|
Đáp ca : Tv 144,8-9.15-16.17-18 (Đ. x. c.16) 1. “Một biến cố biểu tượng nhiều ý nghĩa” 2. “Giáo Hội không thể là Giáo Hội mà không chia sẻ tình yêu của Chúa cho mọi người” |
A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Is 55,1-3
Hãy đến mà ăn.
Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.
1 Đức Chúa phán như sau :
“Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây !
Dù không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng ;
đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào.
2 Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống,
tốn công lao vất vả
vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng ?
Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon,
được thưởng thức cao lương mỹ vị.
3 Hãy lắng tai và đến với Ta,
hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống.
Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu,
để trọn bề nhân nghĩa với Đa-vít.”
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 144,8-9.15-16.17-18 (Đ. x. c.16)
Đ. Chúa thương rộng mở tay ban,
đoàn con hết thảy muôn vàn thoả thuê.
8 Chúa là Đấng từ bi nhân hậu,
Người chậm giận và giàu tình thương.
9 Chúa nhân ái đối với mọi người,
tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên. Đ.
15 Lạy Chúa, muôn loài ngước mắt trông lên Chúa,
và chính Ngài đúng bữa cho ăn.
16 Khi Ngài rộng mở tay ban,
là bao sinh vật muôn vàn thoả thuê. Đ.
17 Chúa công minh trong mọi đường lối Chúa,
đầy yêu thương trong mọi việc Người làm.
18 Chúa gần gũi tất cả những ai cầu khẩn Chúa,
mọi kẻ thành tâm cầu khẩn Người. Đ.
Bài đọc 2 : Rm 8,35.37-39
Không một loài thụ tạo nào có thể tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
35 Thưa anh em, ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô ? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?
37 Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta.
38 Đúng thế, tôi tin chắc rằng : Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, 39 trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : Mt 4,4b
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng : Mt 14,13-21
Ai nấy đều ăn và được no nê.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
13 Khi ấy, được tin ông Gio-an Tẩy Giả chết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.
15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16 Đức Giê-su bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17 Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” 18 Người bảo : “Đem lại đây cho Thầy !” 19 Sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn khoảng chừng năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
* Tin Mừng Chúa nhật hôm nay kể lại phép lạ hoá bánh ra nhiều. Chúng ta ngưỡng mộ lòng quảng đại của Đức Giê-su luôn quan tâm cung cấp những gì cần thiết cho đám đông. Khi ấy, Đức Giê-su di chuyển trên một con thuyền đi đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Người cùng với các môn đệ muốn nghỉ ngơi một chút sau một ngày rao giảng mệt nhọc. “Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương và chữa lành các bệnh nhân của họ.” Chạnh lòng thương là một trong những ưu phẩm của Thánh Tâm Đức Giê-su trong Tin Mừng. Người nghĩ ngay đến những nỗi bất hạnh của đám đông đang đứng trước mặt Người, những nhu cầu, những đau khổ và Người thương họ vô cùng. Trong Tin Mừng theo thánh Mát-thêu, Đức Giê-su lấy lại hai lần lời ngôn sứ Hô-sê : “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9,13 ; 12,7). Đức Giê-su biết rằng Cha trên trời giàu lòng thương xót và Người thông truyền lòng thương xót này qua con tim nhân loại của Người để phục vụ tất cả những ai đang cần đến Người. “Người chữa lành các bệnh nhân của họ.” Đức Giê-su đến trần gian để chữa lành và cho con người được niềm vui và bình an.
* Khi chiều đến, các môn đệ không hề chia sẻ lòng thương xót của Đức Giê-su nhưng lý luận theo kiểu nhân loại. Các ông thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” Vấn đề các ông đặt ra là hợp lý, bởi vì đám người quá đông, các ông không thể cung cấp cho họ những gì họ cần, nên việc làm hợp lý nhất là giải tán họ để họ trở về các làng mạc mà mua thức ăn. Đức Giê-su không đồng ý với cách giải quyết này của các môn đệ, Người bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” Những lời này của Đức Giê-su đã gợi ý cho một số lớn các vị thánh trong Giáo Hội, trước những nhu cầu cấp thiết của những người đương thời, không ngồi đó mà than vãn nhưng đã mạnh dạn thành lập các Dòng tu Bác ái để giúp đỡ những người nghèo khổ, bất hạnh. “Chính anh em hãy cho họ ăn.” Một câu nói mà mỗi người chúng ta phải nghĩ là Chúa nói với mình. Khi chúng ta gặp những người nghèo khổ, những ai đói rách bần cùng, những người đang gặp hoạn nạn, chúng ta hãy giúp họ theo khả năng của mình, với tư cách là một Ki-tô hữu, để họ bớt khổ đau. Các môn đệ rất đỗi ngạc nhiên về những lời của Đức Giê-su vì các ông không thể cho một đám đông như thế ăn được. Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” Trong Tin Mừng Gio-an, ông An-rê thêm : “Nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu !” (Ga 6,9). Đúng như vậy, lệnh của Đức Giê-su là không thể thực hiện được. Nhưng Đức Giê-su giải quyết cách khác, Người bảo các môn đệ : “Đem lại đây cho Thầy !” Tiếp đó Người truyền cho dân chúng ngồi xuống. “Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng.” Trong ngôn ngữ Do-thái giáo, chúc tụng Thiên Chúa có nghĩa là tạ ơn Người. Sau khi Gio-an Tẩy Giả chào đời, ông Da-ca-ri-a chúc tụng Thiên Chúa khi nói : “Chúc tụng Đức Chúa là Thiên Chúa Ít-ra-en, đã viếng thăm cứu chuộc dân Người.” Chúng ta cũng vậy, trong phần dâng lễ vật, chúng ta cũng tạ ơn Chúa Cha khi nói : “Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất, chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này là hoa màu ruộng đất và công lao của con người, chúng con xin dâng lên Chúa để trở nên bánh trường sinh cho chúng con.” Lời chúc tụng dâng lên Thiên Chúa có nghĩa là tạ ơn Người. Đức Giê-su tạ ơn Chúa Cha vì tất cả những gì Người nhận được do lòng nhân hậu của Cha Người. Quả thật, Người xác tín rằng lòng quảng đại của Cha trên trời thật lớn lao và Chúa Cha sẽ giúp Người giải quyết vấn đề khó khăn này. Người bẻ bánh ra, trao cho các môn đệ và các môn đệ trao cho đám đông. Tất cả những việc trên xảy ra trong âm thầm : những miếng bánh không hoá nhiều một cách có thể nhìn thấy được, nhưng tất cả đều được ăn và ăn no nê đến nỗi cuối cùng, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy bánh còn thừa. Điều đó cho thấy lòng quảng đại của Thiên Chúa to lớn đến mức nào. Tất cả đám đông có thể ăn no nhờ vào sự kết hợp của Đức Giê-su với Cha trên trời, nhờ vào lời cầu nguyện của Người, nhờ vào lòng thương xót của con tim Người và nhờ vào lòng quảng đại của Người. Phép lạ này không chỉ giới hạn vào một thời điểm nhất định nhưng còn lan toả rộng hơn nhiều, vì báo trước bí tích Thánh Thể. Trong Bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su cầm lấy bánh, bẻ ra, và sau khi dâng lời tạ ơn, Người trao cho các môn đệ mà nói : “Đây là mình Thầy, hiến tế vì anh em, anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (Lc 22,19). Lời này có nghĩa là việc làm của Đức Giê-su phải được lặp lại. Người tiếp tục nhân lên lúc nào cũng dồi dào hơn và quảng đại hơn. Đức Giê-su đến trần gian để chữa lành tâm hồn hơn là thể xác chúng ta. Người nuôi dưỡng tâm hồn chúng ta hơn là để thoả mãn đám đông đang đói ăn.
Bài đọc 1 chúng ta vừa nghe rõ ràng là nói đến của ăn thiêng liêng. Ngôn sứ I-sai-a kể lại những lời của Chúa : “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây, dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng, đến mua rượu, mua sữa, không phải trả đồng nào.” Lương thực thiêng liêng không thể mua như thức ăn vật chất. Đó là ân huệ của Thiên Chúa ban cho chúng ta trong Giáo Hội qua các bí tích dưỡng nuôi tâm hồn chúng ta và đem lại cho chúng ta sức mạnh, ánh sáng và bình an nội tâm. Vị ngôn sứ chất vấn : “Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công lao vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng ?” Tại sao chúng ta lại quá quan tâm đến của ăn vật chất mà ít quan tâm đến của ăn thiêng liêng ? Vì thế “Hãy chăm chú nghe đây, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị.” Đó là một lời mời gọi đón nhận ân huệ của Thiên Chúa là ân huệ độc nhất vô nhị : Tình yêu của Người biến đổi đời sống của chúng ta. Tình yêu đó thông qua Thánh Tâm của Đức Giê-su và giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống thường ngày. Đó là một thứ thức ăn tuyệt vời. Thường thì chúng ta không để ý, nhưng ước muốn sâu xa nhất của chúng ta là được đón nhận tình yêu của Thiên Chúa. Đó là ơn gọi của chúng ta : chúng ta được tạo dựng để yêu thương và được yêu khi liên kết với Thiên Chúa và Đức Ki-tô.
Bài đọc 2 cho ta thấy giá trị và sức mạnh của tình yêu này. Thánh Phao-lô đặt vấn đề : “Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?” Rồi ngài kết luận : “Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta.” Ở đây chúng ta nhờ sức mạnh mà tình yêu Thiên Chúa ban cho chúng ta qua Đức Giê-su lan toả ra. Tình yêu đó đem lại cho chúng ta khả năng biến mỗi trở ngại thành một dịp giúp ta tiến triển trong đời sống yêu thương. Thánh Phao-lô còn nói thêm : “Cho dù là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.” Chúng ta không chỉ đón nhận tình yêu này một cách thụ động nhưng là một tình yêu giúp chúng ta có khả năng yêu thương. Đó là thứ lương thực chúng ta cần. Trong đời sống thường ngày, không có gì quan trọng hơn là luôn duy trì trong mọi tình huống khả năng sống yêu thương và luôn xử sự bác ái trong mọi tương giao thường ngày với tha nhân. Thay vì sống ích kỷ, kiêu căng và ngờ vực, hay chán nản, thì nhờ lương thực thiêng liêng này, chúng ta được thêm sức mạnh và ánh sáng để biến những thử thách gian truân thành dịp thuận tiện để biểu lộ lòng gắn bó với Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta.
* Phép lạ hoá bánh ra nhiều dạy cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa ban cho chúng ta một thứ thức ăn giúp chúng ta có khả năng yêu thương và ban cho chúng ta một niềm vui sâu xa, mà niềm vui sâu xa nhất là niềm vui yêu thương một cách quảng đại.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa, xin ban cho con một trái tim trong sạch để con nhìn thấy Chúa.
Xin ban cho con một trí óc khiêm nhường để con nghe tiếng Chúa.
Xin ban cho con một tinh thần tình yêu để con phụng sự Chúa.
Xin ban cho con tinh thần đức tin để con sống trong Chúa.
Lạy Chúa, Chúa là Đấng con không biết mà con lại thuộc về Đấng ấy.
Lạy Chúa, Chúa là Đấng con không hiểu được, nhưng là Đấng định đoạt số phận đời con.
(Daf Hamarskjold - Nguyên Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc)
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta có quảng đại giúp đỡ những người nghèo khổ bất hạnh, những ai đói rách bần cùng đang sống chung quanh chúng ta không ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Một biến cố biểu tượng nhiều ý nghĩa”
(J. Potin, trong “Jésus, L’histoire vraie”, Centurion, tr. 276-277).
Thực tế mà nói, biến cố ấy có một tầm mức mà những người chứng kiến không thể lĩnh hội hết mọi chiều kích. Sau này các tín hữu sẽ không chỉ xem đó là kỷ niệm việc hoá bánh và cá ra nhiều mà thôi. Tất cả mọi chiều kích của ơn cứu độ Đức Giê-su Ki-tô mang đến cho toàn thể nhân loại, được diễn tả qua phép lạ này. Người là Mô-sê mới. Cũng như ông Mô-sê, Người đã dẫn Ít-ra-en, từ bên kia biển, đi qua sa mạc, để tìm Đất Hứa. Như ông Mô-sê, sau lễ mừng Vượt Qua đầu tiên đã ban bố Lề Luật cho dân, thì ở đây, dân chúng cũng đã được nghe Người loan báo Luật mới của Nước Trời. Dân chúng đông đảo. Thánh Mát-thêu nói rõ là bốn hoặc năm ngàn người, không kể đàn bà và con trẻ. Đức Giê-su đã chia họ thành từng nhóm năm mươi hoặc một trăm cũng như ông Mô-sê xưa đã tổ chức nhóm nô lệ chạy trốn này thành một dân tộc chính cống.
Xưa, để nuôi dân Ít-ra-en, Thiên Chúa cho họ man-na mỗi ngày. Cũng thế, để nuôi những kẻ theo Người, Đức Giê-su hoá bánh ra nhiều. Nhưng bánh này không phải chỉ là đồ ăn nuôi xác mà thôi, Đức Giê-su còn loan báo bánh Thánh Thể mà Người sẽ phân phát cho các môn đệ của Người chiều hôm trước ngày chịu chết và là bánh các môn đệ đến phiên mình cũng sẽ phân phát cho các tín hữu trong các cộng đồng tụ họp lại nhân danh Người. Vì thế, hình ảnh chàng trẻ tuổi làm phép lạ sẽ mờ nhạt đi sau con người Đấng Cứu Thế, Đấng mà trong bữa ăn cuối cùng đã phán : “Đây là Mình Thầy, hiến dâng vì anh em.” Không thể gợi nhớ lại cảnh tượng xảy ra ở ven Biển Hồ mà lại không nghĩ đến cảnh ở nhà Tiệc Ly. Buổi chiều hôm đó, Nhóm Mười Hai là tất cả Giáo Hội non trẻ. Đám đông hưởng phép lạ lúc ấy há chẳng phải là hình ảnh loan báo Ít-ra-en mới mà Thiên Chúa ban cho dư đầy của cải Nước Trời sao ? Thì sách Xuất hành cũng đã tường thuật rồi đó : chiều hôm trước ngày Sa-bát, Thiên Chúa đã ban cho dân Người khẩu phần man-na gấp đôi, để họ giữ lại cho ngày hôm sau, vì ngày hôm đó không có man-na rơi xuống. Đức Giê-su cũng vậy, Người đã không đành chỉ làm dịu cơn đói, mà còn ban cho họ lương thực dự trữ để tiếp tục con đường. Quả thật, sau khi dân chúng ăn no nê, các môn đệ thu lại các mẩu bánh thừa được mười hai thúng, theo thánh Mát-thêu (con số biểu tượng Giáo Hội). Chúa Giê-su quả thật làm no đầy những kẻ thuộc về Người.
Nhờ việc sử dụng bài thường thuật về việc ra khỏi Ai-cập, và hơn nữa, bài nói về việc Chúa lập bí tích Thánh Thể mà biến cố hoá bánh ra nhiều được kể lại trong các Tin Mừng có được một tầm mức biểu tượng nói lên rất nhiều điều, biểu tượng ấy đã nuôi dưỡng việc rao giảng của Giáo Hội.
2. “Giáo Hội không thể là Giáo Hội mà không chia sẻ tình yêu của Chúa cho mọi người”
(Mgr. L. Daloz, trong “Le Règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer, tr. 219-220).
Giáo Hội có sứ mạng biểu lộ và làm cho người ta chia sẻ cho mọi người tình yêu thương và lòng nhân ái của Thiên Chúa. Điều đó không chỉ giới hạn trong nội bộ của chính Giáo Hội, mà còn vì Giáo Hội có liên quan với tất cả nhân loại. Giáo Hội chỉ có thể là một căn nhà mở ra tứ phía, đón gió muôn phương. Các tín hữu là những người sống liên đới với đồng bào của mình, với những người sống cùng thời với mình, nên các tín hữu ấy chia sẻ những vấn đề, những niềm vui và những nỗ lực của họ. Đức Giê-su luôn luôn tiếp đón đám đông là một mẫu gương luôn luôn hiện thực đối với ta. Ở mọi thời đại, các tín hữu đã dấn thân không biết mệt mỏi để phục vụ con người ; họ phục vụ cách nhưng không, không đòi hỏi được đền đáp, không bận tâm về vấn đề chủng tộc hay tôn giáo. Thời nay, nhờ những phương tiện thông tin đại chúng, các nhu cầu của con người được truyền đi mau lẹ và được toàn cầu biết đến, thì Giáo Hội nhất thiết phải quan tâm đến mọi nỗi thống khổ của con người, mọi tiếng kêu gọi có tính nhân đạo. Giáo Hội không thể sống khép kín, chỉ biết lo lắng cho những phần tử của mình. Trong mọi lãnh vực thăng tiến nhân loại, bênh vực quyền con người, Giáo Hội phải là người có mặt. Giáo Hội không thể là chính mình, nếu không quảng đại chia sẻ tình yêu của Chúa cho dân chúng mà Người luôn luôn quan tâm.
