|
Đáp ca : Tv 85,5-6.9-10.15-16a (Đ. c.5a) |
A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Kn 12,13.16-19
Người có tội được Chúa ban ơn sám hối.
Bài trích sách Khôn ngoan.
13 Lạy Thiên Chúa,
ngoài Ngài ra, chẳng còn thần nào khác
để Ngài phải chứng tỏ rằng
các phán quyết của Ngài không bất công.
16 Chính do sức mạnh của Chúa
mà Chúa hành động công minh,
và vì Chúa làm bá chủ vạn vật,
nên Chúa nương tay với muôn loài.
17 Khi không có ai tin rằng Chúa nắm trọn quyền năng,
thì Ngài tỏ sức mạnh ;
còn ai đã biết mà vẫn to gan, thì Ngài trị tội.
18 Nhưng Chúa xử khoan hồng
vì Ngài làm chủ được sức mạnh.
Ngài lấy lượng từ bi cao cả mà cai quản chúng con,
nhưng có thể sử dụng quyền năng
bất cứ khi nào Ngài muốn.
19 Làm như thế Chúa đã dạy dân rằng :
người công chính phải có lòng nhân ái.
Ngài đã cho con cái niềm hy vọng tràn trề
là người có tội được Ngài ban ơn sám hối.
Đó là lời Chúa.
Đáp ca : Tv 85,5-6.9-10.15-16a (Đ. c.5a)
Đ. Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng.
5 Lạy Chúa, Ngài nhân hậu khoan hồng,
giàu tình thương với mọi kẻ kêu xin ;
6 lạy Chúa, xin lắng nghe lời con cầu khẩn,
tiếng con van nài, xin để ý lưu tâm. Đ.
9 Lạy Chúa, muôn dân chính tay Ngài tạo dựng
sẽ về phủ phục trước Thánh Nhan,
và tôn vinh danh Ngài.
10 Vì Ngài thật cao cả, và làm nên những việc lạ lùng ;
chỉ một mình Ngài là Thiên Chúa. Đ.
15 Phần Ngài, muôn lạy Chúa,
Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi,
Ngài chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín.
16a Xin đoái nhìn và xót thương con. Đ.
Bài đọc 2 : Rm 8,26-27
Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả.
Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.
26 Thưa anh em, có Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải ; nhưng chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta, bằng những tiếng rên siết khôn tả. 27 Và Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm can, biết Thần Khí muốn nói gì, vì Thần Khí cầu thay nguyện giúp cho dân thánh theo đúng ý Thiên Chúa.
Đó là lời Chúa.
Tung hô Tin Mừng : x. Mt 11,25
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã mặc khải mầu nhiệm Nước Trời cho những người bé mọn. Ha-lê-lui-a.
Tin mừng: Mt 13,24-43
Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
24 Khi ấy, Đức Giê-su trình bày cho dân chúng nghe dụ ngôn sau đây : “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. 25 Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. 26 Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. 27 Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng : ‘Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ?’ 28 Ông đáp : ‘Kẻ thù đã làm đó !’ Đầy tớ nói : ‘Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không ?’ 29 Ông đáp : ‘Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. 30 Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt : Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.’”
31 Đức Giê-su còn trình bày cho họ nghe một dụ ngôn khác. Người nói : “Nước Trời cũng giống như chuyện hạt cải người nọ lấy gieo trong ruộng mình. 32 Tuy nó là loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống, nhưng khi lớn lên, thì lại là thứ rau lớn nhất ; nó trở thành cây, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được.”
33 Người còn kể cho họ một dụ ngôn khác : “Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men.”
34 Tất cả các điều ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói với đám đông ; và Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn, 35 hầu ứng nghiệm lời ngôn sứ đã nói : Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa.
36 Bấy giờ, Đức Giê-su bỏ đám đông mà về nhà. Các môn đệ lại gần Người và thưa rằng : “Xin Thầy giải nghĩa dụ ngôn cỏ lùng trong ruộng cho chúng con nghe.” 37 Người đáp : “Kẻ gieo hạt giống tốt là Con Người. 38 Ruộng là thế gian. Hạt giống tốt, đó là con cái Nước Trời. Cỏ lùng là con cái Ác Thần. 39 Kẻ thù đã gieo cỏ lùng là quỷ dữ. Mùa gặt là ngày tận thế. Thợ gặt là các thiên sứ. 40 Vậy, như người ta gom cỏ lùng rồi lấy lửa đốt đi thế nào, thì đến ngày tận thế cũng sẽ xảy ra như vậy. 41 Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người, 42 rồi quăng chúng vào lò lửa ; ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng. 43 Bấy giờ người công chính sẽ chói lọi như mặt trời, trong Nước của Cha họ. Ai có tai thì nghe.”
Đó là lời Chúa.
Hoặc : Bài đọc ngắn : Mt 13,24-30
Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt.
Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
24 Khi ấy, Đức Giê-su trình bày cho dân chúng nghe dụ ngôn sau đây : “Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. 25 Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. 26 Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. 27 Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng : ‘Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao ? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy ?’ 28 Ông đáp : ‘Kẻ thù đã làm đó !’ Đầy tớ nói : ‘Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không ?’ 29 Ông đáp : ‘Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. 30 Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt : Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa, thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi.’”
Đó là lời Chúa.
B. CHIA SẺ LỜI CHÚA
Bài đọc 1 : Kn 12,13.16-19
1. Bài đọc 1 hôm nay trích từ sách Khôn ngoan, cũng gọi là sách “Khôn ngoan của vua Sa-lô-môn”. Nhưng vua Sa-lô-môn không hề là tác giả của quyển sách này, vì sách này được viết 900 năm sau khi vua Sa-lô-môn băng hà, nghĩa là khoảng 50 năm trước Công nguyên, trước Chúa Ki-tô giáng sinh. Đây chỉ là kỹ thuật văn chương xưa : lấy tên một người nào đó, theo truyền thống được coi là bậc khôn ngoan số một ở Ít-ra-en, để đặt tên cho tác phẩm nói về Đức Khôn Ngoan.
Tác giả là một người Do-thái am hiểu sâu xa Kinh Thánh, tin vào Thiên Chúa của ông, hãnh diện vì được thuộc về “dân thánh”, “dòng giống vẹn toàn”. Nhưng tác giả lại là một người Do-thái am hiểu văn hoá Hy-lạp, và sống ở A-lê-xan-ri-a, bên Ai-cập, nơi có một cộng đoàn kiều dân Do-thái đông đảo.
Tác giả viết tác phẩm này cho người Do-thái, đồng bào của ông. Họ đang sống giữa một thành phố văn minh. Nhưng vẻ hào nhoáng của nếp sống văn minh A-lê-xan-ri-a đã khiến cho lòng trung thành với Thiên Chúa và lề luật của cha ông bị lung lay : những trường phái triết học nổi tiếng, các khoa học phát triển, các tôn giáo thần bí, khoa thiên văn, khoa học bí truyền mời mọc, và có thể cả những việc thờ cúng dân gian cũng lôi cuốn họ nữa.
2. Bài đọc 1 chúng ta vừa nghe trích từ phần thứ ba của sách Khôn ngoan (Kn 11,4–19,22), một bản văn được soạn thảo bằng tiếng Hy-lạp vào khoảng năm 50 trước Chúa Ki-tô giáng sinh. Nhưng Đức Khôn Ngoan vẫn là một cái gì bí nhiệm của mặc khải thần linh, đến nỗi vua Sa-lô-môn mô tả Đức Khôn Ngoan như là hiền thê lý tưởng (Kn 8–9) mà một vài nhà chú giải gọi là “Bà khôn ngoan”. Phần này là một suy niệm dài về cuộc Xuất hành, đưa ra nhiều so sánh và đối chọi giữa số phận của dân Ít-ra-en và người Ai-cập.
* Bắt chước sự kiên nhẫn của Thiên Chúa
Trong bài đọc 1 hôm nay, sự suy niệm không chỉ giới hạn trong dân Do-thái mà có phạm vi rộng hơn, đó là toàn thể vũ trụ, vì toàn bộ quyển sách được trình bày như một bài diễn văn long trọng gửi đến các vua chúa trần gian : “Hãy yêu đức công chính, hỡi những người cai trị trần gian” (Kn 1,1). Bậc vua chúa phải tìm kiếm Đức Khôn Ngoan (6,1). Đây thật sự là một bài suy niệm về ý nghĩa của lịch sử nhân loại.
Nếu Phụng vụ mời gọi ta quan tâm đến sự kiên nhẫn của Thiên Chúa, là nhằm đào sâu mầu nhiệm về tiến trình chậm chạp của lịch sử nhân loại : Tại sao Thiên Chúa chậm chiến thắng các kẻ thù của mình : các ngẫu tượng, những kẻ vô đạo đức ? Khi làm chậm hơn cuộc chiến thắng, Thiên Chúa duy nhất là Đấng kiên nhẫn, khoan dung, nhân hậu. Người cho con cái niềm hy vọng tràn trề là người có tội được Người ban ơn sám hối. Sách Khôn ngoan dạy ta nghệ thuật sống, hành động theo ý Chúa : là người công chính phải có lòng nhân ái.
Đáp ca : Tv 85
1. Thánh vịnh 85 là một lời khẩn nài với những từ ngữ rất đơn sơ. Tuy nhiên, thánh vịnh này còn là một bài tụng ca, ca ngợi tính tuyệt đối của Thiên Chúa, tình yêu tín trung của Thiên Chúa. Nhưng ai là kẻ khẩn cầu và ca tụng ? Trước tiên đó là một người tín thành, một người tôi trung của Thiên Chúa, là người hiểu biết Thiên Chúa và quy hướng trọn vẹn về Người trong niềm tin phó thác. Đó cũng là một người nghèo, một kẻ đáng thương, cầu xin từ tình trạng khốn khổ của mình : túng quẫn, bị kẻ kiêu căng và người quyền thế áp bức. Đây chính là người cầu xin cho được giải thoát khỏi mọi sự dữ, khỏi âm phủ và tội lỗi. Người ấy ngỏ lời với vị Thiên Chúa giàu tình thương và lòng thành tín.
Bài đọc 2 : Rm 8,26-27
1. Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải. Thánh Phao-lô chỉ xác nhận một thực tại hoàn toàn dễ hiểu. Chúng ta, với thân phận yếu hèn của mình, cảm thấy bỡ ngỡ khi gặp gỡ với Đấng hoàn toàn khác, như trường hợp của ngôn sứ I-sai-a : “Khốn thân tôi, tôi chết mất ! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh !” (Is 6,5). Chúng ta thường cảm thấy mình bất xứng và nhỏ bé đến độ nghi ngờ không biết Chúa có lắng nghe ta cầu khẩn không ? “Con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm ?” (Tv 8,5). May mắn thay, thánh Phao-lô cho ta biết : “Thần Khí giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu hèn.” Do đó, chúng ta không có bất cứ một lý do nào để nản lòng cả. Đàng khác, ở phía trước của bức thư này, ta đọc thấy : “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” Thánh Phao-lô còn nói thêm : “Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên : ‘Áp-ba ! Cha ơi !’” (Rm 8,15). Đó chính là lời hứa Chúa Giê-su hứa cho các môn đệ của Người : “Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại, và loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến” (Ga 16,13).
Thánh Phao-lô cho ta biết Chúa Thánh Thần hiểu biết những bí nhiệm của Thiên Chúa : “Còn chúng ta, chúng ta đã được Thiên Chúa mặc khải cho, nhờ Thần Khí. Thật vậy, Thần Khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. Vậy ai trong loài người biết được những gì nơi con người, nếu không phải là thần trí của con người trong con người ? Cũng thế, không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa. Phần chúng ta, chúng ta đã không lãnh nhận thần trí của thế gian, nhưng là Thần Khí phát xuất từ Thiên Chúa, để nhận biết những ân huệ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta” (1 Cr 2,10-12), nghĩa là sự hiệp thông đặc biệt chúng ta có thể có được nếu chúng ta để cho Thần Khí hướng dẫn mình đến những gì tự chúng ta có thể hiểu được. “Nhưng khi người ta quay lại với Chúa, thì tấm màn mới được cất đi. Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do. Tất cả chúng ta, mặt không màn che, chúng ta phản chiếu vinh quanh của Chúa như một bức gương ; như vậy, chúng ta được biến đổi nên giống cũng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí” (2 Cr 3,16-18).
Chính Chúa Giê-su cũng mặc khải cho chúng ta niềm vui mà việc chiêm ngắm này đem lại. Thánh Lu-ca viết về việc bảy mươi hai môn đệ trở về sau khi thi hành sứ vụ : “Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giê-su hớn hở vui mừng và nói : ‘Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn’” (Lc 10,21). Vì thế, chúng ta không cần phải than thở về thân phận nhỏ bé của chúng ta trước Thiên Chúa, vì có Thần Khí Chúa nâng đỡ. Thánh Phao-lô viết ở cuối thư Rô-ma : “Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an nhờ đức tin, để nhờ quyền năng của Thánh Thần, anh em được tràn trề hy vọng” (Rm 15,13).
Bài Tin Mừng : Mt 13,24-43
1. Chúng ta rút ra ít nhất hai bài học từ dụ ngôn cỏ lùng. Bài học đầu tiên là câu trả lời cho thắc mắc : Sự dữ bởi đâu mà có ? Thiên Chúa không tạo thành sự dữ, giống như ông chủ mùa gặt không hề gieo cỏ lùng vào trong thửa ruộng. Câu chuyện Tạo Dựng trong sách Sáng thế nhấn mạnh điều đó, trong khi các tôn giáo khác cho rằng Thần linh đã tạo nên cái tốt lẫn cái xấu, tác giả linh hứng xác nhận rằng tất cả những gì Thiên Chúa tạo dựng đều là tốt đẹp (St 1,31). Sau này, sách Gióp đề cập rất dài về vấn đề đau khổ, cấm lên án Thiên Chúa là nguồn gốc của sự dữ ; ông Gióp được mời gọi đón nhận đau khổ vì không hiểu hết mọi sự và đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa. Chúa Giê-su cũng quả quyết người chủ mùa gặt chỉ gieo hạt giống tốt.
Bài học thứ hai : Chính ông chủ mùa gặt sẽ chọn lựa lúa tốt. Chính Thiên Chúa là Đấng sẽ xoá sự dữ : “Bạn là ai mà xét đoán người nhà của kẻ khác ? Nó đứng hay nó ngã, đó là việc của chủ nó. Nhưng nó sẽ đứng, vì Chúa có khả năng làm cho nó đứng” (Rm 14,4). Chúa Giê-su mời gọi ta chấp nhận thân phận thụ tạo của chúng ta là thường xuyên có cái tốt lẫn cái xấu trong con người của chúng ta. Ở đây có thể Người nhắm đến khuynh hướng theo chủ nghĩa tinh hoa mà vài cộng đoàn theo đuổi. Chẳng hạn vài người Pha-ri-sêu (Biệt phái) khinh dể những người thu thuế, những người không tuân giữ triệt để luật Mô-sê và các điều răn ; đàng khác những người nhiệt thành thỉnh thoảng gây chiến với những người họ cho là nguội lạnh (chúng ta biết đó là nguồn gốc của cuộc chiến năm 70 sau Công nguyên) mà thánh Mát-thêu là tác giả duy nhất kể lại dụ ngôn này. Từ đó ta có thể kết luận rằng cộng đoàn mà thánh Mát-thêu muốn viết Tin Mừng cho họ đặc biệt cần nghe bài học này.
Tuy nhiên vào một ngày nào đó, ông chủ mùa gặt sẽ cho biết đã đến lúc phải chọn lựa. Chúa Giê-su, trong lời giải thích ý nghĩa dụ ngôn cho các môn đệ, lấy lại thể văn và hình ảnh truyền thống của Kinh Thánh về chủ đề phán xét, luôn luôn chia làm hai bên : một bên là những người tốt, một bên là những kẻ xấu, nhưng đừng có ai lầm : không ai dám tự hào là mình hoàn toàn tốt, cũng không ai bị kết án là hoàn toàn xấu. Ranh giới phân cách người tốt và kẻ xấu trong thực tế là ở trong chính mỗi người chúng ta. Khi ngôn sứ Ma-la-khi phân biệt những người khiêm nhượng với những kẻ ngạo mạn. “Vì này Ngày ấy đến, đốt cháy như hoả lò. Mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm điều gian ác sẽ như rơm rạ. Ngày ấy đến sẽ thiêu rụi chúng, không còn chừa lại cho chúng một rễ hay cành nào” (Ml 3,19), khi các thánh vịnh nói về những người công chính và kẻ dữ : “Phúc thay người chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày. Người ấy tựa cây trồng bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh, cành lá chẳng khi nào tàn tạ. Người như thế làm chi cũng sẽ thành. Ác nhân đâu được vậy : chúng khác nào vỏ trấu gió thổi bay. Nên ngày xử án, bọn ác nhân làm sao đứng vững, quân tội lỗi đâu được hợp đoàn với chính nhân ! Vì Chúa hằng che chở nẻo đường người công chính, còn đường lối ác nhân đưa tới chỗ diệt vong” (Tv 1), khi Chúa Giê-su phân biệt hạt giống tốt với cỏ lùng, tất cả chúng đều có liên quan : tất cả chúng ta vừa khiêm tốn nhưng cũng vừa kiêu ngạo, vừa công chính nhưng cũng vừa bất chính, vừa là hạt giống tốt nhưng cũng vừa là cỏ lùng, chúng ta sẽ tìm lại chính xác chính sự đối chọi này trong dụ ngôn về ngày phán xét chung (Mt 25,31-46).
Tuy nhiên, làm thế nào để có thể hiểu một cách cụ thể và dung hoà phần phạt dành cho kẻ dữ và phần thưởng dành cho người lành nếu mỗi người chúng ta đều có cả hai khuynh hướng tốt xấu nơi chính bản thân mình ? Chính ngôn sứ Ma-la-khi đã cho chúng ta câu trả lời : Mặt trời công chính làm cho những gì là tốt đẹp sẽ nảy mầm, còn những gì xấu sẽ biến mất trong nháy mắt. Thánh vịnh 1 diễn tả cùng một ý tưởng nhưng bằng một hình ảnh khác : hạt giống tốt sẽ cho một mùa bội thu, còn cỏ lùng sẽ bị gió cuốn đi. Chúa Giê-su nói ông chủ mùa gặt không cho phép nhổ cỏ lùng vì sợ làm bật rễ lúa : “Đừng, sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa !” (Mt 13,29), cũng sẽ không kết án nơi chúng ta cái tốt lẫn cái xấu đâu.
Tiếp theo dụ ngôn cỏ lùng, Chúa Giê-su thêm hai dụ ngôn rất ngắn khác : dụ ngôn “hạt cải” và “men trong bột”, hai dụ ngôn này xuất hiện như đối lại với hai dụ ngôn “người gieo giống” và “cỏ lùng” mô tả tất cả mọi trở ngại cản trở việc tăng trưởng của Nước Trời. Trái lại, hai dụ ngôn “hạt cải” và “men trong bột” nói đến sức mạnh bên trong đưa đến kết quả rực rỡ nhất : hạt cải và men trong bột sẽ bị chôn vùi và biến mất, một đàng hạt cải trở thành cây to đến nỗi chim trời đến đậu trên nó được, đàng khác khối bột sẽ dậy men. Qua đó, Chúa Giê-su mời gọi ta tin tưởng, kiên nhẫn và khiêm tốn : lưu ý đến tính mỏng giòn lúc ban đầu, sự nhỏ bé của hạt cải hay nắm bột so với vóc dáng to lớn khi thành công. Hãy kiên nhẫn : mùa gặt rồi sẽ tới.
Anh chị em thân mến, chúng ta hãy noi gương Chúa Giê-su mà biết kiên nhẫn khi làm việc bổn phận của mình.
Cầu nguyện :
Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã gieo vào lòng thế giới hạt giống là Lời Chúa, xin nhìn đến mùa gặt của Giáo Hội, và thiêu huỷ trong ngọn lửa tình yêu của Chúa mọi thứ cỏ lùng của cuộc đời chúng con. Xin ban cho chúng con Thần Khí và bình an, và hướng dẫn chúng con đến sự hiệp thông trọn vẹn.
Tự vấn :
Trong đời sống đức tin thường ngày, anh chị em đã kiên nhẫn khi xử lý mọi công việc chưa ?
C. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Chưa nhẫn nại đợi chờ”
(A. Nocent, trong “Célébrer Jésus Christ”, số 6, NXB Đại học, 1977, tr. 99-100).
Sự nhẫn nại đợi chờ này thật là rõ nét trong dụ ngôn cỏ lùng, tâm điểm của Tin Mừng hôm nay.
Cánh đồng được gieo toàn hạt giống tốt. Con người đã gieo vào trần thế những con cái Nước Trời. Ban đêm kẻ thù xuất hiện, Xa-tan tới gieo cỏ lùng. Và thế là có cảnh lẫn lộn trên trần gian, người lành kẻ dữ cùng chung nhau một mảnh đất. Nếu chỉ thoáng nhìn, đôi khi khó mà không phê phán Thiên Chúa. Làm sao Chúa lại để điều ác phát triển như vậy ? Những người xấu đôi khi xem ra lại được ưu đãi trong đời sống vật chất hơn những kẻ lành. Đó là vấn đề thường nhật mà không phải chỉ riêng cho những người chân chất. Thiên Chúa để cho như vậy. Và quả thật Thiên Chúa muốn để cho mọc lên hạt giống Người đã gieo ; đó là người con Chúa đã tuyển chọn, những người Chúa đã ban ơn thánh tẩy, những người mà Thần Khí đã biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Con của Người. Chúa để cho họ phát triển, cùng lúc để cho cỏ lùng Người đã không gieo và không thể gieo lớn lên. Nhưng Người kiên nhẫn đợi chờ. Thế giới phải đi con đường của mình, và Thiên Chúa cứ để cho họ đi. Người đợi cho đến mùa thu hoạch. Cuộc đời trần gian cứ trà trộn như vậy, nên tốt hơn ta đừng can thiệp quá sớm kẻo làm chết đi cái gì còn đang sống. Nhưng Nước Chúa vẫn không ngừng tiến triển như hạt cải, như bột lên men. Chúa đợi chờ cho mọi cái đạt tới độ chín muồi.
Thánh Mát-thêu khi viết điều này không phải là ngài không biết đến tình trạng của cộng đoàn mà ngài có trách nhiệm. Ngài thấy cộng đoàn ấy lớn lên bước đầu từ hạt cải nhỏ tí ti, rồi trở thành cây lớn. Ngài hiểu biết rằng men đang nằm trong bột, nhưng ngài cũng không thể không biết rằng cỏ lùng lẫn lộn với hạt giống. Chắc chắn điều đó tạo nên vấn đề cho các tín hữu của ngài, cũng như ngày nay vậy và vấn đề không chỉ đơn giản là trấn an những nỗi lo âu và hâm nóng lòng tin tưởng vào Chúa Quan Phòng. Chứng tỏ cho thấy rằng Nước Chúa vẫn có sức năng động, mặc dầu có những kẻ thù, mặc dầu có những khiếm khuyết và đồng thời giúp cho cộng đoàn biết suy nghĩ về trách nhiệm của mình đang khi chờ đợi ngày hội ngộ, đấy mới là mục tiêu mà thánh nhân nhắm tới.
2. “Hạt giống tốt và cỏ lùng lẫn lộn xà ngầu”
(Mgr. L. Daloz trong “Le Règne des cieux s’est approché”, NXB Desclée de Brouwer, tr. 200-201).
Dụ ngôn cỏ lùng cũng là lời mời gọi ta biết nhìn những con người và các biến cố trong tất cả sự thật, trong sự phức tạp của con người và biến cố. Khi giải thích dụ ngôn này, Đức Giê-su đối chọi hạt giống là những phần tử của Nước Chúa, với cỏ lùng là những kẻ thuộc về Ác Thần. Sự phân biệt xem ra đơn giản. Nhưng phân loại những “người lành”, “kẻ dữ” thật ra có quá dễ dàng như thế không ? Chúa Giê-su phán rằng sẽ chỉ đến mùa gặt thì việc phân biệt lựa chọn (nghĩa là đến ngày tận thế) mới thực hiện được : “Con Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người.” Phải, việc đó sẽ được thực hiện, nhưng chỉ vào ngày tận thế ! Trong thời gian chờ đợi này, hạt giống và cỏ lùng lẫn lộn tứ tung. Ta cứ nghiệm mà coi : Trong những tình huống tuyệt vọng nhất, nơi những con người xem như tồi tệ nhất, vẫn còn lập loè vài tia sáng. Hơn nữa, trong tình liên đới giữa con người với nhau, những người bị hãm hại và bị ức hiếp không để mình chịu thua sự độc ác của những kẻ hành hạ mình, mà lại trở thành con đường hộ phù và cứu độ cho những kẻ ấy. Đức Giê-su, người đứng đầu các kẻ công chính khi hấp hối trên thập giá đã cầu nguyện : “Lạy Cha, xin tha cho chúng … !” Nét đẹp của con người, vẻ cao cả của một tấm lòng, đức tận tuỵ hy sinh của tình yêu thương cho đến tận cùng cũng biểu lộ cả trong những tình huống tội lỗi hỗn loạn hoàn toàn. Đôi khi chính ở đó mà những vẻ đẹp kia lại tìm được nét diễn tả thâm thuý nhất … vì sự ác làm nảy sinh những cử chỉ yêu thương và anh hùng bất ngờ. Phải là phép lạ khi hình ảnh của Thiên Chúa thường bị biến dạng mà vẫn ẩn vùi trong thâm sâu của bản thân mỗi người ; phải là phép lạ khi tình yêu vẫn le lói như một tia sáng yếu ớt và kiên cường ngay ở nơi xem ra chỉ có bóng tối ; hạt giống nhỏ xíu của Nước Trời, “loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống” mà người ta tưởng chừng nó phải mất hút, thế mà lại xuyên qua được đá cứng nhất nhờ sức mạnh của nhựa cây ! Hạt giống rất quý giá đó mà Thiên Chúa vốn nhẫn nại không cho phép người ta tạo nguy cơ loại bỏ nó, chỉ vì vội muốn nhổ ngay đám cỏ dại : “Sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa …” Ta phải học cho biết hy vọng cả khi phải nguyện vọng như thế nào ! Phải có lòng trắc ẩn và xót thương biết bao để biết tôn trọng tình trạng “hổ lốn” mà ta vốn thích phân loại cho rõ rệt ! Ta phải học đức nhẫn nại của Chúa, một sự nhẫn nại không mệt mỏi cho đến tận thế, học thương yêu con người, hết mọi người để cho không một ai phải hư mất, học lòng thương yêu của Chúa Con, Đấng đã mặc lấy xác phàm để các anh em nhân loại của Người không phải là những nạn nhân của chính lòng độc ác của họ. Đức nhẫn nại của Cha đâu có biết đến giới hạn ? “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt …” Con người thật là quý giá, nên phải coi chừng đừng để mất đi một mảnh vụn nào hết ! Thiên Chúa không hề mệt mỏi khi phải kiên nhẫn “cho đến ngày tận thế”.
