A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Gr 20,10-13

Đáp ca : Tv 68,8-10.14 và 17.33-35 (Đ. c.14c)

Bài đọc 2 : Rm 5,12-15

Tung hô Tin Mừng : x. Ga 15,26b.27a

Tin Mừng : Mt 10,26-33

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Trong bàn tay Thiên Chúa

2. Im lặng hay nói ?


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Gr 20,10-13

Chúa đã giải thoát kẻ cơ bần khỏi tay người hung ác.

Bài trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a.
10 Ngôn sứ Giê-rê-mi-a nói :
Lạy Đức Chúa, con nghe biết bao người vu cáo : “Kìa, lão ‘Tứ phía kinh hoàng !’,
hãy tố cáo, hãy tố cáo nó đi !” Tất cả những bạn bè thân thích đều rình xem con vấp ngã.
Họ nói : “Biết đâu nó chẳng mắc lừa,
rồi chúng ta sẽ thắng và trả thù được nó !”
11 Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng.
Vì thế những kẻ từng hại con
sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con. Chúng sẽ phải thất bại, và nhục nhã ê chề :
đó là một nỗi nhục muôn đời không thể quên.
12 Lạy Đức Chúa các đạo binh, Đấng dò xét người công chính, Đấng thấu suốt tâm can,
con sẽ thấy Ngài trị tội chúng đích đáng, vì con đã giãi bày cơ sự cùng Ngài.
13 Hãy ca tụng Đức Chúa, hãy ngợi khen Đức Chúa, vì Người đã giải thoát kẻ cơ bần
khỏi tay phường hung bạo.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 68,8-10.14 và 17.33-35 (Đ. c.14c)

Đ. Lạy Chúa, xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày.

8 Âu cũng vì Ngài, mà con bị người đời thoá mạ,
chịu nhuốc nhơ phủ lấp mặt mày.
9 Anh em nhà kể con như người dưng nước lã,
hàng máu mủ xem con bằng khách lạ mà thôi.
10 Vì nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, mà con phải thiệt thân.
Lời kẻ thoá mạ Ngài, này chính con hứng chịu. Đ.

14 Lạy Chúa, phần con xin dâng Ngài lời nguyện,
lạy Chúa Trời, đây giờ phút thi ân.
Xin đáp lại, vì ơn cả nghĩa dày,
vì Chúa vẫn trung thành ban ơn cứu độ.
17 Lạy Chúa, xin lấy lòng nhân hậu mà đáp lại lời con ;
xin mở lượng hải hà mà đoái thương nhìn đến. Đ.

33 Những ai nghèo hèn, xem đấy mà vui lên,
người tìm Thiên Chúa, hãy nức lòng phấn khởi.
34 Vì Chúa nhậm lời kẻ nghèo khó,
chẳng coi khinh thân hữu bị giam cầm.
35 Ca tụng Chúa đi, hỡi trời cao đất thấp,
hỡi biển sâu cùng hải vật muôn vàn! Đ.

 

Bài đọc 2 : Rm 5,12-15

Sự sa ngã của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

12 Thưa anh em, vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. 13 Trước khi có Lề Luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội. 14 Thế mà, từ thời A-đam đến thời Mô-sê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như A-đam đã phạm. A-đam là hình ảnh Đấng sẽ tới.

15 Nhưng sự sa ngã của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin Mừng : x. Ga 15,26b.27a

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Thần Khí sự thật sẽ làm chứng về Thầy. Cả anh em nữa, anh em cũng làm chứng về Thầy.” Ha-lê-lui-a.

 

Tin Mừng : Mt 10,26-33

Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

26 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Anh em đừng sợ người ta. Thật ra, không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết. 27 Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày ; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng.

28 “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục. 29 Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không ? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. 30 Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. 31 Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.

32 “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. 33 Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

* Chúa nhật hôm nay, Phụng vụ đề nghị cho chúng ta một bài Tin Mừng kèm theo nhiều cuộc bách hại, một bài Tin Mừng khuyến khích chúng ta trung thành và kiên trì vượt qua mọi thử thách. Đức Giê-su nói với các môn đệ : “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.” Cuộc tử đạo giết chết thân xác nhưng đưa linh hồn vào cõi trường sinh, trong khi tội lỗi giết chết linh hồn.

Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe được chuẩn bị bằng một đoạn trích sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a cho thấy lòng can đảm của ông. Vị ngôn sứ là nạn nhân của một âm mưu : “Hãy tố cáo nó đi !” Nhưng ông luôn tỏ ra dũng cảm vì có Chúa ở cùng ông để bảo vệ ông : “Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng.” Ngôn sứ Giê-rê-mi-a biết rằng kẻ bách hại ông không thể có quyền năng hơn Thiên Chúa được : “Những kẻ từng bách hại con, sẽ thất điên bát đảo, sẽ không thắng nổi con. Chúng sẽ phải thất bại và nhục nhã ê chề, đó là một nỗi nhục muôn đời không thể quên.” Vị ngôn sứ báo cho biết là ông sẽ không bị chết đâu. Các vị tử đạo đã can đảm vượt qua cái chết với tinh thần của kẻ chiến thắng : các ngài biết rằng cái chết thể lý là dịp biểu lộ chiến thắng thần linh. Cái chết của Đức Giê-su là dịp biểu lộ lớn lao nhất sự chiến thắng thần linh, vì khi đối diện với tình yêu cái chết của mình, Người đã chiến thắng tử thần và đem lại một ý nghĩa mới : cái chết không phải là một sự cắt đứt, một sự thất bại nhưng, nhờ sức mạnh của tình yêu, cái chết đã trở nên dịp để thiết lập Giao ước mới. Trong bí tích Thánh Thể, chúng ta tưởng niệm việc thiết lập Giao ước này qua cái chết của Đức Giê-su. Trong Bữa Tiệc Ly, Người đã nói : “Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28). Cái chết của Đức Giê-su là một chiến thắng sự chết vào ngày Phục Sinh. “Thật vậy, chúng ta biết rằng : một khi Đức Ki-tô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người” (Rm 6,9). Các vị tử đạo hiểu rằng khi chấp nhận cái chết, các ngài tham dự vào cuộc Thương Khó của Đức Giê-su để rồi được sống lại với Người. Đức Giê-su nói với các Ki-tô hữu : “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.” Đức Giê-su hướng dẫn chúng ta phải sợ ai hơn : phải sợ Thiên Chúa hơn sợ người phàm. Sự kính sợ Thiên Chúa luôn đồng hành với các vị tử đạo. Thánh Giút-ti-nô, khi bị xử án và bị đe doạ sẽ chịu những hành hạ đau đớn hơn, quả quyết rằng ngài không hề sợ cực hình đâu mà chỉ sợ một mình Thiên Chúa thôi. Chính lòng kính sợ Thiên Chúa, ý thức sâu sắc về sự uy nghi và thánh thiện của Người đem lại sức mạnh cho các vị tử đạo. Ngày hôm nay, có thể chúng ta không có lòng kính sợ Thiên Chúa đủ mạnh, chúng ta cũng không tôn kính uy quyền và sự thánh thiện của Người. Chúng ta cần tái lập lại những gì không còn như xưa vì đó là sức mạnh cần thiết giúp ta vượt qua mọi cơn cám dỗ. Lòng kính sợ Thiên Chúa giúp ta hiểu rằng Người là Đấng cao cả và thánh thiện và Người không bao giờ chấp nhận sự bất trung, bất nghĩa của chúng ta. Khi cuộc bách hại xảy ra, người ta bị cám dỗ buông xuôi tất cả. Tự nhiên thì mỗi người chúng ta bị cám dỗ muốn chạy trốn, tránh cuộc bách hại, đó là cách đơn giản nhất để tránh việc bội giáo, chối bỏ đức tin, chối Chúa. Nhưng một phản ứng như vậy giết chết tâm hồn, huỷ diệt mối liên hệ con thảo giữa ta đối với Thiên Chúa và mối liên hệ huynh đệ với Đức Ki-tô. Vì thế cách này không bao giờ được chấp nhận. Đức Giê-su nói : “Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” Lời quả quyết này đem lại cho các vị tử đạo sức mạnh to lớn giúp các ngài can đảm làm chứng niềm tin bất khuất của mình trước những cực hình, những đau khổ mà các ngài phải chịu. Mối liên hệ cá nhân với Đức Giê-su là vấn đề quan trọng nhất và phải hết lòng bảo vệ. Đức Giê-su quả quyết : “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.” Các vị tử đạo hy vọng Đức Ki-tô sẽ nói tốt về mình trước mặt Cha Người, Đấng ngự trên trời, nhờ đó các ngài không sa chước cám dỗ, không bất trung và không chối Chúa. Đức Giê-su muốn làm phát sinh trong tâm hồn các vị tử đạo sự tín nhiệm vào Người khi nhắc lại rằng các ngài không hề cô độc vì có Chúa luôn ở cùng, như trường hợp của ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã nói : “Nhưng Đức Chúa hằng ở bên con như một trang chiến sĩ oai hùng”, các vị tử đạo cần biết rằng Cha trên trời luôn chăm sóc các ngài. Đức Giê-su quả quyết : “Hai con chim sẻ chỉ bán một hào phải không ? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến sợi tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi. Vậy anh em đừng sợ, anh em còn quý hơn muôn vàn chim sẻ.” Chúng ta nên sợ hãi vì sự tín nhiệm, lòng tin tưởng vào Chúa giải thoát chúng ta khỏi mọi sợ hãi lo âu. Nếu lòng kính sợ Thiên Chúa đem lại lợi ích cho chúng ta, thì sự tin tưởng, phó thác cho Chúa còn hữu hiệu hơn bội phần. Các vị tử đạo hiểu rằng các ngài có thể trông cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa để chiến thắng trong cuộc chiến đấu này. Chiến thắng mặc dầu bị hành hạ, đau khổ và cả cái chết nữa, các ngài cũng đều chấp nhận. Với sự giúp đỡ của Thiên Chúa, các ngài biết biến cái chết của mình thành một chiến thắng của lòng trung kiên bất khuất. Quả thật, Cha trên trời không để mặc các ngài mà không giúp đỡ, những người làm chứng cho niềm tin sắt son của mình vào Thiên Chúa và vào Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô. Hiểu rõ cái giá phải trả và tầm quan trọng chúng ta có được trước mặt Thiên Chúa, Đấng luôn chăm sóc chúng ta và ban cho chúng ta sức mạnh, khiến tâm hồn chúng ta tràn ngập niềm vui.

Trong bài đọc 1, ngôn sứ Giê-rê-mi-a phó thác cuộc đời ông trong đôi bàn tay của Chúa và xin Người báo thù những kẻ đã bách hại ông : “Lạy Đức Chúa các đạo binh, Đấng dò xét người công chính, Đấng thấu suốt tâm can, con sẽ thấy Ngài trị tội chúng đích đáng, vì con đã giải bày cơ sự cùng Ngài.”

* Các vị tử đạo Ki-tô giáo không hề nói đến việc báo thù, vì các ngài theo gương Đức Giê-su, thay vì báo thù những kẻ đã đóng đinh Người trên thập giá, Người đã khẩn cầu ơn tha thứ cho họ : “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm. Rồi họ lấy áo của Người chia ra mà bắt thăm” (Lc 23,34). Đó là thái độ của các vị tử đạo Ki-tô giáo. Vị tử đạo đầu tiên là thánh Tê-pha-nô, noi gương Đức Giê-su, không yêu cầu trả thù những kẻ đã ném đá ngài : “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này. Nói thế rồi, ông an nghỉ” (Cv 7,60). Các vị tử đạo đón nhận cái chết mà không hề oán hận, nhưng tìm cách để thể hiện lòng bác ái và ước mong những kẻ bách hại mình sẽ hoán cải. Đức Giê-su đã nói : “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho những kẻ vu khống anh em” (Lc 6,28). Các vị tử đạo, theo lời dạy của Đức Giê-su, đã cầu nguyện cho những kẻ bách hại mình. Các vị tử đạo Ki-tô giáo không hề làm hại bất cứ người nào khác. Ngày hôm nay, người ta dùng từ tử đạo để chỉ những cuộc tàn sát làm chết biết bao người vô tội (cho một vài ví dụ : Những kẻ mang bom trong người kích nổ giữa đám đông chẳng hạn …).

* Các vị tử đạo là một chứng từ của niềm tin, hy vọng và tình yêu, vì các vị tử đạo từ chối phản bội đức tin của mình, và các ngài luôn trung thành với Thiên Chúa, tuyên xưng niềm tin vào Đức Ki-tô, Đấng cứu độ trần gian. Đó là chứng từ của niềm hy vọng vì các ngài luôn tin tưởng các ngài sẽ được Thiên Chúa ban cho sự sống vĩnh cửu. Đó là một chứng từ của tình yêu, vì các ngài dâng cho Chúa chính mạng sống của mình vì ích lợi của mọi người, của Giáo Hội, và cả ích lợi của những kẻ bách hại các ngài.

* Sứ điệp của phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay liên quan đến tất cả chúng ta, giải thoát và đẩy ra xa chúng ta cơn cám dỗ chối bỏ đức tin và đem lại cho chúng ta ơn can đảm để làm chứng cho Chúa khi luôn trung thành với tình yêu của Người. Điều đó biểu lộ rõ ràng trong cái chết của Đức Ki-tô là một chiến thắng của tình yêu.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con biết luôn tuyệt đối tin tưởng vào sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa giữa cảnh đời nhiều thử thách gian nan.

Tự vấn :

Khi gặp khó khăn trong cuộc sống thường ngày, chúng ta có chạy đến cùng Chúa xin Người giúp đỡ không ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Trong bàn tay Thiên Chúa

(Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s’est approché, Desclée de Brouwer).

Với môn đệ được sai đi, Đức Giê-su không hứa hẹn một đời sống dễ dãi, nhưng Người cũng không để các ông trắng tay. Người bảo đảm cho các ông có sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Người cũng trấn an các ông rằng từ nay các ông được Chúa Cha gìn giữ nên họ sẽ không lo gặp sự dữ. Chúng ta sống trong bàn tay của Thiên Chúa hằng sống, Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Loan báo Tin Mừng đâu phải là của riêng những bậc anh hùng, những con người có óc phiêu lưu mạo hiểm ! Loan báo Tin Mừng đòi có sự can đảm, có sức mạnh, nhưng không phải sự can đảm hay sức mạnh của riêng ta. Ta tìm thấy sự bảo đảm vẹn toàn ấy ở nơi Thiên Chúa. Dù bản chất ta yếu ớt, nhát sợ, ta vẫn có chỗ trong việc truyền giáo. Các Tông Đồ đã chẳng nhát sợ đó sao ? Chính Thánh Thần Thiên Chúa trong ngày lễ Hiện Xuống đã ban cho họ sức mạnh để họ ra khỏi nhà, đến với mọi người. Thánh Phao-lô tự phụ vì những yếu đuối của ngài, vì qua những yếu đuối ấy, quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện. Ta là con của Cha trên trời, của Thiên Chúa sáng tạo và giữ gìn thụ tạo của Người. Là con Thiên Chúa thì khác hẳn với chỉ là thụ tạo. “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không ? Thế mà, không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em. Thì đối với anh em cũng vậy, ngay đến tóc trên đầu anh em, Người cũng đếm cả rồi.” Ta có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Người yêu ta như cha, như mẹ ta. Vì thế Đức Giê-su luôn khuyên ta đừng sợ hãi : “Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ.”

Tuyên xưng niềm tin khi ta sống giữa những người đồng đạo, trong một cộng đoàn Ki-tô giáo thì thật dễ. Cho dù ở trong cộng đoàn, ta vẫn có tự do. Nhưng điều tối quan trọng, cực kỳ khó khăn đó là ta dám hành xử, ăn nói theo đức tin giữa một thế giới lãnh đạm, nghi kỵ hoặc thù ghét. Đức Giê-su đòi hỏi ta điều đó. Ðức Giê-su sai môn đệ để họ đi rao giảng Nước Trời cho thế gian, chứ đâu phải chỉ để họ rao giảng cho nhau. Không đủ nếu ta chỉ mời người khác đến tham dự các buổi họp, thánh lễ, vì ở đó, ta vẫn thường nói về Đức Giê-su Ki-tô, ta chẳng phải liều lĩnh gì cả, ta vẫn ở “nhà” ta, trong khuôn viên của ta. Nhưng cũng không cần phải ra ngoài đường phố mà rao giảng. Tuy nhiên, khi dám nói một lời trong xã hội ta sống, trong gia đình, với các bạn bè, các đồng nghiệp, “tại nhà họ”, không khiêu khích, nhưng cũng không sợ hãi, đó là gieo hạt giống Nước Trời vào thúng bột trần gian … Đó là một liều lĩnh, nhưng lười biếng, im lặng, còn là một liều lĩnh lớn hơn …

Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ chúng con trong sự trung tín với Chúa. Chúng con chỉ đứng vững nhờ sức mạnh Chúa ban. Chúa là sự vững mạnh, là tảng đá cho chúng con nương tựa. Xin cất khỏi chúng con mọi sợ hãi loài người. Xin hãy tuyên xưng chúng con trước mặt Cha để Người ban cho chúng con đủ sức tuyên xưng Chúa trước mặt người đời. Xin cho chứng từ của chúng con là một bằng chứng cho mọi người thấy rằng Chúa chính là bảo đảm cho chúng con trước mặt Chúa Cha. Xin cho lời tuyên xưng đức tin của chúng con cho mọi người biết Chúa là Con yêu dấu của Chúa Cha. Khi chúng con sợ chống đối hay chế giễu, không dám tuyên xưng danh Chúa, xin hãy tha thứ cho chúng con, như Chúa đã tha thứ cho Phê-rô. Nếu chúng con phản bội, thì Chúa vẫn một mực trung tín. Xin nâng đỡ chúng con để dù chúng con sợ hãi, tình yêu của Chúa vẫn là mạnh nhất. Để qua sự yếu đuối của chúng con, chúng con biết làm chứng về sức mạnh của ơn Chúa tha thứ.

2. Im lặng hay nói ?

(G. Bessière, “Dieu si proche”, Desclée de Brouwer).

Ngày nay người Ki-tô hữu nói về Thiên Chúa ít hơn xưa. Tuy nhiên, Đức Giê-su yêu cầu ta : “Hãy lên mái nhà rao giảng” điều gì “anh em nghe rỉ tai”. Lời chúc dữ của Người : “Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời.”

Im lặng hay nói ? Có nhiều loại im lặng. Im lặng sợ hãi, im lặng lãnh đạm, im lặng phản bội. Cũng có những im lặng mừng vui, im lặng sung mãn, im lặng yêu thương, im lặng giấu kín một bí mật. Những giây phút mãnh liệt nhất trong đời là những lúc “Không còn lời lẽ”. Lúc ấy im lặng còn diễn tả hơn mọi lời lẽ : nó cho ta nghe thấy điều không diễn tả được.

Làm sao trẻ em và giới trẻ biết được Đức Giê-su nếu ta cứ im lặng mãi ? Ta đề nghị niềm hy vọng nào nếu ta lặng thinh ? Im lặng cần có từ ngữ mới có sức mạnh : nếu không có bản giao hưởng, làm sao nghe được sự im lặng tràn ngập căn phòng sau hợp âm cuối cùng ?

Đức Giê-su đã chẳng nói đó sao : “Không có gì che giấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết.” Phải chăng ta không cần như thánh Phao-lô, nói “vào lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” để rao giảng Tin Mừng cho cả nhân loại qua mọi thế hệ ?

Cần phải loan báo thứ sứ điệp vượt quá mọi từ ngữ và mọi giáo thuyết. Nhà khôn ngoan lớn tuổi viết sách Giảng viên đã nói : “Có thời để nói, có thời để im lặng.” Những thời điểm này tiếp nối nhau trong cuộc đời con người cũng như trong Giáo Hội từ ngàn đời. Vì đôi khi ta nói quá nhiều, rồi sẽ tới ngày những từ ngữ biến nghĩa và chẳng còn “nói lên được điều gì nữa”. Chính sự sống và sự im lặng sẽ làm chín muồi những lời lẽ mới mẻ và tươi trẻ.

Ta đang ở vào một mùa lịch sử mà nhiều từ ngữ không nói lên điều gì nữa : vì đôi khi trong quá khứ người ta đã dùng sai từ ngữ, và vì ta đã bước vào một lối hiện hữu mới nơi mọi người đang thay đổi lối sống, lối suy nghĩ, diễn tả và truyền đạt.

Mong sao người Ki-tô hữu cố gắng mỗi ngày sống Tin Mừng hơn. Thánh Thần của Đức Giê-su sẽ khơi dậy trong họ sự im lặng hoặc từ ngữ. Lời đầu tiên của họ vẫn luôn luôn là sự sống của họ. Còn những lời khác sẽ không ngừng tái tạo, từ thời đại này qua thời đại khác, mà không bao giờ bị sa lầy trong những từ ngữ bị thói quen làm cho lu mờ.