|
Đáp ca : Tv 144,2-3.8-9.17-18 (Đ. c.18a) Tung hô Tin Mừng : x. Cv 16,14b |
A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1: Is 55,6-9
Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
6 Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp,
kêu cầu Người lúc Người ở kề bên.
7 Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo,
người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có
mà trở về với Đức Chúa –và Người sẽ xót thương–,
về với Thiên Chúa chúng ta,
vì Người sẽ rộng lòng tha thứ.
8 Thật vậy, tư tưởng của Ta
không phải là tư tưởng của các ngươi,
và đường lối các ngươi
không phải là đường lối của Ta
– sấm ngôn của Đức Chúa.
9 Trời cao hơn đất chừng nào
thì đường lối của Ta
cũng cao hơn đường lối các ngươi,
và tư tưởng của Ta
cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 144,2-3.8-9.17-18 (Đ. c.18a)
Đ. Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Người.
2 Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa
và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời.
3 Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng.
Người cao cả khôn dò khôn thấu. Đ.
8 Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương.
9 Chúa nhân ái đối với mọi người,
tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Đ.
17 Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa,
đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.
18 Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa,
mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người. Đ.
Bài đọc 2 : Pl 1,20c-24.27a
Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Phi-líp-phê.
20c Thưa anh em, Đức Ki-tô sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi, dù tôi sống hay tôi chết : 21 vì đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi. 22 Nếu sống ở đời này mà công việc của tôi được sinh hoa kết quả, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. 23 Vì tôi bị giằng co giữa hai đàng : ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều này tốt hơn bội phần : 24 nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em.
27a Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Ki-tô.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : x. Cv 16,14b
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Chúa, xin mở lòng chúng con, để chúng con lắng nghe lời của Con Chúa. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng : Mt 20,1-16a
Phải chăng vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức ?
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khi ấy, Đức Giê-su kể cho các môn đệ nghe dụ ngôn này : “Nước Trời giống như chuyện chủ nhà kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình. 2 Sau khi đã thoả thuận với thợ là mỗi ngày một quan tiền, ông sai họ vào vườn nho làm việc. 3 Khoảng giờ thứ ba, ông trở ra, thấy có những người khác ở không, đang đứng ngoài chợ. 4 Ông cũng bảo họ : ‘Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.’ 5 Họ liền đi. Khoảng giờ thứ sáu, rồi giờ thứ chín, ông lại trở ra và cũng làm y như vậy. 6 Khoảng giờ mười một, ông trở ra và thấy còn có những người khác đứng đó, ông nói với họ : ‘Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết ?’ 7 Họ đáp : ‘Vì không ai mướn chúng tôi.’ Ông bảo họ : ‘Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho !’ 8 Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý : ‘Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất.’ 9 Vậy những người mới vào làm lúc giờ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. 10 Khi đến lượt những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan tiền. 11 Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn chủ nhà : 12 ‘Mấy người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt.’ 13 Ông chủ trả lời cho một người trong bọn họ : ‘Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao ? 14 Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. 15 Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao ? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức ?’ 16a Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.”
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Is 55,6-9
1. “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên.” Ta phải tìm hiểu xem trong tinh thần nào những hàng này được viết ra ? Thưa, ở đây ngôn sứ I-sai-a ngỏ lời với những người đã hoàn toàn tuyệt vọng trong chốn lưu đày ở Ba-by-lon, với muôn vàn đau khổ, tủi nhục, dân Ít-ra-en bị cám dỗ tin rằng Chúa đã bỏ rơi họ. Họ tự hỏi có còn hy vọng được Chúa tha thứ nữa không ? Còn hy vọng dân được chọn có thể hồi sinh được không ? Sự nghi ngờ này khiến họ quay lưng với Chúa : ngôn sứ I-sai-a cho họ biết sự nghi ngờ Thiên Chúa là những tư tưởng sai trái, nghĩ rằng Thiên Chúa bỏ rơi họ và không tha thứ cho dân Ít-ra-en lại càng sai hơn nữa. Và quay lưng với Chúa là một việc làm vô cùng tệ hại. Thưa anh chị em, đây là bài học đặc biệt quan trọng của bài đọc 1 hôm nay : bởi vì Thiên Chúa không im lặng, cũng không vắng mặt hay ở nơi xa xôi.
Chúng ta thường thấy chủ đề con đường trong Kinh Thánh : nghi ngờ Thiên Chúa, tưởng tượng Người độc ác, cứng cỏi, báo thù, đó là đang đi trên con đường sai trái và càng ngày ta sẽ càng xa Chúa, và do chúng ta không còn tin vào lòng thương xót và sự quan tâm của Người. Ngôn sứ I-sai-a mời gọi dân Ít-ra-en hãy trở về cùng Chúa, thì sẽ thấy Thiên Chúa giàu lòng thương xót và hay tha thứ.
2. Việc khám phá Thiên Chúa giàu lòng thương xót và hay tha thứ có đầy dẫy trong Cựu Ước trước khi Chúa Giê-su xuống thế làm người và ở cùng chúng ta. Chúng ta đọc lại các ngôn sứ, như ngôn sứ Hô-sê chẳng hạn, có những câu tuyệt vời về tư tưởng của Thiên Chúa : “Trái tim Ta thổn thức, ruột gan Ta bồi hồi, Ta sẽ không hành động theo cơn nóng giận ... Vì Ta là Thiên Chúa chứ không phải người phàm. Ở giữa ngươi, Ta là Ðấng Thánh” (Hs 11,8-9). Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, từ “Thánh” muốn nói đến Đấng hoàn toàn khác. Đấng giàu lòng thương xót và hay tha thứ : ta hãy đọc ngôn sứ Giê-rê-mi-a : “Vì chính Ta biết các kế hoạch Ta định làm cho các ngươi - sấm ngôn của Đức Chúa – kế hoạch thịnh vượng, chứ không phải tai ương, để các ngươi có một tương lai và một niềm hy vọng” (Gr 29,11). Chắc chắn lời trên của ngôn sứ Giê-rê-mi-a khiến ta nghĩ đến câu tuyệt vời trong Tin Mừng : “Chúa cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45).
Cũng có những lời đối thoại tuyệt đẹp trong sách ngôn sứ Giô-na : Ông vốn không ưa dân thành Ni-ni-vê, kẻ thù truyền kiếp của dân Ít-ra-en. Ông trách Chúa quá tốt đối với họ : “Còn Ta, chẳng lẽ Ta lại không thương hại Ni-ni-vê, thành phố lớn, trong đó có hơn một trăm hai mươi ngàn người không phân biệt được bên phải với bên trái, và lại có rất nhiều thú vật hay sao ?” (Gn 4,11).
Cuối cùng, không chỉ có các ngôn sứ xác nhận điều đó, chẳng hạn ta đọc trong sách Sử biên niên : “Nếu dân Ta, dân vốn kêu cầu Danh Ta, mà biết hạ mình xuống khẩn nguyện và tìm kiếm Nhan Ta, từ bỏ những con đường xấu xa mà trở lại, thì Ta, từ trời, Ta sẽ nghe và thứ tha tội lỗi nó và sẽ phục hưng xứ sở của nó” (2 Sb 7,14). Kinh Thánh, ngay từ thời Cựu Ước, đã mặc khải nhiều về sự tha thứ của Thiên Chúa. Dân Ít-ra-en được đặc ân khám phá sự việc lạ thường này : Thiên Chúa vừa là Đấng hoàn toàn khác, Đấng ngàn trùng chí thánh, nhưng cũng là Đấng rất gần mỗi người chúng ta, như Chúa đã mặc khải cho ông Mô-sê : “Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6).
Ngôn sứ I-sai-a gom lại sự khám phá này trong câu tuyệt vời sau đây : “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.” Khoảng cách vô tận phân chia trời và đất là một hình ảnh rất sống động nói cho ta biết Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác, nhưng đồng thời cũng là Đấng rất gần chúng ta, Đấng “giàu lòng thương xót và hay tha thứ”.
Cuối cùng, “tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi”. Khoảng cách vô biên chia cách chúng ta với Thiên Chúa, cho ta thấy ta không hề đủ từ ngữ để diễn tả Thiên Chúa ! Câu trên là một lời mời gọi ta sống khiêm tốn và khoan dung như Chúa dạy, vì không ai trong chúng ta biết được ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa.
Đáp ca : Tv 144
1. Thánh vịnh 144 là tiếng dội lại của bài đọc 1 hôm nay. Ngôn sứ I-sai-a tóm tắt trong vài câu tất cả niềm tin của dân Ít-ra-en : sự khám phá một Thiên Chúa giàu lòng thương xót và hay tha thứ kêu gọi dân Ít-ra-en trở về với Người. Thánh vịnh là lời đáp trả của dân Ít-ra-en trở về cùng Thiên Chúa : “Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời.” Đó là bài thánh ca của niềm tin đã được tìm thấy. Thánh vịnh này phản ánh lời cầu nguyện mỗi buổi sáng của người Do-thái. Nếu quan sát kỹ, ta thấy sáu câu trong thánh vịnh Chúa nhật hôm nay có hai điều đáng lưu ý : thứ nhất, ta tìm thấy nơi đó một mặc khải quan trọng vừa đầy đủ vừa rõ ràng ; thứ hai, thánh vịnh là tiếng vang hoàn hảo với các bài đọc khác của Chúa nhật hôm nay.
2. Trong bài đọc 1, ngôn sứ I-sai-a đã nói : “Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.” Thánh vịnh 144 đáp lại : “Chúa thật cao cả, xứng muôn lời ca tụng. Người cao cả khôn dò khôn thấu.” Từ “cao cả” trong thánh vịnh hôm nay là một từ ngữ thuộc về cung đình, nhưng không phải là một vị vua như các vua ở trần gian này, nhưng đó là một vị vua vừa toàn năng vừa nhân hậu : Người chỉ muốn chúng ta được hạnh phúc. Đó là điều mà dân Ít-ra-en đã khám phá được suốt dòng lịch sử của mình. Khi ta nói vị vua này uy quyền, không giống như các vị vua khác trên trái đất này, thì ta hiểu sức mạnh của Người luôn chỉ là Tình Yêu : “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương.” Đó là bản tóm lược mà Kinh Thánh mặc khải cho chúng ta. Trong bài đọc 1, ngôn sứ I-sai-a đã nói : “Thiên Chúa hay tha thứ”, hiểu ngầm là tất cả những gì khác với lời quả quyết trên đều là sai trái. Và dân Ít-ra-en đã kể lại kinh nghiệm của mình, đã biết bao nhiêu lần, cách riêng là trong lúc lưu đày ở Ba-by-lon, phải chăng họ đã không khẩn cầu Chúa tha thứ cho họ và cho họ được trở về quê cha đất tổ ? Từ này về sau, dân đã tập họp trong Đền Thờ đã được tái thiết, hết lòng ca tụng : “Vâng, Chúa luôn gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa, mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người.”
Sứ mạng của dân Ít-ra-en là công bố cho tất cả mọi người biết Chúa là Đấng hay tha thứ, và thương xót tất cả mọi người : “Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.” Kế hoạch cứu độ phổ quát của Thiên Chúa xuyên suốt Cựu Ước : Chúa yêu thương toàn thể nhân loại, và kế hoạch yêu thương của Người liên quan đến toàn thể nhân loại, toàn thể mọi loài thụ tạo. Còn có một câu trong bài Tin Mừng Chúa nhật hôm nay, trong dụ ngôn người thợ làm vườn nho, người vào làm lúc giờ thứ mười một, có một tiếng dội đặc biệt : “Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa, đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.” Hành động của ông chủ cho ta thấy sự công bằng lớn lao nhất trên thế giới không phải là cái cân, mà là tình yêu. Nếu anh chị em thương yêu người khác như chính bản thân mình, thì hãy đối xử quảng đại với họ.
Để kết thúc, ta thấy thánh vịnh 144 này rất giống kinh Lạy Cha mà chúng ta đọc mỗi ngày. Chẳng hạn, trong kinh Lạy Cha, chúng ta thân thưa với Thiên Chúa như một người Cha và như một vị Vua : một người Cha là Thiên Chúa giàu lòng thương xót mà thánh vịnh 144 đề cập đến, một vị Vua chỉ chăm lo cho hạnh phúc của tất cả mọi người : “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con khỏi mọi sự dữ. A-men.” Bởi vì chúng ta biết rằng ý muốn của Thiên Chúa, như thánh Phao-lô nói, là “muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Ta hiểu dễ dàng là thánh vịnh 144 trở nên lời kinh sáng của dân Ít-ra-en, là dân tộc đầu tiên học biết thân thưa với Thiên Chúa như nói với một người cha.
Bài đọc 2 : Pl 1,20c-24.27a
1. Mỗi khi đọc thư thánh Phao-lô gửi tín hữu Phi-líp-phê, chúng ta đều xúc động vì tình yêu nồng nàn của ngài đối với sứ vụ tông đồ, đối với Đức Ki-tô và lòng thương mến của ngài dành cho tín hữu Phi-líp-phê. Chúng ta cùng nhau suy niệm bài đọc 2 vừa nghe.
“Dù tôi sống hay tôi chết”, thánh Phao-lô đang bị ngồi tù nhưng chúng ta không biết ở đâu, có thể ở Rô-ma hay lần ngồi tù đầu tiên ở Ê-phê-xô. Vụ án của ngài đã bắt đầu, ngài đang chờ tuyên án và ngài biết rõ rằng ngài có thể bị kết án tử hình : “Dù tôi sống hay tôi chết, Đức Ki-tô sẽ tỏ bày quyền uy cao cả của Người nơi thân xác tôi.” Từ “thân xác” ở đây chỉ toàn thể con người. Nếu được trả tự do, ngài có thể tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng và ngay cả khi bị cầm tù và bị xử án, ngài cũng làm chứng cho Đức Ki-tô trước toà án. Thánh Phao-lô đã nói phía trước : “Thưa anh em, tôi muốn anh em biết là những gì xảy đến cho tôi thật ra đã giúp cho Tin Mừng được tiến triển, đến nỗi tại dinh vua quan cũng như ở mọi nơi khác, người ta đều hiểu rõ là chính vì Đức Ki-tô mà tôi mang xiềng xích. Vì thấy tôi bị xiềng xích, phần đông các anh em có lòng tin cậy vào Chúa đã tỏ ra bạo dạn hơn để rao giảng lời Thiên Chúa mà không chút sợ hãi” (Pl 1,12-14).
Nếu ngài bị kết án tử, ngài cũng rất vui mừng vì đã làm chứng cho Đức Ki-tô Phục Sinh. Ta vô cùng ngạc nhiên về niềm xác tín của các Ki-tô hữu đầu tiên khi đối diện với việc tử đạo, trong khi những kẻ bách hại hy vọng sẽ tiêu diệt Ki-tô giáo ngay trong trứng nước, nhưng việc các Ki-tô hữu bị bách hại lại là dịp cho nhiều người ngoại giáo gia nhập Ki-tô giáo. Điều đó cho thấy rằng, bất cứ điều gì xảy ra, tất cả mọi người đều cộng tác vào việc rao giảng Tin Mừng là điều quan tâm duy nhất của thánh Phao-lô.
Thánh Phao-lô tiếp tục : “Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi.” “Ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều này tốt hơn bội phần.” Ta thấy ở đây tiếng dội lại của sự liên kết mật thiết với Đức Ki-tô mà thánh Phao-lô nói nhiều lần trong các thư của ngài. Chủ đề chính là số phận của mỗi người chúng ta liên kết chặt chẽ với thân phận của Đức Ki-tô, chẳng hạn : “Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình” (Cl 1,19-20a) ; hoặc trong thư Ê-phê-xô, đây là bản văn chìa khoá của tất cả mọi bản văn : “Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu, thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn, là quy tụ muôn loài trong trời đất, dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô” (Ep 1,9-10).
Trong đoạn thư, ta ghi nhận rằng đối với thánh Phao-lô, chết ngay tức khắc giúp ngài kết hợp hoàn toàn với Đức Ki-tô, và xem ra ngài không muốn trì hoãn nữa, như ta thấy trong thư 2 Cô-rin-tô : “Vậy chúng tôi luôn mạnh dạn và chúng tôi biết rằng : ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa ... Vậy chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2 Cr 5,6-8).
Vì thế, thánh Phao-lô tự thú là ngài bị giằng co : “Vì tôi bị giằng co giữa hai đàng : ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Ki-tô, điều này tốt hơn bội phần : nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em.”
Để kết thúc, ngài nói với các tín hữu Phi-líp-phê : “Chỉ có một điều là anh em phải ăn ở làm sao cho xứng với Tin Mừng của Đức Ki-tô.” Đây là cả một chương trình quan trọng, chúng ta phải sống lời Chúa dạy trong Tin Mừng để trở nên ánh sáng cho trần gian, trở nên muối ướp mặn đời, nhờ đó chúng ta trở nên chứng nhân cho Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha giàu lòng thương xót, và khi sống như vậy là chúng ta làm tròn sứ mạng truyền giáo của mình.
Bài Tin Mừng : Mt 20,1-16a : Dụ ngôn thợ làm vườn nho
Truyện dựa vào phong tục của người địa phương thời xưa, nghĩa là người Ít-ra-en. Người ta chia ngày làm mười hai giờ, tính từ lúc mặt trời mọc, và chỉ quen nói tới giờ thứ ba, giờ thứ sáu và giờ thứ chín, tương đương với bây giờ là chín, mười hai, mười lăm giờ. Giờ thứ mười một là mười bảy giờ, nghĩa là năm giờ chiều.
Trước hết, truyện muốn nói lên lòng quảng đại của Thiên Chúa (ông chủ) đối với dân ngoại, những kẻ được Người gọi vào Hội Thánh (vườn nho) của Người thời sau hết (lúc mười bảy giờ). Đối với những người này, Thiên Chúa cũng ban cho họ mọi quyền lợi và đặc ân như người Ít-ra-en, những kẻ đã được gọi từ đầu (thợ được thuê từ sáng). Cách đối xử khoan dung và quảng đại này làm cho những người Ít-ra-en bực bội, bởi họ tưởng mình bị thiệt thòi, thua kém dân ngoại. Được chọn trước dân ngoại, dân Ít-ra-en đã tưởng rằng Thiên Chúa phải mắc nợ họ. Nhưng thái độ của những người cằn nhằn ông chủ cũng giống như thái độ của người Pha-ri-sêu lên Đền Thờ cầu nguyện vậy (x. Lc 18,9-14). Truyện còn ngụ ý rằng Thiên Chúa làm gì cho ai cũng là bởi tình thương mà thôi : “Tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó”, và người ta phải tôn trọng cách xử sự của Người : “Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao ?” Kẻ không chấp nhận việc Người tỏ tình thương như thế, kẻ đó mắc tội ghen tị. Khi người ta đặt nặng các ơn ban hơn là tình yêu ban ơn cũng là hơn chính Đấng thương yêu, thì người ta không yêu mến mà chỉ ích kỷ mà thôi.
Hãy noi gương Chúa là Tình Yêu, hãy khoan dung, rộng rãi. Đừng ích kỷ, nhỏ nhen ... (kể chuyện Chúa tha cho người trộm lành trên Thập giá, ông Tạ Vinh ...).
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, Chúa mời gọi chúng con phải nên hoàn thiện như Cha trên trời. Chúng con chỉ có thể đạt được mục tiêu này nếu chúng con biết tuân giữ các điều răn của Chúa, nhất là điều răn bác ái yêu thương, sống khoan dung và quảng đại với anh chị em xung quanh mình.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có thường xuyên đọc Lời Chúa và sống theo Lời Chúa dạy trong Tin Mừng chưa ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. Công bằng kỳ cục
(G. Boucher, “La terre parle au ciel”)
Công bằng ! Ta gọi ngươi bằng tất cả khát vọng. Ta đấu tranh vì một thế giới công bằng hơn. Ta phát động cách mạng để đập tan bất công. Thậm chí ta còn nói tới – thật là ghê tởm – cuộc chiến tranh chính nghĩa. Các toà án của ta đó để thực thi công bằng. Lời cầu nguyện của ta kêu lên tới Chúa để cho người nghèo, người bị bóc lột được lắng nghe. Niềm vinh dự của các xã hội, các quốc gia là tạo lập được một hiến pháp, những luật lệ và những cơ chế giúp cho trật tự công bằng tiến bộ. Do đâu dụ ngôn Tin Mừng bắt ta làm ngược lại ? Do đâu khi đọc dụ ngôn lần đầu ta khó chịu như những người thợ làm đầu tiên đã khó chịu, họ tự cho mình và nạn nhân của một sự bất công. Ðối với con người, thực thi công bằng không phải là trả cho mỗi người điều gì thuộc về họ, theo sức lao động và giá trị của họ sao ?
Nhưng trong khuôn khổ Nước Trời lại là chuyện khác : có một Đấng tên là Thiên Chúa, là sự viên mãn, ban cho mọi người những gì chính đáng. Thiên Chúa công chính hoá những ai mong muốn. Ngay từ giờ đầu tiên. Ngay từ phút khởi đầu. Nhưng cũng có khi ở nửa đời người, thậm chí cả ở phút chót của cuộc đời nữa.
Thiên Chúa kêu mời mọi người hãy đến để được công chính hoá như người ta nhận một quà tặng, một ân ban. Có người trả lời ngay tức khắc từ lúc rạng đông. Có kẻ chỉ nghe được lời đề nghị ở giữa ngày. Đôi khi mãi đến cuối ngày có người mới nhận ra cơ may Chúa ban mà theo ngôn ngữ bác học, ta gọi là ân sủng.
Thiên Chúa làm cho nên công chính như ta trở nên trong suốt khi ta ở trong ánh sáng. Thiên Chúa biến ta nên công chính như chính Người là Đấng Công Chính, điều đó không có gì giống với những mô hình nhân loại. Bởi vậy ai nhận biết mình được Thiên Chúa công chính hoá sẽ chỉ có thể mừng vui khi thấy ân phúc đó đến với người láng giềng, người đối thủ, người đối địch … vì lối sống của Thiên Chúa đã thấm nhập đời anh. Thời giờ chẳng có gì quan trọng.
Ta chỉ có thể cầu mong cho mọi người biết nắm lấy cơ may của mình, những người cùng sống trong chung cư, những bạn đồng nghiệp, những người thân và cả những người không thân nữa.
Vì công bằng theo nghĩa của Thiên Chúa chỉ được thực hiện khi ta biết nắm bắt cơ may của mình, như người thợ giờ thứ mười một đã chọn đi làm việc. Và qua kinh nghiệm, ta biết rằng, để lãnh được lô độc đắc của Thiên Chúa, không có gì bằng một biến cố thúc bách ta, một chứng từ chất vấn ta.
Phần ta hãy biết đón nhận ân sủng mà Thiên Chúa ban cho và sống sao cho mọi người chung quanh ta khao khát được ân sủng ấy, lương bổng ấy.
2. Một ví dụ khiêu khích bắt ta phải tự vấn
(Mgr. L. Daloz, “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer).
Đức Giê-su lấy làm gương thái độ của người chủ đối với thợ của mình. Thật là một ví dụ khiêu khích, chứng minh điều Thiên Chúa không là. Không giống như ta tưởng. Người hành động không theo cách ta làm. Người tốt lành vượt xa các ông bố trần gian muôn trùng. Nhờ đó, Đức Giê-su cho ta chứng nghiệm được tình yêu của ta hẹp hòi biết bao : “Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức ?” Dụ ngôn này dạy ta biết Thiên Chúa, nhưng cũng biết chính mình. Nếu ta thấy đồng tình với những người thợ lẩm bẩm kêu trách, chẳng phải vì ta đã tưởng tượng Thiên Chúa theo thước đo của ta, và muốn đóng khung Người trong những quan niệm chật hẹp của tình yêu giới hạn của ta sao ? Dụ ngôn của Đức Giê-su trước hết là nói với dân Do-thái, họ là những người được kêu gọi trước hết, rồi mới tới dân ngoại. Dụ ngôn soi sáng tình trạng các cộng đoàn đầu tiên, trong đó những người từ đa thần giáo tới sau cũng có cùng quyền lợi như các tín hữu gốc Do-thái. Ngày nay, vấn đề vẫn còn đó, tuy hoàn cảnh có khác. Giáo huấn của Đức Giê-su vẫn luôn có cùng mục đích, cùng hiệu quả : Người mặc khải sự cao thượng của tình yêu Thiên Chúa “chiều cao, chiều rộng và chiều sâu của tình yêu ấy”. Tình yêu ấy thay đổi đường lối của ta, mở rộng lòng ta. Phản ứng của ta thường là giới hạn tình yêu ấy theo khuôn thước của ta. Nhưng “giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn !” Sau cùng, sứ điệp của dụ ngôn phải chăng không nằm trong những từ ngữ đơn sơ này, chúng nói với ta về Thiên Chúa : “Ta nhân lành ! ...” Hơn cả lương bổng, điều quan trọng là tiếng gọi, luôn luôn đổi mới từng ngày, từng giờ, ở mọi thời trong lịch sử cũng như ở mọi lứa tuổi của đời người, tiếng gọi này không gạt ai ra ngoài lề, đó là ân sủng cho những người đầu tiên cũng như cho những người cuối cùng, tiếng gọi của Thiên Chúa nói với con người mà Người yêu thương không mỏi mệt và Người muốn rằng không ai bị bỏ quên : “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.”
