A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Xh 22,20-26

Đáp ca : Tv 17,2-3a.3bc-4.47 và 51ab (Đ. c.2)

Bài đọc 2 : 1 Tx 1,5c-10

Tung hô Tin Mừng : Ga 14,23

Tin Mừng : Mt 22,34-40

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 22,20-26

Đáp ca : Tv 17

Bài đọc 2 : 1 Tx 1,5c-10

Bài Tin Mừng : Mt 22,34-40

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Một lời để ghi nhớ : Ngươi phải yêu mến”

2. “Một từ tóm tắt tất cả Tin Mừng : Yêu mến”

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Xh 22,20-26

Nếu các ngươi ức hiếp mẹ goá con côi, thì cơn giận Ta sẽ bốc lên chống lại các ngươi.

Bài trích sách Xuất hành.

20 Đức Chúa phán thế này : Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập. 21 Mẹ goá con côi, các ngươi không được ức hiếp. 22 Nếu ngươi ức hiếp mà nó kêu cứu Ta, ắt Ta sẽ nghe tiếng nó kêu cứu. 23 Cơn giận Ta sẽ bốc lên, Ta sẽ cho gươm chém giết các ngươi : thế là vợ các ngươi sẽ thành goá bụa, và con các ngươi sẽ thành côi cút.

24 Nếu ngươi cho một người trong dân Ta, một người nghèo ở với ngươi vay tiền, thì ngươi không được xử với nó như chủ nợ, không được bắt nó trả lãi.

25 Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm, thì ngươi phải trả lại cho nó trước khi mặt trời lặn. 26 Nó chỉ có cái đó để đắp, để làm áo che thân ; nó sẽ lấy gì mà ngủ ? Nó mà kêu cứu Ta, Ta sẽ nghe nó, vì Ta vốn nhân từ.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 17,2-3a.3bc-4.47 và 51ab (Đ. c.2)

Đ. Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con.

2 Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là sức mạnh của con ;

3a lạy Chúa là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con.Đ.

3bc Lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn, là khiên mộc, là Đấng Cứu Độ quyền năng, là thành trì bảo vệ.

4 Tôi kêu cầu Chúa là Đấng xứng muôn lời ngợi khen, và tôi được cứu thoát khỏi quân thù. Đ.

47 Đức Chúa vạn vạn tuế ! Chúc tụng Người là núi đá cho tôi trú ẩn. Tôn vinh Thiên Chúa là Đấng cứu độ tôi,

51ab Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao cho Đức Vua chính Người đã lập. Đ.

 

Bài đọc 2 : 1 Tx 1,5c-10

Anh em đã từ bỏ ngẫu tượng, để phụng sự Thiên Chúa và chờ đợi Con của Người.

Bài trích thư thứ nhất của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca.

5c Thưa anh em, anh em biết, khi ở với anh em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu ích cho anh em ; 6 còn anh em, anh em đã bắt chước chúng tôi và noi gương Chúa, khi đón nhận lời Chúa giữa bao nỗi gian truân với niềm vui do Thánh Thần ban : 7 bởi vậy anh em đã nên gương cho mọi tín hữu ở miền Ma-kê-đô-ni-a và miền A-khai-a. 8 Quả thế, từ nơi anh em, lời Chúa đã vang ra, không những ở Ma-kê-đô-ni-a và A-khai-a, mà đâu đâu người ta cũng nghe biết lòng tin anh em đặt vào Thiên Chúa, khiến chúng tôi không cần phải nói gì thêm nữa. 9 Khi nói về chúng tôi, người ta kể lại chúng tôi đã được anh em tiếp đón làm sao, và anh em đã từ bỏ ngẫu tượng mà quay về với Thiên Chúa thế nào, để phụng sự Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa thật, 10 và chờ đợi Con của Người từ trời ngự đến, người Con mà Thiên Chúa đã cho trỗi dậy từ cõi chết, là Đức Giê-su, Đấng cứu chúng ta thoát cơn thịnh nộ đang đến.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : Ga 14,23

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến với người ấy.” Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Mt 22,34-40

Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, và yêu người thân cận như chính mình.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

34 Khi ấy, nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. 35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng : 36 “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” 37 Đức Giê-su đáp : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. 38 Đó là điều răn trọng nhất và điều răn thứ nhất. 39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 40 Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 22,20-26

Chúng ta cần lưu ý mấy điểm sau đây khi tìm hiểu bài đọc 1 trích từ sách Xuất hành chúng ta vừa nghe.

1. Điểm thứ nhất : Không phải ông Mô-sê đã truyền đạt cho dân Ít-ra-en một lần duy nhất tất cả mọi luật lệ chúng ta thấy tập trung trong sách Xuất hành. Trải qua nhiều thế kỷ và theo đà tiến hoá xã hội tại xứ Pa-lét-tin, luật lệ tại Ít-ra-en được cập nhật hoá và hoàn thiện, giống như Bộ luật dân sự hay hình sự được điều chỉnh, hoàn thiện tại các quốc gia. Cũng vậy, những quy định pháp luật được soạn thảo sau khi dân Ít-ra-en định cư tại Pa-lét-tin không phản ánh tình trạng xã hội thời Xuất hành. Chẳng hạn như trong Xuất hành 22,1 : “Nếu kẻ trộm bị bắt quả tang đang lúc đào ngạch và bị đánh chết, thì không có chuyện đòi nợ máu.” Chắc chắn không phải là luật lệ của thời dân còn cắm lều giữa sa mạc Xi-nai, đó cũng là trường hợp trong bài đọc 1 Chúa nhật hôm nay, ví dụ nếu người ta quan tâm đến số phận của những người di dân, là vì dân Ít-ra-en đã định cư tại đất Pa-lét-tin mà họ coi như là đất của họ và những người nước ngoài đến định cư chung quanh họ.

Thật ra, tất cả những luật lệ mà ông Mô-sê và các người kế vị ông truyền đạt cho dân, thuộc về các thời đại khác nhau, trong những điều kiện sống khác nhau, đều tập trung tiếp theo sau “Mười Điều Răn Đức Chúa Trời” (hoặc Mười Lời trên núi Xi-nai), vì đó là sự tiếp nối hợp lý theo dòng thời gian và sự tiến hoá của lịch sử Ít-ra-en.

2. Điểm thứ hai : Dân Ít-ra-en không phải là dân tộc đầu tiên cũng không phải là dân tộc duy nhất công bố các luật lệ, vì người ta đã tìm thấy ở vùng Cận Đông những bộ luật rất cổ : chẳng hạn như tại thành Ua, quê hương tổ phụ Áp-ra-ham, đã có một bộ luật có từ năm 2050 trước Công nguyên ; và bộ luật Hammourabi nổi tiếng (hiện đang lưu trữ tại bảo tàng Louvre, Paris, Pháp) lại có niên hiệu vào khoảng năm 1750 trước Công nguyên. Tất cả mọi bộ luật đều có những điểm chung, kể cả những trường hợp riêng biệt cụ thể, chẳng hạn như “nếu ngươi cho một người nghèo vay tiền”, “nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm”. Tuy nhiên, điều thú vị đối với chúng ta là tính cách mới mẻ mà luật Ít-ra-en mang đến cho các dân tộc láng giềng.

Trong tất cả mọi nền văn minh, luật lệ được đặt ra là để bảo vệ kẻ yếu, để giữ gìn trật tự xã hội : do đó không có gì ngạc nhiên khi luật Ít-ra-en cũng như luật pháp của các quốc gia khác bảo vệ lợi ích của các bà goá và trẻ mồ côi, người di dân, kẻ vay nợ. Nhưng điều mới mẻ ở đây là nền tảng của Lề Luật. Nền tảng của lề luật Ít-ra-en đó là sự giải thoát khỏi Ai-cập, hay chính xác hơn, là hai kinh nghiệm về ách nô lệ Ai-cập và việc Đức Chúa giải thoát dân Ít-ra-en khỏi ách nô lệ đó. Và bởi vì Thiên Chúa mặc khải là Đấng nghe tiếng dân chúng bị áp bức đang kêu khóc, nên trao tặng cho họ tự do và phẩm giá, nên thật là hợp lý khi Người ban lề luật để bảo vệ những kẻ thấp cổ bé miệng, đến nỗi tất cả các luật lệ trong Kinh Thánh luôn lặp đi lặp lại : nhắc lại sự đau khổ kéo dài khi dân Ít-ra-en làm nô lệ bên Ai-cập, bị áp bức, nhắc lại những việc Chúa đã làm để giải thoát dân Ít-ra-en. Chẳng hạn những chữ đầu tiên của Mười Điều Răn : “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ” (Xh 20,2), hoặc “Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai-cập thế nào, và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta” (Xh 19,4).

Và nếu Thiên Chúa đã giải thoát dân Người bởi vì Người đã nghe tiếng kêu than của những kẻ bất hạnh : “Con cái Ít-ra-en rên xiết trong cảnh nô lệ. Họ ta thán, và tiếng họ kêu từ cảnh nô lệ đã thấu tới Thiên Chúa. Thiên Chúa đã nghe tiếng họ than van và Thiên Chúa đã nhớ lại Giao ước của Người với các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp” (Xh 2,23-24). Cũng vậy, từ bụi cây bốc cháy, Đức Chúa phán : “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai-cập. Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nỗi khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai-cập” (Xh 3,7).

Đó là nền tảng mọi luật lệ của Ít-ra-en. Thiên Chúa nghe tiếng kêu than của những kẻ đang bị áp bức trong cảnh nô lệ bên Ai-cập. Người biết những nỗi đau khổ của họ và bảo vệ họ, vì Người vốn nhân từ. Câu cuối cùng của bài đọc 1 hôm nay xác nhận điều đó.

Đối với dân tộc đã có kinh nghiệm về nỗi khổ nhục, không khó để đặt mình vào vị trí của những kẻ bị tủi nhục : “Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai-cập.” Đó là điều bài đọc 1 hôm nay nhấn mạnh. Dân Ít-ra-en cũng không được ức hiếp mẹ goá con côi, vì khi bị ức hiếp, họ sẽ kêu cứu Chúa và Chúa sẽ nghe tiếng họ kêu cứu và Người sẽ ra tay trừng phạt những ai ức hiếp họ.

* Thiên Chúa luôn quan tâm và bênh vực những kẻ thấp cổ bé miệng. Chúng ta cũng hãy noi gương Người mà tận tình giúp đỡ những ai đang gặp thử thách gian nan.


Đáp ca : Tv 17

1. Khi đọc thánh vịnh này, ta có thể nói “lịch sử luôn được lặp lại”, một cá nhân có niềm tin như vua Đa-vít hay toàn thể một dân tộc như dân tộc Ít-ra-en, đều có thể hô vang niềm xác tín của mình : “Con yêu mến Ngài, lạy Chúa là Đấng giải thoát con”, đó chính là nội dung của đức tin : xác tín rằng Thiên Chúa yêu thương từng người chúng ta và cho ta được hưởng tự do và hạnh phúc. Về vấn đề này, vua Đa-vít trải qua những kinh nghiệm cụ thể nhất. Bị vua Sa-un coi là địch thủ và tìm đủ mọi cách để hãm hại, nhưng ông Đa-vít đã được Chúa giải thoát khỏi mọi sự dữ. Sách Sa-mu-en quyển thứ hai cho ta biết ông Đa-vít đã hát thánh vịnh này để tạ ơn Thiên Chúa đã cứu thoát ông khỏi mọi địch thù, bắt đầu là vua Sa-un. Nếu đọc chương 22 của sách Sa-mu-en quyển thứ hai, ta thấy nội dung giống hệt như thánh vịnh 17 chúng ta vừa nghe.

Chúng ta cũng biết rằng cuộc đời của vua Đa-vít là một chuỗi dài các trận đánh và chiến thắng, do đó ông tạ ơn Chúa vì chỉ có Người là Đấng duy nhất giúp đỡ ông : “Lạy Thiên Chúa con thờ, là khiên mộc, là thành trì, Chúa ban nhiều chiến thắng lớn lao” nhắc lại việc cậu bé Đa-vít đánh bại tướng Gô-li-át.

Đối với toàn thể dân Ít-ra-en, kinh nghiệm của họ càng rõ nét hơn nữa : “Lạy Chúa là núi đá, Chúa là Đấng giải thoát con, là núi đá cho con trú ẩn. Đức Chúa vạn vạn tuế !”


Bài đọc 2 : 1 Tx 1,5c-10

1. Bất cứ nơi nào thánh Phao-lô đi qua, ngài đều nghe nói về gương sáng của cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca non trẻ ; do đó ngài tin rằng việc rao giảng của ngài đạt được kết quả tốt đẹp. Lời Chúa được vui vẻ đón nhận đã biến đổi sâu sắc tâm hồn các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca và họ trở thành gương mẫu cho nhiều người khác. Tuy nhiên để có thể gặp gỡ và trao đổi với nhau, không phải là chuyện dễ dàng, vì thánh Phao-lô xác nhận rõ là họ đón nhận lời Chúa “giữa bao nỗi gian truân”. Thánh Phao-lô ám chỉ đến sự thù địch của những người Do-thái đối với việc rao giảng Tin Mừng. Chính các ông Phao-lô, Xin-va-nô và Ti-mô-thê đã là những người đầu tiên có kinh nghiệm về việc từ chối đón nhận Tin Mừng của những người mà các ông dành ưu tiên cho họ. Bây giờ thì cộng đoàn Thê-xa-lô-ni-ca bị bách hại nhưng họ đã đứng vững. Đó là ý nghĩa của câu : “Anh em đã bắt chước chúng tôi và noi gương Chúa, khi đón nhận lời Chúa giữa bao nỗi gian truân với niềm vui do Thánh Thần ban.” Rõ ràng, niềm vui là một yếu tố quan trọng trong việc đón nhận lời Chúa, niềm vui nội tâm là dấu chỉ của Chúa Thánh Thần.

“Anh em đã từ bỏ ngẫu tượng mà quay về với Thiên Chúa.” Ta tự hỏi ngẫu tượng nào được đề cập ở đây ? Có thể là thần minh ngoại giáo, hoặc đối với người Do-thái, là một hình ảnh lệch lạc về Thiên Chúa. Mà cộng đoàn mới khai sinh ở Thê-xa-lô-ni-ca rất đa dạng như sách Công vụ Tông Đồ kể lại : “Trong nhóm đó, có mấy người đã chịu tin theo và nhập đoàn với ông Phao-lô và Xi-la ; một số rất đông những người Hy-lạp tôn thờ Thiên Chúa và không ít phụ nữ quý phái cũng làm như vậy” (Cv 17,4). Trước khi trở lại cùng Chúa, họ theo các tôn giáo khác nhau, thờ các vị Thần ngoại giáo khác nhau (người ta biết ít nhất có hai mươi vị Thần ngoại giáo khác nhau được người dân Thê-xa-lô-ni-ca tôn thờ). Nhưng những người Do-thái và Hy-lạp nổi tiếng “tôn thờ Thiên Chúa” thì chắc chắn họ không thờ ngẫu tượng theo nghĩa hẹp : trái lại họ tôn thờ chính Thiên Chúa như ông Phao-lô tôn thờ, đó là Thiên Chúa hằng sống của Ít-ra-en. Ở đây, thánh Phao-lô sử dụng một kiểu nói rất hay : “Anh em đã quay về với Thiên Chúa.” Trong bản Hy-lạp, thánh Gio-an tông đồ cũng dùng cách nói này để nói lên mối liên hệ, sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con : “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1). Vì các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca mở rộng tâm hồn đón nhận lời rao giảng của thánh Phao-lô, nên họ nhận được ơn trở lại. Do đó, giống như Đức Ki-tô, họ hướng về Thiên Chúa, và nhờ đó họ luôn vững vàng trước mọi nỗi gian truân, như thánh Gio-an đã nói trong lời tựa của Tin Mừng thứ tư : “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12).

2. Một lần nữa, ta có thể nghĩ rằng thánh Phao-lô đã nhớ đến những “bài ca Người Tôi Tớ” của ngôn sứ I-sai-a khi ngài viết những dòng này : “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng, người đánh thức tôi, để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui. Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi. Vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng” (Is 50,4-7).

Thánh Phao-lô biết các môn đệ ở Thê-xa-lô-ni-ca cũng có một thái độ tương tự : họ đón nhận lời Chúa và kín múc sức mạnh từ lời Chúa để có thể giữ vững đức tin trước những cơn bách hại, vì họ tin chắc Chúa sẽ cứu giúp họ. Từ nay về sau, họ thoát khỏi cơn thịnh nộ đang đến, vì như thánh Gio-an đã nói : “Quả vậy, Thiên Chúa đã sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thể gian nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,17). Và trong chính bức thư này, thánh Phao-lô còn nói : “Vì Thiên Chúa đã không định cho chúng ta phải chịu cơn thịnh nộ, nhưng được hưởng ơn cứu độ, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta” (1 Tx 5,9). “Cơn thịnh nộ” là kiểu nói cổ điển chỉ ngày tận thế. Đó sẽ là ngày giải thoát, ngày Thiên Chúa xoá bỏ những sự dữ làm cho con người phải đau khổ.

Từ nay về sau, trong Đức Giê-su Ki-tô, ta không cần phải sợ sự phán xét của Thiên Chúa, trái lại ta sốt ruột trông đợi ngày Thiên Chúa hoàn thành kế hoạch của Người. Điều cần là chờ đợi, tỉnh thức, hành động trong việc thể hiện niềm tin của mình, nhất là sống bác ái yêu thương.


Bài Tin Mừng : Mt 22,34-40

1. Rõ ràng là không có gì mới trong câu Chúa Giê-su trả lời cho nhóm Pha-ri-sêu. Ta biết rõ hai điều răn này đều có ghi trong luật của Ít-ra-en : “Anh em hãy yêu mến Đức Chúa của anh em, anh em hãy yêu mến tha nhân ... Anh em hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em hết lòng hết dạ, hết sức của anh em” (Đnl 6), đó là một phần của lời tuyên xưng đức tin của Do-thái giáo, kinh Shêma của Ít-ra-en. Riêng về điều luật “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” đã được ghi trong sách Lê-vi (Lv 19,18). Tuy nhiên, tại sao câu hỏi của nhóm Pha-ri-sêu và câu trả lời của Chúa Giê-su được thánh Mát-thêu trình bày như là giai đoạn quan trọng trong cuộc tranh luận giữa Chúa Giê-su và nhóm Pha-ri-sêu ?

Bản văn hôm nay đặc biệt quan trọng. Trong Tin Mừng Mát-thêu, chúng ta đang ở vào chặng cuối cùng giữa cuộc khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem của Chúa Giê-su và cuộc Thương Khó của Người. Những cuộc tranh luận liên tiếp giữa người mà dân chúng nhận ra là Đấng Mê-si-a, và các nhà lãnh đạo tôn giáo là những người duy nhất có quyền công bố Đấng Mê-si-a đích thực. Chúa Giê-su đã kể ba dụ ngôn (dụ ngôn hai người con, dụ ngôn những tá điền sát nhân và cuối cùng là dụ ngôn tiệc cưới và y phục lễ cưới). Bây giờ, đến lượt các nhà lãnh đạo tôn giáo đặt ra cho Chúa Giê-su ba câu hỏi nhằm gài bẫy Người : Có nộp thuế cho Xê-da không ? Câu hỏi về sự sống lại của kẻ chết và cuối cùng là câu hỏi trong bài Tin Mừng hôm nay : “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?”

Người ta hỏi Chúa Giê-su về Lề Luật, Người trả lời họ bằng hai câu trích từ Lề Luật, nhưng Người không hề đặt một thứ tự ưu tiên giữa sáu trăm mười ba điều răn của Lề Luật, mà chỉ cho họ thấy hai điều luật Người đưa ra là nền tảng của tất cả các Lề Luật khác : “Tất cả Luật Mô-sê và các sách Ngôn Sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy.”

Thật ra, Lề Luật và các sách Ngôn Sứ đều liên kết chặt chẽ hai điều răn này. Đối với Lề Luật, ta chỉ cần đọc lại Mười Điều Răn Đức Chúa Trời là thấy rõ ngay : những điều răn liên quan đến thái độ đối với Thiên Chúa được các điều răn liên quan đến cách xử sự đối với tha nhân tiếp ngay sau. Và toàn thể Lề Luật (bài đọc 1) khi đề cập đến thái độ đối với người khác – đặc biệt đối với những người nghèo khổ, goá bụa, mồ côi, di dân – là đề cập nhân danh Thiên Chúa của Giao ước, vị Thiên Chúa mà dân Ít-ra-en phải yêu mến hết lòng, hết sức, hết trí khôn.

Đối với các ngôn sứ, các ngài chỉ nhắc lại sự liên hệ giữa hai điều răn, chẳng hạn ngôn sứ I-sai-a nói : “Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao : mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc, trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm ? Chẳng phải là chia cơm cho người đói” (Is 58,6), hay ngôn sứ Mi-kha : “Hỡi người, bạn đã được nói cho hay điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn : đó là thực thi công bằng, quý yêu nhân nghĩa và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn” (Mk 6,8). Tóm lại, trong Lề Luật cũng như trong sách các Ngôn Sứ, bài học quan trọng là : Nếu bạn muốn làm con Thiên Chúa là Đấng đã giải thoát bạn khỏi mọi sự dữ, thì đến lượt bạn cũng phải làm như vậy, giúp người khác thoát khỏi mọi gian truân thử thách, mọi khổ đau trong cuộc sống thường ngày.

2. Chắc chắn người Pha-ri-sêu đồng ý với Chúa Giê-su về các điều răn trên đã được ghi trong Lề Luật. Vậy tại sao họ lại còn đặt ra câu hỏi nói trên ? Ta thấy có hai lý do :

2.1. Thứ nhất, cần phải thoát khỏi tinh thần vụ luật. Người Pha-ri-sêu tranh cãi rất lâu xem điều răn nào là quan trọng nhất ; khi có cuộc xung đột giữa các bổn phận, thì cần phải có thứ tự ưu tiên trong việc tuân giữ các điều răn, câu hỏi của họ nhắm đến mục tiêu đó : “Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất ?” Chúa Giê-su mời gọi họ hoán cải tận căn : đối với Thiên Chúa, không có chuyện tính toán hơn thiệt, chỉ có một điều luật duy nhất, đó là luật yêu thương. Thánh Phao-lô, người Pha-ri-sêu cuồng tín xưa, có kinh nghiệm về cuộc hoán cải này, nói trong thư gửi tín hữu Rô-ma : “Anh em không còn lệ thuộc Lề Luật, nhưng lệ thuộc vào ân sủng” (Rm 6,14). Mến Chúa yêu người chỉ là một điều răn như thánh Gio-an đã nói trong bức thư thứ nhất của ngài : “Nếu ai nói ‘Tôi yêu mến Thiên Chúa’ mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối ; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20).

2.2. Thứ hai, Chúa Giê-su trách nhóm Pha-ri-sêu làm băng hoại Lề Luật do những cách giải thích và áp dụng Luật sai trái. Luật được Chúa đặt ra nhằm giúp con người thăng tiến, bảo vệ con người chứ không phải để trói buộc con người, nhưng họ biến con người thành nô lệ của Lề Luật, chẳng hạn Luật giữ ngày sa-bát buộc bỏ rơi bệnh nhân hay người đang hấp hối mà không được giúp đỡ, vì ngày sa-bát phải nghỉ ngơi. Việc nhóm Pha-ri-sêu trách các môn đệ Chúa Giê-su bứt lúa trong ngày sa-bát vì đói, Chúa Giê-su trả lời họ : “Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này : ‘Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội.” Điều Chúa Giê-su lên án nhóm Pha-ri-sêu là họ nhân danh Lề Luật mà quên luật bác ái yêu thương.

 

Cầu nguyện : Lạy Chúa Giê-su, xin cho tất cả chúng con ngày nên giống Chúa hơn trong đời sống yêu thương và phục vụ.

Tự vấn : “Ai yêu mến thì đã chu toàn Lề Luật.” Chúng ta có quan tâm đến lời nhắn nhủ của thánh Phao-lô chưa ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Một lời để ghi nhớ : Ngươi phải yêu mến”

(Mgr. L. Daloz, “Le Règne des Cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer, tr. 309-311).

Đúng là hai điều răn : điều răn thứ nhất là điều răn lớn. Điều răn thứ hai cũng quan trọng không kém. Có nghĩa là những điều răn ấy không cho phép ta tuỳ thích. Tình yêu mà những điều răn ấy nói tới, đối với Thiên Chúa cũng như đối với tha nhân không phải là một thứ tình cảm trôi nổi tuỳ theo tính khí của ta. Tình yêu là một sự cam kết lớn lao, một sự dâng hiến chính mình, hiến mạng sống mình. Tình yêu không dừng lại ở nửa đường, mà đi cho tới cùng giống như đám lửa cháy. Điều răn ấy khơi dậy tình yêu khi mà thường tình và một cách tự nhiên tính lãnh đạm hay chối từ có nguy cơ thống trị. Điều răn ấy là như tia lửa làm bùng lên đám cháy. Điều răn ấy nâng đỡ tình yêu khi nỗi chán chường hay thói quen sẽ làm cho tình yêu ra nguội lạnh hoặc tàn lụi. Điều răn ấy làm bừng lên nhuệ khí khi tình yêu chân thật đòi hỏi nhiều hy sinh, quên mình … Nhờ tương phản và hỗ trợ giữa tình yêu và điều răn này mà đời sống ta được thăng tiến !

Điều răn yêu thương có hai mặt, hai mặt mà không tách biệt nhau như mu và lòng bàn tay : Điều răn thứ hai cũng giống, cũng quan trọng như điều răn thứ nhất, là : “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình.” Chỉ có một mình Chúa là Đấng ta phải yêu mến cách tuyệt đối, hơn cả chính mình ta, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ta. Khi yêu mến Chúa hết mình, vượt khỏi chính mình, ta được vào trong tình yêu Chúa ban tặng, được sống trong tình yêu của Người, lòng ta mở ra hướng về vô biên, và con người được tạo nên cho cõi vô biên, bởi lẽ Thiên Chúa muốn thông phần sự sống của Người cho con người, muốn thần hoá con người ! Còn về người thân cận, Đức Giê-su truyền phải yêu người thân cận như chính mình. Đây không phải là một sự so sánh bình thường, mà còn hơn thế nữa. Không chỉ đơn giản là muốn và làm cho người thân cận điều ta muốn cho ta. Đức Giê-su đã đưa ra một điểm son, một khuôn vàng thước ngọc : “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12). Điều răn thứ hai thật minh bạch và đi xa hơn. Điều răn ấy đòi ta yêu mến người thân cận như người ấy là chính ta, là ta đồng hoá với người ấy. Nó diễn tả một sự hiệp thông giữa hai hữu thể, giữa hai cuộc sống, giữa anh em trong một nhà, trong một gia đình Thiên Chúa. Nếu tôi không yêu mến người thân cận của tôi, nếu tôi khinh chê người ấy, chính là tôi gây thiệt hại cho bản thân tôi. Yêu người thân cận như chính mình, chính là tôi dành cho tôi một tình yêu tuyệt vời … Thế nên, và nhất là có điều răn ấy, thật là điều hạnh phúc ! Bởi lẽ khi tôi yêu mến người giống như tôi, người mà tôi nhận ra tôi nơi con người ấy, thì tôi cũng được người ấy đáp lại bằng lòng yêu mến tự nhiên, bằng mối thịnh tình theo nghĩa mạnh nhất, còn nếu theo bản năng tôi ngờ vực một người, thì người ấy có thể trở thành một đối thủ, một người cạnh tranh, một kẻ thù của tôi. Lịch sử từng minh chứng những biến cố thật lớn lao đượm tình huynh đệ, cũng như những cuộc bùng nổ dữ dội nhất từng châm ngòi cho thù hận giữa con người … Điều răn thứ hai quả là cần thiết, và rất cần thiết nên Đức Giê-su mới dùng tất cả những lời lẽ trang trọng mà tuyên bố là điều răn ấy cũng giống như điều răn kia, cũng quan trọng không kém. Người đã đặt con người vào đúng tước vị của nó là hình ảnh và là con Thiên Chúa !

Quả thật, đây cũng là điều đơn giản và chắc chắn Chúa muốn ta tham khảo …

Yêu mến thế nào, thường là điều phức tạp ; bạn phải tìm kiếm, nhận thức rõ, kiểm soát những tình cảm tốt, xấu của bạn, chứ không được miễn trừ. Bạn hãy luôn luôn phải tìm xem để yêu mến thế nào cho đúng sự thật ; cần được học hỏi về điều này. Nhưng nếu bạn có một ý chí muốn yêu thương, nếu để cho ngọn lửa của Thánh Linh điều động cuộc đời bạn, thì bạn sẽ thấy con đường phải đi và phương cách để làm. Bạn hãy tìm kiếm hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn bạn. Bạn hãy tìm kiếm như cho chính mình. Thì bạn sẽ gặp … !


2. “Một từ tóm tắt tất cả Tin Mừng : Yêu mến”

(H. Denis “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer, tr. 31-32).

Khi nói đến yêu, tôi vốn thích dùng động từ yêu mến, nó có tính cách chủ động và tích cực, hơn là dùng từ tình yêu, một từ rất đẹp nhưng cũng rất dễ bị phê phán.

Làm sao có thể là tín hữu mà lại không yêu mến ? Làm sao có thể nhận biết Thiên Chúa của chúng ta nếu Người không phải là Đấng yêu mến chúng ta ?

Nhưng vậy thì có nhiều cách yêu mến không ? Chắc hẳn là có rồi, nên trong vấn đề này, tôi vẫn cứ theo gót nhà sư phạm trứ danh là thánh Augustinô. Ngài phân biệt ba trình độ trong hành vi yêu mến.

Trình độ thứ nhất, thấp nhất, không có ý nói là xấu nhất : Thích được yêu (aimer être aimé). Bạn hãy nói cho tôi hay, có ai mà lại không thích điều đó không ? Phải là con người hư hỏng mới dám nói ngược lại. Mọi người đều như vậy thôi … nhưng cuộc sống cũng đã dạy cho ta rằng tình yêu còn phải là cái gì khác hơn là niềm khoái chí (tự tôn kia).

Trình độ thứ hai : Thích yêu (aimer aimer). Ta hãy tạm dịch ở đây là : lấy làm vui khi yêu mến người khác. Ở bậc này, người ta có ra khỏi mình một chút, có quảng đại, có vị tha.

Chúa ơi, thật vui và đẹp biết bao khi xả thân làm được một việc, và đôi khi đi tới chỗ đóng vai con chim bồ nông tự để cho con rỉa thịt mình.

Ngay ở điểm này, ai lại không muốn nhận khen thưởng chứ ? Bạn hãy nói cho tôi hay bạn có đủ can đảm để đi thăm một bệnh nhân nào đó, đi uỷ lạo một cảnh khốn cùng, chẳng tìm thấy được ở đó một điều gì khích lệ chăng ? Nhưng bạn hãy coi chừng ! Tất cả thái quá trong lãnh vực này – quảng đại thái quá – có lẽ là một hình thức tự tôn tự đại của lòng yêu mến chính mình đó thôi.

Còn trình độ thứ ba : Yêu (aimer). Có thế thôi ! Yêu mến người khác vì chính họ, không phải vì ta làm điều tốt cho họ, không phải vì làm cho nhân đức của ta lớn lên. Không phải thế, bởi lẽ xét cho cùng, người ta không yêu mến vì … Ta yêu là yêu thôi. Đó mới là đỉnh cao của “tình cho không, biếu không”.

Hãy nhìn nhận điều này : Ta chẳng mấy khi đạt tới trình độ đó. Chỉ có một vị đã hiến thân chỉ vì yêu mà thôi, một Đức Giê-su ấy muốn lấy bản tính nhân loại của ta, một Đức Giê-su ấy mới ban cho ta Thần Linh tình yêu, khi Người tắt thở, một Đức Giê-su ấy mới có thể nghĩ ra nhân vật Sa-ma-ri nhân lành yêu thương mà không đòi đáp trả và hình dung ra một người Cha đang mở rộng vòng tay đón nhận đứa con đi hoang trở về.

Nếu phải cần đến một từ để tóm tắt cả Tin Mừng, đó là : Yêu mến.