A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 22,19-23

Đáp ca : Tv 137,1-2a.2bc-3.6 và 8bc (Đ. c. 8bc)

Bài đọc 2 : Rm 11,33-36

Tung hô Tin Mừng : Mt 16,18

Tin Mừng : Mt 16,13-20

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 22,19-23

Đáp ca : Tv 137

Bài đọc 2 : Rm 11,33-36

Bài Tin Mừng : Mt 16,13-20

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Thầy là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa hằng sống”

2. “Con là Đá”


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Is 22,19-23

Chìa khoá nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

19 Đức Chúa phán những lời này với ông Sép-na, tể tướng triều đình : “Ta sẽ tống ngươi khỏi chức vụ, Ta sẽ đuổi ngươi khỏi địa vị. 20 Ngày ấy, Ta sẽ gọi tôi tớ Ta là En-gia-kim, con của Khin-ki-gia-hu. 21 Áo thụng của ngươi, Ta sẽ lấy mặc cho nó, cân đai của ngươi, Ta sẽ đem thắt cho nó, quyền bính của ngươi, Ta sẽ trao vào tay nó, nó sẽ là cha đối với cư dân Giê-ru-sa-lem và với nhà Giu-đa. 22 Chìa khoá nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở được. 23 Ta sẽ làm cho nó vững chắc như đinh đóng cột, nó sẽ nên như ngai vinh hiển cho nhà cha nó.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 137,1-2a.2bc-3.6 và 8bc (Đ. c. 8bc)

Đ. Lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang.

1 Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ, Ngài đã nghe lời miệng con xin.
Giữa chư vị thiên thần, xin đàn ca kính Chúa,
2a hướng về đền thánh, con phủ phục tôn thờ. Đ.

2bc Xin cảm tạ danh Chúa,
vì Ngài vẫn thành tín yêu thương,
đã đề cao danh thánh và lời hứa của Ngài trên tất cả mọi sự.
3 Ngày con kêu cứu, Chúa đã thương đáp lại,
đã gia tăng nghị lực cho tâm hồn. Đ.

6 Chúa tuy thật cao cả,
nhưng vẫn nhìn đến kẻ thấp hèn ;
đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết.
8bc Lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
Công trình do tay Ngài thực hiện,
xin đừng bỏ dở dang. Đ.

 

Bài đọc 2 : Rm 11,33-36

Muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

33 Thưa anh em, sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào ! Quyết định của Người, ai dò cho thấu ! Đường lối của Người, ai theo dõi được ! 34 Thật vậy, ai đã biết tư tưởng của Chúa ? Ai đã làm cố vấn cho Người ? 35 Ai đã cho Người trước, để Người phải trả lại sau ? 36 Vì muôn vật đều do Người mà có, nhờ Người mà tồn tại và quy hướng về Người. Xin tôn vinh Thiên Chúa đến muôn đời ! A-men.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : Mt 16,18

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Mt 16,13-20

Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

13 Khi ấy, Đức Giê-su đến miền Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng : “Người ta nói Con Người là ai ?” 14 Các ông thưa : “Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, người khác lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ.” 15 Đức Giê-su lại hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?”

16 Ông Si-môn Phê-rô thưa : “Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.” 17 Đức Giê-su nói với ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. 18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết : Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. 19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời : dưới đất, anh ràng buộc điều gì, trên trời cũng sẽ ràng buộc như vậy ; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy.” 20 Rồi Người cấm các môn đệ không được nói cho ai biết Người là Đấng Ki-tô.

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 22,19-23

Chúng ta biết khá rõ về những cuộc cãi cọ của ngôn sứ I-sai-a với vua A-khát và những lời sấm nổi tiếng của ngôn sứ báo một vị tân vương sẽ lên ngôi trị vì tại Giu-đa, đó là vua Khít-ki-gia, cai trị Giu-đa từ năm 716–687 trước Công nguyên, mà theo các tác giả Kinh Thánh, là một vị minh quân. Sách các Vua quyển thứ hai ca tụng ông hết lời : “Vua đã làm điều ngay chính trước mắt Đức Chúa, đúng như vua Đa-vít, tổ phụ vua đã làm. Chính vua đã dẹp các tế đàn ở nơi cao, đập bể các trụ đá, bổ các cột thờ và đập tan con rắn đồng ông Mô-sê đã làm, vì cho đến thời đó, con cái Ít-ra-en vẫn đốt hương kính nó” (2 V 18,1-4). Ta có thể nói nhà vua tuyên chiến quyết liệt với việc thờ bụt thần, tôn thờ ngẫu tượng. Do đó ông được khen ngợi : “Vua đã đặt niềm tin tưởng vào Đức Chúa, Thiên Chúa của Ít-ra-en. Sau vua, chẳng có vua Giu-đa nào được như thế, cũng như trước vua chẳng có ai được như vậy. Vua gắn bó với Đức Chúa, không bỏ Người ; vua tuân giữ các mệnh lệnh Đức Chúa đã truyền cho ông Mô-sê. Vì thế, Đức Chúa đã ở với vua ; vua tra tay làm việc gì thì cũng thành công” (2 V 18,5-7).

Một khởi đầu thật tốt đẹp ! Nhưng rồi mọi việc trở nên tồi tệ, tình hình chính trị trở nên rối ren, ta có thể nói đây là một thời kỳ biến động nhất trong lịch sử dân riêng Chúa chọn. Vua cha của vua Khít-ki-gia là vua A-khát chấp nhận sự bảo trợ của đế quốc Át-sua, và trong suốt triều đại của mình, vua Khít-ki-gia mong ước lấy lại tự do cho dân tộc, cho đất nước, do đó thỉnh thoảng ông nổi lên chống lại vua Át-sua, hoặc dựa vào sự hỗ trợ của Ai-cập, việc đó cũng không làm cho tình hình sáng sủa hơn. Mà tất cả mọi liên minh của nhân loại đều phải trả giá. Đó là điều ngôn sứ I-sai-a không đồng tình. Chẳng hạn, vào một ngày, vua Át-sua bắt vua Khít-ki-gia phải nộp chín ngàn ký bạc và chín trăm ký vàng. Vua Khít-ki-gia nộp tất cả số bạc có trong nhà Đức Chúa và trong kho đền vua. Chính vào thời đó, vua Khít-ki-gia đập gẫy các cánh cửa của đền thờ Đức Chúa, cũng như các khung cửa mà vua Giu-đa đã bọc bằng kim khí, lấy nộp cho vua Át-sua (2 V 18,15-16). Câu chuyện về ông Sép-na và ông En-gia-kim được viết trong bối cảnh này. Trong khi nhà vua điên đầu với những vấn đề chính trị quan trọng nhằm duy trì tự do tôn giáo cho dân Ít-ra-en (đây là việc ngôn sứ I-sai-a xem là quan trọng nhất), thì Sép-na, viên tể tướng của triều đình chỉ nghĩ đến bản thân, lo vơ vét cho đầy túi tham của mình.

Chúng ta có thể thắc mắc là Kinh Thánh, một quyển sách trong đó chúng ta tìm thấy một ngôn ngữ thần học, một mặc khải căn bản nhất, quan trọng nhất về Thiên Chúa, lại đưa vào những câu chuyện lịch sử tồi tệ, những âm mưu thâm độc chốn cung đình, mà câu chuyện về ông Sép-na và ông En-gia-kim là một ví dụ điển hình. Thưa khi viết Kinh Thánh theo ơn linh hứng của Thiên Chúa, các tác giả Kinh Thánh ghi lại trung thực đời sống của con người, có những mặt tốt cũng như những mặt xấu, và cũng cho ta thấy Thiên Chúa mặc khải dần dần về Người trong lịch sử của nhân loại. Điều quan trọng là chúng ta cần tìm cách nhận ra sự hiện diện và hành động của Thiên Chúa trong cuộc đời của mỗi người, chẳng hạn ở đây, trong bài đọc 1 chúng ta vừa nghe, Thiên Chúa không để cho nhà vua thiếu sự cộng tác cần thiết quá lâu. Ngôn sứ I-sai-a vạch trần những động cơ thầm kín của ông Sép-na và báo việc ông Sép-na bị cách chức : “Người hùng ơi, này đây Đức Chúa sắp thẳng tay quăng ông đi, sắp túm chặt lấy ông, sắp cuốn, sắp cuộn tròn ông lại, như một quả bóng lăn vào vùng đất mênh mông. Ông sẽ chết tại đó, và chiến xa từng làm cho ông vẻ vang rạng rỡ cũng sẽ nằm tại đó. Ông ơi, ông là mối nhục nhã cho nhà của chủ ông” (Is 22,17-18). Chiến xa, “sự nhục nhã của ông En-gia-kim” có lẽ ám chỉ đến chủ trương liên minh với Ai-cập do ông Sép-na cổ vũ, khiến ngôn sứ I-sai-a nổi cơn thịnh nộ. Nhìn qua, chúng ta phải cảm phục lòng nhiệt thành của ngôn sứ I-sai-a, mối bận tâm đặc biệt của ông đối với những lợi ích của dân Thiên Chúa. Ta cũng có thể dễ dàng đoán rằng nhà vua sẵn sàng nghe lời can gián của ngôn sứ I-sai-a, nên ông có thể can thiệp vào những việc trong cung đình.

Trái ngược với vẻ bề ngoài, trong bài đọc 1 hôm nay, chúng ta thấy có một lời khích lệ : ngôn sứ I-sai-a cho biết Thiên Chúa sắp can thiệp vì ích lợi của dân riêng Người chọn, bằng việc cách chức vị tể tướng thối nát, xấu xa là ông Sép-na và đưa ông En-gia-kim, một tôi trung của Thiên Chúa, thay thế. Như thế là chấm dứt mọi lo âu, mọi bất ổn : “Ta sẽ làm cho nó vững chắc như đinh đóng cột, nó sẽ nên như ngai vinh hiển cho nhà cha nó.”

Chúng ta không ngạc nhiên khi bản văn hôm nay được chọn như là tiếng dội của bài Tin Mừng về việc thánh Phê-rô tuyên xưng đức tin tại Xê-da-rê Phi-líp-phê (Mt 16). Chúng ta đọc thấy ở đây tính bền vững Đức Giê-su hứa cho Hội Thánh của Người, đàng khác, biểu tượng “quyền chìa khoá” đã có ngay từ thời Cựu Ước. “Chìa khoá nhà Đa-vít, Ta sẽ đặt trên vai nó. Nó mở ra thì không ai đóng được, nó đóng lại thì không ai mở được.”

Đáp ca : Tv 137

Thánh vịnh 137 là một lời cảm tạ dâng lên Thiên Chúa là Cha từ bi nhân ái, là Đấng muôn ngàn đời vẫn trọn tình thương. Thánh vịnh 137 là một thánh vịnh rất ngắn, chúng ta vừa nghe gần như toàn bộ thánh vịnh này, nhưng từng câu từng chữ trong thánh vịnh chất chứa cả một lịch sử, như trong các thánh vịnh khác, đó là lịch sử của Giao ước và dân Ít-ra-en. Chính dân tộc này đã được Chúa chọn để trở nên kẻ tâm phúc của Người, trở nên ngôn sứ của Người, được Chúa mặc khải cho biết Người là Tình Yêu ; ngôn sứ của Thiên Chúa là người có trách nhiệm nói cho cả thế giới biết chân lý này. Đó là ý nghĩa sâu xa của thánh vịnh 137 chúng ta vừa nghe. Một lần nữa, chính toàn thể Ít-ra-en nói. Từ “con” ở đây chỉ một tập thể như trong tất cả các thánh vịnh. Chắc chắn vua Đa-vít không phải là tác giả của thánh vịnh này, nhưng Đa-vít là người luôn biết ơn Chúa : “Lạy Chúa, con hết lòng cảm tạ.” Ở đây, ta nghe dội lại câu nói nổi tiếng của sách Đệ nhị luật : “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết sức lực ngươi.” Vậy tại sao phải tạ ơn Chúa ? Thưa “vì Ngài đã nghe lời miệng con xin”“Giữa chư vị thiên thần, con đàn ca kính Chúa.” Đó là câu nói của người tín hữu tham dự Phụng vụ trên trời, nơi đó các tôi tớ Chúa không ngừng ca tụng Chúa : “Thánh, Thánh, Thánh. Đức Chúa là Chúa Tể càn khôn.” Đó là lời tuyên xưng đức tin của dân Ít-ra-en, cho thấy Ít-ra-en không quên ơn gọi của mình là làm chứng cho mọi dân tộc biết Thiên Chúa là Tình Yêu.

“Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài vẫn thành tín yêu thương.” Kiểu nói “thành tín yêu thương” là một trong những kiểu nói thường được sử dụng để nhắc lại Giao ước của Thiên Chúa và những công trình Người đã thực hiện vì yêu thương dân riêng của Người. Đó là định nghĩa mà chính Thiên Chúa đã nói với Mô-sê : “Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6). Cuối thánh vịnh, chúng ta lại gặp chủ đề tình yêu của Thiên Chúa : “Lạy Chúa, muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.” Thánh vịnh kết thúc bằng một lời cầu nguyện : “Công trình do tay Ngài thực hiện, xin đừng bỏ dở dang” có nghĩa là xin Chúa cứ tiếp tục công trình cứu độ của Người dù chúng ta hay bất tín và vẫn thường tái phạm những lỗi lầm làm Chúa buồn, vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.

Bài đọc 2 : Rm 11,33-36

Bài đọc 2 hôm nay kết thúc phần suy niệm của thánh Phao-lô về tình trạng lịch sử và tôn giáo hết sức lộn xộn từ hơn một ngàn năm qua, dân Ít-ra-en hiểu rằng họ là sứ giả của Thiên Chúa thật và duy nhất trong thế giới, nơi mà việc thờ bụt thần được xem như là chuyện bình thường trong mối liên hệ giữa con người và thần linh. Toàn bộ lịch sử Ít-ra-en là lịch sử của Giao ước mà Chúa đã ký kết với dân tộc này trong các biến cố của cuộc Xuất hành : một đám dân chạy trốn chốn nô lệ bên Ai-cập. Thiên Chúa đã giải thoát họ để họ được sống tự do ; ban cho họ những quy luật sống, và hứa luôn trung tín với họ và cho họ một tương lai huy hoàng : “Anh em cứ hỏi những thời xa xưa, thời có trước anh em, từ ngày Thiên Chúa dựng nên con người trên mặt đất ... Có bao giờ đã xảy ra chuyện vĩ đại như thế ? ... Có dân tộc nào đã được nghe tiếng Thiên Chúa phán từ trong đám lửa như anh em đã nghe, mà vẫn còn sống không ? ... Chính anh em đã được cho thấy những điều đó, để biết rằng Đức Chúa là Thiên Chúa, và ngoài Người ra không có thần nào khác nữa” (Đnl 4,32-25).

Các ngôn sứ từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, nhất là những lúc nguy khó, luôn nhắc cho dân Ít-ra-en nhớ rằng họ là dân tộc được Chúa chọn và hãy vững tin vào tính bền vững của Giao ước mà Thiên Chúa đã ký kết với họ và tương lai rực rỡ Người đã hứa ban cho họ : “Ta đặt ngươi làm ánh sáng muôn dân, để ngươi đem ơn cứu độ của Ta đến tận cùng cõi đất” (Is 49,6). Kế hoạch đó sẽ được thực hiện như thế nào ? Thánh Phao-lô không biết, nhưng chắc chắn sẽ trở thành hiện thực trong tương lai. Vì xác tín như vậy, nên ta thấy thánh Phao-lô thán phục : “Khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào !” Thánh Phao-lô khiêm tốn nhìn lại những tâm tình ngưỡng mộ trong Cựu Ước : “Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm, quá cao vời, con chẳng sao vươn tới. Lạy Chúa, con thấy tư tưởng Ngài khó hiểu biết bao, tính chung lại, ôi nhiều vô kể” (Tv 137,6.17). Khi thánh Phao-lô reo lên : “Quyết định của Ngài, ai dò cho thấu ! Đường lối của Ngài, ai theo dõi được ! Ai đã làm cố vấn cho Ngài ?” là thánh Phao-lô lấy lại lời của ngôn sứ I-sai-a : “Thần Khí Đức Chúa, ai đo cho nổi ? Ai làm quân sư chỉ vẽ cho Người ? Người đã thỉnh ý ai để giúp Người thông hiểu, bảo cho Người biết lối công minh, dạy cho Người mở mang kiến thức, chỉ cho Người con đường trí tuệ ?” (Is 40,13-14). “Nhưng khôn ngoan từ đâu ra, và trí hiểu ở chốn nào ? Đường nẻo của khôn ngoan một mình Thiên Chúa tỏ, chính Người biết nơi ở của khôn ngoan” (G 28,12.23). “Không một ý nghĩ nào Người không thấu suốt, chẳng một lời nào là bí ẩn đối với Người. Người khôn ngoan sắp xếp những công trình vĩ đại, vì Người hằng có từ đời đời đến muôn muôn thuở, không cần thêm hay bớt điều gì và cũng chẳng cần ai làm cố vấn” (Hc 42,20-21).

Bài Tin Mừng : Mt 16,13-20

Đối với thánh Mát-thêu, câu chuyện tại Xê-da-rê Phi-líp-phê là một khúc quanh quan trọng trong cuộc đời của Đức Giê-su, vì ngay sau câu chuyện này, ngài thêm : “Từ lúc đó, Đức Giê-su bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết : Người phải đi Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.” Kiểu nói “từ lúc đó” có nghĩa là một giai đoạn đã vượt qua, nhưng cũng là kiểu nói làm cho ta ngạc nhiên nhất trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe. Đức Giê-su tự xưng là “Con Người”, danh hiệu này được lặp lại đến 9 lần trong Tin Mừng Mát-thêu, và ông Phê-rô gọi Chúa Giê-su là “Con Thiên Chúa”.

Con Người”, kiểu nói trong chương 7 sách Đa-ni-en : “Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa : có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần bên Đấng Lão Thành, và được dẫn đưa tới trình diện. Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị ; muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vĩnh cửu, không bao giờ mai một ; vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7,13-14). Trong một vài câu xa hơn, ngôn sứ Đa-ni-en xác nhận “Con Người” không phải là một cá nhân đơn độc, nhưng là một dân tộc : “Rồi chư thánh của Đấng Tối Cao sẽ lãnh nhận vương quyền và nắm giữ vương quyền ấy mãi mãi muôn đời. Còn vương quốc với quyền thống trị cũng như địa vị cao cả của các vương quốc khắp thiên hạ sẽ được trao cho dân thánh của Đấng Tối Cao. Vương quyền của dân ấy là vương quyền vĩnh cửu, và mọi quyền thống trị sẽ phụng sự và vâng phục dân ấy” (Đn 7,18.27). Vì thế, khi tự xưng là “Con Người”, Đức Giê-su tự giới thiệu mình là người đứng đầu dân Thiên Chúa.

Danh xưng thứ hai : “Con Thiên Chúa”. Đây cũng không phải là lần đầu tiên.

Ngay từ đầu Tin Mừng Mát-thêu (chương 4), quỷ cám dỗ Đức Giê-su trong sa mạc, đã sử dụng danh xưng này : “Nếu ông là Con Thiên Chúa” (Mt 4,3). Tên cám dỗ hiểu sai về ý nghĩa của danh xưng này. Hắn tưởng tượng một vị Con Thiên Chúa đầy uy quyền và không hề bị tổn thương, hắn sẽ lợi dụng uy quyền của Người để làm lợi cho nó ; tuy nhiên, đối với Đức Giê-su thì ngược lại, là Con Thiên Chúa, nên Người hoàn toàn phó thác cho Chúa Cha và sống nhờ lời của Người. Rồi hai người bị quỷ ám ở Ga-đa-ra bên kia Biển Hồ Ti-bê-ri-át, thuộc miền Thập Tỉnh đã gọi Đức Giê-su : “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông ?” (Mt 8,29). Và sau cùng là việc Đức Giê-su đi trên mặt nước. Thánh Mát-thêu kể thuyền đã ra khỏi bờ, và bị sóng đánh vì ngược gió. Ðức Giê-su đi trên mặt biển đến với các môn đệ, lúc đầu các ông hoảng sợ vì tưởng mình thấy ma, nhưng Đức Giê-su đã trấn an họ : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” Ông Phê-rô liền thưa với Người : “Thưa Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Thầy.” Chúng ta biết chỉ vừa bước được vài bước là ông bắt đầu chìm. Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói : “Người đâu mà kém tin vậy ! Sao lại hoài nghi ?” Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay. Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói : “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa.” Buồn cười là các môn đệ nhận biết căn tính (nhân thân) của Đức Giê-su, còn Phê-rô thì trái lại bị Đức Giê-su gọi là “người kém lòng tin”, điều đó không có nghĩa là đức tin của các môn đệ khác không có vấn đề. Phải cần một chặng đường dài nữa thì các môn đệ mới có thể khám phá căn tính thật sự của Đức Giê-su.

Tại Xê-da-rê là một sự kiện mới, ông Phê-rô không nói điều đó khi thấy Đức Giê-su biểu dương uy quyền của Người, trái lại trong những câu đi trước lời tuyên xưng đức tin của thánh Phê-rô, Đức Giê-su vừa từ chối cho một dấu lạ theo yêu cầu của nhóm Pha-ri-sêu và Xa-đốc. Bây giờ, một chặng nữa đã được vượt qua : không còn mơ hồ về danh xưng “Con Thiên Chúa” nữa. Ông Phê-rô đang trên con đường tiến tới đức tin : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.”

Cũng là điều mới lạ ở Xê-da-rê, không phải là việc sử dụng một trong hai danh xưng của Đức Giê-su, nhưng là một câu hỏi khác : “Người ta bảo Con Người là ai ?” Đức Giê-su hỏi và ông Phê-rô thưa : “Thầy là Con Thiên Chúa.” Đức Giê-su cũng trả lời cho vị thượng tế như vậy trong cuộc Thương Khó khi vị này nói : “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết : Ông có phải là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa không ?” Và Đức Giê-su đáp lại : “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay : từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26,63-64).

Ngay khi ông Phê-rô khám phá ra Đức Giê-su là ai, lập tức Người trao cho ông trách nhiệm đặc biệt quan trọng : “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.” Lúc nãy, chúng ta thấy danh xưng Con Người không chỉ là một cá nhân đơn độc, nhưng là một dân tộc. Đức Giê-su xây dựng Hội Thánh của Người dựa trên cái gì ? Thưa dựa trên niềm tin của ông Phê-rô, người được Chúa Cha mặc khải điều vô cùng quan trọng : “Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống.”

“Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời.”

Chìa khoá cũng như cầm buộc, tháo cởi là những từ chuyên biệt mượn ở Do-thái giáo để nói lên quyền của thánh Phê-rô nhận vào hay loại khỏi Nước Trời, quyền đưa ra những quyết định giáo lý hoặc pháp lý, cho phép hay cấm chỉ để điều hành trong cộng đoàn, trong lãnh vực đức tin và luân lý. Những lời hứa này không chỉ là hứa cho cá nhân ông Phê-rô, mà cho cả các đấng kế vị ngài, bởi vì Hội Thánh phải tồn tại cho đến tận thế.

Thánh Gia-cô-bê đã nói, đức tin không việc làm là đức tin chết. Vậy ta hãy tuyên xưng đức tin không chỉ trên miệng, nhưng còn bằng việc làm cụ thể trong đời sống thường ngày : yêu thương và giúp đỡ mọi người.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin ban thêm đức tin cho chúng con, xin Chúa củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con.

Tự vấn :

Trong đời sống thường ngày, chúng ta đã sống đức tin như thế nào ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Thầy là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa hằng sống”

(Mgr. L. Daloz, trong cuốn “Le Règne de Dieu est approché”, Desclée de Brouwer 1993, tr. 237-238).

Đức Giê-su không chỉ là một tôn sư khởi xướng một trào lưu tâm linh ; Người không phải một ngôn sứ được sai đến để cảnh tỉnh hoặc kêu gọi người ta trưởng thành với Giao ước. Sự nhận biết Đức Giê-su vượt quá điều đó. Với những kẻ Chúa gọi và đã đi theo Người, Chúa đặt câu hỏi : “Còn anh em, anh em nói Thầy là ai ?” Người cũng hỏi chúng ta câu đó. Người muốn chúng ta tiến tới, phát huy trong việc khám phá ra bản ngã đích thực của Người. Ta không thể tự thoả mãn khoác cho Người những mong ước của ta, hoặc phóng lên Người những ước vọng của ta. Cần phải đi xa hơn những ý kiến của những con người, cần lột bỏ những ấn tượng hời hợt, cần chấp nhận rằng không thể nắm bắt và không thể tóm gọn Người vào những ý tưởng và những ước muốn của ta. Như ta đã thấy đó, có một hiểu biết về Đức Giê-su theo cách loài người : “Người ta nói Con Người là ai ?” Từ thời Thượng Cổ, trải qua giai đoạn lịch sử đã có rất nhiều câu giải đáp. Những giải đáp ấy vừa không vô nghĩa, vừa không đáng coi thường. Nhưng sự hiểu biết đích thực không chỉ của loài người đâu – Nó là do Thiên Chúa ban cho : “Không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha” (Mt 11,27). Bởi vậy Đức Giê-su nói cho ông Phê-rô biết do đâu ông có sức lực nhận biết và tuyên xưng đức tin của ông : “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.” Một con người, con người dùng chính miệng mình để nhận quyền do Thiên Chúa, quyền ban cho kêu chính xác danh Đức Giê-su. Lời tuyên xưng của ông đã trở thành tiêu chuẩn cho các môn đệ Chúa mọi thời đại. Nhưng lời tuyên xưng đó đã không tránh cho ông chối Chúa ba lần. Ông vẫn còn là con người phàm tục, còn mang tính người với những ưu và khuyết điểm của con người. Tuy nhiên ông được chọn để đáp câu hỏi của Đức Giê-su và để làm điều đó, ông nhận được mặc khải do Chúa Cha ban. Từ đó ông trở nên tiêu chuẩn về sự chính xác cho mọi lời tuyên xưng đức tin và cho sự nhận biết chính xác về Thiên Chúa. Nhờ ông mà người tín hữu có thể vượt xa ngoài tầm vóc của dư luận. Đức tin của ông nâng đỡ đức tin của chúng ta.

2. “Con là Đá”

(J. Potin trong cuốn “Jésus, l’histoire vraie”, Centurion, 1994, tr. 322).

Hội Thánh của Đức Giê-su, ở đây Người kêu là “Hội Thánh của Người”, được xây dựng trên nền tảng là đức tin vào thiên tính của Người. Hội Thánh đó chỉ một mảng dân Ít-ra-en chấp nhận đi vào Giao ước mới. Ông Si-môn, do việc tuyên xưng, đã trở nên viên đá tảng, trên đó Đức Giê-su xây “Hội Thánh của Người” bởi vì Hội Thánh đó là cộng đoàn những kẻ tin rằng Đức Giê-su là Thiên Chúa. Ông nhận được tên mới : Kê-pha, Đá - Quyền lực của tử thần (dịch theo chữ : quyền lực hoả ngục), nghĩa là mọi thế lực nhằm chống lại sự thiết lập vương quốc, không có sức phá đổ Hội Thánh đó. Mà ngược lại, Đức Giê-su sẽ ban cho Hội Thánh của Người quyền và thế mà Người thi hành ở trong tay Người. Thiên Chúa công nhận Hội Thánh của Con của Người chính thức là dụng cụ đặc trưng để điều hành vương quốc của Người giữa loài người. Những phán quyết và nghị định của Hội Thánh này được Thiên Chúa công nhận là do Chúa ban hành.

Phải chăng Đức Giê-su phán những lời này trong khi đi đường lên Giê-ru-sa-lem ? Có nhiều nhà chú giải đặt những lời này sau biến cố Phục Sinh, trong một cuộc hiện ra. Thật vậy, trước khi Chúa chết, từ “Hội Thánh” chỉ thấy xuất hiện có một lần duy nhất ở Mt 18,17 nói về đời sống của cộng đồng Ki-tô hữu.

Lời tuyên bố với ông Phê-rô xem ra diễn tả cách Hội Thánh sơ khai hiểu về chính mình : Hội Thánh tuyên xưng rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, là Con Thiên Chúa. Ông Si-môn Phê-rô đã là phát ngôn viên của lời tuyên xưng. Lời tuyên bố cũng có liên hệ với việc đổi tên Si-môn ra Kê-pha : Đá. Trong tiếng A-ram, Đá không phải là một tên riêng. Tên mới này chỉ tính cách vững bền của đá tảng mà người ta có thể an tâm xây trên đó … Phê-rô là đá tảng mà Đức Giê-su sẽ xây Hội Thánh của Người. Do đó, Người sẽ trao cho ông địa vị ưu tiên trên Nhóm Mười Hai. Ông được Hội Thánh nhìn nhận dưới cái tên mới và coi như quên hẳn cái tên cũ kia.