A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Ed 33,7-9

Đáp ca : Tv 94,1-2.6-7a.7b-9 (Đ. c.7b và 8a)

Bài đọc 2 : Rm 13,8-10

Tung hô Tin Mừng : 2 Cr 5,19

Tin Mừng: Mt 18,15-20

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Ed 33,7-9

Đáp ca : Tv 94

Bài đọc 2 : Rm 13,8-10

Bài Tin Mừng : Mt 18,15-20 : Sửa lỗi anh em

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Việc sửa lỗi anh em

2. Mô hình căn bản của mọi cuộc hoà giải trong Giáo Hội

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Ed 33,7-9

Nếu ngươi không nói để cảnh cáo đứa gian ác, thì máu nó, Ta sẽ đòi ngươi.

Bài trích sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en.

7 Đức Chúa phán như sau : “Phần ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. 8 Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng : ‘Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết’, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. 9 Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó ; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.”

Đó là lời Chúa.


Đáp ca : Tv 94,1-2.6-7a.7b-9 (Đ. c.7b và 8a)

Đ. Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
Người phán : Các ngươi chớ cứng lòng.

1 Hãy đến đây ta reo hò mừng Chúa,
tung hô Người là Núi Đá độ trì ta,
2 vào trước Thánh Nhan dâng lời cảm tạ,
cùng tung hô theo điệu hát cung đàn. Đ.

6 Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục,
quỳ trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên ta.
7a Bởi chính Người là Thiên Chúa ta thờ,
còn ta là dân Người lãnh đạo,
là đoàn chiên tay Người dẫn dắt. Đ.

7b Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa !
8 Người phán : “Các ngươi chớ cứng lòng
như tại Mê-ri-ba, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc,
9 nơi tổ phụ các ngươi đã từng thách thức
và dám thử thách Ta,
dù đã thấy những việc Ta làm.” Đ.


Bài đọc 2 : Rm 13,8-10

Yêu thương là chu toàn Lề Luật.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

8 Thưa anh em, anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái ; vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. 9 Thật thế, các điều răn như : Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này : Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. 10 Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại ; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy.

Đó là lời Chúa.


Tung hô Tin Mừng : 2 Cr 5,19

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Trong Đức Ki-tô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hoà giải với Người, và giao cho chúng tôi công bố lời hoà giải. Ha-lê-lui-a.


Tin Mừng: Mt 18,15-20

Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

15 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em. 16 Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân. 17 Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.

18 “Thầy bảo thật anh em : Dưới đất, anh em ràng buộc những điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.

19 “Thầy còn bảo thật anh em : Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. 20 Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”

Đó là lời Chúa.


B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Ed 33,7-9

1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en, chương 33, câu 7 đến câu 9. Trong tiếng Híp-ri, Ê-dê-ki-en có nghĩa là “Thiên Chúa làm cho mạnh sức”. Ông là một tư tế hoạt động tại Giê-ru-sa-lem vào thế kỷ VI trước Công nguyên. Ông là một ngôn sứ được Thiên Chúa gọi để loan báo Lời của Người cho dân Ít-ra-en. Ông là một người thị kiến. Bốn thị kiến trong tác phẩm của ông mở ra cho ta thấy một thế giới lạ lùng : bốn con vật ; những việc tế ngẫu tượng ở Đền Thờ ; cánh đồng đầy xương khô đang được hồi sinh ; Đền Thờ tương lai với con suối tuôn chảy nước hằng sống ; thành Tia chìm xuống biển (chương 27) ; Pha-ra-ô – con cá sấu (chương 29) ; cây Khổng lồ (chương 31), Pha-ra-ô xuống âm phủ (chương 32).

2. Tại sao ông được Chúa đặt làm người canh gác ?

Trong cảnh nước mất nhà tan, ngôn sứ Giê-rê-mi-a có sứ mạng giảng cho dân Ít-ra-en còn lại ở đất Pa-lét-tin biết đường lối của Thiên Chúa, cho họ biết những hình phạt và trách họ đã sống tồi tệ, đã bỏ đường lối của Thiên Chúa. Còn tại đất lưu đày Ba-by-lon, ngôn sứ Ê-dê-ki-en được Thiên Chúa gọi để giữ cho niềm tin vào Thiên Chúa luôn sống động nơi những người Ít-ra-en đang phải sống kiếp lưu đày. Hoàn cảnh của ngôn sứ Ê-dê-ki-en vô cùng tế nhị, vì những người lưu đày không hiểu được ý nghĩa của hoàn cảnh họ đang phải chịu theo kế hoạch của Thiên Chúa như thế nào, tức là họ đang phải chịu phạt vì tội lỗi của họ, nên họ vẫn tiếp tục tôn thờ ngẫu tượng. Họ còn trách Thiên Chúa đã đối xử bất công với họ khi bắt họ phải chịu hình phạt do tội lỗi của những người đi trước (Ed 18,2). Đàng khác họ lại tin chắc rằng thời gian lưu đày sẽ không lâu lắm, và nhất là không lẽ nào Thiên Chúa lại để cho thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ–nơi Người ngự–bị quân Can-đê phá huỷ (x. Ed 24,21). Ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã phải đối phó với những quan niệm sai lầm như thế, đã phải tố cáo các tội lỗi như thờ ngẫu tượng, ngoại tình, thề gian thề dối và các tội lỗi công bằng xã hội. Cũng giống như ngôn sứ Giê-rê-mi-a, ngôn sứ Ê-dê-ki-en mạnh mẽ tố cáo thái độ tin tưởng ấu trĩ, cho rằng Đền Thờ Giê-ru-sa-lem là một bảo đảm cho thấy dân Ít-ra-en sẽ tồn tại mãi mãi.

3. Đức ái đòi buộc chúng ta không chỉ chia sẻ cơm áo cho người đói rách bần cùng, mà còn phải giúp anh chị em của mình sửa sai khi thấy họ có lỗi, nhất là đối với cha mẹ và những người có trách nhiệm trong cộng đoàn, vì Đức Chúa đã phán như sau : “Phần ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Ít-ra-en. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng : ‘Hỡi tên gian ác, chắc chắn ngươi phải chết’, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. Ngược lại, nếu ngươi đã bảo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó ; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình.” Xin anh chị em hãy lắng nghe và thực hành lời Chúa trong cuộc sống thường ngày. “Correctio fraterna” (sửa lỗi trong tình huynh đệ) rất cần thiết, thưa anh chị em !


Đáp ca : Tv 94

Thánh vịnh 94 thấm đẫm kinh nghiệm của Ma-xa và Mơ-ri-va. Thánh vịnh hôm nay cho thấy cuộc hành trình đức tin của tất cả chúng ta, đó là vấn đề “tin tưởng”, “tín nhiệm”. Đối với dân Ít-ra-en, vấn đề tín nhiệm được đặt ra mỗi khi họ gặp khó khăn trong sa mạc : “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không ?” Hay nói cách khác, ta có thể đặt trọn niềm tin vào Người không ? Hay ta có thể hoàn toàn trông cậy Người hay không ? Có chắc chắn là Người trợ giúp chúng ta khi chúng ta gặp hiểm nguy không ?

Kinh Thánh cho ta biết đức tin là tin tưởng, tín nhiệm. Vấn đề tin tưởng này dựa vào kinh nghiệm. Đối với dân Ít-ra-en, tất cả bắt đầu với cuộc giải thoát khỏi ách nô lệ Ai-cập, và trải qua nhiều khó khăn, Chúa mới giải thoát dân Người khỏi ách nô lê Ai-cập, thì không có lý do gì Người lại để họ chết đói, chết khát giữa sa mạc khô cằn, nắng cháy. Do đó, ta có thể cậy dựa vào Người như dựa vào một tảng đá. “Tung hô Người là núi đá độ trì ta.” Đây là một lời tuyên xưng đức tin. Sau câu chuyện không vui ở Ma-xa và Mơ-ri-va, người ta thường gọi Thiên Chúa là Tảng Đá của Ít-ra-en. Đối với một số người trong chúng ta, vấn đề đức tin được đặt ra mỗi khi chúng ta không tìm được câu trả lời cho những vấn nạn của mình : chấp nhận việc không thể biết tất cả, không thể hiểu tất cả mọi sự, chấp nhận con đường nhiệm mầu của Thiên Chúa đòi hỏi niềm tin nơi chúng ta. Chúng ta chỉ còn có thể nói như thánh Phê-rô khi được Chúa Giê-su hỏi : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Vì chỉ mình Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).

Trong cuộc sống đức tin, mỗi ngày chúng ta hãy đọc và suy đi nghĩ lại lời thánh vịnh 94 hôm nay : “Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa ! Người phán : ‘Các ngươi chớ cứng lòng.’”


Bài đọc 2 : Rm 13,8-10

Trong bài đọc 2 hôm nay, thánh Phao-lô đề cập đến một vấn đề vô cùng hệ trọng trong đời sống đức tin của mỗi người chúng ta : “Yêu thương là chu toàn Lề Luật.” “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái.” Thưa anh chị em, đức ái là món nợ lớn nhất người tín hữu phải trả cho người khác. Được Thiên Chúa yêu thương, người tín hữu có bổn phận yêu thương anh em mình. Đức ái là dấu hiệu căn bản của Ki-tô giáo : “Ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật.” Luật ở đây không phải là Luật Mô-sê mà là Luật của Đức Ki-tô. “Thầy là Chúa, là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,14). “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Lv 19,18). Chúa Giê-su đã tóm tắt mọi luật lệ vào điều răn : mến Chúa thương người. Cả hai có giá trị như nhau (x. Mt 22,37-40). “Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại” : đồng loại ở đây không giới hạn trong huyết tộc, chủng tộc, văn hoá, ngôn ngữ, nhưng bao gồm tất cả mọi người, vì được kết hợp với Đức Ki-tô (x. Gl 3,28 ; Mt 25,40).

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta đã sống đức ái như thánh Phao-lô đã dạy chưa ?


Bài Tin Mừng : Mt 18,15-20 : Sửa lỗi anh em

Bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe đề cập đến vấn đề sửa lỗi cho anh em, một vấn đề rất phức tạp và cũng rất tế nhị. Việc sửa lỗi này đặt nền trên đức ái, nhằm cứu vãn và xây dựng hơn là áp dụng kỷ luật. Vì thế, Chúa muốn mọi phương thức phải được sử dụng để đưa người lầm lạc trở về, trước khi đưa vấn đề ra cộng đoàn. Ngay cả khi phải dùng nhân chứng (có ba mặt một lời), thì cũng không phải để tố cáo theo pháp lý, nhưng để những người này góp phần khuyên nhủ theo tình huynh đệ, hầu giúp người mắc tội được cảm thông và can đảm trở về. Cuối cùng, khi phải đưa sự việc ra trước Hội Thánh (cộng đoàn), thì phải hiểu là trước những người có trách nhiệm chính thức. Lẽ dĩ nhiên các vị này cũng phải dùng mọi biện pháp theo tiêu chuẩn đức ái để chinh phục đương sự.

Nếu phải dùng quyền để loại trừ một phần tử bất khả kháng, thì điều này cũng chỉ vì bác ái mà thôi, bác ái đối với đương sự trước tiên, để đương sự biết hồi tâm hối cải, sau đó bác ái đối với các phần tử khác trong cộng đoàn, kẻo có ai theo gương xấu mà phạm tội.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa là Đấng vô cùng thánh thiện, mang lấy thân phận tội lỗi con cháu A-đam, chúng con rất dễ phạm tội mất lòng Chúa. Xin Chúa cho chúng con biết khiêm tốn lắng nghe lời nhắc nhở của những vị có trách nhiệm và sẵn sàng sửa sai, để cuộc sống đức tin của chúng con ngày càng đẹp lòng Chúa hơn.

Tự vấn :

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta có đủ can đảm để sửa chữa lỗi lầm cho anh em mình không, vì đó là bổn phận đức ái đòi buộc ?


C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Việc sửa lỗi anh em

(Mgr. L. Daloz, “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer).

Đoạn Tin Mừng này đưa ra một tiến trình hoà giải một trường hợp tế nhị trong đời sống các cộng đoàn : “Phải làm gì khi anh em ngươi phạm tội ?” Câu trả lời không dễ … Đức Giê-su nói gì ? Hãy đi tìm nó và trách móc ! Đó không phải là cách hành động. Ta thường cho rằng đó là việc cá nhân của người đó, “vấn đề của nó” và rằng nó có tự do ! Can thiệp, tìm gặp và trách móc, chẳng phải là tôi đã dây vào những việc không có liên hệ đến tôi, xen vào đời tư cá nhân ; không kín đáo, không khoan nhượng, và liều mình gây gổ với anh ta sao ? Ngay trong mối tương quan giữa tín hữu với nhau, ta vẫn thường hành xử như người đời quen làm trong xã hội. Ta không muốn dây vào công việc của người khác, ta né tránh. Dĩ nhiên trước khi can thiệp ta phải kiểm chứng xem có nên trách móc không, làm cách nào cho có kết quả. Hơn nữa xã hội ta đang sống khác với xã hội thời Đức Giê-su. Ta ít cảm thấy liên đới hơn. Tự do cá nhân là một cuộc chinh phục tương đối mới, và tuyên ngôn Nhân quyền là một hiến chương phần lớn dựa trên những tự do cá nhân này. Ta không muốn phá huỷ nó vì người khác và ta cũng không muốn người khác can thiệp vào đời sống, tư cách của ta. Ta khó chịu khi có ai đến cho ta một bài học luân lý ! Còn nữa, thường thường điều mà ta không muốn nói trước mặt người khác, ta lại ít tế nhị khi nói sau lưng họ …

Đức Giê-su đã nêu lên thái độ phải giữ trong cộng đoàn môn đệ của Người. Ta không thể rập khuôn cách làm của ta theo những gì diễn ra chung quanh. Cảm thấy có liên hệ đến những hành vi của anh em, đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà Đức Giê-su nói : “Nếu người anh em của anh trót phạm tội …” Anh em ngươi, đâu phải là người xa lạ, ngươi không thể nói rằng tội lỗi của nó chẳng liên hệ gì tới ngươi. Vì sự sống của anh em ngươi, sự sống vĩnh cửu của anh ta, liên hệ tới ngươi lắm chứ. Khi yêu ai, ta đâu dửng dưng để mặc người ấy lún sâu vào sự dữ. Ta sẽ tìm dịp cảnh tỉnh, giúp đỡ không làm anh ta phật lòng, không la mắng anh. Lời khuyên dạy của Đức Giê-su giả thiết ta phải có mối liên lạc huynh đệ. Phải chăng đó là vấn đề cần đặt ra cho đời sống cộng đoàn chúng ta ? Có tình thân rồi, ta có thể nói với nhau nhiều chuyện, giúp đỡ nhau nhiều việc. Trách móc không có nghĩa là nói nặng lời, hung hăng, dữ tợn. Trái lại, lời khuyên của Đức Giê-su kêu gọi ta hành động với sự tế nhị : “Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi.” Sự kín đáo của cuộc vận động tránh đưa tội lỗi ra công khai. Điều này hoàn toàn phù hợp với một mối liên lạc cá nhân, huynh đệ. Và Đức Giê-su nhấn mạnh đến mục đích của cuộc vận động : đó là cứu lấy anh em, chinh phục anh em, để nó đừng hư mất : “Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.” Đó không phải là lời nói gắt gỏng của thói phê bình chỉ trích, hay đối nghịch. Đó không phải là từ ngữ hạ nhục, là sự dò xét chế tài của kẻ bề trên. Ai tiến hành cuộc vận động ấy cũng phải sẵn sàng đón nhận sự trách móc ngược lại.


2. Mô hình căn bản của mọi cuộc hoà giải trong Giáo Hội

(B. Marliangeas, “Dans vos assemblées”, Desclée de Brouwer).

Trong chương 18 mà ta quen gọi là “diễn từ về cộng đoàn các môn đệ”, là sự miêu tả một tiến trình hoà giải trong Giáo Hội tạo nên, một cách nào đó, mô hình căn bản cho mọi hoà giải trong Giáo Hội.

Đó là một tiến trình bao gồm cả gặp gỡ của cá nhân lẫn vận động của cộng đoàn.

“Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó …” (Mt 18,15). Một cuộc hoà giải thật sự luôn luôn đòi có một tiếp xúc cá nhân bằng cách nào đó. Giáo Hội luôn ý thức về tầm quan trọng của tiếp xúc này. Chính vì thế, ở mọi thời, dù phép cáo giải có mặc hình thức nào đi nữa, vẫn luôn luôn dành chỗ cho một đối thoại cá nhân. Một đối thoại như thế thường rất khó khăn – Chính Đức Giê-su đã có kinh nghiệm đau đớn về điều đó – nhưng không phải vì thế mà bỏ cuộc : “Nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa … Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh …” (Mt 18,16-18). Hãy ghi nhận sự tiệm tiến của những phương thế được sử dụng để thoát ra khỏi tình trạng gãy đổ : đó là phối hợp những cố gắng để nối lại đối thoại, nói lên sự thật và tìm lại được sự hiệp thông.

Chính nhờ cộng đoàn mà quyết định được thi hành, trước mặt cộng đoàn mà sự hoà giải phải được ký kết. Trong trường hợp sự hoà giải thất bại, Tin Mừng nói tiếp : “Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế …”

Rất nhiều nhà bình luận đã chú giải lời nói như kết án, loại trừ này ; nhưng ta có thể hiểu một cách hoàn toàn khác hẳn, dưới ánh sáng của Tin Mừng : vào thời Đức Giê-su, từ ngữ “ngoại đạo” chỉ những người, tuy theo một đạo (thời đó ai mà không có đạo !) nhưng vẫn chưa quay trở về với Thiên Chúa Hằng Sống và Chân Thật ; còn về “những người thu thuế” vào thời chiếm đóng của đế quốc La-mã, họ khép mình trong một hệ thống bất công. Tuy nhiên, trong Tin Mừng ta thấy Đức Giê-su, dù người Do-thái đạo đức lấy làm vấp phạm, vẫn ăn uống với những người thu thuế. Dưới ánh sáng của thái độ của Đức Giê-su, đối xử với ai như “kẻ ngoại đạo và người thu thuế” là một lời mời gọi hãy có thái độ đồng hành với những người, mà vì lý do nào đó, vẫn chưa có đức tin hoặc đóng kín trong sự bất công và không thể tự mình thoát ra. Họ chưa đón nhận được Tin Mừng của một Thiên Chúa “không muốn kẻ tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (Ed 18,23).

Chính trong bối cảnh cầu nguyện cộng đoàn mà sự hoà giải có thể được thực hiện.

Điểm cốt yếu trong cuộc vận động không gì khác hơn là ơn tha thứ của Thiên Chúa. Ở đây ta gặp lại lời tuyên bố long trọng : “Thầy bảo thật anh em : Dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy ; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy” (Mt 18,18). Lời nói đó được sử dụng để nói lên uy quyền của thánh Phê-rô là đầu Giáo Hội (Mt 15,19). Nhưng Đức Giê-su nói thêm : “… Thầy còn bảo thật anh em : Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho” (Mt 18,19-20). Đây không đơn thuần là một giải quyết giữa anh em loài người, nhưng là cùng nhau đến trước tình yêu Thiên Chúa, chỉ mình Người mới có quyền tha thứ.

Trong một bối cảnh như thế, người thi hành tác vụ hoà giải phải cư xử không phải như chủ nhân của sự tha thứ nhưng phải như tôi tớ của sự tha thứ của Thiên Chúa, mà chính đương sự là kẻ đầu tiên được thụ hưởng.

Trong lịch sử, mô hình Tin Mừng này có lẽ đã được ứng dụng nhiều cách khác nhau mà chúng ta đã phần nào được thừa kế.