“Trung thành với giáo huấn của Đức Kitô, chúng ta nhìn vào thực tế của các gia đình ngày nay trong toàn bộ tính phức tạp của nó, với cả những mặt sáng lẫn những mặt tối” (Tông huấn Amoris laetitia(AL), số 32). Lời khẳng định định này trong Tông huấn Amoris laetitia không chỉ diễn tả góc nhìn của Giáo hội về gia đình, mà còn tương đồng với cách mà ngành khoa học xã hội nghiên cứu về đời sống gia đình. Là một triết gia chính trị và xã hội, tôi tìm cách nghiên cứu gia đình như một thực tại phức tạp, diễn giải các mối liên hệ giữa ánh sáng và bóng tối trong đời sống gia đình.

Cả gia đình và Giáo hội đều là những thực tại phức tạp bởi lẽ cả hai đều là những thực tại của những mối tương quan. Điều này có nghĩa là đời sống trong gia đình cũng như Giáo hội, được hình thành từ những mối tương quan định hình nên bản sắc của mỗi người trong chúng ta. Thông qua những mối tương quan mà chúng ta xây dựng với người khác – dù đó là mẹ, là cha, là anh chị em – chúng ta trở thành những người xây dựng đời sống cá nhân của bản thân, đồng thời góp phần phát triển đời sống của gia đình và Giáo hộivới tư cách là những cộng đồng, thể chế.

Gần đây, trong Thông điệp Magnifica humanitas(MH), Đức Thánh cha nhắc lại cho chúng ta lời của Thánh Phaolô: “Nhưng mỗi người phải coi chừng về cách mình xây cất” (MH 229). Tầm quan trọng của lời kêu gọi này trở nên thật rõ ràng khi chúng ta suy ngẫm về gia đình và Giáo hội như những thực tại được cấu thành từ những mối tương quan. Thật vậy, chúng ta có thể nhắc nhở lẫn nhau rằng: mỗi người chúng ta hãy ý thức về những mối tương quan mình xây dựng trong gia đình và trong Giáo hội.

1. Nói về gia đình và Giáo hội trong mối liên hệ với nhau: Tông huấn Amoris laetitia dưới ánh sáng của Hiến chế mục vụ Gaudium et spes

Trong mười năm qua, theo tinh thần của Tông huấn Amoris laetitia, chúng ta nhận ra rằng việc chỉ liệt kê những thay đổi quan trọng đang tác động đến gia đình ngày nay thôi là chưa đủ. Chúng ta còn phải tập trung vào mối tương quan giữa Giáo hội và gia đình – nghĩa là những tác động qua lại giữa các thay đổi trong Giáo hội và những biến đổi trong gia đình. Amoris laetitia nêu rõ góc nhìn này ngay từ những dòng đầu tiên: "Niềm vui của tình yêu được sống trong các gia đình cũng là niềm vui của Giáo hội" (AL 1). Xét về mặt văn phong, những dòng mở đầu này của Amoris laetitia cũng là âm vang những dòng mở đầu trong Hiến chế Gaudium et Spes: ‘Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đang đau khổ, cũng là sự vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu của các môn đệ Đức Kitô.’ Do đó, có một sự tương đồng giống như hình ảnh phản chiếu trong gương giữa những dòng mở đầu của Amoris laetitia và lời mở đầu của Gaudium et spes.

Mỗi người chúng ta đều có thể quan sát thấy những nỗi âu lo và niềm hy vọng của các gia đình từ bên ngoài, như thể chúng là một phần thực tại nằm trước mắt chúng ta. Thái độ này có thể gợi nhớ đến hình ảnh “đắm tàu và người đứng xem”. Thật vậy, chúng ta có nguy cơ nghĩ rằng những biến đổi về nhân học và xã hội luôn là chuyện của người khác. Tuy nhiên, chính những thay đổi này lại cho thấy cách thức chính các Giáo hội địa phương cũng đang chuyển mình cùng với các gia đình. Trình thuật về vụ đắm tàu của Thánh Phaolô trong chương 27 sách Công vụ Tông đồ gợi mở khả năng cho một góc nhìn khác. Thánh Phaolô không phải là người đứng ngoài xem một vụ đắm tàu. Thánh Phaolô không đứng nhìn các vấn đề từ xa. Chính ngài là người bị đắm tàu, người cảm thấy cần được cứu thoát cùng với đông đảo các bạn đồng hành của mình. Những âu lo và hy vọng của đám đông đều ‘gần gũi’ đối với Giáo hội; đó là nguồn lực cho Giáo hội, gia đình của Thiên Chúa. Đó là lý do tại sao cách thức xây dựng gia đình ngày nay có mối liên hệ mật thiết với cách thức sống tư cách là Giáo hội – gia đình của Thiên Chúa – trong thời đại hiện nay.

Chúng ta cũng có thể diễn đạt góc nhìn này qua nguyên tắc chăm sóc mục vụ: ‘Không thể loan báo Tin mừng của Thiên Chúa mà không nhận lãnh trách nhiệm đối với những người được đón nhận Tin mừng ấy’. Các gia đình, với tư cách là những người đón nhận sứ điệp Tin mừng, đã trải nghiệm một câu chuyện tình yêu với Thiên Chúa; Tin mừng đã và đang hoạt động bên trong họ. Do đó, chăm sóc mục vụ là một không gian mà ở đó Giáo hội hiểu được điều Thiên Chúa đang nói với mình qua các gia đình, để chính Giáo hội có thể hiểu sâu sắc hơn về Tin mừng và việc loan báo Tin mừng.

Trong lịch sử gần đây, khi bàn về mối tương quan giữa gia đình và Giáo hội, chúng ta đã sử dụng một số hình ảnh ẩn dụ; chẳng hạn, hình ảnh “Giáo hội tại gia” hoặc “Giáo hội là gia đình của Thiên Chúa”. Ngày nay, việc sử dụng các hình ảnh ẩn dụ này trong thần học và mục vụ có thể được bổ sung bằng những suy tư thần học và mục vụ về các việc thực hành. Thật vậy, các thực hành trong gia đình giúp chúng ta hiểu cách thức các Giáo hội địa phương và gia đình học hỏi lẫn nhau. Cả Giáo hội và gia đình quả thật đều học hỏi thông qua những thực hành trong đời sống hằng ngày của mình. Chẳng hạn, các Giáo hội địa phương và gia đình đều chào đón và đồng hành với người khác qua những thực hành cụ thể – những hành động mang tính thói quen và được thực hiện cùng nhau – qua đó chúng ta mời gọi, quy tụ, cử hành hoặc tưởng niệm.

 

2. Gia đình và những biến đổi về nhân học – văn hóa: ba góc nhìn theo phương pháp luận

Dưới ánh sáng của những suy tư trên, tôi muốn trình bày ba góc nhìn theo phương pháp luận sẽ hữu ích cho tiến trình phân định chung của chúng ta trong những ngày sắp tới.

Góc nhìn thứ nhất: những thay đổi trong đời sống gia đình chính là những thay đổi mang tính xã hội. Là những người nam và người nữ sống đời sống gia đình, chúng ta được biến đổi về mặt xã hội – nghĩa là chúng ta cùng nhau biến đổi thông qua việc cùng nhau hành động. Xét từ góc độ đời sống gia đình, những thay đổi về nhân học và văn hóa (AL 32) không phải là những hiện tượng vĩ mô diễn ra "bên trên đầu chúng ta" (tức là nằm ngoài tầm kiểm soát hay sự tham gia của chúng ta). Đúng hơn, đó là những thay đổi thực tiễn liên quan đến những gì chúng ta làm ‘bằng chính đôi tay của mình’ qua các hành động hằng ngày. Tông huấn Amoris laetitia chỉ ra một số thay đổi như thế: chủ nghĩa cá nhân cực đoan (AL 33), văn hóa nhất thời (AL 39), tình trạng di cư và sự dịch chuyển của con người (AL 46). Để hiểu những thay đổi này dưới góc nhìn mục vụ, cần phải phân tích chúng từ quan điểm của các thực hành gia đình, nghĩa là tập trung vào ‘các hành động chung’ qua đó chúng ta ‘xây dựng một gia đình’ hôm nay. Chẳng hạn, đối với hai bạn trẻ đã đính hôn nhưng vì lý do công việc phải sống ở hai quốc gia khác nhau, những cuộc gọi video họ thực hiện mỗi tối là một ‘thực hành’ thiết yếu để nuôi dưỡng mối tương quan tình cảm từ xa của họ.

Nhận xét này dẫn đến góc nhìn phương pháp luận thứ hai: những biến đổi nhân học và văn hóa không phải là các vấn đề, mà là những hoạt động của con người. Tông huấn Amoris laetitia nhắc nhở chúng ta rằng các mối tương quan gia đình, ngay cả khi gặp khó khăn và đau khổ, ‘không phải là một vấn đề; mà trước hết, chúng là một cơ hội’ (AL 7). Mọi gia đình đều phải đối diện với những thay đổi, cả lớn lẫn nhỏ. Một số thay đổi trong đời sống gia đình bắt nguồn từ những tiến trình thay đổi xã hội lớn và có thể biểu hiện dưới hình thức những quyết định áp đặt lên họ. Tuy nhiên, nhìn từ góc độ của chính các gia đình, các biến đổi nhân học và văn hóa không nên được xem là những vấn đề cần phải giải quyết, mà còn là những tiến trình cụ thể trong đó các cá nhân và gia đình hành động, phản ứng, học hỏi và phát triển các nguồn lực mới.

Do đó, sự thay đổi góc nhìn mục vụ về gia đình (AL 199) đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực hơn nữa để nhận diện, ngay trong đời sống gia đình, trên hết không phải là bất kỳ vấn đề nào, mà là các hoạt động của con người. Một sinh viên người Philippines của tôi, khi viết luận văn đã phân tích định nghĩa xã hội học về ‘văn hóa trong thảm họa’ khi áp dụng cho đất nước của cậu. Philippines thường xuyên bị tàn phá bởi bão và lũ; tuy nhiên, chính những thách thức này đã vun đắp nên một văn hóa của tình liên đới trong gia đình, đây là nét đặc trưng của người dân Philippines. Các gia đình Philippines hiểu rất rõ những hành động và tập quán cần thiết để giúp đỡ lẫn nhau khi đối mặt với một khủng hoảng xã hội như một cơn bão.

Từ suy tư này dẫn đến tiền đề phương pháp luận thứ ba: những biến đổi xã hội là cơ hội để học hỏi. Sự hoán cải mục vụ trước hết đòi hỏi ‘tinh thần sẵn sàng học hỏi’ của toàn thể Dân Thiên Chúa, khi họ vượt qua những thay đổi về nhân học và văn hóa. Chẳng hạn, hãy xem việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số mới đang làm thay đổi những thói quen hằng ngày của các gia đình và cách thức nuôi dạy con cái như thế nào. Một ý thức mục vụ được đổi mới phải nhận ra rằng chúng ta đang học cách làm những điều mới và tất cả chúng ta đang đắm mình trong một tiến trình ‘học hỏi tập thể’ vô cùng lớn. Chúng ta có thể nói rằng các gia đình đã và đang học hỏi khi các sáng kiến mục vụ tìm đến để đồng hành với họ. Vì thế, chúng ta phải lắng nghe các gia đình, đồng thời nhận thức rằng lắng nghe là một khía cạnh của tiến trình học hỏi rộng lớn hơn, một tiến trình liên quan đến Giáo hội với tư cách là cộng đoàn các môn đệ thừa sai.

Do đó, mỗi người chúng ta có thể tự hỏi bản thân, từ góc nhìn cụ thể của chính mình (với tư cách là một người cha, một người mẹ, một nhà thần học hay một mục tử): Liệu tôi có thể nhận ra và chia sẻ với người khác ít nhất một điều mới mẻ mà tôi đã học được– hoặc đã học được một cách thực hiện khác– trong những năm gần đây của đời sống gia đình hay đời sống mục vụ của mình không?

 

3. Cuộc chạy trốn sang Ai Cập: các gia đình và Giáo hội học hỏi qua những thay đổi

Như vậy, gia đình và Giáo hội cùng nhau học hỏi thông qua những biến đổi. Tôi tin rằng trình thuật Tin mừng về cuộc chạy trốn sang Ai Cập của Chúa Giêsu, Thánh Giuse và Đức Maria (Mt 2:13–23) có thể giúp chúng ta hiểu rõ hơn động lực này. Tôi muốn trở lại với câu chuyện đó bằng cách tập trung vào ba từ: sự dịch chuyển, bạo lực, giấc mơ.

Cuộc trốn chạy của Thánh gia từ Nadarét là một ví dụ về sự dịch chuyển của gia đình. Trải nghiệm đầu tiên của Chúa Giêsu cùng với cha mẹ mình là trải nghiệm của một người di dân. Ngay khi vừa chào đời, Chúa Giêsu đã trở thành một người ngoại kiều trên đất Ai Cập, giống như nhiều gia đình khi họ rời bỏ quê hương để chuyển đến các quốc gia khác, hoặc như nhiều gia đình đang sống như những người nhập cư và người ngoại quốc trong các giáo phận của chúng ta. Giáo hội đang được định hình lại như thế nào trong những bối cảnh có nhiều gia đình di dân đến? Trong thời điểm lịch sử này, qua hiện tượng dịch chuyển của con người, Chúa đang nói điều gì với các Giáo hộiđịa phương, để các Giáo hội địa phương có thể hiểu sâu sắc hơn Tin mừng và sứ điệp của Tin mừng?

Nhà thần học người Congo, Josée Ngalula, nhận xét rằng đối với những người di cư băng qua sa mạc Sahara ở châu Phi trên hành trình hướng đến bờ biển Địa Trung Hải, sự hiện diện của Giáo hội mang hình thức của những “Giáo hội tại gia” – nói cách khác, đó là những mái ấm gia đình nơi các môn đệ của Chúa trước hết là những người cung cấp nước uống, thức ăn và sự nghỉ ngơi cho những người đang thực hiện một hành trình dài.

Ngày nay, dựa trên kinh nghiệm của các gia đình tị nạn và di dân, một số cộng đoàn Kitô hữu đang tái định hình để trở thành những “Giáo hội tại nơi trú ẩn”. Thật vậy, nhiều Giáo hội địa phương cảm thấy được kêu gọi để mang lấy hình thức của một “quán trọ” hoặc “mái ấm gia đình”. Thật tuyệt vời biết bao nếu trong những ngày làm việc chung này, các Giáo hội địa phương đang dấn thân vào những sáng kiến như thế có thể chia sẻ những hoa trái và thách thức của các sự thay đổi này.

Từ thứ hai là bạo lực. Thánh gia đã trở thành những người di dân vì phải đối diện với bạo lực; các ngài bị bao vây bởi những nhà cầm quyền chính trị khát máu đang sát hại các trẻ em vô tội. Tình trạng bất an bắt nguồn từ bạo lực xã hội và chính trị là một thực tế đáng lo ngại mà nhiều Giáo hội địa phương ngày nay phải đối mặt trong đời sống hằng ngày. Chiến tranh du kích vũ trang ở Mỹ Latinh, nội chiến ở nhiều quốc gia trên khắp lục địa châu Phi, và các băng nhóm tội phạm đô thị ở nhiều thành phố châu Âu và châu Á: tất cả những hiện tượng này đều là thực tại cay đắng hằng ngày đối với các gia đình và các Giáo hội địa phương đang sống trong những bối cảnh đó. Bạo lực leo thang – không chỉ dưới hình thức những cuộc chiến tranh quốc tế được truyền thông toàn cầu đưa tin – là một trong những yếu tố chính làm thay đổi đời sống các Giáo hội địa phương và gia đình. Nguy cơ mất mạng do tình trạng bất ổn và thiếu an toàn trong xã hội cũng đang dần dần làm thay đổi những mối tương quan mật thiết. Bạo lực thậm chí có thể hủy hoại chính những mối dây ràng buộc gia đình và những mối tương quan bên trong các Giáo hội địa phương.

Từ thứ ba là giấc mơ. Trong câu chuyện cuộc Trốn chạy sang Ai Cập, Thánh Giuse mơ và hình dung ra những con đường mới dẫn đến ơn cứu độ. Trên khắp thế giới, các gia đình và các Giáo hội địa phương đã và đang mơ ước và hình dung về một thế giới tốt đẹp hơn. Những giấc mơ này được dệt nên từ các hành động cụ thể hằng ngày, chẳng hạn như hành động của ông bà Lorena Fornasir và Gian Andrea Franchi, một đôi vợ chồng ở thành phố Trieste của Ý, chăm sóc đôi chân cho những người di dân di chuyển dọc theo tuyến đường Balkan. Mơ ước có nghĩa là học lại cách làm một điều gì đó mới mẻ, theo nghĩa hình dung ra một hình thức chăm sóc mục vụ chưa từng có trước đây, chẳng hạn như chăm sóc đôi chân cho các gia đình di dân. Mơ ước và hình dung ra những hình thức mới cho Giáo hội cũng có nghĩa là đổi mới lại những gì chúng ta đang làm. Hình dung về Giáo hội có nghĩa là sẵn lòng học hỏi lẫn nhau, trong khi chúng ta cùng nhau được biến đổi, trong vai trò là cộng đoàn Giáo hội và là các gia đình. Vì thế, nếu “hạnh phúc của gia đình có tính quyết định cho tương lai của thế giới và của Giáo hội”. (AL 31), thì chúng ta có thể tự đặt cho mình câu hỏi này: Giữa những mảng sáng và tối của thời đại hôm nay, chúng ta cần làm gì để học hỏi và hình dung ra những cách thức mới để trở thành một gia đình và trở thành Giáo hội?

Thứ Năm, ngày 08 tháng 10 năm 2026

Giáo sư Vincenzo Rosito (amorislaetitia.va)