A.PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1: St 12,1-4a
Thiên Chúa gọi ông Áp-ram, tổ phụ dân Người.
Bài trích sách Sáng thế.
1 Hồi ấy, Đức Chúa phán với ông Áp-ram : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. 2 Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành.
3 “Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi ; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa.
Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.”
4a Ông Áp-ram ra đi, như Đức Chúa đã phán với ông.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca Tv 32,4-5.18-19.20 và 22 (Đ. c.22)
Đ. Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.
4 Lời Chúa phán quả là ngay thẳng,
mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin.
5 Chúa yêu thích điều công minh chính trực,
tình thương Chúa chan hoà mặt đất. Đ.
18 Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa,
kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương,
19 hầu cứu họ khỏi tay thần chết
và nuôi sống trong buổi cơ hàn. Đ.
20 Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa,
bởi Người luôn che chở phù trì.
22 Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa,
như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài. Đ.
Bài đọc 2: 2 Tm 1,8b-10
Thiên Chúa kêu gọi và soi sáng chúng ta.
Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi ông Ti-mô-thê.
8b Anh yêu quý, dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng. 9 Người đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Người, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Người. Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta từ muôn thuở trong Đức Ki-tô Giê-su, 10 nhưng giờ đây mới được biểu lộ, vì Đấng cứu độ chúng ta là Đức Ki-tô Giê-su đã xuất hiện. Chính Đức Ki-tô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng
Từ đám mây sáng chói, tiếng Chúa Cha phán rằng : “Đây là Con yêu dấu, làm vui thoả lòng Ta, hãy vâng nghe lời Người.”
Tin Mừng Mt 17,1-9
Dung nhan Đức Giê-su chói lọi như mặt trời.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
1 Khiấy, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người.
4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng : “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a.” 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !” 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo : “Trỗi dậy đi, đừng sợ !” 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.
9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng : “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.”
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
1. Bài đọc 1 : St 12,1-4a
1. Bài đọc 1 chúng ta vừa nghe kể lại việc Thiên Chúa gọi ông Áp-ra-ham. Để có thể hiểu tường tận và suy niệm sâu sắc bản văn Kinh Thánh, thiết tưởng chúng ta cần tìm hiểu khung cảnh nơi sự việc xảy ra.
Các truyền thuyết của Kinh Thánh về các tổ phụ Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp đưa ta về một khu vực và một thời đại xa xôi. Khu vực địa lý là vùng Trung Đông gồm lưu vực sông Nin và miền Lưỡng Hà với miền bờ biển Phê-ni-ki làm gạch nối, quen gọi là vùng “lưỡi liềm phì nhiêu”. Thời đại là vào khoảng 1900–1800 trước Công nguyên. Khi đó văn minh tại vùng này đã có từ lâu và tiến khá cao (chữ viết đã bắt đầu có vào khoảng năm 3500, và các kim tự tháp đã xây vào khoảng năm 2500 trước Công nguyên). Theo khoa khảo cổ, thời kỳ đó có nhiều cuộc di chuyển lớn của các bộ lạc du mục vào các miền ở ven sa mạc.
Những cuộc phiêu lưu của các tổ phụ cũng có thể đặt vào khung cảnh những cuộc di dân này. Các ông là những người du mục sống tại miền ven sa mạc bằng nghề chăn nuôi dê cừu. Cũng như người du mục, các ông hiếu khách và có tinh thần bộ lạc rất mạnh. Trong khung cảnh chung thời đó, các ông chỉ là một nhóm người nhỏ bé sống lang thang, vì thế ta không lạ nếu các tài liệu ngoài Kinh Thánh không nhắc đến các ông. Nhưng theo khoa khảo cổ, ta có thể nói : Các truyền thuyết về các tổ phụ có một nòng cốt lịch sử. Tuy nhiên, khi chép lại những truyền thuyết đó, Kinh Thánh không nhằm dạy lịch sử cho bằng dạy một bài học tôn giáo. Đó là điều mà ta cũng sẽ chú trọng hơn khi nói về ông Áp-ra-ham.
2. Thiên Chúa gọi ông Áp-ra-ham (12,1-4a)
2.1. Tìm hiểu bản văn
Việc Thiên Chúa gọi ông Áp-ra-ham khá đột ngột, nhưng đây là khởi điểm của một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ, do sáng kiến của Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa nói cho ông biết ý Người, gồm một lệnh truyền và một lời hứa.
Lệnh truyền là rời bỏ quê hương, họ hàng mà ra đi : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. Ta sẽ chúc phúc cho ai chúc phúc cho ngươi. Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” Đối với một người du mục, đó là một sự cắt đứt lớn lao và liều lĩnh, nhất là ông Áp-ra-ham phải rời bỏ quê hương đi đến một nơi chưa xác định. Lời hứa là Thiên Chúa sẽ ban phúc lành. Trong bài đọc 1 chúng ta vừa nghe, chữ “chúc phúc” được lặp lại năm lần. Thiên Chúa chúc phúc tức là ban dồi dào ân huệ của Người. Lời hứa chúc lành đó dần dần được xác định rõ hơn, đó là :
* Được một dòng dõi đông đúc, trở thành một dân lớn ; đối với ông Áp-ra-ham, cụ thể là có một con trai, mặc dầu vợ chồng ông đã già mà không có con.
* Được một đất cho con cháu. Phúc lành đó không phải riêng cho ông và dòng dõi ông, nhưng còn nhờ ông mà lan toả đến tất cả các dân tộc : ông sẽ là lời chúc phúc, nghĩa là mọi gia tộc sẽ chúc cho nhau được như ông.
* Ông Áp-ra-ham vâng lệnh Chúa ra đi. Ông không nói gì, không hỏi lý do và ra đi như một người mất gốc bơ vơ, mà chỉ tin tưởng, chỉ dựa vào lời Thiên Chúa.
2.2. Bài học
Ơn cứu độ bao giờ cũng bắt đầu bằng một sáng kiến của Thiên Chúa : ngay từ việc sáng tạo, hay sau khi con người sa ngã, với ông Nô-ê, ông Áp-ra-ham và sau này với ông Mô-sê. Trong việc truyền tin cho Đức Ma-ri-a cũng vậy, và Thiên Chúa cũng thực hiện ơn cứu độ đó cùng với những con người.
3. Việc Thiên Chúa chọn và gọi
* Là do ý muốn của Người, không phải vì con người có công gì (sách Sáng thế không nói ông Áp-ra-ham có gì hơn ai khác ; x. Giô-suê 24,2-3).
* Bao giờ cũng đòi hỏi dứt bỏ mọi bám víu tự nhiên bên ngoài, nhất là chính cái tôi của đương sự.
* Luôn bao hàm một khía cạnh mờ tối, vì con người không biết rõ ràng chắc chắn : ai gọi, đi đâu, làm gì, lời hứa thực hiện thế nào ... ; nhưng lòng tin chính là ở chỗ, dù thế, vẫn tín nhiệm vào lời Chúa mà chấp nhận, dấn thân và ra đi.
* Không chỉ nhằm ích riêng của đương sự, mà là để giao phó cho người đó một sứ mạng đối với người khác. Những điểm này cũng đúng với mọi người được gọi.
2. Đáp ca : Tv 32
Chỉ mấy câu trong thánh vịnh 32, chúng ta nghe đến ba lần chữ “tình thương”, việc nhấn mạnh đến tình thương của Chúa trong thánh vịnh 32 rất phù hợp với chủ đề của bài đọc 1 hôm nay, vì ông Áp-ra-ham là người đầu tiên của loài người khám phá Thiên Chúa là tình yêu và Người có nhiều kế hoạch đem lại hạnh phúc cho nhân loại. Đây là một mặc khải tuyệt vời. Ông Áp-ra-ham đã tin vào lời hứa của Thiên Chúa vì ông biết Thiên Chúa yêu thương ông. Ông Áp-ra-ham là gương mẫu tuyệt hảo cho chúng ta trong đời sống đức tin, vì ông luôn tin tưởng và vâng theo thánh ý Chúa trong mọi tình huống. Để khuyến khích chúng ta noi theo con đường ông Áp-ra-ham đã đi, thánh vịnh 32 quả quyết : “Chúa để mắt trong nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi dưỡng trong buổi cơ hàn.” “Tình thương Chúa chan hoà mặt đất.” Và cuối cùng là một lời cầu nguyện đầy lòng tin tưởng : “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài.”
3. Bài đọc 2 : 2 Tm 1,8b-10
1. Thánh Phao-lô đang ngồi tù tại Rô-ma, và ngài biết rằng mình sắp bị hành hình, nên gửi cho ông Ti-mô-thê những lời khuyên cuối cùng : “Anh yêu quý, dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng.” Đồng lao cộng khổ là đón nhận sự bách hại và người môn đệ thật sự của Đức Ki-tô không thể nào tránh khỏi. Chính Chúa Giê-su đã nói cho ta biết điều đó : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mt 8,34-35).
Kiểu nói “loan báo Tin Mừng” ta sẽ gặp lại một lần nữa ở cuối bài đọc 2. Khi dùng từ “loan báo Tin Mừng”, thánh Phao-lô không hề nghĩ đến bốn quyển Tin Mừng mà chúng ta thường nghe đề cập đến : Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca, Gio-an, mà là loan báo Nước Thiên Chúa đã đến rồi. Điều liên hệ đến thánh Phao-lô chính là câu “Thiên Chúa đã cứu độ chúng ta nhờ Đức Giê-su Ki-tô”. Và qua đó chúng ta biết Tin Mừng có ý nghĩa như thế nào đối với thánh Phao-lô.
2.“Thiên Chúa đã cứu độ chúng ta, nhờ Đức Giê-su Ki-tô.”
Trong Kinh Thánh, từ “cứu độ” luôn luôn có nghĩa là “giải thoát”, ta có thể kể một số biến cố cứu độ nổi bật trong lịch sử thánh :
* Trước hết, việc tạo dựng là khởi đầu của lịch sử cứu độ, là nền tảng cho mọi dự định cứu độ của Thiên Chúa (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 280).
* Kế đến, việc Thiên Chúa chọn ông Áp-ra-ham và hứa ban cho ông một dòng dõi đông đúc và một đất nước làm sở hữu (Bài đọc 1).
* Việc Thiên Chúa đưa dân Ít-ra-en vượt qua Biển Đỏ và giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập là biến cố cứu độ quan trọng dẫn tới Giao ước Xi-nai (x. Xh 20,1-7).
* Việc Thiên Chúa ban Đất Hứa cho dân, tuyển chọn ông Đa-vít làm vua, việc Người hiện diện trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, đưa dân hồi hương đều là những biến cố cứu độ kỳ diệu.
Tất cả những điều tiên báo biến cố vĩ đại nhất trong lịch sử cứu độ nhân loại : biến cố Đức Giê-su Ki-tô : Qua các mầu nhiệm Nhập Thể, cuộc đời, cái chết, sự phục sinh và lên trời của Đức Giê-su Ki-tô, Thiên Chúa cứu chúng ta khỏi ách nô lệ của ma quỷ, tội lỗi và sự chết.
Khi cử hành Phụng vụ, Hội Thánh tưởng niệm những biến cố Thiên Chúa cứu độ con người và thế giới, đồng thời làm cho những biến cố ấy hiện diện và tác động trong hiện tại (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, các số 1103–1109), cùng hướng về ngày Chúa Ki-tô lại đến để hoàn tất mọi biến cố cứu độ (Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 2586).
4. Bài Tin Mừng : Mt 17,1-9
1. “Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình”, một lần nữa chúng ta lại đứng trước mầu nhiệm về việc tuyển chọn của Thiên Chúa. Chính với ông Phê-rô mà Chúa Giê-su đã nói tại Xê-da-rê Phi-líp-phê : “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18). Nhưng lần này không chỉ một mình ông Phê-rô mà còn có hai ông Gia-cô-bê và Gio-an, hai người con của ông Dê-bê-đê nữa. “Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao.” Trên một ngọn núi cao, ngày xưa ông Mô-sê đã nhận được mặc khải của Thiên Chúa về Giao ước và hai tấm bia đá ghi Lề Luật ; luật này giáo dục dần dần dân Ít-ra-en về Giao ước để họ biết sống yêu mến Thiên Chúa và thương yêu anh em mình. Cũng chính trên ngọn núi ấy, núi Xi-nai cũng gọi là Khô-rếp, ngôn sứ Ê-li-a cũng đã nhận mặc khải của Thiên Chúa nhân hậu trong một làn gió nhẹ. Ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a là hai cột trụ của Cựu Ước.
2. Trên ngọn núi Hiển Dung, các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là những cột trụ của Giáo Hội, đã nhận được mặc khải của Thiên Chúa nhân hậu từ bi qua Chúa Giê-su : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.” Và mặc khải được ban cho các ông để củng cố niềm tin của các ông trước mầu nhiệm Thập Giá trong cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su.
Sau này thánh Phê-rô viết : “Thật vậy, khi chúng tôi nói cho anh em biết quyền năng và cuộc quang lâm của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, thì không phải chúng tôi dựa theo những chuyện hoang đường thêu dệt khéo léo, nhưng là vì chúng tôi đã được thấy tận mắt vẻ uy phong lẫm liệt của Người. Quả thế, Người đã được Thiên Chúa là Cha ban cho vinh quang và danh dự, khi có tiếng từ Đấng tuyệt vời vinh hiển phán với Người : ‘Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hết lòng quý mến.’ Tiếng đó, chính chúng tôi đã nghe thấy từ trời phán ra, khi chúng tôi ở trên núi thánh với Người” (2 Pr 1,16-18).
Kiểu nói : “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người”, cho ta biết Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a : Đối với người Ít-ra-en, câu nói trên ám chỉ đến ba điều trong Cựu Ước : gợi lại ba bản văn rất khác nhau, nhưng họ nhớ rất rõ : “Con” danh xưng thường được dùng để chỉ nhà vua và người ta đang chờ đợi Đấng Mê-si-a dưới những nét của một vị vua thuộc dòng dõi vua Đa-vít, và sẽ trị vì tại Giê-ru-sa-lem, từ lâu không có vua. “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” khiến ta nhớ đến một bản văn khác : đó là “các bài ca về Người Tôi Tớ” trong sách I-sai-a, cho ta biết Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a, nhưng không theo kiểu của một vị vua, nhưng như một người tôi tớ (Is 42,1). “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người” đề cập đến một vấn đề khác, đó là cho biết Chúa Giê-su là Đấng Mê-si-a – ngôn sứ, theo nghĩa mà Mô-sê, trong sách Đệ nhị luật, đã báo cho dân chúng biết : “Từ giữa anh em, trong số các anh em của anh em, Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi để giúp anh em ; anh em hãy nghe vị ấy” (Đnl 18,15).
3. “Xin dựng ba cái lều.” Lời nói của ông Phê-rô cho thấy biến cố Hiển Dung có thể xảy ra vào dịp lễ Lều. Lễ này được cử hành để nhớ lại việc vượt qua sa mạc trong cuộc Xuất hành và Giao ước Xi-nai. Trong dịp này, dân sống trong lều suốt tám ngày, và trong khi chờ đợi, dân khẩn cầu một cuộc thần hiện mới của Thiên Chúa qua việc Đấng Mê-si-a ngự đến ; và trong kỳ lễ, có nhiều cuộc cử hành, nhiều thánh vịnh ca ngợi những lời hứa về Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa và cầu mong Người sớm ngự đến.
Trên núi Hiển Dung, ba Tông Đồ chứng kiến đột ngột cuộc mặc khải kỳ diệu này, việc đó khiến các ông sợ hãi trước cuộc thần hiện của Thiên Chúa là Đấng ngàn trùng chí thánh, nhưng Chúa Giê-su đã giúp các ông trỗi dậy và tìm lại sự bình an. Nhưng việc mặc khải về mầu nhiệm Đấng Mê-si-a, dưới mọi khía cạnh đều chưa vừa tầm hiểu biết của tất cả mọi người, cho nên Chúa Giê-su ra lệnh cho các môn đệ “đừng nói cho ai biết thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy”. Khi nói lời này, Chúa Giê-su xác nhận mặc khải mà ba môn đệ vừa nhận được ; Người quả thật là Đấng Mê-si-a mà ngôn sứ Đa-ni-en đã thấy dưới hình dạng một con người, từ mây trời mà đến : “Trong những thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa : có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị. Vương quốc của Người sẽ chẳng hề suy vong” (Đn 7,13-14). Chúng ta đừng quên ngôn sứ Đa-ni-en trình bày Con Người không phải là một cá nhân đơn độc, nhưng như một dân tộc, “dân thánh hoặc chư thánh của Đấng Tối Cao”.
Việc thực hiện lời ngôn sứ Đa-ni-en còn đẹp hơn chính lời tiên báo của ngôn sứ, nơi Chúa Giê-su, vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật, toàn thể nhân loại sẽ nhận lấy vương quyền vĩnh cửu đã được biến đổi mãi mãi. Tuy nhiên Chúa Giê-su nói rõ : “Đừng nói cho ai biết thị kiến này cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy.” Chỉ sau khi Chúa Giê-su phục sinh, các Tông Đồ mới có thể làm chứng nhân cho Người cho đến tận cùng cõi đất.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa là Cha chúng con ở trên trời, chúc tụng Chúa vì biết bao ơn lành Chúa đã ban cho chúng con qua Đức Giê-su Ki-tô, Đấng cứu độ chúng con. Ngày xưa, Chúa đã chúc phúc cho ông Áp-ra-ham trên con đường Giao ước. Cũng vậy, khi Con Chúa dấn thân vào con đường Thương Khó, Chúa chiếu sáng Người bằng ánh sáng của cuộc Hiển Dung, báo trước mầu nhiệm Phục Sinh. Xin Chúa cũng thương chiếu sáng đường đời chúng con đi, để chúng con mãi mãi đi trong chính lộ.
Tự vấn :
Khi đã trở nên Ki-tô hữu qua bí tích Thánh Tẩy, chúng ta đã sống ơn gọi Ki-tô hữu của mình như thế nào ? Nhiệt thành hay nguội lạnh, trễ nãi trong việc thờ phượng Chúa và phục vụ tha nhân ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Trên đường đời ta đi, Thiên Chúa vẫn ở bên”
(Mgr. L. Daloz, trong “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer, 1994, tr. 246-247).
Cuộc hiển dung của Chúa dạy cho chúng ta nhiều bài học : Thứ nhất, chúng ta đừng thích mơ tưởng đến những mặc khải lạ lùng của Thiên Chúa. Người dành cho ai Người muốn : ở đây Đức Giê-su chỉ đem theo ba môn đệ, và dặn họ không được tiết lộ cho ai về thị kiến cho đến khi Người sống lại. Vậy mà đến giờ phút khổ nạn, các ông này vẫn là những môn đệ bỏ Thầy, thậm chí chối Thầy như thường ! Thứ đến, đó là con đường bình thường người môn đệ của Chúa phải đi, luôn ngang qua bóng tối đức tin của đời thường. Ông Phê-rô cảm thấy quá sung sướng được ở trên núi. Ông đề nghị dựng ngay ba cái lều và định cư ở đây ! Chúng ta cũng thường thích ở lại nơi đâu mọi sự xảy ra có vẻ như ý, nơi đâu đức tin và đời sống đạo của mình xem ra an toàn, vô sự, và chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa rất gần. Chúng ta nghĩ rằng chính khi đó chúng ta mới thật sự là Ki-tô hữu … Thật ra Thiên Chúa không kém gần gũi với chúng ta trong giờ phút khô khan của sa mạc hơn là trong những lúc dịu êm dưới bóng mát của ốc đảo ! Hơn nữa, sự ham muốn tìm kiếm một sự hiện diện khả giác của Thiên Chúa thật ra rất hàm hồ, và chính Đức Giê-su cũng chẳng muốn ba môn đệ mình kể lể về thị kiến họ được hưởng. Những lần hiện ra của Chúa sau khi Người phục sinh, cũng giống như cuộc hiển dung này, đều chỉ là chút ánh sáng vụt tắt. Chúng ta cần phải bước đi trên con đường mà Đức Giê-su đã đi qua để đạt tới hoàn toàn và vĩnh viễn sự mặc khải của Thiên Chúa, chúng ta hãy đối diện với cuộc sống và cái chết của mình. Ông Mô-sê và ngôn sứ Ê-li-a là những kẻ đi tìm Thiên Chúa và đã từng được “thấy”, hôm nay họ là nhân chứng của Đức Giê-su Hiển Dung, chính họ đã chẳng từng phải vất vả lê bước trong sa mạc ? Sứ điệp của Hiển Dung chính là trên đường đời ta đi, Thiên Chúa vẫn ở bên …
