A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Kn 6,12-16

Đáp ca : Tv 62,2.3-4.5-6.7-8 (Đ. x. c.2)

Bài đọc 2 : 1 Tx 4,13-18

Tung hô Tin Mừng : Mt 24,42a.44

Tin Mừng: Mt 25,1-13

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Kn 6,12-16

Đáp ca : Tv 62

Bài đọc 2 : 1 Tx 4,13-18

Bài Tin Mừng : Mt 25,1-13

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Hãy chong đèn sáng”

2. “Con ve và con kiến”

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Kn 6,12-16

Ai tìm kiếm Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan cho gặp.

Bài trích sách Khôn ngoan.

12 Đức Khôn Ngoan sáng chói, và không hề tàn tạ.

Ai mến chuộng Đức Khôn Ngoan,

thì Đức Khôn Ngoan dễ dàng cho chiêm ngưỡng.

Ai tìm kiếm Đức Khôn Ngoan,

thì Đức Khôn Ngoan cho gặp.

13 Ai khao khát Đức Khôn Ngoan,

thì Đức Khôn Ngoan đi bước trước mà tỏ mình cho biết.

14 Ai từ sáng sớm đã tìm Đức Khôn Ngoan,

thì không phải nhọc nhằn vất vả.

Họ sẽ thấy Đức Khôn Ngoan ngồi ngay trước cửa nhà.

15 Để tâm suy niệm về Đức Khôn Ngoan

là đạt được sự minh mẫn toàn hảo.

Ai vì Đức Khôn Ngoan mà thức khuya dậy sớm,

sẽ mau trút được mọi lo âu.

16 Vì những ai xứng đáng với Đức Khôn Ngoan,

thì Đức Khôn Ngoan rảo quanh tìm kiếm.

Trên các nẻo đường họ đi,

Đức Khôn Ngoan niềm nở xuất hiện.

Mỗi khi họ suy tưởng điều gì,

Đức Khôn Ngoan đều đến với họ.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 62,2.3-4.5-6.7-8 (Đ. x. c.2)

Đ. Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,
linh hồn con đã khao khát Chúa.

2 Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,
ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.
Linh hồn con đã khát khao Ngài,
tấm thân này mòn mỏi đợi trông,
như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước. Đ.

3 Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện,
để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.
4 Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống,
miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương. Đ.

5 Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng,
và giơ tay cầu khẩn danh Ngài.
6 Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc,
môi miệng con rộn rã khúc hoan ca. Đ.

7 Con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ,
suốt năm canh thầm thĩ với Ngài.
8 Quả thật Ngài đã thương trợ giúp,
nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui. Đ.

 

Bài đọc 2 : 1 Tx 4,13-18

Những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giê-su.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.

13 Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng. 14 Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giê-su. 15 Dựa vào lời của Chúa, chúng tôi nói với anh em điều này, là chúng ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu. 16 Vì khi hiệu lệnh ban ra, khi tiếng tổng lãnh thiên thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Ki-tô sẽ sống lại trước tiên ; 17 rồi đến chúng ta, là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đem đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi. 18 Vậy anh em hãy dùng những lời ấy mà an ủi nhau.

Đó là lời Chúa.

 

Hoặc : Bài đọc ngắn : 1 Tx 4,13-14

Những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Đức Giê-su.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.

13 Thưa anh em, về những ai đã an giấc ngàn thu, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì, hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng. 14 Vì nếu chúng ta tin rằng Đức Giê-su đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an giấc trong Đức Giê-su, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Giê-su.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : Mt 24,42a.44

Ha-lê-lui-a Ha-lê-lui-a. Anh em hãy canh thức và hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến. Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng: Mt 25,1-13

Chú rể kia rồi, ra đón đi !

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này : “Nước Trời sẽ giống như chuyện mười trinh nữ cầm đèn ra đón chú rể. 2 Trong mười cô đó, có năm cô dại và năm cô khôn. 3 Quả vậy, các cô dại mang đèn mà không mang dầu theo. 4 Còn những cô khôn thì vừa mang đèn vừa mang chai dầu theo. 5 Vì chú rể đến chậm, nên các cô thiếp đi, rồi ngủ cả. 6 Nửa đêm, có tiếng la lên : ‘Chú rể kia rồi, ra đón đi !’ 7 Bấy giờ tất cả các trinh nữ ấy đều thức dậy, và sửa soạn đèn. 8 Các cô dại nói với các cô khôn rằng : ‘Xin các chị cho chúng em chút dầu, vì đèn của chúng em sắp tắt rồi !’ 9 Các cô khôn đáp : ‘Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn.’ 10 Đang lúc các cô đi mua, thì chú rể tới, và những cô đã sẵn sàng được đi theo chú rể vào dự tiệc cưới. Rồi người ta đóng cửa lại. 11 Sau cùng, mấy trinh nữ kia cũng đến gọi : ‘Thưa Ngài, thưa Ngài ! mở cửa cho chúng tôi với !’ 12 Nhưng Người đáp : ‘Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả !’ 13 Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Kn 6,12-16

Vua Sa-lô-môn từng được coi là tác giả của sách Khôn ngoan, nhưng đó chỉ là kỹ thuật văn chương : lấy tên một người, theo truyền thống được coi là khôn ngoan số một ở Ít-ra-en, để đặt tên cho tác phẩm nói về Đức Khôn Ngoan. Toàn bộ tác phẩm được viết bằng tiếng Hy-lạp chứ không phải là tiếng Híp-ri. Tác giả là một người Do-thái am hiểu văn hoá Hy-lạp, sống ở A-lê-xan-ri-a bên Ai-cập. Tác giả viết tác phẩm này cho người Do-thái, đồng bào của ông, đang sống giữa một thành phố văn minh. Vẻ hào nhoáng của nếp sống văn minh A-lê-xan-ri-a đã khiến cho lòng trung thành với Thiên Chúa và lề luật của cha ông bị lung lay : những trường phái triết học nổi tiếng, các khoa học phát triển, các tôn giáo thần bí, khoa thiên văn, khoa học bí truyền mời mọc, và có thể cả những việc thờ cúng dân gian cũng lôi cuốn họ nữa. Sách Khôn ngoan được viết vào khoảng năm 50 trước Công nguyên.

* Chương 6 sách Khôn ngoan bắt đầu bằng câu : “Hãy lắng nghe, hãy cố hiểu, hỡi các bậc quân vương, hãy học cho biết, hỡi những vị đang nắm quyền trên khắp cõi trần gian. Hỡi các bậc vua chúa quan quyền, những lời tôi nói đây, xin gửi tới chư vị, để chư vị học biết lẽ khôn ngoan, mà khỏi phải sẩy chân trật bước” (Kn 6,1.9).Ta có thể rút ra ba điểm từ lời kể trên :

1. Thứ nhất : Đức Khôn Ngoan là tài sản quý báu nhất trên trần gian này. Sách gửi đến chúng ta những đặc tính của Đức Khôn Ngoan : “Đức Khôn Ngoan sáng chói, và không hề tàn tạ”, hoặc “Đức Khôn Ngoan toả ra từ quyền năng Thiên Chúa và rực lên trong ngần từ vinh hiển Đấng Toàn Năng, nên không thể vương một tỳ ố. Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người” (Kn 7,25-26). Đức Khôn Ngoan quý báu đến nỗi người ta có thể so sánh Đức Khôn Ngoan với những gì mà phụ nữ yêu thích nhất : “Đức Khôn Ngoan rực rỡ hơn mặt trời, trổi vượt muôn tinh tú. So với Đức Khôn Ngoan, ánh sáng còn kém xa. Bởi trước màn đêm, ánh sáng đành phải lui bước. Còn Đức Khôn Ngoan, chẳng gian tà nào thắng nổi” (Kn 7,29-30). “Từ thời trai trẻ, tôi đã yêu quý và kiếm tìm Đức Khôn Ngoan, tôi tìm cách cưới Đức Khôn Ngoan làm bạn đời ; và vẻ đẹp của Đức Khôn Ngoan làm tôi say đắm” (Kn 8,2).

2. Thứ hai : Đức Khôn Ngoan vừa tầm tay tất cả chúng ta : “Ai mến chuộng Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan dễ dàng cho chiêm ngưỡng ... Ai tìm kiếm Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan cho gặp.” Trong hai câu song song nói trên, có một sự xác nhận căn bản : để gặp Thiên Chúa thì không cần bất cứ điều kiện nào cả : tri thức, công trạng hay giá trị cá nhân. Chúa Giê-su nói lại điều đó một cách khác : “Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho” (Mt 7,7-8), và tác giả đã gán cho vua Sa-lô-môn lời cầu khẩn này : “Vậy tôi nguyện xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi sự hiểu biết. Tôi kêu cầu, và thần khí Đức Khôn Ngoan đã đến với tôi” (Kn 7,7). Có một điều kiện duy nhất để tìm Đức Khôn Ngoan, đó là tha thiết khao khát Đức Khôn Ngoan hết sức mình : “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.” “Ai từ sáng sớm đã tìm Đức Khôn Ngoan, thì không phải nhọc nhằn vất vả. Họ sẽ thấy Đức Khôn Ngoan ngồi ngay trước cửa nhà.”

3. Thứ ba : Đức Khôn Ngoan không chỉ đáp lại lòng mong đợi của chúng ta, nhưng chính Đức Khôn Ngoan cũng tìm chúng ta, đi bước trước : “Ai khao khát Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan đi bước trước mà tỏ mình cho biết. Những ai xứng đáng với Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan rảo quanh tìm kiếm.” Thiên Chúa đưa ra sáng kiến tự mặc khải, nghĩa là tỏ mình ra cho con người. Bởi vì người ta đoán ra rằng Đức Khôn Ngoan không ai khác là chính Thiên Chúa. Sau này thánh Phao-lô sẽ nói cho chúng ta biết Đức Giê-su Ki-tô là sự khôn ngoan của Thiên Chúa : “Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1,24-30). Chính Thiên Chúa tìm kiếm con người khi con người tìm kiếm Chúa. “Vì những ai xứng đáng với Đức Khôn Ngoan, thì Đức Khôn Ngoan rảo quanh tìm kiếm. Trên các nẻo đường họ đi, Đức Khôn Ngoan niềm nở xuất hiện. Mỗi khi họ suy tưởng điều gì, Đức Khôn Ngoan đều đến với họ.”

* Ta có thể tự hỏi : Dựa trên tiêu chuẩn nào người ta có thể đánh giá bất cứ một người nào khôn ngoan hay không khôn ngoan ? Chúng ta hãy lắng nghe lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a : “Đức Chúa phán thế này : ‘Kẻ khôn ngoan, đừng tự hào mình khôn ngoan ; kẻ hùng mạnh, đừng tự hào mình hùng mạnh ; kẻ giàu có, đừng tự hào mình giàu có. Ai tự hào thì hãy tự hào về điều này, là hiểu biết Ta, vì Ta là Đức Chúa, Đấng thực thi nhân nghĩa, công bằng và chính trực trên mặt đất. Phải, Ta ưa thích những điều này’” (Gr 9,22-23). Đó là những tiêu chuẩn để biết ai là khôn ngoan thật : đó là người thực thi nhân nghĩa, chính trực và công bằng đối với tha nhân. Tác giả của chúng ta cũng nói tương tự : “Cũng chính Người sẽ kiểm tra các việc chư vị làm và dò xét những điều chư vị toan tính” (Kn 6,3). Chắc chắn điều luôn được lặp lại trong Kinh Thánh, đó là phải hành động theo thánh ý của Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã nói : “Không phải ai nói : ‘Lạy Chúa ! Lạy Chúa !’ là được vào Nước Trời đâu, nhưng là những ai thi hành thánh ý Cha Ta mà thôi”, và ngôn sứ Mi-kha nói rõ hơn : “Hỡi người, bạn đã được nói cho hay điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn : đó chính là thực thi công bằng, quý yêu nhân nghĩa, và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn” (Mk 6,8). Tất cả các bài đọc của Chúa nhật thứ 32 Thường Niên năm A này đều đề cập đến vấn đề trên.

Đáp ca : Tv 62

1. “Nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui”, một lời nói thật đẹp nhưng cũng khiến chúng ta rất đỗi ngạc nhiên. Thật ra, chúng ta cần đi vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem (dĩ nhiên là trước khi bị vua Na-bu-cô-đô-nô-xo tàn phá vào năm 587 trước Công nguyên), và tưởng tượng mình là tư tế hoặc thầy Lê-vi. Ở đó, trong nơi “Cực Thánh” có đặt “Hòm Bia Giao Ước”. “Hòm Bia Giao Ước” là chiếc hòm đựng hai tấm bia ghi khắc Mười Điều Răn do Đức Chúa ban cho dân Ít-ra-en. “Hòm Bia Giao Ước” còn được gọi là “Khám Giao Ước” hay “Hòm Bia Chứng Ước”. Vì Thập Giới ghi trên hai bia đá là chứng từ về Giao ước (tóm tắt toàn bộ Lề Luật mà dân Ít-ra-en phải tuân giữ). Hòm Bia được làm bằng gỗ keo, dài một thước hai, rộng bảy tấc rưỡi, cao bảy tấc rưỡi, bọc bằng vàng ròng. Phần trên được gọi là nắp “xá tội”, vì hằng năm thầy thượng tế rảy máu con vật sát tế lên mặt Hòm Bia để xin ơn tha tội. Ở đầu hai nắp có hai tượng thần hộ giá (Kê-ru-bim) đối diện với nhau, cùng cúi mặt xuống nắp. Trong hòm đặt hai tấm bia đá khắc ghi Thập Giới, đó là các điều khoản của Giao ước giữa Đức Chúa và dân Ít-ra-en (x. Xh 25,10-22). Hòm Bia biểu thị sự hiện diện của Đức Chúa giữa dân Ít-ra-en, thường được khiêng đi đầu trong cuộc hành trình vào Đất Hứa. Hòm Bia cũng là nơi ông Mô-sê thỉnh ý Thiên Chúa (x. Xh 25,22). Lúc đầu, Hòm Bia được đặt trong “Lều Hội Ngộ”, nhưng từ khi có Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, Hòm Bia được đưa vào và đặt trong Nơi Cực Thánh. Từ năm 587 trước Công nguyên, khi Đền Thờ bị phá huỷ, Hòm Bia Giao Ước bị thất lạc (x. 2 Mcb 2,4-8).

2. Các thần Kê-ru-bim (thần hộ giá) không phải do Ít-ra-en khám phá ra, nhưng từ này có nguồn gốc từ vùng Lưỡng Hà (Mê-xô-pô-ta-mi-a). Các thần hộ giá có thân hình sư tử, mặt người, đặc biệt là có đôi cánh rất rộng. Tại vùng Lưỡng Hà (Mê-xô-pô-ta-mi-a), các thần Kê-ru-bim rất được dân chúng tôn kính, còn ở Ít-ra-en thì ngược lại, dân chúng chỉ xem các Kê-ru-bim là các thụ tạo vật mà thôi : dân chúng coi các Kê-ru-bim là những người bảo vệ Hòm Bia Giao Ước, những đôi cánh rộng của các Kê-ru-bim được coi như là bệ của ngai Thiên Chúa. Ở đây một tư tế đang cầu nguyện trong Đền Thờ, dưới bóng đôi cánh của các Kê-ru-bim, cảm thấy mình được tình yêu của Thiên Chúa bảo bọc mình từ bình minh cho tới ban đêm.

Những hình ảnh khác của thánh vịnh này cũng vay mượn từ ngôn ngữ của các tư tế : “Con ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện” (chỉ có các tư tế mới được vào trong gian thánh của Đền Thờ). “Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng, và giơ tay cầu khẩn danh Ngài.” “Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc”, “con tưởng nhớ Chúa trên giường ngủ, suốt năm canh thầm thĩ với Ngài”. Thật ra, thánh vịnh này là một dụ ngôn. Thầy Lê-vi ở đây chính là toàn thể dân Ít-ra-en, ngay từ lúc khởi đầu lịch sử dân tộc họ cho đến ngày tận thế, họ kinh ngạc về sự thân mật mà Chúa dành cho họ : “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa. Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.” Đây chắc chắn là một ám chỉ đến những ngày dân Ít-ra-en lang thang trong sa mạc sau khi được Chúa giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập và kinh nghiệm khủng khiếp của họ khi bị khát ở Ma-xa và Mơ-ri-va (Xh 17). Lời cầu nguyện đẹp nhất là lời cầu nguyện xuất phát từ sự nghèo khó thiêng liêng, như cánh đồng khô cằn.

“Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện” ám chỉ đến những cuộc thần hiện trên núi Xi-nai, nơi Thánh, nơi dân Ít-ra-en đã chiêm ngắm Thiên Chúa ban cho họ Giao ước : “Tôi đã thấy uy quyền và sức mạnh của Ngài”, đó là hồi ức của dân Ít-ra-en, khi họ nhớ lại những điềm thiêng dấu lạ họ đã chứng kiến Thiên Chúa thực hiện để giải thoát họ khỏi ách nô lệ bên Ai-cập : “Quả thật Ngài đã thương trợ giúp.” Dân Ít-ra-en sẽ không bao giờ quên lời Thiên Chúa phán với ông Mô-sê : “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi đau khổ của chúng” (Xh 3,7).

Ngày nay, theo gương dân Do-thái, dân Ki-tô giáo lấy lại lời cầu nguyện này, nỗi khát khao này, niềm trông đợi này. Thánh vịnh 62 là một trong ba thánh vịnh giờ Kinh Sáng Chúa nhật, tuần 1 : bởi vì trong Phụng vụ Công giáo, Chúa nhật là ngày mừng Đức Ki-tô Phục Sinh và là ngày ưu tiên để cử hành toàn thể mầu nhiệm Giao ước giữa Thiên Chúa với dân Người, ngay từ bình minh lịch sử của họ cho đến khi Nước Trời được hoàn tất.

Bài đọc 2 : 1 Tx 4,13-18

1. Người ta thường tự hỏi người Ki-tô hữu khác với những người khác ở điểm nào ? Thánh Phao-lô vừa đưa ra câu trả lời : người Ki-tô hữu được Chúa ban cho một món quà tuyệt vời, đó là niềm hy vọng ! Theo thánh Phao-lô, đó là điều phân biệt các Ki-tô hữu với người khác : “Hầu anh em khỏi buồn phiền như những người khác, là những người không có niềm hy vọng”, một niềm hy vọng dựa trên một biến cố là nền tảng đức tin của chúng ta : sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô.

Trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nói : “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1 Cr 15,14). Thánh Phao-lô nói thêm : Nếu Đức Ki-tô không phục sinh, thì đức tin của chúng ta giống như một lâu đài bằng giấy, chỉ có sụp đổ thôi. “Nếu Đức Ki-tô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em. Hơn nữa, cả những người đã an nghỉ trong Đức Ki-tô cũng bị tiêu vong. Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Ki-tô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người” (1 Cr 15,17-19). Và thánh Phao-lô tiếp tục : “Nhưng không phải thế ! Đức Ki-tô đã trỗi dậy từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu” (1 Cr 15,20).

Chúng ta nhớ lại cuộc tranh luận giữa Chúa Giê-su và nhóm Xa-đốc về vấn đề kẻ chết sống lại (Mt 22,23 ...). Chúa Giê-su trả lời họ : “Còn về vấn đề kẻ chết sống lại, thì các ông không đọc lời Thiên Chúa đã phán cùng các ông sao ? Người phán : ‘Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác và Thiên Chúa của Gia-cóp.’ Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống.”

Chính lời xác quyết đó khiến Đức Giê-su đương đầu với cái chết. Khi báo cho các môn đệ biết về cuộc Thương Khó của mình, đồng thời Người luôn báo về việc Người phục sinh : “Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Lời đó cũng giúp chúng ta sống mà không cần phải lo âu về cái chết, vì “nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Ki-tô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6,8).

Bài Tin Mừng : Mt 25,1-13

Bài Tin Mừng hôm nay trích trong “Bài giảng thứ năm” của Đức Giê-su. Bài giảng về thời cánh chung. Chúa Giê-su từ chối trả lời câu hỏi của các môn đệ : “Khi nào những sự việc ấy sẽ xảy ra ?” Bù lại, sau khi kể ra những dấu hiệu báo trước biến cố, Người ân cần giải thích cho các ông biết là các ông phải chuẩn bị trước như thế nào : năm dụ ngôn về sự tỉnh thức là những minh hoạ cho điều đó.

1. Trước hết, Chúa dùng câu chuyện lụt đại hồng thuỷ và ông Nô-ê để so sánh (Mt 24,37-42) : “Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập đến cuốn đi hết thảy.” Ai nấy chỉ lo chuyện đời : “Thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng.” Họ không muốn biết rằng Thiên Chúa có thể thi hành việc xét xử ngay giữa cuộc sống hiện tại này, chỉ một mình ông Nô-ê biết chuẩn bị cho tai hoạ sắp tới.

2. Tiếp đến, Chúa kể dụ ngôn về kẻ trộm : “Nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu”, và Người kết luận : “Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính vào giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,39.43-44). Sau đó, Chúa móc nối với dụ ngôn người đầy tớ trung tín để tuyên bố : “Phúc cho đầy tớ ấy, nếu chủ nhà về mà thấy anh ta đang làm như vậy”, nghĩa là cấp phát lương thực cho gia nhân đúng giờ đúng lúc (Mt 24,46). Chúa Giê-su tiếp tục với dụ ngôn mười trinh nữ mà chúng ta vừa nghe trong bài Tin Mừng.

* Mười trinh nữ này tượng trưng cho tất cả các tín hữu Chúa Ki-tô, nam cũng như nữ, giáo dân và tu sĩ. Người ta có thể là khôn hay là dại. Dụ ngôn nhấn mạnh chuyện chàng rể đến chậm, nên phải luôn sẵn sàng. Điều này dựa trên phong tục tập quán của địa phương thời xưa : nhiều khi việc thương lượng giữa hai gia đình trai và gái còn kéo dài cho đến phút chót. Bình thường thì lúc mặt trời lặn, chú rể với đoàn phù rể kéo đến đón cô dâu. Nhưng nếu cuộc thương lượng chưa xong, thì sự chờ đợi của nhà gái còn kéo dài, có khi tới khuya hay nửa đêm không chừng. Trong dụ ngôn, các chi tiết “đóng cửa lại” (câu 10) cũng như câu đáp của chú rể đối với các cô tới chậm (câu 12) là không bình thường trong một đám cưới tự nhiên. Nhưng chính những chi tiết ấy làm nổi bật ý nghĩa thiêng liêng : người ta chỉ chết có một lần ; không có cơ hội để làm lại, nếu đã không sẵn sàng.

Kết : Dụ ngôn về lụt đại hồng thuỷ cho ta thấy sự phán xét của Chúa có thể xảy ra hết sức đột ngột ngay trong đời sống thường ngày của chúng ta. Dụ ngôn kẻ trộm kêu gọi chúng ta phải tỉnh táo trước mọi thứ bất ngờ không thể thấy trước được. Với dụ ngôn người đầy tớ trung tín, tinh thần vâng phục thánh ý Chúa là điểm đặc biệt quan trọng trong khi chờ đợi ngày Chúa quang lâm. Giáo Hội sống với niềm mong đợi ngày cánh chung ở cuối chân trời, nhưng cuộc phán xét đã bắt đầu hôm nay, trong những lựa chọn của đời sống thường ngày.

* Chúa đến gọi chúng ta vào lúc chúng ta hoàn toàn bất ngờ. Vì thế, chúng ta hãy lo thắp sáng ngọn đèn đức tin của mình, bằng dầu đức ái đối với tha nhân, nhất là những người nghèo khổ, bất hạnh, những ai đói rách bần cùng, và hãy nhớ lời Chúa Giê-su : “Ta bảo thật các ngươi : Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con luôn biết tỉnh thức trong bổn phận đối với Chúa và tha nhân.

Tự vấn :

Chúa đến gọi chúng ta vào lúc chúng ta không ngờ, chúng ta có luôn tỉnh thức không ? Có luôn chuẩn bị sẵn sàng không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Hãy chong đèn sáng”

(Mgr. L. Daloz, trong “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer, trang 335-336).

Việc loan báo Chúa đến không có mục đích hù doạ chúng ta, hay bắt chúng ta phải chờ đợi trong sợ hãi kinh hoàng. Thiên Chúa đến trễ không có nghĩa Người tìm cách bắt chợt chúng ta. Người không rình mò bắt tội bắt lỗi con người để trừng phạt ! Người là Cha, Người Cha nhân từ “chỉ muốn mọi người được cứu độ” (1 Tm 2,4). Người ban cho chúng ta thời giờ vì lợi ích cho chúng ta, để chúng ta biết sử dụng cho nên. Thời gian cho sự kiên nhẫn đợi chờ của Thiên Chúa cũng là thời gian cho sự bền đỗ của chúng ta, thời gian của lịch sử chúng ta, là cơ hội cho chúng ta hoán cải đổi đời, sám hối trở về. Chúng ta phải biết cảm tạ Thiên Chúa về món quà thời gian ấy, và chính chúng ta cũng phải biết nhẫn nại đối với người khác như Thiên Chúa, cầu nguyện cho mọi người, để thông hiệp vào trong lòng nhân hậu và tình thương bao la của Thiên Chúa. Phải biết tận dụng thời giờ, phải hiểu lý do tại sao ông chủ về trễ !

Chúng ta thấy các cô trinh nữ khôn ngoan có vẻ ích kỷ quá : khi chú rể đến, họ từ chối không chịu chia chút dầu cho các cô kia : “Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua lấy thì hơn.” Phải chăng họ quá khôn, quá thủ cho mình, y hệt như con kiến trong câu chuyện ngụ ngôn ? Chúng ta đã biết rằng : Dụ ngôn không phải là một câu chuyện dạy ăn ngay ở lành. Nó dùng sự so sánh lấy ra từ sinh hoạt hằng ngày, từ lối xử sự thông thường ở đời. Nó không có ý đưa ra một quy luật đạo đức, hay một mẫu mực nhất thiết phải theo … Người ta cũng có thể có nhận xét tương tự về thái độ quá ngờ vực hay quá cứng cỏi của chú rể đối với các cô khờ dại. Đúng là Đức Giê-su tự nhận mình là chú rể, nhưng điều đó không có nghĩa là Người xử sự theo kiểu chú rể trong dụ ngôn, xua đuổi những kẻ đến trễ : “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô là ai cả !” Giáo huấn của dụ ngôn được chính Đức Giê-su rút ra. Đó là thái độ luôn sẵn sàng để đáp lại tiếng gọi : “Chú rể kia rồi, ra đón đi !” Cần phải cảnh giác, tỉnh táo, khôn ngoan, để nhận ra, phân biệt, biết cách đáp trả. Cần phải chong đèn cho sáng và dự trữ trong mình lúc nào cũng đầy dầu Bác Ái, để giữ cho ngọn đèn đừng tàn lụi. Cần phải có mặt ngay khi Chúa đến, và đừng đi đâu sao nhãng việc gì … “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào.” Chúa không chỉ đến trong ngày tận thế. Nếu chúng ta chờ Người đến vào ngày tận thế, chúng ta sẽ thấy thời gian quá dài và chúng ta cũng sẽ thiếp đi rồi ngủ cả. Nếu biết rằng Người có thể đến trong mỗi phút giây của cuộc sống, chúng ta sẽ lo thắp sáng ngọn đèn đức tin, đổ đầy bằng dầu đức ái, để mau ra nghênh đón Người không chút chậm trễ. Rồi sẽ đến một ngày, Người tỏ ra cho chúng ta biết Người là ai, và đã đến với chúng ta như thế nào : “Ta bảo thật các ngươi : Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

2. “Con ve và con kiến”

(Bible du Dimanche, tr. 339-340).

Một đám cưới to ở một làng quê Pa-lét-tin : Mười cô phù dâu đến để tháp tùng chú rể đi đón cô dâu. Nhưng chỉ có năm trong số các cô xứng đáng được vào phòng tiệc. Tại sao chú rể lại có thái độ có vẻ cứng cỏi như thế ? Dường như tiêu chuẩn chàng đòi hỏi nơi các cô chính là sự “khôn ngoan”. Một khi đã quyết định đi theo chú rể (nói cách khác : một khi đã quyết định là Ki-tô hữu), phải hoàn toàn quy hướng về Đức Ki-tô, không được sao nhãng tỉnh thức vì đủ ba mươi sáu thứ chuyện phù phiếm vô bổ ở đời. Phải biết chọn lựa, đó là một chuyện. Phải tận dụng mọi phương tiện cần thiết để trung thành với lựa chọn của mình và để đi đến cùng, đó là một chuyện khác nữa … và là chuyện quan trọng hơn cả.

Thánh Mát-thêu kể lại dụ ngôn này vào cái thời mà chắc chắn các Ki-tô hữu đã quá quen với đức tin của mình, và đang dần dần làm cho đức tin ấy chỉ còn là vâng theo Hội Thánh một cách máy móc mà thôi. Thời nào thì cũng thế, và những phương thế để tìm lại sức sống cho niềm tin cũng thế thôi.