A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : St 2,7-9 ; 3,1-7

Đáp ca : Tv 50,3-4.5-6a.12-13.14 và 17 (Đ. x. c.3a)

Bài đọc 2 : Rm 5,12-19

Tung hô Tin Mừng: Mt 4,4b

Tin Mừng : Mt 4,1-11

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : St 2,7-9 ; 3,1-7

2. Thiên Chúa tạo dựng con người (St 2,4b-25)

2. Đáp ca : Tv 50

3. Bài đọc 2 : Rm 5,12-19

4. Bài Tin Mừng : Mt 4,1-11

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và Cám dỗ

2. “Những cám dỗ của Đức Giê-su cũng là của chúng ta hôm nay”

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : St 2,7-9 ; 3,1-7

Thiên Chúa dựng nên hai ông bà nguyên tổ. Ông bà phạm tội.

Bài trích sách Sáng thế.

2 7 Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật. 8 Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra.

9 Đức Chúa là Thiên Chúa khiến từ đất mọc lên đủ mọi thứ cây trông thì đẹp, ăn thì ngon, với cây trường sinh ở giữa vườn, và cây cho biết điều thiện điều ác.

3 1 Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Đức Chúa là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà : “Có thật Thiên Chúa bảo : ‘Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không ?’” 2 Người đàn bà nói với con rắn : “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. 3 Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo : ‘Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.’” 4 Rắn nói với người đàn bà : “Chẳng chết chóc gì đâu ! 5 Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” 6 Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình ; ông cũng ăn. 7 Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng : họ mới kết lá vả làm khố che thân.

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Tv 50,3-4.5-6a.12-13.14 và 17 (Đ. x. c.3a)

Đ. Lạy Chúa, xin dủ lòng xót thương, vì chúng con đắc tội với Ngài.

3 Lạy Thiên Chúa,
xin lấy lòng nhân hậu xót thương con,
mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm.
4 Xin rửa con sạch hết lỗi lầm,
tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Đ.

5 Vâng, con biết tội mình đã phạm,
lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.
6a Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa,
dám làm điều dữ trái mắt Ngài. Đ.

12 Lạy Chúa Trời,
xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng,
đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.
13 Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh,
đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài. Đ.

14 Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ,
và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con ;
17 Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,
cho con cất tiếng ngợi khen Ngài. Đ.

 

Bài đọc 2 : Rm 5,12-19

Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.

Bài trích của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

12 Thưa anh em, vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. 13 Trước khi có Lề Luật, đã có tội lỗi ở trần gian. Nhưng nếu không có Luật, thì tội không bị kể là tội. 14 Thế mà, từ thời A-đam đến thời Mô-sê, sự chết đã thống trị cả những người đã không phạm tội bất tuân lệnh Thiên Chúa như A-đam đã phạm. A-đam là hình ảnh Đấng sẽ tới.

15 Nhưng sự sa ngã của A-đam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa. Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã, mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người. 16 Ơn Thiên Chúa ban cũng khác với hậu quả do một người phạm tội đã gây ra. Quả thế, vì một người duy nhất phạm tội, con người đã bị xét xử để phải mang án, còn sau nhiều lần sa ngã, thì lại được Thiên Chúa ban ơn cho trở nên công chính. 17 Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, lại còn lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính, thì sẽ được sống và được thống trị.

18 Tóm lại, cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống. 19 Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính.

Đó là lời Chúa.

Hoặc : Bài đọc ngắn : Rm 5,12.17-19

Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội.

Bài trích thư của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Rô-ma.

12 Thưa anh em, vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội. 17 Nếu chỉ vì một người, một người duy nhất sa ngã, mà sự chết đã thống trị, thì điều Thiên Chúa làm qua một người duy nhất là Đức Giê-su Ki-tô, lại còn lớn lao hơn biết mấy. Quả vậy, những ai được Thiên Chúa ban ân sủng dồi dào và cho trở nên công chính, thì sẽ được sống và được thống trị.

18 Tóm lại, cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống. 19 Thật vậy, cũng như vì một người duy nhất đã không vâng lời Thiên Chúa, mà muôn người thành tội nhân, thì nhờ một người duy nhất đã vâng lời Thiên Chúa, muôn người cũng sẽ thành người công chính.

Đó là lời Chúa.

Tung hô Tin Mừng: Mt 4,4b

Người ta sống, không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.

Tin Mừng : Mt 4,1-11

Đức Giê-su đã ăn chay bốn mươi ngày và chịu cám dỗ.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

1 Sau khi chịu phép rửa, Đức Giê-su được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. 2 Người ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Người thấy đói. 3 Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Người và nói : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi !” 4 Nhưng Người đáp : “Đã có lời chép rằng : Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.”

5 Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Người trên nóc đền thờ, 6 rồi nói với Người : “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi ! Vì đã có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.”

7 Đức Giê-su đáp : “Nhưng cũng đã có lời chép rằng : Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.”

8 Quỷ lại đem Người lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, 9 và bảo rằng : “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.” 10 Đức Giê-su liền nói : “Xa-tan kia, xéo đi ! Vì đã có lời chép rằng : Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”

11 Thế rồi quỷ bỏ Người mà đi, và có các sứ thần tiến đến hầu hạ Người.

Đó là lời Chúa.

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : St 2,7-9 ; 3,1-7

Nhân dịp nghe lại bài đọc 1 trích từ sách Sáng thế, quyển sách đầu tiên của Kinh Thánh, kể lại việc Chúa tạo dựng con người và việc con người sa ngã phạm tội, thể theo ý kiến của nhiều người, tôi muốn mời anh chị em tìm hiểu kỹ hơn về các chương đầu của sách Sáng thế với ba chủ đề sau đây, để anh chị em có thể hiểu đúng ý nghĩa của bản văn Kinh Thánh.

1) Thiên Chúa tạo dựng muôn loài

Mười một chương đầu sách Sáng thế, nhất là các chương 1 đến 3, nhằm trả lời những câu hỏi ngàn đời của con người về những điểm rất căn bản như : Vũ trụ và con người bởi đâu mà có ? Con người là gì ? Tại sao có đau khổ ? Loài người còn có hy vọng nào không ?

Trước hết, sách Sáng thế 1,1–2,4a nói về việc Thiên Chúa tạo dựng muôn loài. Bản văn trình bày việc tạo dựng vũ trụ hoàn thành trong sáu ngày, để đề cao ngày thứ bảy. Trong dân Ít-ra-en có luật làm việc sáu ngày và nghỉ ngày thứ bảy (ngày sa-bát : Xh 20,8-11). Tác giả đoạn văn cũng lấy khuôn khổ một tuần lễ để trình bày việc tạo dựng, và như vậy có ý lấy hoạt động của Thiên Chúa làm gương mẫu cho công việc của con người. Sáu ngày tạo dựng chia làm hai đợt song song, mỗi đợt ba ngày : đợt đầu là “công trình phân biệt” tạo nên những khu vực cố định : sáng – tối ; nước phía dưới – nước phía trên ; biển – đất, cây cối ; đợt sau là “công trình trang trí” : mặt trời – mặt trăng, ngôi sao ; cá – chim ; thú vật – người.

Như vậy các chương này là một suy tư thần học về vũ trụ và định mệnh con người, chứ không phải là một thiên phóng sự, một bài nghiên cứu khoa học, một trang lịch sử nhằm thuật lại sự việc đúng như đã xảy ra. Đây là một lời tuyên xưng đức tin, một bài giáo huấn có mục đích dạy rằng Thiên Chúa là nguồn gốc muôn loài. Giáo huấn này thời nào cũng có giá trị, còn cách hình dung vũ trụ thì lệ thuộc vào những quan niệm bình dân thời xưa.

Như vậy, Sáng thế 1,1–2,4a là một bài giáo huấn về Thiên Chúa, về vạn vật và về con người.

1.1) Về Thiên Chúa : Thiên Chúa là Đấng duy nhất, siêu việt, vẫn có từ trước muôn loài. Thiên Chúa tạo dựng muôn loài do quyền năng, bằng lời, cách dễ dàng và sắp đặt muôn loài cách khôn ngoan. Thiên Chúa làm Chủ muôn loài.

1.2) Về vạn vật : Muôn loài đều do Thiên Chúa và đều tốt. Do đó, đoạn văn gián tiếp dạy : sự dữ không phải do Thiên Chúa. Các loài cũng được Thiên Chúa ban cho khả năng tiếp tục việc tạo dựng.

1.3. Về con người : Con người là chóp đỉnh của việc tạo thành. Khác với mọi loài, con người là hình ảnh của Thiên Chúa, nghĩa là thuộc giới linh thiêng và do đó được đại diện Thiên Chúa làm chủ muôn loài, nghĩa là có quyền sử dụng muôn loài theo ý Thiên Chúa. Việc phân biệt nam nữ tính và truyền sinh cũng ở trong chương trình của Thiên Chúa. Nam nữ bình đẳng vì cả hai cùng ở trong định nghĩa của chữ “người”.

2. Thiên Chúa tạo dựng con người (St 2,4b-25)

“Thiên Chúa tạo dựng con người” (2,7). Đây là một câu quan trọng, dùng hình ảnh để nói lên những ý niệm :

Thiên Chúa nắn nên con người. Thần thoại miền Lưỡng Hà ở Trung Đông cũng nói thần minh lấy đất nắn thành người. Tác giả Kinh Thánh mượn hình ảnh này để nói : Cũng như đồ gốm tuỳ tay thợ gốm, con người là gì thì hoàn toàn tuỳ ở ý Thiên Chúa.

Thiên Chúa lấy bụi đất mà làm ra con người. Trong tiếng Híp-ri, chữ a-đam (người) và a-đa-ma (đất) gần giống nhau. Vì thế tác giả hình dung người làm bằng đất để nói rằng : bản chất con người là mỏng giòn, yếu đuối và con người có liên hệ mật thiết với đất.

Thiên Chúa thở hơi vào sống mũi. Theo nhận xét thông thường, có thể xem hơi thở qua lỗ mũi mà biết ai còn sống hay đã chết. Do đó tác giả hình dung lỗ mũi như cái cửa qua đó Thiên Chúa ban sự sống : con người là bụi đất, nhưng sự sống là do Thiên Chúa ban cho.

Như vậy, tác giả mô tả Thiên Chúa làm một việc cụ thể, nhưng tác giả không có ý nói con người được làm nên cách nào, mà nói con người là gì : con người là bởi Thiên Chúa, xét về thể chất, con người có liên lạc với đất ; xét là loài có sự sống, con người gần với Thiên Chúa Hằng Sống.

Cử chỉ Thiên Chúa lấy đất nắn và thổi hơi là một “kiểu nói như nhân”, mà ta sẽ gặp nhiều lần trong Cựu Ước. Đó là những kiểu nói hình dung và mô tả Thiên Chúa như con người ! Người có tay, chân, tai, mắt, để làm, để đi, để nghe, để nhìn ... Người lại còn buồn, giận, ghét, yêu thích, nhớ lại, hối hận nữa. Thời Cựu Ước, người ta vẫn biết Thiên Chúa không phải là người, nhưng người ta vẫn dùng những kiểu nói đó để chỉ rằng Thiên Chúa không phải là một ý niệm trừu tượng, nhưng là một hữu thể, một Đấng luôn luôn sống và hành động. Chính chúng ta ngày nay cũng không thể hoàn toàn tránh được những kiểu nói như nhân về Thiên Chúa. Hơn nữa, nếu bỏ hẳn những kiểu nói đó sẽ làm cho ta quan niệm Thiên Chúa bớt sống động và trở nên xa lạ đối với ta.

Thiên Chúa tạo cho con người một khu vực sống. Sau khi đã tạo dựng con người, Thiên Chúa còn lo cho có một khu vực để sinh sống : đó là vườn Ê-đen (vườn địa đàng) với đủ điều kiện : có nhiều thứ cây mà con người có thể dùng, có nhiều nước (từ vườn có một con sông với bốn nhánh lớn chảy ra), nên phì nhiêu và thuận tiện cho việc trồng trọt. Tuy nhiên, con người được đặt vào vườn không phải để ở không và làm theo ý riêng, vì phải làm và giữ vườn, như một người quản lý cho Thiên Chúa, và phải tuân theo ý muốn của Thiên Chúa biểu lộ trong lệnh cấm ăn trái cây biết lành biết dữ.

Thiên Chúa tạo cho con người một kẻ giúp đỡ tương xứng. Thiên Chúa dựng nên người nữ. Ở đây có hai ý chính : người nữ thuộc cùng một loài, một bản tính với người nam. Trong tiếng Híp-ri, chữ ishsha (đàn bà, vợ) giống chữ ish (đàn ông, chồng) và như thể bởi ish mà ra. Đàng khác lại có kiểu nói “người nọ bởi xương, bởi thịt của người kia” để chỉ hai người đó họ hàng ruột thịt với nhau. Do đó khi tác giả hình dung Thiên Chúa lấy một cái gì đó của người nam để làm nên người nữ, ông có ý nói : cả hai cùng một loài với nhau và rất thân thiết với nhau. Người nam và người nữ có khuynh hướng đến với nhau. Khuynh hướng này cũng là do ý Thiên Chúa. Cả hai trở nên một trong hôn nhân và trong con cái, là cái gì chung của cả hai.

Cám dỗ và sa ngã. Con rắn tượng trưng cho một quyền lực ác cám dỗ con người để phá vỡ hạnh phúc của họ, đó là Xa-tan. Phương pháp của nó rất khéo léo : nó hỏi bâng quơ, nhưng một trật cũng xuyên tạc ý Thiên Chúa, dường như Người cấm ăn mọi thứ trái cây. Sau câu trả lời của người nữ, con rắn nói dối cách quả quyết : “Chẳng chết chóc gì đâu”, nó gây sự nghi ngờ, hiểu lầm về Thiên Chúa, sự quyến rũ dần dần mạnh lên, bà E-và thấy trái đẹp, ngon, nên hái, ăn và cho chồng mình cùng ăn.

Hậu quả đầu tiên của tội. Họ tưởng mình sẽ biết lành biết dữ như Xa-tan cám dỗ, thì hoàn toàn không phải như vậy, họ chỉ nhận biết mình yếu đuối, chẳng có gì cả. Một trật, tội lỗi gây ra sự đổ vỡ trong con người, làm mất thế quân bình và hoà hợp nơi họ, họ không làm chủ được mình nữa, do đó họ cảm thấy hổ thẹn trước mặt nhau ... Tội phá đổ trật tự căn bản giữa con người với Thiên Chúa, làm mất sự hoà hợp của con người với Thiên Chúa, do đó gây nên những lộn xộn khác, mất hoà hợp với bản thân, mất hoà hợp với thiên nhiên. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn còn thương yêu con người trong lời tuyên án phạt con rắn : “Ta sẽ gây mối thù giữa ngươi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15). Câu này được gọi là “Tin Mừng thứ nhất” bởi vì, ngay sau khi ông bà nguyên tổ phạm tội đáng phạt, Thiên Chúa đã mở cho một chân trời hy vọng. Người Ki-tô hữu biết rằng lời hứa này đã được thực hiện đầy đủ nơi Chúa Ki-tô, cũng là con cái loài người, và trong chiến thắng này, Mẹ của Người là Đức Ma-ri-a cũng có dự phần.

2. Đáp ca : Tv 50

1) Thánh vịnh 50 là một thánh vịnh sám hối, được gán cho vua Đa-vít sau khi ông ngoại tình với bà Bát-xơ-va, vợ tướng U-ri-a và giết chết viên tướng này. Thật ra, thánh vịnh 50 đã được sáng tác vào thời dân Ít-ra-en bị lưu đày bên Ba-by-lon, như tiếng dội lại những lời sấm của ngôn sứ Giê-rê-mi-a : “Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta” (Gr 31,33) và ngôn sứ Ê-dê-ki-en : “Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi” (Ed 36,26).

Một số câu trích thánh vịnh 50 cho phép ta vạch ra một hành trình sám hối trong mùa Chay thánh này :

Lạy Thiên Chúa,

xin lấy lòng nhân hậu xót thương con, mở lượng hải hà xoá tội con đã phạm. Xin rửa con sạch hết lỗi lầm,

tội lỗi con, xin Ngài thanh tẩy. Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.

Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài.

Lạy Chúa Trời,

xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần cho con nên chung thuỷ.

Xin đừng nỡ đuổi con không cho gần Nhan Thánh, đừng cất khỏi lòng con thần khí thánh của Ngài.

Xin ban lại cho con niềm vui vì được Ngài cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con ;

lạy Chúa Trời, xin mở miệng con, cho con cất tiếng ngợi khen Ngài.”

3. Bài đọc 2 : Rm 5,12-19

Bài đọc 2 hôm nay so sánh Đức Ki-tô với tổ phụ A-đam và cho thấy Đức Ki-tô trổi vượt tổ phụ A-đam. Ông A-đam là căn nguyên của tội lỗi, Đức Ki-tô là nguồn mạch sự sống và ơn được nên công chính. Bài đọc 2 đưa ra một loạt những đối chọi giữa hai nhân vật A-đam và Đức Giê-su : tội của ông A-đam, ân sủng của Đức Giê-su ; án xử đưa đến án phạt, ân sủng ban cho được nên công chính ; tội của ông A-đam làm cho sự chết thống trị ; ơn được nên công chính cho những ai đã lãnh nhận được ân sủng ; tội của một người sinh ra án phạt, việc làm của một người đem lại ơn được nên công chính ; sự bất tuân tạo ra các tội nhân, sự tuân phục tạo nên những người công chính.

4. Bài Tin Mừng : Mt 4,1-11

1) Bài Tin Mừng hôm nay kể lại việc Chúa Giê-su chịu cám dỗ. Người sống lại kinh nghiệm của dân Ít-ra-en xưa trên núi Xi-nai (Đnl 8,2-4 ; Ds 14,34) vì Chúa Giê-su là Mô-sê mới, lãnh đạo cuộc Xuất hành mới. Hơn nữa, Người còn là hiện thân của Ít-ra-en mới. Có điều Người khác với dân Ít-ra-en xưa ở chỗ Người đã trải qua các cơn thử thách mà vẫn trung thành với chức năng và ơn gọi của mình.

Đã làm người, người tự do và có trách nhiệm, tất nhiên Chúa Giê-su phải bị thử thách, nghĩa là phải lựa chọn. Bản văn ở đây nói rõ : Thánh Thần dẫn Chúa Giê-su vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ, nghĩa là đặt Chúa Giê-su vào một hoàn cảnh để Người tự khẳng định và chứng tỏ thái độ làm Con Thiên Chúa. Thật ra, Chúa Giê-su không chỉ bị cám dỗ như một con người, mà đặc biệt như Vị Mê-si-a. Chính ma quỷ cũng để lộ ý đồ của nó trong nghi vấn : “Nếu ông là Con Thiên Chúa”.

Chúa Giê-su ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày như ông Mô-sê xưa : “Khi lên núi để nhận các bia đá, những tấm bia Giao ước mà Đức Chúa đã lập với anh em, tôi đã ở trên núi bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn bánh, không uống nước” (Đnl 9,9.18).

“Nếu ông là Con Thiên Chúa” : tước hiệu này thuộc nội dung các lời hứa về Vua Mê-si-a con Đa-vít. Các lời trích Sách Thánh cho ta thấy ba cơn cám dỗ Chúa Giê-su phải chịu gợi lại ba cuộc thử thách dân Ít-ra-en xưa đã trải qua trong sa mạc và họ đã vấp ngã. Điều này ám chỉ Chúa Giê-su mang trong mình ơn gọi của dân Ít-ra-en mới, là Giáo Hội, và trong Người, Giáo Hội chiến thắng Xa-tan.

Cơn cám dỗ về bánh ăn. “Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập” (Mt 2,15 lấy lại lời ngôn sứ Hô-sê 1,1). Khi chịu phép rửa bởi ông Gio-an tại sông Gio-đan, Chúa Giê-su đã lãnh nhận Thánh Thần hướng dẫn Người vào sa mạc, như “cột mây” đã hướng dẫn dân Ít-ra-en suốt bốn mươi năm hành trình qua sa mạc trong thiếu thốn cùng cực nhưng thừa mứa những lời trách móc, và được Chúa ban cho man-na dư dật để no lòng. Chúa Giê-su chiến thắng cơn cám dỗ này khi lấy lại lời cảnh báo của sách Đệ nhị luật : “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” Chúng ta vẫn nhớ việc Chúa Giê-su làm phép lạ nuôi sống nhiều ngàn người đang đói trong sa mạc, nhưng Chúa Giê-su dạy ta phải xin lương thực hằng ngày, vật chất cũng như tinh thần. Chúa Giê-su không làm phép như quỷ cám dỗ. Sứ mạng của Người là công bố Lời hằng sống của Cha Người.

Cơn cám dỗ ở đền thờ. Trên nóc đền thờ, tên cám dỗ đề nghị Chúa Giê-su gieo mình xuống, như thế là thử thách Thiên Chúa theo thánh vịnh 90/91 : “Bởi chưng Người truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá.” Chúa Giê-su trích sách Đệ nhị luật để đối lại tên cám dỗ : “Anh em đừng thách thức Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, như anh em đã thách thức ở Ma-xa” (Đnl 6,16). Lời của tên cám dỗ nói với Đức Giê-su giống như lời các kinh sư và mấy người Pha-ri-sêu muốn Chúa Giê-su làm dấu lạ (Mt 12,38) hay xin Người cho thấy một dấu lạ từ trời (Mt 16,1), nghĩa là họ muốn Chúa Giê-su làm phép lạ theo ý họ muốn. Trên đồi Can-vê, kẻ qua người lại đều nhục mạ Chúa Giê-su. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Người mà nói : “Hắn cứu được thiên hạ, mà chẳng cứu nổi mình. Hắn là Vua Ít-ra-en ! Hắn cứ xuống khỏi thập giá ngay bây giờ đi, chúng ta tin hắn liền.”

Cơn cám dỗ về quyền lực. Cơn cám dỗ diễn ra trên núi cao, nhắc lại việc ông Mô-sê cũng đã thấy tất cả miền đất hứa từ đỉnh núi Nê-bô. Xa-tan tự cho mình là Thủ lãnh của thế gian, người nắm trọn mọi quyền bính trong tay. Trong sách Khải huyền ở chương 13,2 kể lại việc con Mãng Xà ban quyền cho Con Thú, hai Con Thú này là công cụ của Xa-tan. “Con Thú tôi trông thấy thì giống như con báo, chân nó như chân gấu, mõm như mõm sư tử. Con Mãng Xà ban cho nó quyền năng và ngai báu của mình cũng như một quyền hành lớn lao.” “Xa-tan, lui lại đằng sau Thầy.” Lời Chúa Giê-su quở trách ông Phê-rô khi ông can gián Chúa lúc Chúa báo trước cuộc Thương Khó của Người : “Xa-tan, lui ra đằng sau Ta.” Đây cũng là lời cuối cùng của cha Jacques Hamel, vào ngày 26-7-2016, khi hai kẻ khủng bố ra lệnh cho ngài chối bỏ đức tin Ki-tô giáo tại nhà thờ Saint Etienne de Rouvray ở Pháp.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa Giê-su, Chúa dạy chúng con phải tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ đầy dẫy trong cuộc lữ hành trần thế, vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn. Xin Chúa thương ban ơn trợ giúp để chúng con biết noi gương Chúa mà chiến thắng mọi cơn cám dỗ trong cuộc sống đức tin thường ngày, nhờ sống lời Chúa dạy trong Tin Mừng.

Tự vấn :

Trong cuộc sống đức tin thường ngày, chúng ta đã chống trả các cơn cám dỗ bằng cách nào ?

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và Cám dỗ

(J. Guillet, “Jésus la foi des premiers disciples” Desclée de Brouwer, 1995, tr. 46-47).

“Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và Cám dỗ chính là mối liên lạc của đức tin, nơi Đức Giê-su và nơi chúng ta. Cơn cám dỗ rõ ràng là một trong những chỗ mà người ta không thể nào hiểu được Đức Giê-su nếu không nói đến niềm tin của Người. Sống nhờ những gì Thiên Chúa ban cho, hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa, một mình đối diện trước hư không, trước một tương lai vô định, dưới nhiều dạng khác nhau, đó chính là kinh nghiệm của đức tin. Và nếu, theo các sách Tin Mừng, kinh nghiệm ấy đi liền với biến cố Phép Rửa, là bởi vì trong biến cố ấy, nó đóng một vai trò rất quan trọng. Và bằng chứng đây là vấn đề của đức tin, đó là những cám dỗ của Đức Giê-su cũng chính là những cám dỗ của dân Chúa trong hoang địa. Khi thắng những cám dỗ ấy, Chúa muốn đồng thời chỉ cho họ thấy họ đang thiếu cái gì và hôm nay Người mang đến cho họ cái gì. Bây giờ nếu trung thành với những chỉ dẫn của các sách Tin Mừng, đối chiếu hai biến cố Phép Rửa và Cám dỗ của Đức Giê-su, người ta sẽ có thể nhận ra được chỗ đứng đặc biệt của đức tin nơi cả hai đoạn. Kết quả đối chiếu bề ngoài có vẻ mâu thuẫn : Phép Rửa là nơi tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa, là nơi vang rền tiếng phán từ trời cao, trái lại, Cám dỗ là chỗ của sự xa vắng, của đói khát, của trống trải hư không. Phải nói rằng Đức Giê-su đã lần lượt nếm qua cả hai kinh nghiệm chính yếu trên.

Đối lại với lối giải thích nông cạn đó, chúng ta phải để ý đến cách suy luận rất rõ của các Tin Mừng, đến sự nhấn mạnh của các sách ấy vào mối liên lạc thâm sâu giữa hai khoảnh khắc. Không phải chỉ đơn giản là sự tương phản ở hiện tượng bên ngoài, nhưng là một sợi dây nối kết sâu bên trong. Trong câu chuyện này hay câu chuyện kia, nội dung vẫn là Chúa Con trong tương quan với Thiên Chúa. Là Con Thiên Chúa, điều đó mang đến một lúc hai ý nghĩa không thể tách rời nhau : là lắng nghe tiếng nói yêu thương của Chúa Cha, và trọn vẹn vâng phục thánh ý Người. Cả hai làm thành đức tin, đức tin của Con Thiên Chúa.

Đúng là người tín hữu thường phải sống đức tin trong tâm trạng xa vắng và đêm tối tâm hồn. Không có sự xa vắng đó, đức tin sẽ biến chất và tiêu tan thành một thứ thị kiến ảo ảnh. Nhưng ngay trong tâm trạng xa vắng đó, người tín hữu kinh nghiệm một sự gặp gỡ, một sự hiện diện. Thánh Gio-an Thánh Giá đã xây dựng toàn bộ học thuyết của mình trên lời dạy này : nhận biết Thiên Chúa qua đức tin chính là đã đạt được Người trong chân lý của Người, ngay từ cuộc đời này. Cuộc gặp gỡ trong đêm tối này, niềm xác tín thường chỉ là vô thức này, chính là trung tâm, cốt lõi của đức tin chân thật, mà chỉ với một đức tin như vậy chúng ta mới nhận biết một vị Thiên Chúa thật. Đức tin một trật vừa là ánh sáng rực rỡ, vừa là bóng tối thẳm sâu. Cũng thế, một cách bất khả phân ly, ánh sáng của phép Rửa cùng với đêm tối của Cám dỗ, làm nên đức tin của Đức Giê-su Ki-tô, mầm mống của đức tin chúng ta.”

2. “Những cám dỗ của Đức Giê-su cũng là của chúng ta hôm nay”

(Mgr. L. Daloz, trong “Le Règne des cieux s’est apporché”, Desclée de Brouwer, 1994, tr. 34-35).

“Chúng ta thấy : những cám dỗ của Đức Giê-su cũng là của chúng ta hôm nay. Chẳng có gì phải ngạc nhiên. Chúng ta biết rằng nơi Ðấng là Ðầu, toàn Thân Mình đã chiến thắng cám dỗ. Chính nhờ cậy dựa vào Người, mà đến lượt mình, chúng ta có thể thoát được cạm bẫy của tên cám dỗ. Đức Giê-su dạy chúng ta phải đương đầu như thế nào : bằng cách chạy đến với Lời Chúa. Lời Chúa soi đường chỉ lối cho chúng ta đi. Lời Chúa chở che, bảo đảm cho chúng ta khỏi bị lầm lạc. Thật là nguy hiểm nếu chúng ta để mình buông theo xu hướng tự nhiên của loài người : ma quỷ cũng không mong gì hơn chúng ta đồng loã với chúng như thế. Khi ấy Lời Chúa sẽ là thành luỹ bảo vệ chúng ta …”