A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Gr 20,7-9

Đáp ca : Tv 62,2.3-4.5-6.8-9 (Đ. x. c.2)

Bài đọc 2 : Rm 12,1-2

Tung hô Tin Mừng : x. Ep 1,17-18

Tin Mừng: Mt 16,21-27

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Gr 20,7-9

Đáp ca : Tv 62

Bài đọc 2 : Rm 12,1-2

Bài Tin Mừng : Mt 16,21-27

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Theo Đức Giê-su

2. Biểu trưng của thập giá

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Gr 20,7-9

Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục.

Bài trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a.

7 Lạy Đức Chúa, Ngài đã quyến rũ con, và con đã để cho Ngài quyến rũ.
Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.
Suốt ngày con đã nên trò cười cho thiên hạ, để họ nhạo báng con.
8 Mỗi lần nói năng là con phải la lớn, phải kêu lên : “Bạo tàn ! Phá huỷ !”
Vì lời Đức Chúa mà con đây bị sỉ nhục và chế giễu suốt ngày.
9 Có lần con tự nhủ : “Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa.”
Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt.
Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được !

Đó là lời Chúa.

Đáp ca : Tv 62,2.3-4.5-6.8-9 (Đ. x. c.2)

Đ. Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, linh hồn con đã khao khát Chúa.

2 Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ,
ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.
Linh hồn con đã khát khao Ngài,
tấm thân này mòn mỏi đợi trông,
như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước. Đ.

3 Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện,
để thấy uy lực và vinh quang của Ngài.
4 Bởi ân tình Ngài quý hơn mạng sống,
miệng lưỡi này xin ca ngợi tán dương. Đ.

5 Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng,
và giơ tay cầu khẩn danh Ngài.
6 Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc,
môi miệng con rộn rã khúc hoan ca. Đ.

8 Quả thật Ngài đã thương trợ giúp,
nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui.
9 Trót cả tâm tình, con cùng Ngài gắn bó,
giơ tay quyền lực, Ngài che chở phù trì. Đ.

Bài đọc 2 : Rm 12,1-2

Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

1 Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. 2 Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa : cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.

Đó là lời Chúa.

Tung hô Tin Mừng : x. Ep 1,17-18

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Xin Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, soi trí mở lòng cho chúng ta thấy rõ, đâu là niềm hy vọng, mà ơn Người kêu gọi đem lại cho chúng ta. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng: Mt 16,21-27

Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

21 Từ khi ông Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, thì Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết : Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy. 22 Ông Phê-rô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người : “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy !” 23 Nhưng Đức Giê-su quay lại bảo ông Phê-rô : “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

24 Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Ai muốn đi theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. 25 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. 26 Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?

27 “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên sứ của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.”

Đó là lời Chúa.


B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Gr 20,7-9

1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a, một trong bốn vị đại ngôn sứ của Cựu Ước : I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en và Đa-ni-en. Nhân dịp này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu một điểm nổi bật trong cuộc đời của vị đại ngôn sứ này : ngôn sứ Giê-rê-mi-a, con người của Lời Chúa. Không một ngôn sứ nào đã công bố và sống Lời Chúa triệt để như ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Tính tình ông dịu dàng và nhạy cảm, vậy mà ông được gọi để nhổ, để lật, để huỷ, để phá (Gr 1,10). Thích yên hàn mà cứ phải đấu tranh để cho người ta chống đối, cho cả nước gây gổ với mình (Gr 15,10). Yêu quê hương, yêu đất nước, mà không được cầu nguyện cho đồng bào (Gr 14,11), cứ phải cổ vũ sự thần phục ngoại bang, để rồi bị lên án là kẻ phản quốc (Gr 20,8 ; 38,4). Ông không thể tin ai, ngay cả những người thân thích của ông (Gr 12,6) ; ông không thể hội nhập với người ta, dù là trong tang chế hay trong lễ hội (Gr 16,5-9), ngay cả niềm vui của một tổ ấm riêng cũng không được hưởng (Gr 16,1-4). Tóm lại, ông phải sống như một kẻ đơn chiết nhất trên đời, luôn luôn phải ngồi riêng một mình (Gr 16,7). Đúng là một thảm kịch.

2. Tại sao vậy, thưa anh chị em ? Thưa bởi vì Lời Chúa đã áp đặt lên ông. Lời Chúa tấn công ông, lay lắt giày vò ông, đòi buộc ông phải hoàn toàn gắn bó với ý định của Chúa : sống thảm kịch cuộc đời như một phương tiện để Thiên Chúa hành động giữa lòng dân tộc ông. Một đàng gặp được Lời Chúa con đã nuốt vào, lời Ngài làm cho con hoan hỷ, làm vui thoả lòng con (Gr 15,16). Nhưng đàng khác, tâm can tôi tan nát, xương cốt tôi rã rời. Tôi nên như người say, nên như người bứ rượu, cũng chỉ vì Đức Chúa, vì thánh ngôn của Người (Gr 23,9). Lời Chúa giống như ngọn lửa, như chiếc búa đập tan đá khối (Gr 23,29). Được đặt vào môi miệng ngôn sứ (Gr 1,9), Lời Chúa cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim, âm ỉ trong xương cốt ông (Gr 20,9), và đối với dân Giu-đa ngoan cố, Chúa sẽ làm cho lời của Người thành lửa nơi miệng ngôn sứ Giê-rê-mi-a để biến họ thành củi (Gr 5,14). Trong cuộc đời của vị ngôn sứ này, Lời Chúa là nhân tố chủ chốt, vừa là kẻ phá đám lại vừa là lẽ sống của ông, như là một thứ bạo chúa thất thường, xem ra muốn đòi ông phải đánh mất chính mình và xa lánh đồng loại, nhưng thật ra để đẩy ông chìm sâu hơn vào thực tại.

3. Hơn mọi ngôn sứ khác, ngôn sứ Giê-rê-mi-a phải gồng mình để chấp nhận Lời Chúa và chấp nhận chính mình trong một tương quan với Lời đó. Những lời thổ lộ tâm tình của ông với Thiên Chúa cho thấy rõ ý nghĩa của cuộc đời ông như một ngôn sứ : Tại sao con cứ phải đau khổ hoài ? (Gr 15,18). Ông chua chát phàn nàn với Chúa về sự cô đơn của ông, như là bị tha hoá về một kiếp sống phù du ... nhưng tất cả chỉ đơn giản để nói rằng cuộc đời của ông bị xâu xé bởi một sứ mạng mà ông không thể thoái thác được. Trong những cuộc đối thoại nội tâm này, lời con người luôn phải đương đầu với lời Thiên Chúa và kết cuộc là bao giờ lời Thiên Chúa cũng thắng. Không dễ gì biết rõ được tâm lý của Giê-rê-mi-a trong kinh nghiệm ngôn sứ của ông, nhưng những cuộc đối thoại ấy có diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử nào đi nữa, thì chúng ta cũng phải nhận rằng mối bận tâm sâu sắc và liên lỉ của ngôn sứ Giê-rê-mi-a vẫn là lời Thiên Chúa.

Bao giờ thì mỗi người chúng ta mới có thể được gọi là con người của Lời Chúa ? Tôi nghĩ chắc còn lâu lắm. Nhưng khi đặt câu hỏi như vậy là tôi nhắc nhở anh chị em cũng như chính bản thân tôi là Lời Chúa trong Kinh Thánh có một vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống đức tin của mỗi người chúng ta. Vậy hãy hưởng ứng lời mời gọi tha thiết của Đức Tổng Giám Mục Giu-se của chúng ta là hãy siêng năng đọc Lời Chúa mỗi ngày, rồi suy niệm và đem ra thực hành. Đó là chúng ta xây dựng ngôi nhà đức tin trên nền đá tảng vững chắc, dù có phong ba bão táp, ngôi nhà đó vẫn vững bền.

Đáp ca : Tv 62

1. Thánh vịnh 62 là thánh vịnh nói lên tâm hồn khao khát Chúa. Chúng ta cùng suy niệm thánh vịnh này : “Nương bóng Ngài, con hớn hở reo vui”, một hình ảnh thật đẹp và ý nghĩa. Chúng ta hãy tưởng tượng mình đang ở “nơi cực thánh” của Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi có đặt Hòm Bia Giao Ước, là chiếc hòm đựng hai tấm bia ghi khắc Mười Điều Răn do Đức Chúa ban cho dân Ít-ra-en. Hòm Bia được làm bằng gỗ keo, dài một thước hai, rộng bảy tấc rưỡi, cao bảy tấc rưỡi, bọc bằng vàng ròng. Phần trên được gọi là nắp “xá tội”, vì hằng năm vị thượng tế rảy máu con vật sát tế lên mặt Hòm Bia để xin ơn tha tội. Ở hai đầu nắp xá tội có hai tượng thần hộ giá (thần Kê-ru-bim) đối diện với nhau, cùng cúi mặt xuống nắp. Trong Hòm đặt hai tấm bia đã khắc Mười Điều Răn, là các điều khoản của Giao ước giữa Đức Chúa và dân Ít-ra-en (Xh 25,10-22). Ở đây một vị tư tế đang cầu nguyện trong Đền Thờ, dưới bóng cánh của các thần hộ giá, cảm thấy mình được tình thương của Chúa bao bọc từ bình minh cho tới ban đêm.

2. Các hình ảnh khác của thánh vịnh này đều vay mượn từ ngôn ngữ của các thầy Lê-vi : “Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện”, “Suốt cả đời con, nguyện dâng lời chúc tụng, và giơ tay cầu khẩn danh Ngài. Lòng thoả thuê như khách vừa dự tiệc.”

Thật ra, thánh vịnh này giống như một dụ ngôn. Thầy Lê-vi ở đây là toàn thể dân Ít-ra-en, từ bình minh lịch sử của họ cho đến ngày thế mạt, họ ngạc nhiên về sự thân mật Thiên Chúa dành cho họ : “Lạy Thiên Chúa, Ngài là Chúa con thờ, ngay từ rạng đông con tìm kiếm Chúa.”

Từ bình minh của lịch sử dân tộc mình, Ít-ra-en đã vô cùng ngạc nhiên về sự thân tình Chúa dành cho họ : “Linh hồn con đã khát khao Ngài, tấm thân này mòn mỏi đợi trông, như mảnh đất hoang khô cằn, không giọt nước.” Chắc chắn là một ám chỉ thời gian lang thang trong sa mạc sau khi ra khỏi Ai-cập và kinh nghiệm khủng khiếp của dân Ít-ra-en khi bị khát tại Ma-xa và Mơ-ri-va (Xh 17). Lời cầu nguyện đẹp nhất là lời cầu nguyện phát xuất từ sự nghèo khó thiêng liêng của chúng ta, như tiếng kêu than của người đang khát nước : “Tôi khát.”

“Nên con đến ngắm nhìn Ngài trong nơi thánh điện” là một ám chỉ đến những cuộc thần hiện của Thiên Chúa trên núi Xi-nai, nơi thánh, dân Chúa đã chiêm ngắm Thiên Chúa đã ban cho họ Giao ước : “để thấy uy lực và vinh quang của Ngài”, trong ký ức của dân Ít-ra-en, lời nói trên gợi nhớ những điềm thiêng dấu lạ của cuộc Xuất hành Chúa dùng để giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập.

Ngày nay, theo gương dân Ít-ra-en, dân Ki-tô giáo cũng dâng lên Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót nỗi khát khao, lòng trông đợi. Thánh vịnh 62 là một phần trong những thánh vịnh của giờ Kinh Sáng Chúa nhật tuần 1 : bởi vì trong Phụng vụ Ki-tô giáo, Chúa nhật là ngày mừng Đức Ki-tô Phục Sinh, ngày đặc biệt, trong đó chúng ta cử hành toàn bộ mầu nhiệm Giao ước giữa Thiên Chúa với dân riêng của Người, từ bình minh lịch sử dân tộc của họ, trong khi chờ đợi Nước Cha trị đến như chúng ta vẫn thường đọc trong kinh Lạy Cha.

Bài đọc 2 : Rm 12,1-2

Mười một chương đầu của thư Rô-ma bàn về vấn đề giáo lý. Những chủ đề thần học quan trọng của thánh Phao-lô được trình bày dài và sâu sắc : sức mạnh của ân sủng, tội lỗi tràn lan, con người được nên công chính nhờ đức tin, mầu nhiệm Phục Sinh, hành động của Chúa Thánh Thần, ơn cứu độ được hứa ban cho tất cả mọi người. Bây giờ, giống như trong tất cả các thư khác, thánh Phao-lô rút ra cho độc giả của ngài những hệ quả về lời giáo huấn của ngài, những chân lý đó làm đảo lộn đời sống của họ. “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa.” Những gì thánh Phao-lô nói ở đây đều liên kết mật thiết với những gì ngài trình bày trước đây, đặc biệt là trong những hàng cuối cùng của chương trước ; những từ “Thiên Chúa thương xót tất cả mọi người” và tiếp tục ngay sau là thánh thi ca tụng thánh ý nhiệm mầu mà chúng ta đọc ở Chúa nhật vừa qua : “Khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào.” Do đó, thánh Phao-lô nói, chẳng cần phải do dự gì hết : đối với Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và muốn cứu độ hết thảy mọi người không trừ ai, tha thứ vô bờ, chỉ có một câu trả lời duy nhất thôi, đó là hoàn toàn phó thác và tin tưởng : “Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người.” Thánh Phê-rô cũng nói một cách khác : “Thật vậy, Đức Ki-tô đã lấy thần lực của Người mà ban tặng chúng ta tất cả những gì giúp chúng ta được sống và sống đạo đức, khi Người cho chúng ta biết Đấng đã dùng vinh quang và sức mạnh của mình mà kêu gọi chúng ta. Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy, Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,3-4).

Vì thế, chúng ta được mời bước vào tiến trình của thánh vịnh 40 diễn tả : “Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật, nhưng đã mở tai con ; lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi, con liền thưa : ‘Này con xin đến !’” (Tv 40,7). Chúng ta cũng nghe tiếng vang trong lời dạy của ngôn sứ Mi-kha : “Hỡi bạn, bạn đã được nói cho hay điều nào là tốt, điều nào Đức Chúa đòi hỏi bạn : đó chính là thực thi công bằng, quý yêu nhân nghĩa, và khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn” (Mk 6,8).

Việc dấn thân này là một tham dự tích cực vào việc thực thi ý Chúa là “Đấng muốn cho mọi người được ơn cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4). Thánh Phao-lô dùng phần tiếp theo của thư Rô-ma để trình bày bản chất sự dấn thân của các Ki-tô hữu : mỗi người, tuỳ theo ơn Chúa ban, và khả năng của mình mà cộng tác vào sứ vụ của Giáo Hội là phục vụ tất cả mọi người. Điều đó đòi hỏi mỗi người chúng ta như thánh Phao-lô dạy : “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa : cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo.”

Ước gì mỗi người chúng ta làm như thánh Phao-lô dạy.

Bài Tin Mừng : Mt 16,21-27

Câu chuyện trong bài Tin Mừng hôm nay tiếp ngay sau lời tuyên xưng đức tin của ông Phê-rô được Chúa Giê-su khen ngợi : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều đó, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” Như tất cả các mối phúc khác, ở đây “anh thật là người có phúc” vừa nói lên lời chúc mừng, vừa là một lời khích lệ, và trong thực tế, ông Phê-rô phải phấn đấu rất nhiều để có thể trung thành với lời tuyên xưng đức tin này, đơn giản là vì ông chưa biết hết tầm quan trọng của lời tuyên xưng ông vừa thốt ra. Chúa Giê-su không ngừng làm cho ông sửng sốt. Quả thật, một cách nào đó, Chúa Giê-su vừa âm thầm cám ơn ông Phê-rô về việc nhận ra Người là Đấng Mê-si-a (chính Chúa Cha đã mặc khải cho ông Phê-rô danh xưng đó) và ngay sau đó, Chúa Giê-su tỏ cho các môn đệ biết sứ vụ thật sự của Người khi xuống thế gian và ở cùng chúng ta : “Từ lúc đó, Chúa Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết : Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”, đó là một thế giới hoàn toàn đảo ngược : một bậc quân vương không quân đội, không một đặc ân nào cả, mọi sự đều rất tệ, một vị vua bị ngược đãi, bị hành hạ và bị đóng đinh trên thập giá. Một tiên báo khó chấp nhận quá, một ý tưởng thật lạ lùng !

Ông Phê-rô có lý khi can gián Chúa Giê-su. Giống như nhiều người đương thời, ông Phê-rô trông chờ một Đấng Mê-si-a – Vua, bách chiến bách thắng, vinh hiển, uy quyền, và chỉ cần một lần là đuổi quân Rô-ma chiếm đóng ra khỏi lãnh thổ Pa-lét-tin, quê hương yêu dấu của ông. Do đó, ông khó mà chấp nhận lời tiên báo của Chúa Giê-su vì ngược lại với điều ông suy nghĩ và tha thiết chờ mong. Thiên Chúa Toàn Năng mà phải chịu như vậy sao ? Ông không thể chấp nhận được đâu ! Ta có thể nói ở đây là “lời chối Chúa đầu tiên của ông Phê-rô”, lời từ chối đầu tiên bước theo Đấng Mê-si-a trên con đường thập giá. Chúa Giê-su đối lại lời từ chối bộc phát của ông Phê-rô : “Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người.”

Trong thực tế, những tư tưởng đột xuất của chúng ta tầm thường biết bao. Do đó chúng ta cần để cho Chúa Thánh Thần biến đổi những tư tưởng đó cho phù hợp với thánh ý Chúa, và thỉnh thoảng phải thay đổi hoàn toàn thì mới có thể phù hợp với kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Kế hoạch đó không gì khác hơn là cứu độ toàn thế giới, nghĩa là làm phát sinh một nhân loại mới, một nhân loại chỉ biết sống yêu thương và đạo đức, theo hình ảnh của chính Thiên Chúa. Tuy nhiên, ơn cứu độ con người không chỉ dùng cây đũa thần quơ một lần là xong, làm như thế thì còn gì tự do của chúng ta ? Do đó, ơn cứu độ con người phải đi qua tiến trình hoán cải từng bước. Làm sao con người hoán cải được nếu không có ai chỉ đường ? Vì thế, chúng ta cần biết rằng Chúa Giê-su đã đi đến cùng con đường dịu dàng, nhân từ, tha thứ, để chúng ta noi gương Người trong cuộc sống đức tin thường ngày của mỗi người chúng ta.

Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa hoàn toàn không phù hợp với một Đấng Mê-si-a chiến thắng. Để cho con người “nhận biết chân lý” (1 Tm 2,4), con người phải thấy rằng Thiên Chúa là Đấng dịu dàng, tha thứ, giàu lòng thương xót. Việc đó chỉ trở thành hiện thực trong sự tự hiến của Chúa Giê-su trên thập giá : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).

Kể vài câu chuyện minh hoạ : Thánh Mắc-xi-mi-li-a-nô Ma-ri-a Kôn-bê ; viên sĩ quan hiến binh Pháp : Beltrame Arnaud ; cậu lễ sinh Kendrik Castilo (Denver, Colorado).

Vâng theo thánh ý Chúa trong đời sống đức tin thường ngày là điều chúng ta cần quan tâm thực hiện, dù nhiều khi chúng ta không hiểu tường tận thánh ý nhiệm mầu của Chúa.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết vâng theo lời Chúa dạy và noi gương việc Chúa làm, để chúng con luôn luôn là những chứng nhân của Lòng Chúa Xót Thương đối với tha nhân.

Tự vấn :

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta đã cố gắng nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giê-su chưa ?


C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Theo Đức Giê-su

(Mgr. L. Daloz trong cuốn “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer, tr. 242-243).

Nếu ta chăm chú nghe lời Đức Giê-su, ta sẽ thấy rằng Người không nói chống đối sự sống. Người không đòi hỏi các môn đệ phải bỏ sự sống. Trái lại Người kêu mời họ hãy sống phong phú hơn. Người chỉ cho thấy con đường sống thôi thúc người ta sống tốt tối đa, tức là sống để trao ban chính bản thân. Ai khép kín trong vỏ ốc của mình, ai chỉ lo cho bản thân mình, sẽ héo tàn, bởi vì con người không thể thành tựu nếu chỉ đóng kín lo cho mình. Nếu bạn khép kín, bạn sẽ chết trong khi nghĩ rằng mình giữ được sự sống. Thu tích của cải để phòng thân sẽ không ích gì, nếu bạn đánh mất chính mình. Con người ta không được cứu rỗi nhờ những của cải mình có, nhờ của “sở hữu” nhưng nhờ đức tính của đời sống. Tính “người” được lớn lên khi ta quên mình và trao ban thân mình. “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?” Đức Giê-su nhắc cho ta vẻ cao trọng của con người, trái tim con người được tạo nên để mở ra, để yêu thương, và bạn không thể yêu thương nếu bạn không cho đi và trao ban chính mình. “Yêu là cho tất cả và trao ban chính bản thân mình”, thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su đã nói. Nếu bạn muốn tự cho mình là trung tâm vũ trụ, nếu bạn muốn quy chiếu mọi sự về bạn, bạn sẽ đánh mất bản thân : mất linh hồn, yếu tố nhờ đó mà sự sống thật sự là của con người.

Thật là một nghịch lý cho con người, anh ta chỉ thật sự thành công trong cuộc sống khi anh khước từ nó để cho đi. Chúng ta có thể nhận thấy ở ngay quanh ta, mặc dầu ta không dễ chấp nhận điều đó áp dụng cho chính mình ; những người thành công trong cuộc sống đẹp đẽ và hữu ích, là những người không tìm dễ dãi, là những người cho đi thời gian, sức lực, lòng tận tuỵ để phục vụ tha nhân … cho đến hy sinh sự sống của mình. Đức Giê-su đã đề cập và soi sáng vẻ cao đẹp chỉ con người mới có này. Không những Người đã sống như thế, Người còn mặc khải ý nghĩa đầy đủ. Người đã đi con đường mà Người muốn cho những ai theo Người phải đi : “Ai muốn theo tôi …” Nào chúng ta lại không muốn bước theo Người sao ? Con đường thập giá, Người đã làm cho nó trở thành cửa ngõ của quãng đường dẫn vào cuộc sống sung mãn bất ngờ : đó là sự Phục Sinh. Những câu tiếp theo liên quan đến phần thưởng Người nói về kết cục của cuộc sống con người. Không phải một lời đe doạ đâu, mà là một lời hứa. “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên sứ của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm.” Không có gì phải sợ khi bạn liều mạng sống vì Đức Giê-su, vì đó là một bảo đảm tốt nhất cho sự thành công cuối cùng : “Ai mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.” Đức Giê-su mời ta cân nhắc tầm vóc đời đời của những lựa chọn của ta, và tương lai vô tận của tình thương đã trao ban.

2. Biểu trưng của thập giá

(D. Ponnau, Giám Đốc trường Louvre, trong tạp chí “Le Monde de la Bible”, số 97, tr. 5).

Biểu tượng của Thập Giá đi trước và vượt quá biên giới của thế giới Ki-tô giáo. Tuy vậy nó là dấu chỉ quen dùng nhất có tính đặc trưng và tính phổ quát của Ki-tô giáo. Từ thời trước Đức Ki-tô và từ thời Đức Ki-tô, thập giá là một biểu tượng có tính toàn cầu phổ biến nhất và được nói đến nhiều nhất, ở ngoài những miền đã tin theo Tin Mừng. Nó liên kết hết mọi người “Phương Đông” ở mặt đất, ở trên trời và trong không gian. Lâu đời trước thời Đức Ki-tô, thập giá đã là dụng cụ khổ hình ghê sợ và ô nhục, chỉ dành cho những cặn bã của xã hội, những tên nô lệ nổi loạn. Nhưng Đức Ki-tô đã làm nó trở nên biểu tượng của Đức Ki-tô và của các môn đệ của Người.

Người Do-thái đòi phép lạ, người Hy-lạp tìm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng một Đức Ki-tô chịu đóng đinh, là vấp phạm đối với người Do-thái, là điên dại đối với dân ngoại, còn đối với những kẻ được gọi, cả Do-thái và Hy-lạp, Người là Đấng Ki-tô, quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô đã nói như thế và chính Đức Giê-su cũng đã nói : “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được.” Đấng là Ngôi Lời hằng hữu, nói theo các môn đệ, tự trao ban ngay từ khởi thuỷ, như Đấng bị đóng đinh và Đấng kêu gọi người ta chết đi đóng đinh vào thập giá. Người trao ban bản thân với tư cách đó trong lời Người và trong lời của những kẻ mà Người linh hứng. Không phải trong ảnh tượng của Người. Phải chờ đến thế kỷ IV thì ảnh tượng thập giá của Chúa mới được trưng bày cho người ta chiêm ngưỡng. Thánh nữ Hê-lê-na đã phát hiện ra ở Giê-ru-sa-lem và rồi sau đó xuất hiện vinh quang ở thành thánh. Từ đó thập giá được làm bằng kim loại quý và được cẩn đá quý. Rồi nhiều thế kỷ sau đó mới thấy xuất hiện tượng thánh giá có mang Đấng chịu khổ hình. Nghịch lý thay một biểu tượng có tính toàn cầu lại là một biểu tượng ô nhục. Nghịch lý thay sự vinh quang được tung hô bằng lời nói, lại không thể chịu được bằng mắt nhìn.

Người ta đã có thể gây vấp phạm là trương lên tên gọi của thập giá và của Đức Giê-su bị đóng đinh. Nhưng phải đợi rất lâu sau người ta mới có thể trưng bày thập giá cho mắt thấy, và đợi một thời gian nữa, mới thấy trưng bày Đấng mà họ đã đóng đinh vào thập giá.

Dấu ấn của thập giá đã trở nên dấu ấn tối ưu của Ki-tô hữu trên thế giới. Trên đó người Ki-tô hữu chiêm ngắm vị Thiên Chúa đã chọn vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá.

Đức Ki-tô và Ki-tô hữu đã không sáng chế ra biểu tượng có dạng thập giá được tôn vinh từ Đông sang Tây và là khổ hình độc ác nhất. Họ chỉ tạo cho nó thành địa điểm để Thiên Chúa siêu vời thấm nhập vào mầu nhiệm cô đơn của con người. Đức Giê-su bị đóng đinh trên đó đã mời gọi một cách độc đáo những kẻ từ nay có thể nhìn ngắm Người – Người từ đỉnh núi thánh gọi những kẻ đang ở đáy vực cuộc sống – nhìn ngắm Người, hoặc như gương mẫu tuyệt hảo của tận hiến và yêu thương, hoặc như dấu chỉ của tận hiến và yêu thương.