A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 Sm 16,1b.6-7.10-13a

Đáp ca : Tv 22,1-3a.3b-4.5.6 (Đ. c.1)

Bài đọc 2: Ep 5,8-14

Tung hô Tin mừng : Ga 8,12

Tin Mừng : Ga 9,1-41

Hoặc : Bài đọc ngắn : Ga 9,1.6-9.13-17.34-38

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 Sm 16,1b.6-7.10-13a

Đáp ca : Tv 22

Bài đọc 2 : Ep 5,8-14 : Ngày xưa và bây giờ

Bài Tin Mừng : Ga 9,1-41

Cầu nguyện : Thánh thi Kinh Sách thứ Năm tuần 2

Tự vấn

C. BÀI ĐỌC THÊM

Hành trình của người mù từ lúc mới sinh, con đường dẫn tới Phép Rửa của chúng ta


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 Sm 16,1b.6-7.10-13a

Ông Đa-vít được xức dầu tấn phong làm vua Ít-ra-en.

Bài trích sách Sa-mu-en quyển thứ nhất.

1b Thời đó, Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.”

6 Khi ông Gie-sê và các con trai ông đến, ông Sa-mu-en thấy Ê-li-áp, ông nghĩ : “Đúng rồi ! Người Đức Chúa xức dầu tấn phong đang ở trước mặt Đức Chúa đây !” 7 Nhưng Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm : người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.”

10 Ông Gie-sê cho bảy người con trai đi qua trước mặt ông Sa-mu-en, nhưng ông Sa-mu-en nói với ông Gie-sê : “Đức Chúa không chọn những người này.” 11 Rồi ông lại hỏi ông Gie-sê : “Các con ông có mặt đầy đủ chưa ?” Ông Gie-sê trả lời : “Còn cháu út nữa, nó đang chăn chiên.” Ông Sa-mu-en liền nói với ông Gie-sê : “Xin ông cho người đi tìm nó về, chúng ta sẽ không nhập tiệc trước khi nó tới đây.” 12 Ông Gie-sê cho người đi đón cậu về. Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn. Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Đứng dậy, xức dầu tấn phong nó đi ! Chính nó đó !” 13a Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho cậu, ở giữa các anh của cậu. Thần khí Đức Chúa nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 22,1-3a.3b-4.5.6 (Đ. c.1)

Đ. Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.

1 Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì.
2 Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ.
Người đưa tôi tới dòng nước trong lành
3a và bổ sức cho tôi. Đ.

3b Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người.
4 Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u,
con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng.
Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Đ.

5 Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc
ngay trước mặt quân thù.
Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm,
ly rượu con đầy tràn chan chứa. Đ.

6 Lòng nhân hậu và tình thương Chúa
ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời,
và tôi được ở đền Người
những ngày tháng, những năm dài triền miên. Đ.

 

Bài đọc 2: Ep 5,8-14

Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào ! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi !

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Ê-phê-xô.

8 Thưa anh em, xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng ; 9 mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. 10 Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. 11 Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. 12 Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. 13 Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra ; 14 mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng :

Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào !

Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi !

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin mừng : Ga 8,12

Chúa nói : “Tôi là ánh sáng thế gian. Ai theo tôi, sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống.”

 

Tin Mừng : Ga 9,1-41

Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 2 Các môn đệ hỏi Người : “Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta ?” 3 Đức Giê-su trả lời : “Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh. 4 Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. 5 Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.”

6 Nói xong, Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !”

Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !” 10 Người ta liền hỏi anh : “Vậy, làm sao mắt anh lại mở ra được như thế ?” 11 Anh ta trả lời : “Người tên là Giê-su đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi, rồi bảo : ‘Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa.’ Tôi đã đi, đã rửa và tôi nhìn thấy.” 12 Họ lại hỏi anh : “Ông ấy ở đâu ?” Anh ta đáp : “Tôi không biết.”

13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”

18 Người Do-thái không tin là trước đây anh bị mù mà nay nhìn thấy được, nên đã gọi cha mẹ anh ta đến. 19 Họ hỏi : “Anh này có phải là con ông bà không ? Ông bà nói là anh bị mù từ khi mới sinh, vậy sao bây giờ anh lại nhìn thấy được ?” 20 Cha mẹ anh đáp : “Chúng tôi biết nó là con chúng tôi, nó bị mù từ khi mới sinh. 21 Còn bây giờ làm sao nó thấy được, chúng tôi không biết, hoặc có ai đã mở mắt cho nó, chúng tôi cũng chẳng hay. Xin các ông cứ hỏi nó ; nó đã khôn lớn rồi, nó có thể tự khai được.” 22 Cha mẹ anh nói thế vì sợ người Do-thái. Thật vậy, người Do-thái đã đồng lòng trục xuất khỏi hội đường kẻ nào dám tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô. 23 Vì thế, cha mẹ anh mới nói : “Nó đã khôn lớn rồi, xin các ông cứ hỏi nó.”

24 Một lần nữa, họ gọi người trước đây bị mù đến và bảo : “Anh hãy tôn vinh Thiên Chúa. Chúng ta đây, chúng ta biết ông ấy là người tội lỗi.” 25 Anh ta đáp : “Ông ấy có phải là người tội lỗi hay không, tôi không biết. Tôi chỉ biết một điều : trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được !” 26 Họ mới nói với anh : “Ông ấy đã làm gì cho anh ? Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” 27 Anh trả lời : “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông vẫn không chịu nghe. Tại sao các ông còn muốn nghe lại chuyện đó nữa ? Hay các ông cũng muốn làm môn đệ ông ấy chăng ?” 28 Họ liền mắng nhiếc anh : “Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. 29 Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.” 30 Anh đáp : “Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi ! 31 Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. 32 Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. 33 Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.” 34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.

35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người. 39 Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

40 Những người Pha-ri-sêu đang ở đó với Đức Giê-su nghe vậy, liền lên tiếng : “Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao ?”

41 Đức Giê-su bảo họ : “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng : ‘Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn !”

Đó là lời Chúa.

 

Hoặc : Bài đọc ngắn : Ga 9,1.6-9.13-17.34-38

Anh mù đến rửa ở hồ Si-lô-ác và khi về thì nhìn thấy được.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

1 Khi ấy, ra khỏi Đền Thờ, Đức Giê-su nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. 6 Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, 7 rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa” (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được.

8 Các người láng giềng và những kẻ trước kia thường thấy anh ta ăn xin mới nói : “Hắn không phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao ?” 9 Có người nói : “Chính hắn đó !” Kẻ khác lại rằng : “Không phải đâu ! Nhưng là một đứa nào giống hắn đó thôi !” Còn anh ta thì quả quyết : “Chính tôi đây !”

13 Họ dẫn kẻ trước đây bị mù đến với những người Pha-ri-sêu. 14 Nhưng ngày Đức Giê-su trộn chút bùn và làm cho mắt anh ta mở ra lại là ngày sa-bát. 15 Vậy, các người Pha-ri-sêu hỏi thêm một lần nữa làm sao anh nhìn thấy được. Anh trả lời : “Ông ấy lấy bùn thoa vào mắt tôi, tôi rửa và tôi nhìn thấy.” 16 Trong nhóm Pha-ri-sêu, người thì nói : “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sa-bát” ; kẻ thì bảo : “Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như vậy ?” Thế là họ đâm ra chia rẽ. 17 Họ lại hỏi người mù : “Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh ?” Anh đáp : “Người là một vị ngôn sứ !”

34 Họ đối lại : “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư ?” Rồi họ trục xuất anh.

35 Đức Giê-su nghe nói họ đã trục xuất anh. Khi gặp lại anh, Người hỏi : “Anh có tin vào Con Người không ?” 36 Anh đáp : “Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin ?” 37 Đức Giê-su trả lời : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” 38 Anh nói : “Thưa Ngài, tôi tin.” Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người.

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 Sm 16,1b.6-7.10-13a

1. Theo như bài đọc chúng ta vừa nghe, thì chính ngôn sứ Sa-mu-en cũng phải thay đổi cái nhìn. Ông được Chúa sai đến Bê-lem để xức dầu tấn phong một trong các con trai của ông Gie-sê làm vua tương lai của Ít-ra-en. Ông bối rối khi phải chọn lựa. Ông Gie-sê cho gọi đứa con trai cả của mình tên Ê-li-áp ra trình diện ông Sa-mu-en, ông nghĩ thầm : “Đúng rồi ! Chắc đây là đứa Chúa chọn vì nó cao ráo, đẹp đẽ. Nó xứng đáng kế vị vua Sa-un.” Nhưng Chúa bảo ông : “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó, vì Ta đã gạt bỏ nó. Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm ; người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.” Đức Chúa không chọn bất cứ ai trong bảy người con của ông Gie-sê mà lại chọn đứa con trai út, Đa-vít, đang chăn chiên ngoài đồng.

Câu chuyện Kinh Thánh một lần nữa cho ta thấy Thiên Chúa quan tâm đến những người bé mọn : “Những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh” (1 Cr 1,27), vì : “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9). Câu chuyện này cũng mời gọi mỗi người chúng ta phải thay đổi cái nhìn về người khác ! Câu chuyện Kinh Thánh hôm nay cho ta biết ba điều về vương quyền ở Ít-ra-en :

1.1. Thứ nhất : Vua là người được Thiên Chúa tuyển chọn, nhưng việc chọn lựa này, như tất cả mọi ơn gọi khác, là để thi hành một sứ vụ, như dân Ít-ra-en được Chúa chọn để phục vụ nhân loại. Cũng vậy, vua Ít-ra-en là người được Chúa chọn để phục vụ dân chúng ; mà nếu đương sự không làm tốt nhiệm vụ của mình, thì sẽ bị loại như trường hợp của vua Sa-un. Điều đó nhắc các vua phải luôn trung thành với sứ vụ đã được Chúa giao phó.

1.2. Thứ hai : Nhà vua cần phải được xức dầu tấn phong, vì đây là một nghi thức đặc biệt quan trọng mà bài đọc 1 hôm nay cho ta thấy, là việc quan trọng nhất khi Đức Chúa phán với ông Sa-mu-en : “Ngươi hãy lấy dầu đổ đầy sừng và lên đường. Ta sai ngươi đến gặp Gie-sê người Bê-lem, vì Ta đã thấy trong các con trai nó một người Ta muốn đặt làm vua.”

1.3. Thứ ba : Việc xức dầu tấn phong ban cho nhà vua Thần Khí của Đức Chúa : “Ông Sa-mu-en cầm lấy sừng dầu và xức cho Đa-vít, ở giữa các anh của cậu. Thần Khí Đức Chúa nhập vào Đa-vít từ ngày đó trở đi.”

2. Chúng ta trở lại với việc lựa chọn nhiệm mầu của Thiên Chúa. Vài câu chuyện trong Kinh Thánh cho ta thấy Chúa thường chọn lựa những kẻ bé mọn nhất : như trường hợp Đa-vít chẳng hạn. Đa-vít là đứa con trai út của Gie-sê ở Bê-lem, và không ai nghĩ rằng Đa-vít sẽ là vua Ít-ra-en trong tương lai, hay như ông Mô-sê nói năng rất khó và tìm cách thoái thác sứ mạng được giao : “Lạy Chúa, xin xá tội cho con, từ hồi nào đến giờ, ngay cả từ lúc Chúa ban lời cho tôi tớ Ngài, con không phải là kẻ có tài ăn nói, vì con cứng miệng cứng lưỡi” (Xh 4,10). Ngôn sứ Sa-mu-en được Chúa gọi khi còn rất trẻ và chưa hề có kinh nghiệm gì, lúc còn đang phục vụ trong đền thờ Si-lô dưới quyền thầy tư tế Hê-li. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a cũng vậy : “Ôi, lạy Đức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói !” (Gr 1,6). Ông Ti-mô-thê, cộng tác viên của thánh Phao-lô, là một người có sức khoẻ yếu kém, vì thánh Phao-lô nói về sức khoẻ không tốt của ông Ti-mô-thê. Riêng đối với dân Ít-ra-en, là dân tộc được Chúa chọn để phục vụ ơn cứu độ toàn thể nhân loại, là một dân tộc không đông đảo, và cũng không có một nhân đức gì đặc biệt cả !

Ta không thể giải thích việc chọn lựa của Thiên Chúa theo cái nhìn của con người, và một lần nữa chúng ta có dịp nhớ lại lời ngôn sứ I-sai-a : “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy” (Is 55,8-9). Bài đọc 1 hôm nay cũng nói cùng một cách : “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm ; người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng.”

Hãy luôn trông cậy vào ơn Chúa trợ giúp !


Đáp ca : Tv 22

1. Thánh vịnh 22 đề cập đến Vị Mục Tử nhân hậu. Ta có thể nói thánh vịnh 22 là một thánh vịnh được biết đến nhiều nhất trong 150 thánh vịnh. Tại sao ? Thưa, vì vẻ rất đơn sơ và nét đẹp vô song của thánh vịnh này. Qua bao thế kỷ, thánh vịnh 22 đã làm rung động biết bao con tim. Đây là bài thơ mà một đứa trẻ học thuộc lòng, một bài thơ đã vực dậy bao nhiêu người trưởng thành, ngụp lặn trong những biến động của cuộc đời, đồng thời cũng là bài thơ mang phúc bình an trên môi miệng của những ai đang hấp hối. Không một thánh vịnh nào có thể quảng diễn cách mạnh mẽ hơn lời nguyện tín thác của con người, “từ vực sâu” dâng lên Thiên Chúa với mục đích duy nhất, là xin Người làm cho tuổi đời từ lòng mẹ cho đến lòng đất, có thêm ý nghĩa.

2. Đối với người Ki-tô hữu, thánh vịnh 22 là một bài ca tuyệt vời vì Đức Chúa, Mục Tử và Chủ Nhà, được biểu hiện cách sống động trong Đức Ki-tô, Đấng đến để mang ơn cứu độ, đã được Cựu Ước loan báo như một Mục Tử nhân lành. Đức Giê-su, theo hình ảnh của Đức Chúa, tự giới thiệu mình như Vị Mục Tử nhân lành, được sai đến với chiên lạc nhà Ít-ra-en và những chiên thuộc đàn khác. Trong thư thứ nhất của thánh Phê-rô, chúng ta thấy : “Quả thật, trước kia anh em chẳng khác nào những con chiên lạc, nhưng nay đã quay về với Vị Mục Tử, Đấng chăm sóc linh hồn anh em” (1 Pr 2,25). Cũng thế, tác giả sách Khải huyền loan báo hình bóng của Con Chiên trong ngày sau hết : “Con Chiên đang ngự ở giữa ngai sẽ là Mục Tử chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh, và Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ” (Kh 7,17).

3. Tình yêu mục tử của Đức Giê-su dẫn chúng ta đến bàn tiệc Thánh Thể để dùng bữa tiệc, tưởng nhớ đến sự hy sinh của chính Chúa cho việc cứu rỗi anh em mình : “vì tôi hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên” (Ga 10,15). Chính trong Đức Ki-tô, Đấng Thiên Chúa “đã xức dầu hoan lạc” (Hr 1,9), Chúa Cha đã xức dầu cho chúng ta, và cũng chính Thiên Chúa “đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2 Cr 1,21-22). Bởi đó, Giáo Hội thời tiên khởi gọi thánh vịnh 22 là thánh vịnh của khai tâm Ki-tô giáo, được hát trong Phụng vụ Đêm Vọng Phục Sinh, khi các tín hữu mới được thanh tẩy bước lên khỏi giếng rửa tội, được xức dầu, được mang áo trắng mới và lần đầu tiên được dẫn tới bàn tiệc Thánh Thể. Chính Đức Ki-tô cũng hứa cho thời quang lâm “anh em sẽ ngồi đồng bàn ăn uống với Thầy trong vương quốc của Thầy” (Lc 22,30 ; x. Kh 2,7). Trong niềm tín thác đó, thánh vịnh 22 thường được dùng vào lễ an táng, để đồng hành với thân xác người quá cố mà Vị Mục Tử nhân lành đã gọi về với Người trong khi vượt qua “thung lũng âm u” của cõi chết, để “được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên”.


Bài đọc 2 : Ep 5,8-14 : Ngày xưa và bây giờ

1. Bài đọc 2 hôm nay chuẩn bị cho bài Tin Mừng khi đề cập đến việc từ bóng tối bước vào ánh sáng. Thánh Phao-lô mở đầu lời khuyên nhủ các tín hữu Ê-phê-xô như sau : “Tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em” (Ep 4,1). Ngài nói với những người tân tòng : “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện” (Ep 4,22-24). Kể từ chương 2, thánh Phao-lô đối chọi con người tội lỗi xưa, vắng bóng Thiên Chúa (Ep 2,2.3.11), thì nay đã trở nên Ki-tô hữu : “Trước kia, anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần” (Ep 2,13).

2. Từ bóng tối bước vào ánh sáng

Bài đọc 2 chúng ta vừa nghe nhấn mạnh những từ đối chọi nhau : bóng tối / ánh sáng : “Thưa anh em, xưa kia anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng, là Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. Xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa ; xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót, nay anh em đã được xót thương” (1 Pr 2,9-10). “Anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối.”

3. Con người mới

Con người mới này đã được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện (Ep 4,23), trong ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật : “Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối. Anh em hãy xem những điều gì đẹp lòng Chúa thì làm.”


Bài Tin Mừng : Ga 9,1-41

Trình thuật về việc Đức Giê-su chữa lành cho người mù từ lúc mới sinh và ban cho anh ơn đức tin nhằm làm nổi bật ba điểm sau đây :

1. Cuộc chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối : “Chúng ta phải thực hiện công trình của Đấng đã sai Thầy, khi trời còn sáng ; đêm đến, không ai có thể làm việc được. Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian.” Nói xong Đức Giê-su nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta : “Anh hãy đến hồ Si-lô-ác mà rửa (Si-lô-ác có nghĩa là : người được sai phái). Vậy anh ta đến rửa ở hồ, và khi về thì nhìn thấy được … Đức Giê-su nói : “Tôi đến thế gian này chính là để xét xử : cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù !”

2. Mục tiêu minh giáo : Trình thuật phản ánh cuộc tranh luận, cuộc tranh chấp giữa Giáo Hội và hội đường, giữa các môn đệ của ông Mô-sê và các môn đệ của Đức Giê-su, vào thời Giáo Hội sơ khai : “Họ liền mắng nhiếc anh : ‘Có mày mới là môn đệ của ông ấy ; còn chúng ta, chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê ; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến.’ Anh đáp : ‘Kể cũng lạ thật ! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy là người đã mở mắt tôi ! Chúng ta biết : Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi ; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì.”

3. Bí tích Thánh Tẩy : Trong giai đoạn cuối cùng, sau khi các người dự tòng đã qua cuộc khảo sát và được coi như xứng đáng lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có đọc bài Cựu Ước về nước thánh tẩy và bài Tin Mừng Ga 9, sau đó, các người dự tòng đọc kinh Tin Kính (9,38-39). Cử chỉ mở mắt cũng là một phần trong nghi thức Thánh Tẩy (9,6). Trình thuật có thể ám chỉ bí tích Thánh Tẩy cách chung ; người dự tòng như người mù từ thuở mới sinh (9,1.2.13.19.20.25) ; tình trạng đui mù tuyệt đối, tượng trưng cho tội lỗi, bị phá tan trong nước hồ Si-lô-ác (Si-lô-ác có nghĩa là người được sai phái, chỉ Đức Giê-su) ; nước đó phát xuất từ Đức Giê-su ; tội lỗi được rửa sạch trong nước thánh tẩy nhờ quyền năng của Đức Giê-su.


Cầu nguyện : Thánh thi Kinh Sách thứ Năm tuần 2

Ôi lạy Chúa, mở cho con đôi mắt,
Thấy tình yêu kỳ diệu Chúa khắp nơi.
Con mù loà, bên vệ đường hành khất,
Xin chữa con để nhìn thấy mặt Ngài.

Cúi lạy Ngài, cho tai con nghe rõ,
Tiếng tha nhân cầu khẩn lượng hải hà,
Họ khổ đau, họ kêu gào than thở,
Đừng để con cứ giả điếc làm ngơ.

Cúi lạy Ngài, xin mở rộng tay con,
Luôn nắm lại giữ khư khư tất cả,
Trước cửa nhà có người nghèo đói lả,
Xin dạy con biết chia sẻ vui lòng.

Cúi lạy Ngài, cho chân con vững chãi,
Để tiến lên dẫu đường sá hiểm nguy.
Nguyện theo Ngài, thập giá đâu quản ngại,
Chúa cầm tay mà dẫn bước con đi.

Cúi lạy Ngài, giữ lòng con tin tưởng,
Mặc ai bảo : Chúa đã chết đâu còn.
Khi chiều về gánh thời gian trĩu nặng,
Xin dừng chân ở lại với con luôn !


Tự vấn

Trong đời sống đức tin thường ngày, có bao giờ anh chị em đã đọc đoạn Tin Mừng Mt 25,31-46 về ngày Phán xét chung : Chúa chỉ căn cứ vào một tiêu chuẩn để thưởng công hoặc luận tội chúng ta : đó là khi còn sống ở trần gian, chúng ta có yêu thương và giúp đỡ người khác không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

Hành trình của người mù từ lúc mới sinh, con đường dẫn tới Phép Rửa của chúng ta

(H. Denis, trong “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer, tr. 123-124).

Dĩ nhiên người ta nói nhiều về Phép Rửa trong khi hướng đến Phục Sinh. Đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà chúng ta gợi chuyện anh mù từ thuở mới sinh, nhờ vào câu chuyện rất sống động ấy, mà thánh Gio-an đã viết cho chúng ta.

Tại sao lại là người mù từ thuở mới sinh ? Vì đó là bước đi của một tân tòng, là đường nhập môn của Phép Rửa.

Trước hết, Phép Rửa là một sự toả sáng. Điều đó không có nghĩa là mọi người chịu phép rửa đều chìm trong trạng thái ảo giác (illuminisme), cũng không phải là một hành động ma thuật, bởi vì người mù phải đi tới giếng Si-lô-ác. Nhưng điều đó có nghĩa là có một bước đường mầu nhiệm, từ tối tăm đến ánh sáng, từ một nhân loại còn đóng kín trong vô nghĩa và trong lầm lạc, tới một nhân loại mở ra đón ánh sáng Đức Giê-su, một nhân loại được đánh thức trước một sự sống viên mãn.

Nhưng chúng ta biết anh mù được chữa lành phải đối đầu với biết bao nhiêu là cản trở, cũng vì anh được lành. Người tín hữu mới cũng phải trải qua thử thách, nhất là khi so sánh đức tin mình với sự không tin hay dửng dưng của gia đình (đức tin không di truyền), hơn nữa còn phải đụng chạm với những thế lực khác biệt về chính kiến hay về tôn giáo, coi người chịu Phép Rửa là kẻ phải loại trừ hay đáng nghi ngờ (Phép Rửa không lẫn lộn với sự thừa nhận của xã hội, quốc gia, chính trị hay tôn giáo).

Sau hết, đến ngày người mù được lành sẽ thừa nhận Đấng cứu chuộc mình chứ không phải chỉ được chữa lành mà thôi. Mọi Ki-tô hữu, mọi người chịu Phép Rửa, một ngày nào đó cũng được mời gọi, rất sớm hay muộn màng hơn, sống một cuộc gặp gỡ có tính quyết định, bởi vì Đức Giê-su đã không tìm thấy họ đó sao ?

Ngày ấy các bạn sẽ hỏi : “Ai là ‘Con Người’” ? Và Người sẽ trả lời bạn : “Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây.” Lúc ấy sấp mình xuống, bạn sẽ nói : “Lạy Chúa, con tin.” Đó là ngày phục sinh của bạn.

Tỉnh giấc đi,
hỡi người còn đang ngủ !
Từ chốn tử vong,
trỗi dậy đi nào ! (x. Ep 5,14).