A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 19,2-6a

Đáp ca : Tv 99,1-2.3.5 (Đ. c.3c)

Bài đọc 2 : Rm 5,6-11

Tung hô Tin mừng : Mc 1,15

Tin mừng : Mt 9,36–10,8

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Chính nơi trái tim Đức Giê-su, ta tìm thấy động lực cho việc truyền giáo, sứ mạng của ta

2. Chúng ta là Giáo hội

3. Cầu nguyện và truyền giáo


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 19,2-6a

Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh.

Bài trích sách Xuất hành.

2 Hồi đó, con cái Ít-ra-en tới sa mạc Xi-nai, và dựng trại trong sa mạc. Ít-ra-en đóng trại ở đó, đối diện với núi.

3 Ông Mô-sê lên gặp Thiên Chúa. Từ trên núi, Đức Chúa gọi ông và phán : “Ngươi sẽ nói với nhà Gia-cóp, sẽ thông báo cho con cái Ít-ra-en thế này : 4 Các ngươi thấy Ta đã xử với Ai-cập thế nào, và đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta. 5 Vậy giờ đây, nếu các ngươi thật sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta. Vì toàn cõi đất đều là của Ta. 6a Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 99,1-2.3.5 (Đ. c.3c)

Đ. Ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt.

1 Hãy tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu,
2 phụng thờ Chúa với niềm hoan hỷ,
vào trước thánh nhan Người giữa tiếng hò reo. Đ.

3 Hãy nhìn nhận Chúa là Thượng Đế,
chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người,
ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt. Đ.

5 Bởi vì Chúa nhân hậu,
muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương,
qua bao thế hệ, vẫn một niềm thành tín. Đ.

 

Bài đọc 2 : Rm 5,6-11

Chúng ta đã được hoà giải nhờ cái chết của Người Con, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

6 Thưa anh em, khi chúng ta không có sức làm được gì, vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta. 7 Hầu như không ai chết vì người công chính, hoạ may có ai dám chết vì một người lương thiện chăng. 8 Thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi ; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta. 9 Phương chi bây giờ chúng ta đã được nên công chính nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa. 10 Thật vậy, nếu ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã để cho Con của Người phải chết mà cho chúng ta được hoà giải với Người, phương chi bây giờ chúng ta đã được hoà giải rồi, hẳn chúng ta sẽ được cứu nhờ sự sống của Người Con ấy. 11 Nhưng không phải chỉ có thế, chúng ta còn có Thiên Chúa là niềm tự hào, nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, Đấng nay đã hoà giải chúng ta với Thiên Chúa.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin mừng : Mc 1,15

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúa nói : “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” Ha-lê-lui-a.

 

Tin mừng : Mt 9,36–10,8

Sau khi gọi mười hai môn đệ, Đức Giê-su đã sai các ông đi truyền giáo.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

9 36 Khi ấy, Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.

37 Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng : “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. 38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”

10 1 Rồi Đức Giê-su gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền.

2 Sau đây là tên của mười hai Tông Đồ : đứng đầu là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông ; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông ; 3 ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô ; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế ; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô ; 4 ông Si-môn thuộc nhóm Nhiệt Thành, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Người. 5 Đức Giê-su sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng :

“Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. 6 Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en. 7 Dọc đường hãy rao giảng rằng : Nước Trời đã đến gần. 8 Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết trỗi dậy, cho người mắc bệnh phong được sạch, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy.”

Đó là lời Chúa.


B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời chúng ta nghe Tin Mừng về sứ vụ rao giảng, một đoạn Tin Mừng kể lại trong đó Đức Giê-su chạnh lòng thương đám đông, nên đã chọn mười hai Tông Đồ và sai các ông đi loan báo Tin Mừng.

Chúng ta cần ghi nhận rằng tất cả đều phát xuất từ con tim của Đức Giê-su : Người chạnh lòng thương đám đông. Đức Giê-su có một con tim tràn ngập lòng yêu thương thần linh. Người chạnh lòng thương đám đông “vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn dắt”. Người thương xót tất cả mọi người không trừ ai. Tình yêu của Người là tình yêu phổ quát. Người hiểu rằng đám đông cần có những mục tử để hướng dẫn, để chăm sóc họ. Đức Giê-su bày tỏ lòng thương xót của Người khi mời gọi họ cầu nguyện cùng Thiên Chúa, Chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về, vì lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Ở đây, một lần nữa, chúng ta lại thấy những tâm tình và bận tâm sâu xa của Đức Giê-su, Người muốn đáp ứng những nhu cầu của một đám đông khổng lồ, của toàn thể nhân loại. Vì thế, Người có sáng kiến : Người chọn “Nhóm Mười Hai Tông Đồ”. Tông đồ có nghĩa là được sai đi, sai đi đến với đám đông, rao giảng sứ điệp Tin Mừng, và như thế đáp ứng những nhu cầu tâm linh của con người. Tuy nhiên, lúc đầu Đức Giê-su giới hạn sứ vụ của các Tông Đồ là đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en : “Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en.” Lệnh truyền này khiến chúng ta ngạc nhiên vì chúng ta quen nghe lệnh truyền của Đức Giê-su ở cuối Tin Mừng Mát-thêu : “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Chúng ta tự hỏi tại sao Đức Giê-su lại hạn chế sứ vụ rao giảng của các Tông Đồ trong dân Ít-ra-en mà thôi ? Chúng ta biết rằng Đức Giê-su luôn vâng lời Chúa Cha. Ở đây chúng ta tìm thấy một lời giáo huấn quan trọng cho mỗi người chúng ta : Chúng ta phải tôn trọng những giới hạn. Chúng ta không phải là Chúa Quan Phòng, chúng ta không thể cung cấp cho những người anh em chúng ta tất cả những gì họ cần, vì thế chúng ta phải biết giới hạn ơn gọi của mình để có thể sống trọn vẹn ơn gọi đó. Nếu chúng ta không biết giới hạn của mình thì chúng ta không thể hoàn thành một việc hữu ích nào cả và kết quả chỉ là ảo tưởng mà thôi. Khi trả lời cho người đàn bà Ca-na-an xin Đức Giê-su chữa lành cho con gái của bà, Đức Giê-su đã xác nhận “Người được sai đến với những con chiên lạc nhà Ít-ra-en” (Mt 15,24). Ở đây, chúng ta thấy lại ý định của Thiên Chúa đã chọn một dân riêng, hứa ban cho họ ơn cứu độ, vì thế Người sai Đấng Mê-si-a đến với dân tộc mà Người đã hứa cứu chuộc họ.

Bài đọc 1 minh hoạ khía cạnh này trong ý định của Thiên Chúa. Người nói với dân Ít-ra-en, qua ông Mô-sê khi họ đến chân núi Xi-nai : “Giờ đây, nếu các ngươi thật sự nghe tiếng Ta, và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta, vì toàn cõi đất đều là của Ta. Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh.” Thiên Chúa đã chọn một dân tộc nhỏ bé và yếu đuối, hứa ban cho họ một mối liên hệ đặc biệt với Người, và Người vẫn luôn trung thành với lời hứa này. Nhưng thật ra, ý định của Người liên quan đến toàn thể nhân loại trong lời hứa Người ngỏ với ông Áp-ra-ham : “Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (St 12,3). Kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là dành cho toàn thể nhân loại. Tính phổ quát này sẽ trở thành hiện thực từng giai đoạn một, vì không thể đem lại cho toàn thể nhân loại có được mối liên hệ với Thiên Chúa trong một thời gian ngắn được. Chính vì lý do đó mà Đức Giê-su, trong cuộc đời công khai của mình, luôn tôn trọng phương pháp sư phạm tiệm tiến của Thiên Chúa ; trước hết ơn cứu độ được ban cho nhà Ít-ra-en, rồi sau đó, qua trung gian của dân tộc này mà toàn thể nhân loại nhận được ơn cứu độ, như lời Đức Giê-su nói với Nhóm Mười Hai khi sai các ông đi rao giảng : “Trước tiên, anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Sa-ma-ri. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ít-ra-en, để cho những lời hứa dành cho dân tộc này trở thành hiện thực, sau đó ý định cứu độ của Thiên Chúa sẽ lan toả đến toàn thể nhân loại. Sự lan toả này sẽ phải trả giá bằng cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su, trong đó mọi giới hạn đã bị huỷ bỏ vì Đức Giê-su đã chết vì tội lỗi, mà tất cả mọi người đều là kẻ có tội.

Bài đọc 2 cho ta hiểu rằng thập giá mặc khải tình yêu của Thiên Chúa dành cho kẻ có tội. “Bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta là Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi.” Đó là một việc phi thường. Trong cuộc Thương Khó của Đức Giê-su, người Do-thái tượng trưng cho những kẻ tội lỗi, những người tội lỗi xấu xa nhất, bởi vì, nhân danh mọi người, họ kết án bất công Con Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm trước cái chết của Đức Giê-su vì tất cả chúng ta đều là kẻ tội lỗi. Tuy nhiên, chính dân tộc được tuyển chọn này tượng trưng cho chúng ta vào thời điểm Đức Giê-su bị đóng đinh trên thập giá. Ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa cũng nằm trong sự kiện này. Cái chết của Đức Giê-su đều có giá trị đối với từng người chúng ta. Sau cái chết và sự phục sinh của Đức Giê-su, ơn cứu độ được ban cho toàn thể nhân loại. Điều kiện duy nhất để được lãnh nhận ơn cứu độ là phải gắn bó trong đức tin vào Người, đã chết và đã sống lại để chúng ta được nên công chính. Thánh Phao-lô quả quyết : “Bây giờ chúng ta được nên công chính, nhờ máu của Đức Ki-tô đổ ra, hẳn chúng ta sẽ được Người cứu khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.” Sau khi Đức Giê-su phục sinh, việc lan toả ý định cứu độ của Thiên Chúa trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết. Toàn bộ các Tin Mừng cho ta thấy rằng ơn cứu độ đã được ban đến tận cùng cõi đất. Thánh Phao-lô quả quyết rằng Thiên Chúa biểu lộ sự công chính của Người khi làm cho kẻ có tội trở nên công chính. Trong cái chết và sự phục sinh của mình, Đức Giê-su làm lan toả ý định cứu độ của Người. Chúng ta hoàn toàn không có khả năng làm việc này, nhưng chúng ta có thể và phải đón nhận sứ điệp đức tin Người đã loan báo cho chúng ta. Ơn cứu độ được hứa cho dân Ít-ra-en, đồng thời cũng được hứa ban cho tất cả các dân tộc vì Chúa muốn cứu độ tất cả mọi người, lời chúc phúc dành cho tất cả mọi dân tộc mà Chúa đã phán cho con ông Áp-ra-ham, con vua Đa-vít, cho Đấng Mê-si-a là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng cứu độ chúng ta.

Kết luận : Mỗi người chúng ta cũng được sai đi loan truyền ơn cứu độ cho người khác. Đó là sứ mạng của tất cả chúng ta chứ không chỉ dành riêng cho các Tông Đồ. Chúng ta thực hiện sứ mạng này theo nhiều cách khác nhau, nhưng trước tiên là cầu nguyện. Đức Giê-su nói với chúng ta : “Anh em hãy xin chủ mùa gặt ra gặt lúa về.” Chúng ta cũng có thể đóng góp cho sứ mạng này bằng sự nâng đỡ kinh tế, nhưng nhất là bằng chứng từ của một đời sống gương mẫu. Chúng ta hãy đón nhận lòng thương xót đám đông mệt mỏi của Đức Giê-su vào trong tâm hồn chúng ta. “Họ như bầy chiên vất vưởng không người chăn dắt.” Nếu chúng ta có được lòng thương xót này trong tâm hồn, đời sống chúng ta sẽ hướng đến sứ vụ phù hợp với thánh ý Thiên Chúa là giúp cho mọi người nhận biết Chúa để họ cũng được cứu độ như chúng ta.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, xin cho chúng con nhiều thợ gặt lành nghề, hăng say hoạt động trên cánh đồng truyền giáo thật bát ngát mênh mông.

Tự vấn :

Trong đời sống đức tin thường ngày, chúng ta tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng của Giáo Hội bằng cách nào ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Chính nơi trái tim Đức Giê-su, ta tìm thấy động lực cho việc truyền giáo, sứ mạng của ta

(Mgr. L. Daloz, “Le Règne de Dieu s’est approché”, Desclée de Brouwer).

Cho tới nay, Đức Giê-su chưa trao cho những kẻ Người kêu gọi một nhiệm vụ nào. Giờ đây Người sắp trao cho họ và sai họ đi. Trước đó, thánh Mát-thêu đã cho ta thấy nguồn cội của sứ mạng của họ : “Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.” Rất nhiều lần, Tin Mừng đã nói về lòng thương của Ðức Giê-su đối với đám đông. Nguồn cội của việc sai đi, của sứ mạng truyền giáo là tình thương của Đức Giê-su, tình thương mà ta gọi là lòng thương xót, không phải là sự hạ cố, nhưng vì tình thương ấy đã nhìn thấy đám đông “lầm than vất vưởng” và Đức Giê-su đã xúc động … Từ ngữ Hy-lạp còn nói mạnh hơn : Người đau thắt ruột lại. Chính nơi trái tim Đức Giê-su, nơi sự âu yếm của Người, nơi sự xúc động tâm can của Người, ta tìm thấy động lực của sứ mạng truyền giáo của ta … Có lẽ ta nghĩ rằng lời kế tiếp sẽ là lời mời gọi lên đường làm việc thu hoạch mùa màng, vì có quá ít thợ ! Nhưng Đức Giê-su lại không nói điều đó với các môn đệ. Hãy nghe Người : Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Tự nguyện chưa đủ. Quảng đại chưa đủ. Còn phải hiệp thông với tình yêu của Chúa Cha, ông chủ ruộng nữa. “Lòng thương xót” của Đức Giê-su diễn dịch tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại lầm lạc. Vâng, thật cần thiết, những người muốn làm việc cho mùa gặt, loan báo Nước Trời, làm chứng cho Tin Mừng, đi kín múc từ nguồn tình yêu làm cho hoạt động của họ có ý nghĩa. Lời kêu gọi trước hết là theo Đức Giê-su, hiểu biết Đức Giê-su, nhận biết Người là Đấng Cứu Thế, Đấng đến nhân danh Chúa Cha, để Người khai tâm mở trí, chiêm ngắm Người, năng lui tới với Người, khám phá bằng nghe Người nói, nhìn Người hành động không mỏi mệt, và tặng ban chính sự sống của Người, thấy Người xúc động vì “thương xót” đến mức nào, thổn thức vì khổ đau của nhân loại … và như thế, chia sẻ sự bao la, sự sâu xa của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu không giới hạn cháy bỏng : Thiên Chúa muốn nhân loại bước vào một cuộc Xuất hành khác với cuộc Xuất hành do Mô-sê hướng dẫn, muốn ban cho nhân loại một cuộc giải phóng vĩ đại hơn ! Đó là tất cả điều kiện của một “sứ mạng thật sự” không phải là trước khi lên đường, nhưng không ngừng, ở nền tảng của sứ mạng. Trước đây, không biết điều đó, ta vẫn có thể xúc động trước nỗi khổ của con người, trước sự thiếu thốn của họ và dấn thân phục vụ họ, can đảm hành động. Điều đó rất quan trọng, và đó cũng là công việc của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhưng Tin Mừng còn đưa ta đi xa hơn : Nó mặc khải tình yêu mà chính Thiên Chúa mang đến cho nhân loại, say mê, không mỏi mệt. Đời sống và cái chết của Đức Giê-su là bằng chứng hùng hồn về điều đó. Người mời gọi ta đến chia sẻ tình yêu ấy, làm tôi tớ phục vụ tình yêu ấy cho anh em ta, bắt tay vào hành động, vì Người sai ta đi truyền giáo. Truyền giáo không phải là tác phẩm của ta. Cũng không do sáng kiến của ta. Truyền giáo đâm rễ sâu trong lời cầu nguyện làm trái tim và ý chí ta phù hợp với tình yêu trong trái tim Thiên Chúa. Truyền giáo không thể tách rời cầu nguyện : Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.

2. Chúng ta là Giáo hội

(L. Sintas, “Parole de Dieu pour la méditation et l’homélie”, Médias Paul).

Sứ mạng trao ban cho các Tông Đồ cũng là sứ mạng trao ban cho ta hôm nay. Giáo Hội hôm nay chính là chúng ta. Vậy đến lượt ta phải loan báo Nước Thiên Chúa đã đến. Chắc rằng ta không đi tìm mặt trời giữa đêm khuya. Xuyên qua hoạt động hằng ngày, cuộc sống gia đình, nghề nghiệp, ta có thể, hoặc trở nên tôi tớ của Vương Quốc sự dữ khi ta gieo rắc chia rẽ, vun trồng ghen tuông, ích kỷ, hoặc trở nên chứng nhân cho hoạt động của Thiên Chúa khi trở thành men tình bạn, men bình an, men hoà giải. Cần cầu nguyện để nhắc nhớ những gì Thiên Chúa đã làm cho ta dù ta tội lỗi. Nhưng cầu nguyện còn có mục đích giúp ta kiên vững trong sứ mạng là tác nhân hoà bình, chữa lành bệnh và hiệp thông. Muốn là Ki-tô hữu, phải làm cho cách hành động của ta phù hợp với niềm tin. Đó là cách duy nhất để trở thành Tông Đồ, làm cho Giáo Hội nên sống động và có sức hấp dẫn. Thật vậy, đối với những người không cùng chia sẻ niềm tin với ta, thành phần hữu hình của Giáo Hội mà họ thấy được chính là các Ki-tô hữu cụ thể ở làng ta, trong khu phố ta ở, là chính chúng ta. Chúng ta có trách nhiệm tạo cho Giáo Hội một khuôn mặt của Thiên Chúa, khuôn mặt ấy có sức lôi cuốn mọi người sống quanh ta. Đó là loan báo Nước Thiên Chúa đã đến.

3. Cầu nguyện và truyền giáo

(Mgr. R. Coffy, cine Ezlla qui célèbre et qui prie, Le Centurion).

Truyền giáo là lãnh nhận trước khi là hành động. Truyền giáo chỉ là hành động nhân danh Đấng sai đi. Được sai đi chính là hành động nhân danh ai. Nó giả thiết mối quan hệ quen thuộc thông thường giữa người sai và kẻ được sai, trong sứ mạng tông đồ, đó là cầu nguyện. Hoạt động truyền giáo không dựa trên cầu nguyện sẽ có nguy cơ trở nên hoạt động thuần tuý nhân loại chứ không còn là hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi con người. Nói về truyền giáo mà không nói trong cầu nguyện, có thể vi phạm tính cách chân thật của sứ mạng.