Cha GIUSE LÂM QUANG TRỌNG (1914 – 1986)
Cha chính Giuse Lâm Quang
Trọng sinh năm 1914 tại Tân Phường, một giáo xứ thuộc Giáo phận Bùi Chu.
Lớn lên, chú bé Lâm Quang Trọng
tự nguyện dâng mình cho Chúa nơi Cha già cố Đaminh Phạm Quang Giản lúc đó đang
coi xứ Giáo Lạc. Sau một cuộc thi khảo, chú Lâm Quang Trọng được nhận vào Tiểu
chủng viện, Trong thời gian ở đó, Lâm Quang Trọng luôn luôn tỏ ra là một chủng
sinh chuyên chăm, đạo đức, vui tươi, gương mẫu.
Học hết Tiểu Chủng viện,
thầy Lâm Quang Trọng được gia nhập Đại chủng viện thánh Albertô tại
Sau bốn năm học thần học
tại Đại chủng viện Penang, thầy Lâm Quang Trọng trở về Việt
Sáu tháng sau, ngày
20-12-1941, khi mọi chuẩn bị đã hoàn tất, thầy Lâm Quang Trong được thụ phong
linh mục, do Đức cha Hồ Ngọc Cẩn truyền chức tại nhà thờ các Thánh Tử đạo tại
Quần Phương.
Sau khi lãnh nhận chức
linh mục, cha Lâm Quang Trọng được Đức giám mục trao phó cho hai chức vụ quan
trọng: làm giáo sư Đại chủng viện Quần Phương, và Tổng tuyên úy thanh niên địa
phận.
27 tuổi đời, với dáng
người cao và nhanh nhẹn, với trí thông minh sắc sảo và nền học thức trổi vượt,
cha Lâm Quang Trọng đã thi hành hai chức vụ đó một cách hoàn hảo. Nhiều người
trong địa phận lúc đó nhìn về cha với lòng ngưỡng mộ.
Tại Đại chủng viện Quần
Phương, cha dạy môn Luân lý Thần học. Cha được các thầy đại chủng sinh rất tin
tưởng và quí mến.
Đến năm 1946, vì tình hình
an ninh không được bảo đảm, ngài rời bỏ trường Thần học Quần Phương, để đến Hà
Nội, và sống ở đó một cách âm thầm lặng lẽ.
Trong những ngày sống lặng
lẽ này, cha bắt đầu viết sách. Cuốn sách đầu tay của cha là cuốn: “Mẹ đầy ơn phúc” được
xuất bản năm 1950. Sau đó, cha lần lượt cho ra đời những cuốn: “Cuộc đời Chúa Cứu Thế” (1954), “Ánh sáng Phúc Âm” (1955), “Tìm về Thượng Đế” (1956), “Vô thần hay hữu thần” (1956), “Tôn giáo với loài người” (1957), “Vườn hoa muôn sắc” (1975).
Các sách do cha sáng tác
có thể xếp thành hai lọai: tu đức và minh giáo. Lời văn của cha sáng sủa, sống
động và điêu luyện; tư tưởng của cha rất mạch lạc; lập luận của cha rất vững
chắc.
Đến năm 1952, tình hình an
ninh tại Bùi Chu trở nên tồi tệ. Đại chủng viện Bùi
Hiệp định Genève 1954 chia
đôi đất nước. Đại chủng viện Bùi chu được di chuyển vào Sài Gòn. Cha Lâm Quang
Trọng lại tiếp tục dạy Thần học Luân Lý tại Đại chủng viện Bùi Chu.
Năm 1957 sức khỏe của cha
sút kém. Cha rời Trường Thần học để đi nghỉ dưỡng bệnh.
Sau 6 tháng nghỉ dưỡng
sức, cha Lâm Quang Trọng được Đức Giám Mục Sài Gòn bổ nhiệm đi coi sóc họ đạo
Xuân Lộc, một họ nhánh của giáo xứ Suối Tre với khoảng 500 giáo hữu. Họ đạo
Xuân Lộc lúc đó nhỏ bé, tiêu điều, xơ xác, không có nhà xứ, nhà thờ thì nhỏ hẹp
với cột gỗ. Hai bên hông nhà thờ đồng bào sống chen chúc, xô bồ, thường hay gây
huyên náo và gây lộn cãi nhau ầm ĩ.
Nhưng rồi với ý chí cương
quyết và nhẫn nại, với lòng can trường hiếm có và tài xoay sở tháo vát, cha bắt đầu xây dựng giáo xứ.
Việc đầu tiên của cha là
tậu một ngôi nhà xứ, để lấy chỗ sinh hoạt và làm việc.
Tiếp đó, cha đi tìm đất,
lập cư xá Thánh Mẫu để di chuyển những gia đình sống bên hông nhà thờ tới nơi ở
mới. Khi khu vực nhà thờ đã được giải tỏa, cha bắt đầu xây cất Trường tiểu học
Thánh Gioan.
Trong thời kì đó, tỉnh
Long Khánh được thành lập. Đồng bào tuôn về sinh sống tại thị xã rất đông. Số
giáo dân tăng lên mau chóng. Nhà thờ cũ trở nên quá chật hẹp. Cha dồn hết năng
lực để xây nhà thờ mới. Sau ba năm xây cất, ngôi nhà thờ mới được hoàn thành,
một ngôi nhà thờ rộng rãi, kiên cố, đồ sộ với ngọn tháp vút cao. Chính ngôi nhà
thờ này là nơi qui tụ cho một giáo phận mới, giáo phận Xuân Lộc. Và nhà thờ này
đã trở thành nhà thờ Chính tòa của giáo phận mới.
Việc xây cất nhà thờ đã
hoàn tất. cha lại nghĩ tới công cuộc xã hội. Cha xây cất cô nhi viện Bêlem và
trao cho các nữ tu Na-gia-rét nhiệm vụ điều hành cô nhi viện mới.
Để nâng cao văn hóa, cha
Lâm Quang Trọng cũng đứng ra xây cất trường Trung học Hòa Bình, một cơ sở giáo
dục đồ sộ, lớn lao vào bậc nhất tỉnh Long Khánh.
Qua những công việc có
tính cách tôn giáo, xã hội và văn hóa lớn lao như trên, uy tín của cha lên rất
cao. Chính quyền đã trao tặng cha huy chương Mỹ Bội Tinh để tưởng thưởng cha.
Đức giám mục giáo phận cũng đặt cha làm Cha Chính Địa Phận, đứng đầu các linh
mục trong giáo phận.
Khi mọi việc đang diễn
tiến tốt đẹp, thì biến cố 1975 xảy đến. Tất cả đều thay đổi. Tự cảm thấy mình
không còn đủ sức khỏe để thích nghi với hoàn cảnh mới, cha Chính Trọng lặng lẽ
đi về thành phố để tĩnh dưỡng trong những ngày xế chiều. Tuy xa cách, nhưng
lòng trí ngài vẫn luôn hướng về Xuân Lộc, nơi cha đã đổ ra biết bao mồ hôi nước
mắt, đã đầu tư biết bao công sức, đã chịu đựng biết bao sóng gió, đã không
ngừng phấn đấu để xây dựng và vun trồng.
Nguyện vọng tha thiết nhất
của cha là được sống, chết và an nghỉ tại Xuân Lộc. Tâm hồn cha mòn mỏi trong
nỗi niềm thương nhớ Xuân Lộc. Sức khỏe cha yếu dần. Vào lúc 6 giờ chiều ngày 27
tháng 7 năm 1986, trái tim cha đã ngừng đập, hưởng thọ 72 tuổi. Cha ra đi trong
nỗi niềm tiếc thương vô hạn của đoàn chiên. Thi hài cha đã được đưa về an táng
tại Xuân Lộc đúng theo nguyện vọng của cha.