A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 2,1-5

Đáp ca : Tv 121,1-2.4-5.6-7.8-9 (Đ : x. c.1)

Bài đọc 2 : Rm 13,11-14

Tin Mừng : Mt 24,37-44

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Is 2,1-5

2. Đáp ca : Tv 121

3. Bài đọc 2 : Rm 13,11-14

4. Bài Tin Mừng : Mt 24,37-44

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Đức Giê-su đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước”

2. “Vì không biết Người, anh em hãy tỉnh thức”

3. “Hãy có một con tim tỉnh thức”


A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Is 2,1-5

Đức Chúa quy tụ muôn dân cho hưởng hoà bình vĩnh cửu trong Nước Thiên Chúa.

Bài trích sách ngôn sứ I-sai-a.

1 Đây là điều mà ông I-sai-a, con ông A-mốc, đã được thấy về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem. 2 Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, 3 nước nước dập dìu kéo nhau đi. Rằng : “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ. Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống, từ Giê-ru-sa-lem, lời Đức Chúa phán truyền. 4 Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến. 5 Hãy đến đây, nhà Gia-cóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường !” Đó là lời Chúa.

Đáp ca : Tv 121,1-2.4-5.6-7.8-9 (Đ : x. c.1)

Đ. Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa.

1 Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi : “Ta cùng trẩy lên đền thánh Chúa !” Và giờ đây, Giê-ru-sa-lem hỡi,
2 cửa nội thành, ta đã dừng chân. Đ.

4 Từng chi tộc, chi tộc của Chúa, trẩy hội lên đền ở nơi đây,
để danh Chúa, họ cùng xưng tụng, như lệnh đã truyền cho Ít-ra-en.
5 Cũng nơi đó, đặt ngai xét xử,
ngai vàng của vương triều Đa-vít. Đ.

6 Hãy nguyện chúc Giê-ru-sa-lem được thái bình, rằng : “Chúc thân hữu của thành luôn thịnh đạt,
7 tường trong luỹ ngoài hằng yên ổn,
lâu đài dinh thự mãi an ninh.” Đ.

8 Nghĩ tới anh em cùng là bạn hữu,
tôi nói rằng : “Chúc thành đô an lạc.”
9 Nghĩ tới đền thánh Chúa, Thiên Chúa chúng ta thờ,
tôi ước mong thành được hạnh phúc, hỡi thành đô. Đ.

Bài đọc 2 : Rm 13,11-14

Ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

11 Thưa anh em, anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy, vì hiện nay ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. 12 Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sáng để chiến đấu. 13 Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như người đang sống giữa ban ngày : không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, cũng không cãi cọ ghen tương. 14 Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê-su Ki-tô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thoả mãn các dục vọng.

Đó là lời Chúa.

Tung hô Tin Mừng : Tv 84,8

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa và ban ơn cứu độ cho chúng con. Ha-lê-lui-a.

Tin Mừng : Mt 24,37-44

Anh em hãy canh thức để được sẵn sàng.

X Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

37 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. 38 Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. 39 Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. 40 Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại ; 41 hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại.

42 “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến. 43 Anh em hãy biết điều này : Nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông phải canh thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. 44 Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Is 2,1-5

1. Chúng ta biết các tác giả Kinh Thánh rất thích dùng các hình ảnh ! Đây là hai hình ảnh tuyệt đẹp trong lời rao giảng của ngôn sứ I-sai-a : trước hết là hình ảnh một đám đông khổng lồ đang di chuyển ; tiếp đến là hình ảnh các đạo quân trên thế giới quyết định biến các thứ vũ khí sát thương thành các dụng cụ trong nông nghiệp. Chúng ta cùng nhau suy niệm về hai hình ảnh này.

Đám đông khổng lồ đang di chuyển, họ đang leo lên núi : ở cuối con đường là Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ. Chính ngôn sứ I-sai-a đang ở tại Giê-ru-sa-lem và nhìn thấy đám đông này, một biển người đang tiến tới. Chắc chắn đó là một hình ảnh báo trước. Ta có thể nghĩ rằng đó là hình ảnh đám đông khổng lồ những người Ít-ra-en đổ về Giê-ru-sa-lem hành hương vào những ngày đại lễ, chẳng hạn mỗi năm, dịp lễ Lều vào mùa thu. Người ta sống trong các lều bạt, kể cả trong thành phố, trong tám ngày, để nhớ lại ngày xưa tổ tiên họ đã sống trong lều bạt nơi sa mạc Xi-nai thời Xuất hành. Vào dịp này, Giê-ru-sa-lem đầy người, người ta đến từ khắp nơi, kể cả những người ở nước ngoài. Sách Đệ nhị luật, khi nói về lễ này cho biết : “Anh em sẽ liên hoan mừng lễ, cùng với con trai con gái, tôi tớ nam nữ, với thầy Lê-vi, ngoại kiều và cô nhi quả phụ ở trong các thành của anh em. Trong vòng bảy ngày, anh em sẽ mở lễ kính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, tại nơi Đức Chúa chọn, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em chúc phúc cho anh em là ban cho anh em mọi hoa lợi và cho mọi công việc tay anh em làm được kết quả ; anh em chỉ có việc hân hoan” (Đnl 16,14-15).

2. Trước cảnh tượng này, ngôn sứ I-sai-a linh cảm cuộc tập họp đông đảo hằng năm tràn ngập niềm vui và lòng nhiệt thành, báo trước một sự kiện khác : lúc bấy giờ, nhờ Thần Khí soi sáng, ngôn sứ có thể mạnh dạn công bố : Vâng, một ngày nào đó, cuộc hành hương cho đến lúc ấy chỉ dành riêng cho dân Ít-ra-en, sẽ tập họp tất cả mọi dân tộc, hết thảy mọi quốc gia. Đền thờ không chỉ dành riêng cho các chi tộc Ít-ra-en : từ nay về sau, đó sẽ là nơi tập trung tất cả mọi quốc gia, bởi vì cuối cùng toàn thể nhân loại sẽ nghe Tin Mừng tình yêu của Thiên Chúa.

Để cho thấy ở điểm nào mà số phận của Ít-ra-en và các quốc gia hoà lẫn vào nhau, bản văn không bao giờ nói đến Ít-ra-en mà không đề cập đến các quốc gia và ngược lại. Bản văn bắt đầu bằng Ít-ra-en : “Đây là điều mà ông I-sai-a, con ông A-mốc, đã được thấy về Giu-đa và Giê-ru-sa-lem.” “Trong tương lai, núi Nhà Đức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao.” Chúng ta cần lưu ý đây là cách nói mang tính biểu tượng : ngọn đồi của Đền Thờ không phải là nơi cao nhất của Giê-ru-sa-lem và chắc chắn là rất khiêm tốn so với những dãy núi khác trên hành tinh của chúng ta, ví dụ như dãy núi Himalaya chẳng hạn ; nhưng đây đề cập đến một sự nâng cao khác.

Tiếp theo bản văn nhắc đến “các quốc gia”, nghĩa là tất cả các dân tộc : “Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi.” Họ bảo : “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ.” Câu cuối cùng là một công thức kiểu mẫu của Giao ước : như vậy sự kiện trên báo cho biết các dân tộc khác cũng gia nhập Giao ước mà cho tới lúc đó chỉ dành riêng cho Ít-ra-en. Bản văn tiếp tục : “Vì từ Xi-on, thánh luật ban xuống, từ Giê-ru-sa-lem, lời Đức Chúa phán truyền.” Điều đó muốn nói việc Chúa chọn Ít-ra-en làm dân riêng hàm chứa trách nhiệm của họ trong việc cộng tác với Thiên Chúa để đưa các dân tộc khác bước vào Giao ước. Chỉ trong một vài hàng, ta nhận thấy rõ hai chiều kích của Giao ước giữa Thiên Chúa với nhân loại : một đàng Thiên Chúa chọn dân Ít-ra-en làm dân riêng của Người, nhưng đồng thời kế hoạch của Thiên Chúa liên quan đến toàn thể nhân loại, đó là kế hoạch phổ quát. Chúa muốn cứu độ hết thảy mọi người. Ngôn sứ I-sai-a cho biết lúc đó thì chỉ có dân Ít-ra-en nhận biết Thiên Chúa thật, nhưng sẽ đến ngày toàn thể nhân loại sẽ nhận biết Thiên Chúa là Tình Yêu. Ta cần lưu ý rằng việc đông đảo khách hành hương vào Đền Thờ Giê-ru-sa-lem không phải để tế lễ như thường thấy, nhưng các quốc gia tập họp trong Đền Thờ để lắng nghe Lời của Chúa và học sống theo luật của Người. Chúng ta biết rằng lòng trung thành của chúng ta đối với Chúa thể hiện trong cuộc sống thường ngày, nhưng dường như ở đây ngôn sứ I-sai-a nói rất mạnh : “Dân dân lũ lượt đưa nhau tới” và họ nói : “Đến đây, ta cùng lên núi Đức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết đường lối của Người.”

Hình ảnh thứ hai phát xuất từ hình ảnh thứ nhất : Nếu tất cả các nước đều nghe lời Thiên Chúa theo đúng nghĩa của từ “nghe” trong Kinh Thánh, nghĩa là họ quyết định sống theo lời Chúa dạy, thì họ tham dự vào kế hoạch của Thiên Chúa là một kế hoạch hoà bình. Họ chọn Chúa như vị thẩm phán, như trọng tài, theo lời ngôn sứ I-sai-a : “Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia, và phân xử cho muôn dân tộc.” Trong thực tế, nếu chính Thiên Chúa làm trọng tài, thì hoà bình trên thế giới mới bền vững được, vì người ta không cần phải chuẩn bị chiến tranh nữa, mà biến vũ khí sát thương thành những dụng cụ nông nghiệp : “Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến” như ngôn sứ I-sai-a đã nói.

Câu cuối cùng kết thúc bản văn là một lời mời gọi rất cụ thể : “Hãy đến đây, nhà Gia-cóp hỡi, ta cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường !”, hiểu ngầm là hiện giờ, dân Ít-ra-en đã hoàn thành ơn gọi của mình bằng hai việc làm : “lên Đền Thờ của Đức Chúa”, một đàng là cử hành Giao ước, đàng khác, “cùng đi, nhờ ánh sáng Đức Chúa soi đường”, nghĩa là sống theo Lề Luật của Giao ước.

2. Đáp ca : Tv 121

Thánh vịnh 121 là một trong những thánh vịnh được gọi là “các thánh vịnh lên đền”. Các thánh vịnh này được soạn đặc biệt cho các cuộc hành hương, và được hát lên khi đoàn hành hương tới các cửa Thành Thánh, thành Giê-ru-sa-lem. Lời cầu chúc cho Giê-ru-sa-lem được thái bình, hạnh phúc còn lâu mới trở thành hiện thực ! Chúng ta biết lịch sử đầy biến động của thành phố này : vào khoảng năm 1000 trước Công nguyên, thành phố này chỉ là một làng quê nhỏ bé tên là Giê-bu ; chính vua Đa-vít đã chọn nơi đó làm thủ đô của vương triều ông. Chúa nhật tuần trước (Chúa nhật Đức Giê-su Ki-tô, Vua vũ trụ, năm C), ta thấy thủ đô đầu tiên của Đa-vít là Khép-rôn và ông chỉ là vua của chi tộc Giu-đa mà thôi ; nhưng vào một ngày đẹp trời, mười một chi tộc còn lại lập Giao ước với Đa-vít và xức dầu tấn phong ông làm vua toàn thể Ít-ra-en.

Đa-vít rất khôn ngoan chọn một thủ đô mới mà không một chi tộc nào có thể phàn nàn được. Thế là Giê-bu trở thành Giê-ru-sa-lem : từ đó về sau người ta gọi Giê-ru-sa-lem là “thành của Đa-vít” (2 Sm 6,12). Ông đã rước Hòm Bia Giao Ước về Giê-ru-sa-lem mà dưới mắt của mọi người là Thành Thánh, vì là nơi Thiên Chúa đã chọn để “cắm lều của Người”.

Gọi Giê-ru-sa-lem là Thành Thánh vì thuộc về Thiên Chúa.

Chúng ta biết Đền Thờ Giê-ru-sa-lem trở thành trung tâm đời sống tâm linh của toàn dân Ít-ra-en : mỗi năm 3 lần, người Ít-ra-en đi hành hương tại Đền Thờ này, nhất là ngày lễ Lều, vào mùa thu. Nhưng Đền Thờ này bị quân của vua Na-bu-cô-đô-nô-xo tàn phá vào năm 587 trước Công nguyên. Sau đó là cuộc lưu đày 50 năm ở Ba-by-lon, đến năm 538 dân Ít-ra-en thoát kiếp lưu đày nhờ vua Ky-rô, và Giê-ru-sa-lem được tái thiết, cho nên khách hành hương hát lên : “Và giờ đây, Giê-ru-sa-lem hỡi, cửa nội thành, ta đã dừng chân. Giê-ru-sa-lem khác nào đô thị, được xây nên một khối vẹn toàn.” Nhất là Đền Thờ của vua Sa-lô-môn xây đã được xây dựng lại, và Giê-ru-sa-lem lại trở thành trung tâm tôn giáo ; vẻ uy nghi, nét thánh thiện có được vì Đền Thờ là dấu chỉ hữu hình về sự hiện diện của Thiên Chúa vô hình. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem còn gặp nhiều tai ương nữa : bị biến thành Đền Thờ các vị thần ngoại giáo, rồi năm 70 bị quân Rô-ma thiêu huỷ.

3. Bài đọc 2 : Rm 13,11-14

“Hiện nay, ngày Thiên Chúa cứu độ chúng ta đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo.” Lời của thánh Phao-lô luôn luôn đúng, vì đó là một tín điều đức tin của chúng ta. Chúng ta biết kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa hôm nay tiến triển hơn hôm qua. Kế hoạch đó đang hoàn tất, kế hoạch đó tuy tiến triển chậm nhưng mà chắc. Mà kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa cần đến chúng ta. Vì thế, đây không phải là lúc ngủ. Chúng ta may mắn biết kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, vì thế chúng ta không được làm cho kế hoạch đó bị chậm trễ. Ta nhớ đến thư thứ hai của thánh Phê-rô : “Chúa không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn đối với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải” (2 Pr 3,9). Có nghĩa là sự thụ động của chúng ta, sự ngủ mê của chúng ta sẽ làm chậm trễ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta : “Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối, và cầm lấy vũ khí của sự sống để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho đứng đắn như những người đang sống giữa ban ngày : không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng, không cãi cọ ghen tương.” Đó là những việc làm đen tối thánh Phao-lô cũng đề cập đến trong thư gửi tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca : “Nhưng chúng ta, chúng ta thuộc về ban ngày, nên hãy sống tiết độ, mặc áo giáp là đức tin và đức mến, đội mũ chiến là niềm hy vọng ơn cứu độ.” Như vậy, ba nhân đức tin, cậy, mến là sức mạnh tinh thần của người tín hữu để thắng tối tăm.

2. Cuối cùng là hãy “mặc lấy Chúa Ki-tô”. Chúng ta nhớ lại lời thánh Phao-lô trong thư gửi tín hữu Ga-lát : “Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô” (Gl 3,27). Khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu thuộc về Đức Ki-tô, hoàn toàn kết hợp với Người, do đã được biến đổi theo hình ảnh Người. “Mặc lấy Đức Ki-tô” có tầm quan trọng trong đời sống cá nhân cũng như trong sinh hoạt cộng đồng. Bởi đã mặc lấy Đức Ki-tô, nên chúng ta phải sống thế nào để mỗi người chúng ta có thể mạnh dạn nói rằng : “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi” (Ga 2,20).

4. Bài Tin Mừng : Mt 24,37-44

Một điều chắc chắn là bản văn hôm nay được viết ra không nhằm làm cho chúng ta sợ hãi, nhưng để trấn an chúng ta, giúp ta hiểu rõ hơn lối văn khải huyền : có nghĩa là “biểu lộ điều đã được che giấu”, biểu lộ một thực tế mà chúng ta đều quan tâm, đó là việc Đức Ki-tô ngự đến. “Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng : ‘Thời ông Nô-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy … Anh em không biết ngày nào Chúa của anh em sẽ đến. Chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.’” Trọng tâm của đoạn Tin Mừng hôm nay là việc báo tin Đức Giê-su Ki-tô “sẽ ngự đến”. Ta phải hiểu thế nào về việc so sánh với trận lụt thời ông Nô-ê ; việc hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại !

Chúng ta cần lưu ý rằng : Khi Đức Giê-su nói bất cứ điều gì là luôn nhằm mặc khải ý định yêu thương của Thiên Chúa chứ không phải làm cho chúng ta sợ hãi. Vì thế, đây là một lời khuyên Chúa muốn gửi đến tất cả chúng ta : Vào thời ông Nô-ê, không ai nghi ngờ gì cả ; điều chúng ta cần quan tâm là ông Nô-ê được kể là người công chính và ông được cứu thoát ; tất cả những ai là công chính đều sẽ được cứu thoát.

2. Bây giờ, chúng ta trở lại chủ đề quen thuộc, chủ đề phán xét (chọn lựa) giữa những người tốt và kẻ xấu, giữa hạt lúa tốt và cỏ lùng : “hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại” có nghĩa là người này tốt còn người kia xấu. Nói về người tốt và kẻ xấu như là hai loại người khác nhau của nhân loại, đó là một cách nói về cái tốt và cái xấu, về hạt lúa tốt và cỏ lùng, vốn có nơi mỗi người chúng ta : vì thế ta cần phải làm thế nào để cái tốt luôn tồn tại, còn cái xấu phải bị loại trừ.

Một vấn đề khác, chính Chúa Giê-su tự xưng là Con Người.

Từ Con Người có gốc tiếng Híp-ri, có nghĩa là một phần tử thuộc nhân loại, một con người.

3. CON NGƯỜI, kiểu nói của Kinh Thánh, chỉ Chúa Giê-su Ki-tô vừa mang nhân tính và thần tính, được các ngôn sứ tiên báo.

Trong Cựu Ước, ngôn sứ Ê-dê-ki-en được Chúa gọi là con người (Ed 2,1-3 ; Đn 8,17), đặc biệt ngôn sứ Đa-ni-en trong một thị kiến đã thấy một nhân vật như một Con Người, đang ngự giá mây trời mà đến, vị này được trao mọi quyền hành để xét xử các dân tộc (Đn 7,13-14). Nhân vật này có thể tượng trưng cho dân tộc Ít-ra-en, một dân trung tín và thánh thiện. Đến thế kỷ I, người ta mới hiểu đoạn sách Đn 7,13 như nói về một cá nhân có vai trò trong ngày phán xét cuối cùng.

Trong Tin Mừng Nhất Lãm, Chúa Giê-su có lần đề cập đến nhân vật Con Người đến trong đám mây, giống với hình ảnh được diễn tả trong sách Ða-ni-en (Mt 24,30 ; Mc 13,26 ; Lc 21,27 ; Đn 7,13). Nhiều lần khác, Người dùng từ Con Người để nói về chính mình (x. Mt 16,13-15), trong tư cách tự hạ của Người, ví dụ : “Con Người không chỗ tựa đầu” (Lc 9,58). Con Người còn bị phản bội, phải chịu đau khổ và chịu chết rồi mới được phục sinh (x. Mc 8,31 ; 14,21). Thánh Gio-an cũng nói đến Chúa Giê-su là “Con Người cũng sẽ phải được giương cao” (x. Ga 3,14 ; 8,28 ; 12,34). Giương cao vừa nói lên việc bị đóng đinh, vừa nói lên việc được tôn vinh bên Thiên Chúa Cha.

Người Ki-tô hữu chờ đợi sự trở lại trong vinh quang của Con Người là Đức Giê-su Ki-tô. Khi vị thượng tế hỏi xem Chúa Giê-su có phải là Đấng Ki-tô không, Người trả lời : “Từ nay các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26,64). Như thế, Chúa Giê-su khẳng định mình chính là nhân vật Con Người trong sách Đa-ni-en (x. Đn 7,13).

Kết : Tỉnh thức hiểu theo nghĩa thiêng liêng, là luôn sẵn sàng đón chờ Đức Ki-tô trở lại trong ngày quang lâm cánh chung. Chúa Giê-su đã dùng nhiều hình ảnh để diễn tả sự xảy ra đột ngột của ngày cánh chung : Người đến bất chợt như nạn hồng thuỷ, như kẻ trộm, như sự trở về bất ngờ của ông chủ … Vì thế Người mời gọi các môn đệ phải tỉnh thức, nghĩa là phải chu toàn trách nhiệm của mình, sẵn sàng như người đầy tớ ban đêm chờ đợi chủ về (x. Mc 13,33-37 ; Mt 24,43). Tỉnh thức còn là thái độ cảnh giác trước những nguy hiểm, cám dỗ và cạm bẫy trong cuộc sống hằng ngày. Thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta “hãy tỉnh thức và sống tiết độ” (1 Tx 5,6). Thánh Phê-rô cũng khuyên chúng ta hãy tỉnh thức “vì ma quỷ như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5,8). Người Ki-tô hữu chúng ta cần tỉnh thức để khỏi bị lây nhiễm những não trạng của thế gian này (x. Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 2727).

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, Chúa dạy chúng con phải luôn tỉnh thức và cầu nguyện, phải luôn sẵn sàng vì vào lúc chúng con hoàn toàn bất ngờ thì Chúa sẽ đến. Xin Chúa giúp chúng con luôn giữ cho ngọn đèn đức tin, đức cậy và nhất là đức mến luôn được cháy sáng trong cuộc lữ hành trần thế nhiều gian khổ này.

Tự vấn :

Chúa đến vào lúc chúng ta hoàn toàn bất ngờ, vì thế thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta : Hãy tỉnh thức và sống tiết độ. Vậy chúng ta đã làm theo lời thánh Phao-lô nhắc nhở chưa ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Đức Giê-su đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước”

(Mgr. L. Daloz trong “Le règne des cieux s’est approché”, Desclée de Brouwer 1994, tr. 334-336).

Ngày và giờ là bí mật của Chúa Cha. Đó không phải là cơn thịnh nộ và sự trừng phạt vào ngày đã định. Nói rằng, chỉ một mình Chúa Cha biết ngày tận thế và việc Con Người trở lại, có nghĩa là đặt thế giới và nhân loại trong tay của Người, trong đôi tay nhân từ của Người. Đó là đặt chúng ta trong sự thanh thản, an toàn : Ai có thể rứt chúng ta ra khỏi đôi tay của Chúa Cha ? Chúng ta còn sợ gì, nếu chúng ta được ấp ủ trong tình yêu của Người ?

Đức Giê-su không mời gọi ta sợ hãi, nhưng mời gọi ta tỉnh thức. Người so sánh lụt đại hồng thuỷ và ông Nô-ê : Người ta không nghi ngờ gì hết cho đến khi lụt đại hồng thuỷ đến cuốn trôi hết tất cả mọi sự. Tất cả mọi người mãi lo lắng sự đời : người ta mãi lo ăn uống, cưới vợ gả chồng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta mãi lo lắng sự đời, và đó là điều cần thiết ! Chính lúc đó, Chúa đến gặp chúng ta. Nhưng để khỏi bị bất ngờ khi Người đến, chúng ta phải chuẩn bị như ông Nô-ê. Cũng giống như ông, chúng ta có lời Chúa cảnh báo và nhắc nhở chúng ta. Đức Giê-su nói : Đó, Thầy đã báo trước cho anh em. Người đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước. Cuộc gặp gỡ này không chỉ diễn ra vào lúc tận thế. Cái chết của mỗi người cũng sẽ bất ngờ. Phải chăng cái chết là ngày tận thế, ngày tận thế riêng của mỗi người, lúc mà Đức Giê-su đến gặp riêng mỗi người ? Ít nhất điều đó đã cảnh báo chúng ta qua ví dụ của Tin Mừng : “Bấy giờ hai người đàn ông trên cánh đồng : một người sẽ được đem đi, người kia bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang xay bột ở cối xay : một người được đem đi, một người bị bỏ lại ...”

Quan trọng nhất vẫn là tỉnh thức. Không lo lắng, nhưng chú ý, chú ý vào Chúa Cha, chú ý vào Đức Giê-su Ki-tô. Nếu chúng ta không biết ngày và giờ, thì điều quan trọng là phải biết Người, và phải nhận ra Người khi Người đến với chúng ta. Đức Giê-su nhắc đi nhắc lại hai lần rằng vì ta không biết nên ta phải tỉnh thức : Vậy hãy tỉnh thức, bởi vì anh em không biết ngày nào Chúa sẽ đến ... Để kết thúc, Người dùng một ví dụ chỉ cho thấy sự nghiêm trọng của tình thế, và sự gấp rút phải tỉnh thức. Ví dụ hơi mâu thuẫn, vì nói về một ông chủ nhà tỉnh thức, bởi lẽ ông ta biết giờ kẻ trộm lẻn đến ban đêm. Khi biết, thì dễ chờ đợi hơn ! Còn chúng ta, chúng ta thấy thời gian dài, mà chẳng hay biết gì. Không biết là một lý do khiến chúng ta đừng ngủ say. Được hay thua thì điều quan trọng là đừng để tường nhà mình bị chọc thủng. Con Người đến gặp chúng ta. Đừng có ngủ say trong thời gian đó : “Đó là lý do tại sao anh em phải tỉnh thức, bởi vì vào giờ mà anh em không ngờ, Con Người sẽ đến.”

2. “Vì không biết Người, anh em hãy tỉnh thức”

(P. Geoitrain, trong “Assemblées du Seigneur”, n. 5, tr. 28).

“Lời khẳng định của Đức Giê-su về việc chúng ta không biết ngày, giờ, tránh cho chúng ta khỏi mọi tính toán về ngày Chúa đến. Niềm hy vọng Người trở lại luôn luôn còn đó, không phải là một chờ đợi bồn chồn, mà là một chắc chắn về Đấng đã đến, đang đến sống giữa những người thân yêu của Người, sẽ đem lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống và cho vũ trụ của chúng ta, Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi người” (1 Cr 15,24-28).

Được giải thoát khỏi những vấn nạn “khi nào và thế nào” rồi, người Ki-tô hữu chỉ còn lo chú ý vào việc phải sống như là ngày đó đã đến thật sự. Trong ý nghĩa đó, những câu chúng ta vừa đọc mời chúng ta hướng về trời ít hơn là gọi chúng ta quan tâm đến những bổn phận hằng ngày mà Thầy chúng ta đòi hỏi. Sự tỉnh thức càng quyết liệt hơn khi giờ kết thúc vẫn còn chưa điểm. Tiếng kêu của Tin Mừng : “Hãy sẵn sàng, hãy tỉnh thức” phải vang dội trong tâm hồn của người đang chờ đợi cuộc hội ngộ lớn lao, không phải như một nỗi ám ảnh liên hệ đến ơn cứu độ riêng tư của mình, mà như một đòi hỏi trung thành với những sứ mạng Thầy trao phó.

3. “Hãy có một con tim tỉnh thức”

(G. Boucher, “La terre parle au ciel”, tr. 5, tại nhà tác giả : Résidence de Kerampir, 19820 Bohars).

“Thiên Chúa cứu chuộc dân Người. Thiên Chúa cứu chuộc nhân loại. Thiên Chúa tỉnh thức ta. Thiên Chúa mời gọi ta. Tới phiên ta trả lời Người.

Nếu ta ngủ mê, quá bận rộn với những công việc vật chất, ta sẽ ở bên lề biến cố Thiên Chúa tỏ mình ra là Đấng Cứu Độ.

Chẳng lẽ mối lo mua bánh hay thu hoạch rau quả không thể nối tiếp những phút suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời ? Những phút ta dừng lại để kiểm điểm mối tương giao với Thiên Chúa ? Một lời nhắc nhở chúng ta đừng quá đầu tư vào cuộc sống vật chất đến nỗi không nhìn ra ơn cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện nơi ta, “ngày tốt đẹp” mà Người đã nói với ta hay sao ?

Nếu muốn chụp lấy tấm ván cứu độ, ta hãy mở rộng đôi mắt. Tinh thần minh mẫn. Con tim tỉnh thức. Tâm hồn đợi chờ.

Và ta sẽ đi chuyến tàu đang tới.”