A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 V 19,9a.11-13a

Đáp ca : Tv 84,9ab và 10.11-12.13-14 (Đ. c.8)

Bài đọc 2 : Rm 9,1-5

Tung hô Tin Mừng : Tv 129,5

Tin Mừng: Mt 14,22-33

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 V 19,9a.11-13a

Đáp ca : Tv 84

Bài đọc 2 : Rm 9,1-5

Bài Tin Mừng : Mt 14,22-33

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Đi từ mặc khải đến nhận biết”

2. Chúng ta cũng giống như các môn đệ trong thuyền


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 V 19,9a.11-13a

Hãy đứng trên núi trước mặt Đức Chúa.

Bài trích sách các Vua quyển thứ nhất.

9a Khi ngôn sứ Ê-li-a tới núi Khô-rếp là núi của Thiên Chúa, ông vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó. Có lời Đức Chúa phán với ông : 11 “Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt Đức Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua.” Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Đức Chúa, nhưng Đức Chúa không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng Đức Chúa không ở trong trận động đất. 12 Sau động đất là lửa, nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. 13a Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 84,9ab và 10.11-12.13-14 (Đ. c.8)

Đ. Lạy Chúa,
xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa,
và ban ơn cứu độ cho chúng con.


9ab Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán,
điều Chúa phán là lời chúc bình an
cho dân Người, cho kẻ trung hiếu.
10 Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa,
để vinh quang của Người
hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta. Đ.


11 Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ,
hoà bình công lý đã giao duyên.
12 Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp,
công lý nhìn xuống tự trời cao. Đ.


13 Vâng, chính Chúa sẽ tặng ban phúc lộc
và đất chúng ta trổ sinh hoa trái.
14 Công lý đi tiền phong trước mặt Người,
mở lối cho Người đặt bước chân. Đ.

 

Bài đọc 2 : Rm 9,1-5

Giả như vì anh em, mà tôi có bị nguyền rủa, thì tôi cũng cam lòng.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

1 Thưa anh em, có Đức Ki-tô chứng giám, tôi xin nói sự thật, tôi không nói dối, và lương tâm tôi, được Thánh Thần hướng dẫn, cũng làm chứng cho tôi rằng : 2 lòng tôi rất đỗi ưu phiền, và đau khổ mãi không ngơi. 3 Quả vậy, giả như vì anh em đồng bào của tôi theo huyết thống, mà tôi có bị nguyền rủa và xa lìa Đức Ki-tô, thì tôi cũng cam lòng. 4 Họ là người Ít-ra-en, họ đã được Thiên Chúa nhận làm con, được Người cho thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa ; 5 họ là con cháu các tổ phụ ; và sau hết, chính Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ. Người là Thiên Chúa, Ðấng vượt trên mọi sự. Chúc tụng Người đến muôn thuở muôn đời. A-men.

Ðó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : Tv 129,5

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.

Mong đợi Chúa, tôi hết lòng mong đợi, cậy trông ở lời Người. Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng: Mt 14,22-33

Xin Ngài truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

22 Sau khi dân chúng được ăn no nê, Đức Giê-su liền bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng. 23 Giải tán họ xong, Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Tối đến Người vẫn ở đó một mình. 24 Còn chiếc thuyền thì đã ra xa bờ đến cả mấy cây số, bị sóng đánh vì ngược gió. 25 Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. 26 Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau : “Ma đấy !”, và sợ hãi la lên. 27 Đức Giê-su liền bảo các ông : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” 28 Ông Phê-rô liền thưa với Người : “Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” 29 Đức Giê-su bảo ông : “Cứ đến !” Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. 30 Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên : “Thưa Ngài, xin cứu con với !” 31 Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói : “Hỡi kẻ kém lòng tin ! Sao lại hoài nghi ?” 32 Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng. 33 Những kẻ ở trong thuyền bái lạy Người và nói : “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa !”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : 1 V 19,9a.11-13a

Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách các Vua quyển thứ nhất kể lại sự thay đổi, hay nói đúng hơn sự hoán cải của ngôn sứ Ê-li-a, bởi vì lòng nhiệt thành của ông bị thử thách nghiêm trọng : một đàng ông bị hoàng hậu I-de-ven truy sát ; đàng khác, ông lại hiểu sai về Thiên Chúa là Đấng ông tôn thờ và hết lòng bảo vệ.

Tất cả bắt đầu do việc thờ bụt thần của hoàng hậu I-de-ven, một phụ nữ ngoại giáo, con gái vua thành Tia, đã kết hôn với vua A-kháp, cai trị Sa-ma-ri từ năm 875–853. Một người con của Ít-ra-en phải tẩy trừ khỏi vương quốc của mình tất cả mọi việc thờ ngẫu tượng, thờ bụt thần, vì Giao ước với Thiên Chúa Duy Nhất buộc phải loại trừ tất cả các thần khác : “Ngươi không được có Thần nào khác đối nghịch với Ta” (Xh 20,3). Nếu không làm như vậy thì dân Chúa chọn làm thế nào để làm chứng cho Người giữa muôn dân ? Mà, nỗi tủi nhục lớn lao đối với ngôn sứ Ê-li-a và những ai trung thành với Chúa, là hoàng hậu I-de-ven đưa vào triều đình một số rất đông các ngôn sứ của thần Ba-an : bốn trăm năm mươi ngôn sứ của ngẫu thần này đi diễu hành trong hoàng cung và từ nay về sau họ cho rằng thần Ba-an là vị Thần thật sự mang đến sự phì nhiêu, mưa thuận gió hoà, đồng thời cũng là vị thần của sấm sét và gió nữa. Vua A-kháp là một vị vua nhu nhược, cứ để mặc kệ cho hoàng hậu I-de-ven muốn làm gì thì làm. Như vậy gương xấu đến từ nhà vua. Lúc đó, ngôn sứ Ê-li-a đứng lên để bảo vệ danh dự của Thiên Chúa, đối lại với tà giáo đang lớn mạnh. Ngôn sứ Ê-li-a quyết liệt trong việc bảo vệ đạo Chúa, chống lại tà thần đến nỗi ông Ben Xi-ra trong sách Huấn ca đã viết : “Rồi ông Ê-li-a xuất hiện, ông là vị ngôn sứ chẳng khác nào ngọn lửa, lời của ông tựa đuốc cháy bừng bừng. Ông khiến cho nạn đói hoành hành trong dân, và do lòng nhiệt thành, ông làm cho số dân giảm bớt. Ông dùng lời Thiên Chúa mà đóng cửa trời, và ba lần cũng cho lửa đổ xuống” (Hc 48,1-3). Có thể nói đối với ngôn sứ Ê-li-a, Thiên Chúa là trên hết, Thiên Chúa là tất cả. Ông hết lòng bảo vệ đạo Chúa và chứng minh cho hoàng hậu I-de-ven, các ngôn sứ của thần Ba-an cũng như toàn thể dân Ít-ra-en biết Thiên Chúa, Đấng ngàn trùng chí thánh, trổi vượt hơn thần Ba-an của họ, là Đấng Toàn Năng duy nhất, cụ thể là cuộc đối đầu hay là hy lễ trên núi Các-men : một bên là bốn trăm năm mươi ngôn sứ của thần Ba-an, một bên chỉ có ngôn sứ Ê-li-a. Sau cuộc so tài đó, tất cả các ngôn sứ của thần Ba-an đều bị giết chết, nên hoàng hậu I-de-ven ra lệnh truy nã và giết ngôn sứ Ê-li-a để trả thù. Vì thế ông phải chạy trốn để bảo toàn tính mạng. Trong lúc chạy trốn, lúc chán nản ông muốn chết : “Lạy Đức Chúa, đủ rồi ! Bây giờ xin Chúa lấy mạng sống con đi, vì con chẳng khác gì cha ông của con.” Có lẽ ngôn sứ Ê-li-a nghĩ rằng ông cũng như tổ tiên của ông, đòi Chúa phải làm phép lạ, làm những việc phi thường. Nhưng rồi ông hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng dịu dàng, Người biểu lộ sức mạnh của Người trong sự dịu dàng đó, như ngôn sứ I-sai-a đã nói trong bài ca “Người tôi tớ - Bài ca thứ nhất” : “Người sẽ không kêu to, không nói lớn, không để ai nghe tiếng giữa phố phường. Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy, tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi” (Is 42,2-3).

Sau cuộc hành trình dài bốn mươi ngày và bốn mươi đêm, ông đi đến núi Khô-rếp, cũng gọi là núi Xi-nai, Chúa đang chờ ông ở đó. Phải trải qua một hành trình dài, ông mới nhận ra rằng ông đã hiểu sai về Thiên Chúa : giống như các đối thủ của mình, ông tưởng tượng một vì Thiên Chúa đầy uy quyền. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ rơi ông, Người luôn nâng đỡ ông và dần dần hoán cải ông, giúp ông hiểu rằng Thiên Chúa là Đấng không phải như ông tưởng tượng, vì thế Người mặc khải cho ông biết Người trong một thị kiến cảm động tại núi Khô-rếp. Để chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ này, Chúa hỏi ngôn sứ Ê-li-a lúc ông đang trú trong một cái hang : “Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây ?” Ông thưa : “Lòng nhiệt thành đối với Đức Chúa, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ Giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ còn sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng sống con” (1 V 19,9-10). Rồi diễn ra một cuộc thần hiện không giống với cuộc thần hiện cũng trên núi Khô-rếp (Xi-nai) mấy trăm năm trước đó. Lần này Thiên Chúa không hiện ra trong cơn gió bão, trong lửa, hay trong cơn động đất, nhưng Thiên Chúa ở trong cơn gió hiu hiu.

Thưa anh chị em, đó là danh dự và vinh quang của Ít-ra-en, dân riêng Chúa chọn để đem mặc khải quan trọng này đến cho cả thế giới, mà họ là những người thụ hưởng đầu tiên cùng với ngôn sứ Ê-li-a. Chúng ta cũng vậy. Chúa chọn chúng ta để nói cho mọi người biết Thiên Chúa là Tình Yêu, là Cha giàu lòng thương xót, Chúa yêu thương và muốn cứu độ hết thảy mọi người.

Đáp ca : Tv 84

Thánh vịnh 84 cho ta biết ơn cứu độ chúng ta đã gần kề. Thánh vịnh này được sáng tác sau khi dân Ít-ra-en từ chốn lưu đày Ba-by-lon trở về quê cha đất tổ với biết bao mộng đẹp, chẳng hạn xây dựng lại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Tuy nhiên, họ sớm thất vọng vì cuộc trở về hằng mong đợi không chỉ toàn màu hồng như họ tưởng tượng, vì sau năm mươi năm lưu đày bên Ba-by-lon, những người lớn đều đã chết nơi đất khách quê người, trong khi những người trở về là những người khi đi lưu đày còn rất nhỏ, sự hiểu biết về quê cha đất tổ rất hạn chế, hoặc những người chào đời tại Ba-by-lon thì chỉ biết về cội nguồn của mình qua lời kể của những người lớn. Do đó sự gắn bó với quê hương thật của họ là Ít-ra-en hầu như không có. Còn đối với những người Ít-ra-en ở lại quê hương, những người trở về là những người hoàn toàn xa lạ. Do đó họ bị chống đối dữ dội khi muốn xây dựng lại Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.

Trong thánh vịnh 84 hôm nay, ta cảm nhận rõ nét những tâm tình này : “Lạy Chúa, Ngài đã tỏ lòng thương thánh địa, tù nhân nhà Gia-cóp, Ngài dẫn đưa về. Tội vạ dân Ngài, Ngài tha thứ, mọi lỗi lầm, cũng phủ lấp đi. Ngài dẹp trận lôi đình và nguôi cơn thịnh nộ” (các câu 2-4). Nhưng mọi việc không được như ý, nên họ tự hỏi không biết Thiên Chúa còn giận họ không : “Phải chăng Ngài giận mãi không thôi, đời lại đời cứ nổi cơn thịnh nộ.” Lúc bấy giờ họ mới khẩn cầu : “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa, và ban ơn cứu độ cho chúng con.” Và họ xin ơn hoán cải vĩnh viễn : “Lạy Chúa Trời, Đấng cứu độ chúng con, xin dẫn chúng con về.”

Phần cuối của thánh vịnh 84 là một bài ca tuyệt vời về lòng tín thác vào kế hoạch cứu độ, về kế hoạch đem bình an đến cho tất cả mọi dân tộc của Thiên Chúa : “Vinh quang của Người hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta.” “Công lý đi tiền phong trước mặt Người, mở lối cho Người đặt bước chân.” “Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên.”

Nhờ ánh sáng Phục Sinh của Đức Ki-tô, thánh vịnh này có được ý nghĩa trọn vẹn của mình. Tác giả Thánh vịnh cho ta biết : “Chúa sẵn sàng ban ơn cứu độ cho ai kính sợ Chúa” và tên Chúa Giê-su có nghĩa là “Thiên Chúa cứu độ”. Thánh vịnh nói : “Tín nghĩa mọc lên từ đất thấp”, và chính Chúa Giê-su đã nói : “Tôi là Sự Thật” và chúng ta đừng quên rằng từ “Chồi Non” là một trong những danh xưng chỉ Đấng Mê-si-a trong Cựu Ước. Thánh vịnh nói : “Vinh quang của Người hằng chiếu toả trên đất nước chúng ta”, và thánh Gio-an trong Tin Mừng của ngài, đã nói : “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14). Thánh vịnh nói : “Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán.” Thánh Gio-an gọi Chúa Giê-su là Lời, “Ngôi Lời của Thiên Chúa”. Thánh vịnh nói : “Điều Chúa phán là lời chúc bình an cho dân Người, cho kẻ trung hiếu” và những ai hướng lòng trí về Người. Trong những lần gặp gỡ các môn đệ sau khi từ cõi chết sống lại, lời đầu tiên Chúa Giê-su nói với các ông : “Bình an cho anh em.” Chắc chắn, toàn bộ Kinh Thánh nói với chúng ta điều đó, nghĩa là Chúa luôn ban bình an cho chúng ta, bình an đó là ân huệ của Thiên Chúa. Bình an trong tâm hồn là điều mong ước lớn nhất chúng ta xin Chúa ban cho.

Bài đọc 2 : Rm 9,1-5

Bài đọc 2 hôm nay trích từ thư gửi tín hữu Rô-ma cho ta thấy thánh Phao-lô đang hết sức buồn phiền vì sự cứng lòng tin của đồng bào ông, những người Do-thái. Chúng ta biết rằng sau khi được Chúa gọi trở lại trên con đường Đa-mát, ngài hiểu rằng tin vào Đức Giê-su không có nghĩa là chối bỏ niềm tin Do-thái giáo, nhưng hoàn toàn ngược lại vì Đức Giê-su đến trần gian để kiện toàn những lời hứa trong Kinh Thánh. Đó là trọng tâm lời rao giảng của thánh Phao-lô như ngài nói với tín hữu Cô-rin-tô : “Tôi xin nhắc lại cho anh em Tin Mừng tôi đã loan báo, và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững. Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo. Tôi đã truyền lại cho anh em điều chính tôi đã lãnh nhận : đó là Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. Người đã hiện ra với ông Kê-pha, rồi với Nhóm Mười Hai. Sau hết, Người cũng đã hiện ra với tôi, là kẻ chẳng khác nào một đứa trẻ sinh non” (1 Cr 15,1...9). Sau khi bị bắt tại Giê-ru-sa-lem và lúc phải trả lời trước toà án về hoạt động tông đồ của mình, thánh Phao-lô đã tuyên bố : “Được Thiên Chúa phù hộ, cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn tiếp tục làm chứng trước mặt kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn ; tôi không nói gì khác ngoài những điều các ngôn sứ và ông Mô-sê đã báo trước sẽ xảy ra” (Cv 26,22).

Nhưng đại đa số những người anh em Do-thái của thánh Phao-lô đã không theo ngài. Nhiều người trong số họ trở thành những kẻ bách hại ngài dữ dội, ngài đau khổ tột cùng vì thái độ thù địch trong tất cả các cộng đoàn Do-thái mà ngài muốn rao giảng Tin Mừng. Lúc bấy giờ ngài tự hỏi : Những người đồng đạo của ngài tẩy chay mãi sao ? Những lời hứa và sáng kiến của Thiên Chúa dành cho dân Chúa chọn sẽ như thế nào ?

Thánh Phao-lô đặc biệt nhấn mạnh đến việc Chúa chọn dân Ít-ra-en làm nghĩa tử : “Anh em là những người con của Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em” (Đnl 14,1). “Anh em là một dân thánh hiến cho Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em. Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã chọn anh em từ giữa muôn dân trên mặt đất, làm một dân thuộc quyền sở hữu của Người” (Đnl 7,6). Chính với tình thương của một hiền phụ mà Thiên Chúa đã chọn Ít-ra-en như ngôn sứ Hô-sê đã nói : “Khi Ít-ra-en còn là đứa trẻ, Ta đã yêu nó. Từ Ai-cập, Ta đã gọi con Ta về. Ta đã tập đi cho Ít-ra-en, đã đỡ cánh tay nó ... Ta lấy dây nhân nghĩa, lấy mối ân tình mà lôi kéo chúng. Ta xử với chúng như người nựng trẻ thơ, nâng lên áp vào má. Ta cúi xuống gần mà đút cho nó ăn” (Hs 11,1-4).

Vậy Thiên Chúa có thể quên tất cả những điều đó sao ? Ta có thể giải thích thế nào khi hình như Thiên Chúa dửng dưng trước dân Người chọn đang đi lạc lối ? Tuy nhiên, ngoài việc nhận dân Ít-ra-en làm con, Thiên Chúa còn ban cho họ nhiều ân huệ khác như thánh Phao-lô quả quyết : “Người cho họ thấy vinh quang, ban tặng các giao ước, lề luật, một nền phụng tự và các lời hứa ; họ là con cháu các tổ phụ và sau hết, chính Đức Ki-tô, xét theo huyết thống, cũng cùng một nòi giống với họ” (Rm 9,4-5). Không, Thiên Chúa không bao giờ quên dân riêng của Người, vì chính Người đã hứa : “Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau ? Cho dù họ có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ” (Is 49,15). “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay” (Is 54,10).

Bài Tin Mừng : Mt 14,22-33

Cả bốn Tin Mừng đều kể lại việc Đức Giê-su làm phép lạ hoá bánh ra nhiều. Thánh Gio-an kết thúc trình thuật của ngài khi nói rằng : “Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình” (Ga 6,15).

Thánh Mát-thêu xác nhận Đức Giê-su “bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia trước, trong lúc Người giải tán dân chúng” (Mt 14,22). Đức Giê-su biết rằng Nước của Người không thuộc về thế gian này (Ga 13,36), nên Người từ chối, không để dân chúng bắt Người làm vua. Tuy nhiên Người cũng biết rõ rằng các môn đệ của Người chưa hiểu gì cả, ngay cả sau khi Người từ cõi chết trỗi dậy, các môn đệ vẫn còn hy vọng Đấng Mê-si-a sắp khai mạc một vương quốc mới, bảo đảm dân Ít-ra-en sẽ chiến thắng tất cả các dân tộc khác. Vào ngày lễ Thăng Thiên, sách Công vụ Tông Đồ kể lại : “Thưa Thầy, có phải bây giờ là lúc Thầy khôi phục vương quốc Ít-ra-en không ?” (Cv 1,11). Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi Đức Giê-su bắt các môn đệ phải đi sang bờ bên kia trước để tránh bị đám đông lôi kéo. Tuy nhiên, Đức Giê-su không hề bỏ rơi các ông. Người lên núi riêng một mình mà cầu nguyện. Người kín múc ánh sáng và sức mạnh từ Thiên Chúa Cha để tiếp tục sứ mạng của Người. Nhiều lần lời cầu nguyện trên núi đi trước những thời điểm quan trọng, thời khắc quyết định, chẳng hạn lúc khởi đầu sứ vụ rao giảng ở Ga-li-lê : “Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó” (Mc 1,35), hay trước khi chọn các Tông Đồ : “Trong những ngày ấy, Đức Giê-su đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Đến sáng, Người kêu các môn đệ lại, chọn lấy mười hai ông và gọi là Tông Đồ” (Lc 6,12).

Quả thật, đêm hôm ấy, Đức Giê-su ra lệnh thực hiện một bước ngoặc quyết định đối với niềm tin của ông Phê-rô và các môn đệ. Người đưa các ông đi đến “một bến bờ khác”, một bến bờ thuộc về con đường của Thiên Chúa chứ không phải là con đường của chúng ta, tư tưởng của Thiên Chúa cũng không phải là tư tưởng của chúng ta. Một bến bờ khác, nơi đó các môn đệ có thể hô to : “Quả thật Người là Con Thiên Chúa.” Thánh Mát-thêu tạo một phông nền : một trận cuồng phong nổi lên trên hồ Ti-bê-ri-a, cuộc hải hành trở nên khó khăn và nguy hiểm, nhiều giờ ban đêm đã trôi qua mà chiếc thuyền không thể cập bờ bên kia được. “Vào khoảng canh tư, Đức Giê-su đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ.” Ba Tin Mừng kể lại biến cố này. Các thánh Mát-thêu, Mác-cô và Gio-an quan tâm đến thời điểm xảy ra sự việc : “Vào khoảng canh tư”, nghĩa là lúc đêm sắp tàn. Từ nay về sau, đối với ba tác giả Tin Mừng, ánh bình minh của ngày mới gợi lại buổi sáng tuyệt vời của ngày Phục Sinh, buổi bình minh của đời sống mới. Chính vào lúc kết thúc cuộc chống chọi với cơn bão và bóng đêm để bảo toàn mạng sống, thì Đức Giê-su đến gặp các môn đệ. Tin Mừng thuật lại “Người đi trên mặt biển”. Đối với con người của Kinh Thánh, biển – đặc biệt là biển đang nổi trận cuồng phong, tượng trưng cho sự chết. Nhờ ánh sáng của mầu nhiệm Phục Sinh, chắc chắn các tác giả Tin Mừng nhận ra trong biến cố này một Mô-sê mới cứu dân Ít-ra-en an toàn vượt qua sóng gió của Biển Đỏ, hay một Giô-suê mới đưa dân Ít-ra-en vào Đất Hứa, khi băng qua sông Gio-đan. Hai cuộc vượt qua đến bờ bên kia an toàn. Xưa Chúa đã cho dân Ít-ra-en vượt qua Biển Đỏ hay sông Gio-đan mà chân vẫn khô ráo, thì nay Đức Giê-su đi trên mặt biển đến với các môn đệ, có nghĩa là sức mạnh của Thần Chết trong các con sông không thể khuất phục được Người. Người đã chế ngự chúng.

Tuy nhiên, đầu tiên là các môn đệ sợ hãi, họ la lên : “Ma đấy.” Nhưng Đức Giê-su trấn an họ : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !” Những lời nói của Đức Giê-su trấn an các môn đệ, ít nhất là ông Phê-rô. Ông tin vào quyền năng của Đức Giê-su nên mới thưa với Người : “Thưa Thầy, nếu quả là Thầy, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” Sau khi nghe Đức Giê-su bảo : “Cứ đến.”, ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên : “Thưa Ngài, xin cứu con với !” Đức Giê-su liền nắm lấy tay ông và nói (trách nhẹ ông) : “Hỡi kẻ kém lòng tin ! Sao lại hoài nghi ?”

Những cộng đoàn Ki-tô hữu đầu tiên phải hứng chịu những làn sóng bách hại, cảm nghiệm rất rõ phải trải qua biết bao khó khăn để sống trọn vẹn niềm tin của mình.

Anh chị em thân mến, ngày hôm nay cũng vậy, để sống trọn vẹn niềm tin, ơn gọi làm Ki-tô hữu, chúng ta cần cầu nguyện nhiều để xin Chúa ban ơn phù trợ, giúp chúng ta vượt qua mọi phong ba bão táp trong cuộc sống thường ngày và quyết tâm vác thánh giá theo chân Chúa đến cùng.

 

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, trong cuộc lữ hành trần thế này, không ai trong chúng con tránh khỏi những thử thách gian nan. Khi chúng con gặp phong ba bão táp trong đời sống đức tin, xin Chúa ban ơn trợ giúp để chúng con có thể vượt thắng mọi nỗi gian truân và quyết tâm dấn thân theo Chúa đến cùng.

Tự vấn :

Khi gặp khó khăn trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có chạy đến cùng Chúa để xin Người nâng đỡ, ủi an không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Đi từ mặc khải đến nhận biết”

(L. Montoubou, trong “Evangile de Matthieu”, Salvator, tr. 198-199).

Chính vào lúc con thuyền của các Tông Đồ bị bóng đêm vây kín vào canh tư đêm tối (khoảng bốn giờ sáng), lúc thuyền bị những đợt sóng lớn nhồi dập dữ dội, bị cản trở bởi gió ngược, thì chính lúc đó Đức Giê-su đến với họ, bước đi trên mặt biển. Đó là kiểu nói quen thuộc của Kinh Thánh, Thiên Chúa bước đi trên biển cả. Ta đọc trong thánh vịnh 77 : “Đường của Chúa băng qua biển rộng, lối của Ngài rẽ nước mênh mông, mà chẳng ai nhận thấy vết chân Ngài.”

Các môn đệ ngạc nhiên, vì họ không nhận ra Đức Giê-su là Đấng vạch lối đi trên biển cả, họ nghĩ đó là một bóng ma. Họ cần đến câu nói của Chúa : “Thầy đây mà !” mới nhận ra Người.

Nhận ra Chúa trong khi tuyên xưng Người là Đấng nào. Thành ngữ “Chính Thầy đây” là một cách chuyển dịch câu : “Ta là Ta : Đức Chúa.” Mà câu “Chính Thầy đây” nói ở giữa biển cả là câu nói, theo thánh Mát-thêu, công bố thần tính. Đây là thuật ngữ mà Thiên Chúa đã tự mặc khải cho ông Mô-sê, rồi sau đó cho dân Ít-ra-en, trong quá trình một cuộc phiêu lưu lịch sử, ở đó biển đóng một vai trò quan trọng, Thiên Chúa dùng để tỏ ra quyền lực vô biên của Người.

Nhưng mặc khải này đã không đi sâu vào nội tâm của các môn đệ, như thái độ của ông Phê-rô chứng tỏ. Ông còn cần cảm nghiệm bản thân và trực tiếp sự phũ phàng của cơn bão táp, cảm nghiệm sự nguy hiểm mà ông phải đương đầu, sau đó ông mới tìm được tận thâm sâu con người ông một thái độ sẵn sàng để tin. Ông kêu lên : “Thưa Ngài, xin cứu con với !” Kìa Đức Giê-su được ông Phê-rô kêu bằng danh hiệu “Đức Chúa” (KURIOS, chuyển ngữ Hy-lạp của danh Chúa YAHVE), có nghĩa là Thiên Chúa ở gần, Thiên Chúa toàn năng, Thiên Chúa cứu độ.

Giờ đây bão táp đã chấm dứt, gió đã lắng dịu, các môn đệ mới hiểu rằng Đức Giê-su là “Con Thiên Chúa”. Trước hết Người là Đấng mà họ tìm đến, bởi vì khi Người xuất hiện giữa lúc họ gặp nguy nan, Người có dáng vẻ hấp dẫn, nên đã khiến cho ông Phê-rô kêu lên : “Nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài.” Lúc này, Người là Đấng mà họ phục lạy và tuyên xưng : “Quả thật Ngài là Con Thiên Chúa !” Những người ở trong cùng một con thuyền đã có được sự đồng nhất trong đức tin, cùng có một thái độ trước Đức Giê-su và tuyên xưng cùng một đức tin.

2. Chúng ta cũng giống như các môn đệ trong thuyền

(Mgr. L. Daloz trong cuốn “Le Règne de Dieu s’est approché”, Desclée de Brouwer, tr. 222).

Các môn đệ hoảng sợ khi thấy Đức Giê-su đi trên mặt biển tiến đến với họ, và họ tưởng Người là ma. Chính họ đã hoạt động với Người để phục vụ dân chúng, thế mà giờ đây họ không nhận ra Người. Chỉ Đức Giê-su cho người khác thì dễ hơn là nhận ra Người trong giờ phút gian nan của cuộc sống của chính bản thân ta. Trong những giờ phút đó, đức tin của ta bị thử thách, đức tin với những bóng tối của nó. Lúc đó chính Chúa phải tự tìm cách tỏ cho ta biết Người. Khi ta tuyên xưng đức tin, khi ta chia sẻ hoặc giáo huấn đức tin, khi ta hoạt động rao giảng Tin Mừng, đức tin được ta coi như một của sở hữu yên tĩnh, một hiểu biết êm vui giúp sống và hoạt động. Nhưng những thời điểm quan trọng nhất, quyết liệt nhất của đức tin thì không êm ả chút nào : đó là những lúc ta gặp thử thách, như một tai hoạ lớn, một sự đe doạ liên quan đến mạng sống, đe doạ cho lẽ sống của ta, đe doạ những người thân nhất của ta, hoặc có thể là một hoàn cảnh hay một ý nghĩ thúc giục ta tự vấn sống để làm gì, hoặc khi công việc mà ta đang làm gặp thất bại, ta cảm thấy mình yếu đuối, bệnh tật, tội lỗi, v.v… Bấy giờ đức tin không còn là của sở hữu yên tĩnh nữa, ta không cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa nữa. Ta giống như các môn đệ ở trên thuyền. Cuộc gặp gỡ với Đức Giê-su có thể gây ngộ nhận, nó khác với điều mà ta tưởng tượng hoặc ta giảng giải cho người khác. Ta không nhận ra Người nữa, giống như các môn đệ nghĩ rằng mình thấy ma …

Tuy nhiên, phải chăng những lúc này mới là giờ phút ta có được đức tin tinh tuyền hơn ? Phải chăng đến gần Thiên Chúa thường làm ta mất phương hướng, chẳng là chuyện thường tình sao ? Người là Đấng khác, hoàn toàn khác, làm sao ta có thể nhận biết Người, nếu Người không tỏ mình cho ta ? Những giờ phút ta bị lạc hướng bởi sự hiện diện mầu nhiệm của Chúa, chính là những thời điểm nền tảng cho đức tin. Đó là lúc Chúa nói với trái tim ta, là lúc ta nhớ đến một trong những lời của Chúa để ta đoán biết Người ở đó : “Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ !”