Đức Lêô XIV, Bài giảng Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (15/3/2026) - Đức Kitô đến để ban ánh sáng, hy vọng và hòa bình cho nhân loại

Đức Lêô XIV, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (15/3/2026) - Nhìn từ đôi mắt của Chúa

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (19/3/2023) - Cần ngạc nhiên và thay đổi cách nhìn

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (22/3/2020) - Hãy chiếu tỏa ánh sáng Chúa Kitô

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (26/3/2017) - Ánh sáng đích thực

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (30/3/2014) - Thiên Chúa luôn chờ đợi để mở mắt cho chúng ta

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (03/4/2011) - Ý nghĩa Chúa nhật Vui mừng

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (02/3/2008) - Để cho công trình Thiên Chúa được bộc lộ

 

Đức Lêô XIV, Bài giảng Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (15/3/2026) - Đức Kitô đến để ban ánh sáng, hy vọng và hòa bình cho nhân loại

Anh chị em thân mến,

Thánh lễ hôm nay của chúng ta đặc biệt tràn đầy niềm vui. Vẻ đẹp của cuộc gặp gỡ này được đặt trong bối cảnh của Chúa nhật được gọi là “Laetare”, nghĩa là “Hãy vui lên”, theo lời ngôn sứ Isaia: “Hỡi Giêrusalem, hãy vui lên” (Ca nhập lễ, x. Is 66,10).

Điều này khiến chúng ta suy nghĩ. Hiện nay trên thế giới, nhiều anh chị em của chúng ta đang phải chịu đau khổ vì những cuộc xung đột bạo lực, phát sinh từ ảo tưởng phi lý rằng có thể giải quyết vấn đề và bất đồng bằng chiến tranh, trong khi điều cần thiết là đối thoại không ngừng để đạt tới hòa bình. Có người thậm chí còn muốn lôi kéo danh Thiên Chúa vào những lựa chọn dẫn đến cái chết ấy; nhưng Thiên Chúa không thể bị sử dụng cho bóng tối. Trái lại, Người luôn đến để ban ánh sáng, hy vọng và hòa bình cho nhân loại, và chính hòa bình là điều mà những ai kêu cầu Người phải tìm kiếm.

Đó là sứ điệp của Chúa nhật này: dù con người có rơi vào vực sâu nào do tội lỗi của mình, Đức Kitô vẫn đến để mang lại một ánh sáng mạnh mẽ hơn, có khả năng giải thoát con người khỏi sự mù lòa của điều ác, để họ có thể bắt đầu một cuộc sống mới.

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người mù từ thuở mới sinh (x. Ga 9,1-41) có thể được ví như một cảnh sinh ra mới: nhờ đó người này, giống như một đứa trẻ vừa chào đời, khám phá một thế giới mới, nhìn thấy chính mình, người khác và cuộc sống bằng đôi mắt của Thiên Chúa (x. 1 Sm 16,9).

Vậy chúng ta hãy tự hỏi: Cái nhìn ấy là gì? Nó mặc khải điều gì? “Nhìn bằng đôi mắt của Thiên Chúa” nghĩa là gì?

Theo lời thánh sử Gioan, trước hết điều đó có nghĩa là vượt qua những thành kiến của những người khi thấy một người đau khổ thì chỉ coi họ như kẻ bị loại bỏ đáng khinh miệt, hoặc như một vấn đề cần tránh, rồi tự nhốt mình trong pháo đài của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ. Ta thường nghe những câu như: “Lúc mọi sự thuận lợi thì có nhiều bạn bè; nhưng khi gặp thử thách thì nhiều người bỏ đi, biến mất.”

Chúa Giêsu không như vậy. Người nhìn người mù bằng tình yêu, không coi anh như một kẻ thấp kém hay một sự hiện diện phiền toái, nhưng như một con người đáng quý đang cần được giúp đỡ. Vì thế cuộc gặp gỡ của họ trở thành cơ hội để công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi mọi người.

Nơi “dấu lạ”, nơi phép lạ, Chúa Giêsu bày tỏ quyền năng thần linh của Người, và con người – gần như lặp lại những cử chỉ của công trình sáng tạo với bùn và nước bọt – lại biểu lộ trọn vẹn vẻ đẹp và phẩm giá của một thụ tạo được dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Khi được sáng mắt, anh trở thành chứng nhân của ánh sáng.

Tất nhiên điều này đòi hỏi một hành trình khó khăn: anh phải làm quen với nhiều điều trước đây chưa biết, học phân biệt màu sắc và hình dạng, thiết lập lại các mối tương quan của mình – và điều đó không hề dễ dàng. Hơn nữa, sự thù nghịch xung quanh anh gia tăng: người ta khiêu khích anh, và ngay cả cha mẹ anh cũng không dám bảo vệ anh (x. Ga 9,18-23). Thật nghịch lý, những người ở gần anh dường như muốn phủ nhận điều đã xảy ra.

Không chỉ thế: trong cuộc thẩm vấn người mù nay đã thấy được, thì người thực sự bị xét xử lại chính là Chúa Giêsu, bị cáo buộc đã vi phạm ngày sabát khi chữa lành cho anh.

Như vậy nơi những người chứng kiến lộ ra một sự mù lòa khác, còn nghiêm trọng hơn: họ không nhận ra ngay trước mắt mình dung mạo của Thiên Chúa, và họ đánh đổi cơ hội gặp gỡ mang lại ơn cứu độ lấy sự an toàn cằn cỗi của việc tuân giữ luật lệ một cách hình thức. Trước sự cứng lòng như vậy, Chúa Giêsu không dừng lại, cho thấy rằng không có ngày sabát nào có thể cản trở một hành động yêu thương. Thực ra, ý nghĩa của ngày sabát đối với dân Israel – và đối với chúng ta là ngày Chúa nhật – chính là cử hành mầu nhiệm sự sống như một hồng ân, mà đứng trước hồng ân đó, không ai có thể làm ngơ trước tiếng kêu của người anh chị em đang đau khổ.

Có lẽ đôi khi chúng ta cũng có thể bị mù theo nghĩa ấy, khi không nhận ra người khác và những vấn đề của họ. Nhưng Chúa Giêsu mời gọi chúng ta sống khác đi, như cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi đã hiểu rõ: họ kiên trì trong cầu nguyện và chia sẻ mọi sự với niềm vui và lòng đơn sơ (x. Cv 2,42-47). Không phải lúc ấy không có khó khăn và thử thách, nhưng họ không nản lòng: nhờ ơn Bí tích Rửa tội, họ cố gắng sống như những thụ tạo mới, sống hiệp thông và hòa bình với mọi người, và tìm thấy trong cộng đoàn một gia đình đồng hành và nâng đỡ.

Anh chị em thân mến,

Đó là những hoa trái mà chúng ta được kêu gọi mang lại như con cái của ánh sáng (x. 1 Tx 5,4-5). Giáo xứ của anh chị em trong gần chín mươi năm qua đã trung thành sống sứ mạng ấy, với sự quan tâm đặc biệt đến những hoàn cảnh nghèo đói, bị gạt ra bên lề và khẩn cấp; với việc chú ý đến sự hiện diện của nhà tù Rebibbia trong khu vực, và với nhiều dấu chỉ nhạy cảm và liên đới khác.

Tôi biết anh chị em giúp đỡ nhiều anh chị em đến từ các quốc gia khác hội nhập vào nơi đây: học ngôn ngữ, tìm một mái nhà xứng đáng và có một công việc lương thiện, ổn định. Dĩ nhiên cũng không thiếu khó khăn, đôi khi còn trầm trọng hơn bởi những kẻ vô lương tâm lợi dụng tình trạng túng thiếu của người yếu thế để mưu lợi cho mình. Nhưng tôi biết rõ nỗ lực của tất cả anh chị em trong việc đối diện với những thách đố ấy, qua các hoạt động của Caritas, các nhà gia đình tiếp nhận phụ nữ và các bà mẹ gặp khó khăn, cùng nhiều sáng kiến khác. Tôi cũng biết đến sự năng động và quảng đại của anh chị em trong việc giáo dục giới trẻ và thiếu nhi, qua nhà nguyện sinh hoạt và nhiều chương trình đào tạo khác.

Thánh Augustinô, khi nói về dung mạo Thiên Chúa – mà chúng ta được mời gọi phản chiếu trong thế giới – đã nói với các Kitô hữu thời ngài:

“Tình yêu có khuôn mặt nào? Hình dạng nào, tầm vóc nào, bàn chân nào, bàn tay nào?…
Nó có đôi chân dẫn đến nhà thờ;
có đôi tay trao tặng cho người nghèo;
có đôi mắt để nhận ra người đang cần giúp đỡ.”

Và ngài còn nói thêm về đức ái: “Hãy giữ lấy nó, hãy ôm lấy nó: không có gì ngọt ngào hơn thế.”

Anh chị em thân mến,
Đó chính là món quà ánh sáng được trao cho anh chị em, để anh chị em làm cho nó lớn lên trong mình và giữa cộng đoàn, trong tất cả sự dịu dàng của nó, và lan tỏa ra thế giới qua cầu nguyện, việc lãnh nhận các Bí tích và lòng bác ái. Hãy tiếp tục dấn thân như thế trên hành trình của anh chị em.

Xin Thánh Tâm Chúa Giêsu, mà giáo xứ của anh chị em được dâng kính cho Người, luôn uốn nắn và gìn giữ cộng đoàn tốt đẹp này, để với tâm tình của chính Đức Kitô (x. Pl 2,5), anh chị em sống và làm chứng với niềm vui và lòng tận tụy cho kho tàng ân sủng mà anh chị em đã lãnh nhận.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Lêô XIV, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (15/3/2026) - Nhìn từ đôi mắt của Chúa

Anh chị em thân mến, chúc Chúa nhật tốt lành!

Tin mừng của Chúa nhật thứ tư mùa Chay kể lại việc Chúa Giêsu chữa lành một người mù từ thuở mới sinh (x. Ga 9,1-41). Qua biểu tượng của biến cố này, thánh sử Gioan nói với chúng ta về mầu nhiệm ơn cứu độ: khi chúng ta còn ở trong bóng tối, khi nhân loại bước đi trong đêm tối (x. Is 9,1), Thiên Chúa đã sai Con của Người như ánh sáng thế gian đến để mở mắt cho những người mù và chiếu sáng cuộc đời chúng ta.

Các ngôn sứ đã loan báo rằng Đấng Mêsia sẽ mở mắt cho người mù (x. Is 29,18; 35,5; Tv 146,8). Chính Chúa Giêsu cũng xác nhận sứ mạng của mình khi cho thấy rằng: “kẻ mù được thấy” (Mt 11,4); và Người tuyên bố: “Ta là ánh sáng thế gian” (Ga 8,12). Thật vậy, chúng ta có thể nói rằng tất cả chúng ta đều là những người “mù từ khi mới sinh”, bởi vì tự sức mình chúng ta không thể nhìn thấy sâu xa mầu nhiệm của sự sống. Vì thế Thiên Chúa đã trở nên xác phàm nơi Đức Giêsu, để bùn đất của nhân tính chúng ta, được nhào nặn với hơi thở ân sủng của Người, có thể nhận được một ánh sáng mới, giúp chúng ta cuối cùng nhìn thấy chính mình, nhìn thấy tha nhân và nhìn thấy Thiên Chúa trong sự thật.

Điều đáng chú ý là qua các thế kỷ đã lan truyền một quan niệm – và ngày nay vẫn còn – cho rằng đức tin giống như là “nhảy vào trong bóng tối”, là từ bỏ suy nghĩ; do đó, có đức tin nghĩa là tin “một cách mù quáng”. Nhưng Tin mừng lại nói rằng khi tiếp xúc với Đức Kitô, đôi mắt được mở ra, đến nỗi các nhà lãnh đạo tôn giáo liên tục hỏi người mù đã được chữa lành: “Làm sao mắt anh lại mở ra được như thế?” (Ga 9,10); và một lần nữa: “Ông ấy đã mở mắt cho anh thế nào ?” (c. 26).

Anh chị em thân mến, cả chúng ta cũng vậy, những người được chữa lành nhờ tình yêu của Đức Kitô, được mời gọi sống một Kitô giáo “với đôi mắt mở”. Đức tin không phải là một hành động mù quáng, không phải là từ bỏ lý trí, cũng không phải là tìm nơi trú ẩn trong một sự chắc chắn tôn giáo khiến chúng ta quay lưng lại với thế giới. Trái lại, đức tin giúp chúng ta nhìn “từ cái nhìn của Chúa Giêsu, bằng chính đôi mắt của Người: đó là tham dự vào cách nhìn của Người” (Thông điệp Lumen fidei, 18). Và vì thế, đức tin đòi hỏi chúng ta mở mắt, như Người đã làm, nhất là trước những đau khổ của người khác và trước những vết thương của thế giới.

Ngày nay, đặc biệt khi đứng trước bao câu hỏi của trái tim con người và trước những hoàn cảnh bi thảm của bất công, bạo lực và đau khổ đang đánh dấu thời đại chúng ta, cần có một đức tin tỉnh thức, chú tâm và mang tính ngôn sứ, một đức tin với đôi mắt mở trước những bóng tối của thế giới và mang đến đó ánh sáng của Tin mừng qua sự dấn thân cho hòa bình, công lý và tình liên đới.

Chúng ta hãy cầu xin Đức Trinh Nữ Maria chuyển cầu cho chúng ta, để ánh sáng của Đức Kitô mở mắt con tim chúng ta, và để chúng ta có thể làm chứng cho Người với sự đơn sơ và lòng can đảm.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (19/3/2023) - Cần ngạc nhiên và thay đổi cách nhìn

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay Tin mừng cho chúng ta thấy Chúa Giêsu phục hồi thị giác cho một người mù từ thuở mới sinh (x. Ga 9,1-41). Nhưng điều kỳ diệu này không được nhiều người và nhiều nhóm đón nhận. Chúng ta cùng xem cách cụ thể.

Nhưng trước tiên, tôi muốn nói với anh chị em: hôm nay, hãy lấy Phúc âm theo Thánh Gioan và anh chị em đọc phép lạ này của Chúa Giêsu. Cách kể của Thánh Gioan thật hay. Chương 9, chỉ mất hai phút để đọc. Thánh Gioan cho thấy cách Chúa Giêsu hành xử và cách trái tim con người hành xử: trái tim con người tốt lành, trái tim con người lạnh nhạt, trái tim con người sợ hãi, trái tim con người can đảm. Chương 9 của Tin mừng Gioan, hãy đọc ngay hôm nay, nó sẽ giúp ích cho anh chị em rất nhiều. Và con người chào đón dấu hiệu này như thế nào?

Trước hết là các môn đệ của Chúa Giêsu, những người khi đối diện với người mù bẩm sinh đã tự hỏi liệu có phải là lỗi của cha mẹ anh hay của chính anh (x. câu 2). Họ đang tìm kiếm thủ phạm và cả chúng ta cũng vậy; người ta dễ chịu khi đi tìm kiếm thủ phạm, thay vì đặt ra những câu hỏi mang tính dấn thân trong cuộc sống. Như hôm nay chúng ta có thể nói: sự hiện diện của người này có ý nghĩa gì đối với chúng ta, anh ấy yêu cầu chúng ta điều gì? Rồi sau việc chữa lành, các phản ứng càng tăng thêm. Đầu tiên là của những người láng giềng, họ hoài nghi: “Người này xưa giờ bị mù: không thể nào bây giờ lại thấy được, không thể nào là anh được, có lẽ là người khác. Người ta hoài nghi!” (xem cc. 8-9). Đối với họ, điều đó là không thể chấp nhận được, thà để mọi thứ như cũ (x. câu 16) và không xem đó là vấn đề. Họ sợ hãi, sợ hãi giới chức tôn giáo và không dám nói ra (x. cc. 18-21). Trong tất cả những phản ứng này, xuất hiện những trái tim đóng lại trước dấu chỉ của Chúa Giêsu, vì những lý do khác nhau: vì họ đang tìm kiếm thủ phạm, vì họ không biết cách ngạc nhiên, vì họ không muốn thay đổi, vì họ kẹt trong nỗi sợ hãi. Và ngày nay cũng xảy ra nhiều tình huống tương tự. Khi đối diện với một điều gì đó là sứ điệp chứng tá của một người, là sứ điệp của Chúa Giêsu, chúng ta rơi vào tình trạng này: chúng ta tìm kiếm một lời giải thích khác, chúng ta không muốn thay đổi, chúng ta tìm kiếm một lối thoát nhẹ nhàng hơn là chấp nhận sự thật.

Người duy nhất phản ứng tốt là anh mù: anh vui mừng vì được thấy, anh làm chứng về điều đã xảy ra với mình một cách đơn giản nhất: “Trước đây tôi mù mà nay tôi thấy được” (c. 25). Anh nói sự thật. Trước đây, anh phải đi ăn xin và chịu đựng những định kiến của người đời: “Anh nghèo lại mù từ lúc mới sinh, anh đã đau khổ, phải đền tội cho mình hay cho tổ tiên”. Giờ đây, được tự do về thể xác và cả tinh thần, anh ta làm chứng cho Chúa Giêsu: Anh ta không bịa ra điều gì và không giấu giếm điều gì. Anh ta không sợ những gì người khác sẽ nói: anh đã nếm được vị cay đắng của việc bị gạt ra bên lề trong suốt cuộc đời mình, anh đã cảm nhận được sự thờ ơ và khinh miệt của những người qua đường, của những người coi anh là đồ phế thải của xã hội, cùng lắm là có ích cho lòng thương cảm bố thí. Giờ đây, được lành bệnh, anh không còn sợ những thái độ khinh miệt đó nữa, vì Chúa Giêsu đã cho anh đầy đủ phẩm giá. Đây là điều rõ ràng, luôn là như vậy: Khi Chúa Giêsu chữa lành chúng ta, Chúa ban lại phẩm giá cho chúng ta, phẩm giá xuất phát từ sâu thẳm trái tim của Chúa Giêsu. Trong ngày Sabát, trước mặt mọi người, Người đã trả tự do cho anh và cho anh được sáng mắt mà không yêu cầu anh bất cứ điều gì, thậm chí cả lời cảm ơn. Anh mù đã làm chứng về điều đó. Đây là phẩm giá của một con người cao quý, của một người biết mình được chữa lành và khỏi bệnh, được tái sinh.

Anh chị em thân mến, với tất cả những nhân vật này, bài Tin mừng hôm nay cũng đặt chúng ta vào giữa khung cảnh này, để chúng ta tự hỏi: Chúng ta đứng ở đâu, chúng ta sẽ nói gì khi đó? Và trên hết, hôm nay chúng ta đang làm gì? Giống như người mù, chúng ta có thể nhìn thấy điều tốt và biết ơn những món quà chúng ta nhận được không? Chúng ta làm chứng cho Chúa Giêsu hay gieo rắc sự chỉ trích và nghi ngờ? Chúng ta có tự do khi đối diện với những định kiến hay chúng ta hùa theo những người gieo rắc tiêu cực và ngồi lê đôi mách? Liệu chúng ta có vui mừng nói rằng Chúa Giêsu yêu thương và cứu rỗi chúng ta, hay giống như cha mẹ của người mù bẩm sinh, chúng ta để mình bị nhốt trong lồng sợ hãi về những gì người ta sẽ nghĩ? Và một lần nữa, chúng ta đón nhận những khó khăn và đau khổ của người khác như thế nào? Xem họ như những lời nguyền hay như những dịp để gần gũi họ bằng tình yêu thương?

Chúng ta hãy xin ơn biết ngạc nhiên trước những quà tặng của Thiên Chúa mỗi ngày và nhìn thấy những hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống, ngay cả những hoàn cảnh khó chấp nhận nhất, như những cơ hội để làm điều thiện, như Chúa Giêsu đã làm với người mù. Xin Đức Mẹ giúp chúng ta trong việc này, cùng với Thánh Giuse, một người công chính và trung tín.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (22/3/2020) - Hãy chiếu tỏa ánh sáng Chúa Kitô

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tâm điểm của phụng vụ Lời Chúa Chúa nhật thứ IV mùa Chay là đề tài ánh sáng. Đoạn Tin mừng Thánh Gioan (9,1-14) thuật lại câu chuyện về người mù từ lúc mới sinh, người được Chúa chữa cho sáng mắt. Thật là tốt nếu tất cả anh chị em cầm sách Tin mừng thánh Gioan chương 9, đọc đoạn này. Nó sẽ tốt cho chúng ta khi đọc nó một lần hay hai lần. Dấu chỉ kỳ diệu này xác nhận lời khẳng định của Chúa Giêsu, Đấng đã nói về chính mình: "Ta là ánh sáng thế gian" (c. 5), ánh sáng chiếu soi những bóng tối trong chúng ta. Ngài thực hiện việc chiếu sáng ở hai cấp độ thể chất và tâm linh: Trước tiên, người mù được sáng mắt và sau đó được hướng dẫn đến niềm tin vào "Con Người" (c. 35), nghĩa là tin vào Chúa Giêsu. Những phép lạ Chúa làm không phải là những cử chỉ ngoạn mục, nhưng nhắm dẫn đến đức tin thông qua hành trình biến đổi nội tâm.

Những người Pharisêu và các tiến sĩ luật ngoan cố, không chịu chấp nhận phép lạ; họ đặt ra cho người được chữa lành những câu hỏi mưu mô. Nhưng bằng sức mạnh của thực tế, anh đã vượt thắng những khó khăn họ bày ra: “Tôi chỉ biết một điều: Trước đây tôi bị mù mà nay tôi nhìn thấy được!” (c. 25). Giữa sự ngờ vực và thù địch của những người vây quanh và nghi ngờ tra vấn, anh đã thực hiện một cuộc hành trình dần dần đưa anh khám phá căn tính của Đấng đã mở mắt cho anh và thú nhận niềm tin vào Ngài. Lúc đầu, anh xem Ngài là một tiên tri (c.17); sau đó anh nhận ra Ngài là một người đến từ Thiên Chúa (c. 33); cuối cùng anh đón nhận Ngài như Đấng Thiên Sai và sấp mình xuống trước mặt Ngài (cc. 36-38). Anh hiểu rằng khi chữa cho anh nhìn thấy, Chúa Giêsu đã "tỏ hiện công trình của Thiên Chúa" (c. 3).

Ước gì chúng ta cũng có thể có kinh nghiệm này! Với ánh sáng đức tin, người mù tìm khám phá căn tính đích thực của anh. Giờ đây anh là một “tạo vật mới”, có thể nhìn cuộc sống của anh ta và thế giới xung quanh anh ta bằng một ánh sáng mới, bởi vì anh được hiệp thông với Chúa Kitô. Anh không còn là một người ăn xin bị cộng đồng loại ra bên lề; anh không còn là nô lệ của sự mù quáng và định kiến. Hành trình được chiếu sáng của anh là một ẩn dụ của hành trình giải thoát khỏi tội lỗi mà chúng ta được mời gọi bước đi. Tội lỗi giống như một bức màn đen che mặt chúng ta và ngăn cản chúng ta nhìn rõ bản thân và thế giới; ơn tha thứ của Chúa xóa bỏ bóng tối này và mang lại cho chúng ta ánh sáng mới. Mùa Chay mà chúng ta đang sống là cơ hội và thời gian quý giá để đến gần Chúa, cầu xin lòng thương xót của Ngài, theo những hình thức khác nhau mà Giáo hội Mẹ đề ra cho chúng ta.

Người mù được chữa lành, bây giờ nhìn thấy bằng cả đôi mắt thể lý lẫn tâm hồn, là hình ảnh của mỗi người được rửa tội, được đắm mình trong ân sủng, được kéo ra khỏi bóng tối và được đưa vào trong ánh sáng của đức tin. Nhưng đón nhận ánh sáng thôi chưa đủ, nhưng còn cần phải trở thành ánh sáng. Mỗi người chúng ta được mời gọi đón nhận ánh sáng thần linh để biểu lộ nó ra bằng toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Các Kitô hữu đầu tiên, các thần học gia của những thế kỷ đầu, nói rằng cộng đoàn Kitô hữu, nghĩa là Giáo hội, là "mầu nhiệm mặt trăng": Bởi vì mang lại sáng nhưng không phải là chính ánh sáng; là ánh sáng nhận được từ Chúa Kitô. Cả chúng ta cũng là "mầu nhiệm mặt trăng": trao ban ánh sáng nhận được từ mặt trời là Chúa Kitô. Hôm nay Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật” (Ep 5,8-9). Hạt giống sự sống mới được gieo vãi nơi chúng ta trong Bí tích Rửa tội giống như tia lửa, giúp thanh lọc chúng ta trước hết, khi thiêu rụi sự ác trong trái tim chúng ta và cho phép chúng ta tỏa sáng và chiếu sáng với ánh sáng của Chúa Kitô.

Xin Đức Maria rất thánh giúp chúng ta bắt chước người mù trong Tin mừng, để chúng ta có thể được ánh sáng của Chúa Kitô bao phủ và cùng Ngài bước đi trên con đường cứu độ.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (26/3/2017) - Ánh sáng đích thực

Anh chị em thân mến!

Trung tâm của Tin mừng Chúa nhật thứ tư mùa Chay hôm nay là Chúa Giêsu và anh mù từ thuở mới sinh (Ga 9:1-41). Chúa Kitô đã chữa lành và phục hồi đôi mắt cho anh. Chúa thực hiện phép lạ này với cách thức mang đầy tính biểu tượng: trước hết Chúa trộn nước miếng cùng với đất rồi xoa vào mắt anh, sau đó Chúa bảo anh đến hồ Silôê mà rửa. Anh đã đi, rửa, và được sáng mắt. Anh ấy là người mù từ bẩm sinh. Với phép lạ này, Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta thấy, Ngài là ánh sáng thế gian, và mỗi người chúng ta cũng mù từ khi mới sinh, vì cho dù chúng ta được dựng nên để nhận biết Thiên Chúa, nhưng vì tội lỗi nên chúng ta cũng mù lòa, và chúng ta cần một thứ ánh sáng mới, đó là ánh đức tin, là ánh sáng mà Chúa Giêsu ban cho chúng ta. Thực tế, câu chuyện về người mù trong Tin mừng, còn mở ra mầu nhiệm Chúa Kitô. Chúa Giêsu hỏi: “Anh có tin vào Con Người không?” Anh ta đáp lại: “Thưa Thầy, nhưng Người là ai để tôi có thể tin vào Người?”. Chúa Giêsu nói tiếp: “Anh đã thấy Người và Người đang nói với anh.” Anh thưa lại: “Lạy Ngài, con tin” và anh sấp mình thờ lạy Chúa Giêsu.

Những điều ấy làm cho chúng ta phải suy nghĩ về đức tin của chúng ta, đức tin của chúng ta nơi Chúa Kitô, nơi Con Thiên Chúa. Và đây cũng là lúc thích hợp để nói về Bí tích Rửa tội, bí tích đầu tiên của đức tin, bí tích đem lại cho chúng ta ánh sáng nhờ nước và Chúa Thánh Thần. Điều ấy cũng đã xảy ra với anh mù. Anh được mở mắt sau khi anh đi rửa ở hồ Silôê. Anh mù được chữa lành khi anh nhận ra rằng Chúa Giêsu là ánh sáng, ánh sáng thế gian. Người là ánh sáng khi chúng ta dò dẫm trong bóng tối để kiếm tìm. Chúng ta cũng đã được Chúa Kitô soi sáng nhờ Bí tích Rửa tội, và chúng ta được gọi mời hành xử như con cái của sự sáng. Để sống như con các của sự sáng, chúng ta cần thay đổi cách nghĩ, cần có khả năng nhận định về con người và sự vật theo một thang giá trị khác, một thang giá trị đến từ Thiên Chúa. Thực vậy, Bí tích Rửa tội đòi hỏi phải lựa chọn sống như con cái ánh sáng và bước đi trong ánh sáng. Bây giờ các bạn có thể hỏi rằng: “Bạn có tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa không? Bạn có tin rằng chỉ có Ngài mới có thể thay đổi tâm hồn bạn? Bạn có nghĩ là có thể nhìn nhận thực tại giống như Chúa nhìn không, hay là chúng ta lại không thấy? Bạn có tin rằng Chúa là ánh sáng và Ngài sẽ ban cho chúng ta ánh sáng chân thực không? Bạn sẽ trả lời gì đây?” Trong lòng mỗi người hãy tự trả lời.

Thế nhưng, ánh sáng chân thực nghĩa là gì? Và bước đi trong ánh sáng nghĩa là gì? Trước hết, điều ấy có nghĩa là hãy bỏ đi những ánh sáng giả dối: thứ ánh sáng lạnh lùng gây tổn thương cho người khác, bởi những thành kiến bóp méo thực tế, bởi những hận thù xét đoán người khác cách không thương xót, bởi những kết án không căn cứ. Nó giống như thức ăn hàng ngày! Khi nói về người khác như thế, bạn đã không bước đi trong ánh sáng, mà chỉ bước đi trong những bóng mờ. Có thứ ánh sáng giả dối khác, nó quyến rũ và mơ hồ, nó dựa vào lợi ích cá nhân. Nếu chúng ta đánh giá sự vật và con người theo tiêu chí lợi nhuận của cá nhân chúng ta, theo sở thích của chúng ta, theo uy tín của chúng ta, thì chúng ta không sống theo sự thật trong các mối tương quan và các bối cảnh cụ thể. Nếu chúng ta đi theo con đường chỉ biết tìm lợi ích cá nhân, thì chúng ta đang đi trong bóng tối.

Lạy Đức Trinh nữ Maria, Mẹ là người đầu tiên đón nhận Chúa Giêsu, ánh sáng trần gian, xin nhậm lời chúng con cầu nguyện, để chúng con nhận được ơn sủng, là đón mùa Chay này với ánh sáng của đức tin, và tìm lại được món quà vô giá của bí tích rửa rội mà chúng con đã lãnh nhận. Xin cho ánh sáng mới này, biến đổi thái độ và hành vi của chúng con, khởi đi từ những gì nghèo hèn bé nhỏ của chúng con, để chúng con có thể mang lấy những tia sáng của Chúa Kitô.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (30/3/2014) - Thiên Chúa luôn chờ đợi để mở mắt cho chúng ta

Anh chị em thân mến,

Bài Tin mừng hôm nay trình bày cho chúng ta câu chuyện một người đàn ông bị mù từ thuở mới sinh, và được Đức Giêsu chữa cho sáng mắt. Câu chuyện dài này kể về việc người mù thì được sáng mắt, còn những ai tự phụ là sáng mắt thì bị đóng lại và càng mù tối trong tâm hồn hơn. Phép lạ chỉ được Thánh Gioan trình bày trong hai câu mà thôi vì vị Thánh sử này không muốn lôi kéo sự chú ý đến bản thân phép lạ, nhưng là muốn chú ý đến những gì diễn ra sau đó, trên cuộc thảo luận nổ ra.

Rất nhiều khi những việc làm tốt, những việc bác ái lại gây ra những cuộc đàm tiếu, những bàn luận bởi vì có một số người không muốn nhìn thấy sự thật. Và Thánh sử Gioan muốn lôi kéo sự chú ý đến điều vẫn còn đang diễn ra giữa chúng ta ngày nay, khi có một điều tốt được thực thi. Người mù được chữa lành bị chất vấn trước hết bởi đám đông đang ngạc nhiên - họ thấy phép lạ và họ chất vấn anh ta; sau đó là đến lượt giới Luật sĩ. Những người này còn chất vấn cả bố mẹ anh ta. Cuối cùng, người mù được chữa lành này đã đến được với đức tin, và đây là ơn lớn nhất mà Đức Giêsu đã làm cho anh ta: Không chỉ nhìn thấy mà còn biết Người, thấy Người, Đấng là "ánh sáng của thế gian" (Ga 9,5).

Trong khi người mù dần dần có được ánh sáng, thì ngược lại, những tiến sĩ luật vẫn cứ chìm sâu trong sự tối tăm nội tâm. Họ đóng kín định kiến của mình, tin chắc rằng mình đã có được ánh sáng; vì thế, họ không mở ra cho chân lý của Đức Giêsu. Họ làm đủ mọi cách để chối bỏ những điều hiển nhiên. Họ nghi ngờ về căn tính của người được chữa lành; rồi chối bỏ cả hành vi của Thiên Chúa trong việc chữa lành, với lý do là Thiên Chúa không chữa lành trong ngày Sabat; họ thậm chí còn nghi ngờ việc người này có thực sự bị mù từ thuở mới sinh không. Sự đóng kín của họ trước ánh sáng đã khiến họ trở nên nổi nóng và dẫn tới việc muốn trục xuất người đàn ông được chữa lành này ra khỏi đền thờ. Trục xuất ra khỏi đền thờ...

Con đường của người mù lại là một cuộc hành trình từng bước một, bắt đầu từ việc biết đến tên Giêsu. Anh ta không biết gì hơn về Ngài, anh ta nói: "Một người đàn ông tên là Giêsu đã trộn một chút bùn, xức vào mắt tôi" (c.11). Trả lời câu hỏi của các tiến sĩ luật, anh ta cho rằng Ngài là một ngôn sứ (c 17) và rồi là một người kề cận Thiên Chúa (c 31). Sau khi anh ta ra khỏi đền thờ, bị trục xuất khỏi xã hội, Chúa Giêsu đi tìm anh ta lần nữa và "mở mắt cho anh" lần thứ hai, mặc khải cho anh biết căn tính đích thực của Ngài: "Tôi là Đấng Mesia". Lúc này, người mù thưa rằng: "Lạy Chúa, con tin" (c 38) và anh ta cúi xuống trước mặt Chúa Giêsu. Nhưng, đây là một đoạn Tin mừng cho chúng ta thấy thảm kịch của cái mù nội tâm của rất nhiều người, và của các chúng ta nữa, vì chúng ta, đôi khi, cũng có những lúc bị mù nội tâm.

Cuộc sống của chúng ta đôi khi cũng giống như người mù được cho sáng mắt, được mở ra với Thiên Chúa, với ân sủng. Nhưng tiếc thay, thỉnh thoảng, chúng ta cũng giống như các tiến sĩ luật: đứng trên sự tự phụ của mình mà đánh giá người khác, thậm chí phán xét cả Thiên Chúa! Hôm nay, chúng ta được mời gọi để mở ra cho ánh sáng của Đức Kitô để mang đến hoa trái trong đời sống của chúng ta, để bỏ đi những lối hành xử không mang tính Kitô hữu: Tất cả chúng ta là những Kitô hữu, tất cả chúng ta, đôi khi chúng ta hành xử không phải là Kitô hữu, nhưng hành xử như những tội nhân. Và chúng ta phải hoán cải về điều này và nỏ đi những lối hành xử sai lạc đó để bước đi cách dứt khoát trên con đường nên thánh, vốn bắt nguồn từ Bí tích Thanh tẩy, và nơi Bí tích này, tất cả chúng ta được chiếu sáng để, giống như thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta, chúng ta có thể hành xử như "những người con của ánh sáng" (Ef 5,8) với sự khiêm nhường, nhẫn nại và lòng thương xót. Những tiến sĩ luật này không khiêm nhường cũng không nhẫn nại, và không thương xót.

Ngày hôm nay, cha xin đề nghị với các bạn là khi các bạn về nhà, cầm lấy cuốn Tin mừng và đọc chương 9 của Tin mừng Gioan này nhé. Nó sẽ giúp ích cho các bạn, vì các bạn sẽ thấy con đường từ chỗ tăm tối đến ánh sáng và con đường tồi tệ khác đi đến chỗ tăm tối hơn. Và rồi hãy tự hỏi mình: Con tim của tôi như thế nào? Tôi có một con tim mở ra hay đóng kín? Mở ra hay đóng kín với Thiên Chúa? Mở ra hay đóng kín với tha nhân? Chúng ta luôn luôn có trong mình một chút đóng kín nào đó do tội lỗi sinh ra, do những sai phạm hay lỗi lầm của ta sinh ta: “đừng sợ, đừng sợ". Chúng ta hãy mở ta với ánh sáng của Thiên Chúa: Người luôn đợi chờ chúng ta, để giúp chúng ta thấy rõ hơn, để ban cho chúng ta nhiều ánh sáng hơn và tha thứ cho chúng ta. Đừng quên điều này: Người luôn chờ đợi chúng ta.

Chúng ta hãy phó dâng cho Đức Trinh nữ Maria hành trình mùa Chay của chúng ta để với ân sủng của Đức Kitô, giống như người mù được chữa lành, chúng ta cũng có thể nhìn thấy ánh sáng, bước đi xa hơn nữa trong ánh sáng và được tái sinh trong một sự sống mới.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (03/4/2011) - Ý nghĩa Chúa nhật Vui mừng

Anh chị em thân mến,

Hành trình mùa Chay chúng ta đang sống là một thời điểm ân phúc đặc biệt, trong đó chúng ta có thể cảm nghiệm lòng từ nhân của Chúa đối với chúng ta. Phụng vụ Chúa nhật hôm nay, Chúa nhật được gọi là “Laetare”, mời gọi hãy vui mừng, hân hoan, như ca tiền xướng nhập lễ diễn tả: “Hãy vui lên hỡi Giêrusalem, và tất cả những người mà ngươi yêu mến, hãy tụ họp lại. Hãy vui mừng và hân hoan, anh chị em là những người trước kia ở trong buồn sầu: Hãy đón nhận dồi dào ơn an ủi dành cho anh chị em” (Xc Is 66,10-11).

Đâu là lý do sâu xa của niềm vui ấy? Phúc âm hôm nay nói với chúng ta điều ấy, trong Phúc âm Chúa Giêsu chữa lành một người mù bẩm sinh. Câu Chúa Giêsu hỏi người mù là tột đỉnh của trình thuật: “Anh có tin nơi Con Người không?” (Ga 9,35). Người ấy nhìn nhận dấu lạ Chúa Giêsu làm và tiến từ ánh sáng của đôi mắt đến ánh sáng của đức tin: “Lạy Chúa, con tin!” (Ga 9,38). Cần nêu bật sự kiện một người đơn sơ và chân thành, dần dần thực hiện một cuộc hành trình đức tin; thoạt đầu anh gặp Chúa Giêsu như một “người” giữa bao nhiêu người khác, nhưng rồi anh coi Ngài là “một ngôn sứ”, sau cùng đôi mắt anh mở ra và anh tuyên xưng Ngài là “Chúa”. Đối ngược với đức tin của người mù được chữa lãnh có sự cứng lòng của những người Biệt phái không muốn chấp nhận phép lạ, vì họ từ khước đón nhận Chúa Giêsu là Đức Messia. Trái lại, đám đông dân chúng dừng lại thảo luận về những gì đã xảy ra và đứng xa xa, dửng dưng. Cả cha mẹ của người mù cũng bị khuất phục vì sợ phán đoán của người khác.

Còn chúng ta, chúng ta có thái độ nào trước Chúa Giêsu? Vì tội của Adam, cả chúng ta cũng bị mù bẩm sinh, nhưng nơi giếng rửa tội, chúng ta được ơn thánh của Chúa Kitô soi sáng. Tội lỗi đã làm thương tổn nhân loại và dẫn loài người vào trong tối tăm của sự chết, nhưng trong Chúa Kitô, cuộc sống mới mẻ và mục tiêu mà chúng ta được mời gọi đạt tới, sáng tỏ rạng ngời. Nơi ngài, chúng ta được Thánh Linh củng cố và chúng ta đón nhận sức mạnh để chiến thắng sự ác và làm điều thiện. Thực vậy, đời sống Kitô là một tiến trình liên tục trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô, là hình ảnh con người mới, để đạt tới sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa. Chúa Giêsu là 'Ánh sáng thế gian' (Ga 8,12) vì nơi Ngài “tri thức về vinh quang Thiên Chúa chiếu tỏa rạng ngời” (2 Cr 8,12) tiếp tục tỏ cho thấy trong lịch sử phong trần phức tạp đâu là ý nghĩa cuộc sống con người. Trong nghi thức Rửa tội, việc trao nến sáng, việc thắp sáng cây nến Phục sinh lớn tượng trưng Chúa Kitô Phục Sinh, là dấu hiệu giúp hiểu rõ những gì xảy ra trong bí tích này. Khi chúng ta để cho cuộc sống của mình được mầu nhiệm Chúa Kitô soi sáng, thì sẽ cảm nghiệm niềm vui được giải thoát khỏi tất cả những gì đe dọa sự thể hiện viên mãn của cuộc sống ấy. Trong những ngày này chúng ta chuẩn bị lễ Phục sinh, chúng ta hãy khơi dậy nơi mình hồng ân đã lãnh nhận trong Bí tích Rửa tội, ngọn lửa ấy nhiều khi có nguy cơ bị bóp nghẹt. Chúng ta hãy nuôi dưỡng ngọn lửa đó bằng kinh nguyện và lòng bác ái đối với tha nhân.

Chúng ta hãy phó thác hành trình mùa Chay cho Đức Trinh nữ Maria, Mẹ Giáo hội, để tất cả mọi người có thể gặp gỡ Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 mùa Chay năm A (02/3/2008) - Để cho công trình Thiên Chúa được bộc lộ

Anh chị em thân mến,

Trong các Chúa nhật của mùa Chay, qua các đoạn văn Tin mừng Thánh Gioan, phụng vụ đưa chúng ta đi vào con đường của các dự tòng lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy. Chúa nhật tuần trước, Chúa Giêsu đã hứa cho người phụ nữ Samaria hồng ân “nước hằng sống”; hôm nay, khi chữa lành một người mù từ lúc sinh ra, Chúa tỏ mình ra như là “ánh sáng của thế gian”; Chúa nhật tới, khi cho ông bạn Ladarô sống lại, Chúa sẽ trình bày mình như là “sự phục sinh và là sự sống”. Nước, ánh sáng, sự sống: đó là những biểu tượng của Thánh tẩy, bí tích dìm các tín hữu trong cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, giải thoát họ khỏi ách nô lệ tội lỗi và ban cho họ sự sống vĩnh cửu.

Chúng ta hãy dừng lại một lúc ở trình thuật về người mù từ lúc sinh ra (Ga 9,1-41). Mang não trạng của người đương thời, các môn đệ nghĩ rằng bệnh mù của anh là hậu quả của một tội của bản thân hay của cha mẹ. Nhưng Chúa Giêsu đã bác bỏ thiên kiến đó, và tuyên bố: “Chẳng phải tại anh ta hay tại cha mẹ của anh, nhưng là để cho công trình Thiên Chúa được bộc lộ nơi anh” (Ga 9,3). Những lời ấy có sức an ủi chúng ta dường nào! Chúng ta được nghe thấy lời của Thiên Chúa là Tình yêu quan phòng và sáng suốt! Đứng trước con người mang dấu tích của sự hữu hạn và đau khổ, Chúa Giêsu không nghĩ đến tội vạ nào đó, nhưng nghĩ đến ý định của Thiên Chúa là Đấng đã dựng nên con người để được sống. Vì thế, Người đã long trọng tuyên bố rằng: “Chúng ta phải hoàn thành những công việc của Đấng đã sai tôi đến … Bao lâu tôi còn ở trên thế gian, thì tôi là sự sáng của thế gian” (Ga 9,5). Lập tức, Người đã chuyển từ lời nói sang hành động: với một chút đất hoà với nước miếng thành bùn, Người đã xoa lên mắt của người mù. Cử chỉ này này nhắc đến việc tạo dựng con người, đưọc Kinh thánh thuật lại dưới biểu tượng của đất được nặn hình và linh động nhờ hơi thở của Thiên Chúa (xc. St 2,7). Thực vậy, Ađam có nghĩa là đất, và thân thể con người gồm bởi những yếu tố của đất. Khi chữa lành con ngươi, Chúa Giêsu thực hiện một cuộc tạo dựng mới. Tuy nhiên việc chữa trị đó đã gây ra một cuộc tranh cãi sôi nổi, bởi vì Chúa Giêsu đã làm điều ấy vào ngày sabát, và như vậy, theo nhóm Biệt Phái, Người đã vi phạm luật nghỉ việc. Vì thế, vào hồi kết thúc trình thuật, Chúa Giêsu và người mù đã gặp nhau lại, bởi vì cả hai đều bị trục xuất ra khỏi đền thờ: một người bởi vì đã vi phạm luật, người kia tại vì vẫn còn bị mang dấu tích tội lỗi bẩm sinh, tuy dù đã được khỏi bệnh rồi.

Chúa Giêsu đã mặc khải cho người mù rằng Người đến thế gian để thi hành cuộc phân xử, để tách lìa những người mù được chữa lành, ra khỏi những người không muốn được chữa bởi vì họ nghĩ rằng mình lành mạnh. Thực vậy, con người mang trong mình một chước cám dỗ muốn kiến tạo cho mình một hệ thống an toàn ý thức hệ; kể cả tôn giáo cũng có thể trở nên nhân tố của hệ thống đó, cũng tựa như chủ nghĩa vô thần và tục hoá; nhưng khi làm như vậy là con người trở nên mù quáng bởi tật ích kỷ. Anh chị em thân mến, chúng ta hãy để cho Chúa Giêsu chữa lành chúng ta; Người có thể và muốn ban cho chúng ta ánh sáng của Thiên Chúa! Chúng ta hãy thú nhận sự mù quáng của mình, sự thiển cận của mình, và nhất là cái mà Kinh thánh đặt tên là “tội nặng nhất” (xc Tv 18,14), đó là tật kiêu ngạo.

Xin Mẹ Maria rất thánh giúp chúng ta điều đó, bởi vì khi sinh ra Chúa Kitô về thể xác, Mẹ đã ban cho nhân loại ánh sáng chân thật.

Nguồn: archivioradiovaticana.va