánh Gioan viết Phúc âm muộn hơn các tác giả khác, đưa mạc khải này về chính Đức Giêsu lúc còn tại thế. Đức Giêsu nói: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Anh em là bạn hữu của Thầy” (Ga 15,13-14).

Câu trả lời cho câu hỏi “tại sao” có cuộc Khổ nạn của Đức Kitô thực sự là cuối cùng và không có chỗ cho bất cứ một câu hỏi nào khác. Ngài đã yêu thương chúng ta vì Ngài đã yêu ta. Chấm hết. Quả thực, tình yêu của Thiên Chúa không có lý do “tại sao”: đó là tình yêu nhưng không. Tình yêu độc nhất dành cho thế gian là thật sự và hoàn toàn nhưng không, không đòi hỏi gì cho Ngài (Ngài đã có mọi sự!), nhưng chỉ là cho đi, hoặc đúng hơn, là tự hiến. “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta. Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước” (1Ga 4,10.19).

Thế nên Đức Giêsu đã chịu khổ và chịu chết một cách tự do, vì yêu. Không phải tình cờ, không vì cần thiết, cũng không do ảnh hưởng của những lý do mờ ám hay vì những lý do lịch sử lôi kéo mà Ngài không được biết, hoặc không muốn. Ai quả quyết như vậy là làm cho nội dung của Phúc âm trống rỗng, lấy đi hồn của Phúc âm. Bởi Phúc âm không gì khác hơn là sứ điệp vui mừng của tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Không những Phúc âm mà toàn bộ Kinh thánh không gì khác hơn là lời loan báo tình yêu nhiệm mầu không thể hiểu nổi của Thiên Chúa dành cho con người. Nếu tất cả Kinh thánh bắt đầu nói cùng một lúc, nếu, do một sự kỳ diệu nào đó, một lời viết trở thành một lời được nói ra, thì tiếng nói này, mạnh hơn sóng biển, sẽ là: “Thiên Chúa yêu anh em”.

***

Tình yêu của Thiên Chúa đối với con người cắm rễ sâu trong vĩnh cửu. Thánh Tông Đồ nói: “Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ” (Ep 1,4), nhưng đã tỏ hiện trong thời gian bằng một loạt những cử chỉ cụ thể tạo nên lịch sử cứu độ. Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách Thiên Chúa đã nói về tình yêu này, tức tình yêu của Ngài (x. Dt 1,1). Ngài đã nói khi tạo dựng nên ta, vì tạo dựng là gì nếu không phải là một hành vi yêu thương, hành vi yêu thương tiên khởi của Thiên Chúa đối với con người? Kinh Nguyện Thánh Thể IV nói: “Chúa đã tác tạo mọi loài để ban cho chúng đầy tràn ơn phúc”.

Tiếp đến Ngài đã nói qua các tiên tri, vì các tiên tri trong Kinh thánh thực ra chỉ là những sứ giả tình yêu của Thiên Chúa, những “bạn hữu của Tân lang” (x. Ga 3,29). Ngay cả khi lên án hay đe dọa, họ làm như thế để bảo vệ tình yêu của Thiên Chúa đối với dân Người. Nơi các tiên tri, Thiên Chúa so sánh tình yêu của Người với tình yêu của một người mẹ (x. Is 49,15 tt), với tình yêu của một người cha (x. Hs 11,4), với tình yêu của một người chồng (x. Is 62,5). Chính Thiên Chúa tóm tắt cách xử sự của Ngài đối với Israel bằng một câu: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở” (Gr 31,3), một câu lạ lùng không thấy có trong bất cứ triết học hay tôn giáo nào do miệng một Thiên Chúa nói ra! “Thiên Chúa của các triết gia” là một Thiên Chúa cho người ta yêu, không phải một Thiên Chúa yêu và yêu trước.

Tuy vậy, Thiên Chúa thấy không đủ khi nói cho chúng ta về tình yêu của mình “qua trung gian các tiên tri” (Dt 1,1). “Trong những thời sau hết đây, Ngài đã nói với chúng ta qua người Con” (Dt 1,2). Có một sự khác biệt lớn so với trước đây: Đức Giêsu không chỉ nói cho chúng ta về tình yêu của Thiên Chúa, như các tiên tri; Ngài “là” tình yêu của Thiên Chúa. Vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8.16) và Đức Giêsu là Thiên Chúa!

***

Cùng với Đức Giêsu, Thiên Chúa không còn nói với chúng ta từ xa, qua các trung gian nữa; Ngài đích thân nói với chúng ta thật gần gũi. Ngài nói giữa điều kiện con người của chúng ta, sau khi đã chịu đựng mọi thử thách. Tình yêu của Thiên Chúa đã nhập thể và ở giữa chúng ta! Ngay từ thời Thượng cổ đã có một người đọc Ga 1,14 theo cách này. Đức Giêsu đã yêu chúng ta bằng một trái tim vừa thần linh vừa nhân loại, và nhân loại cách hoàn hảo, cho dù ngang tầm với thần linh. Đó là một tình yêu đầy sức mạnh và tinh tế, rất dịu dàng và kiên trì. Chính bằng tình yêu này mà Ngài yêu các môn đệ, các trẻ em, cũng như yêu người nghèo, người bệnh, người tội lỗi. Nhờ tình yêu này mà Ngài làm cho họ lớn lên, ban lại cho họ địa vị và niềm hy vọng; tất cả những ai đến gần Đức Giêsu với tâm hồn đơn thành đều lại thấy mình được tình yêu của Ngài biến đổi.

Tình yêu của Ngài biến thành tình bạn: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, nhưng gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15,15). Nó không chỉ dừng lại ở mức đó, nhưng còn đạt tới mức đồng hóa với con người, mà trước mặt người đó mọi loại suy của người ta đành bất lực, ngay cả những loại suy về người mẹ, người cha hay vợ chồng. Ngài nói: “Anh em ở trong Thầy và Thầy trong anh em” (Ga 15,4).

Cuối cùng, đây là bằng chứng tối thượng của tình yêu này: “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), nghĩa là tới giới hạn cuối cùng của tình yêu. Có hai sự việc cho thấy người yêu thật sự và làm cho người đó chiến thắng: việc thứ nhất là làm sự lành cho người mình yêu, việc thứ hai, cao hơn, ở chỗ chịu khổ vì người mình yêu. Vì mục đích này và để làm bằng chứng cho tình yêu vĩ đại của mình, Thiên Chúa phát minh ra cách hư vô hóa riêng của mình, Ngài thực hiện và thực hiện bằng cách chịu đựng những điều kinh khủng.

Như vậy, qua tất cả những gì phải chịu đựng, Thiên Chúa thuyết phục con người bằng tình yêu lạ lùng đối với họ, là những người trốn chạy Chúa nhân lành, vì tưởng mình bị Ngài ghét bỏ[3], Đức Giêsu lặp lại điều một ngày kia Ngài đã nói với một thánh nữ[4] đang suy niệm về cuộc Khổ nạn: “Ta đã yêu thương ngươi, đó không phải là chuyện đùa!”

Để biết Thiên Chúa yêu ta dường nào, từ nay chúng ta có một phương tiện đơn giản và chắc chắn: hãy nhìn xem Ngài đã đau khổ biết bao! Không những trong thân xác Ngài, mà nhất là trong tâm hồn Ngài. Là vì cuộc Khổ nạn thực sự là cuộc Khổ nạn không thấy được và khiến Ngài phải kêu lên trong vườn Ghếtsêmani: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được!” (Mc 14,34). Đức Giêsu chết trong tâm hồn trước khi chết ngoài thân xác. Có bao giờ một ai đó sẽ có thể nhận thấy linh hồn Đức Kitô bị bỏ rơi, buồn sầu và lo lắng, khi Ngài thấy mình “bị biến thành hiện thân của tội lỗi” (x. 2Cr 5,21), trong khi Ngài vốn là người Con vô tội nhất của Chúa Cha? Phụng vụ thứ Sáu tuần Thánh có lý do đặt nơi môi miệng Đức Giêsu trên thập giá những lời trích trong sách Ai ca: “Này tất cả những ai qua lại, hãy nhìn kỹ mà xem, có nỗi khổ nào so sánh được với nỗi khổ của tôi!” (Ac 1,12).

Những lời: “Sic Deus dilexit mundum – Thiên Chúa đã yêu thương thế gian dường ấy!” (Ga 3,16) gợi lên lúc này. Ở đầu Phúc âm của mình, Gioan đã thốt lên: “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người!” (Ga 1,14). Nếu chúng ta hỏi tác giả: “Ông đã nhìn thấy vinh quang của Người ở đâu?”, ông sẽ trả lời: “Tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người dưới thập giá!” Vì vinh quang của Thiên Chúa là đã giấu không cho ta thấy vinh quang của Người, đã yêu thương chúng ta. Đó là vinh quang lớn nhất mà Thiên Chúa có bên ngoài Người, bên ngoài Ba Ngôi. Lớn hơn là vinh quang đã tạo dựng chúng ta, đã tạo dựng cả vũ trụ. Giờ đây ngự bên hữu Chúa Cha, trong vinh quang, thân xác Đức Kitô không còn lưu giữ những dấu chỉ và những đặc điểm của cuộc sống phải chết của Ngài nữa. Tuy vậy có một sự Ngài bo bo giữ cho mình và bày tỏ cho cả triều thần thiên quốc, như sách Khải huyền nói (x. Kh 5,6): những dấu chỉ của cuộc Khổ nạn, những vết thương. Ngài tự hào về chúng, vì chúng là dấu chỉ tình yêu vĩ đại của Ngài đối với thụ tạo.

Đức Giêsu có lý khi lặp lại cho chúng ta hôm nay, từ trên thập giá, qua những lời của phụng vụ: “Dân ta ơi, có điều chi Ta đã có thể làm cho ngươi mà Ta đã không làm? Hãy trả lời cho Ta!”

***

Nhưng có lẽ người ta sẽ nói, nếu quả thực Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta trong một thời gian, lúc Ngài còn sống ở dưới thế, vậy bây giờ ở trên trời thì thế nào? Bây giờ Ngài không còn sống giữa ta, điều gì còn lại về tình yêu này, nếu không phải là một kỷ niệm mờ nhạt? Các môn đệ Emmau đã nói: “Đã ba ngày rồi” (Lc 24,22), còn chúng ta, chúng ta bị cám dỗ nói” “Đã hai ngàn năm rồi.” Nhưng các môn đệ đó đã lầm, vì Đức Giêsu đã sống lại và đi bên cạnh họ. Còn chúng ta, chúng ta cũng lầm khi nghĩ như họ; quả thực, tình yêu của Ngài vẫn còn ở giữa ta, vì “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5,5).

Đây là sự thật thứ hai của ngày hôm nay, không kém đẹp đẽ và quan trọng hơn sự thật đầu tiên: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Thánh Thần cho chúng ta! Nước vọt ra từ cạnh sườn của Đức Kitô, cùng với máu, là biểu tượng của Chúa Thánh Thần. “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được rằng chúng ta ở lại trong Người và Người ở lại trong chúng ta: đó là Người đã ban Thần Khí của Người cho chúng ta” (1Ga 4,13). Chúng ta hãy nhớ đến câu này của Gioan; nó là tổng hợp mọi sự; nó có nghĩa là Đức Giêsu đã ban cho chúng ta tất cả con người của Ngài, tất cả tình yêu của Ngài, vì “nhờ Thần Khí, Người đã được sống lại” (1Pr 3,18).

***

Điều tôi vừa trình bày là mạc khải về tình yêu của Thiên Chúa trong lịch sử. Giờ đây chúng ta nói đến những gì liên hệ với chúng ta: chúng ta sẽ làm gì, nói gì, sau khi đã được nghe biết Thiên Chúa yêu thương chúng ta dường nào? Có thể có nhiều cách trả lời. Một trong những cách đó là yêu lại Thiên Chúa. Đó là điều răn lớn nhất trong Lề Luật! Một thánh thi xưa của Giáo hội đã nói về điều này như sau: “Ai mà không yêu lại Đấng yêu chúng ta như thế? – Sic nos amantem quis non redamaret?” Thế nhưng tất cả những cái đó đến sau. Có một điều phải làm trước.

Một cách trả lời khác có thể có là chúng ta yêu thương nhau, như Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Gioan lại không nói: nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, “chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1Ga 4,11) sao? Nhưng ngay cả việc đó cũng đến sau. Có một việc phải làm trước. Việc gì vậy? – Tin vào tình yêu Thiên Chúa. “Chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa nơi chúng ta, và đã tin vào tình yêu đó” (1Ga 4,16). Chúng ta nói về đức tin, nhưng đây là một đức tin đặc biệt. Vì đức tin không phải chỉ là sự tán đồng của tâm trí đối với một chân lý, nhưng là một điều hoàn toàn khác. Đó là đức tin-sững sờ, đức tin không thể tin – nghịch lý như nó có thể là – đức tin không đi tới chỗ bị thuyết phục về điều mình tin, cho dù tin vào điều ấy. Thiên Chúa hết sức hạnh phúc trong sự vĩnh cửu yên hàn của mình, làm sao lại muốn không những dựng nên ta, mà còn đích thân đến chịu khổ ở giữa chúng ta? Làm sao có thể xảy ra điều đó? Chính đó là đức tin không thể tin, đức tin-sững sờ. Phần lớn những lời trong Tân Ước chúng ta đã nghe cho tới lúc này, phải được đọc với những dấu chấm than. Đó là những lời diễn tả sự ngạc nhiên của Giáo hội sơ khai: “Người đã yêu mến tôi, và hiến mạng vì tôi!” (Gl 2,20), “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian dường ấy!” (Ga 3,16).

Đó là một điều vĩ đại mà đức tin này phải sững sờ và thán phục, một điều khó khăn hơn và họa hiếm hơn bất cứ điều gì khác. Chúng ta có thật sự tin Thiên Chúa yêu thương chúng ta không? Không, chúng ta thật sự không tin vào việc đó, hoặc ít ra tin chưa đủ. Vì nếu chúng ta tin như thế thì lập tức cuộc đời, chính chúng ta, các sự vật, các biến cố, tất cả đều biến hình trước mắt chúng ta. Ngay cả ngày hôm nay, chúng ta sẽ ở trên thiên đàng với Ngài (x. Lc 23,43), bởi vì thiên đàng không gì khác hơn là vui hưởng tình yêu của Thiên Chúa. Một lời của Đức Giêsu không được ghi trong sách thánh quy điển nói thế này: “Ai ngạc nhiên sẽ thống trị”. Thì lời đó đang được thực hiện ở đây. Trước một tình yêu không thể tin nổi của Thiên Chúa, người nào rất đỗi kinh ngạc đến nỗi không thể nói được gì nữa, thì ngay từ bây giờ người ấy đi vào trong Nước Trời.

Phần chúng ta, chúng ta không thật sự tin là Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Thế giới luôn làm cho sự tin tưởng vào tình yêu khó khăn hơn cho chúng ta. Có quá nhiều phản bội, ảo tưởng. Người nào bị phản bội hay thương tổn thì sợ yêu hay được yêu, vì biết rằng bị lạm dụng thì tai hại như thế nào. Đến nỗi ngày càng có đông những người không tin vào tình yêu của Thiên Chúa, thậm chí vào bất cứ tình yêu nào. Thế giới và cuộc đời đi vào – hoặc đang ở – trong một thời kỳ băng giá.

Tiếp đến, trên bình diện cá nhân, là cám dỗ về sự bất xứng khiến chúng ta nói: “Đúng là tình yêu của Thiên Chúa thì đẹp đẽ, nhưng không phải cho tôi! Làm sao Thiên Chúa có thể yêu một người như tôi, đã phản bội Ngài, lãng quên Ngài? Tôi là một người bất xứng…” Nhưng chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa: “Vì nếu lòng chúng ta có cáo tội chúng ta, Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự” (1Ga 3,20).

***

Thế giới cần tin vào tình yêu của Thiên Chúa. Quê hương chúng ta cần tin cách đặc biệt, nếu không muốn nó tiếp tục là “cái lưới khiến chúng ta trở nên quá hung dữ”, như Dante nói. Vì vậy cần trở lại với việc công bố của Phúc âm về tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Kitô Giêsu. Nếu không làm thế, chúng ta thuộc vào số những người “thắp đèn rồi để dưới cái thùng” (x. Mt 5,15). Chúng ta làm thế giới thất vọng về sự chờ mong thầm kín nhất của họ. Trên thế giới, có những người cùng với các người Kitô hữu rao giảng công bình xã hội và tôn trọng con người, nhưng không một ai – cho dù nơi các triết gia hoặc một tôn giáo nào – nói cho người ta biết Thiên Chúa yêu họ và đi bước trước về tình yêu này. Tuy vậy, tất cả đều do chân lý này chi phối, nó là sức mạnh làm lay động mọi sự. Ngay cả chính nghĩa của người nghèo và người bị áp bức không bao giờ được bảo đảm, bao lâu nó không dựa trên sự chắc chắn nền tảng và không lay chuyển này là Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Ngài yêu thương người nghèo và người bị áp bức.

Nhưng nói dông dài và thương xót là không đủ. Như Đức Giêsu, chúng ta phải sẵn sàng chịu khổ và tha thứ cho người làm ta đau khổ: “Lạy Cha, xin tha cho chúng” (Lc 23,34). Đức Giêsu đã để lại cho ta, những người Kitô hữu, lời Ngài nói đó trên thập giá làm di sản, để chúng ta giữ gìn nó cho sống động trải qua bao thế kỷ và để nó là dụng cụ đích thực mà chúng ta sử dụng.

Không phải để tha thứ cho kẻ thù của Đức Giêsu, sống thời đó mà nay không còn nữa, nhưng để tha thứ cho kẻ thù của Đức Giêsu hôm nay, những người thù nghịch với chúng ta, với Giáo hội. Kitô giáo là tôn giáo tha thứ cho kẻ thù. Không ai quả quyết mình biết “tình yêu của Thiên Chúa đổ vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần” (x. Rm 5,5), nếu tình yêu này đã không giúp, ít nhất một lần, tha thứ cho một kẻ thù. Chúng ta phải công khai cám ơn những anh em này trong đức tin, những người mà, khi lòng đầy thù hận và bạo lực, giết người, cảm thấy rằng Chúa Thánh Thần đã thúc đẩy họ tha thứ, cũng một cách công khai, cho người đã giết một người trong số họ và đã khiêm tốn tuân theo sự thúc đẩy này của Chúa Thánh Thần. Những người đó tin vào tình yêu! Họ đã làm chứng cho Đức Kitô, cho thấy tình yêu của Ngài, bày tỏ ngày hôm nay trên thập giá, là điều có thể có nhờ Thần Khí của Ngài, cho thấy tình yêu này là duy nhất có thể làm thay đổi điều gì đó trên thế giới, vì nó làm thay đổi lương tâm con người.

Do đó, về phần tôi, tôi lặp lại lời mời gọi của tiên tri Isaia: “Hãy an ủi, an ủi dân Ta. Hãy khuyên bảo Giêrusalem, hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn” (Is 40,1 tt). Vì một tiếng nói rất nhỏ từ thinh lặng mà đến và trở về với thinh lặng, cả tôi nữa, tôi dám nói “giữa lòng Giêrusalem”, nghĩa là giữa lòng Giáo hội, để nhắc lại cho Giáo hội điều quý giá nhất mà Giáo hội đang sở hữu: tình yêu vĩnh cửu của Phu Quân. Giờ đây, chính Phu Quân đang hướng về Giáo hội, dùng như lời của Diễm ca mà nói với Giáo hội:

“Dậy đi em, bạn tình của anh.

Người đẹp của anh, hãy ra đây nào!

Tiết đông giá lạnh đã qua.

mùa mưa đã dứt đã xa lắm rồi.

Sơn hà nở rộ hoa tươi

và mùa ca hát vang trời về đây” (Dc 2,10-12).

Trong ngày cực thánh hôm nay tưởng niệm cái chết của Đức Kitô, một nguồn hứng vui mừng nâng dậy thế giới.


III. “ANH EM ĐÃ GIẾT ĐỨC GIÊSU NADARÉT”

Ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô đứng chung với Nhóm Mười Một, nói với dân chúng một bài diễn từ có thể tóm tắt trong ba câu. Nhưng trong ba cầu này, mỗi câu lại như một tiếng sét ngang tai: “Anh em đã giết Đức Giêsu Nadarét! […] Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại! […] Anh em hãy sám hối!” (x. Cv 2,23 tt).

Tôi muốn thu thập ba câu này và làm chúng sống lại nơi anh chị em, hy vọng chúng chọc thủng trái tim chúng ta, như đã chọc thủng trái tim của những người nghe chính miệng các Tông đồ nói. Ba ngàn người nghe những lời tố giác kinh khủng của Phêrô chắc chắn không thuộc số những người đã đóng đinh trên đồi Canvê; có lẽ họ cũng không thuộc nhóm những người đã đòi Philatô đóng đinh Đức Giêsu. Vậy tại sao Phêrô nói họ đã giết Ngài? Bởi vì họ thuộc về dân đã giết Chúa. Bởi vì họ đã không đón nhận tin mừng Đức Giêsu đem đến cho họ: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Bởi vì có lẽ khi Đức Giêsu đi trên những đường phố ở Giêrusalem, họ đã hạ tấm rèm che của hàng bé nhỏ của họ, để khỏi phiền phức.

Cho tới đây, chúng ta gợi lại những sự việc này và cảm thấy khá bình thản. Chúng ta dường như thấy tất cả những chuyện đó có liên hệ với những người sống ở Palestin thời Đức Giêsu, chứ không liên hệ gì đến chúng ta. Chúng ta cũng giống như vua Đavit, một hôm sau khi đã nghe tiên tri Nathan kể câu chuyện về một tội tầy đình trong thành phố, đã kêu lên: “Kẻ nào làm điều ấy thật đáng chết!” (2Sm 12,5).

Trong những năm sau Thế chiến II, người ta rất say mê với vấn đề ai chịu trách nhiệm về cái chết của Đức Kitô, vì trong nhiều sự kiện, có bi kịch mà dân Do Thái đã phải chịu. Sách vở và kịch nghệ về vụ án Đức Kitô có vô số. Những hệ quả quan trọng đã có thể phát xuất từ giải đáp cho vấn đề này, liên hệ đến cuộc đấu tranh giải phóng tại nhiều nơi trên thế giới, trong số những chuyện khác. Vấn đề về cái chết của Đức Kitô trở thành một vấn đề chủ yếu mang tính lịch sử, và như vậy là có nét trung tính. Nếu nó liên hệ đến chúng ta, thì chỉ là gián tiếp, đối với những hệ quả có thể rút ra cho ngày hôm nay; không phải cách trực tiếp, đến độ chúng ta có phần trong đó. Dầu sao, không phải với tư cách bị cáo, nhưng đúng hơn với tư cách nguyên cáo.

Một số người gán cho quyền lực tôn giáo tội làm cho Đức Giêsu phải chết, tức là cho những người Do Thái đương thời. Một số khác gán cho quyền lực chính trị, tức cho người Rôma, và như vậy biến Đức Giêsu thành vị tử đạo cho cuộc đấu tranh giải phóng. Cuối cùng một số khác tố cáo một trật cả hai quyền lực đó. Giống như trong một vụ xử án mà mỗi người, với ít nhiều ý thức, lặp lại trong thâm tâm câu nói của Philatô: “Ta vô can trong vụ đổ máu người này” (Mt 27,24).

Thế nhưng, ngày hôm đó, tiên tri Nathan đã chỉ thẳng vào Đavít mà nói: “Kẻ đó chính là Đức vua!” Chính xác đó là điều Thiên Chúa nói với chúng ta, khi chúng ta muốn biết xem ai là người đã giết Đức Giêsu: Kẻ đó, chính là ngươi! Chính ngươi đã giết Đức Giêsu Nadaret’. Ngày hôm ấy, ngươi đã ở đó. Ngươi đã cùng đám đông hò hét: “Đóng đinh nó đi!” Ngươi đã ở bên Phêrô khi Phêrô chối Ngài. Ngươi đã ở bên Giuđa khi Giuđa trao nộp Ngài. Ngươi đã ở bên quân lính khi chúng đánh đòn Ngài. Ngươi đã thêm chiếc gai nhọn của ngươi vào mạo gai, ngươi đã khạc nhổ thêm vào mặt Ngài. Sự chắc chắn này thuộc về trọng tâm chủ yếu nhất của những gì chúng ta tin: “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta” (Rm 4,25). Từ xa xưa, tiên tri Isaia đã diễn tả trước chân lý này bằng kiểu nói kịch tính như sau:

“Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta,

đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta.

Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội,

bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm.

Người đã mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53,4 tt).

Tất cả chúng ta đều chịu trách nhiệm về cái chết của Ngài, vì chúng ta đều phạm tội, và nếu chúng ta nói mình vô tội là chúng ta nói dối (x. 1Ga 1,10). Nhưng nói “Đức Giêsu đã chết vì tội lỗi chúng ta” cũng có nghĩa là: “Chúng ta đã giết Đức Giêsu!” Về những người lại phạm tội sau khi chịu phép Rửa (tức chúng ta), thư Do Thái nói rằng “họ đã tự tay đóng đinh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa, và đã công khai sỉ nhục Người” (Dt 6,6).

Khi nghe những lời tố giác kinh khủng: “Anh em đã giết Đức Giêsu Nadarét”, 3000 người nghe đau đớn trong lòng và hỏi Phêrô cùng các Tông Đồ khác: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2,37). Một nỗi lo sợ chiếm lĩnh tâm hồn họ, và cũng chiếm lĩnh tâm hồn chúng ta lúc này, nếu chúng ta không phải là gỗ đá. Làm sao không rụng rời khi nghĩ đến điều này: Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Người Con Một duy nhất (x. Ga 3,16), trong khi để đáp lại, chúng ta đã giết Người Con này! Chúng ta đã giết chết Sự Sống! (x. Cv 3,15).

Bao lâu chúng ta chưa trải qua khủng hoảng nội tâm này, những “sợ và run” này (x. Pl 2,12), chúng ta không thật sự là những Kitô hữu đạt tới trưởng thành, nhưng chỉ là những Kitô hữu phôi thai đang tìm tới ánh sáng. Bao lâu bạn chưa cảm thấy, ít nhất một lần trong đời, thật sự hư mất, đáng bị phạt, như một người bị đắm chìm đáng thương, bạn không biết máu Đức Kitô cứu bạn như thế nào; bạn không biết mình nói gì khi bạn gọi Đức Giêsu là “Chúa Cứu” của bạn; nói cho nghiêm túc, bạn thậm chí không thể biết những đau khổ của Đức Kitô, cũng không biết khóc trên những đau khổ đó. Như thế hẳn là giả hình, vì chỉ người nào xác tín thâm sâu là chính mình đã làm cho Đức Kitô phải khổ, mới thực sự biết những đau khổ của Ngài. Đức Giêsu hẳn có thể nói với bạn, như Ngài đã nói với những phụ nữ đạo đức ở Giêrusalem: “Đừng khóc thương ta; có khóc thì khóc cho phận mình và tội lỗi của mình” (x. Lc 23,28).

***

Khủng hoảng này có thể được giải quyết theo hai cách: hoặc theo cách của Giuđa, người đã nói: “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội”, và anh ta đi thắt cổ (x. Mt 27,4 tt), hoặc theo cách của Phêrô, ra ngoài “khóc lóc thảm thiết” (Mt 26,75). Cảm nghiệm được sức mạnh của sám hối, giờ đây Phêrô có thể chỉ cho các anh em mình con đường cứu độ, khi ông mạnh mẽ kêu lên: “Anh em hãy sám hối!” (Cv 3,19).

Thế nhưng lời trên đây có nghĩa gì? Thực hiện nó như thế nào? Nó được thực hiện khi người ta đi từ tình trạng quy tội sang tình trạng thú tội; khi mà, sau lúc đã nghe ai nói: “Bạn đã giết Đức Giêsu Nadarét!”, bạn đấm ngực và chân thành nói với chính mình: Phải, chính tôi đã giết Đức Giêsu Nadarét! Sự tiến triển này chỉ tùy thuộc vào chúng ta: nó là công trình của Chúa Thánh Thần, Đấng “chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi” (Ga 16,8). Một điều gì đó giống như phép lạ. Khi điều đó xảy ra, cũng những hiện tượng có thể quan sát thấy hôm đó trong thiên nhiên xảy ra một cách thiêng liêng, trong tâm hồn một con người. Tấm khăn che phủ tâm trí của anh ta bị rách; trái tim đá của anh ta vỡ ra; nấm mồ trong đó anh ta bị giam giữ như tù nhân của tội lỗi mở toang; cuối cùng anh ta là một con người tự do. Anh được tái sinh vào một đời sống mới.

Nếu chân thành và tự do, thú tội là một việc làm lớn lao biết bao, xứng với con người. Nó cho phép Thiên Chúa là chính mình, nghĩa là “một Thiên Chúa tha thứ các tội lỗi” (x. Mk 7,18). Khi đứng về phía Thiên Chúa chống lại chính mình, con người đưa Thiên Chúa tới chỗ cũng làm như thế: đứng về phía con người, chống lại chính mình, chống lại sự công chính riêng của mình – vì thương xót, chứ không vì cần thiết. Quả thực, Thiên Chúa muốn minh chứng cho thấy Ngài thương xót thế gian, nhưng không thể làm điều đó nếu con người chối bỏ chính đối tượng thương xót của Thiên Chúa là tội lỗi của mình. Một “tấm lòng khiêm cung tan nát” (x. Tv 51,19; Is 57,15), đó là điều Thiên Chúa khó có được nhất. Để có được như thế, sự toàn năng của Ngài không đủ, còn phải có sự tự do của chúng ta. Đó cũng là sự việc cao quý nhất, làm cho trái tim Thiên Chúa xúc động nhất. Thiên Chúa phán: “Trời là ngai của Ta, và đất là bệ dưới chân Ta…Kẻ được Ta đoái nhìn, đó là người nghèo khó, người có tâm hồn tan nát” (Is 66,1-2).

Thế nhưng chính đó lại là điều bất hạnh của chúng ta: chúng ta không thật sự và hoàn toàn nhận biết tội của chúng ta. Chúng ta nói: “Thực ra, tôi đã làm chi xấu?” Nhưng bạn hãy nghe tôi, vì lúc này tôi đang nói với tâm hồn tội lỗi của tôi, mà cũng nói với tâm hồn tội lỗi của bạn. Bạn không thấy tội lỗi của mình sao? Hãy biết rằng tội của bạn chính là đã không nhìn thấy tội của mình. Tội của bạn là tự cho mình là công chính; là cho mình hoàn toàn đang sống tốt với Thiên Chúa và với mọi người, ngay cả khi bạn nói mình là tội nhân. Chính vì đã mạnh mẽ tố giác tội này nơi các người biệt phái mà Đức Giêsu lại trở lại với thập giá.

Khi cho mình là công chính, cuối cùng bạn không còn hiểu thập giá của Đức Kitô, cũng không vác nó nữa. Bạn cho là chính bạn và mọi người đang phải chịu một nỗi đau buồn không tương xứng, quá lớn nên không đổ lỗi cho Thiên Chúa, Đấng cho phép nó xảy ra. Ôi, ước gì chúng ta hiểu được một lần điều Kinh thánh nói là “Có hạ nhục và làm khổ người ta, Thiên Chúa cũng chẳng vui vẻ gì” (x. Ac 3,33), và trước nỗi gian truân của dân Người, trái tim Người thổn thức trong Người và ruột gan Người bối rối (x. Hs 11,8). Khi ấy phản ứng của ta sẽ hoàn toàn khác, và chúng ta, đúng hơn, sẽ kêu lên: “Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng con đã vì tội lỗi thúc bách mà đối xử tệ bạc với Con yêu dấu của Cha! Xin tha thứ cho chúng con lúc này đang buộc Cha phải làm khổ chúng con để chúng con có thể tự cứu mình, trong lúc Cha, giống như bất cứ người cha nào, và còn hơn đến vô cùng, chỉ muốn dành “những điều tốt đẹp” cho con cái Cha! Xin tha thứ cho chúng con vì đã buộc Cha phải tước đi niềm vui ban cho chúng con, ngay từ đời này, niềm hạnh phúc mà vì đó Cha đã tác tạo nên chúng con.”

Khi tôi còn bé, có một hôm tôi đã không nghe lời cha tôi khi đi chân không ở một nơi mà ông đã khuyên tôi đừng đi. Một mảnh thủy tinh lớn đã đâm vào gan bàn chân tôi. Lúc ấy đang có chiến tranh, và người cha đáng thương của tôi đã phải liều mạng đưa tôi đến nhà thương quân đội đồng minh gần nhất. Trong khi người ta cố lấy mảnh thủy tinh ra và săn sóc vết thương, tôi thấy cha tôi vặn tay tỏ vẻ thất vọng và quay mặt về phía tường để khỏi nhìn thấy. Nếu khi trở về nhà, tôi đã trách ông đã để cho tôi phải đau đớn như thế mà không làm gì cả, thì tôi là thứ con cái nào đây? Tuy vậy, chính đó là điều chúng ta làm nhiều lần đối với Thiên Chúa.

Thực ra điều ngược lại mới đúng. Chính chúng ta mới làm cho Thiên Chúa phải khổ, chứ không phải Thiên Chúa làm cho chúng ta đau khổ. Nhưng chúng ta đã làm cho chân lý này biến tính, đến độ tự hỏi sau mỗi tai họa mới: “Thiên Chúa ở đâu? Sao Thiên Chúa lại cho phép điều đó xảy ra?” Đúng. Thiên Chúa hẳn cũng có thể cứu chúng ta mà không cần thập giá, nhưng đó lại là chuyện khác; và Người biết rằng một ngày kia chúng ta sẽ phải xấu hổ vì đã được cứu theo cách này, một cách thụ động, không cộng tác gì vào hạnh phúc của chúng ta.

Tất cả chúng ta đều đã phạm tội và bị tước đi vinh quang của Thiên Chúa (x. Rm 3,23); vì vậy lời của Phêrô là nói cho mọi người: “Anh em hãy sám hối!” (Cv 3,19). Sám hối: đó là lời cứu độ tuyệt hảo của ngày hôm nay. Sách Khải huyền chứa đựng bảy lá thư gửi cho các giáo đoàn ở Tiểu Á (x. Cv 2-3). Mỗi lá thứ đều kết thúc bằng lời cảnh báo: “Ai có tai thì nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” (Cv 2,7.11.17.29; 3.6.13.22). Nếu chú ý đọc, chúng ta sẽ thấy trọng tâm của mỗi lá thư đều có từ metanòeson, tuyệt đối ưu tiên, có nghĩa là: “Hãy sám hối! Hãy ăn năn!” Ai có tai để nghe điều Thần Khí hôm nay nói với các Giáo hội, đều biết rằng cũng chỉ là lời: hãy sám hối!

Ngày 09/10/1963, ở vùng Frioules, đêm hôm trước lúc xảy ra chuyện vỡ đập Vajont gây ra tai họa kinh khủng như chúng ta đều biết, người ta đã nghe thấy những tiếng vỡ nứt phát ra từ hướng đó nhưng không ai để ý. Một điều tương tự cũng xảy ra nơi chúng ta, nếu chúng ta biết lắng nghe. Thế giới chúng ta xây dựng cho mình bằng những bất công và phản loạn vô trách nhiệm chống lại các điều răn của Thiên Chúa, thế giới đó cũng đang nứt vỡ. Có mùi khét trong không khí. Nếu Gioan Tẩy Giả còn sống thì ông đã phải kêu lên: “Cái rìu đã đặt sát gốc cây. Các anh hãy sám hối!” (x. Mt 3,10).

Thế giới vô tín không thấy rõ nét lời đe dọa lơ lửng trên không này; nhưng họ phản ứng hoàn toàn khác: xây những hầm trú chống bom nguyên tử! Có những quốc gia đầu tư cho chương trình này một phần ngân sách đáng kể. Như thể, bằng cách đó, người ta có thể giải quyết vấn đề. Người Kitô hữu chúng ta cũng đang đi tìm một hầm trú chống bom nguyên tử, nhưng hầm trú chống bom nguyên tử của chúng ta, “con tầu ông Noe” của chúng ta, chính là điều mà chúng ta đã nói, tức là sám hối tội lỗi chúng ta. Người xây dựng cuộc đời trên đá tảng vững chắc là Thiên Chúa thì không gì cũng như không ai có thể làm cho họ phải sợ hãi. Họ cùng với tác giả Thánh vịnh ca lên:

“Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu, là sức mạnh của ta.

Người luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ khi ta phải ngặt nghèo.

Nên dầu cho địa cầu chuyển động,

núi đồi có sập xuống biển sâu

ta cũng chẳng sợ gì!”  (Tv 46,2-3).

Đối với thế giới không bị kiểm soát đe dọa hủy diệt chúng ta, tôi cảm thấy mình có thể nói trong đức tin: để cho con phải chịu điều xấu, Chúa không có một phần ngàn sức mạnh như con có để chịu đựng nó! Bởi vì “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4,13). Đấng ấy đã nói: “Can đảm lên! Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33). Và tôi tin vào điều đó!

***

Giờ đây, chúng ta đề cập lời khác trong lời rao giảng của Phêrô: “Nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy từ cõi chết” (Cv 3,15). Khi cho Đức Giêsu trỗi dậy từ cõi chết, Thiên Chúa đã biến đổi tội lớn nhất của chúng ta thành lòng thương xót lớn nhất. Khi giết Đức Giêsu, chúng ta đã giết chính tội lỗi của chúng ta mà Ngài đã mang lấy. Chỉ người nào đón nhận tận đáy lòng lời sám hối, bây giờ mới có thể thưởng thức tràn trề ánh sáng và niềm vui ẩn chứa trong lời loan báo phục sinh vui mừng này. Ai biết người ta cảm thấy thế nào khi nói: “Tôi đã giết Đức Giêsu Nadarét”, người đó cũng biết “được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động, nhờ Đức Giêsu Kitô đã từ cõi chết sống lại” (x. Pr 1,3) nghĩa là gì. Giống như một người tin chắc mình đã giết một ai đó, phải chạy trốn, tuyệt vọng, nghĩ rằng từ đây không còn gì có thể cứu anh ta ở thế gian này, và đột nhiên anh biết người anh tưởng là đã bị giết vẫn đang sống, tha thứ cho anh, hơn nữa, còn đi tìm anh để kết thân với anh.

Chính tội lỗi cũng không làm chúng ta sợ nữa. vì chúng ta không chỉ một mình mang nó. Đức Giêsu “đã sống lại để chúng ta được nên công chính” (x. Rm 4,25), tức là để có thể mang lấy tội ta đổi lấy sự công chính của ta. Người sám hối là người cùng với Đức Giêsu xuống địa ngục, “được dìm vào trong sự chết của Ngài” (x. Rm 6,3), và kể từ nay, như được Đức Giêsu lôi kéo và cùng với Ngài ra khỏi mồ, hướng tới đời sống mới: “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô” (Ep 2,4-5).

Có thể bạn nghĩ rằng tin vui này không phải cho bạn, vì bạn đã thấy tấm màn xé ra và mắt bạn không trào ra những giọt lệ thống hối. Đừng buồn bã cũng đừng thất vọng: đấy chính là một ân huệ của Thiên Chúa, và Ngài có thể ban cho bạn một lúc nào đó, hoặc ban dần dần, có lẽ vào lúc bạn ít mong chờ nhất. Bạn chỉ cần tiếp tục nài van và ước ao ân huệ đó, đừng thấy mệt nhọc mà ngưng nghỉ, như chính tôi cũng đang làm như vậy. Nếu bạn nhiệt thành muốn sám hối, tức là bạn đã sám hối rồi! Hãy để bạn “được tái sinh để nhận lãnh niềm hy vọng sống động” (x. 1Pr 1,3); hãy bắt đầu sống như người được sống lại. Hãy nhìn xem hàng ngàn người chung quanh bạn và tự nhủ: “Đây là những người anh chị em tôi, tất cả đều là anh chị em tôi”. Hãy đi ra và nhìn với đôi mắt mới những người bạn gặp gỡ, những người trong gia đình, trong cộng đồng, trong nơi làm việc, và tự nhủ: “Đây là những anh chị em tôi, tất cả đều là anh chi em tôi!” “Tất cả đều được sinh ra trong trái tim Đức Giêsu bị đâm thâu vì tội lỗi của ta!”

Lúc này, chính Đấng Phục Sinh đang nói với chúng ta. Đây là những lời đầy lòng tin và phấn khởi, trong một buổi phụng vụ như đang cử hành đây, do Đức Giám mục của một trong bảy giáo đoàn Tiểu Á nói ra, cho những buổi đầu của Giáo hội:

“Chính Tôi đã phá hủy sự chết, đã chiến thắng kẻ thù, đã làm cho con người rất vui thích ở trên đỉnh trời. Nào, anh em hãy đến, tất cả mọi dòng giống nhân loại, đang chìm sâu trong tội lỗi. Hãy nhận lãnh ơn tha thứ tội lỗi, vì Tôi là ơn tha thứ của anh em. Chính Tôi là sự Vượt Qua cứu độ, là Con Chiên bị tế sát vì anh em, là giá chuộc của anh em, là sự sống của anh em, là sự sống lại của anh em, là ánh sáng của anh em, là vua của anh em. Tôi sẽ chỉ cho anh em thấy Chúa Cha.[5]


IV. “CHÚNG TA ĐƯỢC DÌM VÀO TRONG CÁI CHẾT CỦA NGƯỜI”

Nghi thức chúng ta đang thực hiện có ý nghĩa gì? Tại sao chúng ta tụ họp nhau lại chiều nay? Câu trả lời rõ ràng nhất là: để tưởng niệm cuộc Tử nạn của Chúa. Nhưng như vậy chưa đủ. Theo Thánh Augustinô, lễ Vượt Qua không được cử hành theo cách thức một lễ kỷ niệm, nhưng theo cách thức một mầu nhiệm (sacramentum). Vậy đây là một cử hành theo cách thức một mầu nhiệm, qua đó chúng ta không chỉ gợi lại một biến cố đã qua vào ngày kỷ niệm biến cố ấy, nhưng chúng ta nhắc lại biến cố ấy bằng cách dự phần vào[6].

Thế nên những nghi thức của Tam nhật Vượt Qua không chỉ có ý nghĩa lịch sử hay đạo đức – tưởng niệm những biến cố, khuyên nhủ ta bắt chước – nhưng còn có một ý nghĩa thần bí. Qua những nghi thức này, một điều gì đó xảy ra. Chúng ta không thể đứng ngoài, như khán giả hay thính giả thuần túy; phải vào cuộc, trở thành “diễn viên” và dự phần.

Vậy chiều nay, chúng ta ở đây để thực hiện một “hành động”, chứ không chỉ nhắc lại. Và hành động phải thực hiện như sau: được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô! Chúng ta hãy nghe lời tông đồ Phaolô: “Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết, nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,3-4).

Chúng ta tự hỏi: Tất cả những điều đó lại đã không xảy ra ngày chúng ta chịu phép rửa tội ư? Chúng ta phải trả lời: đúng và không. Tất cả những điều đó đã xảy ra và phải xảy ra. Nếu được rửa tội có nghĩa là được cùng với Đức Kitô “dìm vào trong cái chết của Ngài”, thì phép rửa tội của ta chưa hoàn tất. Trong Nghi lễ Rửa tội, luôn có một công thức vắn đọc trong trường hợp Rửa tội cho trẻ em in articulo mortis, tức lúc lâm tử. Khi hết nguy hiểm, phải đưa trẻ em trở lại nhà thờ để chu toàn những nghi thức còn thiếu. Người Kitô hữu chúng ta hôm nay, tất cả hơi giống một chút với những người được Rửa tội lúc lâm tử. Chúng ta được Rửa tội vội vàng, trong những ngày đầu tiên của cuộc đời, vì sợ chết mà chưa được rửa tội. Đây là cách thực hành hợp pháp, trực tiếp bắt nguồn từ thời các Tông đồ. Nhưng một khi trưởng thành, cũng trong trường hợp này, chúng ta phải bổ túc phép rửa đã lãnh nhận. Không phải bổ túc bằng những nghi thức bổ sung và nhất thời, nhưng bằng điều gì đó chủ yếu quyết định cho chính hiệu năng của bí tích, cho dù bí tích vẫn thành sự. Điều gì vậy? Đức Giêsu nói: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo tin mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ.” (Mc 16,16) Ai tin và chịu phép rửa: hai yếu tố luôn liên kết với nhau trong Tân Ước khi nói về khởi đầu ơn cứu độ: tin và phép rửa (x. Ga 1,12; Cv 16,30-33; Gl 3,26-27). Phép rửa là “dấu ấn thần linh đóng vào đức tin của người tín hữu[7]”.

Vậy đây là một đức tin đặc biệt bao gồm tất cả con người, đức tin-hoán cải: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giêsu” (Cv 2,38). Thuở đầu của Giáo hội, người ta đến với phép rửa qua một tiến trình hoán cải bao gồm tất cả cuộc đời. Việc đoạn tuyệt với quá khứ và khởi đầu một đời sống mới được thấy rõ qua tính chất biểu tượng của nghi thức. Người dự tòng trút bỏ y phục và dìm mình trong nước; trong một khoảnh khắc, anh thấy mình không có ánh sáng, không hơi thở, biến khỏi thế giới và như bị chôn vùi. Tiếp đến, anh nhô lên với ánh sáng thế giới. Nhưng đối với anh, đây không còn là ánh sáng và thế giới như trước, mà là một ánh sáng mới và một thế giới mới. Anh “được tái sinh bởi nước và Thần Khí” (x. Ga 3,5).

Trong tình hình hiện nay, có thể lập lại một kinh nghiệm mạnh mẽ như kinh nghiệm đó chăng? Có thể lắm: đúng ra, đó là ý Thiên Chúa muốn điều ấy xảy ra một lần trong đời sống của mọi Kitô hữu. Một hôm Đức Giêsu nói: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất. Và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên. Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12,49-50). Khi nói những lời này, Đức Giêsu nghĩ tới cái chết của mình, như hình ảnh của phép rửa được sử dụng cho thấy điều đó, cũng với cùng một ý nghĩa trong những trường hợp khác (x. Mc 10,38). Nhờ cái chết của Ngài trên thập giá, Đức Giêsu đã thắp một ngọn lửa trong thế gian và, nơi cạnh sườn bị đâm thủng, Ngài đã khai mào một giếng rửa tội. Chúng luôn hoạt động cho tới tận thế, vì Đức Giêsu “đã bị giết chết trong thân xác, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh” (x, Pr 3,18). Đúng hơn, ngọn lửa luôn được thắp lên này là Thần Khí của Ngài, và như Ngài nói, Thần Khí này, sẽ luôn ở với chúng ta (x. Ga 14,16). Nhờ Thần Khí đang sống, tất cả những gì liên hệ đến Đức Giêsu ngày hôm nay đều có tính hiện tại. Chúng ta có thể nói Đức Kitô chết hôm nay, Ngài xuống địa ngục hôm nay và hai ngày nữa Ngài sẽ sống lại. Mỗi năm như thể nước của giếng rửa tội mầu nhiệm này lại bắt đầu khuấy động như nước trong hồ nước Bêthếtđa (x. Ga 5,2 tt) để bất cứ ai muốn đều có thể nhào xuống đó và được chữa lành.

Được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô, chính là đi vào trong bụi gai cháy; là trải qua cơn hấp hối, vì có những thanh tẩy, khô khan, thập giá. Thế nhưng đó là một cơn hấp hối thay vì báo trước sự chết, lại báo trước sự sản sinh: một cơn hấp hối-ở cữ (une agonie-accouchement). Được dìm vào trong cái chết của Ngài là đi vào trong trái tim Đức Kitô, dự phần vào kịch tính của tình yêu và sự đau khổ của Thiên Chúa. Được dìm vào trong cái chết của Ngài là một điều gì đó khôn tả: phải sống nó. Chúng ta ra khỏi đó để thành thụ tạo mới, sẵn sàng phục vụ Nước Chúa bằng một cách thức mới.

***

Tuy vậy, chúng ta hãy cho tất cả những điều đó một nội dung cụ thể. Được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô có nghĩa gì? Phaolô nói: “Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay, Người sống là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu” (Rm 6,10-11). Như vậy, được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô có nghĩa như thế này: chết cho tội lỗi và sống cho Thiên Chúa! Chết cho tội lỗi hay “đoạn tuyệt với tội lỗi” (x. 1Pr 4,1) hàm chứa một điều rõ ràng: quyết định kiên vững và – bao lâu điều đó tùy thuộc nơi ta – nhất quyết không còn phạm tội tự ý nữa, đặc biệt “tội nào đó” mà chúng ta còn âm thầm gắn bó đôi chút.

Mục đích và kết thúc cuối cùng không phải là sự chết, nhưng là sự sống; đúng hơn, là canh tân đời sống, sự phục sinh, niềm vui, kinh nghiệm khôn tả về tình yêu của Chúa Cha. Nhưng tất cả những điều đó là việc của Thiên Chúa; giống như chiếc áo mới Ngài chuẩn bị cho người lên khỏi nước rửa tội. Chúng ta phải để cho Thiên Chúa lo thực hiện phần riêng của Ngài, biết rằng sự trung tín của Ngài có nền tảng ở trên trời. Chúng ta phải làm phần việc của chúng ta, phần việc đó hệ tại ở điểm này: chết cho tội lỗi, không còn thông đồng với tội, không còn liên đới ngay cả ngầm với tội. Ra khỏi Babylon. Theo diễn giải của Thánh Augustinô trong tác phẩm Thành trì của Thiên Chúa, Babylon là thành phố xây dựng trên sự yêu mình đến độ khinh mạn Thiên Chúa; đó là thành phố của Satan. Vì vậy Babylon là dối trá, là sống cho mình, cho vinh quang riêng của mình. Lời Chúa ám chỉ Babylon thiêng liêng này khi nói: “Hỡi dân Ta, hãy ra khỏi thành ấy đi, để khỏi thông đồng với tội lỗi của nó và hứng lấy những tai ương dành cho nó” (Kh 18,4). Không phải là thực tế ra khỏi thành đó, không còn liên đới với con người; ra khỏi một tình trạng luân lý, chứ không phải ra khỏi một nơi. Không phải là xa tránh thế gian, nhưng là xa tránh tội lỗi.

Chết cho tội lỗi có nghĩa là đi vào trong phán đoán của Thiên Chúa. Thiên Chúa ngắm nhìn thế giới này và xét xử nó. Chỉ sự xét xử của Ngài là có thể vạch ra một giới tuyến rõ ràng giữa tốt và xấu, giữa ánh sáng và bóng tối. Sự xét xử của Ngài không thay đổi theo mốt. Hoán cải có nghĩa là vượt qua bức tường dối trá, đứng về phía sự thật, tức Thiên Chúa. Tất cả được quyết định khi con người cùng với tác giả Thánh vịnh thưa lên với Thiên Chúa: “Con biết tội mình đã phạm…Ngài thật công bình khi tuyên án, liêm chính khi xét xử” (Tv 51,5 tt). Nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, con chấp nhận sự xét xử của Ngài trên con; sự xét xử ấy liêm chính và thánh thiện; là tình yêu; là ơn cứu độ cho con!

Qua việc Đức Giêsu đến, người ta thấy được sự “xét xử” này; nó như được cụ thể hóa, mang tính lịch sử: đó là thập giá Đức Kitô. Phải chăng trước khi chết Ngài đã chẳng nói lời đúng là ám chỉ cái chết của Ngài trên thập giá: “Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này; giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài” (Ga 12,31)? Thập giá là lời nói “không” mạnh mẽ của Thiên Chúa trước tội lỗi. Nó đã được trồng lên, như cây sự sống ở giữa quảng trường của thành phố (x. Kh 22,2), giữa Giáo hội và giữa thế giới, không ai sẽ còn có thể bứng nó đi, cũng không thể thay thế nó bằng những tiêu chuẩn khác. Cũng ngày hôm nay, như thời của tông đồ Phaolô, các “người Hy Lạp” – tức là các nhà thông thái, triết gia, thần học gia – tìm kiếm sự khôn ngoan; các “người Do Thái” – tức là các người đạo đức, các người tin – tìm kiếm những dấu chỉ, những thực hiện, hiệu năng, kết quả; còn Giáo hội tiếp tục rao giảng Đức Kitô bị đóng đinh, quyền năng của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Thiên Chúa (x. 1Cr 1,22-23).

***

Ngày 11 tháng 11 năm 1215, Đức Giáo hoàng Innocentê III khai mạc Công đồng chung Latêranô IV bằng một bài diễn từ đáng ghi nhớ. Ngài bắt đầu bằng những lời Đức Giêsu đã nói khi ngồi vào bàn ăn, trước khi chịu chết: “Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với anh em” (Lc 22,15). Đức Thánh Cha giải thích: lễ Vượt Qua có nghĩa là vượt qua. Đó là ba lần vượt qua Đức Giêsu cũng ao ước làm với chúng ta hôm nay: một sự vượt qua về thân xác, một sự vượt qua thiêng liêng và một sự vượt qua vĩnh cửu. Theo Đức Giáo Hoàng, sự vượt qua về thân xác là sự vượt qua tới Giêrusalem để tái chinh phục Mộ Thánh. Sự vượt qua thiêng liêng là vượt qua từ nết xấu tới nhân đức, từ tội lỗi tới ân sủng, nghĩa là canh tân luân lý của Giáo hội. Sự vượt qua vĩnh cửu là vĩnh viễn vượt qua khỏi đời này về với Chúa Cha, nghĩa là chết. Trong bài diễn từ, Đức Giáo Hoàng đặc biệt nhấn mạnh sự vượt qua thiêng liêng: sự canh tân về luân lý của Giáo hội, và đặc biệt của hàng giáo sĩ: đó là việc ngài quan tâm hơn hết. Mặc dù cao tuổi, ngài muốn chính mình đi qua tất cả Giáo hội, như một người mặc áo vải gai, đeo tráp ký lục ở ngang lưng, mà tiên tri Êdêkien nói đến (x. Ed 9,2 tt), để vạch chữ Tau sám hối trên trán những ai, cũng như ngài, đã than khóc về những tội lỗi kinh khủng người ta phạm trong Giáo hội và trên thế giới.

Ngài đã không thể thực hiện giấc mơ này, vì đã qua đời vài tháng sau đó; ngài đã thực hiện cuộc vượt qua thứ ba tới Giêrusalem thiên quốc. Nhưng trong vương cung thánh đường Latêranô nơi Đức Innocentê III đọc diễn từ, có mặt Phanxicô Assisi, mất hút trong đám đông, và chắc hẳn không được bất cứ ai biết đến. Dầu sao, chắc chắn ngài đã nhận được lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng và coi đó là của mình. Khi trở lại với các anh em, kể từ ngày đó ngài bắt đầu rao giảng sự sám hối và hoán cải còn nhiệt thành hơn trước đây, và ngài bắt đầu vạch một chữ Tau lên trán những người chân thành quay về với Đức Kitô. Chữ Tau (chữ T trong bảng chữ cái của chúng ta), dấu hiệu tiên tri của thập giá Đức Kitô, trở thành con dấu của ngài. Ngài dùng nó để ký trong các bức thư, ngài vạch nó trên phòng các anh em, đến độ Thánh Bonaventura đã có thể nói sau khi ngài qua đời: “Ngài đã nhận từ trời sứ mệnh kêu gọi người ta khóc lóc, than van, cạo đầu và thặt đai lưng, và sứ mệnh ghi khắc làm dấu chỉ thập giá thống hối chữ Tau trên trán những người than khóc.[8]

Đó là cuộc “thập tự chinh” của Phanxicô: vạch dấu thánh giá không phải trên quân phục và binh khí để chiến đấu chống lại những người “ngoại đạo”, nhưng trong tâm hồn mình và các anh em, để cất đi sự vô đạo của dân Chúa. Theo Thánh Bonaventura, ngài đã nhận được sứ mệnh này “từ trời”; nhưng giờ đây chúng ta biết ngài đã nhận được sứ mệnh ấy cũng từ Giáo hội, từ Đức Giáo Hoàng. Ngài muốn là một dụng cụ hèn mọn để phục vụ Giáo hội và hàng giáo phẩm, để thực hiện việc canh tân như Công đồng chung thời ấy mong muốn.

Năm nay, khi cử hành bách chu niên lần thứ tám ngày sinh của Người Nghèo Hèn Mọn thành Assisi, chúng ta xin Chúa gửi đến cho Giáo hội hôm nay – cũng đang có nhiệm vụ thực hiện việc canh tân mà một Công đồng chung, Công đồng Vaticanô II, mong muốn – những con người như Phanxicô, có khả năng sẵn sàng phục vụ Giáo hội như ngài, và kêu gọi người ta dùng sám hối và hoán cải mà hòa giải với Thiên Chúa và với nhau.


V. “BỊ ĐÓNG ĐINH VÌ MANG THÂN PHẬN YẾU HÈN, ĐỨC KITÔ ĐANG SỐNG NHỜ QUYỀN NĂNG CỦA THIÊN CHÚA”

 Trong cả sách Kinh thánh, bên cạnh mạc khải về quyền năng của Thiên Chúa, có một mạc khải âm thầm mà chúng ta có thể gọi là mạc khải về sự yếu hèn của Thiên Chúa. Sự yếu hèn này gắn liền với điều mà Kinh thánh thường gọi là: “lòng bồi hồi thương xót của Thiên Chúa chúng ta” (x. Gr 31,20; Lc 1,78). Có thể nói nó khiến Người thành bất lực trước con người tội lỗi và phản loạn. Dân “dứt khoát không trở về”, “cứ phản bội mãi” (x. Gr 8,5). Và Thiên Chúa đáp lại như thế nào? Người nói: “Ta từ chối ngươi sao nổi? Hỡi Israel, Ta trao nộp ngươi sao đành? … Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi” (Hs 11,8). Như để xin lỗi về sự yếu hèn này, Thiên Chúa nói: “Có người mẹ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau?” (Is 49,15). Thực ra, tình yêu này là tình yêu của người mẹ tiêu biểu nhất. Nó phát xuất từ chỗ sâu thẳm nơi thụ tạo được hình thành và rồi chiếm đoạt tất cả con người của người đàn bà – thân xác và linh hồn – làm cho bà cảm thấy con mình như một phần của chính mình, bà sẽ không bao giờ có thể cắt đứt mà không có một sự xâu xé sâu xa tất cả con người của bà.

Thế nên lý do của sự yếu hèn nơi Thiên Chúa là tình yêu của Ngài đối với con người. Thấy người yêu bị chính tay nó hủy hoại mà không thể làm gì. Khi người cha hoặc người mẹ nhìn thấy con mình chết dần chết mòn ngày này qua ngày khác vì ma túy, và thậm chí không thể ám chỉ đến điều xấu thực sự, vì sợ hoàn toàn mất con, thì họ biết chuyện đó là gì.

Nhưng người ta sẽ nói: Thiên Chúa toàn năng lại không thể ngăn cản điều đó sao? Chắc chắn Ngài có thể, nhưng cùng một lúc sẽ là phá hủy sự tự do của con người, tức là phá hủy chính con người. Vì vậy Ngài chỉ có thể cảnh báo, van xin, đe dọa, và đó là điều Ngài luôn làm qua trung gian các tiên tri.

Tuy nhiên chúng ta không biết Thiên Chúa đau khổ đến mức nào, bao lâu sự đau khổ ấy chưa hiện thân trước mắt chúng ta trong cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Cuộc Khổ nạn của Đức Kitô chỉ là biểu hiện lịch sử và hữu hình về sự đau khổ của Chúa Cha vì con người. Chính là sự biểu hiện tột cùng về sự yếu hèn của Thiên Chúa. Theo Thánh Phaolô, Đức Kitô “chịu đóng đinh vì mang thân phận yếu hèn” (2Cr 13,4). Con người đã thắng Thiên Chúa, tội lỗi đã chiến thắng và đang đứng trước thập giá Đức Kitô như kẻ thắng trận. Ánh sáng lại bị bóng tối bao phủ. Nhưng chỉ một lúc thôi: Đức Kitô đã bị đóng đinh vì sự yếu hèn của mình, nhưng, như cũng thánh Tông Đồ nói ngay, “Ngài đang sống nhờ quyền năng của Thiên Chúa”. Ngài đang sống, Ngài đang sống! Chính Ngài bây giờ đang lặp lại cho Giáo hội: “Ta đã chết và nay Ta sống đến muôn thuở muôn đời. Ta giữ chìa khóa của tử thần và âm phủ” (Kh 1,18). Quả thực, “cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” (1Cr 1,25). Chính xác thập giá đã trở nên “quyền năng của Thiên Chúa, khôn ngoan của Thiên Chúa (x. 1Cr 1,24), chiến thắng của Thiên Chúa. Thiên Chúa chiến thắng mà vẫn mang thân phận yếu hèn, nhưng cũng đưa nó tới cực điểm. Ngài không để mình bị lôi kéo hành xử như kẻ thù: “bị nguyền rủa, Ngài không nguyền rủa lại” (1Pr 2,23). Ngài không phản ứng trả đũa ý của con người muốn hủy hoại Ngài, nhưng Ngài muốn cứu vớt nhân loại. Ngài nói: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (x. Ed 33,11). Theo một kinh nguyện của Giáo hội, Thiên Chúa bày tỏ sự toàn năng của mình bằng sự thương xót và tha thứ (parcendo et miserando). Trước tiếng hò la của dân chúng: “Đóng đinh nó đi!”, Ngài đáp lại: “Lạy Cha, xin tha cho họ!” (Lc 23,34).

Trên thế giới, không có từ nào giống như những từ đó: Lạy Cha, xin tha cho họ! Chúng chứa đựng tất cả sự quyền năng và thánh thiện của Thiên Chúa; đó là những từ không chế ngự được. Không việc xấu nào có thể chiến thắng chúng, vì chúng được nói ra khi xảy ra việc xấu nhất, lúc sự dữ mang hình thức tột đỉnh, không sự dữ nào xấu hơn. “Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng. Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?” (1Cr 15,54-55). Những lời trên đây giống như những lời thuộc bí tích. Chúng cũng “gây ra bằng cách biểu thị” theo cách của chúng. Chúng diễn tả tất cả ý nghĩa và mục đích của cuộc Khổ nạn – là hòa giải thế giới với Thiên Chúa – và bằng cách diễn tả những điều đó, chúng làm cho những điều đó trở thành hiện tại.

***

Loại hòa giải này bắt đầu ngay chung quanh thập giá, với những người đóng đinh Đức Kitô. Tôi xác tín rằng những người đóng đinh Đức Kitô đã được cứu và chúng ta sẽ gặp lại họ trên Thiên đàng. Họ sẽ ở đó để muôn đời minh chứng cho sự tốt lành của Chúa. Đức Giêsu đã cầu nguyện cho họ với tất cả uy tín của mình và Chúa Cha, Đấng luôn nhậm lời cầu xin của Con mình khi còn ở dương thế (x. Ga 11,42), không thể không nhậm lời cầu xin này của Con lúc sắp lìa đời. Sau những người đóng đinh là người trộm lành, rồi viên sĩ quan Rôma (x. Mc 11,42), tiếp đến là đám đông sám hối ngày lễ Ngũ Tuần. Đó là đoàn người không ngừng thêm đông, tới chỗ bao gồm cả chúng ta đang ở đây chiều nay để cử hành cuộc Tử nạn của Đức Kitô. Thiên Chúa đã nói về “Người Tôi Trung” qua trung gian tiên tri Isaia: “Vì thế, Ta sẽ ban cho người muôn người làm gia sản…bởi vì người đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân, nhưng thật ra người đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi” (Isaia 53,12). Vì Ngài đã cầu xin cho kẻ có tội khi nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ”. Thiên Chúa đã ban đám đông cho Đức Giêsu Nadarét làm phần thưởng!

Những con người khác là chúng ta có một nhãn quan lệch lạc về việc Cứu chuộc, và tạo ra nhiều khó khăn cho đức tin của chúng ta. Chúng ta hình dung một loại thương lượng: Đức Giêsu, Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và linh hồn, trả cho Chúa Cha giá chuộc là máu Ngài, và Chúa Cha, “được đền bồi”, tha thứ cho con người lỗi của họ. Thế nhưng đó là một cái nhìn rất con người, không chính xác hoặc, ít nhất, chỉ đúng một phần, thậm chí, nói theo con người, là không thể chấp nhận: một người cha phải cần đến máu của con mình mới nguôi cơn giận sao? Sự thật hoàn toàn khác, sự đau khổ của Chúa Con như yếu tố đầu tiên (sự đau khổ ấy là tự nguyện, tự do), tạo nên một điều gì đó quá quý giá trước mắt Chúa Cha đến độ, về phần mình, Chúa Cha đáp lại bằng cách ban cho Chúa Con một quà tặng lớn nhất chưa từng có: cho Chúa Con một đoàn anh em đông đảo, biến Ngài thành “trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29). Thiên Chúa nói: “Con cứ xin, rồi cha ban tặng muôn dân nước làm sản nghiệp riêng, toàn cõi đất làm phần lãnh địa” (Tv 2,8).

Thế nên không phải Chúa Con trả nợ cho Chúa Cha, nhưng đúng hơn, Chúa Cha trả nợ cho Chúa Con, trả lại cho Chúa Con “mọi con cái đang tản mác” (x. Ga 11,58). Và Ngài trả nợ với tư cách là Thiên Chúa, theo cách thức vô biên, vì không ai có thể, ngay cả từ xa, hình dung nổi vinh quang và niềm vui mà Chúa Cha đã ban cho Đức Kitô Phục Sinh.

***

Bình giải kinh “Lạy Cha”, một thi sĩ tín hữu đã đặt vào miệng Thiên Chúa những lời sau đây, những lời còn thật hơn nếu chúng ta áp dụng cho lời cầu nguyện của Đức Giêsu trên thập giá, như chúng ta đang làm lúc này:

“Cũng như đường rẽ sóng của một con tàu đẹp đang mở rộng và mất hút;

Nhưng bắt đầu bằng một mũi nhọn, và mũi nhọn này đi đến với ta.

Và con tàu này là con của ta, đang mang tất cả tội lỗi thế gian

Và mũi nhọn này chính là ba hay bốn từ: Lạy Cha, xin tha cho họ….[9]

Đường rẽ sóng của “con tàu” này có lẽ đi qua bên cạnh chúng ta, ngay lúc này đây, trong lễ Vượt Qua này: chúng ta đừng đứng ở ngoài, nhưng hãy nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa che chở; hãy trú ẩn nơi mũi nhọn này. Hãy nhập đoàn hân hoan của những người được Con Chiên giải thoát.

Chính Giáo hội lúc này đây đang dùng lời của thánh tông đồ Phaolô mà nài xin chúng ta: “Hãy làm hòa cùng Thiên Chúa!” (2Cr 5,20). Thiên Chúa đã chịu khổ vì bạn, đặc biệt vì bạn, và Ngài sẽ sẵn sàng lại chịu khổ, nếu điều đó cần thiết để cứu bạn. Tại sao bạn lại muốn lạc xa? Tại sao bạn làm cho Chúa phải khổ khi cho rằng tất cả những cái đó không liên hệ gì tới bạn? Thiên Chúa không liên quan đến bạn, nhưng bạn liên quan đến Thiên Chúa! Đến độ Ngài đã chết vì bạn. Hãy cảm thương với Thiên Chúa của bạn, đừng độc ác với Người cũng như với bạn. Hãy chuẩn bị trong tâm hồn bạn những lời để nói như người con hoang đàng, và hãy lên đường về với Người vì Người đang đợi bạn.

Chúng ta biết lý do khiến nhiều người không muốn làm hòa cùng Thiên Chúa. Người ta bảo: có quá nhiều đau đớn vô tội trên thế giới, quá nhiều thống khổ bất công. Hòa giải với Thiên Chúa sẽ là thỏa hiệp với bất công, là chấp nhận sự đau đớn của những người vô tội và tôi không muốn chấp nhận điều đó! Người ta không thể tin vào một Thiên Chúa để cho những người vô tội phải khổ[10]; sự đau khổ của những người vô tội là “đá tảng của chủ thuyết vô thần[11]”.

Tuy nhiên, đó chính là một cái bẫy đáng sợ! Những người vô tội đó giờ đây đang hát lên bài ca mừng chiến thắng của Con Chiên: “Ngài xứng đáng lãnh nhận cuốn sách và mở ấn niêm phong, vì Ngài đã bị giết và đã lấy máu đào chuộc về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi chi tộc và ngôn ngữ, thuộc mọi nước mọi dân” (Kh 5,9). Họ đang đi theo “đường rẽ sóng” của Con Chiên, trong khi chúng ta đứng trên “đá tảng” bất hạnh. Phải, có nhiều nỗi đau đớn vô tội trên thế giới, nhiều đến độ chúng ta thậm chí không thể tưởng tượng nổi, nhưng nó không giữ người đau khổ phải xa Thiên Chúa một thời gian lâu (Vả lại, Thiên Chúa liên kết họ với Ngài hơn bất cứ điều gì ở thế gian này), nhưng chỉ giữ những ai ngồi ở chỗ tiện nghi viết tiểu luận hay nghị luận trên giấy về nỗi khổ của những người vô tội. Những người vô tội phải khổ (bắt đầu với hàng triệu trẻ em bị giết chết khi còn nằm trong bụng mẹ) làm thành “đám đông” với Con Thiên Chúa vô tội. Dù được rửa tội hay không, họ thuộc về Giáo hội rộng lớn và ẩn kín, bắt đầu với người công chính Abel và bao gồm tất cả những người bị bách hại, những nạn nhân của tội lỗi trên thế giới: Giáo hội từ Abel. Sự đau khổ là phép rửa bằng máu của họ. Cũng như các Thánh Anh Hài, được Giáo hội kính nhớ ngay sau lễ Giáng Sinh, họ tuyên xưng Đức Kitô, không phải bằng lời nói, nhưng bằng cái chết. Họ là muối đất. Cũng như cái chết của Đức Kitô là tội lỗi lớn nhất của nhân loại, đồng thời cũng là sự cứu độ của nhân loại, cũng vậy, sự đau khổ của hàng triệu nạn nhân của đói khát, bất công và bạo lực là lầm lỗi lớn nhất hiện nay của nhân loại, và đồng thời góp phần vào việc cứu nhân loại. Nếu chúng ta chưa chìm đắm, có lẽ chúng ta cũng mắc nợ họ.

Và chúng ta hẳn nghĩ rằng tất cả những cái đó chỉ là đống vữa vô ích chăng? Chúng ta tưởng rằng đó là một sự đau khổ chỉ thuần mất mát, vì chúng ta không còn tin thật vào phần thưởng vĩnh cửu của những người công chính và vào sự trung tín của Thiên Chúa. Không phải là không thể cắt nghĩa sự đau khổ làm cho người ta mất đức tin, nhưng chính sự mất đức tin khiến cho không thể cắt nghĩa được sự đau khổ.

***

Chính lúc này đây Thiên Chúa nói với các mục tử của dân Người, trong một ngày như ngày hôm nay: “Hãy tha thứ như Ta tha thứ. Ta tha thứ tận đáy lòng, Ta có lòng thương xót, vì sự lầm than của dân Ta. Cả các con nữa, các con đừng đọc những “công thức” xá giải tốt đẹp chỉ bằng miệng. Ta muốn không những dùng môi miệng các con, mà cả tâm hồn các con. Cả các con nữa, hãy “động lòng thương” (Is 63,15; Gr 31,20 v.v.). Không tội nào là quá nặng, quá đáng sợ đối với các con. Luôn tự nhủ và cũng nói điều đó cho người anh em ở trước mặt: “Phải, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa còn lớn hơn rất nhiều.” Các con hãy là người cha trong dụ ngôn đi gặp đứa con hoang đàng, ôm choàng lấy cổ nó. Chớ gì mọi người không cảm thấy Giáo hội đang xét xử mình cho bằng đang thương xót và cảm thông với mình. Đừng ra ngay những việc đền tội mà hối nhân chưa thể thi hành. Tốt hơn là chính các con đền tội thay cho họ, và như vậy các con sẽ giống Con Ta. Ta yêu thương những người con lạc đường này, vì vậy Ta cũng sẽ giúp họ có thể đền bồi tội lỗi của họ vào lúc thuận tiện. Hãy yêu thương, yêu thương dân Ta được Ta yêu mến.

Với những ai đang đau khổ trong linh hồn và thân xác, những người già cả, bệnh tật, thấy mình như vô ích và là gánh nặng cho xã hội, và có lẽ từ giường bệnh với thái độ ghen tức, thấy người đứng ngay bên mà được khỏe mạnh, tôi muốn nói với tất cả sự khiêm tốn rằng: hãy coi Thiên Chúa đã hành xử thế nào! Trong việc tạo dựng, có một lúc Thiên Chúa cũng đã hành động đầy quyền năng và niềm vui: Ngài đã phán và mọi sự liền có, Ngài điều khiển và mọi sự tồn tại. Nhưng khi Ngài muốn làm điều gì đó lớn hơn, Ngài đã ngưng hành động và bắt đầu chịu đau khổ; Ngài đã phát minh ra sự tự hủy, và chính như thế mà Ngài cứu chuộc ta. Bởi vì, ngay cả nơi Thiên Chúa chứ không chỉ nơi con người, “sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr 12,9). Bạn đang má kề má với Đức Kitô trên thập giá. Nếu bạn đau khổ vì lỗi lầm của người nào đó, hãy cùng với Đức Giêsu thưa lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ” và Chúa Cha cũng ban cho bạn người anh em này “làm phần thưởng”, cho đời sống vĩnh cửu.

Cuối cùng, tôi muốn nói một lần nữa với mọi người tin vĩ đại của ngày hôm nay: Đức Kitô đã bị đóng đinh vì sự yếu đuối của Ngài, nhưng đang sống nhờ quyền năng của Ngài.


VI. “TỨC THÌ MÁU CÙNG NƯỚC CHẢY RA”

Thời kỳ Đền thờ bị phá hủy và dân phải bị lưu đầy sang Babylon, có một hôm, tiên tri Êdêkien thấy một thị kiến. Ông thấy trước mặt Đền thờ được tái tạo, và từ dưới ngưỡng cửa Đền thờ, lối hông bên phải, nước vọt ra chảy về hướng Đông. Ông bắt đầu lần theo dòng nước nhỏ này và thấy nó không ngừng to lên, rồi theo dòng chảy của nó, trước hết thấy nó ngập đến mắt cá chân, rồi đến đầu gối, đến thắt lưng, cuối cùng trở thành một dòng sông mà người ta không thể lội qua. Ông thấy ở trên bờ mọc lên nhiều cây ăn trái và nghe thấy tiếng nói: “Nước này chảy về miền đất phía đông, xuống vùng Avara rồi đổ ra biển Chết và làm cho nước biển hóa lành. Sông chảy đến đâu thì mọi sinh vật lúc nhúc ở đó sẽ được sống, vì nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy tới đâu thì ở đó có sự sống” (Ed 47,1 tt).

Thánh sử Gioan đã thấy lời tiên tri này được thực hiện trong cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Ngài viết: “Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì máu cùng nước chảy ra” (Ga 19,34). Phụng vụ của Giáo hội đã thu nhận giáo huấn này khi hát lên những lời của nhà tiên tri lúc đầu mỗi lễ trọng mùa Phục sinh, những lời mà từ đây được coi là đưa về Đức Kitô: “Vidi aquam egredientem de templo” – Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra.

Đức Giêsu là Đền thờ mà người ta đã phá hủy, nhưng Thiên Chúa đã tái tạo Ngài khi cho Ngài từ cõi chết sống lại. Chính Ngài đã nói: “Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi; nội ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”, và Gioan cắt nghĩa “Đền thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Ngài” (Ga 2,19-21). Vậy thân thể Đức Kitô trên thập giá là đền thờ mới, trọng tâm của phụng tự mới, nơi vĩnh viễn có vinh quang và sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người. Và giờ đây, nước vọt ra từ cạnh sườn bên phải Đền thờ mới này. Cũng như nước mà nhà tiên tri đã thấy, nước này cũng bắt đầu như một dòng suối nhỏ, rồi không ngừng to dần cho tới khi trở thành dòng sông lớn. Chính từ dòng nước này mà nước của mọi giếng rửa tội trong Giáo hội bắt nguồn cách thiêng liêng. Trên giếng rửa tội của nhà thờ Latêranô, Thánh Giáo Hoàng Lêô Cả đã cho khắc hai câu thơ latinh có nghĩa như sau: “Đây là nguồn nước rửa sạch cả thế giới, bắt nguồn từ vết thương của Đức Kitô – Fons hic est qui totum diluit orbem – sumens de Christi vulnere principium”. Quả thật, “những dòng nước hằng sống” vọt lên từ lòng Ngài, tức từ lòng Đức Kitô trên thập giá!

***

Nhưng nước biểu thị điều gì? Một hôm – hôm đó là ngày bế mạc tuần lễ Lều – Đức Giêsu lớn tiếng nói: “Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống!” Và thánh sử Gioan bình giải: “Ngài nói về Thần Khí mà những kẻ tin vào Ngài sẽ lãnh nhận” (Ga 7,37-38). Như vậy nước tượng trưng cho Thần Khí. Người ta đọc thấy trong thư thứ nhất của Thánh Gioan nhắc tới tình tiết này: “Có ba chứng nhân: Thần Khí, nước và máu” (1Ga 5,7-8). Ba chứng nhân này không ở trên cùng một bình diện: nước và máu, đó là điều người ta thấy phát xuất từ cạnh sườn Đức Kitô, đó là những dấu chỉ, những bí tích; còn Thần Khí là thực tại vô hình ẩn giấu trong đó, hành động trong đó.

Trước lúc này, chưa có Thần Khí trên thế giới; nhưng giờ đây Đức Giêsu đã chết vì chúng ta, tẩy sạch ta khỏi tội ta, thì Thần Khí lại bay lượn trên nước, như lúc bình minh thuở tạo dựng (x. St 1,2). Sau khi kêu: “Thế là đã hoàn tất”, Đức Giêsu “trao Thần Khí” (Ga 19,30). Tức thở hơi cuối cùng, rồi chết, nhưng cũng là trào ra Thần Khí, Chúa Thánh Thần. Tác giả Sách Thánh muốn cả hai ý nghĩa. Hơi thở cuối cùng của Đức Giêsu trở thành hơi thở đầu tiên của Giáo hội! Đó là sự hoàn thành của tất cả công trình Cứu Chuộc, hoa quả quý giá nhất của công trình này. Là vì sự Cứu Chuộc không chỉ là tha thứ tội lỗi, nhưng một cách tích cực, còn là ơn ban sự sống mới của Thần Khí. Đúng hơn, mọi sự đều hướng về đó, và chính việc tha thứ tội lỗi ngày hôm nay trong Giáo hội chỉ hoàn tất trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

Chắc chắn, Chúa Thánh Thần đến trong Giáo hội một cách long trọng và công khai vào ngày lễ Ngũ Tuần; nhưng Gioan, trong Phúc âm của mình, đã muốn chỉ cho thấy Thần Khí này đến từ đâu, Đấng mà trong ngày lễ Ngũ Tuần đã từ trên cao đổ xuống các Tông Đồ, cũng như chỉ cho thấy nguồn mạch từ đâu. Nguồn mạch này chính là thân xác Đức Kitô vinh hiển trên thập giá. Trong sự Nhập Thể, và rồi bằng một cách thức mới mẻ lúc Đức Kitô nhận phép rửa ở sông Giođan, Chúa Cha đã đổ xuống trên Con mình đầy tràn Chúa Thánh Thần. Thần Khí này như hoàn toàn thu mình lại trong nhân tính của Đấng Cứu Thế; đã thánh hóa những hành động nhân loại của Ngài, đã linh hứng cho những lời nói của Ngài, đã hướng dẫn từng sự lựa chọn của Ngài. Nơi Ngài, “Thần Khí đã quen sống giữa con người.[12]

Tuy nhiên trong cuộc đời trần gian của Ngài, Thần Khí ẩn mình không cho người ta nhìn thấy, như hương thơm trong bình dầu thơm của người phụ nữ (x. Ga 12,3 tt). Bây giờ, bình dầu thơm là nhân tính tinh tuyền của Đức Kitô đã vỡ ra trong cuộc Khổ nạn, và hương thơm của nó choán đầy tất cả ngôi nhà là Giáo hội.

Nhà tiên tri nêu trên đã nói: “Nước chảy tới đâu thì nơi đó có sự sống.” Đó cũng là điều xảy đến với dòng nước từ cạnh sườn Đức Kitô đổ ra. Nó đã đem lại sự sống cho thế giới, đến nỗi ở Constantinôpôli năm 381, khi muốn tóm tắt đức tin của mình vào Ngôi Ba Thiên Chúa bằng mấy từ, Giáo hội không tìm thấy gì chủ yếu hơn để nói về Chúa Thánh Thần ngoài việc gọi Người là Đấng ban sự sống: “Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống”.

***

Lời loan báo về Thần Khí ban sự sống cần thiết hơn bao giờ hết và được mong đợi trong thế giới chúng ta đang sống. Khi Phaolô đến Athêna, giữa lúc thành phố đang băng hoại vì chuyện thờ ngẫu tượng, ngài thấy dân chúng cũng đang âm thầm chờ đợi một vị thần khác, và dù không biết vị thần ấy, họ vẫn dựng một bàn thờ có ghi “Kính thần vô danh”. Thế là thánh Tông Đồ nói với họ: “Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị” (Cv 17,22-23). Rồi ngài bắt đầu nói về Đức Giêsu đã bị đóng đinh và đã sống lại. Có điều gì đó tương tự cũng xảy ra ngày hôm nay. Giữa tất cả những hình thức thờ ngẫu tượng mới và chủ nghĩa duy vật đang cố gắng tràn ngập, người ta thấy xuất hiện trong xã hội một nhu cầu lẫn lộn về một điều gì đó mới mẻ và khác biệt, không kết thúc với chúng ta, và đem lại cho đời sống một ý nghĩa vĩnh cửu. Đó là một thái độ không hài lòng sâu sắc không phải do thiếu thốn vật chất, vì thái độ đó biểu lộ tại nơi sung túc nhất. Dấu hiệu của thái độ không thỏa mãn đó là sự buồn phiền, một sự buồn phiền gây xúc động đối với những ai chưa trải nghiệm về nó và cho những người đến từ xa.

Một triết gia của thời đại chúng ta đã nói về một sự “luyến tiếc một Đấng Hoàn Toàn Khác” đang lộ ra đây đó trong thế giới hôm nay. Thì đây, Giáo hội đang lớn tiếng bày tỏ cho những con người ngày hôm nay điều thánh Tông Đồ đã nói hôm đó cho người thành Athêna: “Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị!” Điều “khác” này, mà quý vị đang luyến tiếc, thì có đấy: chính là Thần Khí của Thiên Chúa. Thần Khí là tự do, là sự mới mẻ, là sự cho không, là vẻ đẹp và niềm vui. Thần Khí là sự sống. Ngày nay chúng ta đang hết sức tranh đấu để cải thiện “phẩm chất của cuộc sống”, như người ta nói. Nhưng khi làm như thế, chúng ta không được quên rằng có một cuộc sống với phẩm chất khác hẳn, mà không có nó thì mọi sự đều vô ích. Quả thực, sống tốt mà làm gì, nếu không được ban sự sống vĩnh cửu?

***

Những lời Đức Giêsu nói với chúng ta trong thinh lặng từ trên thập giá, trong ngày hôm nay, thực êm dịu biết bao: “Đến cả đi, hỡi những ai đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng, đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào” (Is 55,1).

Vết thương mở ra nơi cạnh sườn Thầy chính là vì anh em. “Hãy nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy!” (Tv 34,9). Ngay cả người không có gì để trả – người không có công trạng nào, người thấy mình bất xứng hay tội lỗi, người thậm chí không còn sức nữa để cầu nguyện – người đó cũng hãy đến. Thầy chỉ muốn trao đổi một điều thôi: sự khao khát ước muốn của anh em; anh em đừng cảm thấy thỏa mãn về mọi sự, đừng cho mình là đủ. Thầy xin anh em hãy có đức tin.

Nhưng lúc này đây, đền thờ là thân xác Đức Giêsu không còn ở giữa chúng ta. Như vậy, qua những lời trên, Ngài mời gọi chúng ta đi đến đâu? Đến với Giáo hội, với các bí tích của Giáo hội! Không còn đền thờ hữu hình nữa là thân xác thể lý của Ngài, thân xác từ lòng Đức Maria sinh ra và bị đóng đinh trên thập giá; nhưng vẫn còn thân thể của Ngài là Giáo hội. Cũng Thánh Gioan trong Phúc âm của mình đã cho thấy lời tiên tri Êdêkien được thực hiện trên thập giá, cho thấy trong sách Khải huyền lời ấy được thực hiện trong Giáo hội: “Rồi thiên thần chỉ cho tôi thấy một con sông có nước trường sinh, sáng chói như pha lê, chảy ra từ ngai của Thiên Chúa và của Con Chiên. Ở giữa quảng trường của thành, giữa hai nhánh sông có cây sự sống…” (Kh 22,1-2).

Từ đây, nước hằng sống chảy ở giữa thành thánh, giữa Giêrusalem mới là Giáo hội. Tất cả những ai thật sự khao khát Chúa Thánh Thần đều phải chạy đến với nó. Thánh Irênê – người đã lãnh nhận giáo lý từ miệng một trong các môn đệ của Gioan – đã cảnh báo:

“Chính cho Giáo hội mà ân huệ của Thiên Chúa được trao phó. Bởi vì đâu có Giáo hội, đấy cũng có Thần Khí Thiên Chúa, và đâu có Thần Khí Thiên Chúa, đấy có Giáo hội. Vì vậy, những ai bị khai trừ khỏi Giáo hội thì cũng không còn được nuôi bằng vú của Mẹ họ để được sống, và cũng không được dự phần vào nguồn mạch rất tinh tuyền vọt ra từ thân xác Đức Kitô, nhưng họ nghiên cứu những “bể chứa nứt rạn” và, khi bằng cách moi lỗ trong đất, họ uống nước thối của vũng bùn.[13]

Chiều ngày Phục Sinh, Đức Giêsu vào phòng nơi các môn đệ đang tụ họp, “thổi hơi vào các ông và bảo: Hãy nhận lấy Thánh Thần!” (Ga 20,22). Ngài không chỉ làm việc đó ngày Phục Sinh đầu tiên, để rồi sau đó biến mất trong lịch sử, để Giáo hội dò dẫm một mình, với những phương tiện Ngài đã ban, cho tới ngày Ngài trở lại. Không phải thế. Ngày hôm đó, khi ban cho các Tông đồ quyền tha tội, Ngài khai mào cách long trọng và hữu hình điều kiện mới của Ngài là “Thần Khí ban sự sống” (x. Cr 15,45). Nhưng từ đây, Ngài “thổi hơi” thường xuyên trên Giáo hội; không một lúc nào ngưng làm công việc đó. Ngài còn làm như vậy hôm nay, trong phụng vụ này. Nếu Ngài cất Thần Khí đi, mọi sự trong Giáo hội sẽ “mất đi, trở về với cát bụi”, đúng như trong một ngữ cảnh khác Kinh thánh nói về điều xảy ra cho tạo thành (x. Tv 104,29).

“Không có Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa ở xa, Đức Kitô thuộc quá khứ, Phúc âm là chữ chết, Giáo hội là một tổ chức bình thường, quyền bính là thống trị, truyền giáo là tuyên truyền, phụng tự chỉ là thuần túy gợi lại và hành động Kitô giáo là một thứ luân lý nô lệ. Nhưng trong Chúa Thánh Thần, vũ trụ đứng dậy và rên rỉ trong cơn đau lúc sinh Nước Trời, Đức Kitô phục sinh đang hiện diện, Phúc âm là quyền năng sự sống, truyền giáo là một lễ Ngũ Tuần, phụng vụ là tưởng niệm và chờ mong, hành động Kitô giáo được thần hóa.[14]

Thế nên Đức Giêsu luôn “thở hơi” trên chúng ta; chính chúng ta là những người đã không luôn đón nhận và thu lấy hơi thở của Ngài, không luôn coi trọng Ngài, vì tin tưởng vào sức riêng và khả năng con người của mình, bận tâm sản xuất ra, làm ra, phóng ra và tranh luận giữa ta. Nhưng lúc này, một điều gì đó thúc đẩy chúng ta ngừng lại mà không chống cưỡng được, thúc đẩy chúng ta, với bộ mặt không che giấu, với tâm hồn đầy khát khao thầm kín, lại phó thác cho hơi thở mạnh mẽ này của Đấng Phục Sinh. Một “luồng gió mạnh” lại làm căn nhà rung chuyển (x. Cv 2,2) từ khi “một lễ Hiện Xuống mới” đã được cầu xin xuống trên Giáo hội.

Một hôm Đức Giêsu nói: “Giờ đã đến – và chính lúc này đây – giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống” (Ga 5,25). Phải, giờ đã đến, nó đến đây rồi. Hôm nay, giữa lúc bóng tối dầy đặc trên thế giới, có vô số người Kitô hữu, đã nguội lạnh hay còn hờ hững, lại tươi tắn khi tiếp xúc với Thần Khí Đức Kitô. Họ được tái sinh, tái khám phá nét cao cả của phép Rửa họ đã lãnh nhận, được hạnh phúc phục vụ Giáo hội để Phúc âm hóa, và ngay cả giữa những gian truân, họ hát lên một bài ca mới, bài ca vui mừng và chúc tụng Thiên Chúa đã ban cho họ những ân sủng lạ lùng. Những đóa hoa thánh thiện đẹp đẽ đang trổ ra đây đó, giữa dân Chúa, dưới sự sưởi ấm của hơi thở thần linh.

***

Trong bầu khí thức tỉnh của ngày lễ Ngũ Tuần, các linh mục của Giáo hội, những người không thể ở bên ngoài tiến trình này giống như khán giả thuần túy, vì sợ sự mới mẻ, có một nhiệm vụ quyết định. Những người cảm thấy nhớ về một Đấng Hoàn Toàn Khác thường chạy đến với linh mục chúng ta. Chúng ta có nhiệm vụ ban cấp cho các anh em “thần trí và sự sống”. Đừng làm họ thất vọng. Đừng chăm sóc người đang tìm kiếm Thiên Chúa hằng sống bằng những lời yếu ớt và nhạt nhẽo về Thiên Chúa. Chớ gì người ta không buộc phải nói như thời tiên tri Isaia: “Những ai nghèo hèn khốn khổ tìm nước mà không ra” (Is 41,17).

Hôm đó, dưới chân thập giá Đức Giêsu, có Đức Maria và người môn đệ Chúa yêu: người trẻ nhất trong số các môn đệ; chính người đó “đã thấy và minh chứng” (x. Ga 19,35). Hôm nay, Đức Giêsu cũng mời gọi các người trẻ đến gần Ngài, đứng dưới chân thập giá. Hỡi các bạn trẻ có tâm hồn trong sạch, người ta cần các bạn trong Giáo hội, để “phục vụ Thần Khí”. Thực đẹp đẽ khi bỏ mọi sự vì Đức Kitô, để phục vụ Ngài trong đời sống tu trì hay linh mục. Thực đẹp đẽ khi tạo ra một gia đình nhân loại, nhưng còn đẹp hơn nếu ra sức hợp nhất gia đình của Thiên Chúa. Vì vậy, “ngày hôm nay, nếu anh em nghe tiếng Chúa thì đừng cứng lòng” (x. Dt 3,15). Hãy đến. Đừng thất vọng vì sự tầm thường của chúng ta; anh em có thể là – và sẽ là – những linh mục tốt hơn chúng tôi; những linh mục mới của một Giáo hội mới!

Chúng ta kết thúc bằng lời cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin thổi hơi quyền năng trên Giáo hội của Chúa, lúc này đang tụ họp nhau trên toàn thế giới để cử hành cuộc Khổ Nạn của Chúa. Xin cũng công bố cho chúng con lời cao cả của Chúa: “Hãy nhận lấy Thánh Thần!” (Ga 20,22).


VII. “SỰ CÔNG CHÍNH CỦA THIÊN CHÚA ĐƯỢC TỎ HIỆN”

 Có một người vừa là Kitô hữu vừa là thi sĩ, dùng ngôi thứ ba để kể câu chuyện về hành vi tin lớn nhất của đời mình theo cách thức sau đây:

“Một người kia – chúng ta biết rằng người này chính là ông – có ba con trai. Một hôm chúng bị bệnh. Vợ ông sợ quá đến nỗi bà nhìn vào bên trong bà, trán nhíu lại, không thể nói lên lời. Nhưng ông là một người đàn ông: ông không ngại lên tiếng. Ông hiểu rằng không thể để tình trạng đó tiếp tục. Lúc ấy, ông có một cử chỉ táo bạo. Chính ông cũng hơi ngạc nhiên. Phải nói là hành vi táo bạo khi ông ẵm ba đứa lên, đặt cả ba một trật, như trò chơi, lên cánh tay của bà vú khiến bà này vừa tức cười vừa la lên, vì ông làm quá và bà không có sức mang cả ba đứa. Nhưng ông, vốn mạnh mẽ như một người đàn ông, bằng lời cầu nguyện đã đưa cả ba đứa con đau bệnh và lặng lẽ đặt nơi cánh tay của Bà Chúa mang tất cả những nỗi đau khổ của thế giới (ông đã có lần hành hương tới Chartres, để phó thác các con của mình cho Đức Mẹ). Ông nói: “Mẹ thấy đấy, con trao chúng cho Mẹ và trở về nhà, con chạy trốn đây, để Mẹ không trao chúng lại cho con. Con không muốn vậy, Mẹ biết mà! Ông vui mừng biết bao vì thấy mình có can đảm làm chuyện này. Kể từ hôm đó dĩ nhiên là mọi sự suôn sẻ, vì đã có Đức Thánh Trinh Nữ quan tâm. Dầu vậy thực lạ lùng là mọi người Kitô hữu không làm như thế. Một việc quá đơn giản; người ta không bao giờ nghĩ tới một việc đơn giản. Nói tắt, người ta ngu ngốc, tốt hơn là nói ngay ra như vậy.[15]

Tôi bắt đầu hơi khác thường bằng câu chuyện về “cú táo bạo” này, vì hôm nay chúng ta được lời Chúa mời gọi làm một cú tương tự. Để cắt nghĩa trước ý nghĩa cái chết của mình trên thập giá, có lần Đức Giêsu đã nói: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” (Ga 3,14-15). Thế nên tin là công trình lớn phải thực hiện ngày thứ Sáu tuần Thánh trước mặt Đức Giêsu chịu đóng đinh. Ngài đã được giương lên cao trên thập giá, và ở đó cách mầu nhiệm cho tới tận thế (cho dù Ngài đã sống lại), để nhân loại tin bằng cách chiêm ngắm Ngài.

Thế nhưng chúng ta phải tin gì? Trong thư Rôma, Thánh Phaolô viết: “Ngày nay sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện […] nhờ lòng tin vào Đức Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất luận là ai. Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa.” Mọi người, không phân biệt. Khác biệt duy nhất là một số người thì biết điều đó, số khác thì chưa, số khác nữa thì đã quên. Vậy mọi người đều đã phạm tội. “Nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm hy tế xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin” (Rm 3,21-25).

Đây là điều chúng ta phải tin: trong Đức Kitô, Thiên Chúa làm cho ta có thể được công chính hóa nhờ lòng tin, nghĩa là trở nên công chính, được tha thứ, cứu thoát, trở thành những thụ tạo mới. Ý nghĩa sự “công chính của Thiên Chúa” là như thế. Thiên Chúa thể hiện công chính bằng lòng thương xót.

***

Chính nhờ lòng tin mà người ta đi vào trong tạo thành mới. Lúc khởi đầu sứ vụ, Đức Giêsu đều nói bất cứ nơi nào Ngài đi qua: “Anh em hãy sám hối và hãy tin” (Mc 1,15). Anh em hãy sám hối tức là anh em hãy tin, sám hối bằng cách tin! Hãy đi vào trong vương quốc đã xuất hiện giữa anh em! Giờ đây, sau khi Đức Giêsu sống lại, các tông đồ cũng lặp lại y như vậy, dựa vào Vương quốc đã thật sự đến là Đức Kitô bị đóng đinh và đã sống lại.

Sự hoán cải đầu tiên, có tính chất căn bản, là chính đức tin. Đức tin là cửa dẫn tới ơn cứu độ. Nếu người ta nói với chúng ta: cửa là sự vô tội, là nghiêm giữ các giới răn, là nhân đức này hay nhân đức khác, chúng ta hẳn sẽ nói: đó không phải là cho tôi. Tôi không vô tội, tôi không có nhân đức đó. Nhưng nếu ai nói với tôi: cửa là đức tin, thì hãy tin vào người đó. Điều này không quá cao đối với tôi, cũng không quá xa tôi; nó không ở bên kia đại dương, ngược lại “Lời Thiên Chúa ở gần bạn, ngay trên miệng, ngay trong lòng, lời khơi dậy đức tin […] Nếu miệng bạn tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa và lòng bạn tin rằng Thiên Chúa đã làm cho người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,8-9).

Nhưng có rất nhiều loại đức tin: đức tin tán đồng (foi-assentiment), đức tin phó thác (foi-confiance), đức tin vâng phục (foi-obéissance). Giờ đây là đức tin loại nào cho chúng ta? Đây là một đức tin hoàn toàn đặc biệt: đức tin chiếm đoạt (foi-appropriation). Đức tin làm một cú táo bạo. Thánh Bênađô nói:

“Theo tôi, tất cả những gì còn thiếu cho tôi, tôi tin tưởng có được nó trong trái tim của Chúa, vì Ngài đầy thương xót. Nhưng quả thực, nếu lòng thương xót của Chúa có nhiều (x. Tv 119,156) thì cả tôi nữa, tôi cũng sẽ có dư tràn công phúc! Còn sự công chính của tôi thì sao? Lạy Chúa, con chỉ nhớ đến sự công chính của Chúa, vì nó cũng là của con, vì đối với con Chúa là sự công chính của Thiên Chúa.[16]

Quả thực, Kinh thánh cho biết Đức Kitô Giêsu trở nên “khôn ngoan, công chính, thánh hóa và Cứu Chuộc” (1Cr 1,30; x. 2Cr 5,21) vì chúng ta.

Những điều trên là “vì chúng ta”, có nghĩa là “cho chúng ta”. Sự vâng phục của Đức Giêsu trên thập giá là sự vâng phục của tôi, tình yêu của Ngài đối với Chúa Cha là tình yêu của tôi. Thậm chí cái chết của Ngài cũng thuộc về chúng ta, nó là kho tàng lớn nhất của chúng ta, một lý lẽ để tha thứ mà không một tội lỗi nào của chúng ta, dù nặng nề mấy đi nữa, có thể hủy bỏ. Như thể chính chúng ta đã chết, phá hủy nơi chúng ta “thân xác tội lỗi này” (x. Rm 6,6). “Nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết” (2Cr 5,14).

Đúng là người ta không bao giờ nghĩ tới những điều đơn giản nhất. Đó là điều đơn giản nhất, rõ ràng nhất trong Tân Ước, nhưng trước khi khám phá ra nó, chúng ta phải trải qua quãng đường dài biết mấy! Thông thường người ta khám phá ra ở cuối, chứ không ở đầu đời sống thiêng liêng. Tự căn bản, chỉ cần đơn giản thưa “vâng” với Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dựng nên con người có tự do, để họ có thể tự do chấp nhận sự sống và ân sủng; chấp nhận chính mình là một thụ tạo được Thiên Chúa chúc phúc và ban ơn. Ngài chờ đợi lời thưa “vâng” của con người. Thay vào đó, Ngài chỉ nhận được lời thưa “không”. Giờ đây, Thiên Chúa cho con người một cơ hội thứ hai, một tạo thành mới, một điểm phát xuất mới. Ngài giới thiệu cho họ một Thiên Chúa trên thập giá như một sự “xá tội” của Ngài, và hỏi: “Ngươi có muốn sống trong ân sủng nhờ Ngài và nơi Ngài không?” Tin là đáp: “Thưa, con muốn!”, và như vậy trờ thành thụ tạo mới, thành “tác phẩm của Thiên Chúa, được dựng nên trong Đức Kitô Giêsu” (x. Ep 2,10).

***

“Cú táo bạo” nói ở trên là như thế. Thật ngạc nhiên khi nhận ra rằng làm như vậy là quá ít. Một Giáo Phụ, thánh Cyrillô Giêrusalem, đã diễn tả bằng kiểu nói khác ý tưởng về cú táo bạo này của đức tin như sau:

“Ôi sự tốt lành lạ lùng của Thiên Chúa đối với con người! Những người công chính trong Cựu Ước phải vất vả nhiều năm để làm hài lòng Thiên Chúa, nhưng điều họ không đạt được qua thời gian lâu dài phục vụ Thiên Chúa thì Đức Giêsu ban điều đó cho bạn trong khoảng một giờ. Vì “nếu bạn tin rằng Đức Giêsu Kitô là Chúa và Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết, thì bạn sẽ được cứu độ” (Rm 10,9), và bạn được đưa vào thiên đàng bởi chính Đấng đã đưa người trộm lành vào đó (x. Lc 23,43).[17]

Một tác giả Kitô giáo khác thời xưa đã nói:

“Bạn hãy hình dung một cuộc chiến đấu oai hùng đang diễn ra tại đấu trường. Một vị anh hùng đã phải nỗ lực và vất vả kinh khủng đấu với một bạo chúa và đã thắng. Còn bạn, bạn không phải chiến đấu, không mệt nhọc, không bị thương tích; nhưng nếu từ khán đài, bạn khâm phục người anh hùng, vui mừng với người đó, với chiến thắng của người đó, nếu bạn bện một vòng hoa cho người đó, khích động dân chúng hoan hô người đó, vui mừng nghiêng mình trước người đó và ôm hôn người đó; tóm lại, nếu bạn vui mừng đến độ coi cuộc chiến thắng của người đó như của mình, chắc chắn bạn được chia sẻ thành quả của người thắng trận.

Nhưng còn hơn thế nữa: giả sử người thắng trận không cần thành quả mình có được, mà chỉ muốn cho người ủng hộ mình được vinh dự, muốn cho bạn mình được triều thiên chiến thắng như thành quả của việc mình chiến đấu, thì trong trường hợp ấy, người đó có được triều thiên ấy không, cho dù không phải vất vả hay chịu thương tích nào? Đó là điều đã xảy ra giữa Đức Kitô và chúng ta. Dù không phải vất vả chiến đấu (có nghĩa là dù chưa có công trạng gì), nhưng nhờ đức tin (như chúng ta đang làm điều đó trong phụng vụ này), chúng ta ca ngợi cuộc chiến đấu của Đức Kitô, thán phục chiến thắng của Ngài, làm vẻ vang cho chiến quả của Ngài, và chúng ta bày tỏ một tình yêu mạnh mẽ khôn tả đối với Đấng anh hùng quả cảm này; chúng ta làm cho những vết thương và cái chết này trở thành của chúng ta![18]

Trong sách Sử biên niên của Cựu Ước, chúng ta đọc thấy trước một cuộc chiến có tính quyết định sắp xảy ra cho dân Israel, Thiên Chúa dùng miệng một tiên tri nói như sau: “Trong trận này các ngươi không phải chiến đấu, cứ án binh bất động mà xem Đức Chúa, Đấng ở với các ngươi, sẽ giải thoát các ngươi như thế nào” (2Sbn 20,17). Những lời này được thực hiện hoàn toàn trong cuộc chiến cuối cùng của Lịch sử: cuộc chiến giữa Đức Giêsu với Thủ lãnh thế gian này.

Nhờ đức tin, chúng ta thu hoạch nơi chúng ta đã không gieo; không phải chúng ta đã giao chiến, nhưng chính chúng ta lại là những người được phần thưởng. Một khả thể khó tin mà Thiên Chúa ban cho con người trong Đức Kitô. Nó làm thành “vụ việc” duy nhất thật sự của đời sống, vì nó kéo dài đến muôn đời, làm cho chúng ta “giầu có” cho đời sống vĩnh cửu. Đó lại không phải là một vận may kỳ lạ sao?

***

Thánh Phaolô nói: “Giờ đây, sự công chính của Thiên Chúa được tỏ hiện.” “Giờ đây” tiên vàn có nghĩa là thời khắc lịch sử lúc Đức Kitô chết trên thập giá; nó còn có nghĩa là thời khắc bí tích lúc chúng ta chịu phép Rửa, khi chúng ta “được tẩy rửa, được thánh hóa, được nên công chính” (x. 1Cr 6,11); cuối cùng nó có nghĩa là thời khắc hiện tại, ngày hôm nay của đời sống chúng ta. Giờ mà chúng ta đang sống. Vậy đây là việc được thực hiện lúc này, ngay tức khắc; việc mà tôi – không phải người khác thay tôi – phải làm, mà nếu không có nó thì mọi sự thành trống rỗng. Sự công chính hóa bởi đức tin thật sự là khởi đầu của đời sống thiêng liêng; không phải một sự khởi đầu sớm bị vượt qua do những hành vi và bổn phận khác, nhưng là sự bắt đầu luôn hiện tại, phải thực hiện hay không ngừng làm lại, giống như mọi lúc bắt đầu một cuộc sống. Thiên Chúa luôn là Đấng yêu thương trước tiên, công chính hóa trước tiên, một cách nhưng không. Vì vậy con ngươi luôn phải là kẻ để mình được công chính hóa cách nhưng không bởi đức tin.

Trong một bài giảng lễ xưa, được gán cho thánh Gioan Kim Khẩu, người ta đọc thấy như sau:

“Đối với bất kỳ ai, nguyên lý của sự sống là nguyên lý khởi đi từ việc Đức Kitô chịu sát tế vì họ. Nhưng Đức Kitô chịu sát tế vì họ lúc họ nhận biết một ân sủng như thế và ý thức về sự sống mà việc sát tế này gây ra cho họ.[19]

Vậy trong chính lúc này, Đức Kitô chịu sát tế vì ta; mọi sự đều thật, hiện tại và đang tác động cho ta, nếu chúng ta ý thức về việc Đức Kitô đã làm cho ta, nếu ta xác nhận việc đó bằng một hành vi tự do, nếu ta ca mừng và tạ ơn về những gì Ngài đã thực hiện trên thập giá.

Tôi có thể trở về nhà chiều nay với chiến lợi phẩm quý giá nhất. Tôi có thể làm một cú táo bạo làm tôi sung sướng đến muôn đời. Tôi có thể lại đặt tội lỗi của tôi giữa những cánh tay của Đức Kitô trên thập giá, như người cha kia đã đặt ba đứa con nhỏ đau bệnh giữa những cánh tay của Đức Thánh Trinh Nữ, rồi chạy trốn, không quay lại, sợ phải mang lại chúng. Tiếp đến, tôi có thể tin tưởng đứng trước Cha trên trời mà thưa lên: “Giờ đây xin nhìn đến con, nhìn đến con, lạy Cha; vì giờ đây, con là Giêsu của Cha. Sự công chính của Ngài ở trên con, Ngài đã mặc cho con áo cứu độ, Ngài đã khoác cho con áo choàng công chính” (x. Is 61,10). Vì Đức Kitô đã mang lấy tội lỗi của tôi và tôi mặc lấy sự thánh thiện của Ngài. “Tôi đã mặc lấy Đức Kitô” (Gl 3,27), “Công trình Chúa làm Chúa được hân hoan” (Laetetur Dominus in operibus suis) (Tv 104,31). Ngày thứ sáu của tuần lễ tạo dựng, ngày Đức Kitô chịu chết, Thiên Chúa nhìn ngắm tạo thành, và Người thấy rằng nó lại “rất tốt đẹp” (x. St 1,31).

Thánh Tông Đồ nói: “Vậy thì hãnh diện ở chỗ nào? Chẳng còn gì để hãnh diện” (Rm 3,27). Không còn chỗ cho sự ghen tuông ghê sợ đã làm hư hỏng tạo thành đầu tiên. Tất cả đều là ân sủng. “Không một ai tự chuộc nổi mình và trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa.” (Tv 49,8). Chính Thiên Chúa đã chuộc ta bằng máu Đức Kitô. Vậy chẳng còn gì để hãnh diện. Tuy nhiên, có một điều khiến con người có thể hãnh diện, là có thể “hãnh diện về thập giá của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14); “Ai tự hào thì hãy tự hào trong Chúa!” (1Cr 1,31). Người đó có thể tự hào về Thiên Chúa. Người đó có thể có sự tôn vinh nào đẹp đẽ hơn sự tôn vinh đó, trên trời hay dưới đất? Ai lại điên rồ để thích sự công chính riêng của mình hơn đối tượng của vinh danh này? Vâng, chúng con sẽ tôn vinh Chúa, đến muôn đời!


VIII. “SƯ TỬ XUẤT THÂN TỪ CHI TỘC GIUĐA ĐÃ CHIẾN THẮNG”

Chúng ta có một bản chú giải xác thực về trình thuật cuộc Khổ nạn mà chúng ta vừa nghe, một bản chú giải do thánh Gioan hoặc ít nhất do một trong những môn đồ của ngài, sống bên ngài và thấm nhuần tư tưởng của ngài. Đó là chương 5 của sách Khải huyền. Cả hai bản văn đều quy chiếu tới biến cố Canvê, mà Phúc âm thứ tư tường thuật theo cách lịch sử, trong khi sách Khải huyền giải thích và cử hành biến cố theo cách tiên tri và phụng vụ.

Trong chương 5 của sách Khải huyền, biến cố Vượt Qua được trình bày trong khung cảnh một phụng vụ thiên quốc, mà phụng vụ này lại dựa vào phụng vụ trần gian của cộng đồng Kitô giáo thời ấy. Đọc bản văn, mọi người có thể phân biệt những nét đặc sắc họ cử hành trong cộng đoàn phụng vụ của họ. Phụng vụ Vượt Qua mà Gioan dựa vào, cả trong Phúc âm lần trong Khải huyền, đều theo “14 nisan”, cử hành lễ Vượt Qua cùng thời điểm với lễ Vượt Qua Do Thái, ngày 14 tháng nisan, tức ngày họ kỷ niệm cái chết của Đức Kitô, chứ không phải kỷ niệm ngày Chúa sống lại. Nói cho rõ hơn, đây là phụng vụ đặt trọng tâm vào ngày thứ sáu, hôm trước ngày sabbát, được coi như khởi điểm của ngày phục sinh. Theo lịch sử, chúng ta biết bảy Giáo hội ở Tiểu Á, mà sách Khải huyền nhằm gửi đến, tất cả đều theo truyền thống 14 nisan. Chính ở Smyrna, một trong bảy Giáo hội, mà một môn đệ của Gioan, thánh Polycarpô, làm giám mục, người đã đến Rôma khoảng giữa thế kỷ II, để tranh luận với Giáo Hoàng Anicêtô về vấn đề thời gian khác nhau của lễ Vượt Qua. Riêng tại Sarđê, một thành khác trong bảy thành, chính giám mục Mêlitô minh nhiên theo truyền thống 14 nisan.

Như vậy, chương 5 của sách Khải huyền là bản chú giải tốt nhất về những gì chúng ta cử hành. Nó quy chiếu tới cùng một thời điểm lịch sử và phụng vụ mà chúng ta cũng đang làm sống lại. Nó chứa đựng những lời của Thiên Chúa, những lời linh ứng, được dành cho chúng ta, ở đây và lúc này. Chúng ta hãy lắng nghe.

***

Sách viết: “Tôi thấy trong tay hữu Đấng ngự trên ngai một cuốn sách viết cả trong lẫn ngoài, niêm bảy ấn” (Kh 5,1). Cuốn sách viết cả trong lẫn ngoài trình bày Lịch sử Cứu độ và, một cách cụ thể, trình bày Cựu Ước là sách chứa đựng lịch sử ấy. Theo cách cắt nghĩa của các Giáo Phụ, sách được viết cả trong lẫn ngoài cho thấy người ta có thể đọc theo văn tự hay theo Thần Khí, nghĩa là: hoặc theo nghĩa đen, là nghĩa riêng biệt và tạm thời, hoặc theo nghĩa thiêng liêng, là nghĩa phổ quát và vĩnh viễn. Nhưng để có thể đọc nó “bên trong”, cuộn sách phải mở ra, trong khi nó đang được niêm bảy ấn vào lúc này.

Trước Đức Kitô, Kinh thánh giống như bản dàn bè của một bản đại hòa tấu viết trên giấy, và người ta không thể nghe được âm thanh hùng mạnh của nó, bao lâu người ta chưa đặt ở đầu bản nhạc chìa khóa giúp người ta đọc nó. Viên chức của nữ hoàng Canđakê, đang trên đường từ Giêrusalem trở về nhà, khi đọc đoạn văn của cuộn sách về Isaia tương ứng với chương 53 của sách này, đã hỏi Philipphê: “Vị ngôn sứ nói thế về ai? Về chính mình hay về một ai khác? (Cv 8,34). Đoạn văn ông đang đọc là đoạn này “Như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông…” (Is 53,7) Ông ta chưa có chìa khóa để đọc.

Thị kiến của Gioan tiếp tục: “Rồi tôi thấy một thiên thần dũng mãnh tuyên bố: ‘Ai xứng đáng mở cuốn sách và tháo ấn niêm phong?’ Nhưng không ai ở trên trời, dưới đất hay trong lòng đất, có thể mở cuốn sách và nhìn vào đó. Và tôi khóc nức nở…” (Kh 5,2-4). Phù hợp với chính bản chất của phụng vụ, Gioan đưa chúng ta về lại thời điểm lịch sử lúc các sự việc xảy ra hoặc sắp xảy ra. Lời than phiền của vị tiên tri gợi lên lời than phiền của các môn đệ sau cái chết của Đức Giêsu: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Israel” (Lc 24,21). Lời than phiền của Maria Mađalêna trước ngôi mộ trống. Lời than phiền của tất cả những người “mong chờ ơn Cứu Độ Israel” (x. Lc 2,25).

Vẫn là thị kiến của Gioan: “Một trong các vị Kỳ Mục bảo tôi: ‘Đừng khóc nữa! Này đây sư tử xuất thân từ chi tộc Giuđa, Chồi Non của Đavít, đã chiến thắng. Người sẽ mở cuốn sách và bảy ấn niêm phong” (Kh 5,5). Enikèsen! Vicit! Ngài đã chiến thắng. Đó là tiếng kêu mà người thấy thị kiến có nhiệm vụ làm vang lên trong Giáo hội, và qua bao thế hệ Giáo hội làm vang lên trong thế giới: Ngài đã chiến thắng, sư tử từ chi tộc Giuđa! Sư tử này là Đấng Thiên Sai, vì trong sách Sáng thế, Giacóp đã gọi như vậy khi ông chúc lành cho con của Giuđa (x. St 49,9). Biến cố mọi người hằng trông đợi và cắt nghĩa mọi sự, đã xảy ra. Người ta sẽ không trở lại phía sau. Trong một cố gắng lớn lao, lịch sử đã xoay trọng tâm từ phía sau ra phía trước, đạt tới chóp đỉnh. Sự viên mãn thời gian đã được phục hồi. “Thế là đã hoàn tất” (Consummatum est), Đức Giêsu đã kêu lên như thế trước khi tắt thở (Ga 19,30).

Động từ enikèsen ở thì quá khứ, Ngài đã chiến thắng ẩn chứa chính nguyên lý giúp cho lịch sử có được sức mạnh và tính chất tuyệt đối của nó, một tính chất mang lại cho một sự kiện, xẩy đến trong một thời gian và không gian nhất định, một giá trị vĩnh cửu và phổ quát. “Điều đã xảy ra thì không thể đã không xảy ra – Impossibile est factum non esse quod factum est.” Không ai biết hơn “Hoàng tử của thế gian này” sức mạnh kinh khủng biểu thị cho lịch sử điều mà nguyên lý bất mâu thuẫn biểu thị cho siêu hình học. Người ta sẽ không còn có thể trở lại giai đoạn trước. Không gì cũng như không ai trên thế giới, dù có nỗ lực đến mấy, có thể làm cho không xảy ra những gì đã xảy ra, cụ thể là Đức Giêsu Kitô không chết hay không sống lại, con người không được cứu chuộc, Giáo hội không được thành lập, các bí tích không được đặt ra, triều đại của Thiên Chúa không được thiết lập.

“Đây là lúc sang trang soi sáng mọi sự, như chiếc lá lớn in trong sách lễ. Đây là Trang lớn rực rỡ mầu đỏ, chia cách hai Giao Ước. Mọi cửa nhất loạt mở rộng, mọi đối kháng tiêu tan, mọi mâu thuẫn được giải quyết.[20]

Chúng ta cũng đã nghe trong phụng vụ hôm nay bài trích sách Isaia, về con chiên bị dẫn tới lò sát sinh, nhưng chúng ta đã không cần tự hỏi, như viên chức của nữ hoàng Canđakê, xem nhà tiên tri nói về ai. Từ đây chúng ta biết Isaia nói về người nào, vì cuốn sách đã được mở ra.

Tất cả những điều đó xảy ra cách nào và khi nào? Thị kiến tiếp tục cho biết: “Bấy giờ tôi thấy đứng ở giữa ngai và bốn Con Vật, giữa các vị Kỳ Mục, một Con Chiên, trông như thể đã bị giết” (Kh 5,6). Một Con Chiên bị sát tế, tức bị giết, nhưng lại đứng, tức đã sống lại! Nhờ sự chết và sự sống lại của mình, Đức Kitô đã hoàn tất mọi sự ấy. Ngài đã cắt nghĩa Kinh thánh bằng cách làm trọn lời Kinh thánh; tuy vậy không phải bằng lời, nhưng bằng hành vi. Gioan không giấu giếm trở lại cảnh tượng Canvê khi mà, bằng cái chết chiến thắng của mình, Đức Giêsu đã hoàn tất lời Kinh thánh: “Ta đã thắng và ngự bên Cha Ta trên ngai của Người” (Kh 3,21).

Một thi sĩ đã tưởng tượng ra một câu chuyện như sau, được coi như do viên đại đội trưởng tạo ra, người ngày hôm đó hiện diện ở Canvê:

“Chưa bao giờ có một cái chết như cái chết đó,

và Thiên Chúa biết rằng tôi đã thấy vô số cái chết!…

Không phải chống lại cái chết mà Ngài chiến đấu.

Cái chết là nữ tỳ của Ngài, chứ không phải bà chủ của Ngài

Đó không phải là một người thua trận…

Trên thập giá,

điều Ngài chống lại là một điều gì đó lớn hơn nhiều

so với những người giả hình xấu miệng…

Không, đó là một cuộc chiến đấu hoàn toàn khác…

Cuối cùng, Ngài thốt lên một tiếng kêu chiến thắng.

Mọi người đều chưng hửng,

Nhưng tôi, người thông thạo những cuộc chiến đấu và những người chiến đấu,

Tôi nhận ra tiếng kêu của người thắng trận,

Trong số ngàn vạn tiếng kêu khác.[21]

Chiến thắng là chiến thắng sự chết, một cái chết được chấp nhận trong sự vâng phục hoàn toàn Chúa Cha và vì yêu thương con người. Đối với Gioan, sự phục sinh chỉ là đưa ra ánh sáng một cuộc chiến thắng ẩn giấu trên thập giá. Đức Giêsu là “người chiến thắng vì là tế vật” – victor quia victima[22]”. Cũng như trên bàn thờ, sau lúc truyền phép, người ta không thấy có gì thay đổi bên ngoài nơi bánh và rượu, trong khi chúng ta biết rằng chúng hoàn toàn khác với trước đây, vì chúng trở nên mình và máu Đức Kitô. Cũng vậy, Phục Sinh có vẻ không làm thay đổi gì trên thế giới, trong khi thực ra mọi sự đều biến đổi và thế giới trở thành một “tạo thành mới”.

***

Thế nhưng tại sao Gioan cảm thấy cần phải nhắc lại những sự việc này ở Giáo hội thời ngài? Chúng ta tự hỏi điều này, vì, theo tôi, sứ điệp mà trang này của Tân Ước tạo ra cho chúng ta được chứa đựng ở đó. Chính ở đây chúng ta đạt tới ý nghĩa và mục đích của phụng vụ mà chúng ta đang cử hành.

Một hôm Gioan Tẩy Giả sai hai môn đệ đến gặp Đức Giêsu và hỏi Ngài: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” (Mt 11,3). Dường như Gioan, người đã chia sẻ, ở một mức độ nhất định, với những người cùng thời, niềm trông đợi về một Đấng Mêsia vinh quang và chiến thắng, đã cảm thấy mất phương hướng do cách cư xử của Đức Giêsu, quá hiền lành và khiêm nhường, rất ít hoa mỹ so với những gì ông đã hình dung. Nói tắt, có vẻ như ông cũng bị thử thách về đức tin, cảm thấy “vấp ngã” về Đức Giêsu, như Phêrô và các tông đồ khác đã thấy vì những lý do tương tự. Chúng ta biết nội dung câu trả lời của Đức Giêsu cho Gioan: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi!” (Mt 11,6). Một sự kiện tương tự sẽ xảy ra vào cuối thời tông đồ, lần này ở giữa lòng cộng đồng Kitô giáo. Thư thứ hai của thánh Phêrô kể lại một câu hỏi loan truyền đây đó giữa các Kitô hữu: “Đâu rồi lời Người hứa sẽ quang lâm? Vì từ ngày các bậc cha ông an nghỉ, mọi sự vẫn y nguyên như khi trời đất mới được tạo thành” (2Pr 3,4).

Sách Khải huyền được viết cho một Giáo hội đang sống tình huống này và phải đương đầu với sự hoài nghi kinh khủng này. Nhưng có đúng là Đấng phải đến đã đến? Có đúng là mọi sự đã thay đổi? Phải chăng điều ngược lại mới đúng, tức là mọi sự đều như trước đây? Các môn đệ của Đức Kitô bị bách hại, bị chế giễu, không được hưởng những phúc lợi xã hội. Người ta cho Con Thú “giao chiến với dân thánh và thắng họ” (Kh 13,7). Khi đó, trên trận địa này, phát sinh những chia rẽ nội bộ, lạc giáo, có xu hướng chuyển trung tâm của chú ý, của cuộc sống cụ thể sang những tư biện (gnose), đến mức loại bỏ khỏi đời sống Kitô hữu yêu cầu này của chủ nghĩa cấp tiến, và đưa nó tới chỗ thỏa hiệp với những phong tục ngoại giáo.

Chính cho Giáo hội này, đang bị cám dỗ chán nản và “nguội lạnh” và cần phải tìm lại “lòng nhiệt thành ban đầu” của mình”, để thậm chí đương đầu với sự tử đạo, nếu cần, chính xác cho Giáo hội này mà người thị kiến vui mừng kêu lên như một tiếng kèn: “Enikèsen” – Ngài đã chiến thắng!” Gioan muốn biến mọi Kitô hữu thành những người “thị kiến” như mình: những người có mắt để nhìn điều đã xảy ra trên thế giới, vì cái chết của Đức Kitô.

Có một vùng của quang phổ, vùng ở bên này màu đỏ, mà mắt người không thể nhận thấy. Nhờ các tia của nó, được gọi là tia hồng ngoại, chúng ta có thể nắm bắt các khía cạnh của các yếu tố và của chính hành tinh chúng ta, những khía cạnh mà, nếu không, sẽ không được biết đến. Hình ảnh rút ra từ đó hoàn toàn khác với hình ảnh của các tri giác thông thường. Đó cũng chính là điều xảy ra trong lãnh vực tâm trí. Có một khía cạnh của thực tại, khía cạnh không qua đi với hình bóng của thế giới đang qua này, khía cạnh không nhìn thấy bằng mắt trần, nhưng chỉ nhìn thấy dưới ánh sáng của mạc khải. Con người tự nhiên, cho dù có học thức và khôn ngoan mấy đi nữa trong mọi việc, cũng không nghi ngờ sự hiện hữu của nó. Chính là hình ảnh vượt qua của thế giới là kết quả của sự chết và sự sống lại của Đức Kitô, thế giới như chính Thiên Chúa thấy. Nó không chỉ cho ta thấy một khía cạnh bổ túc của thực tại, nhưng còn giúp ta thấy mọi sự, ngay cả những sự ở thế gian này, trong một ánh sáng mới mẻ. Gioan đã nhận được hình ảnh này, ngài hoàn toàn tiêm nhiễm nó, và giờ đây ngài chuyển đạt nó cho Giáo hội trong tất cả quyền năng tiên tri của nó. “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Giáo hội” (Kh 2,7 và tại nhiều chỗ khác).

***

Câu hỏi và cám dỗ làm cho vị Tiền Hô phải bối rối một lúc – “Thầy có thật là Đấng phải đến không?” (Mt 11,3) – và câu hỏi cũng như cám dỗ làm cho các Kitô hữu thuộc thế hệ thứ hai phải bối rối – “Đâu rồi lời Người hứa sẽ quang lâm?” (1Pr 2,4) còn thấy ngày hôm nay và dai dẳng hơn bao giờ hết. Mọi sự dường như tiếp tục từ lúc thế giới được tạo thành. Cũng ngày hôm nay, Con Thú được phép “giao chiến với các thánh và thắng họ” (x. Kh 13,7). Các tín hữu và, bằng một cách khác, mọi người có lòng ngay và thiện ý thường thua trên khắp các mặt trận. Kẻ thù xưa lợi dụng tình hình để phá tan sức chống cự của các linh hồn yêu mến nhất sự thật và sự công chính, và là những người nhạy cảm nhất với đau khổ và sự dữ thống trị trên thế giới. Trong lúc ngày thứ Sáu tuần Thánh Giáo hội công bố cho thế giới ngày hôm nay là ngày Cứu Chuộc, thì kẻ thù gào to cho những linh hồn này đồng thời làm khổ họ: “Đó là ngày đại dối trá, ngày đại dối trá! Cứ nhìn quanh các người coi: có gì được cứu chuộc trong thế giới này đâu?”

Cũng ngày hôm nay, kẻ tố cáo bị tống ra ngoài (x. Kh 12,10) như tia chớp (x. Lc 10,18), mỗi lần chúng ta làm cho lời của vị tiên tri trở thành của chúng ta và chúng ta lấy đức tin lặp lại: “Vicit leo de tribu Juda – Sư Tử thuộc chi tộc Giuđa đã chiến thắng” và Ngài đã mở cuốn sách. Tất cả đều được cứu chuộc, vì sự đau khổ và ngay cả sự chết cũng được cứu chuộc. Ai càng lặp lại những lời trên trong thử thách, thua bại và yếu đuối trước mắt người đời, tiếng kêu của người đó càng vươn cao, tinh tuyền, và làm cho quyền lực bóng tối phải hết sức run sợ, vì khi ấy đức tin của người đó được tinh luyện như bạc trong lò, nhất là vì khi ấy người đó giống nhất với Con Chiên đã trở nên chiến thắng bằng cách chấp nhận làm tế vật. Trước mộ của Ladarô mới qua đời, Đức Giêsu nói với cô Matta: “Thầy đã nói với chị rằng, nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa!” (x. Ga 11,40). Cũng điều ấy được lặp lại nơi mỗi người chúng ta khi mà, nhìn với con mắt nhân loại, chúng ta dường như không còn giải pháp nào nữa: “Thầy đã nói với con rằng nếu con tin, con sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa!”

Ở trần gian này, chúng ta không chỉ tin vào cuộc chiến thắng, nhưng còn chiến thắng trong đức tin. Nhờ đức tin, chúng ta đã là những người chiến thắng, chúng ta đã trải nghiệm điều gì đó về sự sống vĩnh cửu. Người nào tin thì đã ngự “bên Đức Giêsu, trên ngai của Ngài” và “thưởng thức manna đã được giấu kỹ” (Kh 3,21; 2,17). Gioan đã mạnh mẽ nhắc lại điều đó cho chúng ta: “Điều làm cho chúng ta thắng được thế gian, đó là lòng tin của chúng ta” (1Ga 5,4).

Có một thời việc công bố chiến thắng này của Đức Kitô thì dễ hơn. “Thập giá ngày xưa là dấu chỉ của ô nhục, ngày nay lấp lánh trên triều thiên các vua[23]”, một số Giáo Phụ đã thốt lên như vậy vào lúc kết thúc cuộc bách hại. Có lẽ đó không phải là chính Constantinô, người được biết là đã hứa hẹn trong thị kiến nổi tiếng về thập giá của ông: “Cứ dấu này ngươi sẽ thắng – In hoc signo vinces”. Dầu sao, rõ ràng là lúc này không phải như vậy, ngay trong các quốc gia có truyền thống Kitô giáo lâu đời. Đấng bị đóng đinh bị tống cổ hết nơi này đến nơi khác. Vì vậy, hơn lúc nào hết, bây giờ là lúc công bố sư tử Giuđa đã chiến thắng, như khi lời này được nói cho Gioan lúc ngài “đang ở đảo gọi là Patmô, vì đã rao giảng lời Thiên Chúa và lời chứng của Đức Giêsu” (x. Kh 1,9). “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi” (Mt 11,6).

Khi chúng ta sắp bị đè bẹp bởi những tình cảnh quá khó khăn cho chúng ta, hoặc khi ý định của Thiên Chúa trên cuộc đời ta, trên những người yêu quý của ta, trên toàn thể Giáo hội, xuất hiện như một cuốn sách bị niêm phong bằng bảy ấn, mà chúng ta phải thực hiện nhưng không hiểu, hoặc khi chúng ta thấy, ngay cả ngày hôm nay, người nghèo khó và yếu đuối phải chết nhưng không được ai quan tâm, thì đó là lúc chúng ta quỳ gối và kêu lên với tất cả lòng tin của chúng ta: “Sư tử xuất thân từ chi tộc Giuđa đã chiến thắng. Người sẽ mở cuốn sách và bảy ấn niêm phong” (Kh 5,5). Chính nơi Ngài mà mọi kẻ thua bại và nạn nhân trên thế giới có hy vọng chính họ cũng trở thành những người chiến thắng.

***

Sách Khải huyền viết là Con Chiên vừa nhận cuốn sách từ tay Đấng ngự trên ngai, người ta nghe thấy tiếng một ca đoàn hùng mạnh vang lên từ mọi nơi trên trời dưới đất: “Ngài xứng đáng lãnh nhận cuốn sách và mở ấn niêm phong, vì Ngài đã bị giết. Ngài thật xứng đáng” (Kh 5,9) và cuối cùng mọi người “phủ phục xuống thờ lậy” (Kh 5,14; 7,11).

Đó là việc chúng ta cũng sẽ làm lát nữa đây, khi chúng ta phủ phục xuống thờ lậy Đấng bị đóng đinh, nối dài ở dưới đất phụng vụ thánh ở trên trời. Khởi đầu thị kiến, nhà tiên tri nói là mình đã khóc nhiều, ngày hôm nay Giáo hội cũng khóc. Giáo hội khóc cho cái chết của Phu Quân trên thập giá, khóc giữa bao nỗi gian truân của thế giới, khóc vì sự bội phản và cứng lòng của biết bao con cái mình, khóc vì những bất trung của mình. Những lời sau đây ngày hôm nay nhằm nói cho Giáo hội này đang thống hối, khiêm nhường quy tụ chung quanh Con Chiên sau vị mục tử của mình: “Đừng khóc nữa. Này đây sư tử xuất thân từ chi tộc Giuđa, Chồi non của Đavít, đã chiến thắng!” (Kh 5,5).


IX. “BỊ NGHIỀN NÁT VÌ CHÚNG TA PHẠM TỘI”

Tông đồ Phaolô viết: “Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người.” (Rm 6,3) Vậy sự kiện được dìm trong nước lúc rửa tội là dấu chỉ bên ngoài và hữu hình của một sự “tắm rửa” khác và một sự “mai táng” khác: sự mai táng cái chết của Đức Kitô. Thế nhưng điều đã xảy ra lúc đầu, theo cách nghi thức và tượng trưng, một ngày kia phải được thực hiện trong các sự kiện, bằng đức tin, trong suốt cuộc sống, để điều đó không chỉ là một biểu tượng. Chúng ta phải tiến hành một sự dìm mình cứu độ trong cuộc Khổ nạn của Đức Kitô, chúng ta dìm mình trong đó bằng tinh thần, cảm thấy mình cũng phải chịu lạnh lẽo và cay đắng, để ra khỏi đó mà như được đổi mới và tôi luyện lại.

Kinh thánh viết là ở Giêrusalem có một cái hồ nước lạ lùng, ai là người đầu tiên nhào xuống đó khi nước khuấy động thì được chữa lành. Chúng ta phải nhảy xuống hồ nước, hoặc đúng hơn, nhảy xuống đại dương là cuộc Khổ nạn của Đức Kitô, vì đó là cuộc Khổ nạn của Con Người-Thiên Chúa: một đại dương bao la, không bờ không đáy.

Đó là cuộc Khổ nạn của linh hồn Đức Kitô, Đấng là linh hồn của cuộc Khổ nạn, điều làm cho cuộc Khổ nạn này có một giá trị độc nhất và siêu việt. Những người khác đã chịu những đau khổ thể xác mà Đức Giêsu đã chịu, và có lẽ còn nặng nề hơn. Dầu sao, chắc chắn về phương diện thể lý, tất cả những đau khổ mà mọi người phải chịu qua các thế kỷ, tạo thành một khối lớn hơn những đau khổ của Đức Giêsu; nhưng đàng khác, toàn bộ các đau khổ và kinh hoàng của con người sẽ không bao giờ đạt tới, ngay cả từ xa, cuộc Khổ nạn của linh hồn Đấng Cứu Chuộc.

Một sự đau khổ trong linh hồn như thế hoàn toàn thấy có trong những lời sau đây của tông đồ Phaolô: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5,21). Chính Con Thiên Chúa, Đấng vô tội, Đấng thánh, trở thành “tội”, tội được nhân cách hóa!

Ở Ghếtsêmani, Đức Giêsu cầu nguyện rằng: “Xin cho con khỏi phải uống chén này!” (Mt 26,39). Trong Kinh thánh, hình ảnh chén hầu như luôn luôn gợi ra ý tưởng về cơn giận của Thiên Chúa chống lại tội lỗi (x. Kh 14,10). Nơi Isaia, nó được gọi là “chén lôi đình” (Is 51,22). Phaolô viết: “Từ trời, Thiên Chúa mạc khải cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô luân và bất chính” (Rm 1,18). Đó là một loại nguyên tắc phổ quát. Nơi nào có tội lỗi, không thể không có sự xét xử của Thiên Chúa, chữ “không” khủng khiếp của Ngài; chẳng vậy, chính Thiên Chúa thỏa hiệp với tội lỗi, không còn phân biệt giữa thiện và ác, cả vũ trụ sẽ sụp đổ. Cơn giận của Thiên Chúa không giống như cơn giận của con người, chính là một danh hiệu khác để làm rõ nét sự thánh thiện của Thiên Chúa.

Giờ đây, trong cuộc Khổ nạn của mình, Đức Giêsu là sự vô đạo, tất cả sự vô đạo của thế giới. Chính vì vậy cơn giận của Thiên Chúa đổ xuống trên Ngài. Thiên Chúa “đã lên án tội trong thân xác Đức Kitô” (x. Rm 8,3).

Một viễn tượng quá pháp lý về sự việc ngăn cản không cho người ta hiểu chính xác cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Không phải là một bên là loài người với những tội lỗi của họ, và bên kia là Đức Giêsu chịu khổ và chịu phạt vì những tội lỗi này, mà vẫn hoàn toàn đứng ở xa. Tương quan giữa Đức Giêsu và tội lỗi không gián tiếp cũng không duy nhất mang tính pháp lý, nhưng gần gũi và thật sự. Nói khác đi tội lỗi ở nơi Ngài, Ngài đã mắc tội cách mầu nhiệm, vì Ngài đã tự nguyện “mang lấy” chúng. “Tội lỗi của chúng ta, chính Ngài đã mang vào thân thể Ngài” (1Pr 2,24). Một cách nào đó Ngài cảm thấy mình là tội lỗi của thế gian, và chính đó là cuộc Khổ nạn nơi linh hồn.

***

Một ngày nào đó sẽ phải gán một cái tên và một bộ mặt cho thực tại tội lỗi này, để nó không còn là một ý tưởng trừu tượng cho chúng ta, hoặc một việc ít quan trọng, như thế gian nghĩ về nó. Đức Giêsu đã đảm nhận tất cả sự kiêu căng của con người, tất cả sự phản loạn công khai hay ngấm ngầm chống lại Thiên Chúa, tất cả sự dâm dật (là tội và vẫn là tội, cho dù mọi người bắt đầu quả quyết ngược lại), tất cả sự giả hình, tất cả sự bạo hành và bất công, tất cả sự bóc lột người nghèo khổ và yếu đuối, tất cả sự dối trá, ghen ghét, là một điều kinh khủng.

Chính trong cuộc Khổ nạn của Đức Kitô mà những lời của Isaia chúng ta vừa nghe trong bài đọc I được thực hiện đầy đủ: “Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an” (Is 53,5), Chính Người, “Đấng công chính chịu đau khổ”, cầu nguyện trong các Thánh vịnh và thưa lên Chúa Cha: “Cơn giận Chúa đè nặng trên con, như sóng cồn xô đẩy dập vùi. Bao cơn thịnh nộ, Ngài đổ ngập thân con, bấy nỗi kinh hoàng khiến con rời rã” (Tv 88,8.17).

Điều gì sẽ xảy ra nếu tất cả vũ trụ vật lý, với hàng tỷ thiên hà của nó, đè nặng trên một điểm duy nhất như một kim tự tháp vĩ đại chổng ngược đầu? Điểm này sẽ phải chịu áp lực lớn như thế nào? Thì này, trong cuộc Khổ nạn, tất cả vũ trụ tinh thần của tội lỗi, cũng vô hạn như vũ trụ vật chất, đè nặng trên tâm hồn Con Người-Thiên Chúa. Kinh thánh viết: “Đức Chúa đã đổ trên đầu người tất cả tội lỗi của chúng ta” (x. Is 53,6); Ngài là Chiên Thiên Chúa, “mang trên mình” tội lỗi của thế gian (x. Ga 1,29). Thập giá thật sự mà Đức Giêsu vác trên vai, mang tới Canvê, để cuối cùng chịu đóng đinh vào đó, chính là tội lỗi.

Chính vì Đức Giêsu mang lấy tội lỗi mà Thiên Chúa xa Ngài. Sự lôi cuốn vô hạn giữa Chúa Cha và Chúa Con giờ đây bị một sức đẩy cũng vô hạn cản trở. Vào mùa hè ở vùng núi Alpes, khi một lượng không khí lạnh từ miến Bắc tràn xuống gặp một lượng không khí nóng từ miền Nam tràn lên, những trận bão ghê gớm xảy ra làm xáo trộn bầu khí quyển: mây mù, gió hú, sấm chớp xé toang từ đầu đến cuối bầu trời, những tiếng sét làm rung rinh đồi núi. Một điều tương tự đã xảy ra trong trong linh hồn Đấng Cứu Chuộc: sự ác độc tột đỉnh của tội lỗi đụng mạnh vào sự thánh thiện tột đỉnh của Thiên Chúa, xé toang nó đến độ làm nó mướt mồ hôi máu, và làm nó phải rên rỉ: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức!” (Mc 14,34).

Nói về người Do Thái, trong chương 9 thư Rôma, Thánh Phaolô nói lòng ngài rất đau khổ về họ, vì họ từ chối Phúc âm, đến nỗi ngài sẵn sàng bị “vạ tuyệt thông”, xa lìa Đức Kitô, vi lợi ích của các anh em mình (x. Rm 9,3). Điều thánh Tông Đồ mới chỉ thoáng thấy như một sự mất mát tột cùng, nhưng thực tế không phải chịu như vậy, thì Đức Giêsu trên thập giá đã phải sống thực sự, cho tới tột cùng; Ngài đã trở thành bị “vạ tuyệt thông”, xa lìa Thiên Chúa, vì lợi ích của các anh em mình. Thư Galát viết: “Đức Kitô đã chuộc chúng ta khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta, chính Người đã trở nên đồ bị nguyền rủa, vì có lời chép: Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ” (Gl 3,13). “Bị nguyền rủa – katàra” hầu như đồng nghĩa với bị vạ tuyệt thông; thuật ngữ hàm ý một sự chia lìa giữa Thiên Chúa và con người, một loại vạ tuyệt thông.

Kinh nghiệm về sự thinh lặng của Thiên Chúa, mà người thời nay cảm thấy thật thấm thía, cũng giúp chúng ta hiểu phần nào cuộc Khổ nạn của Đức Kitô, miễn người ta biết rằng đối với người của Kinh thánh, sự thinh lặng của Thiên Chúa không có cùng một ý nghĩa như đối với con người thời nay. Sự thinh lặng của Thiên Chúa được đo bằng cường độ người ta nại đến tên Ngài. Nó không có nghĩa gì với người không tin hoặc với người, tuy tin, nhưng hờ hững với Ngài. Sự tin tưởng nơi Ngài càng lớn, lời cầu xin với Ngài càng hăng say, thì sự thinh lặng của Thiên Chúa càng đau đớn. Như vậy chúng ta có thể nhận thấy rõ hơn, đối với Đức Giêsu, sự thinh lặng của Chúa Cha phải như thế nào, và vực thẳm nào ẩn giấu sau tiếng kêu: “Lậy Thiên Chúa, lậy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46). Đức Maria dưới chân thập giá cũng biết sự thinh lặng của Thiên Chúa là như thế nào. Không ai ngoài Mẹ có thể coi là của mình cách tốt hơn lời cảm thán phát ra từ miệng một Giáo Phụ, nhớ về thời kỳ Giáo hội bị bách hại khốc liệt dưới triều hoàng đế Giulianô, thời mà các nhà thờ bị mạo phạm và các trinh nữ bị hãm hiếp: “Chúa ơi, chịu đựng sự thinh lặng của Chúa ngày hôm đó thật khó biết bao!”

Đức Giêsu trên thập giá đã trải nghiệm tới cùng hậu quả căn bản của tội lỗi là mất Thiên Chúa. Ngài trở thành người không có Thiên Chúa, thành người vô thần! “Vô thần” có thể có một nghĩa năng động và một nghĩa thụ động; nó có thể vừa chỉ một người từ chối Thiên Chúa, vừa chỉ một người bị Thiên Chúa chối từ. Và chính nghĩa thứ hai này mà thuật ngữ ghê gớm ấy được áp dụng cho Đức Kitô trên thập giá. Chắc chắn sự vô thần của Ngài không phải là kết quả của một lầm lỗi, nhưng là hình phạt của một lầm lỗi, để đền thay cho mọi thứ vô thần có lỗi trên thế giới và nơi mỗi người chúng ta, dưới hình thức một sự phản kháng Thiên Chúa, một sự ích kỷ, hoặc một sự lãnh đạm đối với Thiên Chúa. Rõ ràng là Chúa Cha trên trời gần gũi với Chúa Con không lúc nào bằng lúc này, khi mà Chúa Con đang thực hiện hành vi vâng phục tối thượng của mình, nhưng với tư cách là con người; đây là lúc Đức Giêsu không còn thấy gần gũi như thế nữa và “cảm thấy” bị bỏ rơi.

***

Tất cả những điều đó là cần thiết “để tội lỗi bị hủy diệt” (Rm 6,6), và để “nhờ đức tin chúng ta nhận được ơn Thiên Chúa đã hứa là Thần Khí” (Gl 3,14), đổi lấy sự trừng phạt. Các Giáo Phụ đã áp dụng cho Đức Kitô trên thập giá hình bóng Kinh thánh của nước đắng ở Mara, trở nên ngọt nhờ cây gỗ Môsê thả xuống nước đó (x. Xh 15,23-25). Trên cây gỗ thập giá, chính Đức Giêsu đã uống nước đắng của tội lỗi và biến nó thành nước “ngọt” của Thần Khí Ngài, được biểu thị bằng nước từ cạnh sườn Ngài chảy ra. Ngài đã biến đổi tiếng “không” rất lớn của con người đối với Thiên Chúa thành một tiếng amen, còn lớn hơn nhiều, đến nỗi giờ đây “nhờ Người mà chúng ta hô lên ‘amen’ để tôn vinh Thiên Chúa” (2Cr 1,20).

“Mầu nhiệm đạo thánh cao cả” (1Tm 3,10) là thế. Nó nằm ở chỗ, ngay cả trong một tình huống cùng cực như vậy, Đức Giêsu vẫn phó thác nơi Chúa Cha, vâng phục Chúa Cha bằng tình yêu mến; môi miệng Ngài vẫn không ngừng kêu lên tiếng của một người con: “Abba, Cha ơi” và lúc sinh thì còn kêu lớn tiếng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46).

Khi hoàn tất mầu nhiệm hiếu thảo này, Đức Giêsu có Mẹ Ngài đứng gần bên, Đấng mà giờ đây chúng ta nghĩ tới, lòng đầy xúc động. “Người đã đau đớn chịu khổ cực với Con một của mình và dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra”, một bản văn của Vaticanô II nói như vậy, và bằng cách này, “trên bình diện ân sủng, Người là Mẹ chúng ta.[24]

***

Trong Tân Ước, khởi giảng (kérygme), hay loan báo cuộc Khổ nạn, luôn bao gồm hai yếu tố, yếu tố sự kiện: “Ngài đã chịu khổ”“chịu chết”, và lý do của sự kiện: “vì chúng ta”, “vì tội chúng ta” (x. Rm 4,25; 1Cr 15,3). Cuộc Khổ nạn của Đức Kitô luôn xa lạ với chúng ta bao lâu chưa đi vào trong đó qua cửa nhỏ “vì chúng ta”, vì chỉ người nào nhận ra đó là công trình của Đức Kitô, người đó mới thực sự biết cuộc Khổ nạn của Ngài. Không nhận ra như thế, mọi sự sẽ có thể chỉ là những lời nói không ai nghe.

Vậy ở Ghếtsêmani, cũng chính tội riêng tôi phạm đè nặng tâm hồn Đức Giêsu; trên thập giá, chính vì sự ích kỷ của tôi, sự lạm dụng tự do của tôi đã đóng đinh Ngài. Nếu Đức Kitô đã chết “vì tội tôi”, điều đó có nghĩa là – nói bằng kiểu năng động thay cho thụ động – tôi đã đóng đinh Đức Giêsu Nadarét. Ba ngàn người nghe Phêrô nói hôm lễ Ngũ Tuần, không phải ai cũng có mặt ở dinh Philatô, không phải ai cũng đã đóng đinh Chúa ở Canvê, tuy nhiên, Phêrô mạnh mẽ nói với họ: “Anh em đã đóng đinh Đức Giêsu Nadarét!” Và, dưới tác động của Thần Khí, họ đã thừa nhận đúng như vậy, vì như sách Công vụ viết: “họ đau đớn trong lòng và hỏi ông Phêrô cùng các tông đồ khác: Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2,23-37).

“Bạn đã có ở đó không, bạn đã có ở đó không, khi chúng đóng đinh Chúa của tôi?” – Were you there, were you there when they crucified my Lord? Đó là lời ca đầy lòng tin của một negro spiritual. Lời ấy còn tiếp: “Đôi khi ý nghĩ này làm tôi run sợ, run sợ, run sợ!” Cứ mỗi lần nghe bản nhạc này, tôi cảm thấy bị thúc giục trả lời từ trong tâm khảm của tôi: “Hỡi ôi, đúng vậy, tôi cũng đã ở đó, tôi cũng đã ở đó khi chúng đóng đinh Chúa của tôi!”

Điều cần thiết là trong quá trình sống của một người, một ngày nào đó có một biến động và trong lòng anh ta có điều gì đó tương tự như những gì xảy ra trong thiên nhiên lúc Đức Kitô chịu chết, khi màn trong Đền thờ bị xé ra từ trên xuống dưới, những tảng đá vỡ ra và những mồ mả mở tung. Điều cần thiết là, dù sao, một niềm kính sợ lành mạnh đối với Thiên Chúa phải làm nổ tung trái tim chúng ta, một trái tim tin chắc về Ngài. Tông đồ Phêrô đã có một kinh nghiệm tương tự, và nếu ông đã có thể nói những lời kinh khủng này với đám đông, thì chính vì trước đây ông đã nói những lời trên cho chính mình và, khi Đức Giêsu quay lại nhìn, ông “đã khóc lóc thảm thiết” (Lc 22,61-62).

Chúng ta vừa mới nghe những lời của Phúc âm Gioan: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37). Chớ gì những lời tiên tri trên cũng được thực hiện nơi ta; chúng ta hãy nhìn lên Đấng chúng ta đã đâm thâu, chúng ta hãy nhìn bằng một cách mới; chúng ta hãy thương tiếc như người ta thương tiếc đứa con đầu lòng (x. Da 12,10). Nếu người ta không hoán cải khi nghe lời chúng ta, những người của Giáo hội, chớ gì họ hoán cải khi thấy chúng ta khóc.

***

Chính giờ đây là lúc mà “phép rửa trong cái chết của Chúa” được thực hiện trong đời sống của mỗi người Kitô hữu chúng ta. Chớ gì một điều gì đó của con người cũ rơi xuống khỏi vai chúng ta, tách ra khỏi ta, và chôn vùi mãi trong cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Kinh thánh nói: trong quá khứ mất thời giờ làm thỏa mãn dục vọng là quá đủ rồi! (x. 1Pr 4,3), mất thời giờ biện minh cho chúng ta và tố cáo người khác, là quá đủ rồi, mất thời giờ cho những tranh biện vô ích giữa chúng ta, những tín hữu công giáo, là quá đủ rồi. Đức Kitô đã chết “để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11,52), thế mà chúng ta lại tiếp tục chia rẽ nhau, phân tán nhau vì những chuyện thứ yếu sao? Làm sao chúng ta còn có thể vớ vẩn trong những bất đồng nhỏ mọn, trước một Thiên Chúa chết vì yêu thương ta và trước một thế giới đa phần còn chưa biết Ngài? Cessent jurgia maligna, cessent lites” – Hãy thôi đi những cuộc tranh cãi xấu xa, hãy thôi đi những cuộc tranh tụng và ước gì Đức Kitô ở giữa anh em!” đó là lời của một bài bình ca ngày xưa. Phần lớn những điều xấu xa và tai họa xẩy đến cho các gia đình, cộng đồng, xã hội và Giáo hội là do mỗi người xét đoán và buộc tội người khác, thay vì xét đoán và cáo buộc mình vì tội lỗi của mình; mỗi người muốn người khác thay đổi, nhưng ít người nghĩ một cách nghiêm túc là phải thay đổi chính mình. Phải, nếu chúng ta quyết định thực hiện việc thay đổi này nơi ta, thì chính chiều hôm nay thế giới hẳn sẽ tốt hơn và tâm hồn chúng ta sẽ được bình an. Nếu cần phải bảo vệ sự thật và công lý chống lại ai, chúng ta sẽ làm điều đó tốt hơn sau đó, với nhiều tự do và bác ái hơn.

***

Chỉ sau khi trải qua phép rửa mới trong cái chết của Đức Kitô, chúng ta sẽ thấy thập giá thay đổi hoàn toàn dáng vẻ và, từ chỗ buộc tội chúng ta, gây ra nỗi sợ hãi và buồn bã, lại biến thành một động lực đem lại niềm vui và sự chắc chắn. “Vậy giờ đây những ai ở trong Đức Kitô Giêsu thì không còn bị lên án nữa” (Rm 8,1), sự lên án đã thấy cạn dòng, nhường chỗ cho khoan dung và tha thứ. Thậm chí thập giá xuất hiện như công trạng và hãnh diện của chúng ta: “Ước gì tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Ở đây, sự “hãnh diện” có một ý nghĩa phụ nói lên sự chắc chắn mang lại niềm vui, kèm theo tâm tình xúc động biết ơn của con người trong đức tin. Chính là tình cảm thấm nhiễm phụng vụ chiều nay, gợi hứng cho thánh thi của thời gian Khổ nạn này: “O Crux ave, spes unica – Kính chào thập giá, niềm hy vọng độc nhất!”

Làm sao có thể hãnh diện về một sự đau khổ mà chính chúng ta không phải chịu, ngược lại chúng ta đã gây ra? Lý do là vì giờ đây cuộc Khổ nạn của Đức Kitô trở thành “của chúng ta”, kho tàng lớn nhất của chúng ta, đá tảng cứu độ chúng ta. Kiểu nói cho thấy lý do “vì chúng ta” cuối cùng trở thành “cho chúng ta”. Nếu tiên vàn nó có nghĩa là “vì tội lỗi chúng ta – propter nos”, thì giờ đây, sau khi chúng ta đã nhận ra, xưng thú tội mình và đã tỏ lòng ăn năn thống hối, nó có nghĩa là “có lợi cho chúng ta – pro nobis”. “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5,21).


X. “ĐỨNG GẦN THẬP GIÁ ĐỨC GIÊSU CÓ THÂN MẪU NGƯỜI LÀ ĐỨC MARIA”

 Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clopát, cùng với bà Maria Magđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà’. Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh’. Kể tư giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27).

Đó là những lời chúng ta vừa nghe ít phút trước đây, trong bài Thương Khó. Người thuật lại cho chúng ta là Gioan, chính là người đã nghe những lời ấy và cùng với Đức Maria đứng dưới chân thập giá. Hiếm có thông tin nào đến từ một nguồn trực tiếp và bảo đảm như vậy. Chúng ta muốn nối dài một chút suy niệm của chúng ta dựa vào những lời trên đây, trong buổi chiều thứ Sáu tuần Thánh này.

Nếu Đức Maria “đứng gần thập giá Đức Giêsu” trên đồi Canvê, thì điều đó có nghĩa là Người đã ở Giêrusalem trong những ngày này, và nếu Người ở Giêrusalem thì có nghĩa là Người đã thấy hết. Người đã chứng kiến tất cả cuộc Khổ nạn của Con mình, từ tiếng hò la: Barabba! Từ tiếng Ecce Homo (Đây là Người)! Người đã thấy Con mình bị điệu ra trước dân chúng, bị đánh đòn, bị đội mão gai, bị khạc nhổ; Người đã thấy thân thể trần trụi của Con bị thập giá đè nặng, run rẩy trước cái chết. Người đã thấy quân lính chia nhau áo xống của Con, bắt thăm chiếc áo dài mà có lẽ chính tay Người đã dệt với bao tình yêu mến. Chính Người cũng đã uống chén đắng, và đã uống cạn. Và những lời sau đây, do thiếu nữ Sion thốt lên trong cơn đau đớn của mình, phù hợp với Người biết bao: “Này tất cả những ai qua lại, hãy nhìn kỹ mà xem: có nỗi khổ nào so sánh được với nỗi khổ Đức Chúa giáng trên tôi” (Ac 1,12).

Đức Maria không phải là người duy nhất đứng dưới chân thập giá, Bên cạnh Người, ngoài Gioan, còn có những phụ nữ khác: một trong những chị em của Người, cộng thêm với Maria, vợ ông Clêopat và Maria Magđala. Người ta hẳn nghĩ rằng, trong bối cảnh này, Đức Maria cũng chỉ là một phụ nữ trong số các phụ nữ khác. Nhưng Người đứng đó với tư cách là mẹ, và điều này thay đổi hoàn toàn, đặt Người vào một vị trí độc nhất trên thế giới, khác với vị trí của những người cũng hiện diện ở đó. Đôi lần tôi đã tham dự nghi lễ an táng một người trẻ. Tôi nghĩ cách riêng đến lễ an táng của một trẻ em. Đi sau quan tài là nhiều phụ nữ. Tất cả đều mặc đồ đen và khóc lóc. Tất cả tỏ ra đau khổ như nhau. Nhưng trong số họ có một phụ nữ mà mọi người tham dự đều nghĩ tới, khóc thương, nhìn trộm: đó là mẹ của đứa trẻ. Cái nhìn của chị như sững sờ, hướng vào quan tài, và người ta có thể thấy môi miệng chị không ngừng lặp lại tên đứa con trai. Đến kinh Sanctus, mọi người đọc theo linh mục: “Thánh! Thánh! Thánh! Chúa là Thiên Chúa các đạo binh…”, chị cũng lặp lại cách máy móc: “Thánh! Thánh! Thánh!…” Lúc ấy, tôi đã nghĩ đến Đức Maria đứng dưới chân thập giá.

Thế nhưng một đòi hỏi khó khăn hơn nhiều nơi Đức Maria: tha thứ cho những kẻ giết Con mình. Khi nghe Con nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34), Đức Maria hiểu ngay điều Chúa Cha chờ đợi nơi Người: tự trong lòng, Người cũng nói những lời ấy: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Người đã nói và đã tha thứ.

***

Công đồng Vaticanô II nói về Đức Maria dưới chân thập giá bằng những lời như sau:

“Như thế Đức Trinh Nữ cũng đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên thập giá, là nơi mà theo ý Thiên Chúa, Người đã đứng ở đó, đau đớn chịu khổ cực với Con một của mình và dự phần vào hy lễ của con với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra.[25]

Khi ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra, Người như thể hiến tế chính mình vậy.

Đức Maria “đứng” dưới chân thập giá, đầu của Người ngang tầm với đầu của con, vì con bị treo. Bốn con mắt nhìn nhau. Khi nói: “Hỡi Bà, đây là con của Bà”, Đức Giêsu nhìn thẳng vào người mà Ngài không cần gọi tên để biết đích xác là ai trong số các phụ nữ khác. Ai sẽ có thể đi sâu vào mầu nhiệm của cái nhìn này giữa mẹ và Con trong một thời khắc như thế? Một niềm vui trong lúc cực kỳ đau khổ truyền cho nhau giữa hai người, như nước trong bình thông nhau, và niềm vui này phát xuất từ việc kể từ đây các ngài không còn chống lại nỗi đau buồn, không có bất kỳ sự bảo vệ nào khi đối mặt với đau khổ, và để mặc cho đau khổ tràn ngập nơi mình. Tiếp theo sự tranh đấu là sự bình an. Cả hai chỉ còn là một với sự đau khổ và tội lỗi của toàn thế giới. Đức Giêsu, trước tiên nơi con người của Ngài, như “của lễ đền bù tội lỗi nhân loại” (1Ga 2,2), và Đức Maria, cách gián tiếp, do sự kết hợp thể xác và tinh thần với Con mình.

Việc làm cuối cùng của Đức Giêsu, trước khi chìm sâu trong cơn hấp hối và cái chết, là yêu tha thiết ý Chúa Cha. Đức Maria theo Ngài trên con đường này: Người cũng yêu tha thiết ý Chúa Cha, trước khi nỗi cô đơn kinh khủng ùa vào tâm hồn Người, trước khi bóng tối bao phủ nơi Người, như nó đã “bao phủ cả mặt đất” (Mt 27,45). Nỗi cô đơn và yêu say mê này còn gắn chặt vào tâm điểm cuộc sống của Người cho tới chết, cho tới ngày sống lại.

Một Thánh vịnh được phụng vụ áp dụng cho Đức Maria nói như sau: “Tại đó kẻ này người nọ sinh ra. Nhưng nói về Sion, thiên hạ bảo: người người sinh tại đó […] Chúa ghi vào sổ bộ các dân: Kẻ này người nọ, đều sinh ra tại đó” (Tv 86/87,4-6). Đúng vậy! Tất cả chúng ta đều sinh ra tại đó; người ta sẽ nói cho Đức Maria, Sion mới: kẻ này người nọ sinh ra nơi Người. Trong sổ bộ của Ngài, Thiên Chúa ghi tôi, ghi bạn, ghi mỗi người, thậm chí kẻ chưa được biết Người: “người này sinh ra tại đó!”

Thế chúng ta đã không được “tái sinh nhờ lời Thiên Chúa hằng sống và mãi mãi” (1Pr 1,23) sao? Chúng ta không được “sinh bởi Thiên Chúa” (Ga 1,13), “được sinh ra bởi nước và Thần Khí” (Ga 3,5) sao? Không gì đúng hơn, nhưng không vì thế mà, theo một nghĩa khác, chúng ta được sinh ra nhờ lòng tin và sự đau khổ của Đức Maria. Nếu Phaolô, một tôi tớ của Đức Kitô, đã có thể nói cho các tín hữu của mình là: “Trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em” (1Cr 4,15), thì càng có lý để có thể nói Đức Maria là mẹ của chúng ta. Nào ai ngoài Mẹ có thể coi những lời của Phaolô là của mình: “Hỡi anh em, những người con bé nhỏ của tôi, mà tôi phải quặn đau sinh ra một lần nữa” (Gl 4,19)? Người đã sinh chúng ta một lần nữa lúc này, vì Người đã sinh chúng ta lần đầu lúc Con Thiên Chúa nhập thể, khi Người đã sinh ra, theo nghĩa riêng của từ, “Lời Thiên Chúa hằng sống và vĩnh cửu” là Đức Kitô, và trong Lời đó chúng ta được tái sinh.

***

Một chuyện so sánh sẽ giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của việc Đức Maria hiện diện dưới chân thập giá: đó là so với hình bóng Abraham. Chuyện so sánh này được chính thiên thần Gabriel gợi ý, khi mà trong ngày Truyền tin, thiên thần nói với Đức Maria chính những lời người đã nói với Abraham: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (St 18,14; Lc 1,37). Tuy nhiên chuyện so sánh tiên vàn là từ những sự kiện. Thiên Chúa đã hứa ban cho Abraham một người con trai, lúc ông đã quá tuổi làm cha, và bạn ông thì son sẻ. Và Abraham đã tin. Thiên Chúa cũng báo cho Đức Maria là Người sẽ có một con trai, cho dù Người không có quan hệ nào với một người nam. Và Đức Maria đã tin.

Nhưng rồi Thiên Chúa đã lại xen vào cuộc đời Abraham, và lần này là để yêu cầu ông sát tế người con này mà chính Người đã ban cho ông và đã nói về người con đó: “Chính nhờ Isaac mà ngươi sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi” (St 21,12). Cũng lần này, Abraham đã tin và vâng phục. Cũng vậy, Thiên Chúa đã xen lần thứ hai vào cuộc đời Đức Maria, yêu cầu Người thuận tình và ngay cả chứng kiến hiến tế của Con mình, Đấng đã được báo trước là sẽ nên cao trọng và triều đại Ngài sẽ vô cùng vô tận (x. Lc 1,32-33). Và Đức Maria đã vâng phục. Abraham đã đi với Isaac lên núi Moria; Đức Maria đã đi theo Đức Giêsu lên đồi Canvê. Nhưng Thiên Chúa đòi hỏi nơi Đức Maria hơn là nơi Abraham. Với Abraham, Thiên Chúa can thiệp vào phút chót khiến cho con ông được sống. Đức Maria thì không được như vậy. Người đã phải vượt qua giới hạn cuối cùng, mãi mãi, là sự chết. Người tìm lại được con, nhưng chỉ sau khi người ta tháo đinh đưa con xuống.

Vì bước đi trong đức tin, không phải trong thị kiến, Đức Maria đã hy vọng tiến trình lịch sử rồi ra sẽ đảo ngược một lúc nào đó, để người ta công nhận Con mình vô tội. Người đã hy vọng trước mặt Philatô, nhưng không được gì. Thiên Chúa đã đi bước trước. Người đã hy vọng cho tới chân thập giá, cho tới lúc đóng đinh Đức Giêsu. Điều đó cũng không thể xảy ra. Người đã chẳng được bảo đảm là Con mình sẽ ngự trên ngai vàng vua Đavit và sẽ đời đời cai trị nhà Giacob sao (x. Lc 1,32-33)? Ngai vàng vua Đavít mà lại là thập giá ư? Phải, Đức Maria “đã trông cậy mặc dầu không còn gì để trông cậy” (Rm 4,18). Người đã trông cậy nơi Thiên Chúa, ngay cả khi Người không còn thấy lý do cuối cùng để trông cậy.

Từ việc so sánh này giờ đây chúng ta có thể rút ra kết luận. Nếu với tất cả những những gì Abraham đã làm, ông đáng được gọi là “tổ phụ chúng ta hết thảy” (Rm 4,16) và cha chúng ta trong đức tin[26], vì lẽ gì chúng ta ngần ngại gọi Đức Maria là “Mẹ Giáo hội”. Thiên Chúa đã nói với Abraham: “Ta sẽ đặt ngươi làm cha của vô số dân tộc […] bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của người, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông” (St 17,5; 22,16-17). Cũng vậy, nhưng với giọng điệu mạnh mẽ hơn, Thiên Chúa nói với Đức Maria: “Bởi vì bà đã làm điều đó, đã không từ chối Con mình, người Con duy nhất của mình, Ta sẽ thi ân giáng phúc cho bà, sẽ đặt bà làm mẹ của vô số dân tộc”.

Nếu mọi tín hữu của tất cả các hệ phái Kitô giáo đều cùng xác tín rằng Abraham đã không chỉ được đặt làm “gương mẫu và bảo trợ”, mà còn làm nguyên nhân của phúc lành” (như Calvinô nói khi bình luận câu St 12,3), và trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, ông được dành cho vai trò là người trung gian của phúc lành cho muôn thế hệ[27]”, tại sao mọi Kitô hữu lại không vui mừng xác tín rằng Đức Maria càng phải được Thiên Chúa đặt làm nguyên nhân và trung gian của mọi phúc lành cho muôn thế hệ? Không chỉ là gương mẫu – tôi nhấn mạnh – nhưng còn là nguyên nhân cứu độ cho tất cả nhân loại”, như thánh Irênê đã nói rõ[28]? Tại sao không chia sẻ xác tín rằng lời Đức Kitô nói lúc hấp hối “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,27) không chỉ nói cho Gioan mà còn cho tất cả các môn đệ? Theo Công đồng, dưới chân thập giá, Đức Maria trở thành “Mẹ thật chúng ta trên bình diện ân sủng.[29]

Vì vậy, cũng như Israel khi gặp thử thách thì hướng về Thiên Chúa mà kêu lên: “Xin Ngài nhớ đến Abraham tổ phụ chúng tôi” (x. Xh 32,13; Đnl 9,27; Tb 4,12), giờ đây chúng ta có thể hướng về Thiên Chúa mà kêu lên: “Xin Chúa nhớ đến Đức Maria, Mẹ chúng con!”, và như người Do Thái kêu lên: “Vì tình nghĩa với bạn thân Ngài là Abraham, xin Ngài đừng rút lại lòng thương xót đã dành cho chúng tôi” (Đn 3,35), chúng ta có thể thưa lên với Chúa: “Vì tình nghĩa với bạn thân của Chúa là Đức Maria, xin Chúa đừng rút lại lòng thương xót đã dành cho chúng con!”

***

Có khi trong cuộc đời chúng ta cần đến một niềm tin cậy như Đức Maria. Đó là khi Thiên Chúa dường như không nghe tiếng ta cầu nguyện, khi có người hẳn sẽ nói Ngài nuốt lời và không giữ lời hứa, khi Ngài dẫn ta đi hết thất bại này đến thất bại khác, khi Ngài để ta vùng vẫy trong thất bại, và quyền lực bóng tối dường như chiến thắng trên mọi mặt trận; khi dường như Ngài “đã quên thương xót, vì giận hờn mà khép kín từ tâm” (Tv 77,10). Khi giờ đó xẩy đến cho bạn, bạn hãy nhớ tới lòng tin của Đức Mẹ mà thưa lên với Chúa: “Lậy Chúa, con không hiểu Chúa nữa, nhưng con tin tưởng nơi Chúa!”

Có lẽ Thiên Chúa tìm kiếm một người nào đó, như Abraham hiến tế con mình là Isaac, dâng hiến cho Ngài, hữu thể, hoặc sự việc, hoặc dự án, hoặc cơ sở, hoặc chức vị quý giá đối với họ, mà ngày nào đó Thiên Chúa đã trao phó cho họ và họ đã hoạt động cả đời cho những cái đó…Chính đó là cơ hội Thiên Chúa dành cho bạn để bạn tỏ cho Ngài thấy Ngài quý báu hơn mọi sự, hơn những ân huệ của Ngài, hơn công việc mà bạn làm cho Ngài. Thiên Chúa đã thử thách Đức Maria trên đồi Canvê “để thấy Người có gì trong lòng”, và trong lòng Đức Maria, tiếng “xin vâng”, “này con đây” của ngày Truyền tin vẫn nguyên vẹn, thậm chí còn mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Chớ gì những lúc đó Ngài có thể cũng thấy tâm hồn chúng ta sẵn sàng thưa với Ngài lời “xin vâng” và “này con đây!’

Như tôi đã nói, trên đồi Canvê, Đức Maria kết hợp với Con mình yêu tha thiết thánh ý Chúa Cha. Trong việc đó, Người đã thực hiện đến mức hoàn hảo ơn gọi của Người là hình bóng của Giáo hội. Giờ đây, Người ở đó và chờ đợi chúng ta. Người ta nói Đức Kitô còn “hấp hối cho đến tận thế, và đừng để Ngài cô độc suốt thời gian đó[30]”. Và nếu Đức Kitô hấp hối trên thập giá cho đến tận thế, theo cách thức mà chúng ta không hiểu nổi nhưng có thực, thì Đức Maria có thể ở đâu trong suốt thời gian đó, nếu không phải ở với Ngài “dưới chân thập giá”? Ở đó, Người mời gọi những tâm hồn quảng đại và hẹn gặp họ, để họ liên kết với Người yêu tha thiết thánh ý Chúa Cha. Yêu tha thiết mà không hiểu được thánh ý đó. Không được để Đức Maria chơ vơ một mình trong suốt thời gian đó. Người biết không có gì quan trọng hơn, đẹp đẽ hơn, xứng với Thiên Chúa hơn mà chúng ta có thể làm trong cuộc đời, ít nhất một lần trước khi chết.

Sách Thánh viết là khi bà Giuđitha trở lại với dân sau khi đã liều mình cho dân, cư dân trong thành đổ xô đến gặp bà, vị thượng tế đã chúc lành cho bà và nói: “Này trang nữ kiệt, Thiên Chúa tối cao ban phúc hơn tất cả các phụ nữ trên cõi đất này […] Vì cho đến muôn đời muôn thuở những ai hằng nhớ đến sức mạnh của Thiên Chúa sẽ không lãng quên lòng trông cậy bà đặt nơi Người.” (Gđt 13,18-19) Ngày hôm nay, đây cũng chính là những lời chúng ta thưa với Đức Maria: “Mẹ được chúc phúc giữa các người phụ nữ!” Lòng can đảm của Mẹ sẽ không bao giờ bị lãng quên trong tâm hồn và kỷ niệm của Giáo hội!


XI. “NGƯỜI ĐÃ HỦY MÌNH RA KHÔNG”

 Năm 630 công nguyên, hoàng đế Héraclius của Byzance, khi chiến thắng vua Ba Tư là Chosroès, đã đoạt lại di tích Thánh giá mà 14 năm trước đây đã bị ông này mang đi khỏi Giêrusalem. Lúc đưa thánh tích này về lại Vương cung Thánh đường do Constantinô xây trên đồi Canvê, đã xảy ra một sự kiện lạ lùng, được phụng vụ nhắc lại trong lễ Suy tôn Thánh Giá, 14 tháng 9. Chúng ta đọc thấy trong thần vụ cũ của ngày lễ này như sau: “Héraclius vận phẩm phục bằng vàng và đá quý, đi qua cửa dẫn lên Canvê, nhưng ông không tới được đó. Càng cố tiến tới, ông càng cảm thấy như dậm chân tại chỗ. Mọi người đều ngạc nhiên. Bấy giờ Giám mục Dacaria lưu ý cho hoàng đế biết có lẽ bộ cẩm bào khải hoàn của ông không phù hợp với thái độ khiêm nhượng của Đức Giêsu khi vác thánh giá qua cửa này. Ngay lập tức hoàng đế cởi bỏ cẩm bào, đi chân trần, ăn mặc như một người bình thường, dễ dàng vượt qua quãng đường còn lại, và tới nơi phải đặt lại thánh giá.”

Nghi thức mà Đức Giáo Hoàng thực hiện khi ngài, lát nữa đây, mặc lễ phục và đi chân trần, đến hôn thánh giá, bắt nguồn từ tình tiết ấy như để tưởng niệm. Nhưng sự kiện này cũng có một ý nghĩa thiêng liêng và tượng trưng liên hệ đến mọi người đang có mặt ở đây, cho dù chúng ta không đi chân trần lên hôn kính thánh giá. Nó cho ta thấy không thể đến gần Đấng bị đóng đinh, nếu tiên vàn không rũ bỏ những tự phụ cao sang của chúng ta, những tước hiệu của chúng ta; nói tắt, sự kiêu căng khoe khoang của chúng ta. Đơn giản là không thể; chúng ta sẽ bị loại bỏ mà không ai thấy.

Đây chính là việc chúng ta muốn làm trong phụng vụ hôm nay. Hai việc rất đơn giản: trước hết, đặt dưới chân Đấng bị đóng đinh mọi tội lỗi kiêu ngạo của chúng ta và của thế gian; tiếp đến, mặc lấy sự khiêm nhường của Đức Kitô, và nhờ nó chúng ta trở về nhà mà được “nên công chính”, như người thu thuế đi cầu nguyện trên Đền thờ (x. Lc 18,14).

***

“Người phàm tự kiêu sẽ bị khuất phục, và con người ngạo nghễ rồi sẽ bị hạ xuống; ngày đó chỉ một mình Đức Chúa được suy tôn” (Is 2,17).

“Ngày đó”, chính là ngày hoàn tất của Đấng Thiên Sai, ngày Đức Kitô đã nói, khi trên thập giá Ngài kêu lên: “Thế là đã hoàn tất” (Ga 19,30). Nói tóm lại, ngày đó chính là ngày hôm nay! Thiên Chúa đã hạ kiêu căng của con người như thế nào? Làm cho họ khiếp sợ chăng? Bày tỏ cho họ sự cao cả và quyền năng khả úy của Người chăng? Làm họ tiêu tan chăng? Không phải, Ngài đã hạ bệ sự kiêu căng bằng cách hủy mình ra không:

“Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống người phàm, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình” (Pl 2,6-8).

Humiliavit semetipsum : Ngài đã hạ nhục chính mình chứ không phải con người. Ngài đã hạ sự kiêu căng và nâng cao của con người từ bên trong chứ không phải từ bên ngoài! Chúng ta đừng để mình bị phỉnh phờ bởi sự hoành tráng của nơi này, bởi phụng vụ, bởi lời ca tiếng hát, bởi tất cả những vinh dự dành cho thánh giá ngày hôm nay. Đã có lúc thánh giá không phải là những cái đó, duy nhất chỉ là sự ô nhục. Một việc không nên nhìn, và thậm chí không nên nói đến[31].

Ngài đã được Kinh thánh nói trước là “chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong, chẳng còn gì khiến chúng ta ưa thích, bị đời khinh khi ruồng rẫy. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị khinh khi, bị Thiên Chúa giáng họa, phải chịu nhục nhã” (x. Is 53,2-4). Trừ Đức Giêsu ra, duy nhất một người trên thế gian thật sự biết thập giá là gì: đó là Đức Maria, Mẹ Ngài. Mẹ đã cùng với Ngài vác “nỗi khổ nhục” của thập giá (x. Dt 13,13). Những người khác, kể cả Thánh Phaolô, đã biết đến “quyền năng” của thập giá (x. 1Cr 1,18), còn Mẹ thì biết đến cả sự yếu đuối của thập giá; những người khác biết đến thần học về thập giá, còn Mẹ thì biết đến thực tại của thập giá.

Thập giá là mồ chôn mọi thứ kiêu căng của con người. Cũng như Thiên Chúa phán với biển: “Ngươi chỉ tới đây thôi, chứ không được tiến xa hơn nữa; đây là nơi các đợt sóng cao phải vỡ tan tành” (G 38,11). Mọi đợt sóng cao của kiêu căng vỡ tan khi đập vào đá tảng Canvê, không thể vượt xa hơn. Bức tường Thiên Chúa xây để án ngữ chúng quá cao. Vực thẳm Ngài đào để ngăn cản chúng quá sâu. “Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị hủy diệt.” (Rm 6,6) Sự kiêu căng của con người, đó là tội tiêu biểu nhất, tội ẩn núp sau mọi tội lỗi. “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá.” (1Pr 2,24). Ngài đã mang sự kiêu căng của chúng ta nơi thân thể Ngài.

Phần của chúng ta trong tất cả những cái đó là gì? “Phúc âm”, nghĩa là tin vui, tin mừng, ở đâu? Chính là Đức Giêsu đã hạ mình cả cho ta nữa, thế chỗ của ta. “Nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết” (2Cr 5,14): nếu một người đã hạ mình vì mọi người, thì mọi người đều hạ mình. Trên thập giá, Đức Giêsu là Ađam mới vâng phục vì mọi người. Ngài là mẫu gốc, là khởi đầu cho một nhân loại mới. Ngài hành động thay cho mọi người, để giúp cho mọi người. Cũng như “nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ trở thành công chính” (Rm 5,19), cũng vậy, nhờ sự khiêm nhường của một người mà mọi người trở thành khiêm nhường.

Cũng như sự bất tuân, sự kiêu căng không còn thuộc về chúng ta nữa. Nó là cái riêng của Ađam cũ. Nó đã cũ kỹ, tiêu vong. Giờ đây sự mới mẻ chính là sự khiêm nhường. Nó tràn đầy hy vọng, vì mở ra một cuộc sống mới, dựa trên ân huệ, tình yêu, liên đới, không còn phải trên cạnh tranh, hãnh tiến, cũng không phải trên sự làm phiền nhau. “Cái cũ đã qua, và cái mới đã có đây rồi!” (2Cr 5,17). Một trong những cái lạ lùng mới mẻ chính là sự khiêm nhường.

Thế cử hành mầu nhiệm thập giá “trong thần khí và sự thật” có nghĩa gì? Câu châm ngôn cổ “hiểu rõ điều anh em làm, bắt chước điều anh em cử hành” (Agnoscite quod agitis, imitamini quod tractatis) áp dụng cho những nghi thức chúng ta đang cử hành có nghĩa gì? Có nghĩa là: hãy thực hiện nơi mình những gì anh em đang thể hiện qua nghi thức; hãy thực hiện những gì anh em đang tưởng niệm!

Chiều nay, tôi phải trao phó con người kiêu căng của tôi cho Đức Kitô, để Ngài có thể phá hủy nó trong những việc làm, như Ngài đã đương nhiên phá hủy nó một lần vĩnh viễn trên thập giá. Hồi tôi còn nhỏ, trong xứ tôi ở miền quê, hôm trước một số lễ trọng, vào lúc chập tối, người ta có thói quen đốt những đám lửa lớn từ đồi này sang đồi khác, và mỗi gia đình mang đến phần củi hay cành cây của mình để giữ cho lửa cháy, trong khi người ta vây quanh lửa này để cầu nguyện và lần hạt. Có một điều gì đó giống như vậy phải xảy ra cách thiêng liêng chiều nay. Mỗi người nên đến lấy tinh thần ném một cách thiêng liêng gánh nặng kiêu căng, khoe khoang, tự phụ, tự mãn của mình vào lò lửa lớn của cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Chúng ta phải bắt chước điều các thánh làm trên trời, trong phụng vụ thờ lậy Con Chiên của các ngài, mà phụng vụ của chúng ta rập khuôn theo đó, ở đây trên trần gian này. Các ngài từng đoàn tiến lên như sách Khải huyền nói, và đến trước Đấng ngự trên ngai, “đặt triều thiên của mình xuống trước ngai” (Kh 4,10). Các ngài thì đặt triều thiên đích thực của cuộc tử đạo của mình; còn chúng ta, chúng ta hãy vất bỏ những triều thiên giả đang đội trên đầu. Chúng phải “đóng đinh vào thập giá mọi hành vi khiêu căng[32]”.

***

Chúng ta không nên sợ làm mình giảm giá trị, từ bỏ địa vị làm người hoặc như rơi vào trạng thái tâm hồn bệnh hoạn. Hồi đầu thế kỷ này (thế kỷ XX), một văn sĩ đã tấn công Kitô giáo, tố cáo Kitô giáo đưa vào thế giới điều mà ông cho là “bệnh hoạn[33]” của khiêm nhường. Nhưng ngày hôm nay, chính triết học nói với chúng ta là cuộc sống duy nhất “đích thực” là cuộc sống thừa nhận sự “vô giá trị[34]” triệt để của mình. Kiêu ngạo là một con đường đưa tới thất vọng, bởi vì nó ngụ ý rằng chúng ta không chấp nhận mình như mình là, nhưng muốn một cách tuyệt vọng trở thành cái mà chúng ta sẽ không bao giờ có thể là, cho dù cố gắng mấy đi nữa, tức là độc lập, tự lập, không có ai ở trên chúng ta, mà chúng ta hẳn phải cảm tạ vì những gì chúng ta là[35].

Khoa tâm lý hiện đại về chiều sâu cũng đi đến cùng một kết luận bằng những con đường khác. Một trong những người chủ trương nổi tiếng nhất là C. G. Jung đã lưu ý một điều lạ lùng. Như ông nói, tất cả những bệnh nhân ở một tuổi nào đó đã nói với ông đều chịu một một điều gì đó mà người ta có thể coi như một sự thiếu khiêm nhường, và họ không được chữa khỏi bao lâu họ không có được một thái độ kính trọng và khiêm tốn trước một thực tại lớn hơn họ, nghĩa là có một thái độ tôn giáo.

Kiêu căng là một mặt nạ ngăn cản không cho ta làm những người người đích thực, trước khi làm một tín hữu. Ăn ở khiêm tốn là thuộc về con người! Những từ con người (homo) và khiêm nhường (humilitas) đều phát xuất từ humus, nghĩa là đất. Tất cả những gì nơi con người không phải khiêm nhường đều là dối trá. “Thật vậy, ai tưởng mình là gì, mà thực sự không là gì hết, thì là lừa gạt chính mình” (Gl 6,3).

***

Chúng ta vừa quyết định tống cổ kiêu căng ra khỏi chúng ta, thì chúng ta lại kinh hoàng mà nhận thấy nó xâm chiếm chúng ta tới mức nào, bên trong cũng như bên ngoài, chúng ta đầy kiêu ngạo biết bao nhiêu. Người ta nói hơn 70% thân thể con người là do nước. Có thể nói hơn 70% tinh thần con người là do kiêu ngạo. Ngay cả không khí mà chúng ta thở cũng bị những luồng sóng đủ mọi tần số chuyên chở những lời nói và sứ điệp chứa đầy kiêu ngạo xuyên qua. Cuối cùng, có những người tin là có thể “vượt qua” Đức Giêsu Kitô, và tuyên bố một thời kỳ mới mở ra, một “New Age”, không phải dựa trên Nhập thể, nhưng trên một chòm sao, chòm Verseau; không phải trên sự gặp nhau giữa thần tính và nhân tính, nhưng trên sự gặp nhau của các hành tinh. Mỗi năm xuất hiện những tôn giáo mới, những giáo phái mới, loan báo những con đường cứu độ mới, như thể con đường do Thiên Chúa mạc khải và xây dựng trên Đức Kitô không còn đủ cho những con người giờ đây khôn ngoan và trưởng thành hơn; như thể họ đã quá khiêm tốn. Tất cả những điều đó là gì, nếu không phải từ kiêu căng và tự phụ? “Hỡi những người Galát ngu xuẩn, ai đã mê hoặc anh em là những người đã được thấy hình ảnh Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá phơi bày ra trước mắt?” (Gl 3,1). Hỡi những Kitô hữu ngu xuẩn, ai đã mê hoặc anh em đến độ làm anh em nhanh chóng chuyển qua một Phúc âm mới như thế?

Mọi người chúng ta khó nhọc để được người khác chú ý. Nếu chúng ta có thể trực quan trình bày toàn bộ nhân loại như nó xuất hiện trước mặt Thiên Chúa, chúng ta sẽ thấy cảnh tượng của một đám đông khổng lồ những người đứng nhón chân, cố gắng vượt qua nhau, nghiền nát những người xung quanh họ, nếu cần, và mọi người hét lên, “Tôi cũng ở đây, tôi cũng ở thế giới này!”

Hư ảo chăng? Phù vân chăng? Chắc chắn là thế, mọi thứ kiêu căng này đều bốc hơi, thứ kiêu căng mà cái chết, giống như cơn gió, làm tan biến một ngày nào đó. “Quả là phù vân”, sách Giảng viên đã gọi như vậy (Gv 1,2). Không một chút kiêu căng nào sẽ cùng với chúng ta vượt qua ngưỡng cửa của vĩnh cửu, và nếu nó vượt qua được, thì sẽ lại biến ngay thành điểm chính để buộc tội và dằn vặt. Nhưng hiệu quả cả chúng thật đáng sợ. Nó giống như chiếc nấm bom nguyên tử đầy đe dọa bốc lên trời, như một nắm tay, nhưng rồi lại rơi xuống đất, gieo rắc chết chóc và phá hủy chung quanh.

Có phần chiến tranh quá khứ và hiện tại nào (kể cả phần diễn ra giữa những loạn đảng Kitô giáo trong một quốc gia bị đọa đầy) không phát xuất từ kiêu căng? Nỗi khổ của người nghèo lại không phát xuất phần lớn từ sự kiêu căng của một số lãnh tụ muốn có quyền thế, an toàn trên ngai của mình, trong mục đích này có quân đội hùng mạnh nhất, võ khí kinh khủng nhất, và đầu tư vào đó những tiềm lực có thể dùng để cải thiện những điều kiện sống, đôi khi kinh hoàng của dân mình chăng? Nhưng cả trên bình diện tương quan sống hằng ngày, trong gia đình cũng như trong các thể chế, chúng ta lại không gây đau khổ cho nhau vì sự kiêu căng của chúng ta, sự kiêu căng này không gây ra biết bao nước mắt sao?

***

Tuy vậy, chúng ta không được dừng lại ở đó. Nếu chỉ tố giác sự kiêu căng tập thể này, chúng ta hầu như chưa làm được gì. Thậm chí điều đó có thể là một sự kiêu căng thêm vào một sự kiêu căng khác. Tiến trình chúng ta phải làm chiều nay vừa hướng ra bên ngoài vừa hướng vào bên trong. Chúng ta phải xé lòng chúng ta, chứ đừng xé áo (x. Ge 2,13). Sự kiêu căng đích thực, điều duy nhất tôi có thể dùng ý chí mà phá hủy, vì nó là sản phẩm của ý muốn của tôi mà thôi, sự kiêu căng ấy ở trong tâm hồn tôi, làm tổ ở đó.

Công việc khó khăn biết bao! Người mò ngọc trai ở những biển phía nam, muốn tời đáy biển, có kinh nghiệm về sức cản kinh khủng của nước đẩy họ trồi lên, với sức mạnh cũng bằng và tương xứng với thể tích của họ. Họ trải nghiệm nguyên lý của Archimède mà không hay. Bất cứ ai cố gắng dìm mình dưới gương nước tĩnh lặng của những ảo tưởng của mình, tự làm bẽ mặt và biết chính mình thật ra là gì, người đó trải nghiệm sự thúc đẩy còn mạnh mẽ hơn của sự kiêu căng đưa anh ta lên, trồi lên, ở lại trên mặt nước. Chúng ta cũng đi tìm một viên ngọc quý, quý nhất có thể để dâng cho Thiên Chúa, Viên ngọc ấy có tên là: một tấm lòng “tan nát giày vò” (x. Tv 51,19).

Chúng ta phải làm gì để có một tâm hồn tan nát giày vò? Trước hết hãy nài xin Chúa Thánh Thần; rồi hãy từ bỏ những tự vệ và chống cự của chúng ta. Giờ đây hãy nhìn mình một lúc nếu đạt tới chỗ đó trong tấm gương lương tâm của chúng ta. Chỉ một mình chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Có nhiều kiêu căng, hư ảo, tự mãn, giả hình và khiêm nhường giả dối; trong hoàn cảnh này hay hoàn cảnh khác, trong thái độ này hay thái độ khác. Và có lẽ trong chính lúc này. Biết bao lần tỏ ra “cái tôi”! Thánh Bênađô tự nhủ: “Hãy xấu hổ hỡi tro bụi kiêu ngạo: Thiên Chúa hạ mình còn ngươi lại tôn dương mình sao?[36]” Trước ngài, Thánh Augustinô đã từng nói: “Chúa của bạn thì khiêm nhường, còn bạn lại kiêu căng ư?[37]

Trời đất đầy vinh quang Thiên Chúa, chỉ trừ tâm hồn con người, vì chứa đầy vinh quang của mình chứ không phải vinh quang của Thiên Chúa. Nó chỉ quan tâm đến mình, đến nỗi sử dụng ngay cả những sự vật dành cho Thiên Chúa để phục vụ cho vinh quang riêng của mình. Thậm chí sử dụng cả Thiên Chúa nữa! Tuy vậy “bạn có gì mà bạn đã không nhận lãnh?” (2Cr 4,7)

Để có một tâm hồn tan nát giày vò, một ngày nào đó phải trải nghiệm trường hợp bị bắt quả tang, như người phụ nữ trong Phúc âm bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, chị đứng đó, yên lặng cúi mặt xuống chờ đợi phán quyết (x. Ga 8,3 tt). Chúng ta là những người bị bắt quả tang ăn trộm vinh quang Thiên Chúa. Nếu khi ấy thay vì nghĩ phải trốn đi nơi khác, hoặc nổi giận tự nhủ: “Lời này chướng tai quá, ai mà nghe nổi?” (x. Ga 6,60), chúng ta cúi mặt đấm ngực và tự đáy lòng mà thưa lên như người thu thuế: “Lay Chúa, xin thương xót tôi là kẻ có tội!” (Lc 18,13), khi ấy sẽ bắt đầu có phép lạ về một tâm hồn tan nát giày vò. Cũng như người phụ nữ đứng trước việc kết án, chúng ta cảm nghiệm được niềm vui của ơn tha thứ. Chúng ta sẽ có một quả tim mới.

***

Đám đông chứng kiến cái chết của Đức Kitô “đều đấm ngực trở về” (x. Lc 23,48). Ước gì chúng ta có thể bắt chước họ thì tốt đẹp biết mấy. Tốt đẹp biết mấy nếu ở đây giữa chúng ta lại xảy ra cảnh ba ngàn người, ngày lễ Ngũ Tuần, cảm thấy “đau đớn trong lòng” khi nghĩ mình đã giết Đức Giêsu Nadarét, nên nói với Phêrô và các Tông Đồ khác: “Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?” (x. Cv 2,37). Đó sẽ thực sự là “noi theo điếu chúng ta cử hành”.

Một tấm lòng tan nát giày vò, đó là “một tế phẩm dâng cho Thiên Chúa” (Tv 51,19). Hôm nay, Giáo hội không cử hành Thánh lễ, vì lễ hy sinh của ngày hôm nay phải là lễ hy sinh của tâm hồn tan nát giày vò của chúng ta. Đức Chúa phán: “Trời là ngai của Ta, và đất là bệ dưới chân Ta. Các ngươi sẽ xây cho Ta nhà nào, và nơi nào sẽ là chốn Ta nghỉ ngơi? Tất cả những vật ấy, chính tay Ta đã làm. Tất cả những vật ấy đều là của Ta – sấm ngôn của Đức Chúa. Kẻ được Ta đoái nhìn, đó là người đau khổ, người có tâm hồn tan nát” (Is 66,1-2) Một tâm hồn tan nát, đó là thiên đàng dưới đất, là căn nhà Thiên Chúa thích chọn làm nơi Ngài ngự và mạc khải những bí mật của Ngài (x. Ga 14,21.23).

Mọi biến cố bên ngoài, dù lớn lao mấy đi nữa – kể cả những biến cố vừa mới trải qua hoặc chúng ta đang sống hôm nay, với sự sụp đổ của các nước Cộng sản Đông Âu – đều hàm hồ, và không ai có thể biết trước là mai kia sẽ vui mừng hay hối hận vì điều đó. Nhưng một tâm hồn tan nát và hoán cải thì không. Trước mặt Thiên Chúa, đó là điều xảy ra quan trọng nhất trên mặt đất, một sự mới mẻ tuyệt đối.

***

Giờ đây, ít nhất bằng ý muốn, chúng ta đã đặt tất cả sự kiêu căng của chúng ta dưới chân thập giá, chúng ta còn phải vắn tắt làm một việc khác: mặc lấy sự khiêm nhường của Đức Kitô. “Ta sẽ cho sót lại giữa ngươi một dân nghèo hèn và bé nhỏ; số dân còn sót lại nơi Israel sẽ tìm nương ẩn nơi danh Đức Chúa” (Xp 3,12-13). Trên thập giá, Đức Kitô đã bắt đầu cho dân nghèo hèn và bé nhỏ này, đã tin tưởng vào Chúa, được tồn tại; giờ đây, chính chúng ta phải bắt đầu dự phần thực tế vào dân đó, cũng như chúng ta đã dự phần theo luật vào dân đó nhờ phép Rửa Tội.

Trong Phúc âm Đức Giêsu nói: “Hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” (Mt 11,29) Đức Giêsu đã làm gì để nói là mình khiêm nhường. Phải chăng Ngài muốn hạ giá mình hay tự hạ giá mình, khi nói về mình? Ngược lại, Ngài đã công bố mình là “Thầy và là Chúa” (Ga 13,13). Ngài đã nói là Ngài còn hơn cả Giona, Salomon, Abraham, (x. Ga 8,53; Mt 12, 41-42), hơn cả mọi người. Vậy Ngài đã làm gì? “Ngài đã mặc lấy thân nô lệ” (Pl 2,7). Ngài đã không coi mình là hèn mọn, không tuyên bố mình hèn mọn, nhưng làm cho mình thành hèn mọn và hèn mọn để phục vụ ta. Ngài là người đầu tiên biến mình thành “người rốt hết và phục vụ mọi người” (x. Mc 9,35). Đức Kitô không ngại làm hại cho thần tính của Ngài khi hạ mình làm người như những người khác.

Ngoài việc phục vụ, sự khiêm nhường của Đức Kitô còn được biểu hiện qua sự vâng phục. “Ngài đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2,8). Ở đây, khiêm nhường và vâng phục hầu như đồng nghĩa. Đức Giêsu trên thập giá thì khiêm nhường vì Ngài không cưỡng lại ý muốn của Chúa Cha. Ngài đã “trao lại cho Thiên Chúa quyền năng của Ngài”, Ngài đã chu toàn “mầu nhiệm của đạo thánh” cao cả nhất (x. 1Tm 3,16). Sự kiêu căng bị đập tan bởi sự tùng phục và vâng lời Thiên Chúa cũng như các quyền bính được Thiên Chúa thiết lập. Có những người suốt đời chỉ biết tranh luận với Thiên Chúa như thể coi mình ngang hàng với Ngài. Cuối cùng họ tin rằng họ có thể làm cho Thiên Chúa thất bại, vì họ đã làm cho con người và các bề trên của mình thất bại. Họ không bao giờ thực sự phục tùng và lụy phục Thiên Chúa. Chớ gì họ làm điều đó trước khi chết, nếu cuối cùng họ muốn cho tâm hồn mình được bình an. Chớ gì họ nhớ lại lời Kinh thánh viết: “Thật khủng khiếp khi phải rơi vào tay Thiên Chúa hằng sống!” (Dt 10,31), hiểu là chết trong tình trạng không hối cải.

***

Trên thập giá, Đức Giêsu không chỉ mạc khải hoặc thực hành sự khiêm nhường, Ngài còn tạo ra sự khiêm nhường ấy. Khiêm nhường thật sự, khiêm nhường Kitô giáo từ đây hệ tại ở chỗ tham dự vào tâm hồn của Đức Kitô trên thập giá. Thánh Tông Đồ nói: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu” (Pl 2,5). Có cùng những tâm tình đó, chứ không phải những tâm tình giông giống. Ngoài điều đó ra, người ta rất dễ coi là khiêm nhường những gì ngược lại với nó, hoặc những gì thuộc phẩm chất tự nhiên, hoặc sự nhút nhát, hoặc khuynh hướng thu mình lại, hoặc chỉ thuần túy là lương tri hay thông minh, khi không phải là một hình thức tế vi của kiêu ngạo.

Mặc lấy sự khiêm nhường của Đức Kitô, chúng ta sẽ dễ hoạt động cho sự hiệp nhất các Kitô hữu, chưa kể những chuyện khác, vì sự hiệp nhất và bình an là những yếu tố thường đi theo sự khiêm nhường. Những yếu tố đó cũng có trong đời sống gia đình. Hôn nhân phát sinh từ một hành vi khiêm nhường. Chàng thanh niên đang yêu, quỳ gối xuống, như phong tục ngày xưa, xin cưới cô thiếu nữ, tức là đang làm một hành vi khiêm nhường căn bản nhất trong cuộc đời mình. Anh ta trở thành người ăn xin, như thể muốn nói: “Hãy cho anh con người của em, vì con người của anh không đủ, anh không đủ cho chính anh”. Người ta hẳn sẽ nói Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ để họ học ăn ở khiêm nhường, ra khỏi mình, không kiêu kỳ cũng không tự cho mình là đủ, để họ khám phá ra hạnh phúc tùy thuộc vào người yêu họ. Thiên Chúa đã ghi khắc sự khiêm nhường tới tận da thịt của của chúng ta. Nhưng hỡi ôi! Biết bao lần sự kiêu căng lại chiếm ưu thế khiến người khác phải trả nhu cầu ban đầu mà người đó có về anh ta hay chị ta. Khi ấy một bức tường đáng sợ của sự kiêu căng và không thể thông cảm dập tắt mọi niềm vui được dựng lên giữa đàn ông và đàn bà. Chính cũng cho những cặp vợ chồng Kitô giáo mà lời mời gọi chiều nay được gửi tới cho họ, lời mời gọi đặt dưới chân thập giá tất cả mối oán giận, hòa giải với nhau bằng cách, nếu có thể, ngả vào vòng tay nhau, vì lòng yêu mến Đức Kitô, Đấng mà ngày hôm nay, trên thập giá, đã “tiêu diệt sự thù ghét” (x. Ep 2,16). Dưới chân thập giá, “dân khiêm nhường” đã được Đức Maria biểu thị, Đấng mà Công đồng Vatican II gọi là “người nữ đầu tiên giữa những người khiêm nhường và nghèo hèn của Chúa đang hết lòng tin tưởng chờ mong và nhận lãnh từ Ngài ơn cứu độ.[38]

Vì vậy, chúng ta dâng lên Mẹ lời cầu nguyện này: “Lạy Mẹ Maria, của đầu mùa của dân tộc khiêm nhường và số sót Israel, người nữ tỳ đau khổ bên cạnh Người Tôi Tớ đau khổ, là Evà mới vâng phục bên cạnh Ađam mới. Nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, xin cho chúng được Đức Giêsu ban ơn sống khiêm nhường. Xin dạy chúng con biết hạ mình dưới bàn tay quyền năng của Thiên Chúa, như Mẹ đã hạ mình. Amen.


XII. “ĐỨC GIÊSU KÊU MỘT TIẾNG LỚN, RỒI TRÚT LINH HỒN”

Các tác giả Phúc âm Matthêu và Maccô mô tả cái chết của Đức Giêsu như sau: “Đức Giêsu kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn” (Mt 27,50; Mc 15,37). Kraxas phonè megalè trong tiếng Hy Lạp, Clamans voce magna trong tiếng la tinh. Có một mầu nhiệm lớn trong tiếng kêu của Đức Giêsu lúc sinh thì, và chúng ta không thể bỏ qua. Nếu tiếng kêu này được phát ra, chính là để được thu lại nếu nó được viết trong Phúc âm, chính vì nó cũng là Phúc âm. Trong suốt cuộc đời của Đức Giêsu, tất cả những gì không nói ra hoặc không thể dùng lời nào để nói ra, đều hàm chứa trong tiếng kêu này. Qua đó, Đức Giêsu vét cạn tâm hồn Ngài tất cả những gì đã làm đầy nó trong cuộc sống của Ngài. Đó là một tiếng kêu xuyên qua các thế kỷ, to hơn mọi tiếng kêu của con người, cho dù đó là tiếng kêu từ chiến tranh, niềm vui hay thất vọng.

Không phải vì suy đoán mà tìm cách đi vào trong mầu nhiệm của tiếng kêu này và khám phá ra nội dung của nó. Có một lý do khách quan, thuộc tín điều cho phép làm chuyện này. Lý do đó là sự linh hứng Kinh thánh. “Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh hứng” (2Tm 3,16); “chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa.” (2Pr 1,21)

Vậy có người biết bí mật của tiếng kêu này: đó là Chúa Thánh Thần, Đấng đã “linh hứng” tất cả Kinh thánh. Người quen cắt nghĩa ở đây điều Người đã không cắt nghĩa ở chỗ khác; Người cắt nghĩa bằng những lời hiểu được những gì Người đã nói bằng “những tiếng rên siết khôn tả” ở chỗ khác (x. Rm 8,26). Người là tác giả duy nhất của tất cả Kinh thánh, vượt lên trên những tác giả nhân loại khác nhau của Người.

Thánh Tông Đồ nói: “Ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người? Cũng thế không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa.” (1Cr 2,11). Như vậy, không ai biết được những bí mật của Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí Đức Kitô, Đấng ở trong Ngài và, trong suốt cuộc đời của Ngài, đã là “bạn đồng hành chí thiết trong mọi sự[39]”. Đức Giêsu đã làm mọi sự “trong Thánh Thần”. Tất cả những gì Ngài nói là nói “trong Thánh Thần” (x. Lc 4,18; 10,21). Thậm chí tiếng kêu của Ngài trên thập giá là một tiếng kêu “trong Thánh Thần”, chứ không thuần túy là tiếng thét gào của người sắp chết.

Vậy “Chúng ta đã lãnh nhận Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta” (1Cr 2,12), kể cả những gì được tiếng kêu này ban cho.

***

Trong Thư Rôma thánh Tông Đồ viết: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” (Rm 5,5) Có một điều tôi đã chưa bao giờ để ý: qua những lời trên, Thánh Phaolô không quy chiếu tới tình yêu của Thiên Chúa cách chung chung, cũng không nói cách trừu tượng, nhưng tới một lúc cụ thể của tình yêu này, tới một biến cố lịch sử chính xác, mà ngài bắt đầu minh giải ngay. Bản văn cho biết tiếp: “Bởi vì, khi chúng ta còn là hạng người vô đạo, thì Đức Kitô đã chết vì chúng ta” (Rm 5,6). Liên từ “bởi vì – gar” chỉ ra rằng đây là một cách cắt nghĩa điều xảy ra trước; có mục đích cho thấy tình yêu này của Thiên Chúa lớn như thế nào mà Chúa Thánh Thần đã đổ vào lòng chúng ta.

Nhưng xét toàn bộ, chúng ta hãy nghe cho kỹ điều chính Thánh Thần nói qua miệng thánh Tông Đồ. Theo tôi, chúng ta đang đi vào vực thẳm từ đó vang lên tiếng kêu của Đức Kitô lúc hấp hối.

“Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Kitô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu thoát khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. Thật vậy nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của người phải chết, mà cho chúng ta được hòa giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta được hòa giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của người Con ấy.” (Rm 5,6-10)

Tiếng kêu của Đức Giêsu trên thập giá là tiếng kêu của người lâm bồn. Vào lúc này, Ngài sinh vào một thế giới mới. “Bức tường lớn ngăn cách” của tội lỗi đã bị hạ xuống, và việc hòa giải được thực hiện (x. Ep 2,14tt). Vậy đây vừa là tiếng kêu đau khổ vừa là tiếng kêu yêu thương. “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” (Ga 13,1) Ngài yêu thương họ đến hơi thở cuối cùng! Chúng ta hiểu tiếng kêu này của Đức Kitô chứa đầy sức mạnh thần linh nào, nhờ vào những gì nó kích thích nơi người nghe tại chỗ. Kinh thánh viết là viên sĩ quan đứng trước mặt Ngài, thấy Ngài tắt thở cách đó thì kêu lên: “Quả thực người này là Con Thiên Chúa!” (Mc 15,39) Ông trở thành tín hữu.

Không gì khác hơn là chúng ta phải đón nhận tiếng kêu yêu thương này, để nó chạm tới lòng dạ chúng ta, làm thay đổi chúng ta. Nếu không, những thứ Sáu tuần Thánh này qua đi vô ích. Đức Giêsu vừa thốt lên tiếng kêu lớn ấy thì “ngay lúc đó bức màn trướng trong Đền thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ. Mồ mả bật tung” (Mt 27,51-52). Chính là để chỉ ra những gì sẽ phải xẩy đến trong tâm hồn chúng ta. Thiên Chúa chẳng làm gì với đất đá. Chính những khối đá khác phải vỡ ra; đó là những “trái tim đá” của con người đã không bao giờ bị lay chuyển, không bao giờ khóc, không bao giờ hồi tâm.

Đức Giêsu biết rõ chỉ có một chìa khóa giúp mở những tâm hồn đóng kín, và không có lời trách móc nào, xét đoán nào, đe dọa nào, cũng không có sợ hãi nào, xấu hổ nào, không gì khác có thể giúp được. Chỉ có tình yêu mở các tâm hồn ra. Và đó là khí cụ Ngài đã dùng với chúng ta: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng tôi khi nghĩ rằng một người đã chết thay cho mọi người” (2Cr 5,14). Hạn từ được Thánh Phaolô dùng ở đây, sunechei, theo chiều vòng tròn có nghĩa là: bao quanh chúng ta tứ phía, bao vây chúng ta, bao bọc chúng ta; theo chiều đường thẳng có nghĩa: thúc bách chúng ta, không cho chúng ta ngưng nghỉ, urget nos, như bản Phổ thông dịch.

Chúng ta phải giữ cho lời sau đây gắn chặt lấy ta: “Tình yêu mãnh liệt như thử thần, lửa tình là ngọn lửa bừng cháy” (Dc 8,6). Chớ gì những ngọn lửa này bén vào chúng ta trong ngày thánh hôm nay, hoặc ít ra bén vào người nào đó trong chúng ta, khiến họ cuối cùng phó thác cho tình yêu của Thiên Chúa. Khi là về Thiên Chúa, thì để cho Ngài hiểu biết và chiếm đoạt mình quan trọng hơn là để mình hiểu biết. Những điều này, Thiên Chúa mạc khải cho những người bé mọn, nhưng lại giấu không cho người khôn ngoan thông thái được biết (x. Mt 11,25)

***

Thế nên chúng ta hãy dành thời giờ để suy nghĩ về tình yêu của Đức Kitô bao trùm lấy ta và thấm nhập vào tận nơi sâu thẳm của con người ta. Hãy phơi bày chúng ta cho tình yêu này, như cho mặt trời mùa hạ. Vậy tình yêu này của Đấng Cứu Thế có đặc tính nào?

Phẩm chất đầu tiên của nó là yêu kẻ thù của mình. “Ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa thì Người đã cho chúng ta được hòa giải với Người.” (x. Rm 5,10) Đức Giêsu đã nói là “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nhưng phải hiểu rõ hạn từ “bạn hữu” nói ở đây. Chính Ngài cho thấy có một tình yêu còn lớn hơn tình yêu đó, lớn hơn việc hy sinh tính mạng vì “bạn hữu” của mình: đó là yêu thương kẻ thù của mình (x. 5,44) và hy sinh tính mạng vì kẻ thù của mình. Thế, bạn hữu ở đây muốn nói gì? Không phải những người yêu bạn, nhưng là những người bạn yêu (Bạn theo nghĩa thụ động là “những người được yêu”, không theo nghĩa năng động là “những người yêu”). Đức Giêsu gọi Giuđa là bạn (x. Mt 26,50) không phải vì Giuđa yêu Ngài. (Ngài biết là hắn phản bội Ngài), nhưng vì Ngài yêu hắn. Và hạn từ “kẻ thù” muốn nói gì? Không phải những người bạn ghét, nhưng là những người ghét bạn (ngược với bạn hữu, kẻ thù theo nghĩa năng động là “những kẻ ghét”, không theo nghĩa thụ động là “những người bị ghét”). Thiên Chúa không thù ghét ai, và về phần Ngài, Ngài không coi ai là kẻ thù. Mọi con cái của Ngài tốt và xấu theo cùng một cách thức.

Chính là đỉnh điểm, ngọn núi Everest, của tình yêu. Tình yêu mà người ta không thể tưởng tượng là có một tình yêu nào lớn hơn trên thế giới. Chết cho kẻ thù, yêu kẻ ghét bạn, muốn hủy hoại bạn, thậm chí đang hủy hoại bạn! “Lạy Cha, xin tha cho họ!” (x. Lc 23,34). Và những kẻ thù này, chính là chúng ta. Chúng ta, những người tội lỗi, những người vô đạo, những người, kể từ Ađam, đã học biết hình thức tình yêu đáng sợ này, một tình yêu được gọi là ích kỷ: “yêu mình đến chỗ khinh mạn Thiên Chúa, nếu cần[40]”. “Chính người đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta […] Đức Chúa đã đổ trên đầu người tất cả tội lỗi của chúng ta […] và người chẳng hề mở miệng” (x. Is 53,4.6-7).

Lạy Đấng Cứu Chuộc chúng con, Chúa yêu chúng con biết mấy. Đừng để chúng con trở về nhà không biết lần thứ mấy, mà không hiểu biết mầu nhiệm ngày hôm nay. Xin làm cho cả chúng con nữa có thể vui mừng và cảm động thưa lên với Chúa: “Chúa đã lên tiếng kêu gọi, lạy Chúa, và tiếng Chúa đã phá vỡ sự điếc lác của con… Và giờ đây, trong tâm trạng mong ngóng chờ đợi, con khao khát hướng về Chúa[41]”. Chớ gì tiếng kêu của Chúa lúc sinh thì cũng phá vỡ sự điếc lác của chúng con. Trong một ngày như hôm nay, mấy thế kỷ trước, một nhà thần bí lớn[42] đang miệt mài suy niệm cuộc Khổ nạn của Đức Kitô thì nghe được những lời này trong tâm hồn, những lời đã trở thành nổi tiếng: “Ta đã yêu con, đó không phải là chuyện đùa!”

***

Phẩm chất thứ hai của tình yêu nơi Đấng Cứu Thế là một tình yêu hiện tại. Đây không phải là ngọn lửa đã tắt, không phải một sự việc của quá khứ cách nay đã hai ngàn năm và chỉ còn là một kỷ niệm. Tình yêu ấy đang trong hiện thể, đang sống động. Nếu cần, Đức Kitô sẽ còn chết cho chúng ta, vì tình yêu đưa Ngài đến chỗ chết vẫn còn kéo dài, không thay đổi. Đức Kitô nói với chúng ta bằng những lời mà, có một hôm, Ngài đã cho tín hữu Pascal nghe thấy:

“Ta là bạn hữu ngươi hơn bất cứ một bạn hữu nào khác. Ta đã làm cho ngươi hơn họ, họ sẽ không bao giờ chịu điều Ta đã chịu khổ vì ngươi, và cũng sẽ không bao giờ chết cho ngươi lúc ngươi bất trung và gian ác, như Ta đã chết và sẵn sàng chết cho các người Ta tuyển chọn[43]

Đức Giêsu đã đưa ra vô số dấu chỉ nói lên tình yêu của Ngài. Không gì còn có thể làm để bày tỏ tình yêu ấy, vì không có thử thách nào lớn hơn là hiến mạng sống mình. Nhưng nếu Ngài vét cạn những dấu chỉ tình yêu, thì tình yêu của Ngài không bị vét cạn. Giờ đây tình yêu của Ngài được phó thác cho một dấu chỉ đặc biệt, một dấu chỉ khác, một dấu chỉ là một thực tại, thậm chí là một ngôi vị: Chúa Thánh Thần. Tình yêu của Thiên Chúa – tình yêu này của Thiên Chúa mà giờ đây chúng ta được biết – “đã được đổ đầy vào lóng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà người ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Vậy đây là một tình yêu sống động, hiện tại và đang bập bùng: Chúa Thánh Thần.

Lúc mà các tác giả Phúc âm khác nói là Đức Giêsu “kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn” thì Gioan nói: “Người gục đầu xuống và trao Thần Khí” (Ga 19,30), có nghĩa là Ngài không chỉ trút hơi thở mà còn ban Thần Khí, Chúa Thánh Thần, Thần Khí của Ngài. Giờ đây chúng ta hiểu tiếng kêu của Chúa lúc sinh thì chứa đựng điều gì. Mầu nhiệm của Ngài cuối cùng được khai mở.

Chúng ta được sinh ra từ tiếng kêu đó. Những lời Thánh vịnh, trong thực tế, được áp dụng cho Đức Giêsu trên thập giá: “Kìa xứ Philitinh cùng xứ Cút, tại đó kẻ này người nọ đã sinh ra. Nhưng nói về Sion, thiên hạ bảo: người người sinh tại đó. Chúa ghi vào sổ bộ các dân: “kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó” (x. Tv 87, 4.5.6). Phải, tất cả đều sinh ra tại đó, ngay cả những người không biết điều ấy.

***

Phẩm chất thứ ba của tình yêu nơi Đấng Cứu Thế là một tình yêu cá nhân. Đức Kitô đã chết “vì chúng ta”, thánh Tông Đồ nói như vậy. Nếu chúng ta gán cho kiểu nói “vì chúng ta” một ý nghĩa tập thể mà thôi, kiểu nói đó mất đi điều gì đó thuộc nét cao cả của nó. Sự mất tương xứng về con số tái lập một sự tương xứng nào đó về giá trị. Thật sự Đức Giêsu là Đấng vô tội, còn chúng ta là tội nhân, Ngài là Thiên Chúa còn chúng ta là con người; nhưng dù sao Ngài cũng chỉ có một mình, còn chúng ta có hàng tỉ người. Nói một người chết để cứu mạng sống của hàng tỉ người có thể xem ra ít phóng đại hơn. Nhưng không phải như vậy. Ngài đã chết “vì chúng ta” có nghĩa là “vì mỗi chúng ta”. Theo nghĩa phân phối, không chỉ theo nghĩa tập thể. Ở chỗ khác, thánh Tông Đồ đã nói: “Ngài đã yêu tôi và đã hiến mạng vì tôi” (Gl 2,10).

Thế nên không phải một tập thể mà Ngài yêu, nhưng là từng cá nhân, từng người. Ngài cũng đã chết vì tôi, và tôi phải kết luận là Ngài cũng sẽ chết cùng một cách thức ấy, cho dù chỉ có mình tôi để cứu trên mặt đất này. Đây là một quả quyết thuộc đức tin. Tình yêu của Đức Kitô là một tình yêu vô biên, vì Ngài thuộc thần linh chứ không chỉ thuộc con người. (Đức Kitô cũng là Thiên Chúa, chúng ta đừng bao giờ được quên điều đó, dù một phút cũng đừng!) Nhưng vô biên không do các phần tạo nên. Nó là tất cả nơi tất cả. Hàng triệu hình thánh thể được truyền phép mỗi ngày trong Giáo hội, nhưng mỗi hình không chỉ chứa đựng một phần thân thể Đức Kitô, nhưng là tất cả Đức Kitô. Cũng vậy là tình yêu của Ngài. Có hàng tỉ người, nhưng không phải họ chia nhau mỗi người một phần nhỏ tình yêu của Ngài, nhưng là toàn thể tình yêu này. Tất cả tình yêu của Đức Kitô ở trong tôi, và điều đó phải gợi cho tôi niềm vui. Nhưng người anh em tôi cũng là đối tượng của tất cả tình yêu của Đức Kitô, và điều đó phải gợi ý cho tôi kính trọng, quý mến và bác ái với người đó.

Tôi cũng có thể nói: “Ngài đã yêu tôi, và đã hiến mạng vì tôi!” Ngài biết tên từng con chiên, Ngài gọi chúng “từng con một” (x. Ga 10,3) Không có ai chỉ thuần túy là con số đối với Ngài. Những lời của Thiên Chúa đọc thấy nơi tiên tri Isaia, vang lên mới mẻ và chân thực trên môi miệng Đức Kitô trên thập giá: “Đừng sợ, vì Ta đã chuộc ngươi về, đã gọi ngươi bằng chính tên ngươi, ngươi là của riêng Ta […] Vì trước mắt Ta, ngươi thật quý giá, vốn được Ta trân trọng và mến thương” (Is 43,1.4) Ngươi đáng được trân trọng, vì Ta thương mến ngươi: ở đây tất cả đều ở số ít. Những lời này êm dịu biết bao cho người thấy mình lầm than, bất xứng, bị mọi người bỏ rơi, dù họ ít can đảm mà tin vào điều đó.

Về điểm này, thánh Tông Đồ kêu lên: “Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Không, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8,35.38.39) Đấy là một khám phá có thể làm thay đổi đời sống của một người, là tin mừng mà chúng ta không bao giờ được mỏi mệt khi nói to cho con người ngày hôm nay. Một điều duy nhất bảo đảm và không lay chuyển trên thế giới này, chính là Thiên Chúa yêu thương chúng ta.

***

Tôi đã nói tiếng kêu của Đức Giêsu trên thập giá là tiếng kêu của người phụ nữ lúc lâm bồn. Nhưng là một tiếng kêu đặc biệt của lúc lâm bồn. Cách đây ít lâu, trong một chuyến ra nước ngoài, tôi được biết một trường hợp cảm động. Trong lúc một thiếu phụ trẻ chờ sinh con đầu lòng, người ta khám phá ra nơi nàng một khối u. Khi đi hóa trị ngay để làm ngưng khối u, chị được cảnh báo là chắc chắn sẽ mất đứa con. Phải chọn lựa. Bà con cũng như dư luận thúc ép chị cứu mạng mình, nói rằng chị sẽ có thể có những đứa con khác. Nhưng chị vẫn không lay chuyển và từ chối chữa trị. Chị đã trở thành một trường hợp cấp quốc gia, nhiều lần trở thành đối tượng cho báo chí và truyền hình, nhất là vì trong nước này, người ta đang tranh luận nhiều về việc phá thai. Để tránh tò mò, người thiếu phụ rời nước này, về ẩn nơi quê quán của cha mẹ. Ở đó, mấy ngày sau chị sinh con, một bé gái dễ thương, nhưng chị chết một tuần sau đó.

Tôi đã tự hỏi: một khi lớn lên, đứa trẻ sẽ cảm thấy gì khi biết điều đó? Đối với nó, mọi sự trong đời dường như là hư vô so với những gì mẹ nó đã làm. Đôi khi chúng ta bắt gặp những đứa trẻ vừa lọt lòng mẹ thì mẹ chết. Chúng không giống với những đứa khác. Chúng như mang một mầu nhiệm. Dường như chúng không biết cũng không muốn biết bất cứ điều gì, nhưng thực ra, chúng rất để ý thu góp mọi kỷ niệm và lời nói mà người ta nhắc lại về mẹ của chúng. Đối với chúng, người ta nổi bật theo cách họ nói về mẹ của chúng. Cái chết này được ghi nơi thẳm sâu con người của chúng. Chính từ cái chết đó mà chúng được sinh ra.

Chúng ta hãy là em bé gái này, hãy là những thụ tạo của một người mẹ chết! Trong Thánh lễ, linh mục đọc lời nguyện trước khi chịu lễ: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, theo ý Chúa Cha và với sự cộng tác của Chúa Thánh Thần, Chúa đã chết để ban cho thế gian được sống (per mortem tuam, mundum vivificasti)…” Tiếng kêu của Đức Kitô trên thập giá là tiếng kêu của người chết để ban cho thế gian được sống.

Dùng cách thức “một người mẹ” để giải thích sự Cứu Chuộc có một lợi điểm. Nó cho thấy một điều gì đó mới mẻ, sáp nhập và sửa chữa một phần nhãn quan “pháp lý” dựa trên ý tưởng về giá cứu chuộc. Trong trường hợp người mẹ chết cho con được sống, mối dây giữa cái chết của chị và sự sống của đứa con không phải là ngoại tại, nhưng nội tại. Nó không ở nơi một người khác – Chúa Cha – Đấng nhìn tới cái chết này mà ban sự sống; nhưng ở nơi chính tình yêu của Đấng ban sự sống. Sự sống thực sự phát sinh từ cái chết. “Ngài đã chết để ban cho thế gian được sống”. Nhưng chỉ giải thích này mà thôi cũng không đủ, nếu không có giải thích về sự “chuộc”. Là vì đứa con trước khi ra đời, không làm gì chống lại mẹ nó, nó không phải “kẻ thù”, cũng không “vô đạo” như chúng ta, ngược lại, chúng ta là kẻ thù, vô đạo trước khi Đức Kitô làm cho chúng ta được sống.

***

Trước mạc khải này về tình yêu của Đức Kitô, chúng ta đáp lại thế nào? Chúng ta đừng vội quyết định ngay và tìm cách đáp lại. Chúng ta sẽ không có khả năng đó, hơn nữa, đó không phải là chuyện quan trọng nhất phải làm ngày hôm nay. Có một chuyện phải làm trước tiên, một chuyện chứng tỏ chúng ta đã hiểu: xúc động. Đừng đánh giá thấp sự xúc động. Khi phát xuất từ tâm hồn và chính thực, xúc động là cách đáp lại thuyết phục nhất và xứng đáng nhất có thể có, trước mạc khải về một tình yêu lớn lao hoặc một nỗi đau buồn lớn lao. Khi xúc động, người ta trải nghiệm về việc không còn tự chủ được nữa. Người ta mở lòng ra cho người khác. Vì vậy người ta cảm thấy thẹn thùng về điều đó. Nhưng người ta không có quyền che giấu xúc động của mình trước người là đối tượng. Xúc động này thuộc về người đó, là của người đó, chính người đó đã gây ra, chính cho người đó mà nó được dành cho. Đức Giêsu đã không che giấu xúc động trước bà góa ở Naim (x. Lc 7,13), trước các chị của Ladarô, thậm chí Ngài còn “khóc” (Ga 11,35). Chẳng lẽ chúng ta lại xấu hổ khi bày tỏ xúc cảm của mình đối với Ngài sao?

Xúc động để làm gì? Nó quý giá, vì giống như nhát cuốc phá vỡ lớp đất cứng, và như vậy cho phép hạt giống chìm sâu dưới đất. Xúc động thường khởi đầu cho một sự hoán cải đích thực và một đời sống mới. Phải chăng chính chúng ta đã không bao giờ khóc – hoặc ít nhất muốn khóc – về cuộc Khổ nạn của Đức Kitô? Một số các thánh đã khóc đến mù mắt vì cuộc Khổ nạn này. Có ai hỏi Phanxicô Assisi vì sao ngài khóc nhiều, thì ngài trả lời: “Tôi khóc cho cuộc Khổ nạn của Chúa tôi”. Kinh thánh viết: “Chúng sẽ nhìn lên Đấng chúng đã đâm thâu […] Chúng sẽ thương tiếc như người ta tiếc con đầu lòng” (Dc 12,10; x. Ga 19,37). Đó không chỉ là một lời tiên tri, mà còn là một lời mời gọi, một lệnh truyền của Thiên Chúa.

Quá đủ nước mắt khóc cho chúng ta, những giọt nước mắt giả dối khóc thương chúng ta. Đã đến lúc đổ những giọt lệ khác. Những giọt lệ ngạc nhiên, vui mừng, biết ơn. Những giọt lệ xúc động hơn là những giọt lệ thống hối. Đó cũng là “tái sinh bởi nước” (x. Ga 3,3.5). Khi nghe nhắc lại cuộc Khổ nạn hoặc chính mình sửa soạn đọc bài Thương Khó, thử hỏi được bao nhiêu lần tôi đã nhớ lại câu thơ nổi tiếng của Dante, và lặp lại nó, lòng như giận dữ về chính tôi: “Nếu tôi không khóc, trái đất khóc về cái gì?[44]

Phụng vụ của Giáo hội nêu gương cho ta. Trong Đêm Vọng Phục Sinh, Giáo hội diễn tả sự xúc động của mình trong bài ca Exsultet: “Ôi lòng Chúa thương chúng ta thật lạ lùng! Ôi lòng Chúa thương yêu không thể đo lường được! Ôi tội hồng phúc, vì cho chúng ta đáng được Đấng Cứu Chuộc thật vĩ đại”. Chiều nay, chúng ta cũng lặp lại những lời trên đây, sau khi đã nhắc lại tiếng kêu của Đức Kitô sinh thì trên thập giá: “Ôi tội hồng phúc, vì cho chúng ta đáng được Đấng Cứu Chuộc thật vĩ đại”.


XIII. “ĐẾN NHƯ CHÍNH CON MỘT, THIÊN CHÚA CŨNG CHẲNG TIẾC”

Lời Chúa là một quà tặng ban cho chúng ta chiều nay: một quà tặng quá lớn đến nỗi tôi đã phải buồn bã khi nghĩ mình có thể làm nó hư hại, hoặc thậm chí sẽ không thể tránh làm cho nó hư hại. Vì vậy, tôi muốn dự phòng cho tôi khi trao lại tức khắc và toàn bộ món quà này. Tôi muốn xướng tên nó, đặt nó an toàn trong tâm hồn anh chị em, trước khi tình trạng đầy đủ của nó bị phân tán do tôi cố diễn dịch bằng những từ khác. Chúa Cha, Cha của Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô!

Tôi muốn hô lên tiếng đó bằng tấm lòng tinh tuyền và yêu mến, danh xưng “là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” (Ep 3,14-15). Chỉ mình Đức Giêsu có thể nói về Chúa Cha. Khi Ngài nói về Chúa Cha, mắt của các Tông Đồ mở to ra, họ như rất nhớ về Người và Philipphê đã nói: “Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện!” (Ga 14,8).

Nhưng sao lại nói về Chúa Cha trong ngày hôm nay là ngày Đức Kitô chịu chết? Thánh Phaolô viết: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.” (Rm 5,8) Ngài còn viết: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32). Một lời quả quyết gây ngạc nhiên. Theo như con người nghĩ, việc Đức Giêsu chết trên thập giá không cho thấy tình yêu của Chúa Cha, nhưng đúng hơn là sự ác độc của Người, hoặc ít nhất sự công bình khắt khe của Người. Thực tế sự hiểu biết về Chúa Cha như còn bị che giấu, ngay cả nơi những tín hữu, bởi vô vàn những thiên kiến của con người. Đức Giêsu hẳn còn có lý do để lặp lại ngày hôm nay: “Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha!” (Ga 17,25).

Khó khăn của việc dung hòa giữa sự tốt lành của Chúa Cha với cái chết của Đức Kitô là do hai loạt sự kiện. Một loạt thuộc lãnh vực thần học và chính chúng ta, những nhà thần học, những nhà giảng thuyết chịu trách nhiệm, nói rõ ra là như vậy. Trong quá khứ, đôi khi chúng ta đưa ra một hình ảnh về mầu nhiệm Cứu Chuộc được quan niệm ít nhiều bằng những từ như sau. Do tội lỗi, con người tích lũy một món nợ vô hạn đối với Thiên Chúa và Ngài đòi chúng ta phải trả. Thế là Đức Kitô Con Thiên Chúa làm người, vào cuộc, giải quyết món nợ to lớn này bằng cách đổ máu mình ra. Rồi một khi “được đền bồi” (một thuật ngữ nguy hiểm!), “được nguôi giận” (một thuật ngữ nguy hiểm khác), Chúa Cha tha thứ. Nhưng rõ ràng là những hình ảnh đậm chất pháp lý lạnh lùng ấy, với thời gian, chỉ có thể làm phát sinh một tình cảm ghê tởm thầm kín đối với Chúa Cha, Đấng ngự trên trời thản nhiên chờ đợi cái giá trả cho mình là máu của Con mình.

Loạt khó khăn thứ hai thuộc lãnh vực văn hóa, điển hình của thời đại chúng ta. Khoa tâm lý học có điều kiện thuận lợi đưa ra ánh sáng tất cả những lệch lạc tác động đến hình ảnh của người cha trong lãnh vực nhân văn: ý niệm xiển dương nam tính, ý niệm độc đoán, ý niệm cha chú, v.v. Người ta khẳng định nơi tâm hồn mọi con trai đều ẩn giấu một ước muốn âm thầm giết cha. Sự hoài nghi liên hệ tới người cha dưới đất cũng tác động đến Cha trên trời. Chính như vậy mà một trào lưu văn hóa hiện đại nghĩ là phải nhiệt tình đứng về phía Đức Giêsu chống lại Chúa Cha, đến độ phát minh ra cái gọi là “thần học về cái chết của Thiên Chúa”. Rốt cuộc, có thể nói nhân loại đã thực hiện được ước muốn thầm kín giết chết Chúa Cha.

***

Lý do chính của mọi nỗi oán hận này là sự đau khổ của con người, sự kiện con người chịu khổ còn Thiên Chúa thì không. Một số người cho rằng người ta không thể chấp nhận một Thiên Chúa để cho bao nhiêu trẻ em vô tội phải khổ. Và nếu người ta cố cho họ thấy là chính Đức Giêsu cũng đã chịu khổ, họ phản bác: “Chính Ngài là bằng chứng lớn nhất của chúng ta! Chắc chắn Ngài vô tội, tại sao Ngài đã phải chịu khổ?” Như vậy người ta đi tới tột đỉnh lầm lạc là đặt chính Đức Giêsu chống lại Cha Ngài, như một loại bằng chứng tố cáo trách nhiệm của Chúa Cha.

Chúng ta phải phản ứng như một người con rất thương cha sẽ phản ứng khi thấy cha bị xúc phạm. Chúng ta phải tái khám phá khuôn mặt thực của Chúa Cha, khuôn mặt yên lặng và bị che phủ, và không có lúc nào đẹp hơn ngày thứ Sáu tuần Thánh để làm việc đó. Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng: “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tiếc, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32). Trong Chúa nhật II mùa Chay năm B, phụng vụ của Giáo hội đọc đoạn này sau đoạn sách Sáng thế chương 22 nói về việc hiến tế Isaac, và có lẽ chính thánh Tông Đồ đã có ý định đặt gần nhau hai đoạn văn trên. Nhưng đoạn văn này nói về ai? Nói về Abraham. Quả thực Thiên Chúa đã nói với Abraham: “Bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của người, con một của ngươi, Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi […] Nơi ngươi mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (x. St 22,16-18).

Vậy ông già Abraham lầm lũi đi sau con trai mình là Isaac, hướng về núi Moria, là hình bóng và biểu tượng của một người cha khác. Ông là biểu tượng của Thiên Chúa Cha đồng hành với Đức Giêsu lên đồi Canvê. Lúc ra khỏi nhà Tiệc ly, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Anh em để Thầy cô độc một mình. Nhưng Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy.” (Ga 16,32)

Ai có thể tả lại được những tình cảm của Abraham khi dẫn con lên đồi nơi con sắp bị sát tế? Origen nói rằng thời khắc nguy kịch nhất cho Abraham là lúc đang đi đường, vì không biết mọi sự đã được chuẩn bị, Isaac thưa với cha: “Có lửa, có củi đây, còn chiên để làm lễ toàn thiêu đâu?” (St 22,7). Nó không biết lễ toàn thiêu là chính nó. Theo Origen, những tiếng “cha”, “thưa cha” chắc chắn là những tiếng thử thách cho Abraham. Và ông đã phải mạnh mẽ cầm mình như thế nào để không bị lộ và tháo lui! Cũng vậy khi ở vườn Ghếtsêmani Đức Giêsu kêu lên: “Abba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con” (Mc 14,36), ai có thể nói điều gì đã xảy ra trong lòng Chúa Cha? Chắc chắn Abraham muốn chết cả ngàn lần thay cho con hơn là giết con.

Vậy Cha trên trời và Con mình là Đức Giêsu luôn ở bên nhau trong cuộc Khổ nạn và trên thập giá. Không chỉ bị đóng đinh vào cánh tay gỗ thập giá, Đức Giêsu còn bị đóng đinh vào cánh tay của Chúa Cha, tức là vào ý muốn của Người. Và cũng như trong vĩnh cửu, từ sự ôm hôn khôn tả và hồng phúc của Chúa Cha và Chúa Con mà phát xuất Chúa Thánh Thần, là quà tặng của tình yêu hỗ tương giữa hai ngôi, cũng vậy, hiện tại trong thời gian, từ sự ôm hôn đau buồn của Chúa Cha và Chúa Con trên thập giá mà phát xuất Chúa Thánh Thần, là quà tặng của Chúa Cha và Chúa Con cho ta. Gục đầu xuống, Đức Giêsu “trao Thần Khí” (Ga 18,30).

***

Thế nhưng chúng ta tự hỏi: có được phép nói như vậy về Chúa Cha không? Phải chăng Thiên Chúa không phải là không thay đổi, không thể tiếp cận với đau khổ và vĩnh cửu sao? Các Kitô hữu sơ khai dễ dàng nói về những “Khổ nạn” và đau khổ nơi Thiên Chúa. Họ bảo: “Nếu Chúa Con chịu khổ, Chúa Cha cũng cùng chịu khổ. Làm sao Chúa Con có thể chịu khổ nếu Chúa Cha không cùng chịu khổ[45]”. “Chính Chúa Cha, Thiên Chúa của vũ trụ, giầu lòng bao dung, thương xót và nhân từ, lại không chịu khổ một cách nào sao? Hoặc có lẽ Người không biết rằng khi lo cho những việc của con người, Người phải chịu một cuộc Khổ nạn thuộc con người? Người chịu một Khổ nạn tình yêu[46]”. Thế mà chúng ta biết rằng Origen là một trong những Giáo Phụ nhiệt thành nhất trong việc bảo vệ những đặc quyền của Thiên Chúa và sự siêu việt của Ngài.

Cuộc Khổ nạn của Đức Kitô là sự bày tỏ trong lịch sử và như một loại thần hiện của cuộc Khổ nạn mầu nhiệm trong tâm hồn của Thiên Chúa. Chính cuộc Khổ nạn này đã làm cho Người phải kêu lên trong Cựu Ước qua những kiểu nói mà bài ca “Than trách” chúng ta cần lặp lại trong số những bài ca khác: “Dân Ta hỡi, Ta đã làm gì ngươi? Ta đã làm chi khiến ngươi phải phiền lòng? Hãy trả lời cho Ta!” (Mk 6,3). Đáp lại câu hỏi: “Tại sao Thiên Chúa chịu khổ?”, Người dùng những lời khởi đầu sách tiên tri Isaia trả lời cho chúng ta: “Ta đã nuôi nấng đàn con, cho chúng nên khôn lớn, nhưng chúng phản nghịch cùng Ta” (Is 1,2).

Chắc chắn sự đau khổ của Thiên Chúa khác hẳn sự đau khổ của chúng ta, vì sự đau khổ của chúng ta, trong một mức độ nào đó, mãi mãi là sự đau khổ phải chịu, bắt chịu, trong khi sự đau khổ của Thiên Chúa là hoàn toàn tự do, không đặt lại vấn đề về sự không thể biến chất và sự không thể thay đổi của Người. Đó là “cuộc Khổ nạn của Đấng không phải khổ”, như định nghĩa của một Giáo Phụ xưa[47].

Thiên Chúa của Kinh thánh là tình yêu và “trong tình yêu người ta không sống mà lại không phải khổ[48]”.

Tuy vậy, một lạc giáo mau chóng xuất hiện, thực tế làm sai lệch giáo thuyết về sự đồng khổ của Thiên Chúa. Nó phủ nhận mọi phân biệt giữa Cha và Con nơi Thiên Chúa; nói cách khác, phủ nhận Ba Ngôi. Theo những người lạc giáo này, Chúa Cha và Chúa Con là những danh xưng khác nhau của cùng một ngôi. Vì vậy họ được gọi là những người theo Khổ phụ thuyết, nghĩa là những người gán cho Thiên Chúa khả năng chịu khổ. Đó là một quan niệm hoàn toàn khác với chính thuyết, theo đó, Chúa Cha, tuy vẫn là Cha tức một ngôi riêng biệt, tham dự vào sự đau khổ của Chúa Con, vẫn là ngôi Con. Để khỏi là lý do gây ra sai lạc, người ta không muốn nói về sự đau khổ của Thiên Chúa nữa, vì lẽ văn hóa mới mà trong đó Giáo hội được mời gọi loan báo Phúc âm, tức văn hóa Hy Lạp, không công nhận một Thiên Chúa phải chịu khổ và tiếp xúc với lịch sử.

Nhưng với thời gian, mọi sự đang thay đổi, nhất là theo sau những kinh nghiệm mới mẻ và đáng sợ mà nhân loại đã trải qua về sự đau khổ. Những vị chăm chút nhất trong số các nhà thần học, nhất trí với Kinh thánh và với các Giáo Phụ xa xưa nhất, lại bắt đầu nói về sự đau khổ của Thiên Chúa. Một trong số các ngài viết về vấn đề này như sau: “Thế giới phải biết rằng: mạc khải của Thiên Chúa-Tình Yêu làm đảo lộn tất cả những gì đã hình dung về thiên tính[49]”. Trong Thông điệp của Đức Gioan Phaolô II về Chúa Thánh Thần[50], người ta đọc thấy theo cùng một ý nghĩa là “trong nhân tính của Đức Giêsu Cứu Thế, sự “đau khổ” của Thiên Chúa được thực hiện”.

***

Nhưng đâu là lý do cuối cùng của đau khổ này? Chúng ta có nên tưởng tượng, như một số triết gia Hy Lạp, là có một Tất Yếu, một Định Mệnh mà mọi người mọi vật phải phục tùng, ở trên chúng ta và trên ngay cả Thiên Chúa chăng? Không bao giờ! Thiên Chúa là Thiên Chúa, không có ai cũng không có gì ở trên Ngài. Vậy lý do là từ đâu? Có hai yếu tố cho ta biết điều đó: tình yêu của Thiên Chúa và sự tự do của con người. Cha mẹ trần gian đã chịu đựng những lầm lỗi và vô ơn của con cái (ngày nay điều này xảy ra quá nhiều!) biết việc con cái khinh dể cha mẹ nói lên điều gì. Thiên Chúa đã dự kiến cho con người một ý định lạ lùng về ân sủng. Nhưng rồi xảy ra tội lỗi; con người khước từ Thiên Chúa khi nói “Non serviam”, “tôi không làm tôi cho Ngài!” Tất cả rời bỏ nhà cha, như bao nhiêu đứa con hoang. Nhưng thực tế còn đẹp hơn trong dụ ngôn. Quả thực, trong trường hợp hiện nay, Con cả không ở yên trong nhà cha. “Con Một trong cung lòng Chúa Cha” (x. Ga 1,18) đã có khát vọng nồng cháy tìm thấy lại những người con tản mác của mình, và không đợi có lệnh như: “Con hãy đi và chết cho các anh em con”, nhưng hướng về Cha mà nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế…Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (x. Dt 10.5-7). Ý của Thiên Chúa là muốn cho mọi người được cứu độ (x. 1Tm 2,4).

Sự vâng phục hoàn hảo nhất là sự vâng phục đi trước lệnh truyền và vâng theo ước muốn nhỏ mọn nhất. Sự vâng phục của Đức Kitô là như thế. Thánh Tôma viết: Thiên Chúa đã trao nộp Con mình cho sự chết qua việc “gợi lên ý muốn chịu khổ vì chúng ta bằng việc truyền vào đó tình yêu[51]”. Thánh Bênađô nói: “Thiên Chúa Cha không đòi hỏi máu của Con mình, nhưng Ngài chấp nhận lễ dâng của con – Non requisivit Pater sanguinem Filii, sed accepit oblatum[52]”.

Chính từ đây vọt ra mầu nhiệm mà chúng ta cử hành chiều nay, từ giữa lòng Ba Ngôi; mầu nhiệm phát sinh từ tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta, và từ tình yêu của Chúa Con đối với Cha của Ngài. Lúc sắp ra khỏi nhà Tiệc ly, Đức Giêsu nói: “Để cho thế gian biết rằng Thầy yêu mến Chúa Cha, nào đứng dậy! Ta đi khỏi đây” (x. Ga 14,31). Cho nên chúng ta có lý do mà kêu lên qua lời của bài ca Exsultet: “Ôi Ân tình Cha thật kỳ diệu! Ôi Ân phúc Cha thật khôn lường! Để cứu dân lầm than nô lệ, Cha đã thí Con Một quý yêu.”

Kiểu nói “Thiên Chúa đã không tiếc Con của mình” có nghĩa Ngài không dành riêng cho mình người con ấy, không coi người con ấy như một kho tàng phải bo bo giữ lại. Chúa Cha không chỉ là Đấng nhận lễ hy sinh của Con, nhưng cũng là Đấng hy sinh ban cho chúng ta Con của mình! “Lậy Cha rất nhân từ, Cha đã yêu thương chúng con dường nào, đã không tiếc Con Một của mình, nhưng đã trao nộp cho chúng con là những người tội lỗi! Cha yêu thương chúng con biết bao![53]” Còn chúng ta, chúng ta lại tránh xa mặt Chúa, vì tưởng Chúa ghét chúng ta!

***

Nói cho một em nhỏ biết rằng cha nó yêu nó, bạn sẽ làm cho nó thành một con người mạnh mẽ, đầy tự tin, vui vẻ và tự do trong đời sống. Và đó chính là điều mà lời này của Chúa muốn làm cho chúng ta: trả lại cho ta sự tự tin này. Người ta chỉ có thể thắng nỗi cô đơn của con người trên thế giới bằng niềm tin vào tình yêu của Thiên Chúa là Cha. Một triết gia lớn đã viết: “Tình phụ tử của Thiên Chúa là chuyện duy nhất không thể lay chuyển của cuộc đời, là giao điểm đòn bảy của nó[54]”.

Hãy quan sát một em nhỏ được cha nó dắt tay đi chơi hoặc cầm cổ tay nó mà xoay vòng, bạn sẽ có hình ảnh của một sự hiên ngang, tự do và niềm vui. Tôi đã đọc ở đâu đó một ngày kia một người nhào lộn đang thực tập: ông cúi xuống khoảng không, từ lầu trên cùng của tòa nhà chọc trời, giữ thăng bằng trên gót chân, tay ông giữ tay con ông. Khi cả hai rơi xuống đất rồi, có người hỏi đứa trẻ xem có sợ không khi từ trên cao rơi vào khoảng không, và đứa trẻ ngạc nhiên về câu hỏi đã trả lời: “Không, em không sợ, cha em đã nắm tay em mà”.

Tôi lặp lại: chính như thế mà lời Chúa muốn cho chúng ta. Sau khi đã nhắc lại là Thiên Chúa đã không tiếc chính Con Một vì ta, Thánh Phaolô kêu lên một tiếng kêu vui mừng và chiến thắng: “Có Thiên Chúa bênh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta? Ai sẽ kết án chúng ta? Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa? Phải chăng là gian truân, khốn khó, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta!” (x. Rm 8,31-37). Như vậy, hết còn sợ hãi, hết còn thất vọng, hết còn nhát gan! Chúa Cha biết những điều ấy và Người yêu chúng ta, Đức Giêsu nói như thế! “Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: ‘Abba! Cha ơi!” (Rm 8,15)

Trước một tình yêu không hiểu nổi như thế, được một xung lực tự phát thúc đẩy, chúng ta hướng về Đức Giêsu mà cầu xin: “Lạy Chúa Giêsu, Chúa là anh cả của chúng con, xin hãy phán: chúng con có thể làm gì để xứng đáng, hoặc ít nhất nhận ra biết bao nhiêu đau buồn, tình yêu hải hà?” Và từ trên thập giá, Ngài trả lời cho chúng ta bằng hành vi chứ không bằng lời nói. Ngài bảo: “Có một điều các con không thể làm, mà chính Ta cũng đã làm khiến cho Chúa Cha được hạnh phúc: hãy phó thác nơi Người, hãy tin tưởng vào Người, ngược lại mọi sự, ngược lại mọi người, ngược lại chính anh em! Khi các con sống trong tối tăm, khi các khó khăn đe dọa bóp nghẹt các con, khiến các con sắp sửa đầu hàng, hãy trấn tĩnh lại và kêu lên: lạy Cha, con không hiểu được Cha nữa, nhưng con tin tưởng vào Cha! Và các con sẽ tìm lại được bình an.”

***

Trên thế giới hôm nay có một tình trạng đau khổ đặc biệt mà lời loan báo về Chúa Cha có thể làm giảm nhẹ. Khi mô tả sứ mệnh của Gioan, thiên thần báo tin cho Dacaria, cha của vị Tẩy Giả, cho biết sứ mệnh của Gioan sẽ như thế nào, khi thiên thần ám chỉ tới lời tiên tri Malaki: “Nó sẽ đưa tâm hồn cha ông trở lại với con cháu và đưa tâm hồn con cháu trở lại với cha ông” (Ml 3,24; Lc 1,17). Chúng ta cần làm mới lại việc hoán cải này. Kẻ có tên là diabolos, kẻ phá rối, phá ngang không chỉ làm cho dân này dân nọ chống lại nhau, giai cấp xã hội này chống lại giai cấp xã hội nọ, phái tính này chống lại phái tính kia, đàn ông chống lại đàn bà và đàn bà chống lại đàn ông; nó còn muốn phá rối thâm hơn nhiều: làm cho cha mẹ chống lại con cái và con cái chống lại cha mẹ. Sự kiện này trên thế giới gây ra đau khổ và buồn phiền biết mấy! Có bao nhiêu tội ác làm chúng ta không nói nên lời!

Chiều nay chúng ta tưởng niệm tình yêu thần linh của một người cha đối với một người con và của một người con đối với một người cha! Ước gì mầu nhiệm này đem lại cho Giáo hội và thế giới một ơn chữa lành, lại đưa tâm hồn của những người cha về với các người con và tâm hồn của những người con về với các người cha. Ước gì tình yêu này làm mủi lòng những tâm hồn cứng cỏi. Tông đồ Gioan viết cho các tín hữu thời ấy: “Hỡi các bậc phụ huynh, tôi viết cho anh em, vì anh em biết Đấng vẫn có từ lúc khởi đầu […] Hỡi anh em là những người con thơ bé, tôi đã viết cho anh em :anh em biết có Chúa Cha. Hỡi các bậc phụ huynh, tôi đã viết cho anh em: anh em biết Đấng vẫn có từ lúc khởi đầu.” 1Ga 2,13-14). Đến lượt tôi lúc này, tôi nói với anh em là những người cha, tôi nói với anh em là những người con. Phải trở về với Thiên Chúa để khỏi sa vào tay Ác thần, để tìm lại được niềm vui là một người đàn ông, một người đàn bà, một người cha hay một người mẹ, một con trai hay một con gái. Niềm vui hiện hữu ở đời, niềm vui được sống.

Kinh thánh viết là vào ngày thứ sáu của tuần lễ tạo dựng, Thiên Chúa ngắm nhìn những gì Ngài đã làm ra và Ngài thấy “quả là rất tốt đẹp” (St 1,31). Trong ngày thứ Sáu tuần Thánh hôm nay là ngày thứ sáu của tuần lễ tạo dựng mới, Thiên Chúa Cha nhìn tạo thành của Người, và thấy rằng, nhờ hy tế của con mình, mọi sự lại “rất tốt đẹp”. Một lần nữa, “công trình của Chúa làm Chúa được hân hoan” (Tv 104,31).

Nếu từ thế giới bệnh hoạn này vang lên tới trời bao nhiêu tiếng kêu phản loạn, bao nhiêu lời báng bổ, bao nhiêu lời nguyền rủa, thì trong ngày rất thánh này trong năm, chúng ta biến thành của chúng ta những lời của thánh Tông Đồ, và từ đáy lòng, chúng ta nhân danh mọi người trên trái đất này mà thưa lên: “Chúa tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (Ep 1,3). Chúc tụng Thiên Chúa Cha! Chúc tụng Người!


XIV. “VÀ NGƯỜI SẼ SỐNG LẠI TRONG VINH QUANG, ĐỂ PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT”

“Đức Giêsu Nadarét, họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy […] Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết.” (x. Cv 10,39-40.42)

Trình thuật cuộc Khổ nạn không ngừng cho chúng ta thấy một Đức Giêsu bị xét xử. Những vụ kiện chống lại Ngài gia tăng: Anna, Caipha, Philatô. Vẫn chưa hết. Viên tổng trấn rút lui, đám đông phân tán, tòa án trơ trọi, nhưng vụ án vẫn tiếp tục. Ngày nay Đức Giêsu Nadarét vẫn còn ở trung tâm của một vụ án. Các triết gia, sử gia, nhà làm phim, sinh viên thuần túy học thần học: tất cả đều cảm thấy mình có quyền xét xử con người, giáo thuyết, yêu sách thiên sai và Giáo hội của Ngài.

Nhưng như chúng ta vừa mới nghe, những lời của Phêrô và những lời của chính Đức Giêsu trước Hội đồng Do Thái bỗng vén lên như bức màn, cho chúng ta thoáng thấy một cảnh khác. “Từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến!” (Mt 26,64) Thật tương phản! Giờ đây mọi người đều ngồi, còn Ngài thì đứng, bị xiềng xích; còn khi đó, mọi người đều đứng và Ngài thì ngự bên hữu Thiên Chúa. Giờ đây con người và lịch sử xét xử Đức Kitô; còn khi đó Đức Kitô xét xử con người và lịch sử. Kể từ lúc Đấng Cứu Thế hoàn tất việc cứu độ khi chịu sát tế trên thập giá như một con chiên, Ngài trở thành Đấng xét xử toàn thể vũ trụ. Chính trước mặt Ngài mà người đứng vững hay sa ngã tự quyết định. Không có kháng cáo. Ngài là cấp xét xử cao nhất. Đó là niềm tin bất biến mà Giáo hội tiếp tục tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Và Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ không bao giờ cùng.”

***

Trong suốt hàng thiên niên kỷ sống trên trái đất, con người đã quen với mọi sự; họ đã thích nghi với mọi loại khí hậu, miễn nhiễm với mọi thứ bệnh tật. Nhưng có một điều họ đã không bao giờ làm quen được: sự bất công. Họ tiếp tục cảm thấy không thể chấp nhận nó. “Sự khao khát công lý và tín ngưỡng này hành hạ tạng phủ của hành tinh và thể hiện bằng những vụ phun trào và co giật, giống như những khúc cuộn và ruột kết của thiên nhiên có nguồn gốc từ các dãy núi.” Cũng như chúng ta cần lòng thương xót, cũng vậy, và có lẽ còn hơn, chúng ta cần công lý. Sự xét xử sẽ đáp ứng cho nhu cầu công lý này. Không chỉ có Thiên Chúa sẽ muốn sự xét xử này, mà một cách nghịch lý, cả con người và thậm chí người vô đạo cũng sẽ muốn. “Ngày tận thế, không chỉ Đấng xét xử từ trời xuống, mà tất cả trái đất dồn dập đến gặp Ngài[55]”.

Thứ Sáu tuần Thánh là dịp thuận tiện để làm sống lại chân lý về sự phán xét tối hậu, mà không có nó thì lịch sử và toàn thế giới đều không thể hiểu nổi, gây tai tiếng. Đối với du khách đến quảng trường thánh Phêrô, hàng cột của Bernini, thoạt nhìn, dường như hơi lộn xộn. Bốn hàng cột bao quanh quảng trường không đối xứng nhau, như một cánh rừng cây khổng lồ trồng ở đó được chăng hay chớ. Nhưng người ta biết có một chỗ, được đánh dấu bởi một vòng tròn trên mặt đất, và phải đứng ở giữa nó mà quan sát. Từ điểm quan sát này, cảnh sắc thay đổi hoàn toàn. Người ta thấy có sự hài hòa đáng kinh ngạc; bốn dãy cột thẳng hàng với nhau rất kỳ diệu, như thể chúng tạo nên một hàng duy nhất. Đó là một biểu tượng của những gì xảy ra trên quảng trường này, là nơi lớn hơn thế giới. Mọi sự ở đây dường như lộn xộn, phi lý, là kết quả của tình cờ hơn là của Thiên Chúa quan phòng.

Tác giả sách Giảng viên của Cựu Ước đã nhận xét thấy điều đó, ông nói: “Cùng một điều xảy ra cho người công chính lẫn người vô đạo […]. Tôi nhận ra rằng dưới ánh mặt trời, sự gian ác chiếm chỗ của sự ngay thẳng và sự vô đạo chiếm chỗ của sự công chính.” (Gv 3,16; 9,3) Quả thực thời kỳ nào người ta cũng thấy sự gian ác chiến thắng và sự vô tội thất bại. Nhưng như Bossuet nhận xét: tại sao người ta không tin rằng trên thế giới có một sự gì đó vững bền và bảo đảm? Tuy vậy, đôi khi người ta nhận thấy điều ngược lại, tức là: sự vô tội lên ngôi và sự gian ác bị treo cổ. Tác giả sách Giảng viên kết luận thế nào về tất cả những điều ấy? “Và tôi tự nhủ: người công chính cũng như kẻ gian ác đều sẽ bị Thiên Chúa xét xử, vì mọi sự mọi việc đều có thời có lúc.” (Gv 3,17) Chính như vậy mà ông cũng đã khám phá ra góc tốt của viễn ảnh: sự phán xét tối hậu.

***

Kinh thánh nói: “Con người phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9,27). Nhìn dưới góc độ này, những thăng trầm của con người thay đổi dáng vẻ biết bao, kể cả những thăng trầm của thế giới chúng ta hôm nay. Hàng ngày chúng ta thấy những hành vi tàn bạo đối với những người yếu đuối và những người không được bảo vệ, mà không bị hình phạt nào. Chúng ta thấy những bị cáo phạm những tội ác tầy đình tự bào chữa, miệng vẫn có thể cười được, thấy các thẩm phán và tòa án phải thất bại vì thiếu bằng chứng. Như thể khi tỏ ra đầy tự tin trước nền công lý của con người, họ đã giải quyết được mọi sự. Các bạn thật tội nghiệp, các bạn đã không làm gì. Sự xét xử đích thực còn phải bắt đầu. Dù các bạn sẽ kết thúc những ngày sống của mình trong tự do, được kính sợ, được vinh hạnh, thậm chí được chôn cất với mọi nghi lễ long trọng, sau khi đã hiến những tặng vật lớn lao cho các công cuộc từ thiện, bạn cũng sẽ không làm được gì. Vị thẩm phán đích thực chờ đợi bạn ở lối ra, và bạn không làm lối ra đó cho ngài. Thiên Chúa không để mình bị mua chuộc. Trong tình trạng này, thật khủng khiếp khi phải “rơi vào tay Thiên Chúa hằng sống” (Dt 10,31).

Chúng ta biết cuộc xét xử sẽ diễn tiến như thế nào: “Rồi Đức Vua sẽ phán với những người ở bên trái rằng: ‘Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói các người đã không cho ăn; Ta khát các người đã không cho uống; Ta là khách lạ các ngươi đã không tiếp rước; Ta trnầ truồng các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù các ngươi đã chẳng thăm viếng.” (Mt 25,41-43) Sẽ xảy ra điều gì cho những ai không những đã không cho người đói ăn, mà còn bóc lột họ; những ai không những đã không tiếp rước khách lạ, mà còn biến họ thành kẻ lang thang, khốn cùng; những ai không những không thăm viếng tù nhân, mà còn bỏ tù, giam giữ, hành hạ, giết chết họ cách bất công?

***

Tuy nhiên cũng có những sự kiện khác trong xã hội chúng ta liên hệ đến mọi người. Gần đây chúng ta đã thấy làm sao có thể xuất hiện một cảm tưởng chung về chuyện không bị trừng trị, đối với người sẽ vi phạm luật nhất, tham nhũng hoặc ăn hối lộ nhất, lấy lý do tất cả đều làm như vậy, viện cớ đó là thực tiễn chung, là hệ thống. Nhưng trong khi chờ đợi, luật đã không bao giờ bị hủy bỏ. Và một ngày nào đó có người bắt đầu làm cuộc điều tra, và chính là một đống đổ vỡ.

Lúc này người ta chỉ nói về điều ấy. Nhưng ai có giờ suy nghĩ về việc, trên thực tế, là tình trạng trong đó tất cả chúng ta đang sống một chút, bị nghi ngờ và là người điều tra, trước luật của Thiên Chúa? Những điều răn của Thiên Chúa bị vi phạm trắng trợn, hết điều răn này đến điều răn khác, kể cả điều răn cấm giết người, lấy lý do là mọi người đều làm như vậy, cả văn hóa, tiến bộ, thậm chí luật của con người, từ nay cũng đồng tình với việc đó. Nhưng Thiên Chúa đã không bao giờ có ý hủy bỏ cả các điều răn lẫn Phúc âm, và cảm tưởng chung không bị trừng trị hoàn toàn là do tưởng tượng; đó là một sai lầm đáng sợ. Điều đang xảy ra trước mắt chúng ta (chiến dịch “những bàn tay sạch”) chỉ là một hình ảnh mờ nhạt của một cuộc điều tra khác, kịch tính hơn, đè nặng trên đầu từng người. Nhưng ai quan tâm đến điều ấy?

Trên bình diện con người, chúng ta tức tối phản ứng lại giả thuyết về một “cú xóa sạch” hủy bỏ mọi trách nhiệm hình sự, nhưng rồi chính việc đó mà chúng ta đòi hỏi nơi Thiên Chúa trên bình diện thiêng liêng: một cú xóa sạch mọi sự. Thiên Chúa nhân từ không đủ cho chúng ta, chúng ta còn muốn một Thiên Chúa bất công, bảo lãnh cho sự bất công và tội lỗi. Thiên Chúa quá tốt lành – như người ta nói – đến nỗi tha thứ cho mọi sự, nếu không thì đó là Thiên Chúa nào vậy? Không nghĩ rằng nếu Thiên Chúa hạ mình thỏa hiệp với tội lỗi, sự phân biệt giữa thiện và ác sẽ không còn nữa, và cùng với nó, toàn thể vũ trụ sẽ tiêu ma.

***

Chúng ta không được để cho những lời các thế hệ trước chuyển đạt lại cho chúng ta rơi vào quên lãng: “Dies irae, dies illa”, ngày ấy ngày thịnh nộ…Sẽ có điều gì đó phải run sợ, khi vị Thẩm Phán sẽ xuất hiện nghiêm khắc sàng lọc mọi sự – Liber scriptus proferetur, một cuốn sách sẽ mở ra, mọi sự chứa đựng trong đó, thế giới sẽ bị xét xử dựa trên đó.” Cuốn sách nào? Trước hết đó là “sách được viết”, là Kinh thánh, Lời Thiên Chúa. “Chính lời tôi đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết” (Ga 12,48). Rồi, đặc biệt cho những người không biết Đức Kitô, cuốn sách là lương tâm cá nhân của họ. Một cuốn sách, giống như một cuốn nhật ký thân mật, ra khỏi mồ cùng với con người. “Khi ấy, mọi sự bí mật sẽ được tiết lộ, không có gì mà không bị phạt – nil inultum remanebit.” Đó sẽ là hồi kết của mọi cuộc phản động của con người. Sẽ không còn hòn đá nào chồng lên hòn đá nào, không còn gì hết.

Điều gì xảy ra cho dân Kitô giáo? Từng có thời người ta nghe những lời trên với sự sợ hãi mà có ích. Ngày nay, người ta đến nhà hát để nghe “Bộ lễ Requiem” của Verdi hay của Mozart, người ta say mê những nốt nhạc của bài “Dies irae”. Người ta ra về, miệng còn nghêu ngao bài ca, thậm chí còn lắc lư đầu gõ nhịp. Nhưng việc cuối cùng mà mỗi người nghĩ tới là những lời trên liên hệ đến cá nhân họ, và người ta cũng đang nói về họ.

Hoặc người ta vào trong nhà nguyện Sistine ở Vatican; ngồi xuống ghế ngắm nhìn bức vẽ “Cuộc phán xét cuối cùng” của Michelangelo, mà thở hổn hển. Nhưng chỉ là vì sự miêu tả của bức vẽ, chứ không phải thực tại được miêu tả! Người ngoại tình, người tham lam, kẻ phạm thánh, chính họ cũng ngồi đấy trao đổi bình luận với người bên cạnh. Nhưng một trong những khuôn mặt ấy với đôi mắt kinh hoàng có điều gì đó muốn nói với anh ta, điều đó thậm chí không thoáng qua tâm trí anh ta. Michelangelo đã bị khuất phục bởi thực tại (“Nào những kẻ được chúc phúc, hãy đến hưởng. Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt” x. Mt 25,34.41), còn chúng ta, ngược lại, chúng ta hài lòng với sự miêu tả.

***

Người ta nói nhiều về sự phục chế bức tranh “Cuộc phán xét cuối cùng” của Michelangelo. Nhưng có một cuộc phán xét chung khác cần phải nhanh chóng phục hồi: bức vẽ không phải trên những bức tường bằng gạch nhưng trong tâm hồn người Kitô hữu. Là vì bức vẽ kia đã hoàn toàn phai mầu và đang bị biến dạng. “Thế giới bên kia (và cùng với nó là cuộc phán xét) đã trở thành trò đùa, một đòi hỏi bấp bênh đến mức người ta thậm chí còn thích thú khi nghĩ rằng đã có lúc ý tưởng này biến đổi toàn bộ cuộc sống[56]”. Trong một số vương cung thánh đường xưa, cuộc phán xét chung không được vẽ trước mặt tín hữu, nhưng trên bức tường cuối nhà thờ, sau lưng cộng đoàn. Người ra khỏi nhà thờ nhìn cảnh tượng này, mang theo với họ khi trở lại với thế giới bên ngoài. Ý tưởng phán xét thực sự lên khuôn tất cả đời sống của họ.

Khi tôi còn nhỏ, tôi đã thấy một cảnh phim mà tôi đã không bao giờ quên. Một chiếc cầu đường sắt bị sập trên một con sông nước đang lên cao; những đoạn đường sắt treo ở hai bên đầu cầu. Người canh ngã đường sắt gần nhất chạy vội về phía chiếc xe lửa đang lao đến với hết tốc độ, vào lúc hoàng hôn và, đứng giữa hai đường sắt, vừa lắc chiếc đèn bão vừa tuyệt vọng kêu to: “Dừng lại! Dừng lại! Lui lại! Lui lại!

Chiếc xe lửa đó, chính là chúng ta. Nó là hình ảnh của một xã hội đang đi tới mà vô tư, theo nhịp Rock’n roll, say sưa với những cuộc chinh phục của mình, mà không biết điều gì đang chờ đợi mình. Giáo hội phải làm như người canh kia: lặp lại những lời Đức Giêsu đã nói ngày xưa khi biết tai họa xẩy đến khiến nhiều người thiệt mạng: “Nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.” (Lc 13,5) hoặc lấy lại theo ý mình những lời các tiên tri đã lặp lại thời các ngài: “Hãy trở lại! Hãy quẳng khỏi các ngươi mọi tội phản nghịch các ngươi đã phạm. Hỡi nhà Israel, tại sao các ngươi lại muốn chết?” (x. Ed 18,31).

Có người có thể cố yên tâm nghĩ rằng dầu sao ngày phán xét còn xa, có lẽ cả hàng triệu năm nữa. Nhưng cũng chính Đức Giêsu còn trả lời cho người đó trong Phúc âm: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (Lc 12,20). Thực sự, “Vị Thẩm Phán đang đứng ngoài cửa” (Gc 5,9). Người ta vừa tắt thở là Ngài có mặt. Một tia chớp và sự thật bày ra trên mọi sự. Thần học gọi đó là “phán xét riêng”, nhưng nó vĩnh viễn. Không còn cơ hội sửa chữa.

***

Ở cấp độ này, cần phải đánh tan một sự hiểu lầm. Hồi chuông báo tử cho ai? Ai bị cáo giác bởi lời này về việc phán xét? Phải chăng chỉ những người vô tín, người ở bên ngoài? Chắc chắn không phải. Tông đồ Phêrô nói: “Bởi lẽ thời phán xét đã đến, bắt đầu từ nhà của Thiên Chúa. Nếu việc đó bắt đầu từ chúng ta, thì số phận cuối cùng của những kẻ từ chối không chịu tin vào Tin Mừng của Thiên Chúa sẽ ra sao?” (1Pr 4,17).

Vậy việc phán xét bắt đầu từ Giáo hội. Và thậm chí, người đã nhận nhiều hơn sẽ bị đòi hỏi nhiều hơn. Trong Giáo hội cũng có những người không phục vụ Thiên Chúa, nhưng lợi dụng Thiên Chúa. Khi ấy sẽ là dấu chấm hết cho mọi phân biệt, kể cả giữa “Giáo hội giảng dạy” và Giáo hội thụ huấn”, giữa mục tử và bầy chiên. Sẽ chỉ có chỗ cho sự phân biệt duy nhất giữa chiên và dê, nghĩa là giữa người công chính và người bị phạt đời đời. Thế nên, hồi chuông hay tiếng kèn báo tử là cho mọi người, “Thiên Chúa không thiên vị ai” (Rm 2,11). “Tất cả chúng ra đều phải được đưa ra trước tòa Chúa Kitô” (2Cr 5,10).

Trong Phúc âm Matthêu, chúng ta đọc thấy các vị thượng tế thu ba mươi đồng tiền mà Giuđa đã ném vào Đền Thờ, và nói: “Không được phép bỏ vào quỹ Đền Thờ, vì đây là giá máu.” (Mt 27,6) Tôi e rằng ở đâu đó, những người khác là chúng ta, những linh mục của Giáo hội, đã không lưu ý đủ, và tiền bạc cũng như những của dâng cúng đã không kết thúc trong kho tàng của Đền Thờ mà chúng ta không biết, chúng cũng là “giá máu”. Như vậy, không những cuộc phán xét cuối cùng, mà ngay cả cuộc phán xét hiện nay phải bắt đầu từ nhà Thiên Chúa.

***

Tại sao có lời kêu gọi khắc khổ này trong phụng vụ Thứ Sáu tuần Thánh? Bởi vì việc phán xét đã được thi hành trước bởi cái chết của Đức Giêsu. Chính Ngài đã nói khi lễ Vượt Qua đang đến gần: “Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này” (Ga 12,31). Sự phán xét cuối cùng chỉ là mạc khải và áp dụng sự phán xét không thể thu hồi này, sự phán xét về tiếng “không” tuyệt đối mà Thiên Chúa đã nói về tất cả những tội lỗi thế gian. Đến độ từ nay có một phương tiện bảo đảm để tránh sự phán xét sẽ xảy ra và bảo đảm trước một lối thoát thuận lợi, nếu muốn: phương tiện đó là lụy phục sự phán xét của thập giá. Vị Thẩm Phán sẽ đến giờ đây đang ở trước mặt ta như là Đấng Cứu Thế và là Vua. Có một sự khác biệt chủ yếu giữa ông vua và quan tòa. Ông vua có thể tha thứ nếu muốn, vì đó là quyền của ông; ngược lại quan tòa phải xử công bằng, dù muốn hay không, vì đó là bổn phận của ông.

Đức Giêsu đã “xóa sổ nợ bất lợi cho chúng ta, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá” (Cl 2,14). Vậy hãy ném vào cánh tay của Đấng bị đóng đinh mọi tội lỗi chúng ta phạm, “sổ nợ” mà chúng ta mang trong con người của chúng ta, sẵn sàng tố cáo chúng ta. Đừng có ai trở lại với mình với ý muốn tiếp tục phạm tội, mà lòng không ăn năn hối cải. Chúng ta hãy tự phán xét mình, để khỏi bị Thiên Chúa phán xét. Ai tự tố cáo mình, Thiên Chúa sẽ không tố cáo nó. Ai không tố cáo mình, Thiên Chúa sẽ tố cáo nó. Hãy để lại ở đây, trên đồi Canvê này, mọi phản loạn, mọi oán hận, mọi thói quen không trong sạch, mọi ham hố, mọi ghen tương, mọi ý muốn tự mình xét xử lấy mình. Hãy tha thứ cho nhau, vì có lời chép: “Thiên Chúa không biết thương xót khi xét xử kẻ không biết thương xót” (Gc 2,13). Chúng ta hãy làm cuộc Vượt Qua, khi vượt qua Biển Đỏ mới là máu Đức Kitô.

Lời mời gọi được trao gửi cho mọi người, ngay cả cho những người mà xã hội – tôi không biết theo luật nào – định nghĩa là “thú dữ”. Cùng với Đức Giêsu trên đồi Canvê có hai tên cướp: một chết khi phỉ báng Ngài, một xin Ngài tha thứ. Ngay cả ngày hôm nay, nhớ đến người thứ nhất là đối tượng làm ta ghê sợ, nhớ đến người thứ hai là đối tượng của chúc phúc và hy vọng. Ngày hôm nay người nào có khả năng chọn mình trong tương lai sẽ là ai trong hai, cho con cái mình, cho xã hội và cho lịch sử. Thiên Chúa chờ đợi bạn để tỏ cho thấy nơi bạn quyền năng ân sủng của Ngài. “Trên trời ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn hối cải. (Lc 15,7.10). Nhưng ai thật sự sám hối vì đã xúc phạm tới Thiên Chúa và làm tổn thương xã hội; và không phải chỉ để được tha phạt. Hãy làm cho Thiên Chúa có niềm vui này. Với Đức Giêsu Kitô, không ai còn nói điều Cain đã nói sau khi đã giết Abilê: “Tội của tôi quá nặng nên không thể tha thứ” (x. St 4,13).

***

Trong bài “Dies irae” người ta thấy ở một chỗ có sự đổi giọng: run sợ biến thành một kinh nguyện thống hối dường như được viết cho ngày này trong năm: “Recordare, Jesu pie, quod sum causa tuae viae – Lạy Chúa Giêsu nhân từ, xin hãy nhớ rằng chính vì con mà Chúa đã đến thế gian. Đừng phạt con trong ngày hôm nay. Chúa đã chuộc con khi bước lên thánh giá: chớ gì một sự đau lớn lớn lao như thế không bị bỏ phí – Rex tremendae majestatis, qui salvandos salvas gratis salva me, fons pietatis – Lạy Vua đáng kinh sợ vì uy phong của Ngài, Đấng cứu độ ban không những ai được cứu, xin cứu độ con, lạy nguồn mạch thương xót!” Xin cứu tất cả chúng con khi Chúa lại đến trong vinh quang, để phán xét kẻ sống và kẻ chết.


XV. “ĐỨC KITÔ ĐÃ YÊU THƯƠNG HỘI THÁNH, VÀ HIẾN MÌNH VÌ HỘI THÁNH”

Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người, tức thì máu cùng nước chảy ra.” (Ga 19,34). Suy nghĩ về những lời trên đây, có một lúc Giáo hội như bị một mạc khải làm cho choáng váng. Thánh Gioan Kim Khẩu kêu lên:

“Bạn thân mến, đừng vội đi bên rìa mầu nhiệm này, vì tôi có một cách giải thích thần bí để trình bày cho bạn. Máu và nước này là biểu tượng của phép rửa tội và phép Thánh Thể, từ đó Giáo hội đã được sinh ra. Chính từ cạnh sườn của Đức Kitô mà Giáo hội được hình thành, như Evà đã được hình thành từ cạnh sườn Ađam… Và cũng như Evà được lấy ra từ cạnh sườn Ađam lúc ông đang ngủ, cũng vậy Đức Kitô đã ban máu và nước sau khi chết. Như vậy cái chết lúc này là giấc ngủ khi ấy. Bạn hãy xem Đức Kitô đã gắn bó với hiền thê của mình như thế nào?[57]”.

Bên Tây phương, Thánh Augustinô cũng làm vọng lại những lời trên đây:

“Người đàn bà đầu tiên hình thành từ cạnh sườn của người đàn ông đang ngủ, và bà đã được gọi là sự sống và là mẹ của các người sống. Ở đây, Ađam thứ hai, khi gục đầu xuống, ngủ trên thập giá, để như thế hiền thê của mình hình thành từ máu và nước vọt ra từ cạnh sườn của mình[58]”.

Tất cả những điều đó giúp cho chúng ta thấy, trong một ánh sáng mới mẻ, phụng vụ chúng ta đang cử hành. Thoạt nhìn, người ta hẳn có thể nghĩ là phụng vụ ngày thứ Sáu tuần Thánh thuộc loại thrènes, tức những bài thán ca đọc lên khi có người chết hoặc dựa vào một người chết; hoặc thuộc loại épinicte, qua đó người ta mừng một cuộc chiến thắng. Có điều gì đó đúng trong cả hai cách giải thích: chúng ta khóc thương một cái chết và cử hành một cuộc chiến thắng, vì trên thập giá, “Sư tử xuất thân từ chi tộc Giuđa đã chiến thắng (enikèsen)” (Kh 5,5).

Tuy vậy phụng vụ thứ Sáu tuần Thánh đặc biệt là một épithalame, một bài ca hôn lễ. Trong Kinh thánh, có một Thánh vịnh mang tựa đề “Bài ca mừng hôn lễ Quân Vương”, được sáng tác cho hôn lễ của hoàng tử và hoàng hậu, mà truyền thống áp dụng cho Đức Kitô và Giáo hội. Thánh vịnh mở đầu như sau: “Lòng trào dâng những lời cẩm tú, miệng ngâm thơ mừng chúc thánh quân” (Tv 45,2). Có lời chép về quân vương: “Giữa thế nhân, ngài vô song tuyệt mỹ” (Tv 45,3), về hoàng hậu: “Tôn nương hỡi, xin hãy nghe nào, đưa mắt nhìn và hãy lắng tai, quên dân tộc quên đi nhà thân phụ. Sắc nước hương trời Quân Vương sủng ái” (Tv 45,11-12). Trong cả bài ca này, người ta nói về vẻ đẹp.

Tuy vậy, trong Tân Ước cũng có một bài ca hôn lễ, cố ý viết cho tân hôn của Đức Kitô và Giáo hội. Đó là Thư gửi tín hữu Ephêsô. Chúng ta đọc thấy như sau:

Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh, để thánh hóa Hội Thánh [..] để trước mặt Người có một Hội Thánh xinh đẹp, lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền [..] Có ai ghét thân xác mình bao giờ, trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh [..] Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5,25-27.29.31-32).

***

Trong Thư Ephêsô có một sự tiến triển đầy ý nghĩa khi nói về Giáo hội, một loại nỗ lực vào sâu hơn trong mầu nhiệm Giáo hội. Trước hết, Giáo hội được trình bày như một công trình xây dựng, như “nhà của Thiên Chúa” có “đá tảng góc tường là chính Đức Kitô” (Ep 2,20). Tương quan giữa Đức Giêsu và Giáo hội được đồng hóa với tương quan giữa nền móng và ngôi nhà được xây dựng trên đó. Trước đó trong cũng lá thư, Giáo hội được trình bày như Thân Thể Đức Kitô, trong đó, người ta thấy Thiên Chúa đặt kẻ này làm tông đồ, người nọ làm tiên tri, “để xây dựng Thân Thể Đức Kitô” (Ep 4,11-12). Ở đây, tương quan giữa hai bên được đồng hóa với tương quan giữa đầu và thân thể: “Chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Kitô vì Người là Đầu” (Ep 4,15).

Tuy nhiên, thánh Tông Đồ dương như chưa hài lòng với những hình ảnh tòa nhà và thân thể; ngài còn cho chúng ta một hình ảnh khác: hình ảnh hiền thê. Khi Ađam trông thấy Evà, ông đã kêu lên: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!” (St 2,23). Đó chính là điều giờ đây Đức Kitô nói về Giáo hội của Ngài.

Khác nhau ở chỗ nào? Tòa nhà không phải là một “đối tác”, một người đương đối để đối thoại. Ngay cả thân thể của chúng ta cũng không phải là một nhân vị đối diện với tôi cách tự do, người tôi có thể yêu và có thể yêu lại tôi. Nhưng hiền thê, chính nàng, là tất cả những cái đó. Ađam mới cũng tìm kiếm “một người đương đối” với Ngài, và đã tìm thấy!

***

Nhưng tới giai đoạn này, để làm thành của tôi những lời vị Giáo Phụ xưa mà tôi đã nhắc đến ở trên, tôi phải nói lại rằng: “Bạn thân mến, đừng đi qua nhanh quá, vì tôi còn có một nhận xét khác để đề nghị với bạn”. Quả quyết của thánh Tông Đồ “Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh” hàm ý một câu hỏi; quả quyết ấy làm cho câu hỏi này vang dội trên không, nếu có thể nói được như thế. Đức Kitô đã yêu thương Giáo hội: vậy bạn, bạn có yêu thương Giáo hội không?

“Không ai ghét thân xác mình”, nghĩa là hiền thê của mình. Đức Kitô lại càng không. Vậy thưa bạn, sao bạn lại nói: “Yêu mến Thiên Chúa thì được, nhưng yêu thương Giáo hội thì không?” Tại sao bạn dễ dàng chỉ ngón tay tố cáo mẹ mình khi nói: “Chỗ này Giáo hội lầm, chỗ kia Giáo hội lầm; lẽ ra Giáo hội nên nói, lẽ ra Giáo hội nên làm…?” Chúa nói: “Ngươi là ai mà dám tố cáo hiền thê Ta yêu”. “Đâu là tờ ly hôn mà Ta đã viết để rẫy mẹ các ngươi?” (Is 50,1). Thiết nghĩ lời trên đây cũng là nói cho nhiều người Kitô hữu hôm nay: “Ở đâu nói rằng Ta đã rẫy mẹ các ngươi, rằng bà ấy không còn phải là hiền thê của Ta nữa?”

Giáo hội cũng là “phiến đá thợ xây nhà loại bỏ” (Cv 4,11 và Tv 118,22), những người thợ xây đắp văn minh trần thế hiện đại. Giáo hội là “hiền thê bị rẫy”, nhưng là bị con người rẫy chứ không phải Thiên Chúa: “Thiên Chúa thì trung tín” (1Cr 1,9; 10,13; 2Cr 1,18). Có một kiểu nói tiếng Anh thích hợp để chỉ loại người tín hữu này: unchurched Christians, những Kitô hữu không Giáo hội. Họ không nhận ra rằng, bằng cách này, họ không những mất đi Giáo hội mà còn mất đi cả Đức Kitô (trừ khi họ lấy lý do không biết hoặc vì ý ngay). Những gì Đức Giêsu nói về hôn nhân càng có giá trị cho Đức Kitô và Giáo hội: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6).

Ai không yêu mến Giáo hội (ít nhất một khi đã biết Giáo hội) thì cũng không yêu mến Đức Kitô. Thánh Cyprianô nói: “Không thể có Thiên Chúa là Cha người nào không có Giáo hội là mẹ[59]”. Và có Giáo hội là mẹ không chỉ có nghĩa là đã được rửa tội trong Giáo hội, mà còn là quý mến, kính trọng, yêu thương Giáo hội như một người mẹ, cảm thấy liên đới với Giáo hội trong điều tốt nhất cũng như trong điều tệ nhất.

Từ ngoài đường, nếu nhìn vào cửa sổ kính mầu ở các đại thánh đường cổ kính, người ta chỉ thấy những ô kính mầu tối được các que chì đen gắn lại với nhau. Nhưng nếu vượt qua ngưỡng của nhìn từ trong ra, đối diện với ánh sáng, chúng ta sẽ thấy một khung cảnh đầy mầu sắc với những hình thể làm chúng ta phải sửng sốt. Đó chính xác là những gì đang xảy ra cho Giáo hội. Bất cứ ai lấy con mắt thế gian nhìn từ bên ngoài, thì chỉ thấy những góc cạnh tăm tối và những chuyện khó chịu, nhưng ai lấy mắt đức tin nhìn từ bên trong và coi mình như thuộc thành phần của Giáo hội, sẽ thấy điều Thánh Phaolô đã thấy: một tòa nhà tuyệt vời, một thân thể có thể tạng tốt, một người vợ không tỳ ố, một “mầu nhiệm lớn”! Bất cứ ai đứng bên ngoài nhà thờ này nhìn vào cửa sổ kính mầu nhỏ trước mắt sẽ không thấy gì đặc biệt, mà chỉ thấy một cửa kính mờ tối; nhưng chúng ta là những người đang ở đây, chúng ta thấy rõ ở đó một con chim bồ câu sáng láng: Chúa Thánh Thần.

***

Có lẽ bạn sẽ nói: “Coi, Giáo hội lộn xộn, rời rạc, có những gương mù mà ngay cả một số Giáo Hoàng cũng đã gây ra, không phải sao?” Chắc chắn bạn nói điều đó vì bạn suy luận theo con người, một con người xác thịt, và bạn không thể chấp nhận điều này là Thiên Chúa bày tỏ quyền năng và tình yêu của Ngài qua sự yếu đuối. Chính bạn không thể đạt tới chỗ vô tội, và bạn đòi hỏi điều đó nơi Giáo hội, trong khi Thiên Chúa đã quyết định bày tỏ vinh quang và sự toàn năng của mình qua sự yếu đuối này và qua sự bất toàn kinh khủng này của con người, kể cả những “người của Giáo hội”, và chính Giáo hội này mà Ngài đã chọn làm hiền thê, một hiền thê tuyệt vời ở chỗ làm sáng lên nơi mình lòng thương xót của Ngài. Con Thiên Chúa đã đến thế gian này, được Giuse dậy cho thành một thợ mộc giỏi, thu thập những mảnh ván nhỏ có thể dùng được nhất, lỗ chỗ nhiều mắt nhất mà Ngài có thể tìm thấy, từ đó Ngài làm ra chiếc thuyền có thể đi biển từ hai ngàn năm nay!

Tội lỗi của Giáo hội! Bạn có tin rằng Đức Giêsu biết rõ hơn bạn chăng? Ngài không biết Ngài chết cho ai, cũng không biết các môn đệ lúc ấy ở đâu sao? Tuy vậy Ngài đã yêu Giáo hội thực tế này, không phải một Giáo hội tưởng tượng hay lý tưởng nào.. Ngài đã chết “để làm cho Giáo hội được thánh thiện và tinh tuyền”, và không phải vì Giáo hội đã thánh thiện và tinh tuyền. Đức Kitô đã yêu thương Giáo hội “trong hy vọng” (x. Rm 8,24): không chỉ vì điều mà Giáo hội “là”, nhưng còn vì điều mà Giáo hội “sẽ là”: đó là Giêrusalem trên trời “sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (Kh 21,2).

Nhưng chung quy, tại sao Giáo hội của chúng ta lại quá nghèo nàn và chậm chạp đến vậy? Có bao giờ chúng ta tra vấn điều đó chưa? Ông Primo Mazzorali, người không tiếc lời khen Giáo hội thể chế, đã viết: “Lậy Chúa, con là xác thịt ốm yếu của Chúa. Con đè lên Chúa như thập giá nặng nề, như vai không chống lại. Vì không muốn để con nằm dưới đất, Chúa vác đỡ gánh nặng của con và bước đi như Chúa có thể. Trong số những người Chúa mang đỡ, luôn có người trách móc Chúa không đi theo quy tắc và tố cáo Giáo hội của Chúa là chậm chạp, không nhớ rằng vì chứa đầy những chất xỉ của con người mà Giáo hội không thể cũng không muốn vất chúng xuống biển (đó là những con cái của mình!), mang đỡ có giá trị hơn là đến nơi.”

Chắc chắn là Giáo hội chậm chạp. Giáo hội chậm chạp trong việc Phúc âm hóa, trong cách đáp lại những dấu chỉ thời đại, trong việc bênh vực người nghèo và vô số chuyện khác. Nhưng bạn biết vì sao Giáo hội chậm trễ không? Vì Giáo hội mang chúng ta trên vai, mà chúng ta lại đầy gánh nặng tội lỗi. Con cái tố cáo mẹ chúng đầy nếp nhăn, nhưng những nếp nhăn này, như trường hợp thực tế của con người, chính vì con cái mà bà phải chịu. Đức Kitô đã yêu thương Giáo hội và đã nộp mình, để Giáo hội được “không tỳ ố” và Giáo hội sẽ không tì ố nếu chính chúng ta không tỳ ố. Giáo hội hẳn sẽ ít nếp nhăn hơn nếu chúng ta đã phạm ít tội hơn. Một hôm Érasme ở Rotterdam đã trả lời cho một trong những nhà Cải Cách trách ông vẫn ở lại trong Giáo hội công giáo, dù nó hư hỏng: “Tôi chịu đựng Giáo hội này, mong nó trở nên tốt hơn, vì Giáo hội này cũng buộc phải chịu đựng tôi, mong cho tôi trở nên tốt hơn.”

***

Tất cả chúng ta đều phải xin Đức Kitô tha thứ vì bao nhiêu phán đoán khinh suất và bao nhiêu xúc phạm đối với hiền thê của Ngài và do đó với chính Ngài. Hãy thử nói với một người thực sự đang yêu là vợ anh xấu dáng hoặc một “người chả ra gì”, bạn sẽ thấy bạn có thể xúc phạm anh ta nặng nề hơn chăng và bạn có thể phải đương đầu với cơn giận của anh ta chăng.

Mọi người chúng ta phải đặt ra cho mình một cách thức mới mẻ và ý thức hơn khi nói Giáo hội là gì. Nói về quê hương mình trong thời kỳ đen tối của lịch sử của nó, Saint-Exupéry đã viết:

“Vì tôi thuộc về họ, tôi sẽ không bao giờ chối bỏ những người của tôi, dù họ làm gì đi nữa. Tôi sẽ không bao giờ nói chống lại họ trước mặt người khác. Nếu có thể bảo vệ họ, tôi sẽ bảo vệ. Nếu họ làm cho tôi xấu hổ, tôi sẽ giữ chặt sự xấu hổ này trong thâm tâm và tôi sẽ im lặng. Dù tôi có nghĩ thế nào về họ sau đó, tôi sẽ không bao giờ làm nhân chứng truy tố. Một người chồng không đi từ nhà này sang nhà khác kể cho hàng xóm biết vợ mình tham ăn. Anh sẽ không lấy tiếng theo kiểu đó, bởi vì vợ anh thuộc về nhà của anh. Anh không thể nâng cao phẩm giá mình bằng cách chê trách nàng. Một khi trở về nhà anh mới có quyền bày tỏ sự giận dữ của mình[60].”

Có nguy cơ là người nào đó làm đúng điều bị lên án ở đây. Khi đoạn tuyệt với Giáo hội, ông đi từ đại học này tới đại học khác, từ báo này tới báo khác, từ hội nghị này tới hội nghị khác, lặp lại những lời tố cáo gay gắt của mình chống lại Giáo hội “thể chế”, như thể Giáo hội hoàn toàn khác với lý tưởng về Giáo hội ông nuôi dưỡng trong trí, tưởng rằng chống lại Giáo hội như thế, ông cứu vãn được danh dự của mình. Chúng ta biết thế giới biếu nhiều tiền cho những ai làm cho Giáo hội phải khuất phục. “Thực dễ thành công khi người ta chuyển qua phía quân thù!” Tertullianô nói như thế về những người từ bỏ Giáo hội để gia nhập một lạc giáo, những người thấy mình lập tức được trao cho những chức vụ và vinh dự[61]. Người ta đưa ra những lời tố cáo chống lại Giáo hội và các bề trên, thường chỉ là để che giấu việc mình mất đức tin.

Vậy mọi người cũng như lúc nào cũng phải yên lặng trong Giáo hội sao? Không phải, Một khi “trở về nhà” sau khi đã cùng khóc với Giáo hội và phục mình dưới chân Giáo hội, Thiên Chúa có thể truyền cho bạn, như đã truyền cho những người khác trong quá khứ, lên tiếng chống lại “những vết thương của Giáo hội”. Nhưng không phải trước lúc này, và bạn phải chết một cách nào đó trong sứ mệnh nguy hiểm này.

Các thánh cũng đã áp dụng cho Giáo hội lời ông Gióp nói về Thiên Chúa: “Cho dù Ngài giết tôi, tôi vẫn phó thác nơi Ngài!” (x. G 13,15).

***

Một lời mời gọi đặc biệt cho các linh hồn tận hiến phát xuất từ những gì chúng ta đã chiêm ngắm trong thứ Sáu tuần Thánh này. Những linh hồn này đã nhiệt tình theo sự nghiệp Nước Trời. Chỉ nhờ ân sủng, họ đã cảm thấy nhu cầu về một điều gì đó uy nghi để yêu, và họ đã tìm thấy nơi Đức Kitô. Vì vậy họ được kêu gọi trở thành dấu chỉ hữu hình nói lên tình yêu hôn thê của Giáo hội dành cho Đức Kitô.

Ngày nay, người ta nói nhiều về sự nhàm chán đang thịnh hành giữa lòng đời sống tu dòng truyền thống, về một khủng hoảng chân tính. Đó là những điểm người ta cố gắng làm sáng tỏ trong kỳ họp Thượng Hội Đồng Giám Mục sắp tới với đề tài “Đời sống thánh hiến và sứ mệnh của nó trong Giáo hội và trên thế giới”. Tôi nghĩ có nhiều cách giải thích cho sự nhàm chán này, nhưng có một cách giải thích căn bản: nơi nhiều người trong chúng ta, tình yêu đã nguội lạnh (x. Mt 24,12), tình yêu đối với Đức Kitô là khởi điểm cho lựa chọn của chúng ta.

Sách Khải huyền chứa đựng một lá thư có thể được gửi cho chúng ta, những tu sĩ khác; đó là thư gửi Giáo hội ở Ephêsô. Thư viết: “Ta biết các việc ngươi làm, nỗi vất vả và lòng kiên nhẫn của ngươi […] Nhưng Ta trách ngươi điều này: ngươi đã để mất tình yêu thuở ban đầu. Vậy hãy nhớ lại xem ngươi đã từ đâu rơi xuống, hãy hối cải!” (Kh 2,2.4-5). Chúng ta cũng luôn có “những việc làm, nỗi vất vả, lòng kiên nhẫn” (tất cả những điều quý hóa này, đừng để mất), nhưng có lẽ điều cuối cùng còn thiếu sót, đó là linh hồn của tất cả những việc đó: tình yêu hôn thê đối với Đức Kitô. Tình yêu cần lời cầu nguyện để sống còn, như ngọn lửa cần ôxy để cháy. “Ai có tai thì hãy nghe điều Thần Khí nói với các Hội Thánh” và với các cộng đồng tu sĩ (x. Kh 2,7, v.v).

***

Cuối cùng, một lời mời gọi cũng dành cho các đôi vợ chồng Kitô hữu phát xuất từ những gì chúng ta chiêm ngắm hôm nay. Chính thánh Tông Đồ đã viết: “Người làm vợ hãy tùng phục chồng […]. Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh” (Ep 5,22.25). (Ngày nay chúng ta hẳn sẽ nói người vợ cũng phải yêu thương chồng, chính xác như chồng đối với mình). Những người vợ đừng có cảm tưởng mình bị nhỏ đi, như thể, qua biểu tượng này, họ được mời gọi biểu thị Giáo hội, trong khi những người chồng biểu thị Đức Giêsu Kitô. Đúng hơn, họ hãy cảm thấy mình được tôn trọng vì tất cả nhân loại được biểu thị ở đây bởi một người nữ, bởi Evà là Giáo hội. Trên thực tế, các người chồng ở đây cũng không được biểu thị bằng Đức Kitô nữa; họ không phải là phu quân, nhưng là hiền thê.

Chúng ta đang ở trong Năm Quốc Tế về Gia Đình, và Giáo hội đang hết sức bảo vệ các quyền của gia đình và cổ võ các gia đình sống thánh. Nhưng gia đình sẽ không thánh thiện nếu gốc rễ – tương quan vợ chồng – không được tốt. Chính ở điểm này mà mọi sự được quyết định. Nếu tương quan này bị phá vỡ, thì cũng như dây thừng bảo đảm cho người leo núi bị đứt: tất cả những ai đang bám vào dây này đều rơi xuống khoảng không, và trước hết là con cái.

Một đôi vợ chồng Kitô hữu có thể học được gì nơi kiểu mẫu Đức Kitô-Giáo hội? Một điều trên hết. Trên thế giới có hai mẫu tình yêu: một tình yêu đại lượng và một tình yêu đau khổ. Tình yêu đại lượng ở chỗ tặng quà cho người mình yêu; tình yêu đau khổ ở chỗ có khả năng chịu khổ cho người đó và vì người đó. Do việc tạo dựng, Thiên Chúa đã yêu chúng ta bằng một tình yêu đại lượng, nhưng trên thập giá, Ngài còn yêu chúng ta bằng một tình yêu đau khổ, đòi hỏi vô cùng.

Tuy nhiên, để chúng ta không nghĩ rằng mọi sự chỉ luôn là đau khổ, đừng quên những gì chính Đức Giêsu có ngày đã nói: “Cho thì vui hơn là nhận” (x. Cv 20,35). Vui vì khám phá thấy mọi sự trong viễn tượng mới về tình yêu, vui vì yêu như Thiên Chúa yêu, vì biết tình yêu là phần thưởng và niềm vui cho chính mình.

***

Trong sách Giêrêmia, chúng ta đọc thấy một lời tuyên sấm bí nhiệm: “Đức Chúa tạo ra điều mới lạ trên mặt đất: đó là đàn bà bao quanh đàn ông” (Gr 31,22). Nhà tiên tri muốn nói rằng, cho đến ngày ấy, chính người chồng là Thiên Chúa đi tìm người vợ bất trung đã chạy theo các tà thần, nhưng một ngày kia sẽ trở lại không còn như thế nữa. Chính người vợ, tức cộng đồng của giao ước, sẽ tìm kiếm chồng mình và sẽ sát vào chồng.

Ngày ấy đã đến. Giờ đây mọi sự đều hoàn tất. Không phải vì nhân loại sẽ đột nhiên trở nên ngoan ngùy và trung thành, nhưng vì đã đảm nhận nó và liên kết với nó trong một giao ước mới và vĩnh cửu. Tất cả phụng vụ thứ Sáu tuần Thánh cho thấy lời tiên tri trên được thực hiện. Lời ấy đã khởi sự ở Canvê với Đức Maria ôm lấy Con mình và hôn mặt Con vừa được đưa xuống khỏi thập giá, và giờ đây còn tiếp tục trong Giáo hội mà Mẹ là hình bóng và ân huệ khởi đầu.

Giáo hội, đi đầu là đấng kế vị thánh Phêrô, giờ đây sẽ cởi giầy ra để hôn tượng Chúa Chịu Nạn, là Người Vợ “sát vào chồng”, ôm lấy chồng, đầy lòng biết ơn và xúc động. Chính nàng nói như người tình trong sách Diễm ca: “Tôi đã gặp người lòng tôi yêu dấu; tôi vội níu lấy chàng và chẳng chịu buông ra!” (Dc 3,4).


XVI. “MẦU NHIỆM THẬP GIÁ TỎA SÁNG”

Trọng tâm của phụng vụ mà chúng ta đang cử hành là thờ lậy thánh giá bắt đầu từ nghi thức mở khăn. Đức Thánh Cha nhận từ tay thầy phó tế thánh giá phủ khăn tím, rồi mỗi lần mở một phần khăn, mở ba lần cho tới khi thánh giá được mở hoàn toàn. Có những lời hát long trọng đi kèm với nghi thức mở khăn này: “Ecce lignum crucis in quo salus mundi pependit – Đây là cây gỗ thánh giá nơi treo Đấng cứu độ trần gian.”

Tôi thấy mạc khải tiệm tiến của mầu nhiệm thánh giá qua các thế kỷ được tượng trưng trong nghi thức cổ kính này. Mỗi lần trong ba lần mở khăn biểu thị cho một thời kỳ hay một giai đoạn của lịch sử cứu độ: lần mở thứ nhất biểu thị cho thập giá được tiên trưng trong Cựu Ước; lần mở thứ hai biểu thị cho thập giá được thực hiện trong cuộc đời Đức Giêsu, “thập giá của lịch sử”; lần mở thứ ba biểu thị cho thập giá được cử hành trong thời kỳ Giáo hội, “thập giá của đức tin”.

Như ta thấy, thập giá trải qua tất cả lịch sử cứu độ. Thập giá hiện diện trong Cựu Ước như hình bóng, hiện diện trong Tân Ước như biến cố và hiện diện trong thời kỳ Giáo hội như bí tích hoặc như mầu nhiệm.

***

Gỗ hay cây trong Cựu Ước biểu thị cái gì? Nó là cây sự sống trồng giữa vườn, cây biết lành biết dữ, chung quanh nó hoàn tất cuộc phản loạn, con người tự phụ chính mình quyết định về điều tốt, điều xấu. Trong sách Đệ nhị luật, gỗ tái xuất hiện gắn liền với lời chúc dữ: “Người bị treo lên cây là đồ bị Thiên Chúa nguyền rủa!” (Đnl 21,23). Nhưng người ta cũng loan báo một vai trò tích cực cho gỗ trong những đoạn mà, dưới ánh sáng của sự hoàn tất tương lai, sẽ được coi là những lời tiên tri về thập giá. Chính bằng gỗ mà người ta đóng con tầu trong đó nhân loại được cứu thoát khỏi trận hồng thủy; chính gỗ của gậy chống được ông Môsê giơ trên Biển Đỏ làm cho nước rẽ ra (x. Xh 12,11); chính nhờ một khúc gỗ mà ông làm cho nước đắng ở Mara thành nước ngọt (x. Xh 15,23 tt).

Cây gỗ thập giá trong cuộc đời Đức Giêsu, tức không còn phải là hình bóng, nhưng là trong thực tại lịch sử, biểu thị điều gì? Biểu thị dụng cụ để lên án, để phá hủy hoàn toàn con người với tư cách là con người, điểm thấp nhất của sự tự hủy. Cây gỗ – xulon – (người ta thường gọi thập giá như thế) là khổ hình ô nhục nhất, dành cho những nô lệ phạm những tội nặng hơn. Cicéro nói rằng ngay cả tên của chúng cũng không được đến tai công dân Rôma. Tất cả được trù liệu để cho khổ hình này làm mất phẩm giá phạm nhân ngần nào có thể. Người bị kết án trước tiên phải bị đánh đòn, bị điệu tới nơi hành hình, phải vác trên vai nếu không cả cây thập giá thì ít nhất cũng là thanh ngang, bị lột trần và đóng đinh vào thập giá, ở đó hắn hấp hối trong những cơn co giật và đau đớn ghê gớm, cả thân xác nặng nề của hắn đè nặng trên các vết thương.

“Bị đóng đinh!”: từ thời các Tông đồ, người ta không thể nghe từ này mà không thấy toàn thân run sợ. Đối với một người Do Thái, thêm vào tất cả những chuyện đó còn có lời chúc dữ của Thiên Chúa, bởi vì Kinh thánh nói: “Đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ!” (x. Gl 3,13).

Nhưng thập giá biểu thị cái gì dưới ánh sáng sự phục sinh, theo mạc khải của Chúa Thánh Thần, nhờ trung gian của các Tông đồ, vào thời Giáo hội? Thập giá là nơi mà “mầu nhiệm đạo thánh được hoàn tất” (x. 1Tm 3,16), nơi mà Ađam mới đã thưa lời xin vâng với Thiên Chúa, nhân danh mọi người cho đến mãi muôn đời; nơi mà Môsê đích thực, nhờ cây gỗ, đã mở ra một Biển Đỏ mới và, nhờ vâng phục, đã làm cho nước đắng của phản loạn trở thành nước ngọt của ân sủng và phép Rửa; nơi Đức Kitô, Đấng “đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta, chính Người đã trở nên đồ bị nguyền rủa” (Gl 3,13). Thập giá là “sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1,24). Đó là cây mới “được trồng ở giữa quảng trường của thành” (x. Kh 22,2).

Điều gì đã xảy ra mang tính quyết định như thế trên thập giá biện minh cho những quả quyết này? Xảy ra ở đây là Thiên Chúa đã vĩnh viễn chiến thắng sự dữ mà không cùng lúc phá hủy sự tự do gây ra sự dữ đó. Ngài đã không phá hủy nó bằng cách dùng sự toàn năng của mình mà đánh bại nó, cũng không bằng cách đẩy nó trở lại biên giới vương quốc của nó, nhưng bằng cách tự mình gánh lấy những kết quả của nó trong Đức Kitô, và bằng cách dùng sự thiện chiến thắng sự dữ, điều đó có nghĩa là: dùng tình yêu chiến thắng hận thù, dùng vâng phục chiến thắng nổi loạn, dùng hiền lành chiến thắng bạo lực, dùng sự thật chiến thắng dối trá. Trên thập giá, Đức Giêsu “đã thiết lập hòa bình, đã tiêu diệt nơi mình sự thù ghét” (x. Ep 2,14-15). Đức Giêsu đã tiêu diệt sự thù ghét chứ không phải kẻ thù; Ngài đã tiêu diệt “nơi Ngài” chứ không nơi người khác.

***

Nói tắt, đó là mạc khải về mầu nhiệm thập giá, theo các tác phẩm của các Tông đồ. Mạc khải còn tiếp tục dưới hình thức khác – không còn phải là Kinh thánh, nhưng là Truyền Thống – trong đời sống Giáo hội. Trong một bài giảng ở thế kỷ II của một cử hành phụng vụ như phụng vụ chúng ta, để tôn kính cuộc Khổ nạn, một giám mục đã dâng lên thập giá, cây sự sống mới, bài ca thần cảm sau đây:

Cây này đối với con là một cây cứu độ vĩnh cửu;

Nhờ cây này, con được nuôi dưỡng, được thỏa thích.

Nhờ rễ của nó, con đâm rễ,

Và nhờ cành của nó, con vươn ra,

Nhờ sương của nó, con được rửa sạch,

Nhờ Thần Khí của nó, như trước cơn gió, con được vun trồng tuyệt vời…

Cây này là lương thực cho cơn đói của con,

Một mạch nước cho cơn khát của con,

Một chiếc áo cho sự trần truồng của con…

Nó là sự bảo vệ của con khi con kính sợ Thiên Chúa,

Nó giữ con khi con lảo đảo,

Nó là vòng nguyệt quế khi con thắng trận.

Đối với con nó là

Lối hẹp và đường chật” (x. Mt 7,13-14)

Nó là chiếc thang Giacóp

Là con đường lên xuống của các thiên thần,

Chúa đứng” thật bên trên (x. St 28,13)[62]

Trước mắt Giáo hội, thập giá có chiều kích vũ trụ. Nó không còn là một giai đoạn của lịch sử nữa, nhưng là một biến cố làm thay đổi bộ mặt trái đất. Cũng bài ca trên còn tiếp:

“Với những chiều kích tuyệt vời, cây này vươn từ đất lên tới trời…Nó giữ cho mọi sự vững vàng, làm cho mọi sự được chắc chắn. Nó là sự nâng đỡ cho vũ trụ, là dây vũ trụ bảo đảm cho dự dính kết của yếu tính nhân loại hay thay đổi, khi gắn chặt nó lại với nhau nhờ những chiếc đinh của Thần Khí, để một khi gắn bó với thần tính, nó không tách khỏi thần tính nữa[63].”

Trong Sách Nguyện, một đoạn trích từ Tử Đạo Lục thuật lại rằng trước khi giang tay trên thập giá, thánh Anrê kính chào thập giá như sau: “Ôi thập giá, dụng cụ cứu độ của Đấng Tối Cao! Ôi thập giá, vòng nguyệt quế của Đức Kitô chiến thắng kẻ thù! Ôi thập giá trồng trên trái đất và sinh hoa quả trên trời! Ôi danh hiệu thập giá tràn đầy mọi sự! Con biết mầu nhiệm của thập giá![64]

Nghệ thuật Kitô giáo đã góp phần vào cử hành mầu nhiệm thập giá. Trong một số tranh khảm hậu cung, như tại Saint-Apollinaire ở Ravenna, nổi bật lên trên nền trời đầy sao, trên tất cả bề mặt, là một cây thập giá lớn trang hoàng bằng đá quý, với hàng chữ ở bên dưới: Salus mundi – Ơn cứu độ của thế giới.

***

Năm 569 công nguyên, hoàng đế byzantin Giustinô II gửi làm quà cho hoàng hậu Cunégonde ở Orléans một thánh tích thập giá. Nhân dịp này, một thi sĩ Kitô giáo, Venance Fortunat, đã sáng tác hai thánh thi trong đó ông diễn tả bằng tiếng hát tất cả sự hiểu biết về mầu nhiệm thập giá đi theo phụng vụ của chúng ta hôm nay. Từ ngày ấy, chúng được sử dụng liên tục qua các thế hệ Kitô hữu, để diễn tả lòng biết ơn xúc động và nhiệt tình của họ dành cho thập giá. Nhờ sự hiệp thông các thánh, những thánh thi này đến với chúng ta, thấm nhuần tất cả sự phong phú của đức tin và lòng đạo đức này. Chính như thế mà Thiên Chúa lắng nghe, với phần đệm mênh mông này, như một ca đoàn độc nhất xuyên suốt các thế kỷ.

Vexilla regis prodeunt, fulget crucis mysterium – cờ Vua tiến lên, mầu nhiệm rạng rỡ.” “O Crux, ave, spes unica – Kính chào, ôi Thánh giá, nguồn hy vọng độc nhất!”

Chủ đề thập giá, cây sự sống, trải dài từ đầu tới cuối bài thánh thánh thi thứ hai:

“Ôi thánh giá trung thành, cây cao quý nhất trong các cây, không rừng nào sản xuất được cây giống như thế về lá, hoa và quả.”

Dulce lignum, dulces clavos, dulce pindus sustinet – cây gỗ êm dịu, những chiếc đinh êm dịu nâng đỡ một sức nặng êm dịu!” Chủ đề thập giá vũ trụ cũng không bị bỏ quên, vì thánh thi hát tiếp: “Terra, pontus, astramundus: quo lavantur flumine – Đất, biển, tinh tú, thế giới, chúng được rửa sạch bởi dòng sông nào!”

Có lúc thi sĩ nói với thập giá như với một thụ tạo sống, trong đoạn xúc động này: “Fleste ramos arbor alta, tensa laxa viscera… – Hãy uốn cong những cành của ngươi, hỡi cây cao, hãy làm giãn ra các sợi của ngươi. Hãy làm cho mềm sự cứng tự nhiên của ngươi và hãy nâng đỡ các chi thể của Vua chúng ta bằng những rầm mềm!”

***

Việc “khám phá” ra mầu nhiệm thập giá là như thế trải qua lịch sử cứu độ. Nhưng nó phải được đổi mới ở mỗi thời kỳ. Ngay cả ngày hôm nay, mầu nhiệm thập giá cũng phải tỏa sáng trước mắt thế hệ chúng ta. Việc khám phá trong nghi thức cũng phải có việc khám phá trong cuộc sống đi kèm, là việc khám phá được thực hiện trong đời sống và tâm hồn mỗi người. Nơi cây sự sống trồng ở giữa Giêrusalem mới, người ta thấy nó “sinh trái mười hai lần, mỗi tháng một lần” (x. Kh 22,2). Thập giá có một mùa gặt dự trữ và một mùa hoa quả cả cho mùa màng hiện nay của lịch sử và chúng ta phải cố gắng thu hoạch.

Tuy vậy làm thế nào để giúp cho một xã hội như xã hội của chúng ta, một xã hội đối lập lạc thú với thập giá ở mọi cấp độ, hiểu được mầu nhiệm thập giá; một xã hội nghĩ rằng đã dứt khoát chuộc lại được lạc thú, đã làm cho nó thoát khỏi sự ngờ vực không chính đáng và thoát khỏi việc lên án đè nặng lên nó; một xã hội dành những thánh thi cho lạc thú, như trước đây đã có những thánh thi dành cho thập giá; một văn hóa rút ra trực tiếp từ tiếng Hy Lạp hedonè (thú vui) tên gọi là “văn hóa khoái lạc”, và, than ôi! tất cả chúng ta đều thuộc về văn hóa đó với các mức độ khác nhau, ít nhất trong thực tế, ngay cả khi chúng ta dùng lời lẽ lên án nó?

Chính từ đó mà phát xuất nhiều vấn đề và sự thiếu hiểu biết giữa Giáo hội và cái gọi là văn hóa thế tục hôm nay. Ít nhất chúng ta thử xác định mấu chốt thực sự của vấn đề là ở chỗ nào, để thấy nó có lẽ cấu thành điểm xuất phát cho một cuộc đối thoại khách quan. Điểm chung là ai nấy đều nhận thấy trong cuộc đời này, vui thú và đau khổ nối tiếp nhau đều đặn giống như một cơn sóng vỗ trên biển nối tiếp một sự rút ra lôi về phía sau một người đắm tầu đang cố gắng bơi vào bờ. Vui thú và đau khổ đan xen nhau, không gỡ ra được.

Con người tìm cách tách anh em sinh đôi người Xiêm, tách lạc thú với đau khổ một cách tuyệt vọng. Đôi lúc họ tưởng đạt được điều ấy và trong lúc vui vẻ tột cùng, họ quên đi mọi sự và ăn mừng chiến thắng của nó. Nhưng chỉ một lúc chóng vánh thôi. Đau khổ vẫn còn đó, như một chất uống làm cho say, chất biến thành thuốc độc khi bị oxy hóa. Đây không phải là một sự đau buồn khác, không lệ thuộc hay lệ thuộc vào một lý do khác, nhưng là đau khổ phát xuất từ lạc thú. Chính lạc thú vô trật tự biến thành đau khổ. Và điều đó, hoặc một lượt, cách bi thảm, hoặc gần như đồng thời, vì nó không thể kéo dài và vì cái chết.

Đó là một sự kiện mà con người tự mình có thể nhận thấy và được minh họa bằng cả nghìn cách trong nghệ thuật và văn chương. Tính chất không thể tách biệt giữa tình yêu và sự chết, eros và thanatos, đã từng được người ngoại giáo Lucretius biết đến. Những “hoa đau khổ” – như thi sĩ cho chúng ta hay – vừa mới chớm nở thì mùi của tan rã và sự chết đã tỏa bay.

***

Giáo hội quả quyết có câu trả lời cho bi kịch thực sự của cuộc sống con người. Tại sao lại từ chối cách cắt nghĩa của Giáo hội, ngay cả trước khi đã thực sự nghe cắt nghĩa đó?

Đây là cách cắt nghĩa. Từ khởi thủy, đã có một sự chọn lựa tự nguyện của con người, có thể làm được nhờ vào bản chất hỗn hợp của họ, đưa con người đến chỗ hoàn toàn hướng khả năng vui mừng tới những sự vật hữu hình, khả năng mà họ được ban cho, để khao khát có được Thiên Chúa.

Trước thú vui chọn lựa chống lại Thiên Chúa và chống lại lý trí, Thiên Chúa đã liên kết đau buồn và sự chết xuyên qua chính thiên nhiên (x. St 3,16 tt). Đây là phương thuốc chữa trị hơn là hình phạt, để đừng xảy ra là, khi chiều theo tính ích kỷ quá đáng, con người hoàn toàn hủy diệt mình, cũng đừng để xảy ra là mỗi người hủy diệt người lân cận. Chính như vậy mà ta thấy từ đây sự đau khổ gắn liền với lạc thú như hình với bóng. Thế nhưng lạc thú và đau khổ không bù đắp cho nhau. Đau khổ này không chuộc lại lạc thú, vì chính nó là kết quả của lạc thú, một phần của cùng một biện chứng của tội lỗi.

Thập giá Đức Kitô cuối cùng đã phá vỡ dây liên kết này. Người là Đấng “đã khước từ niềm vui dành cho mình (niềm vui được làm theo ý riêng), mà cam chịu khổ hình thập giá” (proposito sibi gaudio, sustinuit crucem) (x. Dt 12,2), Ngài đã làm trái với những gì Ađam xưa đã làm và ngày nay mỗi người còn làm. Khi làm như vậy Ngài đã đưa vào thế giới một phẩm chất đau khổ mới; thứ đau không phải là kết quả của lạc thú hay lỗi lầm, thứ đau khổ thuần túy xảy ra tức khắc, nhưng là thứ đau khổ vô tội và tự nguyện. Thánh Maximô Người Tuyên Tín, một trong những nhà tư tưởng sâu sắc nhất của Kitô giáo, đã viết:

“Khác với cái chết của những người khác, cái chết của Chúa không phải là món nợ được trả để đổi lấy lạc thú, mà đúng hơn là một điều gì đó chống lại chính lạc thú. Như vậy, qua cái chết này, Ngài đã thay đổi vận mệnh xứng đáng của con người[65].”

Nhưng mọi sự không chấm dứt ở đây. Thập giá chìm nghỉm trong trong chiến thắng: Đức Kitô đã phục sinh. Ngài đã mở đầu một niềm vui mới, một phẩm chất mới của lạc thú: lạc thú này không đi trước đau khổ như là lý do của nó, nhưng đi sau đau khổ như là kết quả của nó; lạc thú này bắt nguồn từ thập giá và tìm được hy vọng không chấm dứt, ngay cả với cái chết, hy vọng đời sống vĩnh cửu. Và điều này không chỉ có giá trị cho lạc thú thuần túy thiêng liêng, nhưng cho bất cứ niềm vui lương thiện nào, kể cả niềm vui mà vợ chồng cảm thấy khi hiến thân cho nhau, trong việc sinh ra một sự sống, thấy con cái mình lớn lên; điều đó cũng có giá trị cho niềm vui nghệ thuật hay sáng tạo, vẻ đẹp, bạn hữu, công việc cuối cùng đi tới thành công; cho bất cứ niềm vui nào.

Chỉ mình Đức Kitô có thể thật sự chuộc lại lạc thú và niềm vui nhân loại của sự lên án đã và đang đè nặng trên họ, không những vì tội lỗi mà còn vì bản tính là thực tại hư nát, phải chết: “Luật của Thần Khí ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết” (Rm 8,2).

Thập giá không buộc bạn phải chối bỏ lạc thú, nhưng bắt lạc thú lụy phục ý Thiên Chúa, tìm kiếm và sống nó trong sự vâng phục Lời Ngài và lề luật Ngài đã ban, không phải để phá rối thú vui của con người, nhưng để giữ cho nó khỏi đau khổ và khỏi sự chết bao gồm trong đó. Để xuyên qua những niềm vui nho nhỏ mà con người gặp thấy trên đường, họ khao khát niềm vui không bao giờ chấm dứt.

***

Ý muốn của Thiên Chúa là “thập giá” của lạc thú. Nhưng nếu bạn còn ngã, nếu bạn không sẵn sàng đón nhận ngay mọi ý muốn của Thiên Chúa, hãy nhớ rằng thập giá cũng là lời hứa tha thứ và thương xót cho người sa ngã. Bạn không bị buộc phải hao mòn trong lầm lỗi.

Trong thế kỷ chúng ta xuất hiện một cuốn tiểu thuyết nhan đề Vụ án. Trong đó có một nhân vật, một hôm bị bắt giữ mà không ai biết tại sao, lúc anh đang sống bình thường và hoạt động trong nghề nghiệp của mình. Khi đó, anh ta cố hết sức tìm hiểu lý do và điểm chính của các cáo buộc, tòa án, các thủ tục tố tụng. Nhưng không ai có thể nói cho anh ta bất cứ điều gì, ngoại trừ việc anh ta thực sự đang bị xét xử. Cho đến một ngày, người ta đến để đưa anh ta đi xử tử. Chính là lịch sử của nhân loại tranh đấu tới chết, có cảm tưởng về một lầm lỗi thầm kín mà không có thể thoát khỏi.

Trong vụ việc này, người ta được biết anh bắt gặp ba tình huống có thể xảy ra: thật sự được tha bổng, bề ngoài được tha bổng và hoãn xét. Tuy nhiên, bề ngoài được tha bổng và hoãn xét sẽ không giải quyết được gì; chúng sẽ chỉ khiến cho bị cáo phải ở trong tình trạng bấp bênh chết người trong suốt cuộc đời. Ngược lại, trong trường hợp được thực sự tha bổng, “các biên bản vụ kiện phải được hủy bỏ hoàn toàn, chúng không còn tròng thủ tục tố tụng nữa, không chỉ lời cáo buộc, mà cả vụ án và thậm chí bản án bị phá hủy, mọi thứ đều bị phá hủy[66].” Tuy nhiên người ta không biết liệu việc tha bổng thật sự này, mà anh hằng mong muốn, đã có ngày nào xảy ra chưa; chỉ có những tiếng nói theo nghĩa này, không gì khác hơn là “những chuyện hoang đường rất hay”. Cũng như tất cả các tiểu thuyết khác của tác giả, tác phẩm kết thúc thế này: có một cái gì đó mà người ta thoáng thấy từ xa, người ta mơ tưởng, nhưng không bao giờ đạt được.

Ngày Thứ Sáu tuần Thánh, chúng ta có thể kêu lên với hàng triệu người có tình trạng được người bị cáo kia minh giải: có sự tha bổng thực sự, không chỉ là chuyện hoang đường, một sự việc tuyệt vời nhưng ngoài tầm với. Không. Đức Giêsu đã xóa “sổ nợ của chúng ta; đã hủy bỏ nó đi bằng cách đóng đinh nó vào thập giá” (x. Cl 2,14). Ngài đã phá hủy tất cả. “Những ai ở trong Đức Kitô Giêsu, thì không còn bị lên án nữa” (Rm 8,1). Không còn án phạt nữa! Bất cứ loại nào! Cho những ai tin vào Đức Kitô Giêsu!

***

Như vậy, ngày hôm nay mầu nhiệm thập giá vẫn còn tỏa sáng. Fulget crucis mysterium! Mới đây, nhân cuộc khủng hoảng hiện nay về sự thiêng thánh, một nhà xã hội học đã viết:

“Tâm hồn của Tây phương đã trở nên cằn cỗi. Đó là một đền chư thần, mở rộng cho hết mọi thần linh, nhưng nghèo nàn về thiêng thánh. Tôn giáo hình thức, tôn giáo xã hội, tôn giáo của những việc thiện không nói cho hết mọi người. Trong chiều sâu của xã hội, người ta cần tiếp xúc với thần linh. Nó làm giãn nở tâm hồn và ban sức mạnh, niềm vui, hy vọng và một nhận thức tự hào về cuộc sống[67]”.

Đó chính là điều mà lời rao giảng về thập giá đã tiến hành trong những ngày đầu của Kitô giáo. Giống như một làn sóng hy vọng và niềm vui không thể kiểm soát, nó đã đổ dồn qua tất cả những gì con người của đế chế Rôma suy tàn tìm nơi ẩn náu: các tôn giáo huyền bí, ma thuật, thần giáo, tôn giáo mới. Người ta đã có cảm giác về “một mùa xuân mới của thế giới”.

Việc rao giảng về thập giá Đức Kitô có thể làm như vậy ngày hôm nay, trong “giai đoạn lo âu” của chúng ta, miễn là chúng ta mang lại cho nó hơi thở, sự nhiệt tình, niềm tin khi đó. Một Giáo hội quốc gia châu Âu mới đây đã nói với một đại lý quảng cáo để biết xem có thể trình bày sứ điệp Phúc âm như thế nào, vào dịp lễ Phục Sinh. Và lời khuyên người ta được nghe là trước tiên hủy bỏ biểu tượng thập giá, bị coi là không hợp thời và quá buồn bã! Thật là một sự thiếu hiểu biết kinh khủng!

Việc cần làm là cũng phải “khám phá ra” thập giá trong tâm hồn người Kitô hữu, như điều đó đã xảy ra trong lịch sử và trong phụng vụ, Chớ gì chúng ta cũng phải đi từ thập giá, dấu chỉ của hình phạt và chúc dữ, tới thập giá cứu độ và tha thứ, “niềm hy vọng duy nhất”, thập giá là lý do để tự hào. Đến độ chúng ta cảm thấy được thúc đẩy để vui mừng kêu lên như Thánh Phaolô: “Ước gì tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô!” (Gl 6,14).

Lát nữa đây Đức Giáo Hoàng sẽ mở rộng thập giá bên trên đầu chúng ta, và cũng là người, trong Năm Thánh 2000, sẽ vượt qua cửa thánh, mang thập giá Đức Kitô trước ngài, là biểu tượng của Giáo hội, một Giáo hội hết năm này đến năm khác, hết thế kỷ này đến thế kỷ khác, hết thiên niên kỷ này đến thiên niên kỷ khác, chuyển đạt nguyên vẹn cho thế giới điều cao quý nhất mình nắm giữ: mầu nhiệm thập giá Đức Giêsu Kitô. Quả vậy, trong ngày hôm nay mầu nhiệm thập giá tỏa sáng: Fulget crucis mysterium!


XVII. “MỘT NGƯỜI ĐÃ CHẾT THAY CHO MỌI NGƯỜI”

Một sử gia Hy Lạp thuật chuyện ngày kia vua Damoclès muốn tỏ cho một cận thần thèm muốn địa vị của ông biết một ông vua thực sự sống như thế nào. Ông dọn một bữa tiệc thịnh soạn và cho mời người đó đồng bàn với ông. Cuộc sống cung đình dường như luôn là điều con người thèm khát. Nhưng có một lúc nhà vua mời ông nhìn lên bên trên đầu mình, và người này khi ấy đã trông thấy gì? Một thanh gươm treo lủng lẳng trên đầu ông bằng một sợi lông ngựa, mũi gươm quay xuống dưới. Người cận thần mặt nhợt như tầu lá, cổ họng thắt lại, toàn thân run lẩy bảy. Damoclès nói: cuộc sống của các vua là như thế, có một thanh gươm ngày đêm đe dọa trên đầu.

Thế nhưng chúng ta có thể thêm: không chỉ có các vua ở trong tình trạng như thế. Một thanh gươm treo trên đầu mỗi người, không trừ ai. Nhưng họ không lưu ý, vì ai nấy đều bận tâm vào công việc và giải trí của mình. Thanh gươm này được gọi là cái chết. Vì yêu thương con người chứ không phải ghét họ, Giáo hội phải thỉnh thoảng thi hành nhiệm vụ bạc bẽo này là kêu gọi chúng ta ngước mắt lên để thấy thanh gươm treo lủng lẳng trên đầu, để nó không rơi xuống trên đầu ta vào lúc chúng ta không được chuẩn bị.

Nhưng phải chăng ý nghĩ về cái chết của mình không đủ ám ảnh chúng ta sao? Tại sao phải khuấy dao vào vết thương? Quả thực nỗi sợ chết hiện diện trong đáy lòng mỗi người. Theo một nhà tâm lý học có tiếng, nỗi lo về cái chết là “con sâu ở trọng tâm” mọi tư tưởng. Nó là cách diễn tả trực tiếp của bản năng mạnh mẽ nhất nơi con người, bản năng sinh tồn.

Nếu có thể nghe được tiếng kêu thầm lặng phát ra từ toàn thể nhân loại, người ta sẽ nghe thấy tiếng kêu kinh khủng này: “Tôi không muốn chết!”

Vậy tại sao lại mời gọi con người nghĩ tới cái chết, nếu cái chết đã có mặt. Câu trả lời đơn giản thôi. Chính vì chúng ta đã chọn gạt bỏ ra ngoài ý tưởng về cái chết, làm như nó không có, hoặc chỉ là cho người khác, không phải cho chúng ta. Sau chiến tranh, một khu dân cư mới hạng sang xuất hiện trong một thành phố lớn ở Ý. Các nhà xây dựng đã quyết định không nên có nhà thờ ở đây vì việc nghe tiếng chuông báo tử và thấy đám tang có thể khuấy động sự yên tĩnh của dân cư.

Nhưng ý nghĩ về cái chết không thể bị những phương tiện này gạt ra ngoài. Chỉ còn việc là trấn áp ý nghĩ này và đó là điều hầu như tất cả chúng ta đang làm. Thế mà trấn áp ý nghĩ này đòi hỏi những nỗ lực, một sự chú ý thường xuyên, một nỗ lực tâm lý học mãnh liệt, như thể phải giữ chặt chiếc vung đang muốn bật lên. Chúng ta sử dụng một phần quan trọng của năng lực để tránh nghĩ về cái chết. Một số người thậm chí còn thể hiện sự tin tưởng lớn vào điều này và nói rằng họ biết mình phải chết, nhưng không quan tâm quá nhiều về nó. Họ nói mình nghĩ tới sự sống chứ không phải sự chết… Nhưng đây là thái độ của con người trần tục; thực ra đó chỉ là một trong nhiều cách kìm nén sợ hãi.

Thế nên cuối cùng cần phải nói về sự chết và nói cho đúng về nó trong ngày Thứ Sáu tuần Thánh, ngày sự chết đã bị đánh bại. Cần nói về nó, không phải để làm tăng thêm nỗi sợ hãi, nhưng để được giải thoát khỏi sợ hãi nhờ một người duy nhất có thể làm điều đó.

***

Con ngươi đã tìm thấy những câu trả lời nào cho vấn đề cái chết? Các thi sĩ đã là những người chân thành nhất. Tuy không đưa ra những giải pháp, họ giúp chúng ta ít nhất cũng ý thức về tình huống của chúng ta và mủi lòng về số phận của chúng ta và số phận của những người đồng loại. Một trong số họ (G. Ungaretti) đã viết: “Chúng ta giống như những lá cây mùa thu”. Theo một thi sĩ khác, con người giống như một ngọn sóng cuộn tròn và tiến lên tạo bọt trên mặt biển và không ai biết nó sẽ ùa vào bãi biển nào (G. Becquer). Trước bí ẩn của cái chết, một thi sĩ người Ý (G. Pascoli) đã kêu lên: “Mầu nhiệm quá lớn lao trên trái đất bị đè nặng này”.

Bù lại, những triết gia đã cố gắng “cắt nghĩa” cái chết. Một trong số họ, Épicure, đã quả quyết cái chết là một vấn đề hão, vì như ông nói, “Khi tôi ở đó, cái chết chưa ở đó, và khi cái chết ở đó thì tôi không ở đó nữa”.

Ngay cả thuyết mácxít cũng cố gắng gạt bỏ vấn đề về cái chết. Thuyết này cho rằng cái chết là việc của con người và điều đó chứng minh đúng đắn rằng điều đáng kể không phải là cá nhân, nhưng là xã hội, chủng loại, là thứ không chết. Nhưng thuyết mácxít đã biến mất và vấn đề sự chết vẫn tồn tại. Lâu trước cuộc chạy đua vũ trang hay trên các thị trường thế giới, chủ thuyết cộng sản đã thua cuộc trong các tâm hồn. Đối diện với cái chết, nó đã không biết làm gì khác hơn là xây lăng mộ.

Trước Đức Giêsu Kitô, chính Kinh thánh cũng hầu như giữ thái độ thinh lặng liên quan đến vấn đề sự chết. Tác giả sách Giảng viên đã tuyệt vọng mà kết luận: “Phù vân, quả là phù vân, mọi sự đều là phù vân cả!” (Gv 12,8). Người chết được so sánh với một ngọn đèn dầu bị vỡ và tắt ngúm, với một chiếc vò bị bể ở hồ chứa nước, với một cái ròng rọc đứt dây vĩnh viễn làm rơi cái xô xuống đáy giếng (x. Gv 12,1-8). Sách Huấn ca kết luận: “Hỡi tử thần, nhớ đến ngươi thật là cay đắng!” (Hc 41,1).

***

Đức tin Kitô giáo có thể nói gì về vấn đề này? Một chuyện đơn giản nhưng vĩ đại: cái chết hiện hữu, là vấn đề lớn nhất trong các vấn đề của chúng ta, nhưng Đức Kitô đã chiến thắng sự chết! Cái chết của con người không giống như trước đây, một biến cố mang tính quyết định đã xảy ra. Trong đức tin, người ta nhận thấy một điều mới mẻ không tin nổi mà chỉ chính Thiên Chúa đến mới có thể gây ra. Cái chết đã mất đi ngòi chích của nó, giống như một con rắn mà nọc độc chỉ có thể làm cho nạn nhân ngủ trong vài giờ nhưng không làm người đó tử vong. “Hỡi tử thần, đâu là chiến thắng của ngươi? Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi?” (1Cr 15,55).

Trong Phúc âm, viên đại đội trưởng Rôma đã công bố sự mới mẻ này của cái chết; chứng kiến Đức Giêsu hấp hối, ông kêu lên: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39). Viên đại đội trưởng này biết rõ những người chiến đấu và những cuộc chiến đấu. Ông nhận ra tức khắc tiếng kêu của Đức Giêsu vào lúc tắt thở là tiếng kêu của một người thắng trận chứ không phải của người thua trận.

Nhưng Đức Giêsu đã chiến thắng sự chết như thế nào? Ngài đã không tránh nó, đã không đẩy lui nó như một kẻ thù đang trốn chạy. Ngài đã chiến thắng nó, bằng cách chịu đựng nó, nếm mùi cay đắng của nó. Ngài đã thắng nó từ bên trong, chứ không ở bên ngoài.

Từ đầu, tôi đã nhắc lại những lời của bài đọc thứ hai: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết…” (Dt 5,7) Chúng ta không thật sự có một vị thượng tế không biết động lòng trắc ẩn trước những yếu đuối của chúng ta, nhất là trước nỗi sợ chết. Chúng ta có thể đọc trong Phúc âm thấy Đức Giêsu đã khóc ba lần, trong đó có hai lần vì nỗi đau buồn do cái chết gây ra.

Chính trong vườn Giếtsêmani mà Đức Giêsu đã sống đến cùng kinh nghiệm của con người trước cái chết. Các sách Phúc âm đều nói: “Người bắt đầu cảm thấy hãi hùng xao xuyến”. Hai từ được sử dụng vào lúc này gợi lên ý tưởng về một người đang bị rối loạn sâu xa, cô đơn trong lo sợ, giống như khi người ta cảm thấy mình bị gạt ra ngoài xã hội loài người.

Đức Giêsu đã không sống cái chết như một người có một quân chủ bài có thể sử dụng khi cần. Nếu trong suốt cuộc đời, Đức Giêsu đã nhiều lần cho người ta hiểu rằng Ngài biết mình sẽ sống lại, thì đó là một kiến thức đặc biệt mà Ngài không có, khi Ngài muốn và như Ngài muốn. Tiếng kêu trên thập giá “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” chỉ ra rằng vào lúc đó, với tư cách là con người, Ngài không có được sự chắc chắn đó.

Đức Giêsu đã sống cái chết như chúng ta, như khi chúng ta vượt qua ngưỡng cửa lúc tối và không biết có gì ở bên kia nó. Đức Giêsu chỉ được sự phó thác không lay chuyển vào Cha của Ngài nâng đỡ, khiến Ngài thưa lên: “Lậy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha!” (Lc 23,46).

***

Thế nhưng điều gì đã xảy ra, sau khi Ngài vượt qua ngưỡng cửa trong bóng tối này? Các Giáo Phụ có thói quen sử dụng một hình ảnh để trả lời cho câu hỏi trên. Cái chết giống như một thú dữ cũng đã tấn công Đức Giêsu và nuốt chửng Ngài, nghĩ rằng Ngài đã thuộc về nó như tất cả những gì phải chết. Nhưng con thú đã bị mắc bẫy. Nhân tính của Đức Kitô che giấu nơi mình một quyền năng bất tử, Ngôi Lời Thiên Chúa không thể chết. Cái chết có những chiếc răng bị quyền năng đó bẻ gẫy mãi mãi. Trong một bài giảng cũng dịp thứ Sáu tuần Thánh này, một giám mục ở thế kỷ II đã tuyên bố: “Cùng với Thần Khí của mình không lụy phục cái chết, Đức Kitô đã giết sự chết, một sự chết đã giết con người[68].”

Đức Giêsu đã chiến thắng sự chết “bằng cách chết”. Mortem nostram moriendo destruxit: chính là tiếng kêu vượt qua ngày nay vẫn đồng loạt vang lên cả trong Giáo hội Đông phương lẫn Tây phương. Sữ chết không còn là một bức tường mà đứng trước nó mọi sự đều đổ vỡ; đó là một sự vượt qua, tức là một cuộc Vượt Qua. Đó là một loại “cầu Than Thở” (ở thành phố Venetia) nhờ đó người ta đi vào cuộc sống thật không còn phải chết nữa.

Quả thực, lời loan báo Kitô giáo quan trọng nhất là ở đó, Đức Giêsu đã không chết cho Ngài. Ngài không chỉ để lại cho chúng ta gương mẫu về một cái chết oai hùng, như Socrates. Ngài còn làm hơn thế nữa. Thánh Phaolô nói: “Một người đã chết thay cho mọi người” (2Cr 5,14) và: “Đức Giêsu đã phải chết là để cho mọi người được cứu độ” (Dt 2,9). Những quả quyết lạ lùng trên đây không làm chúng ta reo lên vui mừng, chỉ là vì chúng ta không đánh giá cho đúng tầm quan trọng của chúng và theo đúng mặt chữ như chúng ta đáng lẽ phải làm. “Được dìm vào trong cái chết của Đức Kitô” (Rm 6,3), chúng ta đi vào trong một tương quan thực sự, cho dù thần bí, với cái chết này, chúng ta dự phần vào đó, đến độ thánh Tông Đồ đã can đảm công bố trong đức tin: “Anh em đã chết, và sự sống mới của anh em hiện đang tiềm tàng với Đức Kitô nơi Thiên Chúa.” (Cl 3,3) “Một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết.” (2Cr 5,14)

Chúng ta hiểu điều đó dễ dàng. Vì từ nay chúng ta thuộc về Đức Giêsu Kitô hơn thuộc về chính chúng ta (x. 1Cr 6,19 tt), kết quả là, ngược lại, những gì thuộc về Đức Kitô thì thuộc về chúng ta hơn là những gì thuộc về chúng ta. Cái chết của Ngài thuộc về chúng ta hơn là cái chết riêng của chúng ta. Phaolô còn nói: “Sự sống, sự chết, hiện tại, tương lai, tất cả đều thuộc về anh em, vì anh em thuộc về Đức Kitô” (1Cr 3,22 tt). Sự chết là cho chúng ta hơn chúng ta là cho sự chết; nó thuộc về chúng ta hơn là chúng ta thuộc về nó. Trong Đức Kitô, chúng ta cũng đã chiến thắng sự chết.

Khi là về cái chết, điều quan trọng nhất trong Kitô giáo không phải là chúng ta phải chết, nhưng là sự kiện Đức Kitô đã chết. Kitô giáo không thâm nhập vào lương tâm với nỗi sợ chết, nhưng với cái chết của Đức Kitô. Đức Kitô đến giải thoát con người khỏi nỗi sợ chết, chứ không làm tăng nỗi sợ ấy. Con Thiên Chúa đã mặc lấy xác thịt con người, “để kẻ nắm quyền sự chết là ma quỷ phải chịu bất lực, và như thế giải thoát những ai, vì sợ chết, đã phải làm tôi suốt đời” (Dt 12. 14 tt).

Điều có lẽ làm cho chúng ta sợ hãi nhất trong cái chết, là phải đương đầu với sự cô đơn. Một tác giả đã viết: “Không ai có thể chết cho người khác, nhưng mỗi người sẽ phải vật lộn với cái chết. Chúng ta có thể tha hồ hét to vào tai người sẽ ở bên cạnh chúng ta, nhưng vào lúc đó, mỗi người sẽ phải gặp lại chính mình[69].”

Nhưng điều đó không hoàn toàn đúng. “Nếu chúng ta cùng chết với Ngài, chúng ta sẽ cùng sống lại với Ngài” (2Tm 2,11). Như vậy có thể có hai người cùng chết.

Chúng ta biết sự nghiêm trọng của an tử theo quan điểm Kitô giáo. An tử làm cho cái chết của con người không còn liên hệ với cái chết của Đức Kitô; làm cho cái chết mất đi đặc tính vượt qua của nó; nó đưa cái chết về lại tình trạng trước khi Đức Kitô đến. Cái chết mất đi sự oai nghiêm khắc khổ của nó khi trở thành công việc của con người, quyết định của một sự tự do có giới hạn. Nó hoàn toàn “bị tục hóa”, nghĩa là bị tước bỏ tính chất thánh thiêng của nó.

***

Từ khi có thế giới, con người đã không bao giờ ngừng tìm kiếm các phương dược chống lại cái chết. Một trong những phương dược ấy, có tính chất kiểu mẫu nơi Cựu Ước, là con cái: sống còn qua các con cái của mình. Một phương dược khác là nổi tiếng. Một thi sĩ ngoại đạo đã viết: “Tôi sẽ không chết hoàn toàn (non omnis moriar)”. “Tôi đã dựng lên một công trình kỷ niệm bền vững hơn đồng (aere perennius)” (Horatius).

Ngày nay, người ta ngày càng chạy đến một phương dược giả (pseudo-remède) mới mẻ: học thuyết về sự tái đầu thai. Nhưng có lời chép rằng: “Phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9,27). Chỉ một lần, semel! Học thuyết tái đầu thai không phù hợp với đức tin Kitô giáo. Cách trình bày ở Tây phương về việc tái đầu thai là kết quả, trong số những kết quả khác, của một sự sai lầm lớn. Ở nguồn gốc, và trong tất cả các tôn giáo tuyên xưng sự tái đầu thai như một điều phải tin, sự tái đầu thai không có nghĩa là một sự bổ sung của cuộc sống, nhưng của đau khổ, nó không phải là nguồn mạch an ủi, nhưng là nguồn mạch lo sợ. Cùng với nó, người ta nói như sau cho con người: Coi chừng, nếu ngươi làm điều xấu, ngươi sẽ phải tái sinh để đền bồi cho việc làm ấy.” Chính là một lời đe dọa và một hình phạt. Giống như nói với một tù nhân trong ngày cuối bị giam giữ là hình phạt đã được tăng gấp đôi và anh ta phải bắt đầu lại từ đầu. Chúng ta có tất cả, chúng ta đã thích nghi tất cả với não trạng Tây phương duy vật và tục hóa. Chúng ta đã biến học thuyết tái đầu thai, được phát minh trước tin mừng Phục sinh của Đức Kitô, thành một cái cớ để thoát khỏi tính nghiêm trọng của cuộc sống và cái chết.

Phương dược thật sự là phương dược được Giáo hội nhớ đến ngày hôm nay: “Một người đã chết thay cho mọi người” “Đức Kitô đã trải nghiệm cái chết vì lợi ích của mọi người!” Để bảo vệ mình trước cái chết, chúng ta không được làm gì khác ngoài việc gần gũi hơn với Ngài. Chúng ta phải thả neo vào Đức Giêsu Kitô bằng đức tin, như chiếc neo người ta cắm xuống đáy biển để con tầu có thể chịu được cơn bão đang đe dọa.

Ngày xưa người ta dạy nhiều cách dọn mình chết. Cách chính là năng nghĩ về nó, hình dung về nó trong những chi tiết bệnh hoạn nhất. Điều quan trọng không phải thật sự nhìn tới cái chết của chúng ta, nhưng đúng hơn là nhìn tới cái chết của Đức Giêsu Kitô, không phải chiếc sọ biểu tượng cho cái chết, nhưng là Đấng bị đóng đinh trên thập giá. Cường độ kết hợp với Ngài sẽ đáp ứng với cường độ tự tin của chúng ta trước cái chết.

Chúng ta phải làm thế nào để sự gắn bó của chúng ta với Đức Kitô mạnh hơn sự gắn bó của chúng ta với những sự vật, với công việc, với người thân yêu, với mọi sự, sao cho không gì có thể giữ chúng ta lại khi “đến giờ phải ra đi” (2Tm 4,6).

Khi sắp qua đời, Phanxicô Assisi, người đã thực hiện ở mức hoàn hảo sự kết hợp với Đức Kitô, đã thêm một đoạn vào trong bài ca vạn vật: “Lạy Chúa, Chúa đáng ca ngợi vì chị Chết của chúng con, mà không người còn sống nào có thể thoát khỏi.” Và khi người ta cho hay là ngài sắp lìa đời, ngài đã kêu lên: “Chào mừng bà chị Chết của tôi!” Cái chết đã thay đổi bộ mặt: đã trở nên một người chị.

Phanxicô Assisi đã không phải là người duy nhất. Sau Thế chiến II, một cuốn sách nhan đề Những lá thư cuối cùng từ Stalingrad đã được xuất bản. Đó là một tập thư của các người lính Đức thuộc một đoàn quân xa cuối cùng mắc bẫy ở Stalingrad trước cuộc tấn công của quân đội sô viết, và tất cả đều chết. Nơi một trong những lá thư trên, một người lính trẻ đã viết cho cha mẹ như sau: “Con không sợ chết. Đức tin đã cho con sự tin chắc sâu xa này!”

***

Trước khi chết, Đức Giêsu đã lập phép Thánh Thể và như vậy đã lường trước hạn cái chết của Ngài; Ngài đã loại bỏ nó khỏi tình cờ, những biến cố và những giải thích ngẫu nhiên. Ngài đã cho nó một ý nghĩa, ý nghĩa do chính Ngài ban chứ không phải ý nghĩa do kẻ thù gán cho: biến nó thành việc tưởng niệm của Giao Ước mới, đền bồi tội lỗi, lễ dâng tối cao của tình yêu cho Chúa Cha vì loài người. Ngài nói: “Hãy cầm lấy mà ăn, vì này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”.

Trong mỗi Thánh lễ, Ngài cũng cho chúng ta cơ hội tuyệt vời này là ban trước một ý nghĩa cho cái chết của chúng ta, là kết hợp chúng ta với Ngài để làm cho Thánh lễ trở thành một món quà sống động trong Đức Kitô, một sự đổ máu làm lễ tế, như Thánh Phaolô nói (x. 2Tm 4,6).

Một hôm, vào lúc xế chiều, trên bờ hồ Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Chúng ta hãy sang bờ bên kia đi!” (Mc 4,35) Một ngày hay một buổi chiều nào đó, Ngài cũng sẽ nói với chúng ta những lời trên: “Chúng ta hãy sang bờ bên kia đi.” Phúc cho những ai giống như các môn đệ sẵn sàng đưa Ngài lên thuyền và nhổ neo với Ngài trong đức tin.

Trong ngày hôm nay, một lời tạ ơn sâu sắc mạnh mẽ vọt lên từ trái tim người tín hữu và từ toàn thể nhân loại:

Lạy Chúa Giêsu, chúng con tạ ơn thay cho người biết và người không biết Chúa vì Chúa đã chết cho họ. Chúng con tạ ơn vì mồ hôi máu Chúa, vì sự lo âu của Chúa và tiếng kêu chiến thắng của Chúa trên thập giá. Xin Chúa ở kề bên những ai sắp ly trần và lặp lại cho họ điều Chúa đã nói cho người trộm lành trên thập giá: “Ngày hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với tôi!” Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con vì trời đã tối và cuộc sống đã đến hồi tàn tạ…


XVIII. “LÀ CÁC NGƯƠI ĐÃ LÀM CHO TA”

Thánh Lêô Cả viết: “Cuộc Khổ nạn của Chúa còn kéo dài cho tới tận thế[70].” Theo ngài, cuộc Khổ nạn ấy kéo dài trong Nhiệm Thể của Chúa là Giáo hội, nhất là nơi người nghèo, người bệnh và người bị bách hại. Blaise Pascal làm cho ý tưởng này nổi tiếng khi biến nó làm của mình: “Đức Giêsu hấp hối cho tới tận thế. Không được ngủ trong suốt thời gian này[71].”

Năm nay, chúng ta suy niệm đôi điều về những gì Đức Giêsu đang chịu khổ và hấp hối ngày hôm nay. Phụng vụ là tưởng niệm, hiện diện và chờ đợi. Có ba chuyển động lý tưởng luôn khởi đi từ phụng vụ: chuyển động thứ nhất, ngược về những biến cố lịch sử được tưởng niệm; chuyển động thứ hai, đi về phía dưới, nghĩa là với việc trở lại vinh quang của Chúa; chuyển động sau cùng, ở bên trong, nghĩa là lúc hiện tại của cuộc sống chúng ta. Chúng ta hãy đi theo chuyển động thứ ba này và khởi từ cử hành phụng vụ hôm nay, chúng ta hãy nhìn về thực tại chung quanh chúng ta.

Ngày hôm nay, Đức Giêsu ở đâu, chịu khổ nơi nào, hấp hối nơi nào? Ở nhiều nơi và trong nhiều tình huống. Nhưng chúng ta chú ý tới một điều thôi, là sự nghèo khó, để không bị mất hút trong mơ hồ và trong vô số chuyện. Những người nghèo là hình ảnh của Đức Kitô bị đóng đinh. Những chiếc đinh là những bất công, những đau khổ và hạ nhục mà người ta bắt họ phải chịu. Đức Kitô không thể xuống khỏi thập giá nếu chúng ta không tháo đinh cho Ngài…Nếu chúng ta không có khả năng tháo ngay lập tức và ở mọi nơi trong thực tế, chúng ta hãy bắt đầu ít nhất tháo đinh cho Ngài trong tâm hồn chúng ta, tháo đinh cho Ngài bên trong chính chúng ta.

***

Tội lớn nhất chúng ta có thể phạm tới người nghèo có lẽ là tội thờ ơ, giả vờ như không thấy, “tránh qua bên kia” (Lc 10,31). Không biết có vô số người đói khát, ăn xin, không nơi trú ẩn, không được giúp đỡ thuốc men và nhất là không có hy vọng một tương lai sáng sủa hơn – Đức Giáo Hoàng đã viết như thế trong thông điệp Sollicitudo rei socialis – “điều đó có nghĩa là chúng ta giống như nhà phú hộ kia giả vờ không nhận ra Ladarô người ăn xin đang ngồi trước cửa[72].”

Chúng ta có khuynh hướng lắp hai cửa kính ngăn chúng ta với người nghèo. Ngày nay, người ta làm nhiều cửa kính đôi, có hiệu quả là ngăn cản gió lạnh và tiếng động từ bên ngoài vào; tất cả đều được giảm thiểu, thay đổi, nhét bông. Và chúng ta thấy những người nghèo di chuyển, hối hả, hét to trên màn ảnh nhỏ, chúng ta thấy họ trên những trang báo, trong các tập san truyền giáo, nhưng tiếng kêu cứu của họ chỉ vang đến chúng ta từ rất xa. Nó không đi sâu vào trong tâm hồn chúng ta.

Thế nên công việc đầu tiên phải làm là phá vỡ cửa kính đôi, lướt thắng thờ ơ và vô cảm. Chúng ta phải dẹp bỏ bản năng của mình là tự vệ và để bản thân tràn ngập nỗi lo lắng đúng đắn, do sự lầm than khủng khiếp đang hoành hành trên thế giới gây ra. Phải để cho người nghèo đi vào trong da thịt của chúng ta. Phải “ý thức tới” người nghèo. Sự ý thức này là dấu chỉ cho thấy cuối cùng chúng ta mở mắt, lương tâm thức tỉnh và bắt đầu thấy điều đã có trước đây nhưng chúng ta đã không thấy. Đức Phaolô VI viết: “Tiếng kêu cứu của người nghèo buộc chúng ta phải “thức tỉnh các lương tâm trước thảm kịch của lầm than và trước những đòi hỏi thuộc công bình xã hội của Phúc âm và Giáo hội[73].”

Hãy tưởng tượng một ngày kia chúng ta nhìn lên màn hình thấy những hình ảnh về một tai họa – một cảnh xe lửa trật đường rầy, một tai nạn xe hơi trên đường cái, một tòa nhà sụp đổ hay bốc cháy – chúng ta bỗng nhận ra một người thân của chúng ta trong số nạn nhân: mẹ chúng ta, anh em chúng ta, chồng của chúng ta. Một tiếng kêu thất thanh từ lòng chúng ta phát ra. Và lòng chúng ta đảo lộn so với một lúc trước đây. Biến cố có một chiều kích hoàn toàn khác. Điều gì đã xảy ra? Một điều rất đơn giản: những gì chúng ta thấy trước đây chỉ bằng đôi mắt và cái đầu, giờ đây chúng ta thấy bằng con tim. Thì chính là điều sẽ xảy ra, ít nhất ở một mức độ nào đó, khi chúng ta thấy trước mắt một số cảnh tượng lầm than gây ảo giác. Họ có phải là anh em của chúng ta không. Tất cả chúng ta có thuộc về cùng một gia đình nhân loại không? Phải chăng không có lời chép rằng “chúng ta là chi thể của nhau” (Rm 12,5) sao?

Than ôi, với thời gian, chúng ta quen với mọi sự, chúng ta đã quen với sự khốn cùng của người khác, với những hình ảnh cho thấy những thân thể chỉ còn là những bộ xương do nạn đói gây ra. Sự khốn khổ không đánh động chúng ta nữa, chúng ta coi chuyện đó hầu như không tránh được. Nhưng chúng ta hãy đứng một lát bên cạnh Chúa, hãy cố gắng nhìn sự việc như Chúa nhìn. Có người đã so sánh trái đất với một phi thuyền bay trong vũ trụ, trong đó một trong ba phi hành gia tiêu thụ 85% tài nguyên để mình dùng và âm mưu chiếm đoạt 15% tài nguyên còn lại.

***

Với việc Đức Giêsu Kitô đến, vấn đề người nghèo đã mang một chiều kích mới trong lịch sử. Thậm chí nó còn trở thành một vấn đề Kitô học. Đức Giêsu Nadaret đã đồng hóa mình với người nghèo. Đấng đã tuyên bố những lời sau đây khi chia sẻ bánh: “Này là Mình Thầy”, cũng đã nói những lời như vậy khi nói về người nghèo. Ngài đã nói những lời ấy khi mà, nhân nói về những gì được làm hay không được làm cho kẻ đói khát, khách lạ, trần truồng, tù nhân, Ngài đã long trọng tuyên bố: “là các ngươi đã làm cho chính ta” và “là các ngươi đã không làm cho chính ta” (Mt 25, 31tt). Trên thực tế, điều đó muốn nói lên rằng “người rách rưới, người xin chút bánh, người ngửa tay xin, chính là Ta.”

Tôi nhớ tới lần đầu tiên khi sự thật này “nổ tung” trong tôi với tất cả sự nguyên vẹn của nó. Tôi đang thi hành sứ vụ trong một nước thuộc thế giới đệ tam, và mỗi cảnh tượng khốn cùng mới mà tôi chứng kiến – một đứa trẻ ăn mặc rách rưới, bụng thõng, mặt mũi đầy ruồi nhặng, hoặc một nhóm nhỏ chạy theo chiếc xe chở rác, hy vọng kiếm được thứ gì đó từ bãi rác, hoặc một thân thể đầy thương tích – tôi nghe thấy vang lên trong tôi một giọng nói: “Này là Mình Thầy.” Đã có một cái gì đó khiến tôi khó thở.

Người nghèo cũng là một “đại diện Đức Kitô”, biểu thị Đức Kitô. Không phải theo nghĩa những gì họ làm như thể chính Đức Kitô đã làm, nhưng theo nghĩa những gì người ta làm cho người nghèo là như làm cho Đức Kitô. “là các ngươi đã làm cho chính Ta.”

Có một mối dây liên hệ rất chặt chẽ giữa Thánh Thể và người nghèo. Cả hai đều là Thân Thể Đức Kitô, theo cách khác nhau. Đức Kitô hiện diện trong Thánh Thể và nơi người nghèo. Thánh Gioan Kim Khẩu viết:

“Bạn muốn kính trọng thân thể Đức Kitô chăng? Đừng để Ngài bị khinh rẻ trong các chi thể Ngài, nghĩa là nơi các người nghèo, không có quần áo che thân. Đừng kính trọng Ngài trong nhà thờ với những vải vóc lụa là trong khi bạn để Ngài bên ngoài trời, chịu cảnh lạnh lẽo vì thiếu áo quần. Có lợi gì khi bàn của Đức Kitô đầy những bình bằng vàng trong khi chính Ngài chết đói nơi người nghèo? Tiên vàn, hãy cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, và sau đó mới trang hoàng bàn thờ bằng những gì còn lại[74].”

Vả lại, chính Đức Kitô qua các thế kỷ đã mau mắn xác nhận cách giải thích hẹp và thực tiễn về lời của Ngài: “là các ngươi đã làm cho chính ta.” Một ngày nọ, lúc Martinô còn là một binh sĩ đang là dự tòng, ở miền bắc Âu châu, nơi ông thực hiện nghĩa vụ quân sự, ông đã gặp một người nghèo không đủ áo quần đang run rẩy vì lạnh. Không có gì khác ngoài tấm áo choàng đang khoác trên vai, ông lấy gươm cắt nó ra làm đôi, đưa cho người nghèo một nửa. Đến đêm, Đức Kitô hiện ra, mặc đúng nửa tấm vải choàng mà ông đã chia cho, và tự hào nói với các thiên thần vây quanh như sau: “Martinô còn là dự tòng mà đã biết phủ Ta bằng mảnh áo choàng này[75].”

Thật sự người nghèo là chính Đức Giêsu sống trong người đó. Hơi giống với lúc Ngài hiện ra sau khi sống lại dưới nhiều hình thức khác nhau – với Maria như một người giữ vườn, với các môn đệ Emmau như người khách bộ hành, với các tông đồ trên bờ hồ như một người qua đường – trong khi chờ đợi mắt họ mở ra. Người đầu tiên nhận ra khi ấy đã kêu lên: “Chúa đó!” (Ga 21,7) Ôi, chớ gì khi trông thấy một người nghèo, miệng chúng ta cũng có thể kêu lên mà nhận ra rằng: “Chúa đó”, Đức Giêsu đó!

***

Phải làm gì để thể hiện mối quan tâm của chúng ta đối với người nghèo, ít ra ở một mức độ nào đó? Người nghèo không cần những tình cảm tốt đẹp của ta, nhưng cần thấy việc làm. Thế nhưng chỉ những cử chỉ này thôi cũng sẽ chỉ làm cho lương tâm xấu của chúng ta được yên ổn. “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.” (1Ga 3,17-18)

Những gì chúng ta phải làm cụ thể cho người nghèo có thể tóm gọn vào trong ba từ: loan báo Phúc âm cho họ, yêu thương họ và giúp đỡ họ.

Loan báo Phúc âm cho người nghèo: đó là sứ mệnh Đức Giêsu thừa nhận như là công việc tuyệt vời của mình (x. Lc 4,18) và Ngài giao phó việc ấy cho Giáo hội. Chúng ta không được để cho lương tâm xấu của mình thúc đẩy chúng ta làm điều bất công lớn này là tước đi quyền được nghe tin mừng của những người lẽ ra là những người đầu tiên và tự nhiên nhất phải được nghe. Có lẽ chúng ta viện lý do như câu châm ngôn nói: “Bụng đói thì không có tai”.

Đức Giêsu đã làm cho bánh hóa ra nhiều thì cũng làm như vậy đối với lời. Thậm chí Ngài còn ban lời trước (có khi trong ba ngày liền), chỉ sau đó mới quan tâm tới bánh. Người nghèo không chỉ sống vì bánh, nhưng còn sống bằng hy vọng và bằng mỗi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. Người nghèo có quyền thiêng thánh được nghe toàn bộ Phúc âm, chứ không phải trong bản cô đọng, thích nghi và đôi khi bị chính trị hóa.

Ngày hôm nay họ cũng có quyền nghe tin mừng: “Phúc cho những ai nghèo khó”. Phải, dầu sao họ cũng được chúc phúc. Là vì, một “khả thể” vô hạn, bị cấm cản hoặc rất khó đạt tới đối với người giầu, lại được cống hiến cho họ: Nước Trời.

Yêu thương người nghèo: Yêu mến Đức Kitô và yêu thương người nghèo đáp ứng lẫn nhau. Một số người, như Charles de Foucault, khởi sự từ yêu mến Đức Kitô để đi đến chỗ yêu thương người nghèo. Có những người khác, như Simone Weil, khởi đi từ yêu thương người nghèo, người vô sản để từ đó được dẫn tới chỗ yêu mến Đức Kitô.

Yêu thương người nghèo trên hết có nghĩa là kính trọng họ, thừa nhận phẩm giá của họ. Nơi họ phẩm giá căn bản nhất của con người chiếu tỏa ánh sáng rực rỡ nhất, chính vì họ không có bất cứ một tước hiệu danh giá nào, và những phân biệt thứ yếu nào.

Yêu thương người nghèo còn có nghĩa là xin họ tha thứ. Tha thứ vì đã không thật sự vui mừng đến gặp gỡ họ; vì những khoảng cách, dầu sao chúng ta cũng đã tạo ra giữa ta với họ; vì những nhục nhã họ liên tục phải chịu; tha thứ vì chúng ta chỉ tức giận cách thụ động trước bất công; vì sự mị dân mà chúng ta có đối với họ; vì mỗi người cho ý kiến của mình và như vậy cố gắng hợp pháp hóa sự thinh lặng của chúng ta. Tha thứ vì luôn dám chắc với sự chính xác toán học là không bị lừa gạt trước khi làm một cử chỉ nhỏ bé nhất cho họ. Tha thứ vì không thừa nhận nơi họ một nhà tạm sống động của Đức Kitô nghèo khó và bị khinh rẻ; vì không ở trong số họ.

Hơn nữa, người nghèo không chỉ đáng cho ta thương cảm, thương xót, họ còn đáng cho ta thán phục. Họ là những nhà vô địch về nhân bản. Mỗi năm người ta trao giải Nobel, những huy chương vàng, bạc, đồng cho người xứng đáng hoặc chiến thắng trong cuộc tranh tài chỉ vì một số người có khả năng chạy nhanh hơn trong cuộc đua một trăm mét, hai trăm mét hay bốn trăm mét vượt rào, hoặc nhảy cao hơn người khác một phần trăm mét, hoặc chiến thắng trong cuộc đua maratông hoặc cuộc lượn xuôi trên tuyết. Nhưng nếu chú ý đến những cú nhảy chết người, tới sức chịu đựng, tới những cuộc lượn xuôi mà người nghèo có khả năng làm, không chỉ một lần, nhưng kéo dài cả cuộc đời, thì những màn trình diễn của các lực sĩ giỏi nhất dường như chỉ là những trò không đáng kể.

Cuối cùng là cứu giúp người nghèo. Thánh Giacôbê viết: “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: ‘Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no’, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì? Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết” (Gc 2,15-17). Trong ngày phán xét, Đức Giêsu sẽ không nói: “Ta mình trần, các ngươi đã thương xót số phận của ta” nhưng “Ta mình trần, các người đã cho mặc.”

Ngày nay, thuần túy bố thí không còn đủ nữa, cho dù không có gì miễn cho chúng ta làm tất cả trong khả năng của chúng ta, ngay cả bằng cách cho ít tiền. Điều phải làm ngày nay, chính là một chiến dịch mới, huy động tất cả Kitô giới và thế giới dân sự trong mọi mặt để giải phóng những ngôi mộ sống của Đức Kitô là hàng triệu người chết vì đói khát, bệnh tật, kiệt sức. Đó sẽ là một cuộc thập tự chinh đúng nghĩa, cuộc thập tự chinh của Đức Kitô. Hủy bỏ hay giảm thiểu hố sâu bất công và gây gương mù giữa người giàu và người nghèo trên thế giới là nhiệm vụ cấp bách nhất (và quan trọng nhất) mà thiên niên kỷ đang qua đi để lại cho thiên niên kỷ sắp bắt đầu.

Không phải Thiên Chúa mà chúng ta trách giận khi thấy thế giới lầm than, nhưng là trách giận chính chúng ta. Có một hôm tôi đọc thấy chuyện một người có hành vi tức tối và nổi loạn khi thấy một đứa bé gái đang rét cóng và khóc vì đói. Người này kêu trách: “Hỡi Thiên Chúa, Ngài ở đâu vậy? Sao Ngài không làm gì cho đứa bé vô tội này?” Nhưng một tiếng nói bên trong trả lời ông: “Chắc chắn Ta đã làm điều gì đó cho con bé. Ta đã tạo dựng nên ngươi.”

***

Một Thánh vịnh tuyên bố là có phúc những ai quan tâm đến số phận của người nghèo: “Beatus vir qui intelligit super egenem et pauperem – Phúc thay kẻ lưu tâm đến người nghèo khổ” (Tv 41,1). Và một phúc lành rút ra từ bản Phổ Thông được kêu cầu cho người đó: “Dominus conservet eum, et vivificet eum, et beatum faciat eum in terra – Chúa bảo vệ và giữ gìn mạng sống họ, và ban cho họ hạnh phúc trên đời.”

Trong Giáo hội công giáo, lời kêu cầu này trở thành một kinh nguyện phụng vụ chính thức cầu cho Đức Giáo Hoàng, pro Summo Pontifice. Các cha và anh em kính mến, cho phép tôi đọc lại lời kinh này để kết thúc bài suy niệm về những người nghèo.

Chính những người nghèo, thông qua tôi, cảm ơn và chúc tụng trong ngày hôm nay, khi chúng ta tưởng niệm cuộc Khổ nạn của Đức Kitô đang diễn ra nơi họ. Không ai trên thế giới xứng đáng hơn Đức Giáo Hoàng lời chúc tụng này, vọt lên từ tâm hồn những người nghèo. Gương của ngài không cho phép một ai, ở trong hay ở ngoài Giáo hội, được yên hàn trong sự ích kỷ và thờ ơ của mình, trước vô số những người thua thiệt trên trái đất, “Dominus conservet eum, et vivificet eum, et beatum faciat eum in terra – Chúa bảo vệ và giữ gìn mạng sống ngài, và ban cho ngài hạnh phúc trên đời.”


XIX. “NGƯỜI ĐÃ PHÁ ĐỔ BỨC TƯỜNG NGĂN CÁCH”

Trong Tông thư Ngàn năm thứ ba đang đến, một văn kiện giống như một vì sao hướng dẫn Giáo hội công giáo hướng về Năm Thánh 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết:

“Thật chính đáng khi thiên niên kỷ thứ hai của Kitô giáo sắp kết thúc, Giáo hội nhận trách nhiệm về tội lỗi của các con cái mình với một ý thức sâu sắc… Giáo hội không thể bước qua ngưỡng cửa ngàn năm mới mà không thúc giục con cái mình lấy lòng thống hối thanh tẩy hết những lỗi lầm, những bất trung, những chệch choạc, những chậm chạp.” (số 33).

Trong số những tội này, nổi bật nhất là tội phạm đến dân Do Thái. Kết thúc cuộc Hội thảo về người Kitô hữu và chủ thuyết bài Do Thái, tổ chức tại Vatican từ 30 tháng 10 đến 1 tháng 11 năm 1997, Đức Giáo Hoàng quả quyết:

“Trong thế giới Kitô giáo, những cách giải thích sai lầm và bất công của Tân Ước liên quan đến dân Do Thái và tội lỗi của họ đã lưu hành quá lâu, làm nảy sinh những tình cảm thù hận đối với dân này. Chúng đã góp phần nhấn chìm nhiều lương tâm đến nỗi khi làn sóng khủng bố lấy cảm hứng từ chủ nghĩa bài Do Thái ngoại giáo tràn vào châu Âu […], sự kháng cự tinh thần của nhiều người đã không phải là sự kháng cự mà nhân loại có quyền mong đợi từ các môn đệ của Chúa Kitô.”

Đã từ lâu, những nền tảng thần học cho phép người ta can đảm nhận trách nhiệm này được làm sáng tỏ, mà không làm suy yếu tí nào niềm tin của chúng ta vào Giáo hội, một Giáo hội tự nó là “thánh thiện và vô tì tích[76]”.

Nhưng trong những lời cầu xin tha thứ từ phía Giáo hội, còn có một ý nghĩa thần học mà người ta phải nhận ra. Khi Giáo hội nhận trách nhiệm về những lầm lỗi mà các phần tử của mình phạm phải, Giáo hội làm một hành vi có lẽ là đẹp nhất có thể làm trên trái đất: Giáo hội minh oan cho Thiên Chúa, Giáo hội công bố Thiên Chúa vô tội, “anaitios o Theos! Thiên Chúa không có tội nào”; chính chúng ta mới là kẻ có tội. Giáo hội mượn lời tiên tri xưa mà nói: “Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, quả là Đấng công chính; còn chúng tôi, chúng tôi phải bẽ mặt thì cũng đáng” (Br 1,15)

***

Trải qua các thế kỷ, ngày thứ Sáu tuần Thánh đã là mảnh đất ưu đãi vun đắp thái độ thiếu hiểu biết và thù nghịch đối với người Do Thái. Thế nên thật chính đáng khi công trình hòa giải và “thanh tẩy ký ức” khởi đi từ ngày thứ Sáu tuần Thánh.

Thánh Phaolô giải thích cho chúng ta biến cố thập giá:

Chính Người là sự bình an của chúng ta. Người đã liên kết đôi bên, dân Do Thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét […] Như vậy khi thiết lập hòa bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người. Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất. Trên thập giá, người đã tiêu diệt sự thù ghét […]. Nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.” (Ep 2,14-18)

Chắc chắn hai dân này là dân Do Thái và dân ngoại.

Nhãn quan tiên tri này của vị Tông Đồ đã lu mờ rất nhiều trong các sự kiện. Chính trong một bài giảng ngày thứ Sáu tuần Thánh ở Tiểu Á vào thế kỷ thứ II (chúng ta đã đọc một đoạn trong Phụng vụ Giờ Kinh hôm qua) mà lần đầu tiên Meliton de Sardes tố cáo người Do Thái về tội giết Thiên Chúa, không cần úp mở. “Người đã làm gì, hỡi Israel? Người đã giết Chúa của ngươi trong ngày đại lễ. Ngươi hãy lắng nghe tiếng con cháu các dân tộc và hãy nhìn xem. Vua đã bị lăng nhục. Thiên Chúa bị giết chết…bởi tay người Do Thái[77]”.

Chính trong bối cảnh cuộc luận chiến chống Do Thái mà loại Thán ca (Impropères hay Reproches), đã có nơi Melito, xuất hiện, sau này cũng xuất hiện trong phụng vụ la tinh tôn thờ thánh giá, Người ta lần lượt kể lại những việc lành Thiên Chúa đã làm cho Israel, và đáp lại là thái độ vô ơn bội bạc của dân. “Chính Người đã đưa ngươi ra khỏi Ai Cập… Còn ngươi thì trái lại…”

Đúng là trong bản văn này và những bản văn khác tương tự, phải gán phần lớn cho khoa tu từ, cách riêng cho loại văn đả kích rất thịnh hành thời ấy. Nhưng hạt giống đã gieo và sẽ để lại dấu ấn trong phụng vụ (người ta nghĩ tới tính từ nổi tiếng được sử dụng trong lời cầu nguyện cho người Do Thái và đã bị bỏ đi), trong nghệ thuật và thậm chí trong văn hóa dân gian, góp phần vào việc phổ biến kiểu nói khuôn đúc tiêu cực “bọn Do Thái”.

Linh ảnh byzantin về cảnh đóng đinh hầu như luôn cho thấy hai khuôn mặt phụ nữ dưới chân thập giá. Trong một số trường hợp, cả hai đều quay mặt về thập giá, nhưng rất thường là người thì nhìn thập giá còn người kia thì quay lưng lại, hoặc thậm chí bị thiên thần bắt phải rời xa thập giá. Đó là Giáo hội và Hội đường. Người ta đã quên lời Thánh Phaolô quả quyết rằng Đức Kitô chịu chết trên thập giá để liên kết hai thực tại này chứ không phải để chia rẽ.

Tất cả điều ấy, như Đức Thánh Cha lưu ý, đã khiến cho các Kitô hữu bớt cảnh giác khi mà, trong thế kỷ chúng ta, cơn giận dữ của Đức Quốc Xã đã nổ ra chống lại người Do Thái. Tóm lại, điều ấy đã gián tiếp ủng hộ cho Shoah (Holocauste: người Do Thái bị giết như lễ vật Hy Sinh). Nhưng rất lâu trước khi có sự kết thúc gây tử vong này, cuộc tranh cãi đã được dùng để biện minh cho nhiều sự phiền nhiễu và đã gây ra cho dân Do Thái nhiều đau khổ từ phía dân Kitô giáo và từ chính các tổ chức của Giáo hội.

Nhưng tôi phải nói đến điều dường như cần phải làm sáng tỏ nhất. Trong cuộc tranh luận mới đây tiếp theo sau Văn kiện “Chúng tôi nhớ” của Hội Đồng giáo hoàng về việc hợp nhất các Kitô hữu được phổ biến, một học giả được nhiều người biết đến đã đưa ra một cách triệt để cho toàn bộ vấn đề. Ông viết nơi trang nhất của một tờ nhật báo lớn:

“Nguồn gốc của mọi chủ trương bài Do Thái là ở trong Tân Ước, đặc biệt trong các thư Thánh Phaolô và sách Khải huyền. Một người con của Israel không thể quên rằng thời các Tổ Phụ, trong đó anh ta đã quen nhìn thấy sự phục hồi của Lề Luật và đỉnh cao của mối tương quan phó thác với Thiên Chúa, được Phaolô đánh giá là một thời kỳ bị tội lỗi và sự chết chi phối. Anh ta không thể chịu được rằng Giêrusalem, nơi thiêng thánh tuyệt vời, được tác giả sách Khải huyền coi là nơi tập trung của sự dữ thể lý và siêu hình, nơi Con Rồng và Con Thú trị vì.”

Tác giả viết tiếp: phương dược duy nhất là “kiểm duyệt Thánh Phaolô, kiểm duyệt sách Khải huyền và những đoạn Phúc âm trong đó tình cảm bài Do Thái được diễn tả cách mãnh liệt nhất”. Nhưng vì không thể yêu cầu người Kitô hữu làm điều đó (thậm chí là một sự mất đức tin nếu họ làm điều đó), chỉ còn việc là mỗi người học hỏi gốc rễ tôn giáo riêng của mình, trong một tinh thần khoan dung, hướng tới những giá trị phổ quát vượt lên trên mọi tôn giáo và chung cho mọi tôn giáo[78].

Như ta thấy, đây là một tư duy hoàn toàn có thể có. Nhưng tôi thấy ở đó có sự mập mờ căn bản. Phaolô không chỉ coi thời của các Tổ Phụ như “một thời bị tội lỗi và sự chết thống trị”, nhưng cả thời của toàn thể nhân loại trước Đức Kitô. Ngài quả quyết trong thư Rôma: “Do Thái cũng như Hy Lạp đều bị tội lỗi thống trị” (Rm 3,9). Bên trong tình huống chung này của tội lỗi và sự chết, ngài thậm chí công nhận ưu thế rõ ràng của dân Do Thái: “Vậy thì người Do Thái được gì hơn? Phép cắt bì có ích lợi gì? Nhiều lắm chứ! Về mọi mặt! Trước hết họ đã được Thiên Chúa giao phó lời Người cho họ.” (Rm 3,1-2)

Làm sao ngươi ta có thể tố cáo Phaolô là đã không nhận ra nơi Abraham “tột đỉnh của mối tương quan phó thác nơi Thiên Chúa, trong khi chính vì đó mà ngài gọi ông là “cha của các kẻ tin” (Rm 4,16). Liên quan tới Thánh Phaolô, có sự nhầm lẫn lớn nảy sinh từ việc người ta đã buộc tội ngài là đã tranh luận “chống lại người Do Thái”, trong khi thực tế, đó là một cuộc bút chiến chống lại “các Kitô hữu gốc Do Thái”.

Vả lại, điều Phaolô và Gioan nói về người Do Thái không là gì so với điều các ngài nói về người ngoại giáo. Những người này được xác định bằng những hạn từ như sau: “Anh em không có Đấng Kitô, không được hưởng quyền công dân Israel, xa lạ với các giao ước dựa trên lời hứa của Thiên Chúa, không có niềm hy vọng, không có Thiên Chúa ở trần gian này.” (Ep 2,12) Và thành Babylon này của sách Khải huyền, nơi ngự trị của Con Thú và Con Rồng, chúng ta biết rõ không được đồng hóa nó tiên vàn với Giêrusalem, nhưng với Rôma ngoại đạo, thành phố có “bảy ngọn đồi” (Kh 17,9).

***

Tôi cho rằng câu trả lời đúng đắn cho vấn đề gợi ra là ở trong những lời của Đức Giáo Hoàng mà tôi vừa nhắc đến: “Trong thế giới Kitô giáo, những cách giải thích sai lạc và bất công đối với Tân Ước liên quan tới dân Do Thái và lỗi lầm được gán cho họ đã truyền đi quá lâu.” Chủ trương bài Do Thái không phát sinh từ sự trung thành với Kinh thánh Kitô giáo, nhưng từ sự bất trung đối với sách đó. Theo nghĩa này, tình hình mới mẻ do cuộc đối thoại giữa người Do Thái và người Kitô hữu tạo ra thực sự là có ích để hiểu rõ hơn chính Kinh thánh của chúng ta. Nó là một dấu chỉ thời đại. Thử xem theo nghĩa nào.

Chúng ta hãy trở lại với ngôn thức đầu tiên của mầu nhiệm vượt qua, với khởi giảng. Khởi giảng không bao giờ nói người Do Thái gây nên cái chết của Đức Kitô, nhưng “tội lỗi của chúng ta”. “Đức Giêsu chính là Đấng đã bị trao nộp vì tội lỗi chúng ta, và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính.” (Rm 4,25) Ngay cả những tín biểu có dấu vết tên của Phongxiô Philatô, cũng không bao giờ đề cập người Do Thái khi nói về việc đóng đinh thập giá và cái chết của Đức Kitô.

Chắc chắn một số thủ lãnh Do Thái đã đóng một vai trò tích cực trong việc kết án Đức Giêsu. Trình thuật cuộc Khổ nạn chúng ta vừa nghe nhắc lại cho chúng ta điều đó. Nhưng đây chỉ là những lý do chất thể. Trong mức độ người ta nhấn mạnh những hoàn cảnh cụ thể này, bằng cách gán cho chúng một giá trị thần học và không chỉ là giá trị lịch sử, người ta quên mất tầm quan trọng phổ quát và vũ trụ của cái chết của Đức Kitô. Người ta tầm thường hóa thảm kịch Cứu Chuộc khi coi nó là kết quả của các hoàn cảnh ngẫu nhiên. Gioan viết: “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa” (1Ga 2,2). Của cả thế gian nữa: ngay cả cho những người không biết hoặc không tin!

Người ta quên đi một sự kiện khác trong cuộc luận chiến với người Do Thái: họ đã hành động vì không biết (cho dù điều đó không muốn nói là không có lỗi). Trên thập giá, Đức Kitô nói: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23,34) Sau ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô nói: “Thưa anh em, giờ đây tôi biết anh em đã hành động vì không hiểu biết, cũng như các thủ lãnh của anh em” (Cv 3,17; x. Cv 13,27). “Nếu biết, họ đã chẳng đóng đinh Đức Chúa hiển vinh vào thập giá.” (1Cr 2,8)

Chúng ta còn muốn tiếp tục nói về việc giết Thiên Chúa nữa chăng? Cứ tiếp tục vì, theo Kinh thánh và tín lý của chúng ta, đã có việc giết Thiên Chúa. Nhưng hãy biết cho rằng người Do Thái không phải là những người Do Thái phạm tội đó, tất cả chúng ta đều đã phạm.

***

Nhưng nếu “những gốc rễ của sự thù ghét người Do Thái” không có trong Tân Ước, thì chúng ở đâu? Nếp gẫy đã xảy ra như thế nào và khi nào? Tôi cho rằng khám phá ra chuyện đó không khó. Đức Giêsu, các Tông Đồ, thầy phó tế Têphanô (x. Cv 7) đã tranh luận với các thủ lãnh người Do Thái, đôi khi bằng một giọng rất gay gắt. Nhưng các ngài đã làm với tinh thần nào? Khi loan báo Giêrusalem sẽ bị tàn phá, Đức Giêsu đã khóc, giống như Ngài đã khóc trước cái chết của bạn mình là Ladarô. Têphanô trước khi chết còn kêu lên: “Lậy Chúa, xin đừng chấp họ tội này!” (Cv 7,60)

Phaolô, bị cáo chính trong toàn bộ vụ này, còn đi đến chỗ nói lên những lời khiến người ta phải rùng mình: “Có Đức Kitô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi không nói dối và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng cho tôi rằng: lòng tôi rất đỗi ưu phiền và đau khổ mãi không ngơi. Quả vậy giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Kitô, thì tôi cũng cam lòng.” (Rm 9,1-3) Đối với Phaolô, “sống là Đức Kitô”, vậy mà còn chấp nhận xa lìa Đức Kitô, nếu việc đó giúp cho những anh em theo xác thịt của ngài chấp nhận Đấng Mêsia!

Những con ngươi như vậy nói từ bên trong dân Do Thái, cảm thấy liên đới với dân, vì họ thuộc về cùng một thực tại tôn giáo và nhân văn. Họ có thể nói: “Những người kia là người Do Thái ư? Tôi cũng vậy!” Khi yêu nhau, người ta có thể nói với nhau như thế. Có phải các tiên tri, chính Môsê, đã ít nghiêm khắc đối với Israel? Đôi khi họ đã không nghiêm khắc hơn nhiều đó sao? Chính từ họ mà có những kiểu nói nghiêm khắc nhất của Tân Ước. Nguồn gốc cuối cùng của những bài “Thán ca” là ở đâu, nếu không phải là từ văn thể chất vấn thiêng thánh mà trong Cựu Ước Thiên Chúa dành cho dân mình (x. Đnl 32; Mk 6,3-4; Tv 77 và 105)?

Phải chăng người Do Thái cảm thấy bị Môsê và các tiên tri xúc phạm, và vì đó mà tố cáo các vị này là bài Do Thái? Họ biết rằng trong trường hợp này, Môsê sẵn sàng tự loại mình khỏi Sách Sự Sống hơn là chỉ tự cứu mình thôi mà không có dân của mình. Tự nền tảng, điều đó không khác với điều cũng xảy ra giữa chúng ta. Dante Alighieri nói với người Ý bằng những lời thóa mạ đến nỗi nếu một người lạ đánh liều nhận những lời đó là của mình, dù chỉ là một phần rất nhỏ, chúng ta sẽ biến chúng thành một thảm kịch. Về phần mình, chúng ta chấp nhận người đó; chúng ta cảm thấy rằng người đó là người của ta, người đó lấy lòng yêu thương mà nói, không phải với giọng khinh miệt.

Ngược lại, điều gì đã xảy ra khi từ Giáo hội sơ khai của những Kitô hữu gốc Do Thái chuyển qua Giáo hội gốc dân ngoại? Dân ngoại coi cuộc tranh luận của Đức Giêsu và của các Tông Đồ chống lại Do Thái giáo là của mình, nhưng không phải tình yêu của các ngài đối với người Do Thái. Cuộc tranh luận thì được chuyển đạt, chứ tình yêu thì không! Khi nói về biến cố hủy hoại thành Giêrusalem, các Giáo Phụ sẽ không khóc khi nói về nó, mà ngược lại!

Gốc rễ của vấn đề hoàn toàn là ở đây: một sự thiếu vắng tình yêu, tức là một thái độ bất trung với lệnh truyền cơ bản của Phúc âm. Người Kitô hữu chúng ta đã tiếp tục phàn nàn, và phàn nàn đến tận trước ngày Shoah, về sự thù ghét của người Do Thái chống lại người Kitô hữu, về sự chống đối việc truyền bá Phúc âm (điều rất đúng đặc biệt lúc đầu), nhưng chúng ta đã không nhận ra “cái đà” trong tâm hồn chúng ta!

Đây không phải là đưa ra một vụ kiện tổng quát về quá khứ. Đức Thánh Cha viết trong Ngàn năm thứ ba đang đến: “Để phán xét cho đúng về lịch sử, người ta không thể bỏ qua mà không lưu ý đến những điều kiện về văn hóa của thời kỳ.” Quả thực khi ấy người ta nhất tề nghĩ rằng những quyền của chân lý đi trước những quyền của con người. Thế nên đây không phải là lúc đưa ra một vụ kiện về quá khứ. Tuy vậy, Tông thư viết tiếp, “việc xem xét những tình tiết giảm nhẹ không miễn cho Giáo hội bổn phận phải hối tiếc sâu sắc về những yếu đuối của rất nhiều con cái mình đã làm méo mó bộ mặt của Giáo hội, và đã không cho Giáo hội phản chiếu đầy đủ hình ảnh Chúa bị đóng đinh của mình, là chứng nhân vô song của tình yêu nhẫn nại và của dịu dàng khiêm nhường” (số 35). Khi Giáo hội nói về các “con cái” của mình, chúng ta biết Giáo hội cũng bao gồm trong đó các “người cha” nữa

***

Khi tôi nói về lầm lỗi xúc phạm tới những người anh em Do Thái, tôi không chỉ nghĩ đến lầm lỗi của những người khác, của những thế hệ trước tôi. Tôi còn nghĩ đến lầm lỗi của tôi. Tôi luôn nhớ đến khoảnh khắc tôi bắt đầu hoán cải về vấn đề này. Chuyện đó xảy ra trong một chuyến bay đưa tôi trở về sau cuộc hành hương đầu tiên của tôi nơi Đất Thánh. Tôi đọc Sách Thánh và lời trong thư Êphêsô đập vào mắt tôi: “Có ai ghét thân xác mình bao giờ” (Ep 5,29). Tôi hiểu rằng câu đó cũng áp dụng cho mối tương quan của Đức Giêsu với dân Ngài. Và những định kiến của tôi, nếu không phải là những thù nghịch của tôi đối với người Do Thái, từ từ thấm nhiễm vào tôi trong suốt những năm tôi được đào tạo, bỗng xuất hiện như một sự xúc phạm tới chính Đức Giêsu.

Ngài đã mặc lấy mọi sự giống ta, trừ ra tội. Nhưng tình yêu đối với tổ quốc của Ngài và sự liên đới với dân tộc Ngài không phải là một tội, chúng là một giá trị. Vậy, do chính việc Nhập Thể, Đức Giêsu – từ đây chúng ta gọi tên Do Thái của Ngài là Yeshua – yêu dân tộc Israel. Bằng một tình yêu mạnh mẽ và tinh tuyền mà không một người yêu nước nào trên thế giới đã từng có một tình yêu như vậy đối với tổ quốc. Tội chống lại người Do Thái cũng là một tội chống lại nhân loại.

Tôi đã hiểu rằng tôi phải trở lại với Israel, “Israel của Thiên Chúa”, theo cách gọi của thánh Tông Đồ, một cách gọi không nhất thiết và không hoàn toàn trùng hợp với Israel chính trị, cho dù người ta cũng không thể tách biệt chúng. Tôi hiểu rằng tình yêu này không phải là một mối đe dọa đối với bất kỳ dân tộc nào khác, rằng nó không hình thành những liên minh hay những khối chống lại ai, bởi vì Đức Giêsu đã dạy chúng ta rằng tâm hồn Kitô giáo của chúng ta phải mở ra cho hết mọi người và giúp chính Israel làm như vậy. “Hay là Thiên Chúa chỉ là Thiên Chúa của người Israel thôi? Thiên Chúa không là Thiên Chúa của các dân ngoại nữa sao?” (Rm 3,29)

***

Tất cả những điều đó làm cho khuôn mặt của Edith Stein trở thành thân ái đối với tôi, nàng Rebecca mới này mang nơi mình hai quốc gia, hai dân tộc chống lại nhau, Giáo hội và Hội đường, và đã đổ máu mình cho cả hai để giải hòa hai bên. Edith Stein là kiểu mẫu của tình yêu Kitô giáo mới dành cho Israel, một tình yêu tìm được nơi Đức Giêsu không phải một vật cản, nhưng là một khích lệ lớn nhất cho nó. Bà viết cho một trong những người bạn thân linh mục của mình: “Cha không thể tin được làm một người con gái của dân tuyển chọn, thuộc về Đức Kitô không những bằng tinh thần mà còn bằng huyết nhục, có ý nghĩa thế nào đối với con.” Cảm thấy cùng một dòng máu với dòng máu Đức Kitô lưu chuyển trong mạch, điều đó làm cho bà đầy tràn xúc động và tự hào.

Những dòng chữ bà viết ngay từ những dấu chỉ đầu tiên của cuộc bách hại Đức Quốc Xã chống lại người Do Thái trở nên nổi tiếng: “Ở đó, dưới bóng thập giá, tôi hiểu số phận dân của Thiên Chúa: những ai biết rằng đây là thập giá Đức Kitô có nhiệm vụ vác nó trên vai, nhân danh mọi người khác.” Khi bà cùng với em gái bị hai người công an dẫn ra khỏi tu viện để đưa đi Auschwitz, một trong số những người có mặt thấy Edith nắm chặt tay em gái và thì thầm bên tai: “Đi nào, chúng ta sắp chết cho dân tộc ta.”

Thế nhưng chúng ta có một gương mẫu lớn hơn Edith Stein, Đức Maria – chúng ta cũng hãy gọi Người bằng danh xưng Do Thái mỹ miều, Myriam – Mẹ của Đức Giêsu. Người là “hình bóng của Giáo hội”, kiểu mẫu của một Giáo hội chưa bị một tội nào đó chống lại Israel làm cho nhơ bẩn, không bị ảnh hưởng bởi sự thù nghịch. Tình cảm của Đức Maria đối với dân Người được diễn tả trong kinh Magnificat: “Chúa độ trì Israel, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót, dành cho tổ phụ Abraham, và cho con cháu đến muôn đời.”

“Israel, Abraham, tổ phụ chúng ta” : cảm xúc thuộc về dân Giao Ước. “thuộc hàng con cháu đến muôn đời”: giống như nơi thánh Tông Đồ, một sự chắc chắn có tính chất không thể hủy bỏ của lời hứa dành cho Israel.

***

Để kết thúc, chúng ta trở lại với thư gửi tín hữu Ephêsô. Bức tường hận thù, bị thập giá phá vỡ, đã được xây lại và củng cố qua các thế kỷ. Chúng ta lại phải phá vỡ bằng sự thống hối cũng như bằng lời cầu xin Thiên Chúa và các anh em Do Thái tha thứ cho chúng ta. Những cử chỉ và lời nói hòa giải phát xuất từ phẩm trật Giáo hội không được nằm chết trong các văn kiện, nhưng phải đạt tới tâm hồn của mọi người tín hữu. Tôi đã dám nói ở đây chỉ vì điều đó mà thôi. Ngày xưa, vào các dịp “đại phúc”, người ta đã dựng nên những “giàn thiêu” để thiêu hủy mọi sự hư ảo. Trong ngày thứ Sáu tuần Thánh hôm nay, chúng ta cũng hãy làm một giàn thiêu để phá hủy mọi thù nghịch của chúng ta. Phá hủy nơi chính chúng ta, chứ không phải sự thù nghịch của những người khác.

Phải, ước muốn của Đức Giêsu là tụ họp mọi con cái của dân Ngài, như gà mẹ ấp ủ con dưới bóng cánh của mình, khi nào thì ước muốn đó được thực hiện? Người Kitô hữu chúng ta có thể đẩy nhanh hay làm chậm lại ngày mà trên các đường phố ở Giêrusalem, người ta lại reo hò như trong ngày Lễ Lá: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa!” (x. Lc 13,34-35; 19,38). Ngày Đức Giêsu Nadaret được dân mình thừa nhận, nếu không như Đấng Cứu Thế được trông đợi và Con Thiên Chúa, như trong trường hợp của chúng ta, ít nhất cũng như một trong các đại tiên tri của họ.

Năm nay, do một sự trùng hợp họa hiếm, lễ Vượt Qua Do Thái rơi vào chính ngày lễ Vượt Qua của chúng ta. Ngày hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau cử hành việc tưởng niệm ơn cứu độ. Vượt Qua là dấu chỉ hữu hình và thể chế của sự tiếp nối giữa Israel và Giáo hội.

Có một bản văn mà các người Do Thái đã và còn đang đọc trong “Seder” vượt qua. Méliton de Sardes biến bài đó thành của mình và đưa vào phụng vụ Kitô giáo, trong đoạn bài giảng chúng ta đã nghe hôm qua. Người Do Thái và chúng ta cùng nhau đọc hôm nay, trong một tinh thần ca ngợi chúng và tạ ơn Thiên Chúa:

“Ngài đã đưa chúng ta

Từ chỗ nô lệ tới tự do

Từ u sầu đến mừng vui

Từ tang chế đến lễ lạc

Từ bóng tối đến ánh sáng

Từ tôi đòi đến cứu chuộc[79].”

Hãy thêm điều này: Ngài đã đưa chúng ta từ thù nghịch đến bạn hữu. Ngài đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa chúng ta. Chúng ta có thể chuẩn bị vượt qua ngưỡng cửa của thiên niên kỷ mới, trong tư cách của những con người được hòa giải.


XX. “NGƯỜI ĐÃ BAN CON MÌNH ĐỂ CỨU VỚT TÔI TỚ CỦA NGƯỜI”

Trong năm đi liền ngay trước Năm Thánh 2000 này, thể theo ý Đức Thánh Cha, chúng ta suy niệm về Chúa Cha. Vậy chính về Ngôi này mà chúng ta muốn nói.

Có mối liên hệ nào giữa Ngôi Cha và phụng vụ Thứ Sáu tuần Thánh? Thứ Sáu tuần Thánh đúng hơn lại không phải là chứng cớ buộc tội Chúa Cha, một biến cố mà người ta nên im tiếng khi nói về Người sao? Chúng ta phải thừa nhận rằng mặc dù đây không phải là ý định của phụng vụ, thì trong quá khứ, ngày hôm nay rất thường góp phần làm lu mờ hình ảnh của Thiên Chúa Cha. Để nhấn mạnh những đau khổ của Đức Giêsu trên thập giá, người ta đã trình bày một hình ảnh về Chúa Cha chỉ có thể gợi ra điều ghê sợ.

Thứ Sáu tuần Thánh năm 1662, trong một bài giảng ở triều đình vua nước Pháp, J.B. Bossuet, một trong những nhà giảng thuyết đại tài nhất của lịch sử, đã nói với Đức Giêsu như sau: “Bị con người hành hạ lần cuối, Chúa nhờ vòng tay của Chúa Cha che chở; và Chúa thấy mình bị đẩy ra, thấy rằng chính Chúa Cha bức hại Chúa, chính Chúa Cha bỏ rơi Chúa, chính Chúa Cha đã đè lên Chúa gánh nặng không chịu nổi của việc Người báo thù[80].”

Phụng vụ hôm nay là dịp thuận tiện để chấm dứt tình trạng thực tế này và để phá tan mọi điều nghi ngờ đã là lý do gây nên tình trạng ấy.

***

Cho tới thời gian gần đây, người ta thường coi Chúa Thánh Thần là Đấng ít được biết đến nhất trong Ba Ngôi. Ngày nay chúng ta không thể nói như vậy nữa. Trong suốt thế kỷ vừa qua, Chúa Thánh Thần buộc Giáo hội phải chú ý đến Người. Khoa Thánh Thần học được canh tân, nhất là lễ Ngũ Tuần, dựa vào kinh nghiệm của hàng trăm triệu tín hữu trong các Giáo hội Kitô. Chúng ta phải nói rằng ngày nay Ngôi ít được biết đến nhất là Chúa Cha. Không những không được biết đến mà còn bị người ta chối từ!

Những lý do khiến bộ mặt của Thiên Chúa Cha lu mờ đi trong văn hóa hiện đại thì có nhiều. Tự nền tảng, con người đòi hỏi một sự tự trị tuyệt đối. Vì Thiên Chúa Cha được coi là nguyên lý và nguồn mạch mọi quyền bính, thì chỉ còn việc là từ chối Người, và người ta đã làm như vậy. Marx nói: “Cội rễ của con người là chính con người[81]”. Tiếp theo là Sartre: “Nếu Thiên Chúa hiện hữu, con người không là gì cả[82].” Đó chỉ là một vài tiếng nói gióng lên trong thế giới Tây phương của chúng ta trong hai thế kỷ vừa qua.

Freud nghĩ là có thể đưa ra một lời biện minh tâm lý học cho sự khước từ này. Theo ông, việc tôn kính cha trên trời chỉ là một sự phóng chiếu mặc cảm về người cha đưa đứa con đến chỗ lý tưởng hóa cha mình ở dưới đất sau khi đã muốn giết ông.

Nhân nói về thời kỳ trước mạc khải Phúc âm, một tác giả ở thế kỷ thứ hai đã viết: “Vô tri về Chúa Cha là lý do khiến người ta lo âu và sợ hãi[83].” Ngày nay cũng giống như vậy: vô tri về Chúa Cha luôn là nguồn gốc của lo âu và sợ hãi. Nếu ngươi cha lo về tinh thần và vật chất trên mọi bình diện, “gốc rễ cuối cùng của hữu thể”, thì không có ông, chúng ta chỉ có thể cảm thấy mình “bị bật rễ”.

***

Vậy đưa ra ánh sáng lại khuôn mặt thật của Thiên Chúa Cha là việc cấp thiết. Không nên mất nhiều thời gian về điều này, trong khi phải mất hàng năm để xóa đi lớp hoen ố phủ trên hình ảnh của Chúa Cha trong nhà nguyện Sistine. Chỉ cần một ngọn đèn, một sự soi sáng bên trong tâm hồn, một mạc khải của Thần Khí, là đủ. Bởi vì khuôn mặt thật của Chúa Cha mãi mãi được ghi lại trong Kinh thánh. Khuôn mặt ấy chứa đựng trong lời này: “Thiên Chúa là Tình Yêu!” Danh xưng “Thiên Chúa”, khi không có xác định gì thêm, trong Tân Ước luôn có nghĩa là Thiên Chúa Cha. Vậy Thiên Chúa Cha là tình yêu. “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16), có nghĩa là: Thiên Chúa Cha yêu thế gian.

“Tại sao Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta?” Nhờ học giáo lý, chúng ta biết cách trả lời: “Để nhận biết Người, phục vụ Người và yêu mến Người trong cuộc đời này và một ngày kia vui hưởng với Người trên thiên đàng”. Đó là một câu trả lời hoàn hảo, nhưng nếu xét kỹ, ta thấy nó chỉ đáp lại câu hỏi: “Với mục đích nào, vì ý định nào Người đã dựng nên ta?” (Để phục vụ Người, yêu mến Người, vui hưởng với Người), nhưng không đáp lại câu hỏi: “Vì lý do nào Người đã dựng nên ta, điều gì đã thúc đẩy Người dựng nên ta?” Chúng ta không thể và không được trả lời: “Để chúng ta yêu Người” nhưng: “Vì Người đã yêu chúng ta”. Một trong những Kinh Nguyện Thánh Thể nói: “Người đã lấy thượng trí và tình thương mà sáng tạo muôn loài[84].”

Chính ở đó mà có sự khác biệt giữa Thiên Chúa của các triết gia và Thiên Chúa của Phúc âm. Thiên Chúa của các triết gia là Đấng người ta có thể yêu, người ta phải yêu, nhưng là Đấng không yêu, không thể yêu con người, vì nếu Người làm thế, Người không còn là Thiên Chúa. Aristote viết: “Thiên Chúa vận hành thế giới với tư cách Đấng được yêu”, chứ không với tư cách Đấng yêu. Điều đó quả là ngược lại với những gì chúng ta thấy trong mạc khải: “Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta. […] Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước.” (1Ga 4,10.19)

Chính đó là bộ mặt thực của Kitô giáo. Clive Staples Lewis, một văn sĩ Kitô giáo trong số những người nổi bật nhất trong thế giới anglo-saxon, đã viết một cuốn tiểu thuyết tựa đề “Chiến thuật của quỷ[85]”, có cốt truyện hơi đặc biệt. Một tên quỷ trẻ (Wormwood) được sai đến trần gian để cám dỗ một thanh niên tốt lành mới trở lại đạo. Nhưng vì ít kinh nghiệm, nó phải tìm đến một tên quỷ già (Screwtape) là chú nó, ông này cho nó những chỉ dẫn để có thể cám dỗ người thanh niên kia. (Đây là một khảo luận vô cùng tinh tế về các tật xấu và nhân đức, nếu người ta biết cách đọc ngược lại). Tác giả đưa ta xuống hỏa ngục, và cho chúng ta nghe những diễn từ ở đó. Điều làm cho quỷ tức điên lên, chúng không hiểu và sẽ không bao giờ hiểu được, chính là tình yêu của Thiên Chúa đối với các thụ tạo lầm than là con người. Chúng nói với nhau: trên trần gian người ta tin rằng Thiên Chúa Ba Ngôi, và những điều khác thuộc cùng loại đó, là những mầu nhiệm vĩ đại nhất; những tên ngu xuẩn ấy không hiểu rằng chính đó là mầu nhiệm không cắt nghĩa được. Phần tôi, tôi nghĩ rằng các tên quỷ được một lần có lý.

***

Giờ đây chúng ta hãy xem vấn nạn đang mạnh hơn lên như cơn bão, khi người ta nói về tình yêu của Chúa Cha. “Thế còn sự đau khổ của thế giới thì sao? Máu và nước mắt chảy thành sông trong Lịch sử thì sao?”

Vấn nạn này mang một giọng điệu mới, sau Thế chiến vừa qua và sau Auschwitz. Cả một văn chương phát sinh mà người ta có thể định nghĩa như là “những tiến trình của Thiên Chúa”. Thiên Chúa ở đâu vào lúc đó? Biết bao nhiêu lần người ta nghe thấy câu hỏi này trong tiểu thuyết và kịch nghệ, trong khoảng năm mươi năm vừa qua.

Hình thức phủ nhận Thiên Chúa trong chủ thuyết duy thực nghiệm ngôn ngữ của thế kỷ này phát xuất từ đó. Nếu người ta không cáo giác câu “Thiên Chúa là tình yêu” khi người ta nhận thấy sự đau khổ ghê gớm trên thế giới này, điều đó muốn nói lên rằng sự đau khổ đó không có ý nghĩa nào và người ta phải giữ im lặng. Để xem xét tính xác thực của một khẳng định, phải có khả năng “làm sai lệch” nó, ít nhất về nguyên tắc, nghĩa là khả năng chứng minh sự thật hay sự dối trá của nó, bằng một quan sát thực nghiệm, là điều không có ở đây[86].

Nhưng đây không phải là tiếng nói phản đối gióng lên từ triết học hay văn chương, hoặc nhân dịp có những đại họa. Chính là tất cả nhân loại ở mọi nơi trên thế giới lên tiếng mỗi ngày về sự đau khổ của mình. Mới đây tôi được đọc chứng từ của một thiếu phụ trẻ. Cô nói: “Lạy Chúa, tại sao Ngài lên án con phải chết? (Người ta vừa khám phá ra cô mắc căn bệnh chết người). Con có chồng, sau mười năm kết hôn vẫn yêu thương con, nói cho con biết điều đó, và con còn có hai đứa con tuyệt vời. Tại sao con không được trông thấy chúng lớn lên?” Vì là một phụ nữ có đức tin, cô lập tức nghĩ lại và nói thêm một câu bằng một giọng khác: “Lạy Chúa, con biết rằng không phải chúng con có thể quyết định sống chết theo ý chúng con, rằng người ta không đánh giá sự thành công của cuộc đời bằng tháng năm sống. Nhưng nếu Chúa muốn tất cả điều đó đi từ đầu tới trái tim, khi ấy chính Chúa phải tự làm lấy. Chúng con sẽ không làm đâu.”

***

Đức tin trên ghế bị cáo sẽ trả lời ra sao cho điều đó? Tôi cho rằng trước đau khổ, người tín hữu chúng ta phải tiên vàn có một thái độ khiêm nhường. Đừng bắt chước những người bạn của Gióp, cuối cùng, bị chính Thiên Chúa lên án, trong khi họ đã coi mình là người bảo vệ ông. Chúng ta không phổ biến những cách giải thích khôn ngoan như thể sự đau khổ không che giấu mầu nhiệm nào đối với chúng ta. Chúng ta phải nói về đau khổ như Augustinô đã nói về chính Thiên Chúa: “Nếu bạn nghĩ là đã hiểu Ngài, khi ấy bạn hãy tự nhủ rằng không phải Ngài mà bạn đã hiểu[87].”

Đức Giêsu đã đưa ra nhiều cách giải thích về đề tài hơn chúng ta, Ngài đã khóc trước bà góa thành Naim cũng như trước đau khổ của các chị Ladarô. Sau khi khóc rồi, Ngài còn thêm: “Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù có chết cũng sẽ được sống.” (Ga 11,25)

Chúng ta cũng phải vậy, sau khi khóc rồi, hoặc trong nước mắt, chúng ta có thể nói lên một vài điều về đau khổ. Chẳng hạn điều gì? Điều không đúng là khi con người đau khổ thì Thiên Chúa không đau khổ, mà chỉ nhìn. Thiên Chúa cũng khổ như ta. Không phải chúng ta vừa tìm ra câu quả quyết khác thường ấy, chỉ để có điều gì đó trả lời cho con người thời nay. Điều đó đã được ghi chép trong Kinh thánh, từ đầu tới cuối. “Ta đã nuôi nấng đàn con, cho chúng nên khôn lớn, nhưng chúng đã phản nghịch cùng Ta.” (Is 1,2) Các người cha trong thế gian từng có kinh nghiệm đau đớn bị con cái ruồng bỏ và khinh chê đều hiểu được nỗi khổ chất chứa trong những lời ấy của Thiên Chúa. Chúng ta sắp còn được nghe nhiều lần trong phụng vụ chiều nay: “Dân Ta hỡi, Ta đã làm gì ngươi? Ta đã làm chi khiến ngươi phiền lòng? Hãy trả lời cho Ta.” (Mk 6,3) Những lời trên cũng diễn tả một nỗi đau khổ.

Thiên Chúa không đau buồn vì những điều xúc phạm đến Ngài (ai có thể thực sự làm điều xấu cho Ngài?) cho bằng những điều xúc phạm con người làm cho mình hay cho người khác. Không phải sự kiêu hãnh của Ngài bị tổn thương cho bằng tình yêu của Ngài. Kinh thánh viết: “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong.” (Kn 1,13) Không những Ngài “không vui” mà còn đau khổ vì sinh mạng tiêu vong. Nếu khẳng định Thiên Chúa đau khổ dường như chúng ta chưa từng nghe thấy và vẫn khiến một số người hơi sợ hãi, thì đó là vì trong nhiều thế kỷ, ý tưởng về Thiên Chúa thường thấy trong thực tế đã chuyển sang ý tưởng của triết học về một Thiên Chúa vô cảm ở bên trên và bên ngoài những thay đổi và thử thách của con người.

Thế nhưng Thiên Chúa của người Kitô hữu không thể “vô cảm” theo nghĩa như các triết gia hiểu. Ngài không thể như thế vì Ngài là tình yêu. Như chúng ta biết, tình yêu là điều dễ bị tổn thương nhất. Nó bị tổn thương vì sự tự do nó dành cho người được yêu. “Người ta không thể yêu mà không đau khổ”: câu châm ngôn này có giá trị cho cả Thiên Chúa lẫn con người. Origen nói: “Chúa Cha chịu một cuộc Khổ nạn vì yêu[88].”

Sự đau khổ này của Thiên Chúa, mà những nhà thần học lớn của thế kỷ này đã chấp nhận và chính Đức Giáo Hoàng, trong thông điệp Dominum et vivificantem, đã coi là của mình, với những sắc thái cần thiết, chính là một sự tái khám phá. Đức Giáo Hoàng nói về “sự đau đớn khôn dò và khôn tả của Chúa Cha”, Đấng đã khai sinh ra nhiệm cục tình yêu cứu độ trong Đức Giêsu Kitô[89].” Hiển nhiên là sự đau khổ của Thiên Chúa không giống như sự đau khổ của chúng ta. Đó là sự đau khổ hoàn toàn tự do, không đi ngược với những hoàn hảo của Ngài, trái lại, tôn dương những hoàn hảo ấy. Theo một Giáo Phụ, đó là “cuộc Khổ nạn của người không phải khổ[90]”. Đó thuần túy là “đồng khổ”.

Trong tất cả phụng vụ vượt qua, hình ảnh Chúa Cha gần gũi nhất với kiểu mẫu này là hình ảnh của bài Exultet trong đêm Vọng Phục Sinh: “Ôi! Ân tình Cha thật kỳ diệu! Ôi! Ân phúc Cha thật khôn lường. Để cứu dân lầm than nô lệ, Cha đã thí Con Một quý yêu!”

Vậy trước câu hỏi: “Chúa Cha ở đâu trên đồi Canvê, khi Chúa Con hấp hối?” phải trả lời: Người vẫn ở bên Con trên thập giá. Lòng đạo đức bình dân và nghệ thuật đã tìm thấy câu trả lời từ lâu trước các nhà thần học. Từ thời Trung cổ đến nay, từ các nơi trong thế giới Tây phương, cách diễn đạt cổ điển về Ba Ngôi là như sau: Thiên Chúa Cha giang tay đỡ thập giá của Chúa Con, hoặc đón nhận Chúa Con trong lòng với một sự trìu mến vô biên ngay khi Con được tháo khỏi thập giá, và giữa hai vị là bồ câu của Chúa Thánh Thần. Trong thế giới byzantin, Ba Ngôi chính là ba thiên thần vây quanh chiếc bàn; trong thế giới latinh, là ba ngôi vị trên đồi Canvê. Có vô số cách diễn đạt thuộc loại hình này, từ đơn giản nhất đến phổ biến nhất, bao gồm cả những kiệt tác vĩ đại như “Ba Ngôi” của Massaccio trong bích họa ở nhà thờ Santa Maria Novella ở Firenze.

Nhưng ở điểm này, một vấn nạn nổi lên, nguy hiểm hơn, dưới một hình thức khác. Khi đó, ngay cả Thiên Chúa cũng bất lực khi đương đầu với sự dữ sao? Chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha”, nhưng dừng lại ở đó, không thêm những chữ “toàn năng”. Chính sự dữ là toàn năng, chứ không phải Thiên Chúa. Chúng ta trở lại với niềm tin ngoại đạo cổ thời là, bên trên thiên tính đó, còn có Định Mệnh cai trị, tức Anankè nghiệt ngã, tính tất yếu của mọi sự. Đó là điều Satan muốn cho người ta tin, nhưng lại là điều dối trá.

Luận chứng rất thường được thời Thượng cổ đưa ra cho tới hôm nay là: “Hoặc Thiên Chúa có thể chiến thắng sự dữ, nhưng Ngài không muốn, như vậy Ngài không phải là cha; hoặc Thiên Chúa muốn chiến thắng sự dữ, nhưng Ngài không thể, như vậy Ngài không toàn năng. Chúng ta trả lời như sau: Thiên Chúa muốn chiến thắng sự dữ, Ngài có thể chiến thắng, Ngài sẽ chiến thắng. Sự dữ thể lý cũng như sự dữ luân lý. Nhưng Ngài làm điều đó theo một cách chúng ta không bao giờ hình dung nổi. (Hãy dành thời giờ để hiểu cho rõ, bởi vì tôi cho rằng đó thực sự là lời khẳng định nhờ đó chúng ta sẽ tiếp cận nhất với khẳng định mà người ta có thể gọi là câu Kitô giáo trả lời cho vấn nạn về sự dữ). Thiên Chúa đã chọn cách chiến thắng, không phải bằng cách tránh né nó hoặc dùng sự toàn năng của mình đánh tan nó và đẩy nó ra khỏi biên giới Vương quốc của mình, nhưng bằng cách mang nó trên mình và biến nó từ bên trong thành điều lành; biến hận thù thành tình yêu, biến bạo lực thành hiền hòa, biến bất công thành công bình, biến lo âu thành hy vọng. Người đã làm điều Người truyền chúng ta làm, khi Người nói trong Kinh thánh: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, những hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12,29).

Đó là điều đã xảy ra trên thập giá. Các Giáo Phụ đã dùng một biểu tượng tuyệt vời để diễn tả tất cả những điều đó: Môsê đã biến nước đắng ở Mara thành nước ngọt (x. Is 15,23 tt). Đức Giêsu đã uống nước đắng của phản loạn và biến nó thành nước ngọt của ân sủng, tượng trưng bằng nước vọt ra từ cạnh sườn Ngài. Ngài đã mang trên mình chữ “Không” vĩ đại của thế gian đối với Thiên Chúa, biến nó thành chữ “Có” của con cái.

Ngay cả như vậy, câu trả lời của chúng ta cũng không đầy đủ, nó còn thiếu chữ sống lại! Nếu Thiên Chúa Cha “chịu đựng” tất cả những đau khổ này, chính vì Ngài biết mình sẽ làm gì “ngày thứ ba”. Trên thập giá, Chúa Cha nóng lòng với việc con người hoàn tất phần của họ, để bắt đầu phần của mình: “Đức Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Người làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2,36). “Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2,9).

Thay vì là một bằng chứng truy tố, thứ Sáu tuần Thánh là nơi mặc khải trọn vẹn Chúa Cha, Khuôn mặt thực của Chúa Cha, hoặc chúng ta hiểu biết ngày hôm nay, hoặc sẽ không bao giờ hiếu biết được.

Điều này không có nghĩa là chúng ta rao giảng một sự nhẫn nhục thụ động trước sự dữ trên thế giới, hoặc rút lui khỏi cuộc chiến đấu. Mang trên mình sự dữ của thế giới đôi khi có thể có nghĩa là mang trên mình cuộc chiến đầu chống lại sự dữ của thế giới và mất mạng sống mình như Đức Giêsu. Một trong những nhiệm vụ của Năm Thánh 2000 là tưởng nhớ đến các vị tử đạo mới. Họ chính là bằng chứng cho thấy có thể chiến thắng sự dữ bằng sự lành và, ngay cả ngày hôm nay, cho thấy đó là sự chiến thắng đích thực.

***

Chúng ta học được gì nơi những điều rút ra từ bài suy niệm về Chúa Cha trong ngày Thứ Sáu tuần Thánh? Bài suy niệm này gắn trực tiếp với Năm Thánh sắp tới. Năm thánh phải là một cơ hội lớn hòa giải nhân loại với Chúa Cha. Khởi thủy, một năm thánh là dịp trả đất đai về cho chủ nhân hợp pháp của nó (x. Lv 25,13). Hôm nay, chúng ta hãy biến năm thánh này thành dịp trả thụ tạo về cho Đấng tạo ra nó.

Năm nay chúng ta không rao giảng một Thiên Chúa giận dữ và đánh phạt thế gian không biết bằng hình phạt nào nữa. Có thừa những hình ảnh dễ tranh cãi về Đức Mẹ đang cố gắng vô ích giữ lại cánh tay của Thiên Chúa đang nổi giận! Dù không muốn, chúng cũng góp phần làm lu mờ hình ảnh của Chúa Cha và làm thiệt hại cho Đức Trinh Nữ, Đấng mà, trong kinh Magnificat, đã là người đầu tiên ca ngợi lòng nhân từ của Thiên Chúa. Có thừa những lạm dụng nhân danh “bí mật thứ ba của Fatima” do những tâm trí cuồng nhiệt làm cho những người chất phác phải sợ hãi. Không ai biết bí mật này, nhưng ai cũng làm như mình biết rõ điều bí mật chứa đựng.

Có một thời để rao giảng hình phạt, và một thời để rao giảng lòng thương xót. Năm Thánh là thời để rao giảng lòng thương xót. Như điều Đức Giêsu công bố, nó phải là “một năm hồng ân của Thiên Chúa” (Lc 4,19). Như Đức Thánh Cha nói với các linh mục trong Lễ Dầu, “Năm Thánh mời gọi mọi người chúng ta, những thừa tác viên thánh, hoàn toàn sẵn sàng cho quà tặng lòng thương xót mà Chúa Cha muốn ban phát dồi dào cho hết thảy mọi người[91].”

***

Năm kính Chúa Cha cũng có thể có một trận mưa hồng phúc trên bình diện con người. Nó có thể giúp “đưa tâm hồn cha ông trở lại với con cháu, và đưa tâm hồn con cháu trở lại với cha ông” (Ml 3,24; x. Lc 1,17) như trường hợp xảy ra trong mùa vọng đầu tiên, qua sự trung gian của Gioan Tẩy Giả. Nếu Thiên Chúa Cha, Đấng “là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” (Ep 3.14), thì khi đó những người cha ở trần gian có thể học với Ngài nghề làm cha đầy khó khăn: nhẫn nại, tôn trọng sự tự do của con cái, hy vọng trong mọi hoàn cảnh, vui mừng với một thành công nhỏ nhất.

Khi một người được biết đứa con đầu lòng của mình được sinh ra, ông vui mừng báo tin cho bạn bè: “Tôi làm bố rồi đó!” Người ta chỉ có thể nói những lời trên trong ý nghĩa sâu sắc nhất sau này trong đời sống, khi cho thấy mình đã phải lo lắng nhiều, nhẫn nại nhiều, quảng đại nhiều, sau khi đã tập chịu đau khổ vì các con. Đúng vậy, chỉ khi đó người ta mới có thể có lý mà nói: “Tôi làm bố rồi đó!”. Thiên Chúa đã trở thành trọn vẹn là Cha của chúng ta trên thập giá.

Điều này càng đúng đối với những người cha thiêng liêng. Nhiều linh mục thích sống giữa dân mình “như một người anh em giữa các người anh em”. Đơn giản hơn nhưng lại ít dấn thân hơn. Người dân cần những người cha, họ tìm kiếm mà tuyệt vọng. Và khi tìm được một người như thế, họ tạ ơn Thiên Chúa. Đức Thánh Cha nói trong bài giảng tôi trích dẫn ở trên: “Trong năm dành kính Chúa Cha, tư cách làm cha của mọi linh mục phải hiển nhiên.”

Chúng ta kết thúc bằng lời kinh.

Lạy Cha giàu lòng thương xót và là Chúa mọi niềm an ủi, chúng con nài xin Cha: Cha là Đấng đã đỡ cánh tay Đức Kitô của Cha trên thập giá, đã đón nhận Ngài khi Ngài được tháo đinh, đã cho Ngài sống lại ngày thứ ba, xin ở gần bên tất cả những ai đang đau khổ. Xin đón nhận những nạn nhân chiến cuộc trong bình an của Cha, xin nâng đỡ hy vọng của những ai đang sống sót, xin canh tân sức mạnh của những người cứu giúp họ và sự bền bỉ của những người trung gian, xin đừng để chúng con thua điều ác, những giúp chúng con biết thắng điều ác bằng điều lành. Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.


XXI. “THẾ LÀ ĐÃ HOÀN TẤT”

Một tin tức chúng ta vừa mới biết: một nhóm nhà nghiên cứu khoa học người Mỹ đã thiết lập xong bản đồ gen của con người. Họ đã tập hợp tất cả các đoạn DNA cấu thành nền tảng di truyền của con người, nghĩa là hai tỷ chữ cái – được gọi là bộ gen – tạo nên bảng chữ cái hóa học viết về lịch sử của mỗi con người đi vào thế giới.

Những nhà nghiên cứu này viết: “Khoa học đã khám phá ra chương trình nền tảng của cuộc sống con người, mã số trên hết, Chén Thánh (Saint Graal)[*], mô hình cơ bản của homo sapiens. Cuối cùng chúng ta sẽ biết con người có ý nghĩa gì.” Và họ viết tiếp: “Sau hàng triệu đô la chi phí và hàng triệu giờ làm việc, bức màn được vén lên cho thấy những gì con cái chúng ta, khi nhìn lại, sẽ chỉ định là thế kỷ của bộ gen[92].”

Tin tức trên trúng vào một lãnh vực đã được chờ đợi quá lâu, được quan tâm quá mức đối với những tin tức được nhắc đi nhắc lại trong lĩnh vực đạo đức sinh học và làm tăng cảm giác lan tỏa rằng người ta đang ở vào một bước ngoặt trong quá trình tiến hóa của loài người, trong đường thẳng cuối cùng trước khi xuất hiện những cột mốc mới không ngờ.

Chính trong bối cảnh này mà chúng ta cử hành trong năm nay cuộc Khổ nạn của Chúa, cuộc Vượt Qua của Đại Năm Thánh, cuộc Vượt Qua đầu tiên của thiên niên kỷ. Từ 2000 năm nay, cử hành này đương đầu với những biến cố và tình hình của giai đoạn. Nó đã không bao giờ từ chối đương đầu. Lần này nó cũng không từ chối. Một thi sĩ tín hữu đã viết:

“Đức Giêsu đã không để lại cho chúng ta những lời chết mà chúng ta cất giấu trong những chiếc hộp nhỏ (hay lớn), mà chúng ta phải bảo quản trong dầu hôi. […] Những lời hằng sống chỉ có thể được giữ cho sống. […] Chính chúng ta, những người yếu nhược, có nhiệm vụ làm cho sống, nuôi dưỡng và giữ cho sống động trong thời gian những lời đã được nói ra này. […] Chúng ta được kêu gọi nuôi dưỡng lời của Con Thiên Chúa. Làm cho lời đó được nghe qua các thế kỷ là nhiệm vụ của chúng ta, tùy thuộc vào chúng ta[93].”

Những nghi thức và bản văn của thứ Sáu tuần Thánh lặp đi lặp lại không thay đổi từ năm này qua năm khác, nhưng chúng sẽ không bao giờ giống như “đóng hộp”, vì chúng là môi trường sinh sống trong đó lời Thiên Chúa được giữ cho sống động.

***

Trong tình hình chúng ta vừa gợi ra, Mầu Nhiệm chúng ta cử hành nói lên điều gì cho ta? Để khám phá ra nó, chúng ta hãy trở lại với lời đã nghe. “Nhắp giấm xong, Đức Giêsu nói: “Thế là đã hoàn tất!” Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19,30)

Thế là đã hoàn tất!” Lời này đủ làm sáng tỏ tất cả mầu nhiệm trên đồi Canvê. Điều gì đã được hoàn tất? Trước hết là cuộc đời trần gian của Đức Giêsu, công trình mà Chúa Cha đã trao phó cho Ngài thực hiện (x. Ga 4,34; 5,36; 17,4). “Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng.” (Ga 13,1) “Đến cùng”, tiếng Hy Lạp là teleos, là từ được Đức Giêsu lặp lại khi Ngài kêu lớn tiếng: Teletestai, “Thế là đã hoàn tất”. Bằng chứng cuối cùng của tình Ngài yêu thương đi tới chỗ chấm dứt.

Kinh thánh đã hoàn tất như thế. Kinh thánh về Người Tôi Trung chịu đau khổ, về con chiên vượt qua, về người vô tội bị đâm thâu, về đền thờ mới mà Edêkien đã thấy, về bên phải đền thờ từ đó một dòng nước hằng sống chảy ra (x. Ed 47,1 tt). Nhưng không chỉ có đoạn này đoạn kia của Kinh thánh được hoàn tất, mà là tất cả Cựu Ước, trong toàn bộ, được hoàn tất. Không theo cách phân tích, nhưng theo cách tổng hợp, trong bản chất. Khi sinh thì, Con Chiên mở cuốn sách niêm bảy ấn (x. Kh 5,1tt) và mạc khải ý nghĩa cuối cùng của chương trình của Thiên Chúa. Đó là trang khi mở ra thì soi sáng mọi sự, giống như trang lớn có minh họa trong Sách Lễ, ở đầu Lễ Quy. Đó là trang lấp lánh phủ mầu đỏ, trang lớn phân chia hai Giao Ước. Mọi cửa đều đồng loạt mở ra, mọi đối kháng tan biến, mọi mâu thuẫn được giải quyết[94].”

Để đưa mọi sự đến chỗ hoàn tất, Đức Kitô làm một cuộc cải thiện, Ngài phải làm một bước nhảy về phẩm chất. Cũng xảy ra như vậy trong việc truyền phép Thánh Thể: từ giờ phút này, bánh không còn là bánh nữa, nhưng trở thành một sự gì đó khác. Ngay cả khế ước cũ, từ lúc này của cái chết của Đức Kitô, đã trở nên “giao ước mới và vĩnh cửu”; văn tự trở thành Thần Khí[95]”.

“Điều mới thế cho điều cũ

Ân sủng thế cho lề luật

Thực tại thế cho hình ảnh

Con Thiên Chúa thế cho con chiên

Thiên Chúa thế cho con người[96].”

***

Thế nhưng không chỉ có điều đó được hoàn tất. Mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô nằm trong lịch sử Israel, nhưng vượt qua nó, mở rộng nó quá độ. Nó không chỉ làm thỏa mãn những trông đợi của một dân tộc mà thôi, nhưng qua những trông đợi này, còn làm thỏa mãn những trông đợi của mọi dân tộc và mọi người.

Khi muốn mình không lệ thuộc vào Thiên Chúa, chính con người bị giam hãm trong thù ghét và sự chết. Họ ở trong một tình huống mà tình yêu của Chúa Cha không thể cư ngụ nơi họ. Chính vì muốn bắt gặp họ trong tình huống này mà Thiên Chúa đã làm người. Ngài chịu những đau khổ ghê gớm và chết bằng một cái chết dữ dội, để từ ngày hôm nay đau khổ và sự chết của mỗi người đều có tình yêu của Chúa Cha ở đó. Nhiều người đã chết trước và sau Đức Kitô, nhưng chưa ai làm cho cái chết của mình gắn bó sâu xa với tình yêu của Chúa Cha bằng Ngài.

Bằng lễ dâng tình yêu hiếu thảo và ưng thuận dịu dàng này, Ngài đã biến ý nghĩa của cái chết thành sự sống thực. Như vậy, lễ dâng ấy trở thành một nhịp cầu, không còn có thể là một vực thẳm nữa. Khi sa vào trong tội và sự chết, con người vẫn tìm thấy ở đó – ngay cả ở đó – Đấng đã tạo dựng ra mình ta chờ đợi mình. Khi đó chúng ta hiểu bài thánh thi Phaolô ca ngợi tình yêu chiến thắng của Thiên Chúa: “cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loại thụ tạo nào kháckhông có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.” (Rm 8,38-39)

Đức Kitô đã thiết lập xong một “bản đồ” khác: bản đồ về số phận con người! Philatô đã nói lên một sự thật quan trọng mà không biết, khi ông chỉ vào Đức Giêsu mà nói: “Ecce homo!” (Đây là người).

Từ số phận con người, Đức Giêsu đã không chỉ khám phá hai vực thẳm của tội lỗi và sự chết, mà cả vực thẳm của thất bại, phá sản. Ngày Thứ Sáu của hoàn tất hôm nay, Calvê trông giống như một chiếc bục trên đó người ta chia nhau hạ màn sau một thất bại vang dội. Tiếng kèn shofar sắp loan báo bắt đầu ngày nghỉ lễ. Dước cái nhìn của người mẹ, Giuse Arimathia và các người của ông vội vã tháo đinh Đức Giêsu, xức dầu thơm thân thể Ngài, quấn trong khăn liệm, đặt trong băng ca, biến đi trong đêm tối, có các phụ nữ khóc lóc theo sau. Đồi núi trống trơn và lại trở nên yên lặng, giống như các bàn thờ của mọi nhà thờ chiều nay.

Phần đầu của phụng vụ thứ Sáu tuần Thánh kết thúc như vậy. Thế nhưng kể từ ngày mà thất bại lớn nhất của Lịch sử biến thành chiến thắng đẹp đẽ nhất, tinh tuyền nhất, được mọi người biết đến nhất, chính dấu chỉ của thất bại đã thay đổi. Nó có thể là nơi ưu đãi để người ta khám phá ra ý nghĩa đích thực của sự sống, sự cao cả đích thực của con người và nhất là tình yêu của Chúa Cha dành cho những người bé mọn và nghèo khó. Ngỏ lời với các người trẻ ở chân núi Bát Phúc trong cuộc hành hương đến Thánh Địa, Đức Giáo Hoàng nói: “Đức Giêsu tôn dương những người mà thế gian nói chung coi là yếu đuối. Ngài nói với họ: “Phúc cho anh em là những người dường như thua vì anh em là những người thực sự thắng[97].”

***

Không có mâu thuẫn nào giữa hai bản đồ, bản đồ của các nhà khoa học và bản đồ của Đức Kitô. Cả hai đưa về hai tầng khác nhau của cùng một tòa nhà. Bản đồ này không vô hiệu hóa bản đồ kia. Người tín hữu chỉ có thể vui mừng với mọi người về mọi khám phá hứa hẹn một sự cải thiện điều kiện sống trên mặt đất. Đó là điều Thiên Chúa muốn nói khi Ngài tuyên bố: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất.” (x. St 1,28) Hãy thống trị, hãy đào luyện thế giới và chính các ngươi. Ta là Đấng tự hữu, là Hữu Thể tự tạo nên Ta, và Ta muốn các ngươi cũng tham dự vào địa vị của Ta, đào luyện, hoàn thiện – với trí khôn Ta đã ban cho các ngươi – bản tính riêng của các ngươi, trong sự kính trọng ý muốn của Ta và tôn kính danh Ta. Chính đó là ý nghĩa của câu “theo hình ảnh Ta và giống Ta”.

Tuy vậy, chúng ta không thể đắm chìm trong hưng phấn. Những khám phá mới đây trong lãnh vực sự sống con người dường như hàm hồ, mở cửa cho những phát triển mâu thuẫn. Chúng mở ra cho những khả thể mới để biết nguyên nhân của nhiều bệnh và cảnh báo những bệnh này; nhưng đồng thời chúng cũng đặt ra nhiều vấn nạn luân lý đáng lo ngại mà ngay cả những tín đồ nhiệt thành nhất của khoa học cũng không thể giấu giếm. Con người sẽ không từ bỏ dễ dàng coi mình như Thiên Chúa và tự mình quyết định mọi sự: ai được quyền sinh ra và ai không được quyền sinh ra, mầu tóc của đứa bé tương lai, chưa nói đến cái khác. Người ta đã chứng kiến trường hợp những người bị đuổi việc hoặc bị từ chối gia hạn bảo hiểm nhân thọ, vì người ta đã khám phá ra rằng, trong gen của họ, có một gen có thể làm phát triển một bệnh nặng. Đó chỉ là những triệu chứng đầu tiên của những gì sẽ có thể xảy ra một ngày nào đó. Nếu chúng ta bỏ qua những bất đồng của quá khứ, chúng ta cũng bỏ qua những nguy hiểm của hiện tại. Chúng ta cho rằng lần này nhân loại có đủ khôn ngoan để quản lý tốt các khám phá của mình. Con người biết những nguyên nhân của bệnh tật và cảnh báo trước, họ biết những quy luật sinh vật học và biến chúng thành có lợi cho họ…Nhưng rồi sao nữa? Tất cả những điều đó có đủ để được hạnh phúc không? Tại sao có bao nhiêu vụ tự tử nơi những người có mọi sự, những người khỏe mạnh, đẹp đẽ, giàu sang? Ai sẽ có thể ngăn cản hai bóng ma của “nhàm chán” và “nôn mửa”, mà những người có văn hóa đều biết, ngày một đi vào nhiều hơn trong thế giới? Người xưa ghi nhận một lời thật ngu ngốc: propter vitam rationes perdere vivendi, nghĩa là vì yêu sự sống mà đánh mất lý do sống. “Sống tốt có ích gì, nếu không được sống vĩnh cửu?[98]

***

Bằng cuộc đời, sự chết và sự sống lại, Đức Kitô đã khám phá ra ý nghĩa cuối cùng của mọi cuộc sống con người. Ngài đã khám phá không phải trong phòng thí nghiệm hay với những công thức của bàn giấy, nhưng bằng cách sống nó, thực hiện nó. Và đây là ý nghĩa cuối cùng: đón nhận nơi mình tình yêu của Chúa Cha, như Đức Giêsu đã đón nhận và làm cho tình yêu này lưu chuyển trên thế giới, khi hiến dâng mình cho các anh em của mình.

Thưa các cha, các anh, các chị: tôi muốn kêu lên với các anh chị em điều tôi đã kêu lên trước hết cho chính tôi: những biện pháp nửa vời là quá đủ rồi! Đừng mất thời gian nữa. Hãy kiên trì nhận rõ mục đích cái chết của Đức Kitô. Hãy sống sao cho cuối cùng chính chúng ta cũng có thể nói: “Thế là đã hoàn tất”. Hãy chấp nhận đau khổ. Đó là cửa duy nhất để vào trong thập giá Đức Kitô và đừng đứng ở ngoài như khán giả. Những con đường khác – nghệ thuật, thần học, lý trí, tình cảm – chỉ cho phép chúng ta quan sát từ cửa sổ tầu lặn cuộc sống diễn ra dưới đáy biển. Điều ấy không liên hệ gì đến việc dìm mình vào bên trong, dự phần vào…

Một kết luận khác rút ra từ tất cả những điều đó: chúng ta không thể từ chối Đức Kitô, không thể lấy đi khỏi Ngài bất cứ phần nào của nhân loại, quá khứ, hiện tại hay tương lai. Chỉ là chúng ta không có quyền làm như thế. Chúng ta không thể ngưng loan báo Tin Mừng cho mọi thụ tạo. “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời!” (Dt 13,8)

Điều chúng ta phải từ bỏ, không phải là loan báo thập giá, nhưng có thể là một số cách thức xấu mà quá khứ đã phải làm điều đó. Trình bày bản thân cho thế giới như những người chịu đóng đinh, chứ không phải như những khách qua đường. Không một ai, ngay cả có một niềm tin khác, có thể cảm thấy mình bị Đức Giêsu đe dọa, khi Ngài được loan báo như Gioan Phaolô II đã loan báo, dưới mắt toàn thể thế giới, trong tuần lễ từ 20 đến 26 tháng 3 Năm Thánh, trên chính những nơi mà Ngài đã sống và đã chết.

Đôi khi không cần nói gì, chỉ cần hiện diện, đau khổ và yêu thương, rất tôn trọng những người chưa tin. Hình thức chủ yếu tuyệt vời của việc Phúc âm hóa là giúp cho tình yêu mà Đức Kitô đã đem đến cho thế gian được lưu chuyển. Bằng hành vi hơn là bằng lời nói.

Điều này đúng trước hết đối với người Do Thái. Chúng ta đã đánh mất quyền được công khai loan báo Phúc âm cho họ. Chúng ta chỉ còn cách để cho Đức Kitô đi một mình trong tâm hồn của dân tộc Ngài. Nhưng từ bỏ ngay cả mong ước dân Do Thái nhận ra Đức Giêsu chính là “Vinh quang của Israel dân Ngài”, và cầu nguyện cho điều đó, thì hẳn là chúng ta không yêu mến cả Đức Giêsu lẫn người Do Thái.

***

Trong những câu truyện ngắn của văn sĩ Franz Kafka, người Séc, có một câu truyện tựa đề “Một sứ điệp của nhà vua”. Sứ điệp bắt đầu thế này: “Người ta nói, từ giường chết, đức vua đã gửi một sứ điệp cho bạn, đặc biệt cho bạn, một thần dân đáng thương ở một nơi heo hút nhất. Ông bảo người đưa tin quỳ xuống bên cạnh giường và nói thầm sứ điệp vào tai anh ta; ông coi trọng nội dung sứ điệp đến độ ông bắt anh lặp lại cho mình nghe. Sau đó, ông gật đầu xác nhận sứ điệp là chính xác, rồi để người đưa tin ra đi.”

Phần tiếp của câu truyện thật cay đắng và bi quan, giống như tất cả những gì người ta thấy qua ngòi bút của văn sĩ này. Người đưa tin cố tìm đường ra khỏi pháo đài nhưng vô ích, vì đông người chen chúc và rác rưởi ngổn ngang. Câu truyện kết thúc bằng một suy nghĩ về người nhận tin nhắn vô danh. Ông ta từ xa vẫn “ngồi tựa cửa sổ và mong tin trong lúc chiều buông[99]”. Chờ đợi một sứ điệp, cuối cùng, là tất cả những gì còn lại của câu truyện.

Tôi không thể đọc câu truyện này mà không thấy ở đó một biểu tượng mạnh mẽ cho mầu nhiệm chúng ta đang cử hành. Đức Kitô là ông vua đang hấp hối, Phúc âm là sứ điệp của Ngài, các tông đồ là các người đưa tin, và người ngồi bên cửa sổ là nhân loại đang mơ đến một sứ điệp như sứ điệp của Đức Giêsu Kitô.

Một trong những người này đã ngồi bên cửa sổ từ 80 năm, mới đây đã cho người ta nghe thấy tiếng kêu của mình: “Tôi đã luôn tìm kiếm Thiên Chúa mà không bao giờ tìm thấy. Tôi đã luôn tìm kiếm vì tôi tin rằng đức tin có thể đem lại một sức mạnh khác thường. Thế nhưng tôi không cảm thấy mình chịu trách nhiệm hay có lỗi vì đã không có sức mạnh này. Và nếu tìm thấy Thiên Chúa, tôi sẽ hỏi Ngài: “Tại sao Chúa đã không ban đức tin cho tôi?[100]

Tôi muốn trả lời cho con người này cũng như cho biết bao nhiêu người khác có cùng hoàn cảnh tương tự: có lẽ Thiên Chúa đã không ban đức tin cho ông để thanh tẩy đức tin của người phải loan báo Ngài cho ông, và để người đó cảm thấy có trách nhiệm và phải cấp bách làm điều đó. Tuy vậy ông biết những gì mà những người như Augustinô và Pascal, những người đã đặt ra cùng một câu hỏi với Chúa, đã được nghe trả lời: “Bạn sẽ không tìm tôi nếu bạn đã không tìm thấy tôi[101]”. “Nếu tôi đã không tìm thấy bạn!” Mong muốn mà không tin có thể biểu lộ một đức tin thuần khiết hơn là tin mà không mong muốn, coi mọi sự là đã thành.

Chớ gì tiếng kêu mà chúng ta đã nghe chiều nay nối kết tất cả nhân loại đang chờ đợi này, nhờ vào những trung gian mầu nhiệm mà chỉ có Thần Khí biết: “Thế là đã hoàn tất.” Tetelestai. Consummatum est.

——————

[*Cuộc tìm kiếm Chén Thánh (Saint Graal) thời Trung cổ có một ý nghĩa hiện đại cụ thể: mô tả một mục tiêu khó đạt được, nhưng sẽ mang lại kiến thức mới cho thế giới hoặc cho phép một ứng dụng gốc về chủ đề này. Do đó, trong vật lý, người ta coi lý thuyết thống nhất vĩ đại (lý thuyết về mọi sự) là “Chén Thánh của các nhà vật lý”. Tương tự như vậy, hiểu được cơ chế qua đó các gen kiểm soát diện mạo các cơ quan sẽ là “Chén Thánh của các nhà di truyền học” – Wikipedia francais].


XXII. “GIỜ ĐÂY THỦ LÃNH THẾ GIAN NÀY SẮP BỊ TỐNG RA NGOÀI”

Thánh sử Luca kết thúc trình thuật về việc Đức Giêsu bị cám dỗ như sau: “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ.” (Lc 4,13) Thời cơ này là lúc nào, thì chính Đức Kitô đã cho ta thấy khi Ngài nói vào lúc sắp xảy ra cuộc Khổ nạn: “Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngoài.” (Ga 12,31)

Đó là cách giải thích nhất trí của các tác giả Tân Ước về cái chết của Đức Kitô. Thư Do Thái nói Đức Kitô “nhờ cái chết của Người, đã tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ.” (Dt 2,14)

Chắc chắn cuộc Khổ nạn của Đức Kitô không thu gọn vào việc chiến thắng Satan. Nó có ý nghĩa rộng hơn nhiều và tích cực; Ngài phải chết “để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11,52). Tuy vậy, người ta khiến cuộc Khổ nạn của Đức Kitô trở thành tầm thường nếu làm mất đi khía cạnh chiến thắng ma quỷ, ngoài chiến thắng tội lỗi và sự chết.

Cuộc chiến đấu này còn tiếp tục sau Đức Kitô, trong thân thể Ngài. Sách Khải huyền nói rằng, sau khi bị Đức Kitô đánh bại, con Mãng Xà “nổi giận với người Phụ Nữ, đi giao chiến với những người còn lại trong dòng dõi bà” (Kh 12,17). Vì vậy tông đồ Phêrô khuyên các tín hữu: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1Pr 5,8)

Tất cả những điều trên đây làm cho cuộc sống của người Kitô hữu, xưa cũng như nay, có tính chất của một cuộc chiến đấu nguy hiểm, một cuộc chiến đấu “không phải với phàm nhân, nhưng với những quyền lực thần thiêng…, những thần linh quái ác chốn trời cao” (Ep 6,12). Nghi thức rửa tội phản ánh rõ điều này qua những câu hỏi trước nghi thức để triệt để lựa chọn chiến tuyến: “Con có từ bỏ Satan không?” “Con có tin Đức Kitô không?”

Vậy chẳng lẽ không có gì thay đổi với cái chết của Đức Kitô sao? Tất cả đều như trước sao? Hoàn toàn ngược lại! Quyền lực của Satan không còn có thể tự do hoạt động theo chiều hướng nó mong muốn. Nó nghĩ là hành động theo một mục tiêu rõ ràng, nhưng chính xác chỉ có được điều ngược lại; nó không chủ tâm phục vụ cho sự nghiệp của Đức Kitô và các thánh của Ngài. Nó là thứ “quyền lực luôn muốn điều xấu nhưng lại làm điều tốt[102].”

Thiên Chúa dùng hành động của ma quỷ để giúp cho các người Chúa chọn được thanh tẩy và khiêm tốn. “Và để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mạc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi.” (2Cr 12,7). Một bài thánh ca của người da đen (negro spiritual) diễn tả điều này bằng một giọng điệu nhẹ nhàng nhưng đúng về phương diện thần học: “Tên Satan ngày xưa đã bị đánh bại, nó ở trong tình trạng ốm yếu. Nó đã bắn tôi để giết linh hồn tôi. Nhưng nó đã nhầm mục tiêu và đánh trúng tội lỗi của tôi.”

***

Tuy nhiên kể từ đây mọi sự nói trên đã chấm dứt. Sự im lặng đã xuống trên Satan; cuộc tranh đấu không còn đối tượng là “máu và thịt” nữa, tức là những sự dữ ở trong tầm tay của con người. Người đưa ra thuyết giải thần thiêng hóa đã viết: “Người ta không thể sử dụng ánh sáng điện và máy thu thanh, người ta không thể sử dụng nại tới các phương tiện y tế và lâm sàng trong trường hợp bị bệnh, mà đồng thời còn tin vào thế giới các thần linh[103].” Sẽ không ai hài lòng như ma quỷ bị giải thần thiêng hóa, nếu đúng là – như người ta thường nói – “mánh khóe lớn nhất của nó là làm cho người ta tin rằng nó không hiện hữu”.

Con người hiện nay thực sự dị ứng với luận chứng này. Cuối cùng họ đã chấp nhận một lời giải thích trấn an. Ma quỷ ư? Đó là toàn bộ những sự dữ luân lý của con người. Ma quỷ chỉ là sự hóa thân tượng trưng, một huyền thoại, một con bù nhìn dọa chim. Là sự vô thức tập thể hoặc vong thân tập thể.

Khi Đức Phaolô VI đã dám nhắc lại cho các Kitô hữu “chân lý công giáo” là có ma quỷ (có lần ngài nói sự dữ không chỉ là một sự sự thiếu hụt, mà còn là một hiệu quả, một sinh vật sống, thiêng liêng, biến thái và làm cho người ta biến thái. Một thực tại đáng sợ, mầu nhiệm, làm cho người ta phải kinh hãi[104]”), một bộ phận văn hóa đã phản ứng, cảm thấy bị vấp phạm, vò đầu bứt tóc.

Câu chuyện tương tự xảy ra mới đây khi một Giám mục lại kêu gọi người ta chú ý đến điểm này của đức tin Kitô giáo. “Phải chăng chúng ta đã quên rằng trong quá khứ người ta đã dùng ma quỷ để bách hại các mụ phù thủy, những người lạc giáo và những người khác tương tự như vậy?” Không, chúng ta đã không quên chuyện đó; nhưng nhằm mục đích này hay những mục đích khác cùng loại, người ta đã sử dụng – thật không may là ngay cả ngày hôm nay – Thiên Chúa thậm chí còn hơn cả ma quỷ. Phải chăng vì vậy mà chúng ta gạt bỏ Ngài?

Thậm chí nhiều tín hữu và một số thần học gia cảm thấy e ngại: Vâng, nhưng có lẽ thực sự là giả thuyết tượng trưng, giải thích thần bí hoặc phân tích là đủ…”. Có người nghĩ rằng chính Giáo hội đã từ chối sự tin tưởng này, vì Giáo hội ngày càng ít nói về nó.

Kết quả của sự im lặng này như thế nào? Một chuyện cực kỳ lạ lùng. Satan bị tống ra khỏi cửa ra vào, thì lại qua cửa sổ mà vào lại; bị đức tin xua đuổi, nó trở lại bằng mê tín. Thế giới hiện đại, kỹ thuật và công nghiệp hóa, nhung nhúc những pháp sư, những người thông linh, người đoán số tử vi, làm bán bùa chú và bùa hộ mệnh, những giáo phái Satan thuần túy và cứng rắn.

Tình hình hiện nay không quá khác với tình hình của các thế kỷ XIV-XVI, nổi tiếng chẳng hay ho gì với tầm quan trọng được gán cho những hiện tượng ma quỷ. Người ta không còn đưa lên giàn hỏa những người bị quỷ ám, không còn các cuộc săn lùng phù thủy hay giống như vậy. Các thực hành tập trung vào ma quỷ, cũng như các nạn nhân về thể chất hoặc đạo đức của các thực hành này, không kém thường xuyên hơn khi ấy và không chỉ thấy trong các tầng lớp nghèo khổ và dân chúng. Tất cả điều này đã trở thành một hiện tượng xã hội – và thương mại! – có phạm vi rộng lớn.

Một tuần báo ở Mỹ phổ biến khắp thế giới cách đây không lâu đã dành hẳn một hồ sơ về hiện tượng tin vào ma quỷ ngày nay. Tôi ngạc nhiên về kết luận rút ra từ một trong những nhà trí thức được phỏng vấn. Theo ông, sự lãng quên về ma quỷ không làm cho cuộc sống của con người trên trái đất được bình an và hợp lý hơn, trái lại chỉ làm cho chúng ta trì độn hơn và quen với những điều ghê rợn của sự dữ. Không gì làm chúng ta rùng mình hơn.

***

Những người cho rằng không có ma quỷ, nói đúng ra, là có lý do. Điều họ biết về đề tài này – trường hợp quỷ ám, câu chuyện và phim ảnh trừ quỷ – hầu như luôn có lời giải thích liên quan tới bệnh lý, dễ nhận ra. Điều họ sai lầm là dừng lại ở đó, không biết đến một mức khác trong đó sự giải thích thuộc bệnh lý học là không đủ.

Người ta thấy sự mập mờ được lặp lại mà Freud và nhiều người khác sau ông đã từng rơi vào trong đó: càng xem xét trường hợp bệnh thần kinh tôn giáo (vì trong trường hợp này, người ta nại đến nó) thì cuối cùng đi đến chỗ tin rằng tôn giáo tự thân chỉ là một bệnh thần kinh. Như thể một người nào đó đã có thể xác định một mức độ sức khỏe tinh thần của một thành phố sau khi đi thăm một bệnh viện tâm thần!

Chúng ta tìm ra bằng chứng mạnh nhất về sự hiện hữu của Satan không phải nơi tội nhân, cũng không phải nơi người bị quỷ ám, nhưng nơi các thánh. Đúng là quỷ có mặt và hoạt động trong một số hình thức sự dữ cực độ và “vô nhân đạo”, trên bình diện cá nhân hay tập thể, nhưng đó là nó ở tại nhà nó và có thể ẩn núp sau hàng ngàn người giống hệt và đóng thế. Với Satan, cũng như với một số côn trùng, chiến thuật của nó là đổi mầu cho giống với những vật chung quanh.

Trái lại, trong cuộc đời các vị thánh, quỷ buộc phải lộ diện, phải chịu sấp bóng (contre-jour), hành động của nó như điểm đen nổi lên trên nền trắng. Ngay cả trong Phúc âm, người ta tìm thấy bằng chứng khá nhất về sự hiện hữu của quỷ (đôi khi khó chứng tỏ người thời ấy tin thế nào về nguồn gốc của một số bệnh) không phải trong những trình thuật về việc chữa những người bị quỷ ám, nhưng trong câu chuyện Đức Giêsu bị quỷ cám dỗ.

Ít nhiều các vị thánh và các tín hữu lớn (trong đó có người như thánh Gioan Thánh Giá, thuộc vào số những trí thức hàng đầu) đều làm chứng về cuộc tranh đấu của các ngài chống lại quyền lực tối tăm này. Một hôm thánh Phanxicô Assisi tâm sự với người bạn thân tín của mình: “Nếu anh em biết những đau khổ và thử thách ma quỷ đã gây ra cho tôi như thế nào, hẳn không còn ai trong số họ mà không động lòng trắc ẩn và thương hại tôi[105].”

Phanxicô sáng tác Bài Ca Vạn Vật sáng chói cũng chính là Phanxicô đã phải đấu tranh chống lại ma quỷ. Catarina Sienna đã có ảnh hưởng lớn trên lịch sử thậm chí chính trị đương thời cũng chính là Catarina đã bị ma quỷ “hành hạ”, theo lời cha giải tội của ngài[106]. Padre Pio lo toan xây dựng “Ngôi nhà an ủi người sầu khổ” cũng chính là người đêm ngày chiến đấu cật lực với ma quỷ. Chúng ta không thể làm một cuộc giải phẫu tư cách của các ngài, và chỉ giữ lại một phần. Sự lương thiện và một khoa tâm lý lành mạnh hẳn không cho phép làm việc này. Những vị đó đã không đánh nhau với những cối xay gió. Điều thánh Gioan Thánh Giá diễn tả khi ngài kể lại đêm tối của linh hồn, không phải là một cái gì đó vu vơ.

Người ta thấy câu chuyện của Gióp được lặp lại (G 1,6 tt). Thiên Chúa “phó” vào tay Satan những bạn hữu thân thiết nhất của Ngài, để cho họ có cơ hội làm chứng mình không chỉ phục vụ Thiên Chúa vì những ơn lành đang được hưởng và để có thể tự đắc trước kẻ thù. Ngài cho Satan được quyền trên thân xác họ, nhưng đôi khi, một cách mầu nhiệm, cũng được quyền trên linh hồn họ, hoặc ít nhất một phần thuộc linh hồn họ. Năm 1983, Maria Giêsu Bị Đóng Đinh, được gọi là “người Ả Rập nhỏ bé”, vì thuộc dân tộc Palestin, được phong thánh. Trong suốt cuộc đời, khi đã tiến xa trên con đường nên thánh, chị đã sống hai thời kỳ bị quỷ ám thật sự và xác thực, được kể lại trong án phong thánh[107]. Trường hợp của chị không phải là ngoại lệ…

***

Vậy tại sao ngay cả trong số các tín hữu, có một số người dường như không để ý tới cuộc chiến ngầm này trong Giáo hội? Tại sao có quá ít người nghe thấy những tiếng gầm thét hung dữ của sư tử đang rảo quanh tìm mồi cắn xé? Đơn giản thôi! Những người đó tìm kiếm ma quỷ trong sách vở, trong khi sách vở không làm cho nó hứng thú, nhưng là các linh hồn. Người ta không bao giờ bắt gặp nó lui tới các trường đại học, các thư viện, nhưng là các linh hồn.

Một sự mập mờ khác đôi khi có nơi các tín hữu. Những người này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của những con người thuộc văn hóa “thế tục” nghĩ về sự hiện hữu của ma quỷ, như thể đã có một cơ sở đối thoại chung với họ. Những tín hữu ấy không để ý đến việc một văn hóa tuyên bố mình vô thần không thể tin vào sự hiện hữu của ma quỷ. Khi không tin vào sự hiện hữu của Thiên Chúa thì sẽ là bi đát khi tin vào sự hiện hữu của ma quỷ. Trong trường hợp ấy, hẳn có gì đó để tuyệt vọng. Người chưa bao giờ tiếp xúc với Satan, nhưng chỉ biết qua ý tưởng, cách trình bày và những truyền thống dân tộc học nói về nó, thì có thể biết gì về nó? Những người xem xét các hiện tượng mà báo chí coi là thuộc ma quỷ (bị quỷ ám, giao ước với ma quỷ, săn phù thủy …) để từ đó hãnh tiến kết luận rằng tất cả chỉ là mê tín và rằng ma quỷ không tồn tại, những người đó giống như phi hành gia xô viết, người đã kết luận rằng Thiên Chúa không hiện hữu vì anh ta bay ngang dọc trên bầu trời và không gặp Ngài ở chỗ nào cả. Trong cả hai trường hợp, người ta đã tìm không đúng chỗ.

***

Nói như trên rồi, chúng ta có thể và phải đưa ma quỷ về với những phạm vi chính đáng. Hơn ai hết, người tín hữu sẵn sàng làm việc này. Trong Kitô giáo, Satan không có một tầm quan trọng giống hệt và trái ngược với tầm quan trọng của Đức Kitô. Thiên Chúa và ma quỷ không phải là những nguyên lý song song, vĩnh cửu và độc lập với nhau, như quan niệm của một số tôn giáo nhị nguyên. Theo Kinh thánh, ma quỷ chỉ là một thụ tạo của Thiên Chúa “đã đi sai đường”; những gì tích cực nơi nó đều do Thiên Chúa, chỉ là nó làm băng hoại, trệch hướng, dùng điều ấy để chống lại Thiên Chúa. Qua đó chúng ta đã cắt nghĩa hết chưa? Chưa đâu. Sự hiện hữu của ma quỷ vẫn còn là một mầu nhiệm, cũng như sự dữ nói chung vẫn còn là một mầu nhiệm, nhưng đó không phải là mầu nhiệm duy nhất của đời sống…

Nói rằng chúng ta tin “vào” ma quỷ cũng không đúng nữa. Chúng ta tin “vào” Thiên Chúa, “vào” Đức Giêsu Kitô, nhưng chúng ta không tin “vào” ma quỷ, nếu tin có nghĩa là tin tưởng vào một ai đó. Chúng ta tin có ma quỷ nhưng không tin “vào” ma quỷ; đó là một đối tượng, hơn nữa lại là đối tượng tiêu cực của đức tin chúng ta, nó không phải là động lực, cũng không phải là cùng đích của đức tin ấy.

Đừng quá sợ hãi nó. Một tác giả xưa đã viết: “Sau khi Đức Kitô đến thế gian, ma quỷ bị cột lại, như con chó bị xích. Nó không thể cắn ai, trừ người nào coi thường nguy hiểm mà đến gần nó…Nó có thể sủa, xúi giục, nhưng không thể cắn, trừ những ai muốn chuyện đó. Quả thực, nó làm hại ta không phải bằng cách cưỡng bách nhưng bằng cách thuyết phục. Nó không ép ta thỏa thuận, nhưng xúi giục ta làm như thế[108].”

Tin có ma quỷ không làm cho sự tự do của ta sút giảm. Chỉ cần cẩn thận để không khiến nó phải chịu trách nhiệm về mỗi lỗi lầm của ta hoặc về bất cứ bất hạnh nào xảy ra cho ta. Nhìn chỗ nào cũng thấy ma quỷ cũng nguy hiểm như không thấy nó ở đâu cả. “Khi bị tố cáo thì ma quỷ chế giễu. Thực ra, nó muốn bạn tố cáo nó, nó vui lòng đón nhận mọi tố cáo, nếu điều đó khiến bạn không thể xưng tội![109]

Chúng ta kết thúc bằng cách trở lại với phụng vụ của chúng ta. Một Giáo Phụ mô tả những gì xảy ra ngày thứ Sáu tuần Thánh như sau: “Bạn hãy hình dung một cuộc chiến khốc liệt ở thao trường. Một người dũng cảm chiến đấu chống lại một bạo chúa trong thành phố, và với cái giá là những nỗ lực và đau khổ kinh hoàng, anh ta đã thắng. Bạn ngồi trên khán đài, chỉ thuần túy làm khán giả; bạn không phải chiến đấu, không phải mệt nhọc, không bị thương tích. Nhưng, nếu bạn ngưỡng mộ người chiến thắng, nếu bạn vui mừng với cuộc chiến thắng của anh ta, nếu bạn kết cho anh ta một vòng triều thiên, nếu bạn kích thích và đánh thức đám đông ủng hộ anh ta, nếu bạn vui mừng nghiêng mình trước người đã chiến thắng, nếu bạn ôm hôn đầu anh ta và bắt tay; nói tóm lại, nếu bạn cuồng nhiệt với anh, đến mức coi chiến thắng của anh là của bạn, thì tôi sẽ nói với bạn rằng chắc chắn bạn sẽ chia sẻ cái giá của người thắng trận[110].”

Chúng ta hãy nhớ lại những lời này khi mà, ngay sau đây, Đấng chịu đóng đinh sẽ được đưa lên cao giữa chúng ta, và chúng ta đến gần để hôn kính chân Ngài.


XXIII. “MỘT KHI ĐƯỢC GIƯƠNG LÊN CAO KHỎI MẶT ĐẤT, TÔI SẼ KÉO MỌI NGƯỜI LÊN VỚI TÔI”

Biên niên sử của thời ấy mô tả với nhiều chi tiết lúc tháp bút được dựng lên ở quảng trường thánh Phêrô, trước sự chứng kiến của ĐGH Sixtô V. Hàng năm vào ngày này, người Kitô hữu chúng ta sống lại thời điểm tháp bút được dựng lên giữa lòng Giáo hội, cây chính của con thuyền thánh Phêrô đánh dấu tâm điểm của mọi sự: cây thánh giá.

Chúng ta cùng nhau suy niệm lời sau đây của Đức Kitô trên thánh giá: “Một khi được giương lên cao khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” (Ga 12,32) Đó là chìa khóa giúp đọc mầu nhiệm đã được chính Đức Giêsu ban trước cho chúng ta hoặc – cũng có giá trị như vậy cho chúng ta – được Thần Khí của Ngài linh hứng cho thánh sử Gioan viết ra lời đó.

Nhưng lời này chưa được nói xong thì đã cho thấy ngay một vấn nạn. Đã hai mươi thế kỷ trôi qua kể từ ngày này và, lạy Chúa, dường như Chúa chưa kéo mọi sự lên với Ngài. Phần đông nhân loại vẫn chưa được biết Ngài! Từ đó, lời kinh nhuốm ảo tưởng đôi khi nghe thấy nơi người tín hữu: “Chúng con chưa thấy Chúa kéo mọi người lên với Chúa, vì vậy, xin Chúa làm cho mau đến ngày Chúa sẽ thực sự kéo mọi người lên với Chúa.”

Nhưng chúng ta có chắc là đã nhìn rõ chưa? Điều Đức Giêsu nói không phải là một nguyện ước đạo đức còn phải chờ được thực hiện. Ngài đã luôn thực hiện từ lúc được đưa lên khỏi mặt đất. Ai có thể biết những con đường vô tận qua đó Đức Kitô chịu đóng đinh kéo mọi người lên với Ngài?

Một trong những con đường này là đau khổ của con người. “Chính Người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta – Vere dolores nostros ipse portavit.” (Is 53,4) Sau khi Đức Kitô đã mang lấy và cứu chuộc sự đau khổ ấy, chính nó trở thành bí tích phổ quát của ơn cứu độ theo cách của nó. Phổ quát, vì đau khổ không biết đến sự khác biệt giữa thế giới đệ nhất và thế giới đệ tam, giữa Bắc bán cầu và Nam bán cầu; người ta thấy nó ở khắp mọi nơi.

Đấng đã xuống trong nước sông Giođan, thánh hóa nước ấy cho mọi phép rửa tội trong tương lai, cũng đã xuống trong nước gian truân và cái chết, biến chúng thành dụng cụ tiềm tàng của ơn cứu độ: “Ai chịu đau khổ trong thân xác thì đoạn tuyệt với tội lỗi.” (1Pr 4,1). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II viết trong Tông thư Salvifici doloris: “Đau khổ có nghĩa là thụ cảm cách đặc biệt, đặc biệt là mở ra cho hành động của những sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa hiến ban cho nhân loại trong Đức Kitô. […] Trong đau khổ cứu độ nhờ đó việc Cứu Chuộc thế gian được thực hiện, Đức Kitô đã mở ra ngay từ đầu và không ngừng mở ra cho mọi đau khổ của con người[111].” Một cách mầu nhiệm, mọi đau khổ, chứ không chỉ đau khổ của người tín hữu, hoàn tất cho “những gì còn thiếu cho cuộc Khổ nạn của Đức Kitô” (Cl 1,24).

Một phương tiện khác được Đức Kitô sử dụng để lôi kéo mọi sự đến với Ngài là lôi kéo… đến những người khác. Đến với người đói khát, đau yếu, tù tội, ngoại kiều, bị bách hại vì lẽ công chính, không được bảo vệ… “là các ngươi làm cho chính Ta” (Mt 25,49). Hơn nữa, con đường này không chỉ dành cho các tín hữu.

Công đồng quả quyết “Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh[112]”. Điều đó xảy ra như thế nào thì tùy thuộc vào Thiên Chúa, nhưng sự kiện điều đó xảy ra cũng tùy thuộc vào chúng ta, nếu chúng ta biết đọc những lời của Đức Kitô.

***

Giờ đây chúng ta bàn về vấn đề có tính thời sự nhất.

Phải chăng chúng ta có thể thừa nhận còn một con đường khác được Đức Kitô sử dụng để kéo mọi người lên với Ngài, nghĩa là qua những gì được nói và được sống có giá trị nơi các tôn giáo khác? Công đồng và Huấn quyền không khai trừ khả năng này và thần học đang lưu tâm nghiên cứu.

Mối bận tâm của thời điểm này là nhận ra sự tồn tại của các tôn giáo khác không chỉ trên thực tế trong kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, mà còn xét theo luật, để nhớ rằng các tôn giáo đó không chỉ được khoan dung, mà còn rõ ràng được Chúa muốn, như một biểu hiện của sự phong phú không thể diễn tả của ân sủng và ý muốn của Ngài là “mọi người được cứu độ” (1Tm 2,4). Những người tiếp xúc trực tiếp với các tôn giáo lớn ngoài Kitô giáo làm chứng thực tế về những điều tốt đẹp mà hàng triệu người rút ra từ các tôn giáo đó, cũng như về chiều sâu của đời sống tâm linh và kinh nguyện mà họ có được nơi dân của các tôn giáo đó.

Vẫn còn một điểm tế nhị, là xem liệu sự công nhận này có bắt buộc chúng ta phải tách các tôn giáo khác ra khỏi Đức Kitô nhập thể và mầu nhiệm vượt qua của Ngài không. Một số người nghĩ như vậy và cho các yếu tố tốt đẹp và chân thật trong các tôn giáo đó có liên quan với Ngôi Lời vĩnh cửu và Thần Khí của Thiên Chúa. Là những Ngôi trong Ba Ngôi – họ khẳng định với chúng ta – các Ngôi đó đã hoạt động trong thế giới trước khi Đức Kitô đến và còn tiếp tục làm việc sau khi Ngài phục sinh; không phụ thuộc vào mầu nhiệm Đức Kitô, nhưng song song, trong tương quan bổ sung chứ không tùy thuộc.

Nhưng chúng ta phải đặt ra câu hỏi: để công nhận nơi các tôn giáo khác một địa vị riêng và một sự tồn tại theo luật trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, có thực sự cần thiết phải tách chúng ra khỏi mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô, hay ngược lại người ta có thể có được cùng một hiệu quả khi duy trì mối quan hệ của chúng? (Chúng ta hãy nhớ rằng dây liên kết với Đức Kitô của thập giá không triệt tiêu dây liên kết với Ngôi Lời vĩnh cửu. Cả hai được tóm tắt, không triệt tiêu lẫn nhau, không ở bên ngoài Giáo hội, cũng không ở bên trong. Ngay cả đối với các Kitô hữu, Đức Kitô là “con đường“, trong khi Ngôi Lời là “sự thật và sự sống” tức là mục tiêu).

Người ta quả quyết: “Một biến cố đặc biệt giới hạn trong thời gian và không gian, như trường hợp của Đức Kitô, không thể làm cạn kiệt những tiềm năng vô biên của Thiên Chúa và Lời của Người”. Đúng vậy, nhưng từ những tiềm năng này, Người có thể nhận ra tất cả những gì đủ để cứu một thế giới cũng đã hoàn thành cho Người. Nếu chúng ta tin rằng máu đổ ra trên thập giá là máu của một Thiên Chúa làm người, chúng ta sẽ không thấy quả quyết sau đây là phóng đại, tức “chỉ một giọt máu là đủ để cứu độ toàn thế giới – “Cuius una stilla salvum facere totum mundum quit ab omni scelere[113].”

***

Thế nên phải suy nghĩ cho kỹ trước khi đi một bước vô cùng quan trọng. Triết gia thế kỷ vừa qua đã tuyên bố: “Thiên Chúa đã chết. Chúng ta đã giết Ngài!” có lẽ khi tính đến những kết quả của một hành vi như thế, thì đã viết chính xác sau đó: “Chúng ta đã làm gì khi tách trái đất này ra khỏi mặt trời của nó? Từ nay, nó sẽ quay theo hướng nào? Khi xa mặt trời? Hướng sau, hướng bên cạnh, hướng trước, khắp nơi?[114]” Đừng lặp lại những sai lầm trên đây khi tách một phần lớn nhân loại ra khỏi mặt trời của nó là Đức Kitô.

Trong cuộc tranh luận với nhóm Giansêniô, Chúa bị đóng đinh thập giá với những cánh tay ôm sát gần như song song với thân thể trở thành “mốt”. Cánh tay sát như vậy chỉ dành rất ít không gian giữa chúng với thân thể. Điều đó có nghĩa là Đức Kitô đã không chết cho mọi người, nhưng chỉ chết cho một nhóm nhỏ những người được tuyển chọn và tiền định. Một sự xác tín đáng sợ khiến cho Giáo hội phải khổ sở để loại bỏ. Đừng trở lại với kiểu thập giá loại ấy. Hãy để cánh tay Chúa rộng mở để ôm lấy cả thế giới. Hãy giữ cho biến cố Canvê chiều kích vũ trụ của nó. Những gì diễn ra trên Gôngôtha ngày thứ Sáu tuần Thánh đầu tiên mà chúng ta cử hành hàng năm ngày hôm nay thực sự là “một Thánh Lễ trên thế giới”.

Một điều chắc chắn và tất cả thần học Kitô giáo phải phát xuất từ đó: Đức Kitô đã hy sinh mạng sống vì yêu thương mọi người, để mọi người trở thành con cái của Chúa Cha và anh em với nhau. Không có phân biệt nào. Hiến tế cứu độ của Ngài – ít nhất khía cạnh này – chắc chắn là hiến tế phổ quát.

Không phải với Đức Kitô hay Giáo hội mà người ta phạm một sai lầm lớn khi khai trừ một phần nhân loại, nhưng là chính nhân loại. Không thể bắt đầu từ quả quyết “Đức Kitô là đề xuất cứu độ tối cao, cuối cùng và chuẩn mực, được Thiên Chúa tạo ra cho thế giới”, mà đồng thời lại không nhận ra – với tư cách một Kitô hữu – đòi hỏi, quyền lợi của mọi người là dựa vào con đường này và hưởng nhờ sự cứu rỗi này.

Làm sao có thể tách những con đường cứu rỗi khác ra khỏi Đức Kitô mà không giảm chúng xuống thành các khu vực chuẩn bị và thứ cấp? Phải, Thiên Chúa sẽ thiên vị một số người và không cung cấp cho mọi người “những cơ hội giống nhau”. Hơn nữa, phải chăng các tôn giáo khác dễ nhận ra sự ưu việt của Kitô giáo hơn là sự độc đáo của nó? Phải chăng họ sẽ chấp nhận dễ dàng việc tùy thuộc vào Ngôi Lời vĩnh cửu và Chúa Thánh Thần của các Kitô hữu, nghĩa là tùy thuộc vào Ba Ngôi (một khái niệm quá xa lạ với họ) hơn là tùy thuộc vào Đức Kitô và mầu nhiệm vượt qua của Ngài?

***

Nhưng người ta có thể tự hỏi: “Có thật sự thực tế không khi tiếp tục tin vào sự hiện diện và ảnh hưởng mầu nhiệm của Đức Kitô trong các tôn giáo tồn tại từ lâu trước Ngài và, sau hai mươi thế kỷ, không thấy cần thiết phải đón nhận Tin Mừng của Ngài?” Trong Kinh thánh có một sự kiện có thể cho phép chúng ta trả lời cho vấn nạn này: sự khiêm nhường của Thiên Chúa, việc Thiên Chúa ẩn mình. “Lạy Thiên Chúa của Israel, lạy Đấng Cứu Độ, Ngài quả thật là Thiên Chúa ẩn mình – Vere tu es Deus absconditus.” (Is 45,15).

Thiên Chúa khiêm nhường trong những gì Ngài tạo dựng. Ngài không dán nhãn hiệu trên mọi vật, như cách làm của con người. Không gì được viết về các thụ tạo cho biết chúng được Thiên Chúa tạo dựng. Ngài để cho chính thụ tạo khám phá ra Ngài. Có điều gì đó đúng trong lời quả quyết của thi sĩ Holderlin: “Thiên Chúa tạo dựng thế giới giống như đại dương tạo nên các lục địa: bằng cách lui đi.” Con người phải mất bao nhiêu thời gian để nhận ra mình mắc nợ ai về sự hiện hữu của mình, nhận ra ai đã tạo cho nó trời và đất? Sẽ còn mất bao nhiêu thời gian nữa trước khi con người có thể nhận ra Ngài? Thiên Chúa có phải vì thế mà không là Đấng Tạo Dựng mọi loài? Có phải Ngài không còn dùng mặt trời của Ngài để sưởi ấm những ai biết Ngài cũng như những ai không biết Ngài?

Giống như vậy là sự Cứu Chuộc. Thiên Chúa khiêm nhường khi tạo dựng và khiêm nhường khi cứu chuộc. Đức Kitô quan tâm đến việc mọi người được cứu chuộc hơn là việc họ biết Ngài là Đấng cứu họ. Đức Kitô biến mình thành Latens deitas, thần tính ẩn giấu, cả trong Thánh Thể nữa[115]. Điều ngạc nhiên lớn nhất lúc đi từ đức tin tới hưởng kiến sẽ không phải là khám phá ra sự toàn năng của Thiên Chúa, nhưng là sự khiêm nhường của Ngài.

***

Ngày hôm nay lúc Thiên Chúa ẩn mình nhất trên thập giá, “chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin của chúng ta”, như bài đọc II khuyên nhủ (Dt 4,14). Và chúng ta hãy lại cùng với Gioan công bố: “Chính Đức Giêsu Kitô là của lễ đền bù tội lỗi chúng ta, không những tội lỗi chúng ta mà thôi, nhưng còn tội lỗi cả thế gian nữa.” (1Ga 2,2)

Trong ba chương đầu của Thư Rôma, sau khi đã mô tả tình cảnh tuyệt vọng của người Do Thái và Hy Lạp (tức là của tất cả nhân loại) làm mồi cho tội lỗi và cơn giận của Thiên Chúa, thì đến chương thứ ba, Thánh Phaolô đã có sự can đảm lạ lùng này là quả quyết rằng từ đây tình cảnh này khác tận căn vì một người duy nhất mà “Thiên Chúa đã đặt làm hy lễ xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin” (Rm 3,25). Tại sao thánh Tông Đồ đã gọi Đức Kitô là “Ađam mới” (Rm 5,12-19) và tại sao Luca lại chuyển khởi đầu gia phả của Ngài từ Abraham lên Ađam (Lc 3,38), nếu không muốn khẳng định rằng Ngài không phải là nguyên mẫu mới của dân này hay dân nọ, mà là của toàn thể nhân loại?

Một người đã chết thay cho mọi người” (2Cr 5,14); “Nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính” (Rm 5,19). Sự can đảm của chúng ta ngày hôm nay tin vào đặc tính phổ quát ơn Cứu Chuộc của Đức Kitô không là gì so với sự can đảm phải có lúc bấy giờ.

Một Thánh vịnh nói về Sion như sau: “Kìa xứ Philitinh, thành Tia cùng xứ Cút, tại đó, kẻ này người nọ đã sinh ra […] Chính Chúa sẽ ghi vào sổ bộ các dân, kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó” (Tv 87,4-6). Mọi sự đều đã được thực hiện ở Canvê: tất cả chúng ta đều sinh ra tại đó. Từ đó mà hơi thở phổ quát làm nên đặc trưng cho các nghi thức của Thứ Sáu tuần Thánh. Trong “lời cầu nguyện phổ quát”, chúng ta sẽ cầu nguyện cho tất cả mọi người trên thế giới, vì tin rằng Đức Kitô đã chết cho mọi người.

Vậy lệnh truyền của Đức Giêsu luôn trói buộc chúng ta: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.” Mc 16,15) Việc truyền giáo cho dân ngoại vẫn rộng mở, nó sẽ không còn lý do để tồn tại nếu Phúc âm không dành cho mỗi người trong số họ. Chúng ta chỉ cần chuyển từ một động lực tiêu cực sang một động lực tích cực. Đừng căn cứ quá nhiều vào suy nghĩ này là, người ta sẽ không được cứu nếu không biết Đức Kitô, nhưng đúng hơn, căn cứ vào mong muốn chia sẻ với tất cả mọi người món quà to lớn cho thế giới là Đức Kitô.

Đa nguyên tôn giáo không bao gồm việc coi tất cả các tôn giáo là “đúng” như nhau (điều sẽ là chủ nghĩa tương đối), nhưng công nhận cho mỗi người quyền coi tôn giáo của mình là đúng và truyền bá nó, với điều kiện bằng những phương tiện hòa bình, xứng đáng với một tôn giáo. “Cách hiền hòa và với sự kính trọng“, Thư thứ nhất Phêrô khuyên các Kitô hữu như vậy. Chúng ta có thể thêm: theo tinh thần của hai cuộc gặp gỡ ở Assisi, tháng 10 năm 1986 và tháng 1 năm 2002.

Hơn nữa, điều khiến chúng ta quan tâm nhất, không phải là sự cứu rỗi của người không biết Đức Kitô, mà là sự cứu rỗi của người biết Ngài và sống như thể chưa bao giờ biết Ngài, khi quên đi phép rửa tội của mình, Thiên Chúa và mọi sự. Đối với những người này, Giáo hội đưa ra lời mời khẩn cấp của mình ngày hôm nay: “Hãy hòa giải với Thiên Chúa.” Trong những vòng tay rộng mở này, hỡi người anh em xa xôi, cũng có một nơi dành cho anh em.

Chúng ta kết thúc bằng một lời cầu nguyện:

Lạy Chúa, xin tiếp tục lôi kéo mọi người đến với Chúa, những người biết Chúa cũng như những người không biết Chúa. Xin cho Thần Khí Chúa tiếp tục đưa mọi người, như Chúa muốn, tiếp xúc với mầu nhiệm vượt qua về sự chết và sự sống lại của Chúa. Lạy Chúa, xin nghe lời chúng con! Lạy Chúa, xin nghe lời chúng con!


XXIV. “CHÍNH NGƯỜI LÀ SỰ BÌNH AN CỦA CHÚNG TA”

“Hãy tưởng tượng không có thiên đường / Thật dễ dàng nếu bạn cố gắng / Không có địa ngục bên dưới chúng ta / Trên chúng ta chỉ có bầu trời / Tưởng tượng tất cả mọi người / Sống cho hôm nay / Hãy tưởng tượng không có quốc gia / Không khó để làm / Không có gì để giết hoặc chết cho / Và không có tôn giáo nữa / Hãy tưởng tượng tất cả mọi người / Sống cuộc đời hòa bình / Bạn có thể nói tôi là một người mơ mộng / nhưng tôi không phải là người duy nhất / Tôi hy vọng một ngày nào đó bạn sẽ tham gia cùng chúng tôi / và thế giới sẽ sống hợp nhất[116].”

Dường như chính Plato đã viết: “Những người lớn tuổi có thầy dạy là những nhà triết học, còn những người trẻ là các thi sĩ.” Đúng là ngày nay, những người thầy của người trẻ không còn là thi sĩ mà là những ca sĩ; không phải thi phú ghi dấu trên họ, nhưng là âm nhạc. Hàng triệu người trẻ có nhãn quan của họ về cuộc sống dựa trên nhãn quan của các ca sĩ họ yêu thích (khi không phải là chính bài hát).

Chúng ta vừa qua những tuần sôi động. Bài hát này, được viết bởi một trong những thần tượng vĩ đại của nhạc nhẹ hiện đại, trên một giai điệu ngọt ngào, đã thường xuyên vang lên trong các cuộc diễu hành và các chương trình phát thanh, giống như một loại tuyên ngôn hòa bình. Chúng ta không thể không trả lời. Một ngày kia, Đức Giêsu đã khởi đầu giảng dạy bằng bài ca mà những đứa trẻ thời Ngài hát ở ngoài chợ: “Tụi tôi thổi sáo cho các anh mà các anh không nhảy múa, tụi tôi hát bài đưa đám mà các anh không đấm ngực khóc than” (Mt 11,16-17). Chúng ta hãy bắt chước Ngài.

***

Câu hỏi đầu tiên mà chúng ta đặt ra ở đây là: tại sao cố gắng “tưởng tượng” điều gì đó mà chúng ta thấy trước mắt cho tới ngày hôm qua? Một thế giới không thiên đàng, không hỏa ngục, không tôn giáo, không quê hương, with no possessions, không tài sản riêng, nơi mỗi người được dạy chỉ biết sống cho trần gian này: đây không đúng là xã hội mà những chế độ cộng sản toàn trị đề nghị sao? Như vậy giấc mơ không mới, nhưng sự thức tỉnh đã không vui…

“Không còn thiên đàng, không còn hỏa ngục”. Không phải lần đầu tiên chúng ta nghe những lời như vậy. Một văn sĩ và cũng là triết gia nổi tiếng đã đặt những lời này vào miệng một trong những nhân vật của ông trong những năm ồn ào của chủ thuyết hiện sinh vô thần. “Nếu Thiên Chúa hiện hữu, con người không là gì cả. Thiên Chúa không hiện hữu! Thật vui, khóc vì vui! Không có thiên đàng nữa! Không có hỏa ngục nữa! Không có gì khác ngoài trái đất[117].”

Tuy nhiên cũng tác giả này đã viết trong một vở kịch khác mang tựa đề “Huis clos”. Ông đưa ba người – một người đàn ông và ba người phụ nữ – vào cùng một căn phòng trong những khoảng thời gian ngắn. Không có cửa sổ, ánh sáng ở mức tối đa và không thể tắt nó, hơi nóng ngột ngạt và không có gì khác ngoài một chiếc tràng kỷ. Cửa ra vào đang đóng. Có một cái chuông, nhưng nó không reo. Nói về ai vậy? Về ba người vừa mới chết; và nơi họ ở là địa ngục.

Sau khi linh hồn họ, bằng cách đi sâu vào cuộc sống của nhau, bị vạch trần trước những người khác, và những lỗi mà họ xấu hổ nhất được tiết lộ và khai thác không thương tiếc bởi những người khác, một trong những nhân vật nói: “Bạn nhớ không: lưu huỳnh, giàn thiêu, vỉ nướng … Thật là một trò đùa! Không cần vỉ nướng: tha nhân là địa ngục[118].” Vậy địa ngục không bị xóa bỏ trên đường đi; người ta chỉ cần di chuyển nó trên trái đất.

***

Bài hát tôi đã nhắc ở trên – ngoài những gợi ý sai lầm để thực hiện nó, chứa đựng một khát vọng chính đáng và thánh thiện mà chúng ta không thể để rơi vào quên lãng. Chúng ta hãy nghe một “bài hát” khác về hòa bình và hiệp nhất, được viết cách đây đã rất lâu:

“Chính Người là bình an của chúng ta,

Người đã liên kết hai dân thành một.

đã hy sinh thân mình

để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét;

Người đã hủy bỏ Lề Luật cũ

gồm các điều răn và giới luật,

Khi thiết lập hòa bình,

Người đã tác tạo đôi bên

thành một người mới duy nhất

nơi chính bản thân Người.

Nhờ thập giá

Người đã làm cho đôi bên

được hòa giải với Thiên Chúa

trong một thân thể duy nhất;

trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét.

Người đã đến loan Tin Mừng bình an:

bình an cho anh em là những kẻ ở xa

và những kẻ ở gần.

Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên,

chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất

mà đến cùng Chúa Cha” (Ep 2,14-18).

Cũng ở đây, Kinh thánh cho chúng ta thấy một thế giới mà người ta sống “trong hòa bình”, như thể nói về “một sự việc”; nhưng con đường đưa tới chỗ thực hiện hoàn toàn khác nhau. “Người đã thiết lập hòa bình bằng cách tiêu diệt sự thù ghét”. Tiêu diệt sự thù ghét chứ không phải kẻ thù, tiêu diệt nơi chính bản thân Ngài chứ không phải nơi người khác!

Cùng lúc đó, một vĩ nhân khác tuyên bố với thế giới là hòa bình đã lên ngôi. Người ta đã tìm lại được ở Tiểu Á, giữa những tảng đá của một đền thờ, một bản sao tài liệu nổi tiếng của hoàng đế Augustus. Trong bản văn này ông đã ca ngợi pax romana, hòa bình của Roma, mà ông đã thiết lập trên thế giới, bằng cách định nghĩa nó là parta victoriis pax, nghĩa là một hòa bình có được nhờ những cuộc chiến thắng quân sự[119].

Đức Giêsu không nói đến sự bình an đó, nhưng Ngài cho biết có một sự bình an khác thuộc loại hoàn toàn khác. Ngài nói như sau: “Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.” (Ga 14,27) Sự bình an của Ngài cũng là một sự “bình an là kết quả của chiến thắng”, nhưng là chiến thắng chính mình chứ không phải chiến thắng người khác, một cuộc chiến thắng thiêng liêng chứ không phải chiến thắng quân sự. Sách Khải huyền nói: “Này đây, Sư Tử xuất thân từ chi tộc Giuđa, đã chiến thắng” (Kh 5,5); và Thánh Augustinô xác định rõ hơn: “Victor quia victima – Đấng chiến thắng vì là tế vật[120]”. Đức Giêsu đã dạy chúng ta là không có lý do chính đáng nào để giết, nhưng có một lý do đáng cho người ta hiến mạng sống mình.

***

Con đường dẫn tới hòa bình mà Phúc âm đề ra không chỉ có ý nghĩa trong lãnh vực đức tin; nó cũng có giá trị trong lãnh vực chính trị, cho xã hội. Hiện nay thế giới nhấn mạnh và đòi hỏi người ta chấp nhận phương pháp của Đức Kitô thay thế cho phương pháp của Augustus. Lương tâm hiện đại từ chối chấp nhận ơn gọi mà Virgilius đã chỉ cho đồng bào của mình: “Tu regere imperio populos, Romane, memento – Này Rôma, hãy nhớ nhiệm vụ của ngươi là thống trị các dân tộc[121].” Mọi dân tộc đòi hỏi quyền cai trị chính mình.

Ngày hôm nay chúng ta thấy rằng con đường duy nhất đưa tới hòa bình là triệt hạ sự thù nghịch chứ không phải kẻ thù (Phải chăng chúng ta sẽ triệt hạ một nửa dân chúng thế giới vì họ không hài lòng với tình trạng hiện thời chăng? Và làm sao phân biệt được kẻ thù trong khủng bố?) Không tính đến chuyện người ta cũng có thể áp dụng cho kẻ thù điều Tertullianô nói về máu các người Kitô hữu: “Máu của các vị tử đạo là hạt giống sinh ra các Kitô hữu[122].” Thật bất hạnh là máu của kẻ thù là hạt giống sinh ra các kẻ thù khác.

Một hôm có người đã trách Abraham Lincoln là quá lịch sự với kẻ thù và nhắc cho ông nhớ nhiệm vụ tổng thống của ông là phải triệt hạ họ. Ông trả lời: “Biến họ thành bạn không phải là cách triệt hạ kẻ thù sao?”

Vị tổng thống vĩ đại này của Hoa Kỳ sẽ tìm ra ai đó để đáp ứng thách thức phi thường này chăng? Người ta triệt hạ kẻ thù bằng vũ khí, triệt hạ sự thù nghịch bằng đối thoại. Trước khi chỉ tay vào các quốc gia, Giáo hội cố gắng thực hiện chương trình này trong các mối liên hệ giữa các tôn giáo khác nhau.

***

Thế nhưng chúng ta mới chỉ nói tới một nửa sứ điệp Kitô giáo về hòa bình. Một khẩu hiệu thời thượng hôm nay nói: “Think globally, act locally – Suy nghĩ toàn cầu, hành động cục bộ”. Điều này đúng trước hết cho hòa bình. Người ta không thực hiện hòa bình như thực hiện chiến tranh. Chuẩn bị lâu dài là cần thiết để thực hiện chiến tranh: phải hình thành những đạo quân vững mạnh, chuẩn bị chiến lược, ký kết liên minh và sau đó đi tấn công với hàng ngũ chặt chẽ. Bất hạnh thay cho người muốn bắt đầu trước, chỉ có một mình và bị cô lập: người đó sẽ thất bại.

Hòa bình được thực hiện theo cách hoàn toàn ngược lại: từng người một, bắt đầu ngay lập tức, thậm chí một mình, ngay cả với một cái bắt tay đơn giản. Hàng tỉ giọt nước dơ bẩn sẽ không bao giờ tạo thành một đại dương trong sạch. Hàng tỉ người không được bình an trong lòng – và hàng tỉ gia đình không được bình an trong nội bộ – sẽ không bao giờ tạo thành một nhân loại bình an. Một trong những Sứ điệp Ngày Thế giới Hòa bình của Đức Gioan Phaolô II, sứ điệp năm 1984, có chủ đề: “Hòa bình phát sinh từ tấm lòng mới”.

Điều đó có ý nghĩa gì khi diễu hành qua các đường phố, hò hét “Hòa bình”, trong khi giơ nắm đấm đe dọa và đập vỡ các cửa sổ kính? Chúng ta có thể thực sự muốn hòa bình mà vũ trang chăng? Không phải là điều tương tự sao khi chúng ta treo cờ hòa bình ở cửa sổ mà bên trong nhà thì lên giọng, áp đặt một cách độc đoán ý muốn của riêng mình và dựng lên những bức tường thù địch và im lặng? Trong trường hợp này, gỡ cờ để treo vào trong nhà lại không phải là điều tốt hơn sao?

Ngay cả chúng ta đang tụ họp nơi đây, chúng ta phải làm điều gì đó để xứng đáng nói về hòa bình. Đức Giêsu đã đến loan báo Tin Mừng bình an, “bình an cho anh em là những kẻ ở xa và bình an cho những kẻ ở gần” (Ep 2,17). Bình an với những kẻ ở gần thường ra khó thực hiện hơn bình an với những người ở xa…Đức Giêsu đã không nói: “Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình.” (Mt 5,23-24) đó sao?

Lát nữa đây, chúng ta sẽ tiến lên ôm hôn thánh giá. Nếu chúng ta không muốn từ trên thánh giá Đức Giêsu phải lặp lại với chúng ta: “Hãy đi làm hòa với người anh em ngươi trước đã”, chúng ta phải dâng nụ hôn này không chỉ cho Đấng là đầu của thân thể, mà còn cho những chi thể của thân thể Ngài, đặc biệt những người chúng ta có khuynh hướng loại trừ.

Vào một thời điểm cuối Mùa Chay, người ta nhóm lửa đốt “những gì phù phiếm”. Họ ném vào đống củi chất tại trung tâm quảng trường chính của thành phố tất cả các phương tiện làm điều xấu xa hoặc các đồ vật mê tín mà mỗi người có trong nhà. Nếu họ đốt đi những gì phù phiếm, thì chúng ta, chúng ta cũng hãy đốt đi những sự thù nghịch! Chúng ta hãy ném vào cánh tay Chúa và vào trong ngọn lửa rực cháy của trái tim Ngài mọi thù ghét, oán hận, ghen tị, tranh chấp, mọi ước muốn đòi quyền lợi cho mình.

***

Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.” (Ep 2,18) “Cả đôi bên” không chỉ là Do Thái và Dân ngoại, mà cả Kitô hữu và Hồi giáo, La tinh và Hy Lạp, Công giáo và Tin lành, giáo sĩ và giáo dân, đàn ông và đàn bà, da trắng và da mầu.

Đây là câu trả lời của Phúc âm cho ước mơ của bài hát: “Và thế giới sẽ sống liên kết với nhau.” Chúng ta biết vấn nạn: “Đã qua hai ngàn năm, mà đâu có gì thay đổi?” Nhưng chúng ta không lầm đâu. Thế giới được hòa giải, trở nên một trong Đức Kitô, đã hiện diện. Chính đó là điều Thiên Chúa đã nhìn thấy khi Ngài chiêm ngắm hành tinh sóng gió của chúng ta; chỉ bằng một cái nhìn, Ngài bao quát cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai.

Thế giới thật sự là thế giới trước mặt Thiên Chúa, chứ không phải thế giới nào khác. Và trước mắt Thiên Chúa, ngay từ bây giờ “không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô Giêsu.” (Gl 3,28)

Ngày 13 tháng tư năm 1997, tại sân vận động Kosevo ở Sarajevo, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã dâng lên Thiên Chúa lời kinh xin ơn hòa bình. Chúng ta kết hợp với tiếng kêu trầm thống của ngài, ngày hôm nay không kém phần thời sự hơn lúc đó, sau khi một cuộc chiến chỉ dừng lại ngay khi những cuộc chiến khác tiếp tục mà không được biết đến:

“Con quỳ gối trước mặt Chúa, lạy Chúa, con, giám mục Rôma, nài xin Chúa giải thoát chúng con khỏi tai họa chiến tranh. Xin cho nước Chúa trị đến, nước của công lý và bình an, của tha thứ và yêu thương. Chúa không muốn bạo lực hay thù hận, Chúa không chấp nhận bất công và ích kỷ. Chúa muốn con người là anh em với nhau, muốn họ thừa nhận Chúa là Cha mình. Ước muốn duy nhất của Chúa là sự bình an. “Xin cho ý Chúa được thể hiện”.


XXV. “VICTOR QUIA VICTIMA – CHIẾN THẮNG VÌ LÀ TẾ VẬT”

Chúng ta sắp suy niệm bài ca thứ tư về người Tôi Trung của Thiên Chúa (Is 52,13-53,12), dưới ánh sáng của bản văn Tin Mừng về cuộc Khổ nạn theo Thánh Gioan. Đoạn văn mở đầu bằng lời tự ngôn của Thiên Chúa; tiếp theo là lời độc thoại của một đám đông, giống như dàn hợp xướng trong một bi kịch Hy Lạp, suy niệm về các sự kiện và đưa ra kết luận riêng của mình; kết thúc bằng cách trở lại với lời Thiên Chúa đưa ra phán quyết cuối cùng.

Biến cố là như vậy đến độ người ta chỉ có thể hiểu rõ về nó nếu bắt đầu từ câu cuối; vì vậy Thiên Chúa cho biết trước kết cục ngay từ đầu trình thuật: “Người Tôi Trung của Ta sẽ thành đạt, sẽ vươn cao, nổi bật, và được suy tôn đến tột cùng.” Người ta đến với một chuyện gì đó mới lạ, với những dân tộc đang sững sờ, với các vua chúa đang câm miệng: chân trời mở rộng đến một sự tuyệt đối và phổ quát mà không có câu chuyện lịch sử nào, ngay cả câu chuyện Phúc âm, có thể tập hợp, vì được xác định trong thời gian và không gian. Chính sức mạnh của lời tiên tri làm cho nó trở nên quý giá và cần thiết đối với chúng ta, ngay cả sau khi chúng ta đã thấy nó được hoàn tất.

***

Đám đông lên tiếng. Trước hết, như để bào chữa cho sự mù quáng của mình, họ giải thích vì sao không thể nhận ra người Tôi Trung. Người “chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong, đáng cho chúng ta ngắm nhìn”. Làm sao chúng ta có thể nhận ra “bàn tay của Thiên Chúa” trong những gì chúng ta thấy? “Người bị đời khinh khi ruồng rẫy, phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật. Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.” (Is 52,3)

Nhưng rồi đây là suy tư, là “mạc khải”, là hành vi tin trong “tình trạng phát sinh” của nó: “Chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng họa, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm, người đã bị sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành.” (Is 52,4-5)

Để hiểu điều gì đã xảy ra cho đám đông vào lúc đó, chúng ta hãy nghĩ lại về những gì đã xảy ra khi lời tiên tri trở thành hiện thực. Trong một thời gian ngắn, sau cái chết của Đức Kitô, điều chắc chắn duy nhất liên quan đến Ngài là Ngài đã chết và chết trên thập giá; là Ngài đã bị “Thiên Chúa nguyền rủa” theo những gì đã được viết trong sách Luật: “Đáng bị Thiên Chúa nguyền rủa người bị treo trên cây gỗ” (Đnl 21,23; Gl 3,13). Tiếp đến là Chúa Thánh Thần, Đấng “cho thế gian thấy về tội lỗi” và rồi đức tin vượt qua của Giáo hội nảy nở: “Đức Kitô đã bị trao nộp vì tội ta” (x. Rm 4,25); “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá.” (1Pr 2,24)

Không ai có thể ở bên cạnh Đức Giêsu; Ngài ở một bên còn bên kia là tất cả những người khác. “Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta.” (Is 53,6)

Nhà tiên tri đặt mình vào trong số “chúng ta”. Chúng ta không thể nghĩ ông nói về mình hay về một nhân vật nào đó trong quá khứ, mà không làm cho cả bài ca trở thành những lời phóng đại đạo đức. Và làm sao tin được rằng người Tôi Trung biểu thị cho một tập thể hoặc tất cả một dân, nếu chính vì tội lỗi của dân “mình” mà Ngài bị đánh phạt tới chết (x. Is 53,8)? Thánh Tông Đồ sẽ quét sạch mọi nghi ngờ về điểm này: “Mọi người, Do Thái cũng như Hy Lạp, đều bị tội lỗi thống trị […] không có khác biệt: mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa.” (Rm 3,9.22-23)

***

Lời Chúa nói tiếp: “Nhờ nỗi thống khổ của minh, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ.” (Is 53,11)

Điều gây ngạc nhiên nhất trong tất cả bài ca không phải là người Tôi Trung ở đó giống như một con chiên hiền lành, đòi Thiên Chúa thực hiện công lý hay trả thù, như Gióp, Giêrêmia và những vịnh gia khác, trong những hoàn cảnh tương tự. Điều mới lạ lớn nhất là Thiên Chúa thậm chí không có ý định trả thù cho người Tôi Trung, cũng không trả lại công lý cho ông. Đúng hơn, công lý Ngài làm cho người Tôi Trung không ở chỗ trừng phạt những kẻ bách hại ông, nhưng là cứu họ, làm cho họ nên công chính!

Đó là những gì tông đồ Phaolô thấy được thực hiện nơi Đức Kitô và ngài tuyên bố cách đắc thắng trong Thư gửi tín hữu Rôma: “Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu: Thiên Chúa đã đặt Người làm hy tế xá tội.” (Rm 3,23-25)

Điều “chưa từng nghe thấy” cho đến nay vừa mới xảy ra. Những đám đông kinh ngạc và hoán cải, những vua chúa vẫn câm miệng (x. Rm 3,19): điều đó đã qua hai mươi thế kỷ, và còn kéo dài trước mắt mọi người. Hàng tỷ người đã nói về Đức Kitô, không chút do dự; và chính tôi nhắc lại ngày hôm nay: “Ngài là sự cứu rỗi của tôi! Nhờ những vết thương của Ngài, tôi đã được chữa lành!”

Đúng là vẫn còn một bóng tối trong hành động của Thiên Chúa đối với người Tôi Trung của mình: “Đức Chúa dã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ.” (Is 53.10) Chúng ta rùng mình sợ hãi khi nghĩ về một Thiên Chúa “muốn” làm cho Con mình phải khổ và, nói chung, bất kỳ sinh vật nào. Nhưng chúng ta có thể tự hỏi liệu Ngài có thực sự “muốn” không và chính xác Ngài “muốn” điều gì? Dĩ nhiên không phải là phương tiện, nhưng là mục đích! Không phải sự đau khổ của người Tôi Trung, nhưng là ơn cứu rỗi của muôn muôn người. Thánh Bênađô giải thích: “Non mors placuit sed voluntas sponte morientis[123]”; không phải cái chết làm hài lòng, nhưng là ý muốn sẵn sàng chết.

Điều thực sự làm hài lòng Thiên Chúa, điều người Tôi Trung đã hoàn tất với niềm vui lớn lao chính là: “Ta sẽ ban cho người muôn người làm gia sản, và cùng với những bậc anh hùng hào kiệt, người sẽ được chia chiến lợi phẩm, bởi vì người đã hiến thân chịu chết, đã bị liệt vào hàng tội nhân, nhưng thật ra, người đã mang lấy tội muôn người và can thiệp cho những kẻ tội lỗi.” (Is 53,12)

***

Cuộc Khổ nạn của Đức Kitô, được Đệ nhị Isaia mô tả trên bình diện tiên tri và được Phúc âm mô tả trên bình diện lịch sử, mang lại một sứ điệp đặc biệt cho thời đại chúng ta đang sống. Sứ điệp này là: nói không với bạo lực. Người Tôi Trung đã không có bất kỳ hành động tàn bạo nào; ngược lại, mọi bạo lực trên thế giới đều đổ dồn vào ông: bị đánh, bị đâm, bị ngược đãi, bị đòn vọt, bị kết án và cuối cùng bị ném vào một ngôi mộ tập thể (“ông bị chôn cất giữa bọn ác ôn”). Trong tất cả những điều đó, ông không mở miệng kêu ca, xử sự như con chiên bị đem đi làm thịt, ông không đe dọa ai, đã hiến thân làm lễ vật đền tội và cầu bầu cho những ai giết mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” (Lc 23.33) (Chính như thế mà chúng ta biết rằng những người đóng đinh Đức Kitô đã được cứu và được ở với Ngài trên Thiên đàng, ít nhất là những người đã thực sự hành động mà không biết, vì rõ ràng là Chúa Cha, Đấng đã luôn lắng nghe Ngài, không thể không đáp lại lời cầu xin cuối cùng của Ngài!) Chính như thế mà Đức Kitô đã chiến thắng bạo lực. Ngài chiến thắng không phải bằng bạo lực lớn hơn, nhưng bằng cách chịu đựng nó, cho thấy thất cả sự bất công và hão huyền của nó. Qua đó Ngài đã khai mào một hình thức chiến thắng mới mà Thánh Augustinô gói gọn trong ba từ: “Victor quia victima – Ngài chiến thắng vì là tế vật[124]”.

Vấn đề bạo lực tấn công chúng ta, gây tai tiếng cho chúng ta, đặc biệt ngày nay khi nó phát minh ra những hình thức tàn ác và ngu ngốc mới mẻ đáng sợ và đã xâm chiếm chính những lãnh vực phải là phương dược chống lại bạo lực: thể thao, nghệ thuật, tình yêu. Người Kitô hữu chúng ta phản ứng kinh hoàng khi nghĩ rằng chúng ta có thể dùng bạo lực và giết chết nhân danh Thiên Chúa. Một số người có thể nêu vấn nạn: không phải chính Kinh thánh chứa đầy những câu chuyện về bạo lực đó sao? Thiên Chúa không được gọi là: “Thiên Chúa các đạo binh” đó sao? Không phải Ngài ra lệnh hủy diệt toàn bộ những thành phố sao? Không phải trong Luật Môsê Ngài luôn quy định nhiều trường hợp án tử hình sao?

Nếu người ta nêu ra vấn nạn tương tự với Đức Giêsu trong cuộc đời của Ngài, chắc chắn Ngài sẽ lặp lại những lời Ngài nói về vấn đề ly dị: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không có thế đâu.” (Mt 19,8) Tương tự như vậy là về vấn đề bạo lực: “thuở ban đầu không có thế đâu.” Chương đầu tiên của sách Sáng thế ký cho ta thấy một thế giới trong đó bạo lực là chuyện không tưởng, cả giữa con người với nhau cũng như giữa con người và thú vật. Ngay cả để báo thù cho cái chết của Abel, cũng không được phép giết người (x. St 4,15).

Tư tưởng của Thiên Chúa ngay từ đầu được thể hiện trong giới răn “Ngươi không được giết người“, hơn là trong những trường hợp ngoại lệ trong Luật, là những trường hợp nhượng bộ cho “sự cứng lòng” và phong tục của con người. Từ đây bạo lực là một phần của cuộc sống và Kinh thánh phản ánh cuộc sống, thông qua pháp chế và án tử hình, ít nhất tìm cách truyền tải và ngăn chặn bạo lực để nó không bị thoái hóa thành sự tùy tiện cá nhân và để nó không xâu xé nhau[125].

Phaolô nói về một thời đặc trưng của sự khoan dung của Thiên Chúa (Rm 3,25). Thiên Chúa khoan dung cho bạo lực cũng như khoan dung cho sự đa thê, ly dị và những thứ khác, nhưng Ngài dạy dỗ dân mình để họ đạt tới ngày trong đó kế hoạch ban đầu của Ngài sẽ được “thâu họp” và được ca ngợi, như cho một sáng tạo mới. Thời gian này đến khi Đức Giêsu công bố trên núi: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Con Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu ai bị vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa […] Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghé kẻ thù. Con Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5,38-39.43-44)

Nói “không” với bạo lực như Đức Kitô tuyên bố có tính chất chung cuộc, dứt khoát. Ngài không chỉ đối lập nó với bất bạo động, mà hơn thế nữa, còn với sự tha thứ, hiền lành và dịu dàng: “Hãy học với Tôi vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29) Bài giảng thật sự trên núi không phải là bài Ngài tuyên bố trên một ngọn đồi ở Galilê; đó là bài mà giờ đây Ngài tuyên bố trên Núi Calvê, trong yên lặng, qua những sự kiện.

Nếu bạo lực vẫn còn, nó sẽ không bao giờ có thể, ngay cả từ xa, viện dẫn Thiên Chúa hoặc yêu sách dựa vào uy thế của mình. Làm như vậy có nghĩa là làm cho ý tưởng của Thiên Chúa thoái lui về một giai đoạn nguyên thủy và thô thiển, bởi lương tâm tôn giáo và dân sự của nhân loại. Bạo lực cũng sẽ không thể còn được biện minh nhân danh tiến bộ. Có người nói: “Bạo lực là bà đỡ của lịch sử” (Marx và Engels). Điều này đúng một phần. Đúng là các mệnh lệnh xã hội mới chính đáng nhất đôi khi phát sinh sau các cuộc cách mạng và chiến tranh, giống như điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng: những bất công và tai họa tồi tệ là kết quả của cách mạng và chiến tranh.

Nhưng điều này cho thấy chính xác tình trạng rối loạn mà thế giới đang đổ dồn vào đó: sự kiện phải sử dụng bạo lực để diệt trừ cái ác, và người ta chỉ có thể có được điều thiện bằng cách làm điều ác. Ngay cả những người một thời gian vẫn tin rằng bạo lực là bà đỡ của lịch sử thì đã thay đổi ý kiến và nay đang diễu hành biểu dương hòa bình.

Suy gẫm về các biến cố năm 1989 đã làm sụp đổ những chế độ toàn trị ở Trung Âu mà không đổ máu, Đức Gioan Phaolô II, trong Thông điệp Centesimus annus, đã thấy trong đó kết quả hành động của những con người nam nữ đã biết làm chứng cho chân lý mà không dùng đến bạo lực. Ngài kết luận bằng cách mong muốn rằng, mười lăm năm sau, lời sau đây vang lên cấp bách hơn bao giờ hết: “Ước mong con người có thể học cách đấu tranh cho một công lý không có bạo lực[126].” Giờ đây chúng ta muốn bày tỏ mong ước này bằng một lời cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu Kitô, chúng con không xin Chúa tiêu diệt những kẻ bạo động và những kẻ tìm cách gieo rắc khủng bố, nhưng xin thay đổi trái tim của họ và hoán cải lòng họ. Xin giúp chúng con cùng với Chúa thưa lên: “Lạy Chúa, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.” Xin phá vỡ sự điên cuồng chết chóc này, cũng như chuỗi bạo lực và trả thù khiến cả thế giới hồi hộp. Chúa đã tạo dựng trái đất trong hài hòa và bình an; xin cho nó không còn là nơi chúng con lấn quyền khiến chúng con trở nên tàn bạo[127].”

Trên thế giới có vô số người, giống như Chúa trong cuộc Khổ nạn, “chẳng còn dáng vẻ chẳng còn oai phong, ai thấy cũng che mặt không nhìn, bị đời khinh khi ruồng rẫy.” (x. Is 53,3) Xin dạy chúng con không che mặt khi thấy họ, không chạy trốn họ, nhưng mang trên chúng con nỗi đau buồn và cô đơn của họ.

Lạy Mẹ Maria, “khi cùng đau khổ với Con mình trên thập giá, Mẹ đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Đấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt[128]”: xin gợi hứng cho những con người nam nữ của thời đại chúng con những suy nghĩ về bình an, dịu hiền và tha thứ. Amen.


XXVI. “KÍNH LẠY THÂN XÁC THẬT SINH BỞI ĐỨC TRINH NỮ MARIA”

Thứ Sáu tuần Thánh năm 2005, Năm Thánh Thể! Ánh sáng thật lạ lùng chiếu trên hai mầu nhiệm này khi đưa hai mầu nhiệm lại gần nhau! Nhưng nếu Thánh Thể đúng là “tưởng niệm cuộc Khổ nạn,” tại sao Giáo hội không cử hành Thánh Thể vào chính ngày Thứ Sáu tuần Thánh? (Như chúng ta biết, giờ đây chúng ta tham dự không phải một Thánh lễ, nhưng là một cử hành phụng vụ tưởng niệm cuộc Khổ nạn, trong đó chúng ta chỉ rước Mình Chúa Kitô được truyền phép hôm qua).

Chúng ta thấy ở đây một lý do thần học sâu xa. Đấng hiện diện trên bàn thờ trong tất cả mọi Thánh Thể là Đức Kitô sống lại và hằng sống, không phải một người chết. Như vậy Giáo hội không cử hành Thánh Thể trong hai ngày theo đó chúng ta tưởng niệm Đức Giêsu nằm chết trong mồ và linh hồn Ngài lìa khỏi xác (cho dù không phải là trường hợp thần tính của Ngài).

Sự kiện chúng ta không cử hành Thánh Thể hôm nay, không làm suy giảm nhưng, ngược lại, tăng cường mối dây ràng buộc giữa thứ Sáu tuần Thánh và Thánh Thể. So với sự chết của Đức Kitô, Thánh Thể giống như âm thanh và tiếng nói so với lời nói, khi chúng vang trong không gian thấu đến tai.

Có một thánh thi Latinh, cũng rất quen thuộc với việc sùng kính Thánh Thể của các người công giáo như bài Adoro te devote, làm sáng tỏ dây liên hệ giữa Thánh Thể và thập giá, đó là bài Ave verum. Được sáng tác ở thế kỷ 13 để đi kèm theo việc nâng cao Mình Thánh trong Thánh lễ, bài hát rất hợp với việc kính lậy Đức Kitô khi nâng cao thánh giá. Bài này dài không quá 5 câu, tuy vậy chứa đầy ý nghĩa:

“Kính lậy Mình Thánh thật, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria.

Ngài đã thực sự chịu khổ và chịu sát tế trên thập giá vì loài người.

Cạnh sườn bị đâm thâu của Ngài làm nước và máu chảy ra.

Xin cho chúng con được nếm thử trước sự dịu ngọt của Ngài trong giờ lâm tử.

Ôi Chúa Giêsu dịu thay! Ôi Chúa Giêsu nhân thay! Ôi Chúa Giêsu, Con của Đức Maria![129]

Câu thứ nhất là chìa khóa giúp hiểu tất cả phần còn lại. Bérenger thành Tours chối bỏ sự hiện diện của Đức Kitô dưới dấu chỉ bánh là thật, coi đó chỉ là một sự hiện diện tượng trưng. Để ngăn chặn mọi hành vi ngả về lạc giáo này, người ta bắt đầu quả quyết Đức Giêsu trong Thánh Thể và Đức Giêsu trong lịch sử hoàn toàn đồng nhất với nhau; quả quyết thân xác Đức Kitô hiện diện trên bàn thờ là thân xác “thật” (verum corpus), phân biệt với thân xác thuần túy “tượng trưng” của Ngài, cũng như với thân thể “mầu nhiệm” là Giáo hội.

Tất cả những kiểu nói tiếp theo qui chiếu về Đức Giêsu ở trần gian: sinh bởi Đức Maria, chịu Khổ nạn, chịu chết, bị đâm nơi cạnh sườn. Tác giả ngừng lại ở điểm này: ông không nhắc tới sự sống lại, vì điều này một lần nữa có thể khiến người ta nghĩ đến một thân xác vinh hiển, thiêng liêng, không đủ “thật”.

Ngày nay thần học đã trở lại với một nhãn quan quân bình hơn về sự đồng nhất giữa thân xác lịch sử và thân xác Thánh Thể của Đức Kitô, nhấn mạnh tính chất bí tích, chứ không phải chất thể (cho dù thật sự và bản thể) của sự hiện diện của Đức Kitô nơi bí tích bàn thờ.

Ngoài việc nhấn mạnh khác nhau này, chân lý cơ bản được quả quyết trong thánh thi vẫn nguyên vẹn. Đức Giêsu sinh bởi Đức Maria ở Belem chính là Đấng “đi tới đâu là thi ân giáng phúc tới đó” (Cv 10,38), Đấng đã chết trên thập giá và đã sống lại ngày thứ ba, cũng là Đấng thật sự hiện diện trong thế giới hôm nay, không phải một sự hiện diện thiêng liêng mơ hồ, hoặc, như có người nói, trong “sự nghiệp” của Ngài. Thánh thể là điều Đức Giêsu đã phát minh ra để mãi mãi là Immanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.

Sự hiện diện này là một bảo đảm và bảo vệ không những cho Giáo hội, mà còn cho cả thế giới. “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Câu này làm chúng ta sợ hãi, hầu như không dám nói ra. Đôi khi người ta gán cho nó một nghĩa độc chiếm: Thiên Chúa ở “cùng chúng ta”, theo nghĩa Ngài không ở với những người khác, thậm chí còn “chống lại” những người khác, chống lại kẻ thù của chúng ta. Nhưng từ khi Chúa Kitô đến, tất cả đều trở nên phổ quát. “Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người. Người không còn chấp tội nhân loại nữa” (2Cr 5,19). Thế giới, chứ không chỉ một phần thế giới, thuộc về Ngài; mọi người, chứ không chỉ một dân tộc.

Thiên Chúa ở cùng chúng ta,” nghĩa là ở về phía con người, bạn hữu và đồng minh của Ngài, chống lại các quyền lực sự dữ. Chỉ một mình Chúa nhân cách hóa tất cả và chỉ mặt trận sự lành chống lại mặt trận sự dữ. Một điều đã cho phép Dietrich Bonhoeffer đang bị cầm tù, bị xử tử do “quyền lực sự dữ” của Hitler, quả quyết chiến thắng của quyền lực sự lành: “Biết mình được quyền lực sự lành bảo vệ cách lạ lùng, chúng ta tin tưởng nhìn tới tương lai, dù nó có thế nào đi nữa. Thiên Chúa ở với chúng ta cả ban chiều lẫn ban sáng, và chắc chắn mỗi ngày mới[130].”

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô viết trong Novo Millennio Ineunte” (Ngàn năm thư ba đang đến): “Chúng ta không biết những biến cố nào ngàn năm mới sẽ dành cho chúng ta, nhưng chúng ta chắc chắn rằng ngàn năm này sẽ được vững chắc trong tay Đức Kitô, “Vua các Vua và Chúa các Chúa” (Kh 19,16)[131].”

***

Trong thánh thi này, sau lời kính lậy là lời khẩn cầu: “Esto nobis praegustatum mortis in examine – Xin cho chúng con được nếm thử trước sự dịu ngọt của Ngài trong giờ lâm tử”. Thánh tử đạo Ignatiô Antiôkia đã từng gọi Thánh Thể là “thuốc trường sinh[132]” nghĩa là thuốc chữa bệnh tử vong của chúng ta. Trong Thánh Thể chúng ta có “bảo chứng của vinh quang mai hậu”: “futurae gloriae nobis pignus datur.”

Một số thăm dò dư luận tôn giáo đã cho thấy một sự kiện lạ lùng: Ngay cả trong các tín hữu, một số người tin có Thiên Chúa, nhưng không tin con người có sự sống sau khi chết. Nhưng làm sao có thể như thế được? Thư Do Thái nói Đức Kitô đã chết để lãnh được “ơn cứu chuộc vĩnh viễn” cho chúng ta (Dt 9,12). Không phải tạm thời, nhưng vĩnh viễn!

Người ta có thể thắc mắc: xưa nay không một ai đã trở về từ thế giới bên kia để bảo đảm với chúng ta tất cả đều là thật chứ không chỉ là ảo tưởng đạo đức. Điều ấy không đúng. Có một người hàng ngày trở về từ thế giới bên kia để bảo đảm điều ấy cho chúng ta và lặp lại những lời hứa của Ngài, nếu chúng ta chỉ biết nghe Ngài. Đấng chúng ta đang trên đường tìm kiếm đến gặp chúng ta trong Thánh Thể để cho chúng ta nếm thử trước (“praegustatum!“) bữa tiệc cuối cùng của vương quốc.

Chúng ta cần phải gióng lên niềm hy vọng này cho thế giới; điều này giúp chính chúng ta, cũng như những con người là anh em chúng ta, khắc phục nỗi ghê sợ sự chết mà ai nấy đều cảm thấy, và chống lại tâm trạng bi quan đen tối đang bao trùm lên xã hội chúng ta. Những chẩn đoán tuyệt vọng nhất về tình trạng trái đất gia tăng: “một tổ kiến đang tan vỡ,” “một hành tinh đang hấp hối”… Khoa học vạch ra với nhiều chi tiết kịch bản khả thi về sự tan vỡ cuối cùng của vũ trụ. Trái đất và những hành tinh khác sắp nguội đi, mặt trời và các ngôi sao tất cả sẽ nguội đi. Ánh sáng sẽ giảm, những hố đen sắp gia tăng trong vũ trụ… Một ngày kia sự giãn nở giảm dần và sự co rút bắt đầu; cuối cùng người ta sẽ chứng kiến tất cả mọi vật chất và năng lượng hiện có sụp đổ thành một khối dày đặc vô tận. Khi ấy sẽ là Big Crunch – hoặc khối thu vào – và tất cả sẽ trở lại trống rỗng, thinh lặng, là những gì đã xảy ra trước vụ nổ lớn hay Big Bang cách đây 15 tỉ năm…

Không ai biết những sự việc sẽ xảy ra như thế hay theo cách khác. Tuy nhiên đức tin bảo đảm với chúng ta rằng, ngay cả điều đó xảy ra như vậy, vẫn chưa phải là tận thế. Thiên Chúa đã không hoà giải thế giới với chính mình rồi để nó đi vào cõi hư vô; Ngài đã không hứa ở lại với chúng ta cho tới tận thế rồi rút lui, một mình về trời khi tận thế đến. Thiên Chúa đã nói với con người trong Kinh thánh: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở” (Gr 31,3), và những lời hứa tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa không phải như những lời hứa của con người.

Khi suy niệm về bài Ave verum, tác giả kinh Dies irae dâng lên Đức Kitô lời cầu khẩn thống thiết này mà, hơn bao giờ hết trong ngày hôm nay, chúng ta có thể coi như của chúng ta: “Recordare, Iesu pie, quod sum causa tuae viae: ne me perdas illa die – Lạy Đức Giêsu nhân từ, xin nhớ lại Chúa đã chết trên thập giá vì con, xin đừng để con mất đi trong ngày ấy.” “Quaerens me sedisti lassus, redemisti crucem passus: tantus labor non sit cassus – Chúa mỏi mệt bởi đi tìm con, Chúa chết trên thập giá vì cứu chuộc con, chớ gì đau khổ này không bị lãng phí.”

Kinh Ave Verum kết thúc bằng một tiếng kêu trực tiếp lên Đức Kitô: “O Iesu dulcis, o Iesu pie”. Những lời này cho chúng ta thấy một hình ảnh mang tính chất tin mừng điển hình của Đức Kitô: Đức Giêsu “dịu dàng và nhân từ,” tức là hiền lành, đầy lòng trắc ẩn, không bẻ gẫy cây sậy đã dập, không dập tắt tim đèn còn khói (x. Mt 12,50). Cũng Đức Giêsu có hôm đã nói: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.” (Mt 11,29) Thánh Thể nối dài trong lịch sử sự hiện diện của Đức Giêsu này. Thánh Thể thật là bí tích của bất bạo động!

Tuy nhiên, sự hiền hậu của Đức Kitô không biện minh cho bạo lực – ngược lại còn làm cho nó trở nên lạ lẫm và đáng ghét hơn – một sự bạo động mà ngày nay người ta nhận thấy xung quanh bản thân Ngài. Đức Kitô đã chấm dứt cơ chế tai ác của kẻ bung xung, bằng cách gánh lấy những hậu quả của nó[133]. Phải lấy làm buồn mà thừa nhận rằng cơ chế tai ác này đang hoạt động theo một cách thức mới mẻ nơi những người thân cận của Đức Kitô, dưới một hình thức chưa từng được biết đến. Mọi sự oán hận của một số tư tưởng thế tục đối với những cuộc biểu tình mới đây liên kết giữa bạo động và sự thiêng thánh, tập trung chống lại Ngài. Như quy luật trong cơ chế của kẻ bung xung, người ta chọn yếu tố yếu kém nhất để ra sức làm khổ Ngài. “Yếu kém” ở đây theo nghĩa người ta có thể chế giễu mà không bị trừng phạt – không có nguy cơ bị trả đũa – khi mà đã từ lâu người Kitô hữu không còn dùng sức mạnh bảo vệ đức tin của họ nữa.

Đây không chỉ là những sức ép ngày hôm nay buộc người ta phải hủy bỏ thập giá tại các nơi công cộng và hang đá trong truyền thống dân gian về Noel. Những tiểu thuyết, phim ảnh, kịch nghệ không ngừng nối tiếp nhau trong đó ai nấy mặc sức thao túng hình tượng Đức Kitô, dựa trên cơ sở của cái gọi là những tài liệu mới và những khám phá không có thật. Điều đó trở thành “mốt”, một loại văn thể mới.

Luôn có khuynh hướng mặc cho Đức Kitô những trang phục của thời đại mình hay ý thức hệ của mình. Trong quá khứ, ít ra đó là vì những lý do nghiêm túc và có quy mô lớn: Đức Kitô con người lý tưởng, nhà xã hội, nhà cách mạng… Thời đại chúng ta, bị tình dục ám ảnh, đi tới chỗ trình bày Đức Giêsu như một “gay” ante litteram (đồng tính trước khi có từ này) hoặc một người rao giảng rằng ơn cứu độ đến từ sự kết hợp với yếu tố nữ, khi chính mình đã làm gương bằng cách cưới Maria Mađalêna.

Một số người coi mình như những người bảo vệ khoa học chống lại tôn giáo: một yêu sách gây kinh ngạc khi người ta thấy khoa học lịch sử được bàn luận như thế nào trong những trường hợp đó. Người ta kể những câu chuyện giả mạo và phi lý nhất, và nhiều người say sưa với những câu chuyện này như thể chúng là những câu chuyện có thật, như câu chuyện duy nhất cuối cùng thoát khỏi sự kiểm duyệt và cấm kỵ của Giáo hội. Có người nói: “Người nào không còn tin vào Thiên Chúa nữa thì sẵn sàng tin bất cứ điều gì”. Những sự kiện ngày hôm nay cho thấy người ấy có lý.

Người ta lợi dụng sự lưu ý khác thường của quần chúng về tên Đức Giêsu, và tên đó có ý nghĩa gì đối với một phần rất lớn nhân loại, để tin chắc có được sự phổ biến rẻ tiền hoặc gây ấn tượng giật gân bằng các thông điệp mang tính quảng cáo lạm dụng những biểu tượng và hình ảnh của Phúc âm (như chúng ta đã thấy gần đây đối với hình ảnh của bữa tối cuối cùng). Nhưng tất cả điều này chỉ là “chủ nghĩa ký sinh” văn chương!

Người ta lại bán Đức Giêsu với giá ba mươi đồng bạc, chế nhạo Ngài và mặc cho Ngài một bộ phục nực cười như ở dinh tổng trấn. (Trong một buổi phát sóng mới đây của đài truyền hình ở một quốc gia châu Âu, người ta thấy Đức Giêsu trên thập giá mang một cái tã của em bé!) Sau đó, khi các tín hữu phản ứng gọi điện thoại hay gửi thư phản đối cho những người có trách nhiệm, thì người ta tỏ ra công phẫn, lớn tiếng cho là bất khoan dung. Đã từ lâu, sự bất khoan dung đã đổi hướng ở Tây phương: từ một sự bất khoan dung mang tính tôn giáo chuyển sang một sự bất khoan dung về tôn giáo.

Người ta đặt vấn nạn với chúng ta: “Không ai được độc quyền về biểu tượng và hình ảnh của một tôn giáo.” Nhưng người ta cũng nói như vậy về những biểu tượng của một quốc gia – quốc ca, quốc kỳ – là thuộc mọi người và từng người. Có phải ngẫu nhiên vì thế mà được phép nhạo báng và đưa ra làm trò cười cho chúng ta khoái chí?

Mầu nhiệm chúng ta cử hành hôm nay không cho phép chúng ta sống với một mặc cảm bị bách hại và dựng lên những bức tường hay pháo đài mới giữa chúng ta và văn hóa (hoặc phản văn hóa) hiện đại. Có lẽ chúng ta phải bắt chước Thầy chúng ta mà nói đơn sơ: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ đang làm.” Xin tha cho họ và cho cả chúng ta nữa, bởi chắc chắn vì tội lỗi chúng ta, hiện tại cũng như quá khứ, mà điều đó xảy ra. Chúng ta biết rõ là nếu người ta tấn công Đức Kitô, thì chính là để đánh phá các Kitô hữu và Giáo hội.

Chúng ta mạo muội gửi tới những người đương thời, vì lợi ích của họ cũng như của chúng ta, lời mời gọi mà Tertullianô đã gửi cho những người ngộ đạo thời ông, chống lại nhân tính của Đức Kitô: “Parce unicae spei totius orbis – Đừng phá hủy niềm hy vọng độc nhất của toàn thế giới[134].”

***

Lời kêu cầu cuối cùng của kinh Ave verum gợi nhắc cho chúng ta con người của mẹ Ngài: “Ôi Chúa Giêsu, con Đức Maria[135].” Đức Trinh Nữ được nhắc tới hai lần trong thánh thi khá vắn này: lúc đầu và lúc cuối. Tất cả những tiếng than cuối của thánh thi là một lời nhắc nhớ những lời cuối cùng của kinh Salve Regina: “O clemens, o pia, o dulcis virgo Maria – Ôi khoan thay, ôi nhân thay, ôi dịu thay trinh nữ Maria”.

Việc nhấn mạnh dây liên kết giữa Đức Maria và Thánh Thể không chỉ đáp ứng với một nhu cầu đạo đức, nhưng cũng với một nhu cầu thần học. Sự sinh ra từ Đức Maria, từ thời các Giáo Phụ, đã luôn được dùng làm bằng chứng chính yếu chống lại những người phái Ảo thân chối bỏ thực tại của thân xác Đức Kitô. Một điều cũng hoàn toàn mạch lạc là chính sự sinh ra này ngày nay minh chứng cho chân lý về thực tại thân xác Đức Kitô hiện diện trong Thánh Thể.

Đức Gioan Phaolô II kết thúc Tông thư “Mane nobiscum Domine” bằng cách qui chiếu tới những lời của thánh thi. Ngài viết: “Bánh Thánh Thể chúng ta nhận lãnh là thịt vô tì tích của Con: “Ave verum Corpus natum de Maria Virgine”. Trong năm ân sủng này, Giáo hội được Đức Maria nâng đỡ, tìm thấy một đà tiến mới cho sứ vụ của mình và ngày càng nhận biết nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả sự sống của mình nơi Thánh Thể[135].”

Chúng ta lợi dụng dịp nhắc tới những lời của ngài để đạo đạt lên Đức Thánh Cha lòng biết ơn của chúng ta vì hồng ân Năm Thánh Thể, với ước nguyện được thấy ngài mau bình phục. Thưa Đức Thánh Cha, xin Ngài mau trở lại như trước, vì lễ Vượt Qua sẽ rất ít “Vượt qua” nếu không có ngài[136].

Để kết thúc, chúng ta hãy trở lại với bài thánh thi. Dấu chỉ hiển nhiên nhất nói lên sự hiệp nhất giữa Thánh Thể và mầu nhiệm thập giá, giữa Năm Thánh Thể và Thứ Sáu tuần Thánh, là hôm nay chúng ta có thể xướng lên những lời của kinh Ave verum, mà không thay đổi một vần nào, để tán dương Đức Kitô, Đấng mà lát nữa đây sẽ được nâng cao trên thập giá trước mặt chúng ta. Chính như vậy mà tôi khiêm tốn kêu mời tất cả anh chị em hợp ý với tôi lớn tiếng công bố, với lòng biết ơn xúc động, nhân danh tất cả mọi người được Đức Kitô cứu chuộc:

“Ave verum Corpus natum de Maria Virgine

Vere passum, immolatum in Cruce pro homine

Cuius latus perforatum fluxit aqua et sanguine

Esto nobis praegustatum mortis in examine

O Iesu dulcis! O Iesu pie! O Iesu Fili Mariae.”


XXVII. “THIÊN CHÚA BÀY TỎ TÌNH YÊU CỦA NGÀI CHO CHÚNG TA”

Sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm hết thầy này đến thầy nọ, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường.” (2Tm 4,3-4)

Lời Kinh thánh này – đặc biệt ám chỉ đến chuyện ngứa tai muốn nghe những điều mới lạ – đang được thực hiện theo một cách thức mới mẻ và gây ấn tượng trong thời đại chúng ta. Trong khi chúng ta cử hành nơi đây việc tưởng niệm cuộc Khổ nạn và cái chết của Chúa Cứu Thế, thì hàng triệu người, bị lôi cuốn bởi những người chuyên môn khéo viết lại những truyền thuyết cũ, tin rằng Đức Giêsu Nadarét thực ra chưa bao giờ bị đóng đinh. Tại Hoa Kỳ, một trong những cuốn sách bán chạy nhất hiện nay là cuốn Phúc âm của Tôma, được giới thiệu như một cuốn Phúc âm “tránh cho chúng ta khỏi tin vào chuyện đóng đinh, không nói đến chuyện phục sinh, và không buộc chúng ta tin vào một Thiên Chúa có tên là Giêsu[137].”

Mấy năm trước đây, cha Raymond Brown, một học giả Kinh thánh xuất chúng chuyên về lịch sử cuộc Khổ nạn, đã viết như sau: “Một điều người ta nhận thấy làm cho bản tính con người không mấy dễ chịu: việc gì càng không thật, quảng cáo về nó càng giật gân và sự hứng thú nó gợi ra càng mãnh liệt. Có những người thậm chí không thèm đọc một phân tích nghiêm túc các truyền thống lịch sử giải thích về việc Đức Giêsu bị đóng đinh thập giá, việc Ngài chết, được an táng và sống lại từ trong kẻ chết, những người đó bị mê hoặc bởi bất kỳ lý thuyết mới mẻ nào, theo đó Ngài hẳn đã không bị đóng đinh thập giá và đã không chết, đặc biệt nếu phần còn lại của câu chuyện bao gồm việc Ngài cùng với Maria Mađalêna trốn sang Ấn Độ (hoặc Pháp, theo một phiên bản gần đây hơn)… Những lý thuyết này chứng minh rằng liên quan đến cuộc Khổ nạn của Đức Giêsu, trái với ngạn ngữ dân gian, hư cấu vượt xa so với thực tại, và thường mang lại lợi lộc hơn, dù cố ý hay vô tình[138].”

Người ta nói nhiều về sự phản bội của Giuđa mà không biết rằng họ đang lặp lại chuyện ấy. Đức Kitô lại bị bán lần nữa, không phải cho các thủ lĩnh Hội đồng Do Thái để lấy ba mươi đồng bạc, nhưng cho các nhà xuất bản và nhà sách để lấy hàng tỉ bạc…

Không ai sẽ có thể ngăn chặn làn sóng đầu cơ buôn bán này, một làn sóng thậm chí được đẩy mạnh lên với việc phát hành ngay một cuốn phim; nhưng vì sau nhiều năm nghiên cứu lịch sử các nguồn gốc Kitô giáo, tôi cảm thấy có nghĩa vụ kêu gọi mọi người chú ý đến một sự hiểu lầm to lớn nằm dưới lớp vỏ của tất cả thứ văn chương phi lịch sử này.

Những Phúc âm ngoại thư của Tôma, Philipphê và Giuđa mà thứ văn chương kia dựa vào và được giới thiệu, là những văn bản được biết đến từ lâu, toàn bộ hay từng phần, Đó là những văn phẩm của những thế kỷ II và III, nhưng ngay cả các sử gia chuyên phê phán hay thù nghịch với Kitô giáo nhất cho tới nay cũng không bao giờ nghĩ quy chiếu tới chúng, để làm cho lịch sử tiến triển. Thật giống như trong vài thế kỷ tới đây người ta có tham vọng viết lại lịch sử của ngày hôm nay dựa trên những tiểu thuyết viết vào thời chúng ta.

Sai lầm to lớn ở chỗ người ta đang dùng những văn phẩm này để buộc chúng phải nói ngược lại với những gì chúng muốn nói. Chúng là một phần của văn chương ngộ đạo. Phái ngộ đạo lạc giáo – một sự pha trộn chủ thuyết nhị nguyên Plato với những học thuyết Đông phương, mặc thêm lớp áo tư tưởng Kinh thánh – chủ trương rằng thế giới vật chất là một ảo ảnh, công trình của Thiên Chúa thời Cựu Ước là một Ác Thần hoặc ít ra là thần cấp dưới; Đức Kitô đã không chết trên thập giá, vì ngài đã không hề mặc lấy thân xác con người, trừ ra vẻ bên ngoài, vì thân xác con người không xứng với Thiên Chúa (thuyết Ảo thân)[139].

Theo Phúc âm của Giuđa, được nói đến nhiều trong thời gian vừa qua, chính Đức Giêsu truyền cho tông đồ này phản bội Ngài, để khi Ngài chết, thần khí bên trong của Ngài cuối cùng có thể được giải thoát khỏi vỏ bọc thân xác và về lại trên trời – chủ đề ngộ đạo điển hình. Phải tránh hôn nhân hướng đến sinh sản (encratisme, khổ chế luân lý)[140]. Phụ nữ chỉ có thể được cứu nếu “nguyên lý nữ (thelus)” hiện thân nơi bà biến thành nguyên lý nam, nghĩa là, nếu bà không còn là phụ nữ nữa[141].

Điều lạ lùng nhất là nhiều người ngày nay tin rằng họ thấy trong những văn phẩm này sự tôn dương nguyên lý nữ, tính dục, sự hưởng thụ trọn vẹn và phóng túng thế giới vật chất này, trái với Giáo hội chính thức, do chủ trương Manikê của mình, thường xuyên chà đạp tất cả những điều đó! Người ta cũng thấy một sai lầm tương tự trong học thuyết về tái đầu thai. Thuyết này được các tôn giáo Đông phương trình bày như một thứ hình phạt vì những tội lỗi trước đây đã phạm và như một việc phải cố gắng hết sức để chấm dứt. Thuyết này lại được đón nhận tại Tây phương như một điều tuyệt vời giúp cho người ta có thể sống và hưởng thụ thế giới này mãi mãi.

Trên đây là những vấn nạn lẽ ra không nên đề cập nơi đây và trong ngày này, nhưng chúng ta không thể cho phép thái độ im lặng của các tín hữu được giải thích như một sự xấu hổ, không thể cho phép niềm tin chân chính (hay sự ngây ngô?) của hàng triệu con người bị các phương tiện truyền thông thả cửa bóp méo, mà không biết lên tiếng phản đối, không chỉ nhân danh đức tin nhưng còn vì lương tri và lý trí lành mạnh. Tôi nghĩ đã đến lúc nghe lại lời cảnh báo của Dante Alighieri:

Anh chị em Kitô hữu, xin cẩn trọng trong hành động:

Đừng như một cọng lông chim trước gió,

Cũng đừng nghĩ rằng nước nào cũng rửa sạch được mình.

Anh chị em có Tân và Cựu Ước

Và các Mục Tử của Hội Thánh hướng dẫn;

Hãy coi đó là tất cả điều cần cho ơn cứu độ của anh chị em

Hãy là những con người, chứ đừng là cừu non khờ khạo[142].

***

Nhưng chúng ta hãy bỏ qua một bên những lý thuyết giả mạo đó. Chúng có cùng một lời giải thích chung: chúng ta đang sống trong thời đại truyền thông và các phương tiện truyền thông thích chuyện mới lạ hơn là sự thật. Chúng ta hãy chú tâm vào mầu nhiệm đang cử hành. Cách tốt nhất để suy niệm trong năm nay về mầu nhiệm ngày thứ Sáu tuần Thánh là đọc lại toàn bộ phần đầu Thông điệp của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI “Deus Caritas est” (Thiên Chúa là Tình Yêu). Vì không thể thực hiện điều đó nơi đây, tôi muốn ít nhất được bình giải một vài đoạn có liên quan trực tiếp hơn với mầu nhiệm ngày hôm nay. Chúng ta đọc thấy trong thông điệp:

“Khi nhìn tới cạnh sườn của Đức Kitô bị lưỡi đòng đâm thâu được Gioan nói đến (x. Ga 19,37), chúng ta có thể hiểu được khởi điểm của Thông điệp ‘Thiên Chúa là tình yêu’ (1Ga 4,8). Chính đó là điểm để chiêm niệm chân lý này. Và khởi đi từ đó, giờ đây chúng ta phải định nghĩa tình yêu là gì. Bắt đầu từ cái nhìn này, người Kitô hữu tìm ra con đường để sống và để yêu[143].”

Phải, Thiên Chúa là tình yêu! Có người quả quyết rằng nếu tất cả Thánh kinh trên trái đất này bị hủy hoại bởi một tai họa nào đó hay bởi một cơn thịnh nộ phá hủy các hình tượng tôn giáo và chỉ còn lại một bản; và bản còn lại đó cũng bị hư hại đến mức chỉ còn lại một trang, và nếu trang đó nhăn nheo đến độ chỉ còn một dòng có thể đọc được: nếu dòng đó là dòng của Thư thứ nhất thánh Gioan viết rằng “Thiên Chúa là tình yêu!“, thì coi như toàn bộ Kinh thánh được cứu vãn, vì tất cả nội dung là ở câu này.

Thời niên thiếu, tôi đã sống trong một căn nhà tranh ở miền quê chỉ cách đường dây điện cao thế có vài mét, nhưng chúng tôi sống trong bóng đêm, hay dưới ánh sáng của ngọn đèn cầy. Giữa chúng tôi và đường dây điện là một đường ray xe lửa. Đang trong chiến tranh, không ai buồn nghĩ đến chuyện khắc phục trở ngại này. Điều này cũng giống như tình yêu của Thiên Chúa: tình yêu của Ngài ở đó, trong tầm tay chúng ta, có thể chiếu sáng và sưởi ấm mọi thứ trong đời ta, nhưng chúng ta cứ sống trong bóng đêm và lạnh lẽo. Đó là lý do chân thật duy nhất làm cho cuộc đời chúng ta phải đau buồn.

Thiên Chúa là tình yêu, và thập giá của Đức Kitô là chứng cớ tối thượng, là minh chứng lịch sử. Nicolas Cabasilas, một tác giả Đông phương byzantin, cho rằng có hai cách chứng tỏ tình yêu của mình đối với người khác. Cách thứ nhất ở chỗ làm điều tốt cho người mình yêu, tặng quà cho họ; cách thứ hai đòi hỏi hơn nhiều, ở chỗ đau khổ vì người mình yêu. Thiên Chúa đã yêu chúng ta bằng cách thứ nhất, tức là với một tình yêu đại lượng lúc sáng tạo, khi Ngài tuôn đổ trên ta những hồng ân bên trong và bên ngoài chúng ta; Ngài cũng đã yêu chúng ta bằng một tình yêu đau khổ trong việc cứu chuộc, qua cách tự hủy của Ngài, chịu những đau khổ kinh khủng nhất vì ta, để cho ta thấy tình yêu của Ngài[144]. Do đó, chính trên thập giá mà chúng ta phải chiêm ngắm sự thật này: “Thiên Chúa là tình yêu“.

Thuật ngữ “Khổ nạn” có hai nghĩa: Nó có thể chỉ định một tình yêu mãnh liệt, “mang tính đam mê”, hoặc một đau khổ chết người. Có sự tiếp nối giữa hai hình thức trên và kinh nghiệm hàng ngày cho thấy chuyển từ hình thức này sang hình thức kia dễ như thế nào. Tương tự như vậy và trên hết là ở nơi Thiên Chúa. Theo Origen, có một tình yêu đam mê đi trước việc nhập thể. Chính tình yêu đam mê này đã được Thiên Chúa hằng nuôi dưỡng cho nhân loại và khi thời gian viên mãn, đã đưa Ngài xuống thế và chịu đau khổ cho chúng ta[145].

***

Thông điệp “Deus caritas est” chỉ ra một cách thức mới trong việc bảo vệ đức tin Kitô giáo, có lẽ là cách thức khả thi duy nhất ngày nay và chắc chắn là hữu hiệu nhất. Nó không đối chọi những giá trị siêu nhiên với những giá trị tự nhiên, tình yêu của Thiên Chúa với tình yêu của con người, eros với agapé, nhưng chỉ ra sự hài hòa nguyên thủy của nó, cần phải tái khám phá và hàn gắn không ngừng vì tội lỗi và sự yếu đuối của con người.

Éros muốn đưa chúng ta lên chỗ “xuất thần” hướng tới Thiên Chúa, dẫn chúng ta vượt lên trên chúng ta, nhưng chính vì thế mà đòi hỏi con đường đi lên, từ bỏ, thanh tẩy và chữa lành[146].”

Đúng là Phúc âm cạnh tranh với những lý tưởng nhân loại, nhưng theo nghĩa đen nó giúp thực hiện những lý tưởng ấy: chữa lành, nâng cao và bảo vệ chúng. Phúc âm không loại trừ eros khỏi cuộc sống, nhưng loại trừ nọc độc vị kỷ của eros.

Trong một tư tưởng nổi tiếng[147], Pascal cho rằng có ba thứ bậc cao trọng.

Thứ nhất là thứ bậc vật chất hay thân xác: được đề cao là người giàu có, người có sức khoẻ lực sĩ hay vẽ đẹp thể xác. Đó là một giá trị không nên xem thường, nhưng là giá trị thấp nhất.

Trên đó là thứ bậc của thiên tài và trí thông minh mà nổi bật là những nhà tư tưởng, nhà phát minh, nhà khoa học, những nghệ sĩ và thi sĩ. Đây là một thứ bậc có một phẩm chất khác. Sự kiện giàu hay nghèo, đẹp hay xấu, không thêm vào hay lấy đi bất cứ điều gì đối với thiên tài. Những dị dạng thể xác trên con người của họ không lấy đi điều gì từ nét đẹp của những tư tưởng của Socrates, hay những vần thơ của Leopardi.

Thiên tài là một giá trị chắc chắn cao hơn giá trị trước, nhưng đó chưa phải là giá trị cao nhất. Trên nó còn một thứ bậc cao cả khác, thứ bậc của tình yêu, của lòng tốt (Pascal gọi đó là thứ bậc của sự thánh thiện và ân sủng). Gounod cho rằng một giọt thánh thiện đáng giá hơn một đại dương tài năng. Đẹp hay xấu, học thức hay dốt nát không thêm gì hay lấy đi điều gì đối với một vị thánh. Sự cao cả của ngài thuộc về một thứ bậc khác.

Kitô giáo thuộc về bậc thứ ba này. Trong tiểu thuyết Quo vadis, một người ngoại giáo hỏi Tông Đồ Phêrô khi ngài mới đến Rôma: “Athêna cho chúng tôi sự khôn ngoan, Rôma cho chúng tôi quyền lực, thế tôn giáo của ông cho chúng tôi điều gì?” Phêrô trả lời: “Tình yêu![148]” Tình yêu là thứ mong manh nhất trên thế gian; nó được biểu thị – và nó thực sự là – như một đứa trẻ. Người ta có thể giết nó dễ dàng như người ta có thể làm việc đó với một đứa trẻ. Nhưng qua kinh nghiệm chúng ta biết quyền lực, khoa học, sức mạnh và tài năng trở thành cái gì nếu không có tình yêu và lòng nhân?

***

“Như chúng ta đã nói, eros của Thiên Chúa đối với con người cũng hoàn toàn là agape. Không phải chỉ vì eros được ban tặng cách hoàn toàn cho không, không do một công trạng nào trước đó, mà còn vì đó là tình yêu tha thứ[149].”

Phẩm chất này cũng sáng chói ở mức cao nhất trong mầu nhiệm thập giá. Đức Giêsu đã nói ở nhà Tiệc Ly: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Người ta hẳn muốn kêu lên: Có đấy, lạy Chúa, có một tình yêu còn cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. Đó là tình yêu của Chúa! Chúa đã không hy sinh tính mạng cho bạn hữu, nhưng cho kẻ thù của mình! Thánh Phaolô nói rằng hầu như khó tìm thấy người nào sẵn sàng chết cho một người công chính, nhưng có đấy. Có lẽ người ta dám chết cho một người lương thiện. “Thế nhưng chính Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu chúng ta” (Rm 5,7-8).

Tuy nhiên, người ta sớm khám ra điều tương phản chỉ là ngoài mặt. Chữ “bạn” theo nghĩa năng động chỉ những ai yêu mình, nhưng theo nghĩa thụ động nó chỉ những người mình yêu. Đức Giêsu gọi Giuđa là “bạn” (Mt 26,50) không phải vì Giuđa yêu Ngài, nhưng vì Ngài yêu Giuđa! Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì kẻ thù của mình, coi họ như bạn hữu: đó là ý nghĩa của câu Đức Giêsu nói. Con người có thể xử sự như kẻ thù của Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa mãi mãi không là kẻ thù của nhân loại. Đó là lợi thế khủng khiếp của con cái trước cha (hay mẹ) chúng.

Chúng ta cần suy tư theo cách cụ thể nhờ đó tình yêu của Đức Kitô trên thập giá có thể giúp con người ngày nay tìm thấy “con đường để sống và yêu”, như Đức Biển Đức XVI đã nói. Đó là một tình yêu thương xót, khoan dung và thứ tha, không muốn tiêu diệt kẻ thù, nhưng đúng hơn tiêu diệt sự thù nghịch (x Ep 2,16). Tiên tri Giêrêmia, người gần gũi nhất với Đức Kitô chịu Khổ nạn, đã cầu nguyện với Thiên Chúa như sau: “xin cho tôi được thấy cơn thịnh nộ đổ trên đầu chúng” (Gr 11,20); còn Đức Giêsu khi hấp hối thì nói: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm.” (Lc 23,34)

Chính lòng thương xót và khả năng tha thứ này là điều chúng ta cần đến ngày hôm nay, để đừng trượt xa hơn nữa vào hố sâu bạo lực toàn cầu. Thánh Tông Đồ viết cho tín hữu Côlôssê: “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau.” (Cl 3,12-13)

Thương xót nghĩa là trắc ẩn (misereor) tận đáy lòng (cordis) đối với kẻ thù ta, là hiểu rằng chúng ta được tạo ra bằng gì và do đó là tha thứ. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu bằng một phép lạ của lịch sử, hai dân tộc Israel và Palestin ở vùng Cận Đông đang đánh nhau từ nhiều thập niên, nay thay vì đổ lỗi cho nhau, bắt đầu nghĩ đến những đau khổ của nhau, và động lòng trắc ẩn với nhau. Bức tường chia cách giữa họ sẽ không cần thiết nữa. Cũng có thể nói như vậy về biết bao nhiêu cuộc xung đột khác đang diễn ra trên thế giới, kể cả những cuộc xung đột giữa các hệ phái tôn giáo khác nhau.

Những vần thơ của Giovani Pascoli thật đúng biết bao: “Hỡi con người, hỡi hòa bình! Trên trái đất nghiêng, có quá nhiều mầu nhiệm[150].” Một số phận chết chóc chung bao trùm lên tất cả chúng ta. Nhân loại bị bóng tối bao phủ và oằn mình dưới sức nặng của quá nhiều đau khổ đến mức chúng ta cần phải có một chút lòng trắc ẩn và liên đới với nhau.

***

Một giáo huấn khác đến từ tình yêu của Thiên Chúa thể hiện trên thập giá Đức Kitô. Tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người thì trung tín và vĩnh cửu. Thiên Chúa nói với con người qua các tiên tri: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở” (Gr 31,3); và còn nói: “Ta quyết chẳng đoạn tình dứt nghĩa, không hề bội tín thất trung” (Tv 89,34). Thiên Chúa đã cam kết yêu thương mãi mãi; Ngài tự tước đi sự tự do quay gót. Chính là ý nghĩa sâu xa của Giao Ước đã trở nên “mới và vĩnh cửu” trong Đức Kitô.

Chúng ta đọc thấy trong Thông điệp của Đức Giáo Hoàng: “Để thăng tiến và thanh luyện chiều sâu, tình yêu cần sự dứt khoát theo một ý nghĩa kép: theo nghĩa độc chiếm “duy chỉ một người thôi” và theo nghĩa vĩnh viễn. Tình yêu bao trùm toàn bộ cuộc sống trong mọi chiều kích của nó, kể cả chiều kích thời gian. Điều này không thể khác được, vì sự hứa hẹn của nó nhắm vào sự dứt khoát: tình yêu nhắm vào vĩnh cửu[151].”

Trong xã hội hôm nay người ta ngày càng thường xuyên tự hỏi đâu là mối quan hệ giữa tình yêu của hai người trẻ và luật hôn nhân; tình yêu chỉ là xung động và tự phát thì cần điều gì để “ràng buộc”. Ngày càng có đông đảo những người từ chối định chế hôn nhân và chọn cái gọi là tình yêu tự do, hoặc, de facto (thực tế) thuần túy sống chung. Chỉ khi nào khám phá ra mối liên hệ sâu sắc và sinh tử giữa lề luật và tình yêu, giữa quyết định và định chế, người ta mới có thể trả lời đúng đắn cho những câu hỏi này và mang đến cho những người trẻ một lý do thuyết phục để “cam kết” yêu nhau mãi mãi và không ngại biến tình yêu thành một “bổn phận”.

Triết gia Kierkegaard, người sau Plato, đã viết những điều đẹp nhất về tình yêu, nói: “Chỉ khi có bổn phận phải yêu, tình yêu mới được bảo đảm mãi mãi không biến chất; mãi mãi được giải thoát trong sự độc lập được chúc phúc; được bảo đảm trong hạnh phúc vĩnh cửu chống lại mọi nỗi âu lo[152].”

Con người đang yêu, càng yêu mãnh liệt càng lo sợ nhận thấy nguy hiểm mà tình yêu gặp phải. Một nguy hiểm không đến từ những người khác nhưng từ chính mình. Quả thực người đó biết mình hay thay đổi, nay yêu mai có thể chán, không còn yêu nữa hoặc muốn thay đổi đối tượng yêu. Vì giờ đây đang lúc còn chìm trong ánh sáng của tình yêu, người đó thấy rõ việc ấy sẽ kéo theo sự mất mát không đền bù được như thế nào. Vì thế người đó bảo vệ mình theo cách “cam kết” yêu bằng dây ràng buộc của bổn phận, và như thế là cắm chặt hành vi yêu trong thời gian vào trong vĩnh cửu.

Ulysses muốn thấy lại quê nhà và vợ mình, nhưng anh ta phải vượt qua nơi có những Mỹ Nhân Ngư hát những bài ca làm các thủy thủ mê say khiến thuyền của họ va vào bờ đá. Ulysse đã làm gì? Anh tự cột mình vào cột buồm sau khi đổ sáp đầy hai lỗ tai những bạn thuyền. Đến chỗ có những Mỹ Nhân Ngư, bị quyến rũ, anh la lên để được cởi trói và đến với các nàng này, nhưng các bạn thuyền không thể nghe tiếng anh, nhờ vậy anh ta có thể được thấy lại quê hương, lại được ôm vợ và con trai của mình[153]. Chắc chắn đó là một câu chuyện huyền thoại, nhưng nó giúp chúng ta hiểu được lý do của hôn nhân “bất khả phân ly”, cũng trên bình diện nhân loại và hiện sinh và, trên một bình diện khác, của những lời khấn dòng.

Bổn phận phải yêu bảo vệ tình yêu khỏi “âu lo” và làm cho nó “được chúc phúc và độc lập”, theo nghĩa là nó bảo vệ con người khỏi lo lắng không thể yêu mãi mãi. Cũng triết gia này nói: hãy chỉ cho tôi một người thực sự đang yêu, và anh ta sẽ nói cho bạn xem trong tình yêu vui thú và bổn phận có đối kháng nhau không; xem ý nghĩ “phải” yêu suốt đời có làm cho người đang yêu sợ hãi và lo lắng không, hay đúng hơn làm cho họ rất mực vui mừng và hạnh phúc.

Một ngày trong Tuần Thánh, khi hiện ra cùng chân phước Angela Foligno, Đức Kitô nói với bà một lời trở thành nổi tiếng: “Ta đã yêu con không phải chuyện đùa!” Thật vậy, Đức Kitô đã không yêu chúng ta như giỡn chơi. Có một chiều kích đùa cợt và vui vẻ trong tình yêu, nhưng chính tình yêu không phải là một chuyện đùa; chính là chuyện chân thành nhất và gây ra nhiều hệ lụy nhất trên thế giới; đời sống con người tùy thuộc vào nó. Eschyle so sánh tình yêu với sư tử con nuôi trong nhà, lúc đầu thì “ngoan ngoãn và hiền lành còn hơn một trẻ em” thậm chí người ta có thể giỡn chơi với nó, nhưng một khi lớn lên, nó có thể phá phách và nhuộm máu ngôi nhà[154].”

Những nhận xét này không đủ để thay đổi văn hóa hiện nay, tôn dương sự tự do thay đổi và sự tự phát nhất thời, áp dụng ngay cả cho tình yêu quan niệm thịnh hành là “dùng xong rồi vất”. (Thật không may cho cuộc đời phải gánh lấy chuyện đó, khi cuối cùng người ta thấy mình trắng tay với nỗi buồn chẳng xây đắp được gì lâu dài trong tình yêu). Ước mong những nhận xét này có thể giúp củng cố những ai, trong sự lựa chọn của mình – một sự lựa chọn tốt và đẹp – quyết định sống tình yêu giữa một người nam và một người nữ theo kế hoạch của Thiên Chúa, và cũng có thể giúp họ làm chứng để có nhiều người trẻ muốn lựa chọn như thế.

Không còn gì nói thêm ngoài việc hòa nhịp cùng Thánh Phaolô trong bài thánh thi ca ngợi tình yêu chiến thắng của Thiên Chúa. Phaolô mời gọi chúng ta cùng với ngài trải nghiệm tuyệt vời về việc chữa lành nội tâm. Ngài nhìn lại những điều tiêu cực và những lúc gay go của đời ngài: gian truân, phiền muộn, bách hại, đói khát, trần truồng, nguy hiểm và gươm giáo. Ngài xem xét những điều này nhờ tin chắc vào tình yêu của Thiên Chúa và viết: “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta!” (Rm 8,37)

Sau đó, Phaolô ngước mắt lên: từ cuộc sống cá nhân nhìn ra thế giới chung quanh và hướng tới vận mệnh chung của nhân loại, và một lần nữa diễn tả cùng một sự xác tín hân hoan này: “Tôi tin chắc rằng: cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta.” (Rm 8,37-39).

Chúng ta đón nhận lời mời gọi của ngài, trong ngày Thứ Sáu Khổ nạn này, và lặp lại cho mình những lời trên đây khi chúng ta chuẩn bị tôn thờ Thánh giá Đức Kitô.


XXVIII. “CÓ MẤY NGƯỜI PHỤ NỮ”

Đứng gần thập giá Đức Giêsu có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clopas, cùng với bà Maria Mađalêna.” (Ga 19,25) Một lần nữa chúng ta bỏ qua một bên Đức Maria, Mẹ Ngài. Không cần cắt nghĩa sự hiện diện của Người trên đồi Canvê. Người là mẹ của Ngài, điều ấy cắt nghĩa tất cả; những người mẹ không bao giờ bỏ con mình, cả khi con bị xử tử. Nhưng tại sao có những phụ nữ khác ở đó? Họ là ai, có bao nhiêu người?

Phúc âm cho ta biết tên của một số phụ nữ trong nhóm họ: Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê hậu và Giuse, Salomê, mẹ của các con ông Dêbêđê, Gioanna và Suzanna (x.Lc 8,3). Cùng với Đức Giêsu đến từ Galilê, các phụ nữ này đã theo Ngài, vừa đi vừa khóc trên đường lên Canvê (Lc 23,27-28). Tới Gôlgôtha, họ quan sát “từ xa” (nghĩa là với khoảng cách cho phép) và từ đó họ theo Ngài tới nơi an táng, lòng đầy buồn bã, cùng với Giuse Arimathia (Lc 23,55).

Biến cố này được chứng thực quá rõ và quá lạ lùng nên không thể coi thường. Người ta gọi những phụ nữ này là những “phụ nữ đạo đức” (đàn ông chiều ý họ nên gọi thế), nhưng còn hơn cả những “phụ nữ đạo đức”, họ thực sự là những “Bà Mẹ Can Đảm”! Họ dũng cảm đối mặt với nguy hiểm, công khai ủng hộ một người ”bị kết án tử hình”. Đức Giêsu đã nói: “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi!” (Lc 7,23) Họ là những phụ nữ duy nhất không thấy vấp phạm vì Ngài.

Hiện nay người ta tranh luận sôi nổi về “những người ra quyết định” về cái chết của Đức Giêsu: các nhà lãnh đạo Do Thái hay Philatô, hay cả hai? Dầu sao, có điều chắc chắn: họ là đàn ông, không phải phụ nữ. Không có người phụ nữ nào tham gia, thậm chí gián tiếp, vào việc kết án Ngài. Người phụ nữ ngoại giáo duy nhất được đề cập trong các tường thuật về cuộc Khổ nạn, vợ của Philatô, cũng phản đối việc lên án Ngài (Mt 27,19). Chắc chắn Đức Giêsu cũng chết vì tội lỗi của phụ nữ nữa, nhưng trên bình diện lịch sử, chỉ họ mới có thể nói đúng: “Chúng tôi vô can trong vụ đổ máu người này!” (x. Mt 27,23).

Đây là một trong những dấu chỉ chắc chắn nhất về sự trung thực và tính hợp lý của các Phúc âm về phương diện lịch sử: hình tượng tầm thường mà các tác giả và các người gợi hứng Phúc âm đưa ra, cũng như vai trò lạ lùng mà họ gán cho các phụ nữ. Ai cho phép người ta trung thành và mãi mãi gìn giữ câu chuyện đáng xấu hổ về sự sợ hãi, hành vi trốn chạy, chối Thầy của đàn ông, tất cả còn trở nên tồi tệ khi so sánh với hành vi quá khác biệt của một số phụ nữ tội nghiệp? Tôi nhắc lại, ai cho phép điều đó, nếu đã không có sự cưỡng bách phải trung thành với một câu chuyện mà kể từ nay dường như vô cùng lớn hơn sự thảm thương của họ?

***

Người ta đã luôn tự hỏi: làm sao mà những “phụ nữ đạo đức” đã là những người đầu tiên được thấy Đấng Phục Sinh và được trao nhiệm vụ báo tin cho các Tông Đồ? Đó là cách tốt nhất làm cho sự phục sinh không đáng tin lắm. Chứng cớ của một phụ nữ không có tầm quan trọng nào trong việc xét xử. Có lẽ vì lý do này mà không có bóng dáng phụ nữ trong bảng danh sách dài của Phaolô viết về những người đã thấy Đấng Phục Sinh (x. 1Cr 15,5-8). Chính các Tông Đồ trước tiên đã coi lời các phụ nữ là “lẩm cẩm” điển hình của phái nữ và đã không tin vào điều đó (Lc 24, 11).

Các tác giả cổ đại tin rằng họ đã tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi này. Romanos le Melode nói trong một bài thánh thi của ông: “Phụ nữ là người đầu tiên nhìn thấy Đấng Phục Sinh, vì chính một phụ nữ, bà Evà, là người đầu tiên phạm tội![155]” Nhưng câu trả lời thực sự thì khác: phụ nữ đã là những người đầu tiên được thấy Chúa sống lại, vì họ là người cuối cùng bỏ Ngài sau khi Ngài chết; và thậm chí sau khi Ngài chết, họ còn trở lại ngôi mộ mang theo dầu thơm ướp xác (Mc 16,1).

Chúng ta phải đặt ra những câu hỏi: tại sao phụ nữ không sợ cớ vấp phạm thập giá? Tại sao họ ở gần Đấng bị đóng đinh, mặc dù mọi sự dường như đã kết thúc và chính các môn đệ thân cận nhất của Ngài đã bỏ Ngài và quay về nhà?

Chính Đức Giêsu đã trả lời trước cho Simon, khi Ngài nói với ông về người phụ nữ tội lỗi đã rửa và hôn chân Ngài: “Chị ấy đã yêu mến nhiều!” (x. Lc 7,47) Những phụ nữ đã đi theo Đức Giêsu vì chính Ngài, để tỏ lòng biết ơn vì những điều tốt họ đã nhận được từ Ngài, không có hậu ý theo Ngài để kiếm ăn. Họ không được hứa “mười hai tòa”, cũng không yêu cầu được ngồi hai bên tả hữu Ngài trong Nước Ngài. Theo Phúc âm, họ đi theo Ngài “để phục vụ Ngài” (x. Lc 8,3; Mt 27,55); họ là những người duy nhất, sau Đức Maria Mẹ Ngài, đã đồng hóa tinh thần Phúc âm. Họ đã theo những lý lẽ của con tim, thứ đã không lừa dối họ.

***

Về vấn đề này, sự hiện diện của họ bên cạnh Đấng bị đóng đinh và phục sinh mang lại cho chúng ta hôm nay một bài học sống còn. Văn minh của chúng ta, bị kỹ thuật chi phối, cần có một trái tim, để con người có thể sống mà không bị phi nhân bản hoàn toàn. Chúng ta phải mở rộng chỗ cho những “lý lẽ của con tim”, nếu chúng ta muốn tránh cho hành tinh của chúng ta, đang khi nóng lên về mặt thể chất, không rơi vào thời kỳ băng giá về mặt tinh thần. Cuộc khủng hoảng nghiêm trọng về niềm tin mà thế giới đang trải qua ngày hôm nay bắt nguồn từ việc người ta không lắng nghe những lý lẽ của con tim, nhưng giới hạn vào những mưu mẹo của tâm trí.

Trong điều đó, và trái với nhiều lãnh vực khác, kỹ thuật không giúp ích nhiều cho chúng ta. Đã từ lâu chúng ta làm việc trên một loại máy tính “suy nghĩ” và nhiều người tin chắc sẽ đạt đến chỗ đó. Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có ai xem xét khả năng một máy tính “yêu thương”, xúc động, giúp con người về mặt tình cảm, giúp họ yêu thương, như giúp họ tính toán khoảng cách giữa các vì sao, xác định chuyển động của các nguyên tử, ghi nhớ dữ liệu…

Sự phát triển của trí khôn và các khả năng nhận thức của con người, bất hạnh thay, không đi đôi với sự phát triển khả năng yêu thương. Thậm chí việc sau dường như không quan trọng tí nào khi chúng ta biết rõ rằng thực tế có hạnh phúc hay không trên đời này không phụ thuộc vào thực tế có kiến thức hay không, cho bằng thực tế có yêu hay không yêu, được yêu hay không được yêu. Lý do rất đơn giản: chúng ta được tạo dựng “theo hình ảnh của Thiên Chúa” và Thiên Chúa là tình yêu. Deus caritas est! Không khó để hiểu tại sao chúng ta muốn phát huy kiến thức của mình rất nhiều, nhưng rất ít muốn gia tăng khả năng yêu thương: kiến thức tự động thể hiện thành quyền lực, tình yêu thành phục vụ.

Một trong những thần tượng hiện đại là “IQ”, “chỉ số thông minh”. Nhiều phương pháp đã được phát triển để đo chỉ số IQ. Nhưng có ai quan tâm cũng để ý đến “chỉ số tình cảm” chăng? Thế mà chỉ có tình yêu cứu chuộc và cứu độ, trong khi khoa học và khao khát kiến thức, chỉ riêng chúng, có thể dẫn đến đọa đày.

Đây là điều Faust của Goethe kết luận và cũng là tiếng kêu của một đạo diễn, người đã đóng xuống đất cách tượng trưng khối lượng quý giá của một thư viện và cho diễn viên chính thốt lên rằng “tất cả những cuốn sách trên thế giới không có giá trị bằng một cái vuốt ve âu yếm[156].” Trước đó, Thánh Phaolô đã viết: “Sự hiểu biết sinh lòng kiêu ngạo, còn bác ái thì xây dựng” (1Cr 8.1) Đức Giáo Hoàng nhắc nhở chúng ta trong Thánh lễ Dầu: “Không có tình yêu, con người trống rỗng bên trong.”

Sau rất nhiều thời kỳ đã lấy tên của con người – homo erectushomo faber, cho đến homo sapiens-sapiens nghĩa là rất khôn ngoan, ngày hôm nay – chúng ta phải hy vọng rằng cuối cùng một kỷ nguyên của phụ nữ cũng mở ra cho nhân loại: một kỷ nguyên của trái tim, của lòng trắc ẩn và cuối cùng trái đất này không còn là “Mẫu đo đất khiến chúng ta trở nên quá dữ tợn[157].”

***

Từ mọi nơi xuất hiện nhu cầu cung cấp thêm không gian cho phụ nữ. Chúng ta không tin rằng “yếu tố nữ vĩnh cửu sẽ cứu chúng ta[158].” Kinh nghiệm hàng ngày cho thấy phụ nữ có thể “kéo chúng ta lên” nhưng cũng có thể đẩy chúng ta xuống. Họ cũng cần được Đức Kitô cứu. Nhưng chắc chắn một khi được Đức Kitô cứu và “giải thoát” khỏi lệ thuộc đàn ông từ xa xưa, phụ nữ có thể góp phần cứu xã hội chúng ta khỏi những tệ nạn có gốc rễ sâu xa đe dọa nó: bạo lực, ý chí quyền lực, khô cằn thiêng liêng, khinh rẻ sự sống…

Chỉ cần tránh lặp lại lỗi lầm cũ theo đó người phụ nữ, để tự cứu mình, phải thôi là phụ nữ và biến mình thành đàn ông[159]. Định kiến này đã ăn sâu trong xã hội đến nỗi chính phụ nữ đã phải chịu thua nó. Để khẳng định phẩm giá của mình, đôi khi họ nghĩ cần phải chấp nhận các hành vi nam tính hoặc thậm chí giảm thiểu sự khác biệt giữa hai phái, bằng cách chỉ coi nó như một sản phẩm của văn hóa. “Người ta không sinh ra là phụ nữ, người ta trở thành phụ nữ”, theo lời một trong những đại biểu nổi tiếng của họ[160].

Chúng ta phải hết lòng biết ơn những “phụ nữ đạo đức”! Trên đường đến Calvê, những tiếng nức nở của họ là những âm thanh thân thiện duy nhất lọt đến tai Đấng Cứu Thế; trong khi Ngài bị treo trên thập giá, “cái nhìn” của họ là cái nhìn duy nhất đầy yêu mến và cảm thương đối với Ngài.

Phụng vụ byzantin đã vinh danh những phụ nữ đạo đức bằng cách dành cho họ một Chúa nhật của năm phụng vụ, Chúa nhật thứ hai sau Lễ Phục Sinh, lấy tên là “Chúa nhật của những Myrrophores”, nghĩa là Chúa nhật của những người mang dầu thơm ướp xác. Đức Giêsu hạnh phúc khi chúng ta vinh danh trong Giáo hội những phụ nữ yêu mến Ngài và tin vào Ngài khi Ngài còn sống. Về một trong số họ – người phụ nữ đã đổ một bình dầu thơm lên đầu Ngài – Ngài đã nói một câu tiên tri lạ lùng vẫn tiếp tục được thực hiện qua nhiều đời: “Tin Mừng này được loan báo bất cứ nơi nào trong khắp thiên hạ, thì người ta cũng sẽ kể lại việc cô vừa làm mà nhớ tới cô.” (Mt 26,13)

***

Tuy nhiên, ngưỡng mộ và vinh danh những phụ nữ đạo đức là không đủ, chúng ta còn phải bắt chước họ. Thánh Lêô Cả nói rằng “Cuộc Khổ nạn của Đức Kitô tiếp tục cho đến hết đời[161]”, còn Pascal thì viết: “Đức Giêsu sẽ hấp hối cho đến tận thế[162].” Cuộc Khổ nạn nối dài nơi các chi thể của Thân Thể Đức Kitô. Nhiều phụ nữ, tu sĩ và giáo dân, ngày nay ở bên cạnh những người nghèo, những bệnh nhân SIDA, những tù nhân, những người thuộc mọi hạng bị loại trừ khỏi xã hội, là những người thừa kế những “phụ nữ đạo đức” này. Đối với những phụ nữ này – tín hữu hay không – Đức Kitô lặp lại lời Ngài đã nói: “là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25,40)

Những phụ nữ đạo đức là gương cho các phụ nữ Kitô hữu ngày nay, không những vì vai trò của họ trong cuộc Khổ nạn mà cả trong cuộc Phục Sinh. Từ đầu đến cuối Kinh thánh, người ta bắt gặp những chữ “Hãy đi” hoặc “Các con (ngươi) hãy đi”, bao nhiêu lần Thiên Chúa sai đi. Đó là lời nói với Abraham, với Môsê (“Ngươi hãy đi, Ta sai người đến với Pharaon” x. Xh 3,10), với các tiên tri, với các Tông Đồ: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.” (Mc 16,15)

Tất cả những lời mời gọi này là nói với các ông. Chỉ có một lời “Hãy đi” nói với các phụ nữ, là lời nói với các bà đang mang thuốc thơm đi ướp xác vào sáng ngày Phục Sinh: “Khi ấy Đức Giêsu nói với họ : Chị em đừng sợ. Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.” (Mt 28,10) Bằng những lời này, Ngài biến họ thành những chứng nhân đầu tiên của sự Phục Sinh, “các bà chủ của các ông chủ” như các tác giả xưa đã gọi[163].

Thật đáng tiếc cho Maria Mađalêna, vì cô đã được đồng hóa với người phụ nữ tội lỗi đã rửa chân cho Đức Giêsu (Lc 7,37), cuối cùng đã làm phong phú vô số truyền thuyết cổ xưa và hiện đại và được nhớ đến trong việc tôn kính cũng như trong nghệ thuật hầu như chỉ trong vỏ bọc một “hối nhân”, không phải là chứng nhân đầu tiên về sự phục sinh, cô, “tông đồ của các tông đồ, như thánh Tôma Aquinô định nghĩa.

***

Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giêsu hay” (Mt 28,8) Hỡi các phụ nữ Kitô giáo, hãy tiếp tục báo tin vui cho các người kế vị các Tông Đồ, và cho các linh mục chúng tôi, những cộng tác viên của các ngài: “Thầy đang sống! Ngài đã sống lại! Ngài đến trước các vị ở Galilê, nghĩa là nơi các vị đến! Xin đừng sợ!”

Xin tiếp tục hát bài thánh ca xưa mà phụng vụ đặt vào môi miệng của Maria Mađalêna: “Mors et vita duello conflixere mirando: dux vitae mortuus regnat vivus; Sự sống và sự chết giao tranh với nhau trong một cuộc chiến tay đôi lạ lùng: Chúa của sự sống đã chết nhưng nay đang sống và cai trị.” Sự sống đã chiến thắng sự chết, nhờ Đức Kitô, và một ngày kia cũng sẽ như thế đối với chúng ta. Bên cạnh tất cả các phụ nữ thiện chí, các vị là niềm hy vọng cho một thế giới nhân bản hơn.

Chúng ta dùng một lời kinh của Giáo hội xưa mà thưa lên với Đấng đứng đầu các “phụ nữ đạo đức” và là mẫu gương khôn sánh cho họ, là Mẹ Đức Giêsu:

“Lạy Mẹ Maria, xin cứu giúp những kẻ khốn cùng, nâng đỡ những người sợ hãi, an ủi những ai yếu nhược : xin cầu cho dân Chúa, bênh đỡ hàng giáo sĩ, cầu bầu cho giới phụ nữ đạo đức.”

Sancta Maria, succurre miseris, iuva pusillanimes, refove flebiles. Ora pro populo, interveni pro clero, intercedo pro devoto femineo sexu.”


XXIX. “CHIẾC ÁO DÀI KHÔNG CÓ ĐƯỜNG KHÂU”

“Đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới. Vậy họ nói với nhau: “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được”. Thế là ứng nghiệm lời Kinh thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài cũng bắt thăm luôn.” (Ga 19:23-24).

Người ta luôn tự hỏi thánh Gioan muốn nói gì khi ngài coi chi tiết đặc biệt này của cuộc Khổ nạn quan trọng đến vậy. Một lời giải thích tương đối mới đây cho là chiếc áo dài nhắc nhớ phẩm phục của vị thượng tế, và vì vậy, Gioan muốn quả quyết rằng Đức Giêsu đã chết không chỉ như một ông vua mà còn như một tư tế. Tuy nhiên Kinh thánh không xác định áo choàng của thượng tế không có đường khâu (x. Xh 28,4; Lv 16,4). Do đó, các nhà chú giải có uy tín nhất thích giữ lại cách giải thích truyền thống hơn, theo đó chiếc áo không có đường khâu tượng trưng cho sự hiệp nhất của Giáo hội[164].

Bất kể bản văn được giải thích theo cách nào, có một điều chắc chắn: sự hiệp nhất của các môn đệ và, thông qua họ, của cả nhân loại, đối với Gioan, là mục khiến cho Đức Kitô chết: “Đức Giêsu sắp phải chết thay cho dân, và không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối.” (Ga 11,51-52). Trong bữa tiệc ly, chính Ngài đã nói: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta.” (Ga 17,20-21)

Tin vui chúng ta công bố ngày thứ Sáu tuần Thánh là sự hiệp nhất mà, trước khi là một mục tiêu phải đạt tới, đã là một món quà để đón nhận. Chiếc áo dài dệt liền “từ trên xuống dưới”, theo thánh Cyprianô, có nghĩa là “sự hiệp nhất mà Chúa Kitô mang lại đến từ trên cao, từ Cha trên trời, và vì vậy, không thể bị phân chia bởi những người nhận nó, nhưng phải được đón nhận cách nguyên vẹn[165].”

Những người lính chia “áo xống” thành bốn phần, tức là áo ngoài của Đức Giêsu (ta imatia), chứ không phải áo trong (chiton), là áo tiếp xúc trực tiếp với thân thể của Ngài. Đây cũng là một biểu tượng. Con người chúng ta có thể phân chia yếu tố con người và hữu hình của Giáo hội, nhưng không thể phân chia sự hiệp nhất sâu xa hơn, được đồng hóa với Chúa Thánh Thần. Áo dài của Đức Kitô đã và sẽ không bao giờ có thể bị phân chia. Nó cũng không có đường khâu. Phaolô kêu lên: “Thế ra Đức Kitô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư?” (x. 1Cr 1,13). Đó là đức tin mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Tôi tin Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”.

* * *

Nhưng nếu sự hiệp nhất phải được dùng làm dấu chỉ “để thế giới tin”, thì nó cũng phải là một sự hiệp nhất hữu hình và cộng đồng. Đây là sự hiệp nhất mà chúng ta đã đánh mất và chúng ta phải tìm thấy lại. Nó còn hơn là những quan hệ láng giềng; nó là sự hiệp nhất mầu nhiệm bên trong, “một thân thể, một Thần Khí, một hy vọng, một Đức Chúa, một niềm tin, một phép rửa, một Thiên Chúa, Cha của mọi người” (Ep 4,4-6), với điều kiện được các tín hữu đón nhận, sống và biểu lộ cụ thể. Một sự hiệp nhất không bị lung lay bởi sự đa dạng, nhưng có thể được diễn tả trong sự đa dạng đó.

Sau ngày Phục Sinh, các Tông Đồ hỏi Đức Giêsu: “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc khôi phục vương quốc Israel không?” (Cv 1,6). Ngày nay, chúng ta thường đặt câu hỏi như thế với Thiên Chúa: có phải bây giờ là lúc khôi phục sự hiệp nhất hữu hình của Giáo hội không? Câu trả lời của Thiên Chúa cũng giống như câu trả lời của Đức Giêsu cho các môn đệ: “Anh em không cần biết thời giờ và kỳ hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhung anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy.” (Cv 1,6-8)

Đức Thánh Cha (Bênêđictô XVI) đã nhắc lại điều này trong bài giảng ngày 25 tháng 1 tại đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, vào cuối Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất Kitô giáo. Ngài nói: “Hiệp nhất với Thiên Chúa và với anh chị em chúng ta là một món quà từ trên, phát xuất từ sự hiệp thông yêu thương giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, trong đó nó được gia tăng và hoàn thiện. Chúng ta không có quyền quyết định sự hiệp nhất này sẽ được hoàn tất khi nào hoặc thế nào. Chỉ mình Thiên Chúa mới có thể làm được! Giống như Thánh Phaolô, chúng ta hãy tin tưởng và hy vọng vào “ân sủng của Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.

Hôm nay cũng vậy, Chúa Thánh Thần sẽ là Đấng duy nhất đưa chúng ta tới hiệp nhất, nếu chúng ta để Người hướng dẫn. Chúa Thánh Thần đã đem lại sự hiệp nhất căn bản đầu tiên của Giáo hội, giữa người Do Thái và người ngoại giáo như thế nào? Chúa Thánh Thần xuống trên Cornêliô và toàn thể gia đình ông theo cùng một cách mà Người đã xuống trên các Tông Đồ vào ngày lễ Ngũ Tuần. Phêrô chỉ cần rút ra kết luận: “Vậy nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một ân huệ như Ngài đã ban cho chúng ta, vì chúng ta tin vào Đức Giêsu Kitô, thì tôi là ai mà dám ngăn cản Thiên Chúa?” (Cv 11,17).

Trong suốt thế kỷ vừa qua, chúng ta đã thấy cùng một điều kỳ diệu được lặp lại trước mắt chúng ta trên quy mô toàn cầu. Thiên Chúa đã đổ Thánh Thần một cách mới mẻ và lạ lùng trên hàng triệu tín đồ từ mọi giáo phái Kitô, và để không có nghi ngờ nào về ý định của Người, Người đã đổ Thần Khí với cùng những biểu hiện như vậy. Đây không phải là dấu cho thấy Thần Khí thúc đẩy chúng ta nhận ra nhau là những môn đệ của Đức Kitô và cùng nhau hướng tới sự hiệp nhất sao?

Đúng là sự hiệp nhất thiêng liêng và đặc sủng này không đủ. Chúng ta đã thấy như thế ngay từ thời Giáo hội sơ khai. Sự hiệp nhất mới được hình thành giữa người Do Thái và Dân Ngoại đã bị ly giáo đe dọa. Trong cái gọi là Công đồng Giêrusalem người ta đã “tranh luận nhiều” và cuối cùng đã đạt được một thỏa thuận và thông báo cho Giáo hội bằng công thức: “Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định…” (Cv 15,28).

Vì vậy, Chúa Thánh Thần cũng hành động bằng một cách khác: kiên nhẫn trao đổi, đối thoại và thậm chí thỏa hiệp giữa các bên, khi không liên hệ đến những điều thiết yếu của đức tin. Người hành động qua “cơ cấu” của con người và các “chức vụ” do Chúa Giêsu đặt định, trên hết là chức vụ tông đồ và của Phêrô. Đó là điều mà ngày nay chúng ta gọi là phong trào đại kết về giáo lý và thể chế.

***

Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy ngay cả sự hiệp nhất về giáo lý cũng không đủ và không làm cho các vấn đề tiến triển, nếu không đi kèm với một sự hiệp nhất thiêng liêng căn bản. Những nhân vật lớn nhất cổ cõ cho sự hiệp nhất thể chế lặp đi lặp lại điều đó cho chúng ta với sự nhấn mạnh ngày càng gia tăng. Để kỷ niệm bách chu niên thiết lập tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu (1908-2008), dưới chân thập giá, chúng ta muốn suy gẫm về sự hiệp nhất thiêng liêng này, xem nó là gì, làm cách nào chúng ta có thể tiến bộ trong lãnh vực này.

Sự hiệp nhất thiêng liêng phát sinh nhờ thống hối và tha thứ, và được nuôi dưỡng bằng lời cầu nguyện. Năm 1977, tôi đã tham dự một hội nghị đại đặc sủng ở thành phố Kansas, Missouri. Có bốn mươi ngàn người tham gia, gần một nửa trong số họ là người công giáo (bao gồm Hồng y Suenens) và phần còn lại của các giáo phái Kitô giáo khác. Vào một buổi tối, một trong những người thuyết trình bắt đầu nói qua micro theo cách mà vào thời điểm đó, hoàn toàn xa lạ với tôi: “Hỡi các bạn, linh mục và mục sư, hãy khóc lên và rên rỉ vì thân thể của Con Ta bị phá vỡ. Hỡi các bạn là giáo dân nam nữ, hãy khóc lên và rên rỉ vì thân thể Con Ta bị phá vỡ.”

Mọi người xung quanh tôi lần lượt quỳ xuống, và một vài tiếng nức nở, ăn năn vì sự chia rẽ trong Thân thể Đức Kitô. Một biểu ngữ khổng lồ treo trên sân vận động có hàng chữ sau: “Jesus is Lord“, Đức Giêsu là Chúa”. Tôi đã ở đó, như một người quan sát vẫn còn rất hay phê bình và dửng dưng, nhưng tôi nhớ mình đã nghĩ: “Nếu một ngày nào đó các tín hữu được hợp nhất trong một Giáo hội duy nhất, thì cũng sẽ như thế: tất cả chúng ta sẽ quỳ gối, tấm lòng ăn năn và cảm thấy nhục nhã, dưới vương quyền vĩ đại của Đức Kitô.”

Nếu sự hiệp nhất của các môn đệ phải phản chiếu sự hiệp nhất giữa Cha và Con, trước hết nó phải là sự hiệp nhất yêu thương, vì sự hiệp nhất trong Ba Ngôi là như thế. Kinh thánh khuyên chúng ta “sống theo sự thật và trong tình bác ái” (veritatem facientes caritate) (x. Êp 4,15). Còn Augustinô thì quả quyết rằng “người ta không vào trong sự thật nếu không qua bác ái[166]”, (non intratur in veritatem nisi per caritatem).

Điều lạ lùng là con đường đưa tới sự hiệp nhất này, dựa trên tình yêu, giờ đây đã rộng mở trước mắt chúng ta. Chúng ta không thể “đốt giai đoạn” trên bình diện giáo lý vì vẫn còn những khác biệt và các vị hữu trách có thẩm quyền phải nhẫn nại giải quyết. Thay vào đó từ lúc này chúng ta có thể đốt giai đoạn trong lãnh vực bác ái và hiệp nhất. Theo Thánh Augustinô, dấu chỉ chân thật và chắc chắn cho thấy Chúa Thánh Thần đến, là không nói bằng miệng lưỡi, nhưng là yêu mến sự hiệp nhất: “Hãy biết rằng bạn có Chúa Thánh Thần khi bạn để trái tim mình gắn bó với sự hiệp nhất thông qua tình bác ái chân thành[167].”

Chúng ta hãy suy lại bài ca đức mến của Thánh Phaolô. Mỗi câu đều có một ý nghĩa hiện thời và mới mẻ nếu áp dụng cho tình yêu giữa các thành viên thuộc các giáo phái Kitô khác nhau, trong các mối quan hệ đại kết:

Đức mến thì nhẫn nhục…đức mến thì không ghen tương…đức mến không tìm kiếm tư lợi [không chỉ tìm tư lợi cho Giáo hội của mình], đức mến không làm điều bất chính, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật [không vui mừng vì những khó khăn của các Giáo hội khác], tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1Cr 13,4tt).

Tuần này chúng ta tiễn đưa một người chị em đến nơi an nghỉ muôn đời, Đó là chị Chiara Lubich, người sáng lập Phong trào Focolari, người đi tiên phong và là kiểu mẫu của phong trào hiệp nhất thiêng liêng của tình yêu. Suốt cuộc đời, chị cho chúng ta thấy việc theo đuổi sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu không phải là cách khép mình trước phần còn lại của thế giới; đúng hơn đó là bước đi đầu tiên và là điều kiện cho một cuộc đối thoại rộng lớn hơn với các tín hữu của các tôn giáo khác và với tất cả những người nam nữ quan tâm đến số phận của nhân loại và hòa bình.

***

Người ta nói rằng “Yêu nhau không phải là nhìn nhau nhưng là cùng nhau nhìn về một một hướng”. Giữa các tín hữu thuộc những Giáo hội khác nhau cũng vậy, yêu thương có nghĩa là cùng nhau nhìn về cùng một hướng là Đức Kitô. “Người là bình an của chúng ta” (Êp 2,14). Nếu hướng về Đức Kitô, và cùng nhau tiến về Ngài, người Kitô hữu chúng ta cũng gần gũi với nhau, cho đến khi chúng ta thật sự “nên một với Ngài và với Cha”, như Chúa Giêsu đã đòi hỏi nơi chúng ta. Chính là điều chúng ta thấy với những chiếc căm xe khi chúng đi từ đường chu vi tới trung tâm: càng đến gần trung tâm, chúng càng gần nhau, cho đến khi tạo thành một điểm duy nhất.

Điều duy nhất hiệp nhất các Kitô hữu chia rẽ, sẽ là một làn sóng yêu thương mới tỏa ra giữa họ. Đây là điều đang xảy ra trong Kitô giáo, làm chúng ta ngạc nhiên và hy vọng. “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết.” (2Cr 5,14). Vậy người anh em tôi thuộc về một Giáo hội khác – thậm chí là mọi người – là “người mà Đức Kitô đã chết cho” (Rm 14,16), như Người đã chết cho tôi.

***

Có một lý do đặc biệt phải thúc đẩy chúng ta trên con đường này. Những gì đang diễn ra vào đầu thiên niên kỷ thứ ba không giống như những gì đã diễn ra vào đầu thiên niên kỷ thứ hai, khi có sự phân ly giữa Đông và Tây; cũng không giống như những gì đã diễn ra vào giữa thiên niên kỷ thứ hai, khi có sự phân ly giữa người Công giáo và người Tin lành. Phải chăng chúng ta có thể nói rằng cách chính xác mà Chúa Thánh Thần nhiệm xuất từ Chúa Cha, hay cách người tội lỗi được công chính hóa, là những vấn đề hấp dẫn con người thời nay, và sự sống còn hay không của đức tin Kitô giáo tùy thuộc vào đó? Thế giới đã tiến triển và chúng ta vẫn bị mắc kẹt trong các vấn đề và công thức mà thế giới thậm chí không còn biết ý nghĩa của chúng.

Trong các trận chiến thời Trung cổ, có một lúc, sau khi bộ binh, cung thủ và kỵ binh bị địch quân tràn ngập, cuộc hỗn chiến tập trung quanh nhà vua. Ở đó kết quả cuối cùng của cuộc chiến được định đoạt. Đối với chúng ta hôm nay, cuộc chiến cũng diễn ra quanh nhà vua. Có những tòa nhà và công trình được làm bằng kim loại theo cách mà nếu chạm vào một điểm nào đó, hoặc một hòn đá nào đó bị lấy đi, thì mọi sự sẽ đổ nhào. Trong tòa nhà đức tin Kitô giáo, viên đá góc chính là thần tính của Đức Kitô. Nếu viên đá này bị lấy đi, mọi sự sẽ đổ nhào và đầu tiên là niềm tin vào Ba Ngôi.

Vậy nên chúng ta thấy ngày nay có thể có hai thứ hiệp nhất: một sự hiệp nhất của đức tin và một sự hiệp nhất của vô tín; một thứ kết hợp tất cả những ai tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần, và Đức Kitô đã chết để cứu chuộc mọi người; và một thứ kết hợp tất cả những ai, dù tôn trọng Kinh Tin Kính Nicêa, tiếp tục công bố những công thức này nhưng làm cho nội dung thật sự của chúng trống rỗng. Một thứ đại kết trong đó, cuối cùng, mọi người tin vào những điều giống nhau, vì không ai tin vào bất cứ điều gì nữa, theo nghĩa của thuật ngữ “tin” trong Tân Ước.

Gioan viết trong Thư thứ nhất: “Ai là kẻ thắng được thế gian, nếu không phải là người tin rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa” (1Ga 5,5). Dựa vào tiêu chuẩn này, sự phân biệt căn bản giữa các Kitô hữu không phải là giữa người Công giáo, Chính Thống và Tin Lành, nhưng giữa những người tin rằng Đức Kitô là Con Thiên Chúa và những người không tin như thế.

***

Ngày mồng một tháng sáu năm thứ hai triều vua Đariô, có lời Đức Chúa phán, qua trung gian ngôn sứ Khacgai, với tổng đốc xứ Giuđa là Dơrupbaven con ông Santien, và với thượng tế Giêsua con ông Giêhôsađắc […]: “Bây giờ có phải là lúc để các ngươi ở trong các nhà có ghép gỗ đóng trần, còn Đền thờ thì lại hoang tàn đổ nát không?” (Kg 1:1-4).

Những lời trên của tiên tri Khacgai được nói cho chúng ta hôm nay. Đây có phải là lúc chúng ta tiếp tục chỉ quan tâm đến những gì liên hệ đến trật tự tôn giáo của chúng ta, phong trào của chúng ta, hay Giáo hội của chúng ta chăng? Đây không phải là lý do khiến chúng ta cũng “gieo nhiều mà gặt ít” (Kg 1,6) chăng? Chúng ta rao giảng và chúng ta hoạt động bằng nhiều cách, nhưng thế giới lìa xa Đức Kitô thay vì đến gần Người.

Dân Israel nghe lời nhắc nhở của vị tiên tri; ai nấy đều ngưng trang trí ngôi nhà của mình để cùng nhau xây dựng đền thờ của Thiên Chúa. Khi ấy Đức Chúa lại sai tiên tri của mình đến mang theo sứ điệp an ủi và khuyến khích, một sứ điệp cũng là cho chúng ta: “Vậy bây giờ, hỡi Dơrupbaven, hãy mạnh bạo lên! Này thượng tế Giêsua, con ông Giơhôsađắc, mạnh bạo lên nào! Toàn dân trong xứ hãy mạnh bạo lên. Sấm ngôn của Đức Chúa các đạo binh!” (Kg 2,4).

Hãy mạnh bạo lên, tất cả anh em canh cánh bên lòng sự hiệp nhất các Kitô hữu, và hãy bắt tay vào việc, vì Thầy ở với anh em, Chúa phán như thế!


XXX. “CHO ĐẾN CHẾT VÀ CHẾT TRÊN CÂY THẬP TỰ”

 “Christus factus est pro nobis oboediens usque ad mortem, mortem autem crucis – Vì chúng ta Đức Kitô đã vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2,8) Trong lễ kỷ niệm hai ngàn năm ngày sinh của Tông Đồ Phaolô, chúng ta hãy lắng nghe một số lời nói bốc lửa của ngài về mầu nhiệm sự chết của Đức Kitô mà chúng ta đang cử hành. Không ai hơn ngài có thể giúp chúng ta hiểu ý nghĩa và tầm quan trọng của sự chết đó.

Ngài đã viết cho người Corintô như một bản tuyên ngôn: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẻ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô chịu đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.” (1Cr 1,22-24).

Cái chết của Đức Kitô có một phạm vi phổ quát: “Nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết.” (2Cr 5,14). Cái chết của Ngài đã mang lại một ý nghĩa mới cho cái chết của mỗi người đàn ông và mỗi người phụ nữ.

Dưới mắt của Phaolô, thập giá mang một chiều kích vũ trụ. Trên thập giá, Đức Kitô đã phá đổ hàng rào ngăn cách, hòa giải con người với Thiên Chúa và với nhau khi giết chết thù ghét (x. Êp 2,14-16). Kể từ nay, truyền thống nguyên thủy sẽ phát huy chủ đề cây thập tự vũ trụ, với thanh dọc kết hợp trời và đất, và thanh ngang hòa giải tất cả các dân tộc trên thế giới. Một biến cố vừa mang tính vũ trụ vừa hết sức cá nhân: “Người đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Thánh Tông Đồ viết: Mỗi người là “người mà Đức Kitô đã chết cho” (Rm 14,15).

Từ tất cả những điều đó mà phát sinh tình cảm về thập giá, không còn là hình phạt, trách móc hay lý do phiền não, nhưng là vinh quang và niềm tự hào của người Kitô hữu, nghĩa là một sự chắc chắn vui mừng, kèm theo lòng biết ơn xúc động, mà con người đạt tới đó trong đức tin: “Ước gì tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (Gal 6,14)

Phaolô đã trồng cây thập giá ở trung tâm Giáo hội, giống như cột buồm lớn ở trung tâm con tàu; ngài biến thập giá thành nền tảng, trung tâm của Giáo hội. Ngài ấn định mãi mãi khuôn khổ của việc rao giảng Kitô giáo. Các sách Phúc âm, được viết sau ngài, sẽ theo lược đồ ấy, làm cho trình thuật về cuộc Khổ nạn và cái chết của Đức Kitô trở thành điểm quy chiếu cho mọi sự khác.

Người ta ngạc nhiên trước công trình do thánh Tông Đồ thực hiện. Ngày nay chúng ta tương đối dễ dàng nhìn thấy mọi sự trong ánh sáng này, sau khi thập giá Đức Kitô, như Thánh Augustinô nói, đã choán đầy vũ trụ và bây giờ tỏa sáng trên vương miện các vua[168]. Nhưng vào lúc Phaolô viết thư, thập giá vẫn còn đồng nghĩa với ô nhục, một cái gì đó thậm chí không được đề cập trong số những người có học.

Mục đích của Năm Phaolô không phải để hiểu rõ hơn tư tưởng của thánh Tông Đồ (điều này, các chuyên gia luôn thực hiện, chưa kể việc nghiên cứu khoa học luôn đòi hỏi thời gian lâu hơn một năm); như Đức Thánh Cha đã nhiều lần nói, đúng hơn là để học hỏi nơi Phaolô cách đối mặt với những thách thức hiện nay về đức tin.

Một trong những thách thức này, có lẽ công khai nhất từ trước đến nay, đã thể hiện bằng một khẩu hiệu quảng cáo được viết trên xe buýt ở London và các thủ đô khác của châu Âu: “Có lẽ không có Thiên Chúa. Vì vậy, đừng lo lắng và hãy tận hưởng cuộc sống”: “There’s probably no God. Now stop worrying and enjoy your life.”

Yếu tố gây chú ý nhất của quảng cáo này không phải câu mở đầu “Không có Thiên Chúa”, cho bằng câu kết luận: “Hãy tận hưởng cuộc sống!” Thông điệp ngấm ngầm là niềm tin vào Thiên Chúa không cho phép bạn tận hưởng cuộc sống, niềm tin ấy là kẻ thù của niềm vui. Không có niềm tin, sẽ có nhiều hạnh phúc hơn trên thế giới! Phaolô giúp chúng ta đáp lại thách thức này, bằng cách giải thích cho chúng ta nguồn gốc và ý nghĩa của mọi đau khổ, bắt đầu từ đau khổ của Đức Kitô.

Tại sao “Đức Kitô phải chịu khổ hình như thế để rồi mới vào trong vinh quang của Người“? (Lc 24,26) Một câu hỏi, mà đôi khi người ta đưa ra câu trả lời “yếu” và, theo một nghĩa nào đó, có tính trấn an. Bằng cách mạc khải chân lý của Thiên Chúa, Đức Kitô nhất thiết khơi ra sự chống đối của các quyền lực sự dữ và bóng tối và những quyền lực này, như đã xảy ra với các tiên tri, sẽ đưa đến chỗ từ chối và loại bỏ Ngài. Vậy câu “Đức Kitô phải chịu khổ hình như thế” hẳn phải được hiểu theo nghĩa “Đức Kitô phải chịu khổ hình như thế là chuyện không thể tránh được”.

Phaolô đưa ra một câu trả lời “mạnh” cho câu hỏi này. Sự cần thiết không phải tự nhiên, mà là siêu nhiên. Trong các quốc gia còn giữ lại một đức tin Kitô giáo cổ xưa, ý tưởng về đau khổ và thập giá hầu như luôn gắn liền với hy lễ và chuộc tội: người ta nghĩ rằng, đau khổ là cần thiết để chuộc tội và xoa dịu sự công bình của Thiên Chúa. Chính điều này khiến người ta, trong thời hiện đại, loại bỏ mọi ý tưởng về hy lễ dâng lên Thiên Chúa và cuối cùng, chính ý tưởng về Thiên Chúa.

Không thể phủ nhận là các Kitô hữu chúng ta đôi khi đã giơ đầu chịu báng trước tố cáo này. Nhưng đây là một sự hiểu lầm, một sự hiểu lầm từ nay được làm sáng tỏ khi người ta biết rõ hơn tư tưởng của Phaolô. Theo ngài, Thiên Chúa đã đặt Đức Kitô “làm hy lễ xá tội” (Rm 3,25), nhưng sự xá tội này không tác động đến Thiên Chúa để Người nguôi giận, nhưng đến tội lỗi để xóa bỏ nó. “Người ta có thể nói rằng chính Thiên Chúa, chứ không phải con người, chuộc tội… Hình ảnh này giống như một vết bẩn ăn mòn được loại bỏ, hoặc như làm mất tác dụng của một loại virus chết người, hơn là hình ảnh của cơn giận được xoa dịu bằng sự trừng phạt[169].”

Đức Kitô đã đem lại cho ý tưởng hy lễ một nội dung triệt để mới mẻ. “Không còn phải là con người gây ảnh hưởng lên Thiên Chúa để làm Người nguôi ngoai. Đúng hơn, chính Thiên Chúa hành động để con người từ bỏ sự thù nghịch với Người và với người lân cận. Sự cứu rỗi không bắt đầu bằng việc con người xin hòa giải, nhưng bằng lời khuyên của chính Thiên Chúa: “Anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa” (2Cr 5,20)[170].”

Vấn đề là Phaolô coi trọng tội lỗi, không tầm thường hóa nó. Đối với ngài tội lỗi là nguyên nhân chính dẫn đến bất hạnh của con người, đó là từ chối Thiên Chúa, chứ không phải Thiên Chúa là nguyên nhân! Tội lỗi giam hãm con người trong “dối trá” và “bất công” (Rm 1,18tt; 3,23), lên án chính vũ trụ vật chất là “hư ảo” và “hư nát” (Rm 8,19tt); nó cũng là nguyên nhân cuối cùng của các tai họa xã hội làm ảnh hưởng đến nhân loại.

Chúng ta không ngừng phân tích cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay trên thế giới và nguyên nhân của nó, nhưng ai dám đặt rìu vào gốc rễ và nói về tội lỗi? Giới tinh hoa tài chính và kinh tế thế giới đã trở thành một đầu máy điên cuồng chạy thả ga, bất kể phần còn lại của thế giới đang dừng lại, ở xa trên ke. Tất cả chúng ta đang đi “ngược chiều”.

Thánh Tông Đồ định nghĩa lòng tham là “thờ ngẫu tượng” (Cl 3,5) và chỉ ra lòng ham muốn tiền bạc là “cội rễ sinh ra mọi điều ác” (1Tm 6,10). Chúng ta có thể chứng minh ngài sai không? Tại sao có bao nhiêu gia đình phải túng thiếu, hàng loạt công nhân không có việc làm, nếu không vì một số người khát khao lợi nhuận đến vô độ?

Tại sao trong vụ động đất mới đây ở Abruzzes, nhiều dinh thự vừa mới xây xong đã sụp đổ? Điều gì đã dẫn đến việc dùng cát biển thay cho xi măng?

***

Qua cái chết của mình, Đức Kitô không chỉ tố cáo và chiến thắng tội lỗi, Ngài còn mang lại cho đau khổ một ý nghĩa mới, kể cả đau khổ không phụ thuộc vào tội lỗi của bất cứ ai, như đau khổ của biết bao nhiêu nạn nhân của trận động đất làm rung chuyển khu vực lân cận Abruzzes. Ngài đã biến nó thành một con đường đưa tới sự sống lại và sự sống. Ý nghĩa mới Đức Kitô mang lại cho đau khổ không biểu lộ qua cái chết của Ngài, nhưng ở chỗ vượt qua cái chết, nghĩa là sự sống lại. Ngài là Đấng “đã bị trao nộp vì tội lỗi và đã được Thiên Chúa cho sống lại để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25): hai biến cố không thể tách rời trong tư tưởng của Phaolô và của Giáo hội.

Đó là một kinh nghiệm phổ quát của con người: trong cuộc sống này, lạc thú và đau buồn nối tiếp nhau đều đặn giống như chỗ ngập làm người đắm tầu chìm xuống, tiếp theo sóng biển lại đưa người đó lên. Thi sĩ ngoại đạo Lucretius viết: “Tôi không biết có điều gì đó đắng đót vọt lên từ chỗ sâu thẳm nhất của mỗi lạc thú và làm chúng tôi đau khổ giữa cơn khoái lạc[171].” Việc sử dụng ma túy, lạm dụng tình dục, bạo lực giết người, gây ra khoái cảm vào thời điểm đó, nhưng đưa đến sự tan rã về luân lý, và thông thường cả thể lý nữa, của con người.

Nhờ cuộc Khổ nạn và cái chết của mình, Đức Kitô đã lật ngược mối quan hệ giữa lạc thú và buồn đau. “Người đã khước từ niềm vui dành cho mình, mà cam chịu khổ hình thập giá” (Dt 12,2). Không còn là một lạc thú kết thúc trong đau khổ, nhưng là một đau khổ dẫn đến sự sống và niềm vui. Đây không chỉ là một cách khác theo nhau đối với cả hai; chính là niềm vui có tiếng nói cuối cùng theo cách này, không phải là đau khổ, và niềm vui sẽ kéo dài mãi mãi. “Một khi Đức Kitô sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ còn chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người” (Rm 6,9). Và cái chết cũng sẽ không còn quyền gì đối với chúng ta nữa.

Mối quan hệ mới này giữa đau khổ và lạc thú được phản ánh trong cách Kinh thánh đánh dấu thời gian. Theo tính toán của con người, ngày bắt đầu bằng buổi sáng và kết thúc bằng đêm; đối với Kinh thánh, nó bắt đầu bằng đêm và kết thúc bằng ngày: “Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất“, câu chuyện sáng tạo nói như vậy (St 1,5). Việc Đức Giêsu chết vào buổi chiều và sống lại vào buổi sáng có một ý nghĩa thật sự. Không có Thiên Chúa, cuộc sống là một ngày kết thúc bằng đêm; với Chúa, chính là một đêm kết thúc bằng một ngày và một ngày không có mặt trời lặn.

Do đó, Chúa Kitô đã không đến làm tăng sự đau khổ của con người cũng không rao giảng sự cam chịu với đau khổ; Ngài đến đem lại cho nó một ý nghĩa, và loan báo nó đã chấm dứt và bị vượt qua. Khẩu hiệu trên xe buýt ở London và các thành phố khác cũng được đọc cùng lúc bởi những bậc cha mẹ có đứa con ốm yếu, bởi những người độc thân hoặc những người đã mất việc làm, bởi những người lưu vong đã chạy trốn nỗi kinh hoàng của chiến tranh, bởi những người đã chịu những bất công nghiêm trọng trong cuộc sống… Tôi cố gắng hình dung phản ứng của họ bằng cách đọc những lời này: “Có lẽ không có Thiên Chúa: vậy hãy tận hưởng cuộc sống!” Và với cái gì?

Đau khổ chắc chắn vẫn là một mầu nhiệm đối với mọi người, đặc biệt sự đau khổ của những người vô tội, mà nếu không có niềm tin vào Thiên Chúa, nó chỉ có thể là vô cùng phi lý. Người ta thậm chí không còn hy vọng cứu chuộc cuối cùng nơi Ngài. Thuyết vô thần là một thứ xa xỉ mà chỉ những người có đặc quyền trong cuộc sống mới có thể có được, những người đã có tất cả, bao gồm cả khả năng cống hiến hết mình cho học tập và nghiên cứu.

***

Đây không phải là sự thiếu nhất quán duy nhất của quảng cáo này. “Có lẽ không có Thiên Chúa”: vậy có thể có Ngài, người ta không thể hoàn toàn loại trừ thực tế là Ngài hiện hữu. Nhưng này người anh em không tin, nếu không có Thiên Chúa, tôi chẳng mất gì cả; ngược lại nếu có Thiên Chúa, bạn đã mất hết! Người ta hầu như nên cảm ơn người thúc đẩy chiến dịch quảng cáo này; chiến dịch này phục vụ cho sự nghiệp của Thiên Chúa hơn rất nhiều luận chứng hộ giáo của chúng ta. Chính nó cho thấy sự nghèo nàn về lý lẽ của mình và góp phần đánh thức nhiều lương tâm đang yên ngủ.

Nhưng Thiên Chúa có một ý niệm phán xét khác hẳn với chúng ta và nếu Người thấy một lòng ngay hoặc một sự vô tri không có lỗi, Người cũng cứu người nào đã hăng say chiến đấu với Người trong suốt cuộc đời. Những tín hữu chúng ta phải chuẩn bị cho những bất ngờ trong lãnh vực này. Thánh Augustinô kêu lên: “Có bao nhiêu chiên ở bên ngoài bầy chiên và bao nhiêu sói ở bên trong bày!” “Quam multae oves foris, quam multi lupi intus![172]

Thiên Chúa có thể biến những người phủ nhận Người quyết liệt nhất thành những tông đồ say mê nhất của Người. Phaolô là bằng chứng. Saolê thành Tarsê đã làm gì để xứng đáng với cuộc gặp gỡ lạ thường này với Đức Kitô? Ngài đã tin gì, hy vọng gì, chịu đựng gì? Những gì Thánh Augustinô nói về việc chọn lựa của Thiên Chúa thì áp dụng cho ngài: “Hãy tìm kiếm công đức, hãy tìm kiếm công lý, hãy suy gẫm và xem liệu bạn có tìm thấy điều gì khác ngoài ân sủng[173].” Chính như vậy mà ngài giải thích lời Chúa kêu gọi mình: “Tôi không đáng được gọi là tông đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa. Nhưng tôi có là gì cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1Cr 15,9-10).

Thập giá Đức Kitô là lý do hy vọng cho mọi người và Năm Phaolô cũng là một dịp ân sủng cho người không tin và đang tìm kiếm. Có một điều ủng hộ họ trước mặt Thiên Chúa: đau khổ! Giống như phần còn lại của nhân loại, những người vô thần cũng phải chịu đau khổ trong cuộc sống; và kể từ khi Con Thiên Chúa gánh lấy nó, đau khổ có một quyền năng cứu chuộc gần như mang tính bí tích. Đức Gioan Phaolô viết trong Tông thư Salvifici doloris: “Đó là một kênh, qua đó các năng lượng cứu độ của thập giá Đức Kitô được cung cấp cho nhân loại[174].”

Theo sau lời kêu gọi cầu nguyện sắp tới đây “cho những người không tin vào Thiên Chúa” là một lời cầu nguyện cảm động của Đức Thánh Cha, bằng tiếng Latinh. Lời đó thế này: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đặt vào trái tim con người niềm khát vọng đi tìm kiếm Chúa, khiến con người chỉ được bình an khi đã gặp thấy Chúa. Xin cho mọi người khắp thế gian, dù đang sống giữa muôn vàn nghịch cảnh, vẫn có thể nhận ra những dấu chỉ của tình yêu Chúa; và khi thấy các tín hữu sống đời bác ái yêu thương, họ sẽ vui mừng tin nhận duy có Chúa là Thiên Chúa đích thực và là Cha của hết mọi người. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.”


XXXI. “CHÚNG TA CÓ MỘT VỊ THƯỢNG TẾ SIÊU PHÀM”

Chúng ta có một tư tế siêu phàm, đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa” (Dt 4,14): chính những lời này mở đầu cho đoạn thư Do Thái mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc II. Trong Năm Linh Mục này, phụng vụ hôm nay cho phép chúng ta trở lại với nguồn gốc lịch sử của chức tư tế Kitô giáo.

Cái chết của Đức Kitô là nguồn gốc của hai chức tư tế: chức tư tế thừa tác của các giám mục và linh mục, và chức tư tế phổ quát của tất cả các tín hữu. Chức tư tế sau cũng dựa trên hy tế của Đức Kitô. Sách Khải huyền nói: “Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi của chúng ta, làm cho chúng ta trở thành vương quốc và hàng tư tế để phục vụ Thiên Chúa là Cha của Người” (Kh 1,5-6). Điều hết sức quan trọng là phải hiểu bản chất của hy tế và chức tư tế của Đức Kitô, vì chính từ chức tư tế này mà linh mục cũng như giáo dân, theo cách khác nhau, phải mang dấu ấn và tìm cách sống theo những đòi hỏi của nó.

Thư Do Thái giải thích chức tư tế của Đức Kitô mới mẻ và độc đáo ở điểm nào, không chỉ liên quan đến chức tư tế của giao ước cũ, mà còn đến tất cả định chế tư tế ngay cả ở bên ngoài Kinh thánh.

Đức Kitô, đã đến làm Thượng Tế đem phúc lộc của thế giới tương lai […]. Người đã vào cung thánh, không phải với máu các con dê, con bò, nhưng với chính máu của mình. Người vào chỉ một lần thôi, và đã lãnh được ơn cứu chuộc vĩnh viễn cho chúng ta. Vậy nếu máu các con dê, con bò, nếu nước tro của xác bò cái, đem rảy lên mình những kẻ nhiễm uế còn thánh hóa được họ nghĩa là cho thân xác họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy. Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Kitô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống.” (Dt 9,11-14)

Chính đó là sự mới mẻ. Mọi linh mục khác đều hiến dâng một cái gì đó bên ngoài, còn Đức Kitô, Ngài đã dâng hiến chính mình; mọi linh mục khác đều dâng các tế vật, còn Đức Kitô, Ngài đã dâng hiến chính mình làm tế vật! Thánh Augustinô tóm tắt trong một công thức nổi tiếng loại tư tế mới này, trong đó linh mục và tế vật là một: “Ideo sacerdos, quia sacrificium“, nghĩa là “linh mục vì là tế vật[175]”.

***

Năm 1972, một nhà tư tưởng nổi tiếng người Pháp đã tung ra luận đề theo đó “bạo lực là trái tim và linh hồn bí ẩn của thiêng thánh[176].” Quả thực, hy tế là nguồn gốc và trung tâm của tất cả các tôn giáo, nghi thức về vật thế chỗ luôn bao gồm sự hủy diệt và cái chết. Nhật báo “Le Monde” hoan nghênh quả quyết này của René Girard, khi nói rằng quả quyết này biến năm đó thành “một năm đánh dấu bằng dấu hoa thị trong biên niên sử của nhân loại”. Nhưng đã lâu trước đây, nhà thông thái này đã đến với Kitô giáo, và vào Lễ Phục sinh năm 1959, đã công khai hóa “sự hoán cải” của mình, tuyên bố mình là một tín đồ và trở lại Giáo hội.

Điều này cho phép ông, trong các nghiên cứu về sau, không dừng lại để phân tích cơ chế của bạo lực, nhưng chỉ ra cách thoát khỏi nó. Tiếc thay nhiều người ngày nay vẫn tiếp tục nêu René Girard như một người đã tố cáo liên minh giữa thánh thiêng và bạo lực, không để ý đến lời ông nhấn mạnh sự tan vỡ toàn diện và vĩnh viễn của liên minh này trong mầu nhiệm vượt qua của Đức Kitô.

Theo René Girard, Đức Kitô vạch mặt và phá vỡ cơ chế thần thiêng hóa bạo lực, biến mình thành “vật bung xung” (bouc émissaire) cho nhân loại, nạn nhân vô tội của mọi bạo lực. Đức Kitô đã không đến để hiến dâng máu của người khác, nhưng của chính mình. Ngài đã không đặt tội lỗi của mình lên lưng người khác – con người hay động vật – Ngài đã gánh trên vai tội lỗi của mọi người: “Tội lỗi của chúng ta, chính Người đã mang vào thân thể mà đưa lên cây thập giá” (1Pr 2,24).

Quá trình dẫn đến sự ra đời của tôn giáo bị đảo ngược so với lời giải thích của Freud. Trong Đức Kitô, chính Thiên Chúa biến mình thành nạn nhân, và không phải nạn nhân (người cha nguyên thủy theo Freud), mà, một khi đã hy sinh, sẽ được nâng lên địa vị thần thánh (Cha trên trời). Đó không còn là con người hiến tế cho Thiên Chúa, mà là Thiên Chúa, Đấng đã “hiến tế” mình cho con người, bằng cách trao nộp Con Một cho sự chết vì con người (x. Ga 3,16). Hy tế không phải để “xoa dịu” Thiên Chúa nữa, nhưng đúng hơn để xoa dịu con người, khiến con người không còn thù nghịch với Thiên Chúa và với người lân cận.

Khi ấy người ta có thể tiếp tục nói về hy tế, nhân nói về cái chết của Đức Kitô và như vậy về Thánh lễ chăng? Trong một thời gian dài, Girard đã bác bỏ khái niệm này, coi nó như quá bị ý tưởng bạo lực ghi dấu, nhưng cuối cùng ông thừa nhận khả năng này theo truyền thống Kitô giáo, với điều kiện nhìn thấy một loại hy tế mới trong hy tế của Đức Kitô, và nhìn thấy “sự kiện trung tâm trong lịch sử tôn giáo của nhân loại” trong sự thay đổi ý nghĩa này.

***

Nhìn dưới ánh sáng này, hy tế của Đức Kitô chứa đựng một thông điệp tuyệt vời cho thế giới hôm nay. Ông nói to cho thế giới biết rằng bạo lực là một cặn bã cổ, một sự thụt lùi về các giai đoạn nguyên thủy và lỗi thời của lịch sử nhân loại và – trong trường hợp của các tín hữu – một sự chậm trễ có lỗi và tai tiếng trong việc nhận ra bước nhảy vọt về phẩm chất do Đức Kitô tạo ra.

Ông cũng nhắc nhớ rằng bạo lực lúc nào cũng thua. Trong hầu hết các thần thoại cổ xưa, nạn nhân là kẻ chiến bại và người đao phủ thủ là người chiến thắng[177]. Đức Giêsu đã thay đổi dấu chỉ chiến thắng. Ngài đã mở đầu một loại chiến thắng mới, không phải ở chỗ làm ra những nạn nhân, nhưng là biến mình thành nạn nhân. Augustinô định nghĩa Đức Giêsu trên thập giá là “Victor quia victima!”, Đấng chiến thắng vì là tế vật[178].

Giá trị hiện đại của việc bảo vệ các nạn nhân, các người nghèo và đời sống bị đe dọa, xuất hiện trong vùng Kitô giáo, đó là một thành quả muộn màng của cuộc cách mạng do Đức Kitô thực hiện. Chúng ta có bằng chứng ngược lại. Ngay khi người ta bỏ (như Nietzsche đã bỏ) nhãn quan Kitô giáo để làm sống lại nhãn quan ngoại giáo, người ta quên mất cuộc chinh phục này, và lại bắt đầu tôn dương “người mạnh mẽ, quyền lực, đến tột đỉnh là siêu nhân”; và người ta định nghĩa những giá trị Kitô giáo như tạo ra một thứ “đạo đức của những người nô lệ”, kết quả của sự oán hận bất lực của kẻ yếu chống lại kẻ mạnh.

Nhưng, thật không may, chính nền văn hóa hiện đại này lên án bạo lực, thì mặt khác lại ủng hộ và tán dương nó. Người ta rên rỉ trước một số biến cố đẫm máu được tờ báo tường thuật, mà không nhận ra rằng đồng thời chỗ được chuẩn bị cho các biến cố đó trong trang quảng cáo tiếp theo hoặc trong chương trình truyền hình được thông báo. Việc người ta ngày càng thích các chi tiết trong mô tả bạo lực – được tìm đọc đầu tiên và đáng tin nhất – chỉ ủng hộ bạo lực mà thôi. Kết quả là người ta không hồi tâm về sự dữ, lại còn được khuyến khích làm sự dữ. Thật đáng lo ngại khi thấy bạo lực và máu đã là những thành phần quảng cáo trong các phim và trò chơi điện tử, khiến người ta bị chúng thu hút và bén mùi.

Cũng nhà thông thái nói trên đã vạch trần ma trận của cơ chế bạo lực là bắt chước, xu hướng bẩm sinh này gắn liền với bản tính con người, coi những gì người khác muốn là đáng muốn, do đó, lặp lại những gì người ta thấy làm cho người khác. Tâm lý “bày đàn” đưa đến việc chọn một “vật bung xung” để tìm ra, trong cuộc tranh đấu chống lại kẻ thù chung – nói chung yếu tố yếu nhất, yếu tố khác biệt – một sự gắn kết nhất thời và giả tạo giữa con người.

Chúng ta có một ví dụ về việc nại tới bạo lực của những người trẻ trong các sân vận động, trong việc bắt nạt ở trường học và trong một số cuộc biểu tình trên đường phố để lại phá hoại và đổ nát. Thế hệ thanh niên này được sự ưu đãi hiếm hoi là đã không biết đến chiến tranh thực sự, chưa bao giờ bị động viên, giải trí (vì đây thật sự là một trò chơi, cho dù ngu ngốc và đôi khi bi thảm) bằng cách bày ra những cuộc chiến tranh nhỏ, được thúc đẩy bởi cùng một bản năng như một bày lũ man rợ.

***

Tuy vậy còn có một bạo lực nghiêm trọng và lan rộng hơn so với bạo lực của những người trẻ trong các sân vận động và trên đường phố. Ở đây, chúng ta sẽ không nói về bạo lực đối với trẻ em, tội mà một số người trong hàng giáo sĩ đã phải chịu ô danh; người ta đã nói đủ về nó ở chỗ khác. Tôi nói về bạo hành đối với phụ nữ. Tôi có cơ hội giúp cho những con người và các tổ chức tranh đấu chống lại bạo hành này hiểu rằng Đức Kitô là đồng minh tốt nhất của họ.

Đây là bạo hành ngày càng nghiêm trọng vì nó thường xảy ra trong khung cảnh gia đình, người khác không biết, khi nó không được biện minh dứt khoát bởi những định kiến về tôn giáo giả tạo hay văn hóa. Các nạn nhân thấy mình cô đơn cách tuyệt vọng và bất lực. Chỉ có ngày hôm nay, nhờ sự hỗ trợ và khuyến khích của nhiều hiệp hội và tổ chức, một số người mới mạnh mẽ bước ra ánh sáng và tố giác thủ phạm.

Phần lớn bạo hành này có thêm khía cạnh tình dục. Đàn ông nghĩ mình đang chứng tỏ nam tính của mình bằng cách làm khổ phụ nữ, mà không nhận ra rằng họ chỉ cho thấy sự bất an và hèn nhát của mình. Ngay cả đối với người phụ nữ có hành động xấu, thật là tương phản giữa cách hành xử của Đức Kitô và cách hành xử của một số giới! Những người cuồng tín kêu gọi ném đá; trước những người dẫn đến cho Ngài một người phụ nữ ngoại tình, Đức Kitô nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi!” (Ga 8,7). Ngoại tình là một tội do hai người phạm, nhưng lúc nào cũng chỉ có một người bị trừng phạt.

Bạo hành đối với phụ nữ bao giờ cũng đáng ghét khi xảy ra nơi lẽ ra phải tôn trọng và yêu thương nhau, trong mối quan hệ vợ chồng. Đúng là bạo hành không luôn luôn và hoàn toàn là lỗi của một bên, người ta cũng có thể bạo hành bằng lời nói, nhưng không ai có thể phủ nhận rằng, trong phần lớn các trường hợp, nạn nhân là phụ nữ.

Trong một số gia đình, đàn ông coi mình được quyền lên tiếng và giơ tay đánh vợ. Vợ con đôi khi sống dưới sự đe dọa thường xuyên của người chồng người cha hay nổi giận. Đối với người này hay người ngang hàng với ông ta, nên lịch sự nói: “Các bạn thân mến, khi tạo ra chúng ta thuộc nam giới, Thiên Chúa không có ý định cho chúng ta quyền nổi giận và đập tay xuống bàn, cho dù có lý do nào đi nữa. Lời Thiên Chúa nói với Evà sau khi sa ngã: “Và nó (người chồng) sẽ thống trị ngươi” (St 3,16) là một lời tiên báo cay đắng, không phải một sự cho phép.”

Đức Gioan Phaolô II đã khai mào cách thực hành cầu xin sự tha thứ cho những sai lầm tập thể. Một trong những cách thực hành này, công bằng nhất và cần thiết nhất, sẽ là sự tha thứ mà một nửa nhân loại phải cầu xin nửa kia: chồng đối với vợ. Lời cầu xin này không thể chung chung và trừu tượng. Đặc biệt đối với những người tự xưng là Kitô hữu, nó phải đưa tới những cử chỉ cụ thể hoán cải, những lời xin lỗi và hòa giải trong gia đình và xã hội.

***

Trong bài trích Thư gửi tín hữu Do Thái mà chúng ta đã nghe, tác giả tiếp tục như sau: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khấn nguyện len Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết”. Đức Giêsu đã biết đến tình trạng của nạn nhân trong tất cả sự tàn ác của nó, những tiếng khóc nghẹn ngào và những giọt lệ âm thầm. Thực sự, “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta”. Trong mỗi nạn nhân của bạo lực, Đức Kitô làm sống lại cách mầu nhiệm kinh nghiệm trần thế của mình. Chính về từng người trong số họ mà Ngài nói: “là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25,40).

Họa hiếm mới có một sự trùng hợp là năm nay Lễ Vượt Qua của chúng ta rơi vào cùng tuần với Lễ Vượt Qua của người Do Thái, là tổ tiên của nó và là cái nôi hình thành ra nó. Điều này thúc đẩy chúng ta hướng về người anh em Do Thái chúng ta. Do kinh nghiệm, họ biết nạn nhân của bạo hành tập thể là như thế nào và chính vì thế, họ sẵn sàng nhận ra các triệu chứng tái phát của nó.

Chúng ta hãy chúc cho những người anh em Do Thái của chúng ta một lễ Phục Sinh vui vẻ. Chúng ta dùng chính những lời của thầy Gamaliel trong sách Seder – nghi lễ Vượt Qua Do Thái – được phụng vụ lâu đời nhất của Kitô giáo giữ lại:

“Chính Người đã làm cho chúng ta vượt qua

từ nô lệ đến tự do,

từ nỗi buồn đến niềm vui,

từ tang tóc đến lễ lạc

từ bóng tối đến ánh sáng

từ tôi đòi đến cứu chuộc

để chúng ta ca lên trước mặt Người: Halleluia[179].”


XXXII. “ÔNG NÀY ĐÍCH THỰC LÀ CON THIÊN CHÚA”

Thánh Phaolô viết cho Timotê rằng, trong cuộc Khổ nạn của mình, Đức Kitô “đã làm chứng bằng một lời tuyên xưng cao đẹp” (1Tm 6,13). Người ta tự hỏi: làm chứng về điều gì vậy? Không phải là sự thật về cuộc đời và sự nghiệp của Ngài. Nhiều người đã chết, và vẫn còn chết ngày hôm nay vì một sự nghiệp không tốt mà vẫn nghĩ rằng nó tốt. Phải, chính sự sống lại làm chứng cho sự thật về Đức Kitô. Ở Arêôpagô thành Athêna, Phaolô đã thuyết giảng như sau: “Để bảo đảm điều ấy (tức sự thật về Đức Kitô), Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại từ cõi chết” (Cv 17,31).

Cái chết không làm chứng cho sự thật, nhưng cho tình yêu của Đức Kitô. Hoặc đúng hơn, cái chết là bằng chứng tuyệt vời của tình yêu này. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Người ta có thể thắc mắc là còn có một tình yêu lớn hơn là hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình: hy sinh tính mạng vì kẻ thù của mình. Chính đó là việc Đức Giêsu đã làm. Thánh Phaolô viết trong thư Rôma: “Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,7-8).

“Đức Kitô đã chết khi chúng ta là kẻ thù của Ngài, để làm cho chúng ta trở thành bạn hữu của Ngài[180].”

Một “thần học về thập giá” một chiều có thể làm chúng ta quên đi điều cốt yếu. Thập giá không chỉ là việc Thiên Chúa xét xử thế gian, bác bỏ sự khôn ngoan của thế gian, mạc khải tội lỗi của nó, mà còn mạc khải tiếng nói “Vâng” đầy yêu thương của Người.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, trong cuốn sách cuối cùng của ngài về Đức Giêsu, đã viết: “Sự bất công, một sự dữ như một thực tại, không thể đơn giản không được biết đến, không thể để nó yên đó. Người ta phải hủy bỏ nó, chiến thắng nó. Chính đó là sự thương xót đích thực. Và vì con người không có khả năng làm điều đó, chính Thiên Chúa giờ đây làm điều đó. Đây là lòng nhân từ “vô điều kiện” của Thiên Chúa[181].”

***

Nhưng làm sao ta có can đảm nói về tình yêu của Thiên Chúa, khi mà trước mắt ta, có biết bao nhiêu thảm kịch cho con người, chẳng hạn tai họa đã giáng xuống trên đất Nhật Bản, hay cuộc thảm sát trên biển trong những tuần vừa qua? Còn nếu giữ im lặng hoàn toàn không lên tiếng, thì cũng là phản bội lại đức tin, và không biết đến ý nghĩa của mầu nhiệm mà chúng ta đang cử hành.

Có một sự thật phải công bố lớn tiếng trong ngày thứ Sáu tuần Thánh này, đó là: Đấng mà chúng ta chiêm ngắm trên thập giá, là đích thân Thiên Chúa. Ngài cũng là con người Giêsu Nadarét, đúng vậy, nhưng con người này và Con Thiên Chúa hằng hữu chỉ là một. Đây là định tín đầu tiên của Công đồng Nicêa, theo đó, Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là chính Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha. Bao lâu người ta không công nhận và không coi trọng tín điều căn bản này của người Kitô hữu, bấy lâu sự đau khổ của con người không có lời giải đáp.

Chúng ta không thể nói rằng “lời cầu xin của Gióp vẫn không có câu giải đáp”, cũng như đức tin Kitô giáo không đưa ra câu giải đáp liên quan đến sự đau khổ của con người, nếu ngay từ đầu người ta từ chối trả lời là sự đau khổ này đã có câu giải đáp. Phải làm gì để bảo đảm cho ai đó là đồ uống này không có thuốc độc? Chúng ta cứ uống trước người đó, trước mặt người đó. Đây là điều Thiên Chúa đã làm với con người. Người đã uống chén đắng cuộc Khổ nạn. Thế nên đau khổ của con người không thể bị đầu độc, không thể chỉ là tiêu cực, mất mát, phi lý, nếu chính Thiên Chúa đã chọn uống nó. Dưới đáy chén, phải có một hạt ngọc trong đó.

Chúng ta biết hạt ngọc đó là gì: chính là sự sống lại. “Thật vậy, tôi nghĩ rằng: những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải nơi chúng ta” (Rm 8,18), còn nữa: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ, sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4).

Nếu cuộc đời kết thúc ở trần gian này, thì quả là đáng thất vọng, khi nghĩ đến có hàng triệu và có lẽ hàng tỉ người, ra đi quá bất lợi, từ điểm xuất phát phải ở trong tình trạng nghèo đói và kém phát triển, thậm chí không thể tham gia cuộc thi. Rất may là không phải như vậy. Cái chết không những hủy bỏ những khác biệt, mà còn đảo ngược chúng. Chúng ta biết câu chuyện dụ ngôn nhà phú hộ và anh Ladarô nghèo đói: “Thế rồi người nghèo này cũng chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Abraham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn” (Lc 16,22-23). Không thể áp dụng cách đơn giản hóa quá mức lược đồ này vào thực tại xã hội, nhưng dụ ngôn vẫn là một lời cảnh báo: niềm tin vào sự sống lại không để ai yên trong cuộc sống của mình. Nó cũng nhắc ta rằng: kiểu nói “sống và để người khác sống” không bao giờ biến thành “sống và để mặc người khác chết”.

Lời giải đáp của thập giá không chỉ riêng cho người Kitô hữu chúng ta, nhưng là cho mọi người, vì Con Thiên Chúa chết cho mọi người. Trong mầu nhiệm cứu chuộc, có một khía cạnh khách quan và một khía cạnh chủ quan. Khía cạnh khách quan là mầu nhiệm cứu chuộc; khía cạnh chủ quan là ý thức về mầu nhiệm ấy, đáp ứng đức tin với mầu nhiệm ấy. Mầu nhiệm thì lớn hơn là ý thức về mầu nhiệm. Tuy vậy, như Công đồng Vatican II nói, “Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua, cách nào đó chỉ có Thiên Chúa mới biết[182].”

Một cách tham dự vào mầu nhiệm này là biết chịu đau khổ. Sau ngày bị ám sát hụt và phải điều trị trong một thời gian, Đức Gioan Phaolô II đã nói: “Chịu đau khổ là có một tâm hồn đặc biệt biết mở rộng đón nhận những hành động đầy sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa dành cho nhân loại trong Đức Kitô[183].” Sự đau khổ, mọi đau khổ, cách riêng của những người vô tội, cho phép tiếp xúc với thập giá Đức Kitô cách mầu nhiệm, mà “chỉ mình Thiên Chúa biết”.

***

Sau Đức Giêsu thì người làm chứng, người “uống chén đắng”, là các vị tử đạo. Trình thuật về cái chết của các ngài có tựa đề là “passio”, Khổ nạn, như trình thuật về những đau khổ của Chúa Giêsu, mà chúng ta vừa nghe.

Thế giới Kitô giáo hôm nay lại đang phải chịu thử thách tử đạo, một việc người ta tưởng đã qua rồi, khi các chế độ toàn trị vô thần sụp đổ. Chúng ta không được phép yên lặng trước chứng từ của họ. Các Kitô hữu sơ khai đã rất mực tôn kính các vị tử đạo. Những trình thuật về các cuộc tử đạo này được đọc và phổ biến trong Giáo hội với sự kính trọng vô bờ. Thậm chí hôm nay, trong ngày thứ Sáu tuần Thánh năm 2011 này, trong một quốc gia lớn tại châu Á, các Kitô hữu đã cầu nguyện và bước đi trong thinh lặng trên các đường phố để xua đi mối đe dọa đang lởn vởn trên họ.

Cần phân biệt những trình thuật xác thực với những câu chuyện hơi hoang đường được viết ra sau khi cuộc bách hại chấm dứt. Trong các trình thuật xác thực, có thể nói không có dấu vết luận chiến chống lại kẻ bách hại. Người ta hoàn toàn chú ý tới thái độ và hành vi anh hùng của các vị tử đạo, không quan tâm tới sự độc ác của quan tòa và lý hình. Thánh Cyprianô còn bảo môn đệ đưa 25 đồng tiền vàng cho đao phủ thủ sẽ chém đầu mình. Các ngài là những môn đệ của Đấng đã nói trước khi chết: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. Trong cuốn sách cuối cùng của mình[184], Đức Thánh Cha Biển Đức XVI nhắc nhở chúng ta: “Máu Đức Giêsu nói một tiếng nói khác với tiếng nói Abel (x. Dt 12,24); không đòi hỏi báo thù hay trừng phạt, mà chỉ là hòa giải[185].”

Cũng vậy, thế giới cũng nghiêng mình trước những chứng nhân đức tin hôm nay. Ta hiểu vì sao cuốn phim Des hommes et des dieux do Pháp sản xuất, thành công ngoài sức tưởng tượng. Phim kể về 7 đan sĩ dòng Xitô người Pháp đã bị nhóm cuồng tín giết chết ở Tibhirine tháng ba năm 1996, vì không chịu rời nơi trú ẩn giữa các anh em người Hồi giáo. Và làm sao không ngưỡng mộ những lời viết trong di chúc của ông Shahbaz Bhatti, một chính trị gia Công giáo bị giết vì đức tin ở Pakistan tháng trước? Di chúc của ông cũng được để lại cho chúng ta, những người anh em của ông trong đức tin, và sẽ là vô ơn khi nhanh chóng lãng quên nó. Ông viết:

“Người ta đã đề nghị trao cho tôi một chức vụ cao cấp trong chính quyền, đã yêu cầu tôi từ bỏ cuộc tranh đấu. Nhưng tôi luôn từ chối, dù biết nguy hiểm đe dọa tính mạng của tôi. Tôi không muốn được quần chúng hoan hô, không muốn chức quyền. Tôi chỉ muốn một chỗ dưới chân Chúa Giêsu. Tôi muốn cuộc đời tôi, tính khí tôi, hành động của tôi nói thay cho tôi rằng tôi đang theo chân Chúa Giêsu Kitô. Ước muốn này mạnh mẽ trong tôi, đến nỗi tôi coi mình như người được đặc ân, nếu như, trong nỗ lực và tranh đấu của tôi nhằm giúp đỡ những người túng thiếu, nghèo khổ, những Kitô hữu bị bách hại ở Pakistan, Chúa Giêsu muốn nhận lễ hy sinh của cuộc đời tôi. Tôi muốn sống cho Chúa, và cũng muốn chết vì Ngài”.

Người ta có cảm tưởng đang đọc lại những gì thánh Ignatiô Antiokia đã nói, khi ngài đến Rôma để chịu tử đạo. Nhưng sự yên lặng của các nạn nhân không biện minh cho sự thờ ơ đáng trách của thế giới trước vận mệnh của họ. “Người công chính tiêu vong, thế mà chẳng ai lưu tâm đến; người hiếu nghĩa bị cất đi, mà chẳng ai hay” (Is 57,1).

***

Những vị tử đạo trong Kitô giáo không phải là những người duy nhất chịu khổ và chịu chết, như chúng ta đã thấy. Chúng ta có thể cung cấp những gì cho người không tin, ngoài việc chúng ta tin chắc đau khổ đã được cứu chuộc? Chúng ta được mời gọi khổ với người khổ, khóc với người khóc (x. Rm 12,5). Trước khi loan báo sự sống lại và sự sống, Đức Giêsu đã khóc trước cái tang của các chị Ladarô (Ga 11,35). Vào lúc này, chúng ta có thể đau khổ và khóc đặc biệt với người dân Nhật Bản, những người vừa mới phải chịu một trong những thiên tai kinh hoàng nhất trong lịch sử. Chúng ta cũng có thể nói với những anh em này trong nhân loại rằng chúng ta ngưỡng mộ phẩm giá của họ và tấm gương về tư thế và liên đới lẫn nhau mà họ đã để lại cho thế giới.

Sự toàn cầu hóa ít nhất đem lại hậu quả tích cực này: sự đau khổ của một dân tộc trở thành sự đau khổ của mọi người, tạo nên sự liên đới giữa mọi người. Nó giúp chúng ta ý thức về một gia đình nhân loại duy nhất, liên đới với nhau trong điều tốt cũng như trong điều xấu. Nó giúp chúng ta vượt qua những rào cản về chủng tộc, tôn giáo, mầu da. Như lời thơ của một trong những thi sĩ người Ý của chúng ta: “Hỡi con người, hãy sống bình an! Trên địa cầu nghiêng ngả này có quá nhiều mầu nhiệm[186].”

Tuy nhiên, còn phải rút ra những bài học khác nữa từ các biến cố vừa gợi lên. Những trận động đất, những cơn lốc xoáy, những tai họa khác cùng một lúc đổ trên đầu nhiều người, cả người có tội lẫn người vô tội, không bao giờ được coi là do Chúa phạt. Quả quyết ngược lại là xúc phạm tới Thiên Chúa và con người. Dù sao, đó cũng là những dấu hiệu cảnh báo, và trong trường hợp xác định này, dấu hiệu đó cảnh báo chúng ta đừng có ảo tưởng khi cho rằng khoa học và kỹ thuật là đủ để cứu chúng ta. Nếu không biết đặt ra những giới hạn, khoa học và kỹ thuật có thể trở thành mối đe dọa nghiêm trọng hơn hết.

Lúc Đức Kitô chết thì xảy ra một cuộc động đất: “Thấy động đất và các sự việc xảy ra, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và nói: Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27,54). Nhưng có một cơn động đất lớn hơn xảy ra lúc Chúa sống lại: “Thình lình đất rung chuyển dữ dội: thiên thần Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra rồi ngồi lên trên” (Mt 28,2). Bao giờ cũng vậy. Sau một cuộc động đất gây chết chóc thì có một cuộc động đất mang lại sự sống. Có người đã nói: “Từ nay chỉ mình vị thần có thể cứu chúng ta” Nur noch ein Gott jann uns retten[187]. Chúng ta tin chắc Ngài sẽ làm điều đó, vì “Ngài yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16).

Với niềm xác tín và lòng biết ơn, chúng ta cùng nhau hát lên những lời của phụng vụ: “Ecce lignum crucis, in quo salus mundi pependit: Đây là cây Thánh giá nơi treo Đấng Cứu Độ trần gian”. Venite, adoremus: Chúng ta hãy đến thờ lạy.


XXXIII. “TA ĐÃ CHẾT VÀ NAY TA SỐNG ĐẾN MUÔN THUỞ MUÔN ĐỜI”

Một số Giáo Phụ đã tập trung tất cả mầu nhiệm cứu chuộc vào một hình ảnh. Các ngài nói quang cảnh là quang cảnh một cuộc chiến đấu đầy tính sử thi ở đấu trường. Một người dũng cảm đương đầu với bạo chúa độc ác đã bắt cả thành phố làm nô lệ. Sau nhiều nỗ lực và đau khổ, ông đã chiến thắng. Còn bạn, bạn đứng trên khán đài, không đánh nhau, không mệt nhọc, không bị thương tích. Nhưng nếu bạn ngưỡng mộ vị anh hùng, nếu bạn vui mừng với ông trong chiến thắng, nếu bạn đội cho ông một vòng hoa triều thiên, nếu bạn khích động dân chúng cổ võ cho ông, nếu bạn mừng rỡ cúi chào người chiến thắng, nếu bạn hôn ông và bắt tay ông; nói tóm lại, nếu bạn cuồng nhiệt đến độ coi chiến thắng của ông là của mình, thì tôi, tôi dám nói là bạn chắc chắn sẽ được chia phần thưởng của người chiến thắng.

Nhưng còn hơn thế nữa: giả sử người chiến thắng thực sự không cần phần thưởng mà ông vừa giành được, và điều ông muốn trên hết là thấy người ủng hộ mình được vinh danh và vòng hoa chiến thắng là phần thưởng của bạn ông, trong trường hợp này, người bạn ông, dù chưa phải mệt nhọc hoặc bị thương tích, sẽ có được vòng hoa chiến thắng không? Tất nhiên là sẽ được![188]

Thì đó là điều đang xảy ra giữa Đức Kitô và chúng ta. Đức Giêsu trên thập giá đã đánh bại kẻ thù xưa. Thánh Gioan Kim Khẩu đã kêu lên: “Kiếm của chúng ta không dính máu, chúng ta không ở trong đấu trường, không bị thương tích, thậm chí không nhìn thấy trận chiến, vậy mà chúng ta có được chiến thắng. Cuộc chiến đấu này là của Ngài, vòng hoa chiến thắng là của chúng ta. Và bởi vì chiến thắng này cũng là chiến thắng của chúng ta, chúng ta hãy bắt chước điều những người lính đã làm trong những trường hợp này: chúng ta hãy hân hoan vui mừng, hãy hát thánh ca ngợi khen Chúa[189].”

***

Chúng ta không thể giải thích rõ hơn ý nghĩa của phụng vụ mà chúng ta cử hành hôm nay. Nhưng những gì chúng ta làm có phải cũng là một hình ảnh, biểu thị một thực tại của quá khứ, hoặc phải chăng là chính thực tại? Là cả hai cùng một lúc!

Thánh Augustinô nói: “Chúng ta biết và tin chắc rằng Đức Kitô đã chết một lần cho chúng ta […]. Chúng ta biết rất rõ điều đó chỉ được thực hiện một lần. Nhưng lễ này được làm mới lại định kỳ […]. Không có đối nghịch nào giữa thực tại lịch sử và ngày lễ phụng vụ; lịch sử không nói thật để làm cho phụng vụ nói dối, nhưng điều lịch sử trình bày như chỉ xảy ra một lần thực sự, phụng vụ nhắc nhở nó cho những tâm hồn đạo đức để làm cho họ cử hành nó nhiều lần[190].”

Phụng vụ “làm mới lại” biến cố: biết bao nhiêu cuộc tranh luận, từ năm thế kỷ nay, về ý nghĩa của từ này, đặc biệt khi áp dụng cho thập giá và Thánh lễ! Đức Phaolô VI đã sử dụng một động từ có thể mở đường cho một thỏa thuận đại kết về vấn đề: động từ “biểu hiện”, được hiểu theo nghĩa mạnh của từ tái hiện (re-présenter), nghĩa là làm cho điều đã xảy ra lại hiện diện và hoạt động[191].

Có một sự khác biệt chủ yếu giữa sự biểu hiện của cái chết của Đức Kitô và cái chết của Giuliô Caesar chẳng hạn, trong bi kịch cùng tên của Shakespeare. Không ai tham dự ngày kỷ niệm cái chết của mình như một người còn sống; Đức Kitô thì có, vì Ngài đã sống lại. Chỉ mình Ngài có thể nói, như nói trong sách Khải huyền, “Ta đã chết, và nay Ta sống mãi đến muôn đời” (Kh 1,18). Chúng ta phải cẩn thận ngày này, khi chúng ta viếng các nhà mồ, hoặc tham dự các cuộc rước Đức Kitô tử nạn, để không đáng phải nhận lời Đấng Phục sinh trách cứ những phụ nữ đạo đức vào buổi sáng Phục Sinh: “Sao các bà lại tìm Người Sống trong số kẻ chết?” (Lc 24,5).

Theo một số tác giả, “anamnesis, nghĩa là tưởng niệm trong phụng vụ, làm cho biến cố còn đúng hơn lần đầu tiên được thực hiện trong lịch sử.” Nói cách khác, đúng và thật cho chúng ta, những người sống nó “theo Thần Khí” hơn là những ai đã sống nó “theo xác thịt”, trước khi Chúa Thánh Thần mạc khải cho Giáo hội ý nghĩa đầy đủ của nó.

Đó không chỉ là một ngày kỷ niệm mà chúng ta cử hành, mà còn là một mầu nhiệm. Và vẫn chính Thánh Augustinô giải thích sự khác biệt giữa hai sự việc. Ngài nói: “Để cử hành theo cách kỷ niệm, chỉ cần “đánh dấu bằng một lễ tôn giáo ngày biến cố được thực hiện”; còn để cử hành theo cách mầu nhiệm (in sacramento), không những chúng ta tưởng niệm biến cố, mà còn thêm vào đó tất cả những gì có thể cho biết ý nghĩa mầu nhiệm của biến cố và đón nhận nó cách thánh thiện[192].”

Điều đó làm thay đổi mọi sự. Không chỉ tham dự một buổi trình diễn, mà còn là “đón nhận” ý nghĩa của nó; không còn là khán giả nữa, mà là những diễn viên. Do đó, chúng ta cần phải chọn vai trò chúng ta muốn đóng trong vở kịch, chúng ta muốn mình là ai trong số Phêrô, Giuđa, Philatô, hay đám đông, Simon người Kyrênê, Gioan, Maria… Không ai có thể giữ trung lập; không xác định lập trường, chính là giữ một lập trường rõ ràng: lập trường của Philatô rửa tay, hoặc của đám đông “đứng nhìn từ xa” (Lc 23,35).

Tối nay trở về nhà, nếu có người hỏi chúng ta: “Bạn từ đâu tới? Chúng ta hãy lặng lẽ trả lời, ít nhất là trong tâm hồn chúng ta: “từ Calvê!”

***

Nhưng tất cả điều này không tự động xảy ra, vì lý do duy nhất là đã tham dự phụng vụ này. Theo Augustinô, đây là “đón nhận” ý nghĩa của mầu nhiệm. Và điều đó đi qua đức tin. Mạnh như dàn nhạc có thể chơi, không có âm nhạc nếu không có tai lắng nghe; do đó không thể có ân sủng nếu không có đức tin để đón nhận nó.

Trong một bài giảng lễ Vượt Qua vào cuối thế kỷ 4, vị giám mục đã nói bằng một ngôn ngữ hiện đại lạ lùng và có thể nói là hiện sinh: “Đối với mỗi người, nguyên lý của cuộc sống là nguyên lý từ đó Đức Kitô đã hiến tế mình cho người đó. Nhưng Đức Kitô đã tự hiến tế mình cho người đó, khi người đó nhận ra ân sủng và ý thức được sự sống đã được ban cho mình nhờ sự tự hiến tế này[193].”

Điều đó xảy ra cách bí tích nhờ phép Rửa tội, nhưng phải xảy ra, luôn xảy ra và còn xảy ra, một cách có ý thức trong cuộc sống. Trước khi chết, chúng ta phải can đảm táo bạo làm một cú đột phá: chiếm lấy cho mình chiến thắng của Đức Kitô. Một sự chiếm đoạt trái lẽ thường! Một điều không may chung trong một xã hội như xã hội chúng ta, nhưng với Đức Giêsu, điều này không bị cấm, thậm chí chúng ta còn được khuyến khích nữa. “Trái lẽ thường” có nghĩa là nó không phải do chúng ta, chúng ta không đáng được, nhưng nó được ban cho chúng ta một cách nhưng không, bởi đức tin.

Chúng ta hãy nghe một tiến sĩ Giáo hội, thánh Bênađô, nói về nó: “Đối với tôi, điều mà tôi không tìm thấy nơi tôi, tôi đã chiếm đoạt nó (nghĩa đen của usurpo, tôi chiếm đoạt), với sự tin tưởng từ tấm lòng của Đấng Cứu Thế, vì lòng Ngài chan chứa yêu thương. Vì thế, công trạng của tôi là lòng thương xót của Chúa. Tôi sẽ luôn có nhiều công trạng bao lâu Ngài giàu lòng thương xót đối với tôi. Và công trạng của tôi sẽ tràn đầy nếu lòng thương xót của Ngài bao la (Tv 119,156). Đó có sẽ là sự chính trực của tôi mà tôi sẽ ăn mừng không? Không, lậy Chúa, con sẽ chỉ nhớ đến đức công chính của Chúa. Vì đức công chính của Chúa là của con, vì chính Chúa đã làm cho con nên công chính (x.1Cr 1,30)[194].”

Phải chăng cách quan niệm này về thánh thiện đã làm cho thánh Bênađô ít nhiệt thành trong các công việc lành, ít cảm đảm trong việc tập tành các nhân đức? Phải chăng tông đồ Phaolô đã quên hãm dẹp thân xác, bắt thân xác phải chịu cực và phục tùng (1Cr 9,27), và trước cả thế giới cũng như hơn bất kỳ người nào khác, ngài đã coi việc chiếm đoạt sự công chính của Đức Kitô là mục tiêu của cuộc đời mình và việc rao giảng của mình (x. Pl 3,7-9) ?

Ở Rôma, cũng như ở tất cả các thành phố lớn, chúng ta thấy rất nhiều người vô gia cư. Có một kiểu nói đại khái giống nhau dành cho những người ấy trong tất cả các ngôn ngữ: những người có tài sản duy nhất là bộ quần áo rách rưới mặc trên người, và một vài vật gì đó mang theo trong túi xắc nhựa. Hãy thử tưởng tượng rằng một ngày nào đó chúng ta nghe nói trên đường Condotti (ai nấy đều biết đường Condotti ở Roma biểu thị cái gì)[195] bà chủ một cửa hàng sang trọng, không rõ vì lý do gì, do quan tâm hay hào phóng, cho mời tất cả những người ăn xin trong thành phố đến cửa hàng của mình; bà mời họ cởi bỏ bộ đồ dơ bẩn, tắm rửa và chọn bộ quần áo nào họ thích trong số những bộ đang bày bán. Bà bảo cứ mang đi, hàng miễn phí.

Mọi người nghĩ trong lòng: “Rõ là khôi hài! Làm gì có chuyện ấy!”. Rất đúng, nhưng điều không bao giờ xảy ra giữa con người với nhau lại là điều có thể xảy ra hàng ngày giữa con người và Thiên Chúa, vì trước mặt Ngài, chúng ta là những người ăn xin! Đó là điều xảy ra khi có một lời thú tội: bạn cởi bỏ những quần áo rách rưới là tội lỗi của bạn, bạn được lòng thương xót tắm rửa và khi bạn trỗi dậy, bạn được “mặc áo quần cứu độ, được choàng áo chính trực công minh” (Is 61,10).

Người thu thuế của dụ ngôn lên đền thờ cầu nguyện; anh chỉ đơn giản nói, nhưng nói từ tận đáy lòng: “Lậy Chúa, xin thương xót tôi là kẻ có tội! Sau đó anh trở về nhà và được “trở nên công chính” (Lc 18,14), được hòa giải, phục hồi, vô tội. Nếu có đức tin và lòng ăn năn, chúng ta cũng có thể nói về mình như thế, khi chúng ta trở về nhà sau cử hành phụng vụ này.

* * *

Trong số những nhân vật của cuộc Khổ nạn mà chúng ta có thể đồng hóa mình với họ, thiết nghĩ tôi đã bỏ qua một người đáng được bắt chước hơn ai hết: người gian phi sám hối.

Người gian phi sám hối hoàn toàn xưng thú tội mình đã phạm. Anh nói với người bạn đang lăng mạ Đức Giêsu: “Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ. Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái” (Lc 23,41). Người gian phi sám hối ở đây là một nhà thần học xuất sắc. Thật vậy chỉ có Thiên Chúa, nếu chịu khổ, là chịu khổ như một người tuyệt đối vô tội. Bất cứ ai khác chịu khổ đều phải nói: “Tôi phải chịu thế này là đích đáng”. Bởi vì, ngay cả khi không chịu trách nhiệm về hành động bị đổ lỗi cho anh ta, anh ta không bao giờ hoàn toàn không có lỗi. Chỉ có sự đau khổ của những đứa trẻ vô tội là giống như sự đau khổ của Thiên Chúa và đó là lý do tại sao nó quá mầu nhiệm và thiêng thánh.

Có bao nhiêu vụ phạm tội tàn bạo gần đây mà vẫn coi như không có tội, bao nhiêu trường hợp chưa được giải quyết! Người gian phi sám hối kêu gọi những người có trách nhiệm: hãy làm như tôi, xem lại mình, thú nhận lầm lỗi của mình; bạn cũng vậy, bạn hãy cảm nghiệm niềm vui này mà tôi đã cảm nghiệm khi tôi nghe Đức Giêsu nói: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng!” (Lc 23,43). Có bao nhiêu tội nhân, sau khi thú nhận tội lỗi, có thể quả quyết rằng đã xảy ra như thế đối với họ: họ đã đi từ địa ngục đến thiên đường vào ngày họ có can đảm ăn năn và thú nhận tội lỗi. Tôi cũng biết một vài người trong số họ. Thiên đường hứa hẹn là bình an trong lương tâm, có thể nhìn mình trong gương, hay nhìn các con mà không hổ thẹn.

Đừng mang theo xuống mồ bí mật của bạn; sự kết án trở lại với bạn sẽ khủng khiếp hơn nhiều so với sự kết án của con người. Trong phim “Những kẻ đính hôn” của Alessandro Manzoni, Lucia nói với người đàn ông đã bắt cóc cô: “Chúa đã tha thứ cho nhiều việc vì một việc làm tốt”. Chúng ta càng phải nói là Ngài tha thứ nhiều tội lỗi vì một hành động ăn năn chân thành. Ngài đã hứa điều đó cách long trọng: “Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết, có thẫm tựa vải điều, cũng hóa trắng như bông” (Is 1,18).

Giờ đây, chúng ta hãy trở lại điều đã nói lúc đầu và chúng ta hãy thực hiện nó. Đó là nhiệm vụ của chúng ta hôm nay. Lòng tràn ngập niềm vui, reo mừng chiến thắng của thập giá, chúng ta hãy xướng lên bài thánh thi ngợi khen Chúa. Chúng ta cùng đọc với phụng vụ: “Ôi Đấng Cứu Chuộc, hãy nhận bài thánh ca của những người hát mừng cuộc chiến thắng của Ngài”.


XXXIV. ĐƯỢC NÊN CÔNG CHÍNH NHỜ TIN VÀO MÁU ĐỨC GIÊSU KITÔ

Mọi người đã phạm tội và bị rước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình thực hiện trong Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã đặt Người làm hy lễ xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin […] bây giờ Người cho thấy rằng Người vừa là Đấng Công Chính vừa làm cho kẻ tin vào Đức Giêsu được nên công chính.” (Rm 3,23-26)

Chúng ta đang ở đỉnh cao của Năm Đức Tin và ở thời điểm quyết định của nó. Đây là đức tin cứu rỗi, “đức tin thắng được thế gian” (1Ga 5,5)! Đức tin-chiếm đoạt qua đó chúng ta làm cho sự cứu rỗi của Đức Kitô thành của chúng ta, chúng ta mặc lấy áo choàng công chính của Ngài. Một mặt có bàn tay dang rộng của Thiên Chúa ban ân sủng của Người cho con người; mặt khác, bàn tay của con người vươn ra để đón nhận với đức tin. “Giao ước vĩnh cửu mới” được niêm phong bằng một cái bắt tay giữa Thiên Chúa và con người.

Chúng ta có cơ hội ngày hôm nay lấy quyết định quan trọng nhất cho cả cuộc đời chúng ta, quyết định mở ra cánh cửa vĩnh cửu: tin! Tin rằng “Đức Giê-su chính là Đấng đã bị trao nộp vì tội lỗi chúng ta, và đã được Thiên Chúa làm cho sống lại để chúng ta được nên công chính” (Rm 4,25)!

Thật là một điều phi thường! Thứ Sáu tuần Thánh này được cử hành trong Năm Đức Tin và với sự hiện diện của người kế vị mới của Phêrô, có thể, nếu chúng ta muốn điều ấy, là bước đầu của một cuộc sống mới. Giám mục Hilariô Poitiers, trở lại với Kitô giáo ở tuổi trưởng thành, khi nghĩ lại đời sống đã qua, đã nói: “Trước khi biết Ngài, tôi đã không tồn tại”.

Điều duy nhất chúng ta được yêu cầu là không ẩn trốn như Ađam sau khi phạm tội, nhưng nhận ra rằng chúng ta cần phải được công chính hóa; rằng chúng ta không thể làm cho mình nên công chính. Người thu thuế lên Đền thờ và cầu nguyện rất ngắn: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Và Đức Giêsu nói rằng người này về nhà “được nên công chính”, nghĩa là trở thành một người công chính, được tha thứ, một con người khác, reo vui trong lòng, tôi chắc thế (Lc 18,14). Anh đã làm gì phi thường như vậy? Không làm gì cả, anh đã chỉ nói lên sự thật trước mặt Thiên Chúa, và đó là điều duy nhất Thiên Chúa cần để hành động.

***

Giống như người leo núi cao, sau khi đã vượt qua một đoạn dốc nguy hiểm, dừng lại một chút để lấy hơi và chiêm ngưỡng bức tranh toàn cảnh mở ra trước mắt, Tông Đồ Phaolô đã làm như thế ngay từ đầu chương 5 Thư Rôma:

Vậy một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa, như chúng ta đang được hiện nay; chúng ta lại còn tự hào về niềm hy vọng được hưởng vinh quang của Thiên Chúa. Nhưng không phải chỉ có thế; chúng ta còn tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai gặp chịu đựng, thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên, thì có quyền trông cậy. Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ bởi Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.”(Rm 5,1-5).

Ngày nay, chúng ta chụp ảnh vệ tinh bằng tia hồng ngoại toàn bộ các khu vực trên trái đất và thậm chí toàn bộ hành tinh. Toàn cảnh nhìn từ trên cao, dưới ánh sáng của các tia này, khác biết mấy với những gì chúng ta nhìn thấy trong ánh sáng tự nhiên và ở bên trong! Tôi nhớ một trong những bức ảnh vệ tinh đầu tiên được phổ biến trên thế giới; nó tái tạo toàn bộ bán đảo Sinai. Các màu sắc rất khác nhau, những chỗ lồi lõm được đánh dấu nhiều hơn. Chính là một biểu tượng. Cuộc sống của con người cũng vậy, nhìn qua các tia hồng ngoại của đức tin, từ đỉnh Calvê, dường như khác với những gì chúng ta thấy “bằng mắt thường”.

Theo nhà hiền triết của Cựu Ước, “Mọi người đều như nhau cùng chung một số phận, người công chính cũng như đứa gian tà […]. Tôi lại còn nhìn thấy dưới ánh mặt trời: có sự gian ác tại chốn pháp đình, có sự gian ác tại nơi xét xử.” (Gv 3,16; 9,2). Quả thực, từ thời xa xưa, chúng ta đã thấy sự gian ác chiến thắng và sự vô tội bị sỉ nhục. Nhưng Bossuet lưu ý, để đừng tin rằng có một cái gì đó cố định và chắc chắn trên thế giới, thì đây đôi khi chúng ta thấy điều ngược lại, nghĩa là, thấy sự vô tội trên ngai và sự gian ác trên đoạn đầu đài. Nhưng Giảng viên đã trả lời điều đó như thế nào? “Và tôi tự nhủ: người công chính cũng như kẻ gian ác đều sẽ bị Thiên Chúa xét xử. Vì mọi sự, mọi việc đều có thời, có lúc” (Gv 3,17). Ông đã tìm thấy điểm quan sát làm cho tâm hồn được bình an.

Điều Giảng viên đã không thể biết và, ngược lại, chúng ta biết, đó là sự xét xử này đã xảy ra. Trước cuộc Khổ nạn, Đức Giêsu nói: “Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian sắp bị tống ra ngoài. Phần tôi, một khi được giương lên cao khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi” (Ga 12, 31-32).

Trong Đức Giêsu Kitô chết và sống lại, thế giới đã đến đích cuối cùng. Sự tiến bộ của nhân loại ngày nay đang tiến lên với một tốc độ chóng mặt và nhân loại thấy mở ra trước mắt những chân trời mới và không thể tưởng tượng được, là thành quả những khám phá của nó. Tuy nhiên, có thể nói rằng sự kết thúc thời gian đã xảy ra, vì trong Đức Kitô lên ngự bên hữu Chúa Cha, nhân loại đã đi đến đích cuối cùng. Trời mới đất mới đã bắt đầu. Bất chấp mọi lầm than, bất công, điều kinh khủng trên trái đất, trật tự của thế giới cuối cùng đã bắt đầu nơi Ngài. Những gì chúng ta thấy có thể gợi lên điều trái ngược, nhưng sự dữ và cái chết thực sự bị đánh bại mãi mãi. Nguồn mạch của chúng đã khô cạn; thực tại chính là Đức Giêsu là Chúa của thế giới. Sự dữ đã bị đánh bại tận căn nhờ công trình cứu chuộc Ngài đã thực hiện cho chúng ta. Thế giới mới đã bắt đầu.

Một điều đặc biệt có vẻ khác, được nhìn bằng con mắt đức tin: cái chết! Đức Kitô bước vào cõi chết như người ta vào trong một nhà tù tối tăm; nhưng Ngài ra khỏi đó qua bức tường khác. Ngài không trở lại nơi mà từ đó Ngài đã đến, giống như Lazarô được sống lại để chết một lần nữa. Ngài đã mở ra một lỗ hổng hướng tới sự sống mà không ai sẽ có thể đóng lại, và qua lỗ hổng mà mọi người đều có thể theo Ngài. Cái chết không còn là một bức tường phá vỡ mọi hy vọng của con người; nó đã trở thành chiếc cầu đưa tới vĩnh cửu. Một “chiếc cầu thở dài”, có lẽ bởi vì không ai thích chết, nhưng một chiếc cầu, và không còn một vực thẳm nuốt chửng mọi thứ. “Tình yêu mãnh liệt như tử thần”, sách Diễm ca nói như vậy (Dc 8,6). Trong Đức Giêsu Kitô, tình yêu đã mãnh liệt hơn tử thần!

Trong cuốn “Lịch sử Giáo hội của người Anh”, Bêđa Đáng Kính kể lại cách đức tin Kitô giáo đi vào miền bắc nước Anh. Khi các nhà truyền giáo từ Rome đến Northumberland, nhà vua địa phương đã triệu tập một hội đồng chức sắc để quyết định có cho phép họ truyền bá sứ điệp mới hay không. Một số ủng hộ, một số thì không. Khi ấy là mùa đông, bão tuyết đang hoành hành bên ngoài, nhưng căn phòng được thắp sáng và ấm áp. Có một lúc một con chim nhỏ chui qua cái lỗ trên tường, rung cánh sợ hãi giây lát trong phòng, rồi biến mất qua một lỗ khác ở bức tường đối diện.

Sau đó, một trong những người trong hội đồng đứng dậy và nói: “Thưa ngài, cuộc sống của chúng ta trên thế giới này giống như con chim nhỏ đó. Chúng ta không biết mình đến từ đâu, chúng ta tận dụng ánh sáng và sức nóng của thế giới trong một khoảnh khắc và rồi chúng ta lại biến mất trong bóng tối, mà không biết mình sẽ đi đâu. Nếu những con người này có thể tiết lộ cho chúng ta điều gì đó mầu nhiệm của cuộc sống chúng ta, chúng ta phải lắng nghe họ”. Đức tin Kitô giáo có thể trở lại lục địa chúng ta và trong thế giới tục hóa với cùng một lý do đã mang đức tin đó đến, tức là như một sứ điệp duy nhất có thể trả lời chắc chắn cho những vấn nạn lớn về sự sống và sự chết.

***

Thập giá ngăn cách tín đồ với những người không tin, bởi vì đối với một số người, đó là “cớ vấp phạm” và “điên rồ”, và đối với những người khác là “sức mạnh” và “khôn ngoan” của Thiên Chúa (x. 1Cr 1,23-24); nhưng trong một ý nghĩa sâu sắc hơn, thập giá hợp nhất tất cả mọi người, những người tin và không tin. “Đức Giêsu sắp phải chết […] không chỉ thay cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối” (Ga 11,51 tt). Trời mới đất mới là thuộc về mọi người và dành cho mọi người, bởi vì Đức Kitô đã chết cho mọi người.

Chính từ tất cả những điều đó mà phát sinh sự cấp bách truyền giáo: “Tình yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng một người đã chết thay cho mọi người” (2Co 5,14). Ngài kêu gọi chúng ta truyền giáo! Chúng ta hãy loan báo cho thế giới tin mừng là “giờ đây những ai ở trong Đức Kitô Giêsu, thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thần Khí ban Thần Khí trong Đức Giêsu Kitô đã giải thoát tôi khỏi luật của sự tôi và sự chết” (Rm 8,1-2).

Có một truyện ngắn của Franz Kafka, một biểu tượng tôn giáo mạnh mẽ, và mang một ý nghĩa mới, gần như có tính chất tiên tri, đặc biệt khi chúng ta nghe ngày Thứ Sáu tuần Thánh. Nó được gọi là “Một thông điệp hoàng gia”. Truyện kể về một vị hoàng đế, trên giường chờ chết, đã gửi đi một thông điệp. Ông bảo sứ giả quỳ bên giường, thì thầm thông điệp vào tai anh. Thông điệp này quan trọng đến mức ông bảo anh lặp đi lặp lại cho mình nghe. Sau khi gật đầu xác nhận thông điệp đó là chắc chắn, trước mặt quần thần đang chứng kiến ông sắp qua đời, ông bảo sứ giả đi. Nhưng chúng ta hãy nghe trực tiếp từ tác giả phần sau của câu truyện, với giọng điệu như mộng mị gần với cơn ác mộng, nét đặc thù của nhà văn này:

“Sứ giả lập tức lên đường. Đưa một cánh tay ra phía trước, rồi cả cánh tay còn lại, sứ giả rẽ qua đám đông; nếu gặp kháng cự, anh ta chỉ vào dấu hiệu mặt trời trên ngực mình; anh dễ dàng tiến tới, không như một ai khác. Nhưng đám người lại quá đông. Nhà cửa lại san sát. Giá mà có khoảng trống, anh sẽ bay lên như thế nào! Bạn sẽ sớm nghe thấy tiếng nắm tay của anh đập cửa thình thình. Nhưng thay vào đó, anh chỉ nhọc công vô ích! Anh ta cố gắng vượt qua các gian của cung điện bên trong, nhưng sẽ không bao giờ đi xa hơn được. Và nếu anh vượt qua được, thì cũng chẳng được gì; anh phải vùng vẫy để xuống cầu thang, nếu xuống được, anh cũng chẳng được gì; anh sẽ phải băng qua sân; hết sân là hàng rào của cung điện thứ hai; và rồi lại những cầu thang và những sân; và lại một cung điện; và cứ như vậy trong nhiều thế kỷ. Và nếu cuối cùng anh nhào ra khỏi cánh cửa cuối cùng – nhưng không bao giờ, điều đó không bao giờ có thể xảy ra – anh sẽ tìm thấy Thành phố Hoàng gia trước mặt, trung tâm của thế giới, đầy những rác rưởi của anh. Không ai bước vào đây, ngay cả với thông điệp của một người đã chết. Nhưng bạn ngồi ở cửa sổ và mơ thấy thông điệp này lúc đêm về”.

Trên giường chết, Đức Kitô đã gửi một sứ điệp đến Giáo hội của Ngài: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15). Vẫn còn rất nhiều người đang ở bên cửa sổ và mơ về một sứ điệp như sứ điệp của Ngài mà không biết. Như chúng ta vừa nghe, Gioan quả quyết người lính đã đâm cạnh sườn Đức Kitô trên thập giá, để lời Kinh thánh này được nên trọn: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37). Trong sách Khải huyền, Gioan nói thêm: “Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người” (Kh 1,7).

Lời tiên tri này không báo trước lần đến cuối cùng của Đức Kitô, khi thời gian không còn để hoán cải mà là để phán xét. Trái lại, nó mô tả thực tại Phúc Ấm hóa các dân tộc. Nơi lời tiên tri, lần đến mầu nhiệm và thật sự của Chúa mang lại cho họ ơn cứu độ, được xác nhận. Nước mắt của họ sẽ không phải là nước mắt tuyệt vọng, nhưng là nước mắt chữa lành và an ủi. Đây là ý nghĩa của lời tiên tri mà Gioan thấy được thực hiện khi Đức Kitô bị đâm nơi cạnh sườn, tức lời tiên tri của Dacaria 12,10: “Ta sẽ đổ ơn xuống cho nhà Đavit và dân cư Giêrusalem… Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta…Đấng chúng đã đâm thâu.”

Phúc âm hóa có nguồn gốc thần bí; đó là quà tặng đến từ thập giá Đức Kitô, từ cạnh sườn bị đâm thủng, mở ra, từ máu và nước này. Tình yêu của Đức Kitô, giống như tình yêu Ba Ngôi mà tình yêu đó biểu hiện trong lịch sử, là “diffusivum sui”, có xu hướng lan rộng và đến với mọi thụ tạo, “đặc biệt những thụ tạo cần sự thương xót của Ngài”. Phúc âm hóa không phải là “chinh phục”, cũng không phải là “tuyên truyền”; đó là một món quà Thiên Chúa ban tặng thế gian trong Con của Người là Đức Giêsu. Đó là mang đến cho Đầu niềm vui cảm nhận được sự sống chảy từ trái tim đến thân thể của mình, cho tới chỗ làm cho những chi thể xa nhất được sống bằng sự sống ấy.

Chúng ta phải làm sao cho Giáo hội không bao giờ trông giống như lâu đài phức tạp và tắc nghẽn mà Kafka mô tả, sao cho thông điệp phát xuất từ Giáo hội được tự do và vui vẻ như khi nó bắt đầu hành trình. Chúng ta biết những trở ngại nào có thể chặn lại sứ giả: những bức tường ngăn cách, bắt đầu từ những bức tường ngăn cách các Giáo hội Kitô khác nhau, sự quá đáng của cung cách quan liêu, những thừa thãi của bộ diện lộng lẫy, của luật lệ và của những cuộc tranh cãi trong quá khứ, từ đây trở thành thuần túy rác rưởi.

Trong sách Khải huyền, Đức Giêsu nói Ngài đứng ở cửa và gõ (x. Kh 3,20). Đôi khi, như Đức Giáo Hoàng Phanxicô của chúng ta đã chỉ ra, Ngài không gõ để vào, mà gõ từ bên trong để ra. Ra đi đến với những “vùng ngoại ô đầy tội lỗi, đau khổ, bất công, vô tri, thờ ơ tôn giáo, suy nghĩ và tất cả các hình thức khốn khổ.”

Giống như một số tòa nhà cũ. Trong nhiều thế kỷ, để thích ứng với các đòi hỏi của thời đại, chúng đầy những vách ngăn, cầu thang, phòng lớn và phòng nhỏ. Đến lúc nhận ra rằng tất cả các thích nghi này không còn đáp ứng các yêu cầu hiện tại, chúng thậm chí còn là một trở ngại; khi ấy phải có can đảm phá bỏ hết, và đưa tòa nhà trở lại với hình thức đơn giản và đường nét ban đầu. Chính là sứ mệnh mà thánh Phanxicô nhận được, khi ngài cầu nguyện trước thánh giá thánh Đamianô: “Này Phanxicô, hãy đi sửa chữa nhà của Ta”.

“Ai có thể xứng với nhiệm vụ này?” Tông Đồ Phaolô tự hỏi như thế trong lúc khiếp sợ trước bổn phận vượt quá sức con người phải là “hương thơm của Đức Kitô” trong thế gian; và đây là câu trả lời của Ngài, vẫn còn giá trị ngày hôm nay: “Không phải vì tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn của Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống.” (2Cr 3,5-6).

Vào lúc một thời mới mở ra cho Giáo hội, đầy hứa hẹn và hy vọng, xin Chúa Thánh Thần giúp cho những người đang ở bên cửa sổ biết chờ mong sứ điệp, và giúp cho các sứ giả muốn gửi sứ điệp cho những người ấy, thậm chí bằng cái giá của cuộc đời mình.


XXXV. “GIUĐA, KẺ NỘP NGƯỜI, CŨNG ĐỨNG CHUNG VỚI HỌ”

Lịch sử Thiên Chúa và con người của Đức Giêsu chứa đựng nhiều câu chuyện ngắn về những người nam nữ bước vào những mảng sáng tối của nó. Bi thảm nhất là câu chuyện Giuđa Iscariốt. Một trong những sự kiện hiếm hoi được bốn Phúc âm và phần còn lại của Tân Ước chứng thực, với tầm quan trọng ngang nhau. Cộng đồng Kitô giáo đầu tiên đã suy nghĩ nhiều về câu chuyện này và chúng ta sẽ sai lầm khi không làm như thế. Nó có nhiều điều để dạy chúng ta.

Giuđa đã được chọn ngay từ giây phút đầu tiên để trở thành một trong nhóm Mười Hai. Khi ghi tên anh ta vào danh sách các tông đồ, thánh sử Luca viết: “Giuđa Iscariot, người đã trở thành [egenetokẻ phản bội” (Lc 6,16). Vì vậy, Giuđa đã không sinh ra là kẻ phản bội, cũng không phải kẻ phản bội khi Đức Giêsu chọn anh; anh trở thành kẻ phản bội! Chúng ta đứng trước một trong những bi hài kịch đen tối nhất về sự tự do của con người.

Tại sao anh ta trở nên như vậy? Cách đây không lâu, khi luận đề về Đức Giêsu “cách mạng” đã lôi cuốn nhiều người, người ta đã tìm cách gán cho hành động của anh những động lực lý tưởng. Một số người thấy biệt danh “Iscariot” của anh là biến dạng của từ “sicariote”, nghĩa là thuộc về nhóm người nhiệt thành cực đoan, ủng hộ việc sử dụng gươm (sica) chống lại người Rôma; những người khác nghĩ rằng Giuđa đã thất vọng về cách Đức Giêsu theo đuổi ý tưởng của Ngài về “Nước Thiên Chúa” và anh ta muốn buộc Ngài ra tay, thúc đẩy Ngài hành động trên phương diện chính trị chống lại những kẻ ngoại đạo. Đó là Giuđa của vở nhạc kịch nổi tiếng “Jesus-Christ Superstar” cũng như của các vở kịch và tiểu thuyết khác gần đây. Một Giuđa gần giống với Brutus, một kẻ nổi tiếng khác phản bội ân nhân của mình, người đã giết Giuliô Caesar, nghĩ rằng đó là cách cứu nước cộng hòa!

Những tái tạo câu chuyện này đáng được tôn trọng khi chúng có giá trị văn học hay nghệ thuật, nhưng chúng không có cơ sở lịch sử nào. Các Phúc âm – nguồn đáng tin duy nhất chúng ta có về nhân vật – nói về một lý do tầm thường hơn: đó là tiền. Giuđa giữ túi tiền chung của nhóm; nhân dịp cô Maria xức dầu thơm ở Bêtania, anh ta đã phản đối chuyện cô đổ dầu thơm trên chân Ngài là lãng phí, không phải vì lo lắng cho người nghèo, như Gioan lưu ý, nhưng vì “y là một tên ăn cắp. Y giữ túi tiền và thường giữ lấy cho mình những gì người ta bỏ vào quỹ chung” (Ga 12,6). Đề nghị của anh ta với các vị thượng tế là rõ ràng: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu? Họ quyết định cho hắn ba mươi đồng bạc.” (Mt 25,15)

***

Nhưng tại sao phải ngạc nhiên về lời giải thích này và thấy nó quá tầm thường? Hôm nay không phải như vậy sao? Mammon, thần tài, không phải là một ngẫu tượng trong số nhiều ngẫu tượng khác; đó là thần bằng antonomase: nghĩa đen là “thần bằng kim loại nóng chảy” (x. Xh 34,17). Và chúng ta hiểu tại sao. Khách quan mà nói, nếu không phải là chủ quan (nói cách khác, dựa trên sự kiện, nếu không phải là trên ý định) ai là kẻ thù thực sự, đối thủ cạnh tranh với Thiên Chúa, trong thế giới này? Satan chăng? Nhưng không ai quyết định phục vụ Satan mà không có lý do. Nếu người đó làm như vậy chính là vì anh ta tin rằng mình có được một quyền thế hoặc một lợi ích trần tục nào đó từ Satan. Dựa trên các sự kiện, ai là người chủ khác, người đối nghịch với Thiên Chúa? Đức Giêsu cho biết rõ về người đó: “Không ai có thể làm tôi hai chủ, hoặc sẽ gắn bó với chủ này và khinh dể chủ kia. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24). Tiền hay thần tài là “thần hữu hình”, ngược với Thiên Chúa thật sự là Đấng vô hình[196].”

Mammon là thần đối nghịch với Thiên Chúa vì nó tạo ra một vũ trụ tinh thần thay thế và làm cho những thần đức có một đối tượng khác. Đức tin, đức cậy và đức ái không còn dựa vào Thiên Chúa, nhưng vào tiền. Một sự đảo ngược đáng sợ mọi giá trị bắt đầu xảy ra. “Mọi sự đều có thể đối với người tin” (Mc 9,23); nhưng người đời nói: “Mọi thứ đều có thể đối với người có tiền” (hoặc: “Có tiền mua tiên cũng được”). Và, ở một mức độ nào đó, tất cả các sự kiện dường như chứng minh anh ta đúng.

Kinh thánh nói: “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc” (1Tm 6.10). Đằng sau mỗi tội ác trong xã hội chúng ta đều là tiền, hoặc ít nhất cũng là tiền. Tiền là Moléc của Kinh thánh, thần mà để tế, người ta làm lễ thiêu các bé trai và bé gái (x. Gr 32,35), hay thần của người Aztec, thần mà để tế, người ta phải dâng hàng ngày một số nhất định quả tim người. Có điều gì đàng sau việc buôn bán ma túy hủy hoại rất nhiều mạng sống của con người, việc khai thác mại dâm, hiện tượng các nhóm mafia khác nhau, tham nhũng chính trị, chế tạo và buôn bán vũ khí, thậm chí – nghĩ đến chuyện mà thấy kinh – đàng sau việc bán nội tạng trẻ em? Và cuộc khủng hoảng tài chính mà thế giới đã trải qua, và đất nước này vẫn đang trải qua, lại không phải phần lớn là do lòng “tham lam đáng nguyền rủa về vàng bạc”, auri sacra fames[197], của một vài người sao? Giuđa đã bắt đầu bằng cách rút một ít tiền từ quỹ chung. Việc này không nói lên điều gì với một số người điều hành công quỹ sao?

Nhưng bỏ qua những biện pháp hình sự đối với việc tích lũy tiền bạc này, phải chăng không phải là một tai tiếng khi một số người lãnh lương và lương hưu cao hơn gấp năm mươi hoặc một trăm lần so với lương và lương hưu của những người làm việc cho họ và họ lên tiếng khi có một đề nghị đòi họ phải giảm lương, để xã hội được công bằng hơn sao?

Trong những năm 70 và 80, để giải thích những thay đổi chính trị bất ngờ ở Ý, những trò chơi ngầm về quyền lực, khủng bố và đủ loại huyền bí đánh vào cuộc sống dân sự, người ta quả quyết ý tưởng gần như huyền thoại về sự tồn tại của một “Bố Già”: một nhân vật xảo quyệt và quyền thế, người đứng sau hậu trường giật dây nhằm những mục đích mà chỉ mình ông ta biết. “Bố Già” này thực sự tồn tại, không phải là một huyền thoại; tên của ông ta là Tiền!

Giống như tất cả các ngẫu tượng, tiền là “giả tạo và dối trá”: nó hứa an toàn nhưng lại lấy đi; hứa tự do nhưng lại phá hủy tự do. Thánh Phanxicô Assisi mô tả, thường một cách nghiêm trọng, giờ phút kết thúc cuộc đời của một người chỉ sống để tăng “vốn” của mình. Cái chết đang đến gần; một linh mục được mời đến. Linh mục hỏi người đang hấp hối: “Con có muốn được tha tội không?”, ông lời: “Thưa cha, có”. “Con có muốn dùng tài sản của con, nếu có thể, để sửa chữa lỗi lầm và trả lại cho những người con đã đánh cắp và lừa đảo không? Và ông nói: “Thưa cha, con không thể”. “Sao lại không thể?” “Vì con nhờ họ hàng và bạn bè con giữ hết rồi”. Như thế, ông chết đi mà không hối cải. Ông vừa mới chết, họ hàng và bạn bè của ông nói với nhau: “Thằng chết tiệt! Lẽ ra nó đã có thể thu tích nhiều hơn và để cho chúng ta tất cả tài sản của nó, thế mà nó lại không làm![198]

Trong những ngày này, biết bao lần chúng ta lẽ ra đã phải nghĩ lại tiếng Đức Giêsu kêu lên với nhà phú hộ trong dụ ngôn đã miệt mài thu tích của cải và cảm thấy được bảo đảm cho đến hết đời: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai?” (Lc 12,20) Những người được đặt vào các vị trí có trách nhiệm không còn biết ngân hàng nào hoặc thiên đường thuế khóa nào đang tàng trữ tiền bạc mình có được do tham nhũng, đang ngồi trên ghế bị cáo, hoặc trong phòng giam của nhà tù, chính vào lúc họ chuẩn bị tự nhủ: “Hồn ta hỡi, bây giờ hãy tận hưởng đi”. Họ đã làm điều đó cho ai? Có đáng không? Có phải họ thực sự làm điều tốt cho con cái và gia đình của họ, hay cho đảng phái họ, nếu đó là những gì họ tìm cách kiếm được? Hay không phải họ đã hủy hoại bản thân và những người khác sao? Thần tài có nhiệm vụ đích thân trừng phạt những người tôn thờ mình.

***

Sự phản bội của Giuđa vẫn tiếp tục trong lịch sử và “người bị phản bội” luôn luôn là Ngài, Đức Giêsu. Giuđa đã bán thủ lãnh, những người theo ông bán thân thể Ngài, vì những người nghèo là chi thể của Đức Kitô: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đay, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25,40) Nhưng sự phản bội của Giuđa không chỉ tiếp diễn trong những vụ việc vang dội như những vụ việc tôi vừa gợi ra. Tin như thế rất tiện lợi cho chúng ta, nhưng không phải vậy. Bài giảng của Don Primo Mazzolari[199] ngày Thứ Năm Tuần Thánh về “Người anh em Giuđa của chúng ta” vẫn nổi tiếng. Ngài nói với một vài giáo dân hiện diện trước mặt: “Hãy để tôi suy nghĩ một chút về Giuđa ở trong đáy lòng tôi, về Giuđa có lẽ cũng ở nơi bạn.”

Người ta có thể phản bội Đức Giêsu vì những hình thức khen thưởng khác không phải là ba mươi đồng bạc. Ai phản bội vợ hoặc chồng là phản bội Đức Kitô. Thừa tác viên của Thiên Chúa không trung thành với bậc sống của mình, hay người thay vì chăn chiên lại chăn mình, người đó phản bội Đức Giêsu. Bất cứ ai phản bội lương tâm mình, là phản bội Đức Giêsu. Ngay cả tôi cũng có thể phản bội Ngài – và tôi run sợ về điều này – nếu trong khi giảng về Giuđa, tôi quan tâm đến sự đồng thuận của thính giả hơn là chia sẻ nỗi đau khổ bao la của Đấng Cứu Thế. Giuđa đã có những tình tiết giảm nhẹ mà chúng ta không có. Anh ta không biết Đức Giêsu là ai, chỉ nghĩ rằng Ngài là “một người vô tội” (Mt 27,4); Anh ta không biết Ngài là Con Thiên Chúa, còn chúng ta, chúng ta biết rõ.

Giống như mọi năm, khi gần đến lễ Phục sinh, tôi muốn nghe lại bản Cuộc Khổ nạn theo thánh Matthêu của Bach. Có một chi tiết khiến mỗi lần nghe là mỗi lần tôi giật mình. Khi Đức Giêsu nói trước sự phản bội của Giuđa, tất cả các Tông Đồ đều hỏi Ngài: “Thưa Thầy, có phải con không?” Herr, bin ich? Nhưng trước khi cho chúng ta nghe câu trả lời của Đức Kitô, hủy bỏ mọi khoảng cách giữa biến cố và việc tưởng niệm biến cố, nhà soạn nhạc đã xen một đoạn hợp xướng bắt đầu thế này: “Chính tôi, chính tôi là kẻ phản bội! Tôi phải ăn năn thống hối!”, Ich bin’s, ich solte buβen. Giống như tất cả các đoạn hợp xướng của tác phẩm này, đoạn này diễn tả tình cảm của dân chúng đang nghe; nó là một lời mời gọi để cả chúng ta cũng thú nhận tội lỗi của chúng ta.

Phúc âm mô tả Giuđa kết thúc cuộc đời mình khủng khiếp như thế nào: “Bấy giờ Giuđa, kẻ đã nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận. Hắn đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục mà nói: Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan. Nhưng họ đáp: Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh. Giuđa ném số bạc vào Đền thờ và ra đi thắt cố.” (Mt 27,3-5)

Nhưng chúng ta đừng vội xét xử. Đức Giêsu không bao giờ bỏ rơi Giuđa và không ai biết anh ta đã rơi xuống chỗ nào khi ông treo mình trên cây với sợi dây quanh cổ: không biết rơi vào tay Satan hay vào tay Thiên Chúa. Ai có thể nói điều gì đã xảy ra nơi tâm hồn anh trong những khoảnh khắc cuối cùng này? “Này bạn”, đó là lời cuối cùng của Đức Giêsu nói với anh trong vườn cây dầu mà anh không thể quên, cũng như không thể quên ánh mắt của Ngài.

Đúng là khi nói về các môn đệ của mình với Chúa Cha, Đức Giêsu đã nói về Giuđa: “Không một ai phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng” (Ga 17,12), nhưng cũng như trong nhiều trường hợp khác, ở đây Ngài nói trong viễn tượng về thời gian chứ không phải về vĩnh cửu. Một lời khủng khiếp khác về Giuđa: “Thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn.” (Mc 14,21) cũng được giải thích bởi sự to lớn của sự kiện, không cần phải nghĩ đến một thất bại mãi mãi. Số phận vĩnh cửu của thụ tạo là một bí mật bất khả xâm phạm của Thiên Chúa. Giáo hội bảo đảm với chúng ta rằng một người nam hay nữ được tuyên bố là thánh là người được hạnh phúc vĩnh cửu; nhưng Giáo hội không thể quả quyết về một ai là người đó đang ở trong hỏa ngục. Trong Thần Khúc, tác giả Dante Alighieri, người cho thấy Giuđa bị giam ở tầng sau nhất nơi hỏa ngục, kể lại sự hoán cải vào phút chót của Manfred, con trai của Frédéric II, vua xứ Sicile. Mọi người khi đó nghĩ rằng anh ta bị phạt vì chết khi bị vạ tuyệt thông. Bị tử thương trong một trận chiến, anh tâm sự với nhà thơ rằng vào giây phút cuối đời, anh đã khóc lóc đến với với Đấng “sẵn sàng tha thứ” và, từ luyện ngục, qua nhà thơ, anh gửi thông điệp này về thế gian, một thông điệp cũng có giá trị đối với chúng ta:

“Tội lỗi của tôi thật kinh khủng;

Nhưng lòng nhân từ của Thiên Chúa có những cánh tay thật lớn lao

Đến độ ôm lấy những ai đến với mình[200].”

Đấy là những gì câu chuyện về người anh em Giuđa của chúng ta phải thúc đẩy chúng ta: đến với Đấng sẵn sàng tha thứ, nhào vào vòng tay của Đấng chịu đóng đinh. Trong câu chuyện về Giuđa, điều quan trọng nhất không phải là sự phản bội của anh ta, nhưng là câu trả lời Đức Giêsu dành cho anh ta. Ngài biết rõ những gì đang chín muồi trong lòng người môn đệ; nhưng Ngài không để lộ ra, Ngài muốn cho Giuđa cơ hội cuối cùng để quay trở lại, như thể đang bảo vệ anh ta. Ngài biết tại sao anh ta đến, nhưng trong vườn cây dầu Ngài không từ chối nụ hôn lạnh băng của anh ta, thậm chí đi đến chỗ gọi anh ta là “bạn” (x. Mt 26,50). Cũng như Ngài tìm kiếm khuôn mặt của Phêrô sau khi chối Ngài để tha thứ cho ông, ai dám chắc Ngài lại không tìm kiếm khuôn mặt của Giuđa ở ngã rẽ nào đó trên con đường thập giá của Ngài! Khi cầu nguyện trên thập giá: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34), chắc chắn Ngài không loại trừ Giuđa.

Vậy chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ theo ai, Giuđa hay Phêrô? Phêrô đã hối hận vì những gì mình đã làm, nhưng Giuđa cũng rất hối hận đến nỗi thốt lên: “Tôi đã phản bội nộp người vô tội” và trả lại ba mươi đồng bạc. Vậy đâu là sự khác biệt? Khác ở một điều thôi: Phêrô tin cậy vào lòng thương xót của Đức Kitô, còn Giuđa thì không! Tội lớn nhất của Giuđa không phải là đã phản bội Đức Giêsu, nhưng đã nghi ngờ lòng thương xót của Ngài.

Nếu chúng ta, người nhiều kẻ ít, đã bắt chước anh ta phản bội, đừng bắt chước anh thiếu lòng tin tưởng vào ơn tha thứ của Đức Kitô. Có một bí tích giúp chúng ta có thể cảm nghiệm được lòng thương xót của Đức Kitô, đó là bí tích hòa giải. Một bí tích thật đẹp! Thật là ngọt ngào khi trải nghiệm Đức Giêsu là Thầy, là Chúa, nhưng còn ngọt ngào hơn khi trải nghiệm Ngài là Đấng Cứu Chuộc: giống như Đấng đưa bạn ra khỏi vực thẳm, giống như khi Ngài kéo Phêrô lên khỏi nước khi Phêrô chạm tới Ngài, giống như Ngài đã làm với người phong cùi, và nói với bạn: “Tôi muốn, anh sạch đi!” (Mt 8.3).

Sự xưng tội cho phép chúng ta sống những gì Giáo hội nói về tội của Ađam trong bài ca Exultet: “Ôi, tội hồng phúc, vì cho chúng ta Đấng Cứu Chuộc rất cao sang!” Tất cả tội lỗi của con người, một khi chúng ta ăn năn thống hối, thì Đức Giêsu biết biến thành “những tội hồng phúc”, những tội mà chúng ta không có ký ức nào về chúng, ngoại trừ kinh nghiệm về lòng thương xót và nhân từ của Thiên Chúa, mà tội lỗi đã tạo ra cơ hội!

Tôi có một ước nguyện cho bản thân tôi cũng như cho tất cả các cha, các anh chị em: chớ gì buổi sáng ngày Phục Sinh, chúng ta có thể thức dậy và nghe vang lên trong trái tim ta những lời của một người hoán cải vĩ đại trong thời đại ta, nhà thơ và nhà viết kịch Paul Claudel:

“Lạy Thiên Chúa của con, con đã sống lại và con lại đang ở với Chúa!

Con đã ngủ và xuôi tay như một người chết trong đêm.

Thiên Chúa nói: Hãy có ánh sáng!

Con thức dậy vì một tiếng lớn được hô lên! […]

Cha của con đã sinh ra con trước Bình minh,

Con đặt mình trong sự Hiện diện của Chúa.

Trái tim con được tự do, môi miệng con trong sạch,

Thân xác và tâm trí con đang chay tịnh.

Con được tha mọi tội lỗi

Mà con đã xưng thú từng tội một.

Nhẫn cưới nơi ngón tay con và mặt mũi con được rửa sạch.

Con như một con người vô tội

Trong ân sủng mà Chúa đã ban cho con[201].”

Đó là những gì cuộc Vượt Qua của Đức Kitô có thể làm cho chúng ta.


XXXVI. “ECCE HOMO – ĐÂY LÀ NGƯỜI”

Chúng ta vừa nghe câu chuyện về phiên tòa xử Đức Giêsu trước mặt Philatô. Có một đoạn đáng để chúng ta một lần dừng lại.

Bấy giờ ông Philatô truyền đem Đức Giêsu đi và đánh đòn Người. Bọn lính kết một vòng gai làm vương miện, đặt lên đầu Người, và khoác cho người một áo choàng đỏ. Họ đến gần và nói: “Kính chào vua dân Do Thái!”, rồi vả vào mặt Người. Ông Philatô lại ra ngoài và nói với người Do Thái: “Đây ta dẫn ông ấy ra ngoài cho các ngươi, để các người biết là ta không tìm thấy lý do nào để kết tội ông ấy.” Vậy Đức Giêsu bước ra ngoài, đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Ông Philatô nói với họ: “Đây là người!” (Ga 19,1-5).

Trong vô số những bức tranh về đề tài Ecce Homo, có một bức luôn gây ấn tượng với tôi. Bức tranh của họa sĩ người Hòa Lan ở thế kỷ XVI, Jan Mostaert, được trưng bày tại Phòng Triển lãm Quốc gia ở London. Tôi sẽ cố gắng mô tả nó. Điều này cho phép định hình tốt hơn tình tiết này trong tâm trí chúng ta, vì nghệ sĩ miêu tả trung thực các yếu tố được tìm thấy trong trình thuật của Phúc âm, đặc biệt trong trình thuật của Máccô (Mc 15,16-20).

Đức Giêsu đội trên đầu một mão gai. Một nhúm cây có gai để sẵn trong sân, có lẽ đã được chuẩn bị để đốt lửa, đã gợi ý cho quân lính nghĩ đến chuyện nhạo báng tàn ác này dành cho vương quyền của Ngài. Những giọt máu từ sọ của Đức Giêsu chảy ra. Miệng Ngài hé mở, giống như một người khó thở. Người ta đã khoác trên vai Ngài một chiếc áo choàng nặng nề, sờn rách, giống như thiếc hơn là vải. Lưng Ngài in những dấu đòn vọt vừa mới phải chịu! Hai dây trói cổ tay Ngài, được giữ bằng một dây thừng thô ráp; người ta đặt vào tay của Ngài một cây sậy tượng trưng cho phủ việt, và tay kia là một bó cói tượng trưng cách mỉa mai vương quyền của Ngài. Đức Giêsu không thể nhúc nhích được tí nào; con người bất lực hoàn toàn, là nguyên mẫu của tất cả những người bị còng tay trong lịch sử.

Một ngày kia, suy niệm về cuộc Khổ nạn, nhà triết học Blaise Pascal đã viết thế này: “Đức Giêsu sẽ còn hấp hối cho đến tận thế: không được ngủ trong thời gian đó”[202]. Những lời trên có một nghĩa áp dụng cho chính con người của Đức Giêsu, nghĩa là cho đầu của nhiệm thể, chứ không chỉ cho các chi thể mà thôi. Không phải mặc dù bây giờ Ngài đã sống lại và đang sống, nhưng chính bởi vì Ngài đã sống lại và đang sống. Nhưng chúng ta hãy bỏ qua ý nghĩa quá mầu nhiệm đối với chúng ta và nói về ý nghĩa chắc chắn hơn của những lời trên. Đức Giêsu hấp hối cho đến tận thế nơi mỗi người nam hay nữ phải chịu những đau đớn như thế. “là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy!” (Mt, 25, 40): lời này, Ngài không chỉ nói cho những ai tin vào Ngài, mà còn cho bất cứ người nào, nam hay nữ, đang bị đói khát, trần truồng, bị ngược đãi, tù đầy.

Trước tiên, chúng ta đừng nghĩ đến những tai họa xã hội và tập thể: đói khát, nghèo khó, bất công, bóc lột kẻ yếu nhất. Chúng ta thường nói về nó – mặc dù không bao giờ là đủ – nhưng có nguy cơ những tình trạng này trở thành trừu tượng, thành những phạm trù chứ không phải những con người. Vậy, đúng hơn, hãy nghĩ đến những đau khổ của cá nhân, những người có danh tính và căn cước cụ thể; đến những tra tấn được quyết định cách lạnh lùng và cố ý bắt phải chịu, ngay cả lúc này đây, do những con người đối với những con người khác, thậm chí cả đối với trẻ em.

Có biết bao nhiêu Ecce homo trên thế giới! Lạy Chúa, có biết bao nhiêu Ecce homo! Có biết bao nhiêu tù nhân với những điều kiện như Đức Giêsu trong phòng xử án của Philatô: chỉ có một mình, bị còng tay, bị tra tấn, phó mặc cho những người lính thô lỗ lòng đầy thù ghét; những người này dùng mọi thứ hình khổ tàn ác về thể lý và tâm lý, vui thú xem họ chịu khổ. “Không được ngủ, không được để họ một mình!”

Câu hô Ecce homo! không chỉ áp dụng cho nạn nhân, mà còn cho những kẻ hành hình. Điều đó có nghĩa là: đây là những gì con người có khả năng làm! Đúng hơn, chúng ta hãy kinh hãi và run sợ mà nói: đây là những gì chúng ta, những con người, chúng ta có khả năng làm! Chúng ta còn xa sự tiến triển bất tận của homo sapiens, người mà, như ai đó nói, phải được sinh ra từ cái chết của Thiên Chúa và thế chỗ Ngài[203].

***

Người Kitô hữu chắc chắn không phải là nạn nhân duy nhất của bạo lực giết chóc đang bao trùm trên trái đất, nhưng không thể không biết rằng nơi nhiều quốc gia, họ là nạn nhân được chỉ rõ và thường xuyên nhất. Đức Giêsu đã từng nói với các môn đệ: “Sẽ đến giờ kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa” (Ga 16,2). Những lời trên có lẽ chưa bao giờ đúng hơn vào lúc này.

Một giám mục ở thế kỷ thứ 3, Đionysiô Alexanđria, đã làm chứng cho chúng ta về một lễ Vượt Qua được các Kitô hữu cử hành trong cuộc bách hại khốc liệt của hoàng đế Rôma Decius:

“Họ đã đầy ải chúng tôi, và chỉ chúng tôi, dù bị mọi người bách hại và bị cái chết đe dọa, ngay cả khi đó chúng tôi vẫn cử hành ngày lễ; và mỗi nơi chúng tôi chịu đau khổ đều trở thành một nơi trang trọng, nông thôn, sa mạc, tàu thuyền, nhà trọ, nhà tù; các vị tử đạo hoàn hảo đã cử hành một ngày lễ ở đó, rực rỡ nhất trong mọi ngày lễ, họ đã tham dự vào bữa tiệc trên trời[204].”

Cũng giống như vậy đối với nhiều Kitô hữu dịp lễ Phục sinh năm nay, năm 2015 sau Đức Giêsu Kitô.

Có người trong báo chí thế tục đã can đảm tố cáo sự thờ ơ đáng lo ngại của các thể chế trên thế giới và của dư luận đối với tất cả những điều đó, nhắc lại rằng một sự thờ ơ như vậy trong quá khứ đã đưa tới điều gì. Tất cả chúng ta đều có nguy cơ – các thể chế và cá nhân trong thế giới Tây phương – trở thành Philatô cho mình vô can.

Nhưng ngày hôm nay, chúng ta không được phép tố cáo ai. Chúng ta sẽ phản bội mầu nhiệm chúng ta đang cử hành. Đức Giêsu đã chết sau khi kêu lên: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Lời cầu nguyện này không phải là một lời cầu nguyện thì thầm trên môi, nhưng được kêu lên để chúng ta có thể nghe thấy rõ. Tôi thậm chí nói đó không phải là một lời cầu nguyện mà là một lời thỉnh cầu kiên quyết, được thực hiện với uy quyền của một người biết mình là Con: “Lạy Cha, xin tha cho họ!” Và vì chính Ngài nói rằng Chúa Cha nghe từng lời cầu nguyện của mình (Ga 11,42), thì chúng ta phải tin rằng Chúa Cha cũng lắng nghe lời cầu xin cuối cùng, phát ra trên thập giá, và vì vậy những người đóng đinh Ngài đã được Thiên Chúa tha thứ (chắc chắn tiên vàn phải hối cải bằng cách này hay cách khác) và họ ở với Ngài trên thiên đường, mãi mãi làm chứng cho thấy tình yêu của Thiên Chúa đã có thể đi tới đâu.

Tự nó, câu “không biết việc họ làm” chỉ liên hệ tới quân lính. Nhưng lời cầu nguyện của Đức Giêsu không giới hạn ở họ. Sự cao cả thần linh của ơn tha thứ là ở chỗ nó cũng được ban cho những kẻ thù hung dữ nhất của Ngài. Mặc dù họ đã hành động đầy xảo quyệt và độc ác, thực ra họ không biết mình đang làm gì, không nghĩ đến việc đóng đinh thập giá một người thực sự là Đấng Thiên Sai và là Con Thiên Chúa! Thay vì buộc tội những kẻ thù của mình, hoặc tha thứ bằng cách giao phó cho Cha trên trời trả thù cho mình, Ngài lại bảo vệ họ.

Tấm gương của Ngài cho các môn đệ thấy một sự quảng đại vô bờ bến. Tha thứ với một tâm hồn cao cả như Ngài không thể được thể hiện bằng một cách hành xử “tiêu cực”, hạn chế vào việc không muốn điều ác với những người làm điều ác, thay vì thể hiện một ý chí “tích cực” bằng cách muốn làm điều tốt cho họ, thậm chí chỉ bằng cách cầu nguyện với Thiên Chúa cho họ. “Hãy cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44). Sự tha thứ này cũng không thể được bù đắp bằng cách hy vọng vào một hình phạt từ Thiên Chúa. Nó phải được gợi hứng từ một hành vi bác ái tha thứ cho người lân cận, không nhắm mắt trước sự thật, ngược lại tìm cách ngăn chặn kẻ ác để họ không làm hại thêm cho người khác cũng như cho chính họ.

Chúng ta có thể bị cám dỗ nói rằng: “Lạy Chúa, Chúa đòi hỏi chúng con điều không thể!”, Ngài sẽ trả lời cho chúng ta: “Ta biết, nhưng Ta đã chết để có thể cho con những gì con xin. Ta đã không chỉ truyền cho con tha thứ, Ta đã không chỉ cho con một mẫu gương thuần túy tha thứ đến độ anh hùng; với cái chết của Ta, Ta đã ban cho con ân sủng giúp con có khả năng tha thứ. Ta không chỉ để lại cho thế gian một giáo huấn về lòng thương xót, như rất nhiều người khác đã làm. Ta cũng là Thiên Chúa, và Ta đã đổ tràn lòng thương xót cho con từ cái chết của Ta. Con có cả Năm Thánh Lòng Thương Xót để dùng cả hai tay mà múc lấy.”

***

Một số người sẽ nói: phải chăng theo Đức Kitô là luôn thụ động phó mặc cho thất bại và cái chết? Không phải vậy mà ngược lại! Đức Kitô nói với các môn đệ trước khi đi vào cuộc Khổ nạn: “Can đảm lên. Thầy đã thắng thế gian!” (Ga 16,33). Đức Giêsu đã thắng thế gian, khi thắng sự dữ. Chiến thắng cuối cùng của sự thiện chống lại sự ác, sẽ được tỏ hiện vào ngày tận thế, thì đã diễn ra, trên thực tế và theo luật, trên thập giá của Đức Kitô. Ngài nói: “Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này” (Ga 12,31). Kể từ ngày này, sự ác mất dần; càng mất hơn khi nó có vẻ chiến thắng. Nó đã bị xét xử và bị kết án trong cấp xét xử cuối cùng, với bản án không còn kháng cáo được nữa.

Đức Giêsu đã chiến thắng bạo lực, không phải bằng một bạo lực lớn hơn, nhưng bằng cách chịu đựng nó và phơi bày tất cả sự bất công và vô dụng là đặc trưng của nó. Ngài đã khai mào một loại chiến thắng mới, được Thánh Augustinô định nghĩa bằng ba từ: “Victor quia victima – chiến thắng vì là nạn nhân[205].” Chính khi thấy “cách Ngài tắt thở” mà viên đại đội trưởng đã kêu lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa!” (Mc 15,39). Những người khác tự hỏi xem tiếng kêu lớn mà Đức Giêsu thốt ra trước khi tắt thở có thể có ý nghĩa gì (Mc 15,37). Còn viên sĩ quan, người đã thông thạo về các cuộc chiến đấu và với tư cách chiến binh, đã nhận ra ngay đó là một tiếng kêu thắng trận[206].

Vấn đề bạo lực, ngày nay mang những hình thức tàn ác và man rợ mới mẻ, quấy rầy chúng ta, là cớ vấp phạm cho chúng ta. Chúng ta, những người Kitô hữu, chúng ta phản ứng, kinh hoàng nghĩ rằng người ta có thể giết chết nhân danh Thiên Chúa. Nhưng ai đó vặn lại: không phải Kinh thánh cũng đầy những câu chuyện về bạo lực đó sao? Thiên Chúa không được gọi là “Chúa các đạo binh” đó sao? Người ta lại không gán cho Ngài lệnh hủy diệt toàn bộ thành phố đó sao? Trong luật Môsê, không phải Ngài quy định hình phạt tử hình trong nhiều trường hợp đó sao?

Nếu cũng vấn nạn này được đưa ra cho Đức Giêsu lúc sinh tiền, chắc chắn Ngài sẽ trả lời như khi Ngài trả lời về việc ly hôn: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không có thế đâu!” (Mt 19,8). Và cũng về bạo lực, “thuở ban đầu không có thế đâu“. Chương đầu tiên của sách Sáng thế trình bày một thế giới nơi người ta không thể hình dung ra bạo lực giữa con người với nhau, và giữa con người với động vật. Không được phép giết người, ngay cả để báo thù cho cái chết của Abel, như vậy ngay cả để trừng phạt một kẻ sát nhân (x. St 4,15).

Tư tưởng của Thiên Chúa được tóm tắt trong lệnh truyền “Ngươi chớ giết người“, hơn là những trường hợp ngoại lệ trong Lề Luật, là những nhượng bộ cho “sự cứng lòng” và phong tục của con người. Sau tội lỗi thì bạo lực là một phần bất hạnh của cuộc sống, và Cựu Ước, là tấm gương của cuộc sống và phải phục vụ cho cuộc sống, ít nhất tìm cách, bằng luật pháp và thậm chí bằng án tử hình, tập trung và ngăn chặn bạo lực để tránh cho nó khỏi biến thành trọng tài cá nhân và tránh cho chúng ta khỏi xâu xé nhau.

Phaolô nói về một thời “khoan dung” của Thiên Chúa (Rm 3,25). Thiên Chúa khoan dung với bạo lực, cũng như Ngài khoan dung với sự đa thê, ly dị và những chuyện khác, nhưng bằng cách dạy dỗ dân của mình, Ngài tiến đến một thời kỳ trong đó kế hoạch ban đầu của Ngài sẽ được “tập hợp lại” và được biểu dương, như cho một sáng tạo mới. Thời kỳ này đã đến với Đức Giêsu, khi Ngài công bố trên núi: “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng. Con Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, nếu ai bị vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. […] Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” (Mt 5, 38-39; 43-44).

“Bài giảng trên núi” thực sự đã thay đổi thế giới, tuy vậy, không phải là bài mà Đức Giêsu đã từng công bố trên đồi Galilê, nhưng là bài giờ đây Ngài âm thầm công bố trên thập giá. Trên đồi Calvê, Ngài nói “không” vĩnh viễn với bạo lực, đối kháng với bạo lực không chỉ bằng cách bất bạo động, mà hơn thế nữa, còn bằng sự tha thứ, dịu dàng và yêu thương. Và nếu vẫn còn bạo lực, nó sẽ không còn có thể dựa vào Thiên Chúa và nại tới uy quyền của Ngài. Làm như vậy sẽ là đưa tư tưởng của Thiên Chúa lùi về các giai đoạn nguyên thủy và thô sơ, là những giai đoạn đã bị lương tâm tôn giáo và dân sự của nhân loại vượt qua.

***

Các vị tử đạo chân chính không chết với những bàn tay nắm chặt, nhưng với những bàn tay nối với nhau. Chúng ta đã có rất nhiều gương mẫu gần đây. Với hai mươi mốt Kitô hữu Copte bị chiến binh thánh chiến của Nhà nước Hồi giáo ở Libya giết ngày 22 tháng 2, Thiên Chúa đã ban cho họ sức mạnh chết dưới mũi gươm mà vẫn kêu thầm tên Đức Giêsu. Chúng ta cũng vậy, chúng ta hãy cầu nguyện:

Lậy Chúa Giêsu Kitô, chúng con cầu xin Chúa cho những người anh em bị bắt bớ, và cho tất cả những Ecce homo hiện nay, những Kitô hữu và những người không theo Kitô giáo, trong lúc này, trên mặt đất này. Lậy Mẹ Maria, dưới thập giá, Mẹ liên kết với Con Mẹ và thì thầm sau Ngài: “Xin Cha tha cho họ!”; xin giúp chúng con lấy sự lành chiến thắng sự dữ, không những trên phạm vi thế giới, mà cả trong cuộc sống hàng ngày, trong gia đình chúng con. Mẹ là Đấng chịu đau khổ với Con sinh thì trên thánh giá, xin đem đến cho công trình cứu độ của Đấng Cứu Thế sự cộng tác khôn sánh của Mẹ, nhờ sự vâng phục, đức tin, đức cậy, đức mến nhiệt thành của Mẹ[207], xin gợi cho mọi người nam nữ trong thời đại chúng con những ý tưởng bình an, thương xót và tha thứ. Amen.


XXXVII. “ANH EM HÃY LÀM HÒA CÙNG THIÊN CHÚA”

Thiên Chúa là Đấng đã nhờ Đức Kitô mà cho chúng ta được hòa giải với Người […] Nhân danh Đức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa cùng Thiên Chúa. Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người. Vì được cộng tác với Thiên Chúa, chúng tôi khuyên nhủ anh em: anh em đã lãnh nhận ân huệ của Thiên Chúa, thì đừng để trở nên vô hiệu. Quả thế, Chúa phán rằng: Ta đã nhậm lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi trong ngày Ta cứu độ. Vậy đây là thời Thiên Chúa tri ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ!” (2Cr 5,18-21; 6,1-2)

Đây là những lời của Thánh Phaolô trong Thư thứ hai gửi người Côrintô. Lời kêu gọi của vị Tông Đồ làm hòa với Thiên Chúa không liên quan đến sự hòa giải lịch sử giữa Thiên Chúa và nhân loại (điều này, như ngài vừa nói, đã xảy ra nhờ Đức Kitô trên thập giá); cũng không phải là sự hòa giải bí tích xảy ra trong bí tích rửa tội và bí tích hòa giải; nó dẫn tới một sự hòa giải hiện sinh và cá nhân phải thực hành giờ đây, trong thời điểm hiện tại. Lời kêu gọi nhằm gửi tới các Kitô hữu ở Côrintô, những người đã chịu phép rửa tội và từ lâu sống trong Giáo hội; vì vậy, nó cũng gửi tới chúng ta, ở đây và lúc này. “Đây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ” đối với chúng ta, chính là Năm Thánh Lòng Thương Xót, mà chúng ta đang sống.

Nhưng “làm hòa cùng Thiên Chúa” có nghĩa gì, theo ý nghĩa hiện sinh và tâm lý học? Một trong những lý do, có lẽ là lý do chính, khiến con người hiện đại xa lìa tôn giáo và đức tin, là hình ảnh méo mó về Thiên Chúa nơi họ. Thật vậy, đâu là hình ảnh “được xác định trước” về Thiên Chúa trong vô thức của con người? Để khám phá ra điều đó, chúng ta hãy đặt ra cho mình câu hỏi sau đây: “Chúng ta nghĩ thế nào và phản ứng ra sao, thậm chí không cần suy nghĩ, lúc đọc kinh “Lạy Cha” đến chỗ: “Xin cho ý Cha thể hiện”?

Chúng ta đọc lời đó mà cúi đầu xuống bên trong ta, như cam chịu, như chuẩn bị cho một điều tồi tệ. Một cách vô thức, chúng ta liên kết ý muốn của Thiên Chúa với tất cả những gì là khó chịu, đau đớn, với những gì, cách này hay cách khác, sẽ được coi là một điều xúc phạm đến sự tự do và phát triển cá nhân. Nó hơi giống như thể Thiên Chúa là kẻ thù của tất cả các lễ lạc, của niềm vui và lạc thú. Một Thiên Chúa càu nhàu và soi mói.

Thiên Chúa được coi là Đấng tối cao, toàn năng, Chúa tể thời gian và lịch sử, nghĩa là như một thực thể áp đặt lên cá nhân từ bên ngoài; không một chi tiết nào của cuộc sống con người thoát khỏi Ngài. Vi phạm Lề Luật của Ngài dứt khoát dẫn đến một sự rối loạn đòi hỏi phải đền bù thỏa đáng mà con người biết rằng không có khả năng làm điều đó. Đây là căn nguyên của sợ hãi và đôi khi hận thù ngấm ngầm đối với Ngài. Ở đây chúng ta thấy những tàn dư của ý tưởng ngoại giáo về Thiên Chúa, không bao giờ hoàn toàn bị bật rễ, và có lẽ không bật rễ được, khỏi trái tim con người. Tất cả bi kịch Hy Lạp dựa trên ý tưởng này; Thiên Chúa can thiệp, bằng hình phạt của Ngài, để khôi phục trật tự đạo đức bị tội lỗi làm xáo trộn. Mọi thứ bắt nguồn từ hình ảnh một Thiên Chúa “ghen tương” với con người mà con rắn ban đầu đã gieo vào trong tâm trí Ađam và Evà.

Chắc chắn, trong Kitô giáo, lòng thương xót của Thiên Chúa chưa bao giờ bị bỏ qua! Nhưng người ta chỉ công nhận nhiệm vụ duy nhất nơi Ngài là tiết chế những nghiêm ngặt tuyệt đối của công lý. Thương xót là ngoại lệ, không phải quy tắc. Năm Thánh Lòng Thương Xót là cơ hội để đưa ra ánh sáng hình ảnh đích thật của Thiên Chúa trong Kinh thánh, một Thiên Chúa không chỉ làm những công việc của lòng thương xót, nhưng là chính lòng thương xót.

Quả quyết táo bạo này dựa trên sự kiện “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8.16). Chỉ trong Ba Ngôi mà thôi, Thiên Chúa là tình yêu, không phải là “thương xót”. Chúa Cha yêu Chúa Con không phải là ân sủng hay nhượng bộ; nhưng là một sự cần thiết; Ngài cần phải yêu để hiện hữu với tư cách Chúa Cha. Chúa Con yêu Chúa Cha không phải là một hành vi thương xót hay ân sủng; thậm chí rất tự do, đó là một điều cần thiết; Ngài cần được yêu và yêu để là “Con”. Tương tự như vậy là Chúa Thánh Thần, Đấng là tình yêu được nhân cách hóa.

Chính khi Thiên Chúa tạo ra thế giới và đặt các thụ tạo tự do vào đó, mà tình yêu của Ngài không còn thuộc trật tự tự nhiên và trở thành một ân sủng. Tình yêu này là một sự nhượng bộ tự do, có thể không tồn tại; Ngài là hesed, ân sủng và lòng thương xót. Tội lỗi của con người không làm thay đổi bản chất của tình yêu này, nhưng gây ra trong đó một bước nhảy về phẩm chất: từ lòng thương xót như một quà tặng sang lòng thương xót như một sự tha thứ. Từ một tình yêu hiến tặng sang một tình yêu đau khổ, bởi vì Thiên Chúa đau khổ khi thấy tình yêu của mình bị từ chối. “Ta đã nuôi nấng đàn con, cho chúng nên khôn lớn, nhưng chúng đã phản nghịch cùng Ta” (Is 1,2). Chúng ta cứ hỏi các bậc cha mẹ đã trải nghiệm về việc ấy, xem đó lại không phải là một đau khổ, và thuộc số những đau khổ cay đắng nhất của cuộc sống hay sao.

***

Còn sự công bình của Thiên Chúa thì sao? Sẽ bị lãng quên, bị đánh giá thấp chăng? Thánh Phaolô đã trả lời câu hỏi này một lần dứt khoát. Trong Thư gửi tín hữu Rôma, ngài bắt đầu loan báo sự cứu rỗi như sau: “Ngày nay sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện” (Rm 3,21). Người ta tự hỏi: công lý nào? Công lý mang lại cho unicuique suum, cho mỗi người những gì thuộc về họ, nói cách khác, thưởng hay phạt tùy theo công trạng của họ chăng? Tất nhiên, có ngày sự công chính của Thiên Chúa sẽ được thể hiện, ngày thưởng phạt mỗi người những gì họ đáng được. Vì, như thánh Tông Đồ viết, Thiên Chúa “sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm. Những ai bền chí làm việc thiện mà tìm vinh quang, danh dự, phúc trường sinh bất tử, thì Thiên Chúa sẽ cho họ được sống đời đời; còn những ai chống Thiên Chúa mà không vâng phục chân lý và chạy theo điều ác, thì Người sẽ nổi trận lôi đinh, trú cơn thịnh nộ xuống đầu họ” (Rm 2, 6-8).

Nhưng thánh Tông Đồ không nói về sự công chính đó khi viết: “Ngày nay sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện“. Trong trường hợp đầu tiên, đó là một biến cố trong tương lai, trong trường hợp thứ hai, đó là một biến cố đang diễn ra, đang được thực hiện “bây giờ“. Nếu không, lời quả quyết của Phaolô sẽ vô lý, bị chính những sự kiện bác bỏ. Xét theo quan điểm công bình thưởng phạt, không có gì thay đổi trên thế giới khi Đức Kitô đến. Theo Bossuet[208], chúng ta tiếp tục thường thấy những thủ phạm trên ngai và những người vô tội trên đoạn đầu đài; nhưng chúng ta đừng nghĩ rằng có một công lý hay trật tự cố định nào đó trên thế giới, ngay cả khi ở hướng đối nghịch, khiến chúng ta đôi khi thấy điều ngược lại, nói cách khác, thấy sự vô tội lên ngôi và thủ phạm lên đoạn đầu đài. Nhưng đó không phải là sự mới lạ do Đức Kitô mang đến. Chúng ta hãy lắng nghe những gì thánh Tông Đồ nói với chúng ta: “Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thiên Chúa đã đặt Người làm hy lễ xá tội nhờ máu của người cho những ai có lòng tin, Như vậy Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng Công Chính. Trước kia trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm. Nhưng bây giờ Người muốn cho thấy rằng Người vừa là Đấng Công Chính, vừa làm cho kẻ tin vào Đức Giêsu được nên công chính.” (Rm 3, 23-26).

Thiên Chúa biểu lộ sự công chính, khi cho thấy lòng thương xót của mình! Đó là một mạc khải lớn lao. Thánh Tông Đồ nói rằng Thiên Chúa “công chính và làm cho nên công chính“, nghĩa là Ngài công chính với chính mình khi làm cho con người được nên công chính; Ngài vừa yêu thương vừa thương xót; chính vì vậy Ngài công chính với chính mình – nghĩa là Ngài thế nào thì thật sự tỏ ra thế ấy – khi Ngài thực hiện lòng thương xót của mình.

Nhưng người ta không hiểu gì về tất cả những điều ấy nếu không hiểu chính xác kiểu nói “sự công chính của Thiên Chúa”. Khi nghe nói về sự công chính này, người ta có nguy cơ, thay vì cảm thấy được khuyến khích, lại sợ hãi vì không biết ý nghĩa của nó. Thánh Augustinô đã giải thích rõ ràng. Ngài viết: “Sự công chính của Thiên Chúa” là sự công chính nhờ đó người công chính là người được Thiên Chúa công chính hóa bằng ân sủng của Ngài, giống hệt như ‘sự cứu rỗi của Chúa’ (Salus Domini) (x. Tv 3,9) là sự cứu rỗi nhờ đó Chúa cứu độ chúng ta[209]. Nói cách khác, sự công chính của Thiên Chúa là hành vi nhờ đó Thiên Chúa làm cho những ai tin vào Con của Ngài thì được nên công chính. Đó không phải là thi hành công lý cho mình, nhưng là làm cho người ta nên công chính.

Luther có công đưa ra ánh sáng sự thật này, sau nhiều thế kỷ bị lãng quên, ít nhất trong lời rao giảng Kitô giáo, và chính vì thế mà Kitô giáo đặc biệt mắc nợ cuộc Cải Cách, mà năm tới sẽ kỷ niệm năm trăm năm. Sau này nhà cải cách đã viết: “Khi tôi khám phá ra điều đó, tôi cảm thấy mình hoàn toàn được tái sinh và tôi như vào chính thiên đàng qua những cánh cửa rộng mở[210].” Nhưng Augustinô và Luthêrô không phải là những người đầu tiên giải thích theo cách này khái niệm “sự công chính của Thiên Chúa”; chính Kinh thánh đã làm điều đó trước họ:

Nhưng Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, đã biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Người đối với nhân loại. Không phải vì tự sức mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Người thương xót.” (Tt 3, 4-5). “Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu mến chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ.” (Ep 2, 4-5)

Vì vậy, nói rằng “sự công chính của Thiên Chúa đã được thể hiện” là nói rằng Thiên Chúa đã thể hiện lòng nhân từ, tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Sự công chính của Thiên Chúa không những không mâu thuẫn với lòng thương xót của Ngài, mà cốt ở tại chính lòng thương xót!

* * *

Điều gì đã xảy ra rất quan trọng trên thập giá biện minh cho một sự thay đổi triệt để như vậy trong vận mệnh của nhân loại? Trong cuốn sách Jesus of Nazareth, Đức Bênêđictô XVI viết: “Điều vốn dĩ là sai, đó là thực tại sự dữ, không thể bỏ qua, không thể để như thế. Nó phải bị loại bỏ, bị đánh bại. Chỉ như thế mới là lòng thương xót đích thực. Và vì con người không thể làm như vậy, nên chính Thiên Chúa giờ đây đương đầu với nó – đây là lòng tốt vô điều kiện của Thiên Chúa[211].”

Chúa không chỉ tha thứ cho con người những tội lỗi của họ. Ngài làm nhiều hơn đến vô hạn, Ngài mang những tội lỗi này trên người, vác chúng trên vai. Thánh Phaolô nói: Con Thiên Chúa “đã trở thành tội vì chúng ta.” Một lời khủng khiếp! Ngay từ thời Trung cổ, một số người khó có thể tin rằng Thiên Chúa đòi hỏi cái chết của Con mình để hòa giải với thế gian. Thánh Bênađô đã trả lời cho họ: “Không phải là cái chết của Con làm Ngài hài lòng, nhưng là ý muốn tự nguyện chết vì sự cứu rỗi thế gian”: Non mors placuit sed voluntas sponte morientis[212]. Vì vậy, không phải cái chết đã cứu chúng ta, nhưng là tình yêu!

Tình yêu của Thiên Chúa đã gặp gỡ con người trong những bước đường cùng của mình là cái chết. Cái chết của Đức Kitô phải cho mọi người thấy như bằng chứng tối cao của lòng Thiên Chúa thương xót tội nhân. Và chính vì vậy cái chết ấy cũng không còn nét uy nghiêm của một cái chết cô đơn, nhưng gắn liền với cái chết của hai tên trộm cướp. Đức Giêsu muốn là bạn của tội nhân cho đến cùng. Vì vậy, Ngài chết như họ và với họ.

* * *

Đã đến lúc nhận ra rằng đối nghịch với thương xót không phải là công lý, nhưng là báo thù. Đức Giêsu không đối nghịch thương xót với công lý, nhưng với luật ăn miếng trả miếng: “mắt đền mắt, răng đền răng“. Khi tha thứ tội lỗi, Thiên Chúa không từ bỏ công lý, nhưng từ bỏ báo thù; Ngài không muốn kẻ có tội phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối mà được sống (x. Ez 18,23). Đức Giêsu trên thập giá đã không xin Chúa Cha báo thù cho mình; Ngài xin tha cho những người đã đóng đinh mình.

Sự thù hận và tàn bạo của các cuộc tấn công khủng bố ở Bruxelles tuần này giúp chúng ta hiểu được sức mạnh thần linh trong những lời cuối cùng của Đức Kitô: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Cho dù sự căm thù của con người có lớn mấy đi nữa, thì tình yêu của Thiên Chúa đã và sẽ vẫn luôn mạnh hơn. Trong những hoàn cảnh hiện tại, lời khuyên của Tông Đồ Phaolô nói với chúng ta: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12,21).

Chúng ta phải giải thiêng (démythifier) sự báo thù! Báo thù đã trở thành một huyền thoại lan tràn làm ô nhiễm mọi sự và mọi người, bắt đầu từ trẻ em. Phần lớn những câu chuyện trên màn hình và trong các trò chơi điện tử là những câu chuyện về sự báo thù, đôi khi được coi là một chiến thắng cho người anh hùng tử tế. Một nửa, thậm chí nhiều hơn, những đau khổ hiện nay trên thế giới (khi không phải là những tai họa thiên nhiên) phát xuất từ mong muốn báo thù, cả trong những quan hệ giữa các cá nhân lẫn trong những quan hệ giữa các quốc gia và các dân tộc.

Dostoievsky nói rằng “vẻ đẹp sẽ cứu thế giới”[213]; nhưng cái đẹp cũng có thể đưa đến đổ nát. Chỉ lòng thương xót mới có thể thực sự cứu thế giới! Lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người và của con người đối với nhau. Đặc biệt ngày hôm nay, nó có thể cứu điều quý giá và mong manh nhất trên thế giới vào lúc này là hôn nhân và gia đình.

Điều đã xảy ra giữa Thiên Chúa và con người, trong các mối quan hệ giữa hai bên, mối quan hệ mà Giáo hội mô tả bằng hình ảnh hôn lễ, thì đang xảy ra một cách nào đó trong hôn nhân. Như tôi đã nói, ngay từ đầu là tình yêu chứ không phải lòng thương xót. Trong hôn nhân cũng vậy, lúc ban đầu chỉ có tình yêu. Chúng ta không kết hôn vì thương xót nhưng vì yêu. Nhưng sau những năm hay những tháng sống chung, những giới hạn bắt đầu xuất hiện ở cả hai bên, vấn đề sức khỏe, tài chính, quan tâm đến con cái. Thói quen hình thành và niềm vui tắt ngúm.

Điều có thể cứu cho hôn nhân khỏi xuống dốc và giúp nó leo lại lên dốc là lòng thương xót, được hiểu theo nghĩa Kinh thánh, tức không chỉ là tha thứ cho nhau nhưng còn là “có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại” (Cl 3,12). Thương xót cho phép thêm agape vào eros, thêm tình yêu tự hiến thương cảm vào tính tự ái. Thiên Chúa “thương xót” con người (Tv 102,13): chẳng lẽ vợ chồng không thương xót nhau? Và chúng ta, sống đời sống cộng đồng, chẳng lẽ lại không thương xót nhau, thay vì xét đoán nhau?

Chúng ta hãy cầu nguyện:

Lạy Cha trên trời, nhờ công nghiệp của Con Cha, Đấng đã trở nên “hiện thân của tội lỗi” (x. 2Cr 5,21) trên thập giá vì chúng con, xin cho tâm hồn các cá nhân, gia đình, và dân tộc không còn ước muốn báo thù, và cho chúng con biết yêu mến lòng thương xót. Xin cho sáng kiến của Đức Thánh Cha công bố Năm Thánh Lòng Thương Xót này được đáp lại cụ thể trong đời sống chúng con, và cho mọi người cảm nghiệm niềm vui được hoà giải với Cha tận đáy lòng. Amen


XXXVIII. “ÔI THÁNH GIÁ, NGUỒN HY VỌNG DUY NHẤT CỦA THẾ GIỚI”

Chúng ta vừa nghe trình thuật về cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Về căn bản, đây chỉ là bản tường thuật về một cái chết thảm khốc, một điều hầu như không bao giờ thiếu trong các tin tức trong ngày. Cả trong những ngày gần đây, chúng ta đã nghe nhiều, chẳng hạn tin tức về ba mươi tám Kitô hữu Copte bị giết ở Ai Cập hôm Chúa nhật Lễ Lá. Những tin tức như vậy nối tiếp nhau dầy đặc đến mức chỉ một ngày sau là chúng ta quên những tin tức ngày hôm trước. Vậy tại sao sau 2000 năm, thế giới vẫn còn nhớ cái chết của Đức Giêsu Nadaret, như thể nó vừa xảy ra ngày hôm qua? Thực tế là cái chết này thay đổi mãi mãi bộ mặt của cái chết, mang lại cho nó một ý nghĩa mới. Chúng ta hãy dành ra một lúc suy nghĩ về nó.

Khi đến gần Đức Giêsu và thấy Người đã chết, họ không đánh dập ống chân Người. Nhung một người lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người. Tức thì máu cùng nước chảy ra.” (Ga 19,33-34) Lúc bắt đầu sứ vụ, khi có những người hỏi Ngài lấy quyền gì mà đuổi các con buôn ra khỏi Đền thờ, Đức Giêsu đã trả lời: “Các ông cứ phá hủy Đền Thờ này đi, nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại”. “Đền Thờ Đức Giêsu muốn nói ở đây là chính thân thể Người” (Ga 2,19.21), Gioan đã xác định như thế vào dịp này, và rồi cũng tác giả sách Phúc âm này làm chứng rằng từ hông đền thờ “bị phá hủy” nước và máu chảy ra. Một sự ám chỉ rõ ràng lời tiên tri của Edêkien, người đã nói về đền thờ tương lai của Thiên Chúa: một dòng nước từ Đền Thờ chảy ra, đầu tiên là một dòng suối, sau đó là một dòng sông thuyền bè qua lại được và trên bờ đủ loại cây cối mọc lên.

Nhưng chúng ta hãy đi đến tận nguồn của những “dòng nước hằng sống” này (Ga 7,38), trong trái tim bị đâm thủng của Đức Kitô. Trong sách Khải huyền, cũng người môn đệ yêu dấu của Đức Giêsu viết: “Bấy giờ tôi thấy đứng ở giữa ngai và bốn Con Vật, giữa các vị Kỳ Mục, một Con Chiên, trông như thể đã bị giết” (Kh 5,6). Bị sát tế nhưng đứng, nói cách khác bị đâm thủng, nhưng đã sống lại và đang sống.

Từ đây trong Ba Ngôi và trên thế giới, có một trái tim nhân loại đang đập thực sự, chứ không chỉ là một cách nói. Nếu quả thực Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì trái tim của Người cũng vậy; trái tim này sống, giống như tất cả phần còn lại của thân thể, trong một chiều kích khác, thực sự, mặc dù bí nhiệm. Nếu Con Chiên ở trên trời, “bị sát tế, nhưng đứng”, thì trái tim của Ngài cũng cùng chung một tình trạng; đó là một trái tim bị đâm thủng nhưng vẫn sống; bị đâm thủng mãi mãi, chính xác vì đang sống mãi mãi.

Một tác giả đã đặt ra một kiểu nói để mô tả đỉnh điểm của sự gian ác giữa lòng nhân loại: “trung tâm của bóng tối” (Joseph Conrad). Sau hy tế của Đức Giêsu, sâu hơn trung tâm bóng tối này, một trung tâm ánh sáng đập nhẹ trên thế giới. Quả thực, một khi về trời, Đức Kitô đã không bỏ thế gian, y như khi nhập thể, Ngài đã không bỏ Ba Ngôi.

Một điệp ca của Phụng vụ Giờ Kinh nói: “Hôm nay, ý muốn của Chúa Cha được thực hiện, là biến Đức Kitô thành trung tâm của thế giới”. Câu này minh họa cho sự lạc quan bất khuất của Kitô giáo, đã khiến một phụ nữ thần bí thời Trung cổ nói lên rằng: “Tội lỗi thì không thể tránh được, nhưng cứ yên tâm, mọi sự sẽ tốt đẹp, mọi sự sẽ kết thúc tốt đẹp.” (Julian Norwich).

***

Các đan sĩ chartreux đã chọn một huy hiệu để ở lối vào đan viện. Huy hiệu này trình bày một quả cầu, bên trên có cây thập giá, với hàng chữ bao quanh Stat crux dum volvitur orbis, “Thập giá đứng yên trong khi thế giới xoay vòng”.

Thập giá biểu thị điều gì, khi là điểm vững chắc, trục chính yếu trong một thế giới đang thay đổi? Đó là tiếng nói “không” dứt khoát và không thể đảo ngược của Thiên Chúa trước bạo lực, bất công, hận thù, dối trá, trước tất cả những gì chúng ta gọi là “sự dữ”; và đồng thời là tiếng nói “có”, cũng không thể đảo ngược, trước tình yêu, sự thật, sự thiện. Nói “không” với tội lỗi, nói “có” với tội nhân. Đây là điều Đức Giêsu đã thực hành trong suốt cuộc đời mình và giờ đây Ngài vĩnh viễn hóa nó bằng cái chết của mình.

Lý do của sự phân biệt này là rõ ràng: tội nhân là một thụ tạo của Thiên Chúa và giữ được phẩm giá của mình, bất chấp mọi lỗi lầm mình phạm. Tội lỗi, không; nó là một thực tại “ký sinh”, được thêm vào, thành quả do những đam mê của chúng ta và “sự ghen tị của ma quỷ” đem lại (Kn 2,24). Đây cũng là lý do tại sao Ngôi Lời, khi nhập thể, đã mặc lấy mọi sự của con người, ngoại trừ tội lỗi. Người trộm lành, người được Đức Giêsu sắp chết hứa ban thiên đàng, là minh chứng sống động cho thấy Thiên Chúa lên án tội lỗi nhưng cứu vớt tội nhân.

Do đó, thập giá không chống lại thế gian, nhưng là vì thế gian: mang lại ý nghĩa cho mọi đau khổ đã có, đang có và sẽ có trong lịch sử nhân loại. Đức Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,17). Thập giá là lời tuyên bố sống động rằng chiến thắng cuối cùng không thuộc về những người chiến thắng người khác, nhưng thuộc về những người chiến thắng chính mình; không thuộc về những người gây ra đau khổ, nhưng thuộc về những người chịu đau khổ.

* * *

Dum volvitur orbis“, trong khi thế giới xoay vòng. Lịch sử nhân loại trải qua từ thời kỳ này sang thời kỳ khác: người ta nói về thời kỳ đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, thời kỳ đế quốc, thời đại nguyên tử, thời đại điện tử. Nhưng hôm nay có một cái gì đó mới mẻ. Ý tưởng về sự chuyển đổi không còn đủ để mô tả tình hình hiện tại. Cùng với ý tưởng về sự thay đổi, phải thêm vào ý tưởng về sự phân mảnh. Có tác giả nói là chúng ta đang sống trong một “xã hội hóa lỏng” (Zygmunt Bauman); không còn những điểm cố định, không còn những giá trị không thể chối cãi, không còn tảng đá nào trên biển để bám vào hoặc va chạm. Mọi thứ đều biến động.

Giả thuyết tồi tệ nhất đã xảy ra, giả thuyết mà triết gia đã dự đoán là hậu quả của cái chết của Thiên Chúa, giả thuyết mà sự xuất hiện của siêu nhân lẽ ra đã phải ngăn chặn, (nhưng ông đã không ngăn chặn): “Chúng ta đã làm gì khi chúng ta tách trái đất này ra khỏi mặt trời của nó? Những chuyển động của nó lúc này đang dẫn nó tới đâu? Những chuyển động của chúng ta dẫn nó tới đâu? Xa tất cả các mặt trời ư? Chúng ta lại không ngừng rơi xuống sao? Tiến tới, lùi sau, sang bên cạnh, mọi phía chăng? Có phải còn một cái gì ở trên và một cái gì ở dưới chăng? Phải chăng chúng ta lại không lang thang như xuyên qua một cõi hư vô bất tận?[214]

Người ta đã nói rằng “giết chết Thiên Chúa là vụ tự tử khủng khiếp nhất”, và đó là những gì chúng ta đang chứng kiến một phần. Không phải “nơi nào Thiên Chúa sinh ra thì con người chết” (J.-P. Sartre); điều ngược lại mới đúng: nơi nào Thiên Chúa chết thì con người chết.

Một họa sĩ thuộc trường phái siêu thực ở hậu bán thế kỷ trước (Salvador Dalí) đã vẽ một cây thánh giá mà dường như là một lời tiên tri về tình hình này. Một cây thánh giá khổng lồ, có chiều kích vũ trụ, trên đó có một Đức Kitô, cũng lớn không kém, nhìn từ trên cao, đầu gục xuống. Nhưng không có đất khô dưới thập giá, mà chỉ có nước. Đấng trên thánh giá không bị treo lơ lửng giữa trời và đất, nhưng giữa trời và yếu tố lỏng của thế giới.

Tuy vậy hình ảnh bi thảm này (hậu cảnh bức tranh là một đám mây có thể ám chỉ đám mây nguyên tử) cho thấy một điều chắc chắn an ủi chúng ta: cũng có niềm hy vọng cho một xã hội hóa lỏng như xã hội chúng ta! Có niềm hy vọng, vì trên nó chính là “thập giá của Đức Kitô đang đứng”. Chính là những gì chúng ta lặp lại mỗi năm trong phụng vụ thứ Sáu tuần Thánh khi công bố những lời của thi sĩ Venance Fortunat: O crux, ave spes unica, “Kính chào, ôi Thánh giá, nguồn hy vọng duy nhất của thế giới”.

Phải, Thiên Chúa đã chết, Ngài đã chết nơi Con của mình là Đức Giêsu Kitô; thế nhưng Ngài đã không nằm yên trong mộ, Ngài đã sống lại. Phêrô nói với dân chúng ngày lễ Ngũ Tuần: “Anh em đã đóng đinh Người, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại!” (Cv 2,23-24). Ngài là Đấng “đã chết, nhưng nay sống đến muôn thuở muôn đời” (Kh 1,18). Thập giá không đứng yên “trong khi thế giới xoay vòng”, như thể chỉ là ký ức thuần túy về một biến cố đã qua, hoặc một biểu tượng thuần túy; thập giá có mặt trong suốt dòng lịch sử, như một thực tại đang diễn ra, đang sống và hoạt động.

***

Nhưng, không như các nhà xã hội học, chúng ta không chỉ phân tích xã hội chúng ta đang sống. Đức Kitô đã không đến để cắt nghĩa sự việc, nhưng để thay đổi con người. Trái tim của bóng tối không phải là của bất kỳ kẻ bất lương nào ẩn mình nơi hang cùng ngõ hẻm, cũng không phải là của xã hội sản sinh ra nó. Nó có mặt ở những mức độ khác nhau nơi mỗi chúng ta.

Kinh thánh gọi đó là “trái tim bằng đá”. Chúa nói trong Êdêkien: “Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi, và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt” (Ed 36,26). Một trái tim bằng đá là một trái tim khép kín trước ý muốn của Thiên Chúa và nỗi khổ của anh em mình, trái tim của những người tích lũy tiền bạc vô giới hạn và thờ ơ trước nỗi tuyệt vọng của những người thậm chí không có lấy một ly nước cho con cái của họ uống; đó cũng là trái tim của những người để cho đam mê không trong sạch hoàn toàn chi phối, sẵn sàng giết người vì nó hoặc sống một cuộc sống hai mặt. Khi không luôn nhìn ra bên ngoài, hướng tới người khác, chúng ta không thể nói trái tim của chúng ta là trái tim của một thừa tác viên của Thiên Chúa hay của một Kitô hữu thực hành đạo, nếu như về cơ bản chúng ta sống “cho chính chúng ta”, chứ không phải “cho Chúa”.

Kinh thánh viết rằng lúc Đức Kitô sinh thì, “bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới, đất rung đá vỡ, mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy” (Mt 27,51tt). Những dấu chỉ này thường được giải thích theo nghĩa tận thế, thuộc ngôn ngữ tượng trưng mô tả biến cố cánh chung. Nhưng những dấu chỉ này cũng có một ý nghĩa khuyến thiện: chúng cho thấy những gì phải xảy ra trong âm hồn những người đọc và suy niệm về cuộc Khổ nạn của Đức Kitô. Trong một phụng vụ như phụng vụ hôm nay, thánh Lêô Cả đã nói với các tín hữu: “Chớ gì bản tính con người run sợ trước cực hình của Đấng Cứu Chuộc, chớ gì các viên đá của những trái tim bất trung vỡ tung và những người chết nằm trong mộ đi ra, khi đã nhấc hòn đá đè trên họ[215]”.

Trái tim thịt, được Thiên Chúa hứa ban qua miệng các tiên tri, từ đây hiện diện trên thế giới: đó là trái tim của Đức Kitô bị đâm thủng trên thập giá, mà chúng ta tôn kính như là “Thánh Tâm Chúa”. Khi lãnh nhận Thánh Thể, chúng ta tin chắc trái tim này cũng bắt đầu đập trong chúng ta. Nhìn vào thập giá trước đó, chúng ta hãy nói từ tận đáy lòng, như người thu thuế cầu nguyện ở Đền Thờ: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi!” Và chúng ta cũng vậy, giống như người đó, sẽ trở về nhà mà “được nên công chính” (Lc 18,13-14).

Lm. Micae Trần Đình Quảng chuyển ngữ

Nguồn: giaophandalat.com



[1] Apologétique, 39, 9.

[2] x. Origène, Commentaire sur saint Jean, I, 29.

[3] cf. Nicolas Cabasilas, La vie en Christ, VI, 2.

[4] Angela Foligno.

[5] Méliton de Sarde, Sur la Pâque, 102-103.

[6] Augustin, Lettres, 55,1,2.

[7] Basile le Grand, Contre Eunome 3,5.

[8] Bonaventura, Leggenda maggiore, 2.

[9] Ch. Péguy, Le mystère des saints Innocents.

[10] A. Camus.

[11] G. Buchner.

[12] Iréné de Lyon.

[13] Iréné de Lyon, Contre les Hérésies, III, 24,2.

[14] Ignace Latakieh.

[15] C. Péguy, Le porche du mystère de la deuxième vertu in Oeuvres poétiques conplètes, Paris, 1975.

[16] Bernard de Claivaux, In Canticum, 61.

[17] Cyrille de Jérusalem, Catéchèse 5, 10.

[18] cf. Nicolas Cabasilas, La vie en Christ 1, 5.

[19] In Sources Chrétiennes, no 36, p. 60 et s.

[20] P. Claudel, L’épée et le miroir.

[21] cf. F. Topping, An impossible God.

[22] Augustin, Confessions, X, 43.

[23] Augustin, Enarratio in Psalmum, 75, 10.

[24] Lumen Gentium, n. 58 et 61.

[25] Lumen Gentium, no 38.

[26] Lễ Quy Rôma.

[27] G. von Rad.

[28] Irénée, Contre les Hérésies, III, 22, 4.

[29] Lumen Gentium, no 61.

[30] B. Pascal, Pensées, 553.

[31] cf. Cicero, Pour Rabirius.

[32] Saint Augustin, De doctrina christiana, 2, 7, 9.

[33] F. Nietzsche.

[34] cf. M. Heidegger, L’être et le temps.

[35] cf. S. Kierkegaard, Traité du désespoir, “Que le désespoir est la maladie mortelle”.

[36] Laudes de la Vierge, I, 8.

[37] Homélie 354, 9, 9 (PL 39, 1568).

[38] Lumen Gentium, no 55.

[39] Basiliô Cả, Traité du Saint-Esprit, 16.

[40] cf. Augustin, La Cité de Dieu, XIV, 28.

[41] Augustin, Confessions, X, 27.

[42] Angela Foligno.

[43] B. Pascal, Pensées, 806.

[44] Dante Alighieri, L’enfer, XXXIII, 42.

[45] Tertullien, Adversus Praxeam, 29.

[46] Origène, Homélie sur Ézéchiel, 6, 6.

[47] Grégoire le Thaumaturge.

[48] Imitation de Jésus-Christ, IV, VII, 33.

[49] H. de Lubac.

[50] Jean-Paul II, Encyclique Dominum et vivificantem, số 39.

[51] Thomas d’Aquin, Somme Théologique, III, 47, 3.

[52] Bernard de Clairvaux, Contre les erreurs d’Abélard, 8, 21.

[53] Augustin, Confessions, X, 43.

[54] S. Kierkegaard, Journal, III A, 73.

[55] P. Claudel.

[56] S. Kierkegaard.

[57] Jean Chrysostome, Catéchèses baptismales, 7,17-18.

[58] Augustin, Traités sur l’Evangile de Jean, 120,2.

[59] Cyprien, De unitate Ecclesiae, 6.

[60] A. de Saint-Exupéry, Pilote de guerre, p. 24.

[61] Tertullien, De la prescription contre les hérétiques, 41, 7.

[62] Homélies pascales, 51, in Sources chrétiennes, n0 27, p. 177-178.

[63] Ibid.

[64] Actes d’André, dans Lipsius-Bonnet, Acta Apostolorum Apocrypha, II, p. 54 tt.

[65] Maxime le Confesseur, Capitoli vari, IV, cent. 39; in Philocalia, 2 Torino, 1983, p. 249.

[66] F. Kafka, Le Procès.

[67] F. Alberoni, dans Il Corriere della sera 27 mars 1996, tr.1.

[68] Méliton de Sardes, Sur la Paque, 66.

[69] Luther, WA 10, 3 1tt.

[70]Passio Domini usque in finem producitur mundi”, Léon le Grand, Sermon 70, 5 (PL 54, 383).

[71] B. Pascal, Pensées, 553, Br.

[72] Jean-Paul II, Encyclique Sollicitudo rei socialis, số 42.

[73] Paul VI, Exhortation Apostolique Evangelica testificatio, 17 tt ; dans EV 4, tr. 649 tt.

[74] Jean Chrysostome, Homélies sur Matthieu 50, 3-4 (PG 58, 508 tt).

[75] S. Severo, Vita Martini, 3. Mandadori, Milano 1975, tr. 13 tt.

[76] cf. Lumen Gentium, no 8 : Giáo hội “sancta simul et semper purificanda”: thánh thiện đồng thời phải luôn được thanh tẩy”.

[77] Méliton de Sardes, Sur la Pâque, 73-96, in Sources Chrétiennes 123, p. 102-116.

[78] P. Citati, Le radici dell’odio contro gli ebrei, in “La Republica”, 18.3.1998.

[79] Méliton de Sardes, Pesachim X, 5 ; cf. Sur la Pâque, 68, in Sources chrétiennes 123, p.96-98.

[80] x. J.B. Bossuet, Oeuvres complètes, IV, Paris 1836, p.365.

[81] K. Marx, Critique de la philosophie du droit de Hégel, Aubier Montaigne, Paris 1992.

[82] J.P. Sartre, Le Diable et le bon Dieu, X, 4, Folio Paris 2000.

[83] Evangelium veritatis 17, 10.

[84] Kinh Nguyện Thánh Thể IV.

[85] C.S. Lewis, Le tactique du diable, Empreinte Temps Présent, Paris, 2007, titre original: The Screwtape Letters.

[86] X. A. Flew, Theology and Falsification (1949) in Reason and Responsibility, Belmont, CA, Dickenson Publishing Company, 1968, p. 48-49.

[87] Augustinô, Sermo 52, “si cepisti, non est Deus quod comprehendere potuisti”.

[88] Origène, Homélie sur Ezéchiel, 6, 6.

[89] Jean-Paul II, Lettre Encyclique Dominum et vivificantem, n. 39.

[90] Grégoire Thaumaturge, À Théopompe, in Pitra, Analecta sacra, IV, 1883, p. 363.

[91] Gioan-Phaolô II, Homélie de la Messe Chrismale, trong “Osservatore Romano”, 2 tháng 4, 1999, tr. 1.

[92] S. Begley, Decoding the human body, in “Newsweek” 10/4/2000.

[93] C. Péguy, Le porche du mystère de la deuxième vertu, in Oeuvres poétiques complètes, Paris 1975, tr. 588 sq.

[94] P. Claudel, Le poète et la Bible, Gallimard, Paris 1998, p. 729.

[95] cf. H. de Lubac, Exégèse médiéval, I, I, Paris 1959, p. 318-328.

[96] Méliton de Sardes, Sur la Paque, 7, in Sources chrétiennes 23, p, 64.

[97] “L’Osservatore Romano”, 25.3.2000, p.5.

[98] Augustin, Traités sur l’Évangile de Jean, 45, 2.

[99] F, Kafka, Eine kaiserliche Botschaft, trad. fr. In F. Kafka, Raconti, Feltrinelli, Milano 1972, p. 146 s. Le titre francais de l’article est “Un message de l’empereur”.

[100] Interview de Indro Montanelli, in “Il Gazzettino”, thứ bảy 22.1.2000. p. 11.

[101] B. Pascal, Pensées, 553, ed. Brunschwig; cf. Augustin, Discours, 34, 2.5 (CCL 41, p. 424. 426) (“Quid eligimus, nisi prius eligantur?”, “Non potestis amare me, nisi habueritis me”); Bernard de Claivaux, Traité de l’amour de Dieu, 22 (“Nemo quaerere te valet, nisi qui prius invenerit”).

[102] W. Goethe, Faust, 1, “Le maitre et Marguerite” Ed, Flammarion.

[103] R, Bultmann, Mythologie et démythologisation, Ed. Seuil, Paris 1968.

[104] cf. Paul VI, “Libère-nous du mal”, Audience du 15 novembre 1972.

[105] Le Miroir de perfection, 99 (Documents, p. 1030).

[106] Raymond de Capoue, Vie de sainte Catherine, §128, 347, 417.

[107] cf. P. Estrate, Mariam, sainte palestinienne ou la vie de Marie de Jésus Crucifié, Ed. Téqui, Paris 1999.

[108] Césaire d’Arles, Discours, 121,6.

[109] Augustinô, Sermons, 20, 3.

[110] cf. Jean Chrysostome, De coemeterio (PG 49, 396) et Nicolas Cabasilas, La vie en Christ, I, 5 (PG 150, 517).

[111] Jean-Paul II, Lettre apostolique Salvifici doloris, số 23-24.

[112] Gaudium et Spes, số 22,5.

[113] Hymne Adoro Te devote, 6.

[114] F. Nietzsche, Le gai savoir, éd. Flammarion, Paris 1997.

[115] Hymne Adoro Te devote.

[116] John Lennon, Imagine : Imagine there’s no heaven. It’s easy if you try. No hell below us. Above us only sky. Imagine all the people. Living for today. Imagine there’s is no countries. It isn’t hard to do. Nothing to kill or die for. And my religion too. Imagine all the people. Living life in peace. You may say I’m a dreamer but I am not the only one. I hope some day you’ll join us and the world will live as one.

[117] J.P. Sartre, Le diable et le bon Dieu, X, 4, Gallimard, Paris 1951, p. 267 et s.

[118] J.P. Sartre, Huis clos, sc. 5, Gallimard, Paris 1947, p. 93.

[119] Monumentum Ancyranum, éd. Th. Mommsen, 1883.

[120] Augustin, Confessions, X, 43.

[121] Virgile, L’Enéide, 6, 851.

[122] Tertullien, Apologeticum, 50, 13: “Semen est sanguis christianorum”.

[123] Saint Bernard, Contre les erreurs d’Abélard, 8, 21 (PL 182, 1070).

[124] Saint Augustin, Confessions, X, 43.

[125] cf. R. Girard, Des choses cachées depuis la fondation du monde, Lgf Poche, Paris, 1983.

[126] Jean-Paul II, Lettre Encyclique Centesimus Annus, III, 23.

[127] Dante Alghieri, Le Paradis, XXII, 151.

[128] Lumen Gentium, n. 61.

[129] Texte latin original: Ave, verum Corpus, natum de Maria Virgine. Vere passum, immolatum, in cruce pro homine. Cuius latus perforatum fluxit aqua et sanguine; Esto nobis praegustatum mortis in examine. O Iesu dulcis! O Iesu pie! O Iesu, Fili Mariae!

[130] Texte original de D. Bonhoeffer: “Von guten Machten wunderbar geborgen erwarten wir getrost, was kommen mag. Gott ist mit uns am Abend und am Morgen und ganz gewiss an jeden neuen Tag”.

[131] Jean-Paul II, Lettre apostolique Novo millennio ineuntem, no 35.

[132] Ignace d’Antioche, Lettre aux Éphésiens, 20, 2.

[133] cf. R. Girard, Des choses cachées depuis la fondation du monde, Lgf poche, Paris 1983.

[134] Tertullien, De carne Christi, 5, 3 (CCL 2, p. 881).

[135] Jean-Paul II, Lettre apostolique Mane nobiscum Domine, no 31.

[136] Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua đời một tuần sau, ngày 02 tháng Tư năm 2005.

[137] H. Bloom, trong chú giải kèm theo ấn bản M. Meyer, The Gospel of Thomas (L’Evangile de Thomas), Harper, San Francisco s.d., p.125.

[138] R. Brown, The Death of the Messiah, II, Doubleday New York 1994, p. 1092-1096.

[139] Thuyết Ảo thân là một lạc giáo trong Kitô giáo, xuất hiện từ thế kỷ I. Người theo thuyết này tin rằng Đức Kitô, khi sống ở trần gian, không có một thân xác thực, nhưng chỉ có một thân xác ngoài mặt, như thân xác của một bóng ma. Chú thích của EdB.

[140] Khổ chế luân lý là một học thuyết của nhiều lạc thuyết trong Giáo hội cổ thời, tuyên dương một thứ khổ chế luân lý triệt để (cấm hôn nhân, kiêng thịt và rượu, dựa trên việc lên án thân xác và vật chất. Chú thích của EdB.

[141] Xem loghion 114 trong Phúc âm Tôma, xb. Meyer, tr. 63; trong Phúc âm của những người Ai Cập, Đức Giêsu nói: “Ta đến phá hủy những công trình của phụ nữ” (cf. Clément d’Alexanđrie, Stromata, III, 63). Điều này cắt nghĩa vì sao Phúc âm Tôma trở thành Phúc âm của những người phái Manikê, trong khi nó bị giáo quyền tấn công ác liệt (chẳng hạn Hyppolyte de Rome), giáo quyền này bảo vệ sự tốt lành của hôn nhân và của thụ tạo nói chung.

[142] Dante Alighieri, Le Paradis, V, 73-80.

[143] Pape Benoit XVI, Encyclique Deus caritas est, no 12.

[144] cf. Nicolas Cabasilas, La vie en Christ, VI, 2 (PG 150, 645).

[145] cf. Origène, Homélie sur Ézéchiel, 6, 6 (GCS, 1925, p. 384 s).

[146] Pape Benoit XVI, Encyclique Deus caritas est, no 5.

[147] cf. B. Pascal, Pensées, n. 739.

[148] H. Sienkiewicz, Quo vadis?, Lgf poche, Paris 2001, ch. 33.

[149] Pape Benoit XVI, Encyclique Deus caritas est, no 10.

[150] G. Pascal, Le petit enfant, Michel de Maule, Paris 2004.

[151] Pape Benoit XVI, Encyclique Deus caritas est, no 6.

[152] S. Kierkegaard, Les actes de l’amour, in Oeuvres Complètes, L’Orante, 1984.

[153] cf. Odyssée, chant XII.

[154] Eschyle, Agamemnon, v. 717 et s.

[155] Romanos le Mélode, Hymnes, 45, 6 (SCh 128).

[156] Trong phim Ý “Cento chiodi” của Ermano Olmi.

[157] Dante Alighieri, Paradis, Actes Sud, Arles 2007.

[158] W. Goethe, Faust, II partie, Gallimard, Paris 2007.

[159] cf. L’Evangile copte de Thomas, 114; Extraits de Théodote, 21, 3.

[160] S. de Beauvoir, Le Deuxième Sexe, 1949.

[161] Lêô Cả, Sermon 70, 5.

[162] B. Pascal, Pensées, 553.

[163] Grégoire d’Antioche, Homélie sur les femmes myrrophores, 11 (PG 88, 1864).

[164] cf. R. Brown, The Death of th Messiah, II, Doubleday, New York 1994, p. 955-958.

[165] Cyprien, De unitate Ecclesiae, 7.

[166] Augustin, Contra Faustum, 32, 18.

[167] Augustin, Discours, 269, 3-4.

[168] Augustin, Enarr. in Psalmos, 54, 12.

[169] J. Dunn, The theology of Paul the Apostle, Grans Rapids, Mi, Eerdmans 1998.

[170] G. Theissen – A, Metz, Il Gesù storico. Un manuale, Queriniana, Brescia 2003, p, 573.

[171] Lucretius, De rerum natura, IV, 1129 et s.

[172] Augustin, Traités sur l’Evangile de Jean, 45, 12.

[173] Augustin, De la prédestination des saints 15, 30 (PL 44, 98).

[174] cf. Jean-Paul II, Lettre apostolique Salvifici doloris, no 23.

[175] Augustino, Confessions, 10, 43.

[176] x. R. Girard, La violence et le sacré, Grasset, Paris 1972.

[177] cf. R. Girard, Le sacrifice, Bibliothèque Nationale, 2003, p.73 et s.

[178] Augustin, Confessions, 10, 43.

[179] Méliton de Sardes, Pesachim, X, 5 và Homélie de Pâques, 68 (SCh 123, p. 98).

[180] Augustin, Traité sur la Première lettre de Jean 9, 9 (PL 35, 2051).

[181] cf. J. Ratzinger – Benoit XVI, Jésus de Nazareth, Éditions du Rocher, 2011, p. 157.

[182] Gaudium et Spes, n. 22.

[183] Salvifici doloris, n. 23.

[184] J. Ratzinger – Benoit XVI, Jésus de Nazareth.

[185] Ibid, p, 215.

[186] G. Pascoli, I due fanciulli.

[187] Antwort, Martin Heidegger im Gesprach, Pfullingen, 1988.

[188] Nicolas Cabasilas, La vie en Christ, I, 9 (PG 150, 517).

[189] Gioan Kim Khẩu, De coemeterio et de cruce (PG 49, 596).

[190] Augustin, Sermon 220 (PL 38, 1089).

[191] cf. Paul VI, Mysterium fidei (AAS 57, 1965, p. 753 ss).

[192] Homélie pascale de l’an 387 (Sch 36, p. 59 s.).

[193] Idem.

[194] Bernard Clairvaux, Sermon sur le Cantique, 61, 4-5 (PL 183, 1072).

[195] Via Condotti là một trong những con phố mua sắm thanh lịch và nổi tiếng nhất Roma, thậm chí trên thế giới, dành riêng cho những cửa hiệu bán đồ xa xỉ, thời trang và may mặc của giới thượng lưu, trang sức và nghệ thuật Ý.

[196] W. Shakespeare, Timon of Athens, act. IV, sc. 3.

[197] Virgilius, Enéide, 3, 56-57.

[198] Francois d’Assise, Lettre à tous fidèles, 12.

[199] Primo Mazzolari, còn gọi là Don Primo, 1890-1959, là một linh mục Công giáo người Ý, kháng chiến, sau đó vào năm 1949 sáng lập tạp chí Adesso. Là cha sở của Bozzolo, cha là một trong những nhân vật quan trọng nhất trong giới Công giáo Ý trong nửa đầu thế kỷ 20. Tư tưởng của cha đã đi trước một số định hướng của Công đồng Vatican II, đặc biệt liên quan đến “Giáo hội của người nghèo”, tự do tôn giáo, đa nguyên.

[200] Purgatoire, III, 118-120.

[201] Paul Claudel, “Prière pour le dimanche matin”, in Oeuvres poétiques, Gallimard, Paris, 1967, p. 377.

[202] Blaise Pascal, “Le Mystère de Jésus”, in Pensées, éd. Brunschvicg, n. 553.

[203] F. Nietzsche, Le gai savoir, III, 125.

[204] Denys d’Alexandrie, in Eusèbe, Histoire ecclésiastique, VII, 22.

[205] Augustin, Confessions, X, 43.

[206] cf. F. Toppino, An impossible God, Canterbury Press, 2011.

[207] Lumen Gentium, n. 61.

[208] Jacques-Bénigne Bossuet, “Sermon sur la Providence” (1662), in Oeuvres de Bossuet, éd. B. Velat and Y. Champailler, Pléiade, Paris, 1961, p. 1062.

[209] Augustin, L’Esprit et la lettre, 32, 56 (PL 44, 237).

[210] Martin Luther, Préface aux oeuvres latines, éd. Weimar, 54, p. 186.

[211] cf. J. Ratzinger – Benoit XVI, Jésus of Nazareth, Partie II, Libreria Editrice Vaticana, 2011, p. 151.

[212] Bernard de Clairvaux, Contre les erreurs d’Abélard, 8. 21-22 (PL 182, 1070).

[213] F. Dostoievski, L’Idiot, Partie III, ch, 5.

[214] F. Nietzsche, Le gai savoir, aphorisme 125.

[215] Sermo 66, 3; PL 54, 366.