Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (12/3/2023) - Hãy khám phá lại lòng khao khát Thiên Chúa

Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (15/3/2020) - Kể câu chuyện cuộc đời của mình

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (15/3/2020) - Chúa Giêsu phá vỡ rào cản, bắt đầu cuộc đối thoại

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (19/3/2017) - Nhìn ra gương mặt Chúa nơi tha nhân đau khổ

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (23/3/2014) - Gặp gỡ Chúa Giêsu được biến đổi cuộc sống

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (27/3/2011) - Cơn khát của Chúa Giêsu

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (24/02/2008) - Biểu tượng nước

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (24/02/2008) - Thiên Chúa khát lòng tin và tình yêu của chúng ta

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (12/3/2023) - Hãy khám phá lại lòng khao khát Thiên Chúa

Anh chị em thân mến, chào anh chị em, chúc Chúa Nhật tốt lành!

Chúa Nhật này, Tin Mừng trình bày với chúng ta một trong những cuộc gặp gỡ đẹp đẽ và hấp dẫn nhất của Chúa Giêsu; đó là cuộc gặp gỡ với người phụ nữ Samaria (x. Ga 4,5-42). Chúa Giêsu và các môn đệ của Người dừng lại nghỉ ngơi gần một giếng nước ở Samaria. Một người phụ nữ đến và Chúa Giêsu nói với bà: "Xin cho tôi nước uống" (c. 8). Tôi muốn tập trung cách cụ thể vào câu nói này: Xin cho tôi nước uống.

Sự hạ mình của Thiên Chúa

Cảnh này mô tả Chúa Giêsu khát nước và mệt mỏi. Một phụ nữ Samaria gặp thấy Người vào giờ nóng nhất, giữa trưa, và Người đang xin nước uống như một người hành khất. Đó là hình ảnh về sự hạ mình của Thiên Chúa; nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa hạ mình để cứu độ chúng ta, để đến với chúng ta. Chính qua sự hạ mình của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, Thiên Chúa đã trở thành một người trong chúng ta; Người khát như chúng ta. Người chịu cùng cơn khát của chúng ta. Nghĩ đến cảnh này, mỗi người chúng ta có thể nói: Lạy Chúa, lạy Thầy, Đấng đang xin con nước uống. Do đó, có phải Người cũng khát như con? Có phải Người cũng có cơn khát của con? Chúa thực sự gần gũi với con, lạy Chúa! Chúa kết nối với sự nghèo khó của con... nhưng con không thể tin được điều này... Chúa đã nắm lấy con khi con ở dưới thấp, từ nơi thấp nhất của bản thân con, nơi không ai đến với con. Chúa đã đến với con, ở dưới thấp và đã gặp con từ nơi đó, bởi vì Chúa khao khát con (P. MAZZOLARI, La Samaritana, Bologna 2022, 55-56).

Thật vậy, cơn khát của Chúa Giêsu không chỉ là về thể lý. Nó diễn tả cơn khát sâu xa nhất trong cuộc sống của chúng ta và trên hết, đó là cơn khát tình yêu của chúng ta. Còn hơn là một người hành khất, Chúa là một người "khát" tình yêu của chúng ta. Và điều này sẽ xuất hiện trong giờ cao điểm của cuộc khổ nạn, trên thập giá; ở đó, trước khi chết, Chúa Giêsu sẽ nói: "Ta khát" (Ga 19,28), Người đã mang nỗi khát tình yêu đó bước xuống trần gian, hạ mình trở thành một người trong chúng ta.

Nhưng Đức Chúa, người xin nước uống, chính là Đấng cho uống. Gặp gỡ người phụ nữ Samaria, Chúa nói với bà về nước hằng sống của Chúa Thánh Thần. Và từ thập giá, máu và nước chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Người (x. Ga 19,34). Khát khao tình yêu, Chúa Giêsu làm dịu cơn khát của chúng ta bằng tình yêu. Và Người làm với chúng ta điều Người đã làm với người phụ nữ Samaria - Người đến gặp chúng ta trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta, Người chia sẻ cơn khát của chúng ta, Người hứa ban cho chúng ta nước hằng sống, thứ làm cho sự sống vĩnh cửu tràn đầy trong chúng ta.

Xin cho tôi nước uống. Câu này có một khía cạnh thứ hai. Những lời này không chỉ là một lời yêu cầu của Chúa Giêsu đối với người phụ nữ Samaria, mà còn là một tiếng kêu - đôi khi thầm lặng - gặp gỡ chúng ta mỗi ngày và yêu cầu chúng ta làm dịu cơn khát của người khác. Có bao nhiêu người nói với chúng ta xin cho tôi uống - trong gia đình của chúng ta, tại nơi làm việc, ở những nơi khác mà chúng ta có mặt. Họ khao khát được gần gũi, được chú ý, được lắng nghe. Những người nói điều đó là những người khao khát Lời Chúa và cần tìm một ốc đảo trong Giáo hội nơi họ có thể uống. Xin cho tôi uống là tiếng kêu từ xã hội của chúng ta, nơi mà tốc độ điên cuồng, sự vội vàng tiêu thụ, và nhất là sự thờ ơ, nền văn hoá dửng dưng, tạo ra sự khô khan và trống rỗng nội tâm. Và - chúng ta đừng quên điều này - xin cho tôi uống là tiếng kêu cứu của nhiều anh chị em thiếu nước sinh hoạt, trong khi ngôi nhà chung của chúng ta tiếp tục bị ô nhiễm và biến chất. Cả nó cũng kiệt sức và khô héo, nó "khát".

Trước những thách đố đó, bài Tin Mừng hôm nay ban nước hằng sống cho mỗi người chúng ta, những người có thể trở nên nguồn suối mát lành cho tha nhân. Và như thế, giống như người phụ nữ Samaria, người đã bỏ vò bên giếng và đi gọi những người trong làng của mình (x. câu 28), chúng ta cũng sẽ không còn chỉ nghĩ đến việc thỏa mãn cơn khát của chính mình, cả cơn khát vật chất, trí tuệ và văn hoá của chúng ta, nhưng với niềm vui từ việc gặp Chúa, chúng ta sẽ làm dịu cơn khát của người khác, mang lại ý nghĩa cho cuộc đời của người khác, không như những ông chủ, nhưng như những người phục vụ Lời của ThiênChúa, Đấng khác chúng ta. Chúng ta sẽ thấu hiểu nỗi khát khao của họ và chia sẻ tình yêu mà Người đã trao cho chúng ta. Tôi nghĩ đến việc đặt câu hỏi, cho tôi và cho anh chị em: Chúng ta có khả năng hiểu cơn khát của người khác không? Cơn khát của dân chúng, của nhiều người trong gia đình, trong khu phố của tôi không? Hôm nay chúng ta có thể tự hỏi: Tôi có khát Thiên Chúa không? Tôi có muốn nhận ra rằng tôi cần tình yêu của Người như cần nước để sống không? Và rồi, tôi là người đang khát, tôi có quan tâm đến cơn khát của người khác không? Cơn khát tinh thần, cơn khát vật chất?

Xin Đức Mẹ chuyển cầu cho chúng ta và nâng đỡ chúng ta trên hành trình của chúng ta.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Bài giảng Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (15/3/2020) - Kể câu chuyện cuộc đời của mình

Anh chị em thân mến,

Tin Mừng cho chúng ta biết về một cuộc đối thoại, một cuộc đối thoại lịch sử - đây không phải là một dụ ngôn, nhưng là điều đã xảy ra - về một cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với một người phụ nữ, một tội nhân. Đây là lần đầu tiên trong Tin Mừng, Chúa Giêsu tuyên bố về căn tính của mình. Và Ngài nói điều đó với một tội nhân có can đảm nói với Ngài sự thật... Và rồi với cùng một cách thức, chị đã đi loan báo về Chúa Giêsu: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Ki-tô sao?” Điều này không ổn với lý luận thần học như chị trao đổi với Chúa Giêsu “trên núi này, hay trên núi kia”, nhưng nó chính đáng với sự thật. Sự thật của chị là điều thánh hoá chị, làm chị trở nên công chính và là điều Chúa dùng để loan báo Tin Mừng: không thể trở thành môn đệ Chúa Giêsu nếu không có sự thật của chính mình.

Người ta không thể là môn đệ của Chúa Giêsu chỉ với những lý lẽ: “Trên núi này, trên núi kia”. Người phụ nữ này đã can đảm đối thoại với Chúa Giêsu vì hai dân tộc này đã không đối thoại với nhau. Chị đã can đảm để ý đến lời đề nghị của Chúa Giêsu, về nước, vì chị biết là chị đang khát. Chị đã can đảm thú nhận những yếu đuối, tội lỗi của mình; đúng hơn, đó là sự can đảm sử dụng chính câu chuyện đời mình như một sự đảm bảo rằng Ngài là một tiên tri. “Ông đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm.”

Thiên Chúa luôn muốn đối thoại bằng sự trong sáng, không che giấu điều gì, không có lưỡng ý. Và rồi, tôi nói chuyện với Chúa, như tôi là, với tất cả sự thật của tôi. Và như vậy, từ sự thật của tôi, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, tôi tìm thấy sự thật: rằng Chúa là Đấng Cứu Độ, Ngài đã đến để cứu tôi và cứu chúng tôi. Cuộc đối thoại trong sáng giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ kết thúc với lời tuyên xưng về hiện thực Mêsia của Chúa Giêsu và với sự hoán cải của dân chúng trong vùng, khi họ đến với Chúa.

Xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng để luôn cầu nguyện bằng sự thật, hướng về Chúa bằng sự thật của tôi, không phải sự thật của người khác, không phải những sự thật được chắt lọc trong các cuộc tranh luận...

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (15/3/2020) - Chúa Giêsu phá vỡ rào cản, bắt đầu cuộc đối thoại

Anh chị em thân mến,

Đoạn Tin Mừng của Chúa nhật, Tuần III Mùa Chay, trình bày cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với một người phụ nữ Samari (x. Ga 4,5-42). Ngài đang đi đường cùng với các môn đệ và họ dừng lại ở một giếng nước ở Samari. Người Samari bị người Do Thái coi là dị giáo, và rất coi thường, như những công dân hạng hai. Chúa Giêsu mệt và khát nước. Một người phụ nữ đến lấy nước và Ngài hỏi chị: “Xin cho tôi chút nước” (câu 7). Như thế, Ngài phá vỡ mọi rào cản, một cuộc đối thoại bắt đầu, trong đó Ngài cho người phụ nữ ấy biết về mầu nhiệm nước hằng sống, đó là về Chúa Thánh Thần, một món quà của Thiên Chúa. Thật vậy, với phản ứng ngạc nhiên của chị phụ nữ, Chúa nói: “Nếu chị nhận ra ân huệ của Thiên Chúa và ai là người nói với chị ‘cho tôi chút nước’, thì chị đã xin người ấy cho chị nước hằng sống” (câu 10).

Trung tâm của cuộc đối thoại này là nước. Một mặt, nước là một yếu tố thiết yếu để sống, làm thỏa cơn khát của cơ thể và hỗ trợ sự sống. Mặt khác, nước như một biểu tượng của ân sủng thiêng liêng, mang lại sự sống vĩnh cửu. Theo truyền thống Kinh Thánh, Thiên Chúa là nguồn nước sống, như được viết trong các Thánh Vịnh và các sách ngôn sứ: việc xa cách Thiên Chúa, nguồn nước hằng sống, và xa cách Luật Pháp của Ngài, dẫn đến sự khô hạn tồi tệ nhất. Đó là kinh nghiệm của người dân Israel trên sa mạc. Xuyên suốt chặng đường tiến về tự do, dân bị thiêu đốt bởi cơn khát. Họ đã phản đối Môsê và chống lại Thiên Chúa vì không có nước. Sau đó, theo lệnh truyền của Thiên Chúa, Môsê làm cho nước chảy ra từ một tảng đá, như một dấu chỉ quan phòng của Thiên Chúa đồng hành với dân của Ngài và ban cho họ sự sống (x. Xh 17: 17-7).

Và Tông đồ Phaolô giải thích rằng tảng đá là biểu tượng của Chúa Kitô. Ngài nói thế này: “Tảng đá là Đức Kitô”. Là một hình ảnh mầu nhiệm về sự hiện diện của Ngài ở giữa dân Chúa trên hành trình (x. 1Cr 10: 4). Thật vậy, Chúa Kitô là Đền Thờ mà theo thị kiến của các tiên tri, tuôn trào Thánh Thần, là nước hằng sống, giúp thanh tẩy và ban sự sống. Những người khao khát ơn cứu độ có thể nhận được từ Chúa Giêsu một cách nhưng không, và Thánh Thần sẽ trở thành một nguồn sống trọn vẹn và vĩnh cửu nơi người ấy. Lời hứa về nước hằng sống mà Chúa Giêsu ban cho người phụ nữ Samari đã trở thành hiện thực trong cuộc Vượt Qua của Ngài: “máu và nước” đã chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu (Ga 19,34). Chúa Kitô, Con Chiên bất tử và phục sinh, là nguồn từ đó phát xuất Chúa Thánh Thần, Đấng thứ tha tội lỗi và tái sinh vào đời sống mới.

Món quà này cũng là nguồn chứng tá. Giống như người phụ nữ Samari, bất cứ ai trực tiếp gặp Chúa Giêsu hằng sống đều cảm thấy cần phải nói điều đó với người khác, để mọi người đến tuyên xưng rằng Chúa Giêsu “thực sự là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,42), như những người đồng hương của chị phụ nữ đã nói. Cả chúng ta nữa, được sinh ra trong đời sống mới qua Bí tích Rửa tội, được mời gọi làm chứng cho sự sống và niềm hy vọng trong chúng ta. Nếu sự tìm kiếm và khao khát của chúng ta được thỏa mãn trọn vẹn trong Chúa Kitô, chúng ta sẽ tỏ ra rằng ơn cứu độ không nằm nơi “những điều” của thế giới này vốn tạo nên sự khô hạn, mà là nơi Đấng yêu thương chúng ta và luôn yêu thương chúng ta: Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ chúng ta, trong nước hằng sống mà Ngài ban cho chúng ta.

Xin Đức Maria rất thánh trợ giúp chúng ta nuôi dưỡng ước muốn của Chúa Kitô, nguồn nước hằng sống, là Đấng duy nhất có thể thỏa mãn cơn khát sự sống và tình yêu mà chúng ta mang nơi tim mình.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (19/3/2017) - Nhìn ra gương mặt Chúa nơi tha nhân đau khổ

Anh chị em thân mến!

Tin Mừng Chúa Nhật thứ ba mùa Chay hôm nay giới thiệu với chúng ta cuộc đối thoại của Chúa Giêsu với người đàn bà xứ Samaria (x. Ga 4,5-42). Cuộc gặp gỡ xảy ra trong khi Chúa Giêsu đi ngang qua Samaria, là vùng ở giữa Giuđêa và Galilêa, có dân cư bị người Do thái khinh rẻ vì coi họ là ly giáo và lạc đạo. Nhưng chính dân này sẽ là một trong các dân đầu tiên tin vào lời rao giảng của các Tông Đồ. Trong khi các môn đệ đi vào làng để kiếm thực phẩm, Chúa Giêsu ở lại bên canh một cái giếng để xin nước uống từ một phụ nữ đến kín nước. Và từ lời xin này bắt đầu một cuộc đối thoại. “Làm sao một người do thái mà lại hạ cố xin điều gì đó từ một phụ nữ Samaria?” Chúa Giêsu trả lời: nếu chị biết tôi là ai và ơn tôi cho chị, thì chị sẽ là người xin, và tôi sẽ cho chị “nước hằng sống”, một nước thoả mãn mọi cái khát, và trở thành suối nguồn không thể cạn trong con tim người uống nó (cc. 10-14).

Đi đến giếng kín nước là việc mệt nhọc và chán ngán; sẽ thật đẹp nếu có được một suối nguồn vọt sẵn lên! Nhưng Chúa Giêsu nói tới một thứ nước khác. Khi người đàn bà nhận ra rằng người đang nói là một ngôn sứ, chị tín thác cuộc sống tư cho ngài, và đặt ra các câu hỏi tôn giáo. Nỗi khát yêu thương và cuộc sống tràn đầy của chị đã không được thoả mãn bởi 5 người chồng mà chị đã có, trái lại chị đã kinh nghiệm các vỡ mộng và lừa dối. Vì thế người đàn bà bị đánh động bởi lòng tôn trọng lớn lao mà Chúa Giêsu có đối với mình và khi Ngài nói với bà về lòng tin đích thực như là tương quan với Thiên Chúa Cha “trong tinh thần và trong chân lý”, bà trực giác được rằng người đó có thể là Đấng Cứu Thế, và Chúa Giêsu xác nhận: “Chính Ta, là người đang nói với chị” (c. 26) - đây là điều rất hiếm. Ngài nói Ngài là Đấng Cứu Thế với một người đàn bà đã có một cuộc sống hỗn loạn như thế.

Anh em thân mến, nước trao ban sự sống vĩnh cửu đã được đổ tràn đầy trong tim chúng ta trong ngày chúng ta lãnh bí tích Rửa Tội; khi đó Thiên Chúa đã biến đổi chúng ta và làm cho chúng ta tràn đầy ơn thánh Ngài. Nhưng có lẽ chúng ta đã quên món quà vĩ đại đó, hay giản lược nó thành một dữ kiện danh sách thống kê; và có lẽ chúng ta đi tìm các giếng mà nước không giải khát cho chúng ta. Khi chúng ta quên nước đích thật, chúng ta đi tìm các giếng không có nước trong lành. Vậy thì Tin Mừng này là cho chính chúng ta! Nó không chỉ cho người đàn bà xứ Samaria, nhưng cho chúng ta. Chúa Giêsu nói với chúng ta như đã nói với người đàn bà Samari. Chắc chắn là chúng ta biết Ngài, nhưng có lẽ chúng ta đã không gặp gỡ Ngài một cách riêng tư cá nhân. Chúng ta biết Chúa Giêsu là ai, nhưng có lẽ chúng ta đã không gặp ngài một cách cá nhân bằng cách nói chuyện với Chúa, và chúng ta đã không nhận ra Ngài là Đấng Cứu Thế của mình. Thời gian Mùa Chay này là dịp tốt để tiến tới gần Ngài, gặp gỡ Ngài trong lời cầu nguyện, trong một cuộc đối thoại tim kề tim, nói chuyện với Ngài, lắng nghe Ngài; nó là dịp tốt để trông thấy gương mặt của Ngài nơi gương mặt của một người anh chị em đau khổ. Như thế chúng ta có thể canh tân trong chúng ta ơn thánh của Bí tích Rửa Tội, giải khát nơi suối nguồn Lời Chúa và của Thần Khí của Ngài, và như vậy cũng khám phá ra niềm vui trở thành tác nhân của hoà giải và dụng cụ của hoà bình trong cuộc sống thường ngày.

Xin Đức Trinh Nữ Maria trợ giúp chúng ta biết liên lỉ kín múc ơn thánh, là nước vọt ra từ đá tảng là Chúa Kitô Cứu Thế, để chúng ta có thể xác tín tuyên xưng đức tin, và tươi vui loan báo các kỳ công tình yêu của Thiên Chúa thương xót và là suối nguồn mọi điều thiện hảo.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (23/3/2014) - Gặp gỡ Chúa Giêsu được biến đổi cuộc sống

Anh chị em thân mến,

Hôm nay Phúc Âm trình bầy với chúng ta cuộc găp gỡ của Chúa Giêsu với người đàn bà xứ Samaria, tại Sicar, gần một cái giếng cổ, nơi bà tới kín nước mỗi ngày. Hôm ấy bà tìm thấy Chúa ngồi đó ”mệt mỏi vì đường xa” (Ga 4,6). Người nói ngay với bà: ”Xin cho tôi nước uống” (c. 7). Trong cách thức này Người thắng vượt các hàng rào thù nghịch đã có giữa người Do thái và người Samaria, và bẻ gẫy các lược đồ thành kiến đối với các phụ nữ. Lời xin đơn sơ của Chúa Giêsu là khởi đầu của một cuộc đối thoại thắng thắn, qua đó với sự tế nhị rất lớn, Chúa Giêsu bước vào trong thế giới nội tâm của một người, mà theo các lược đồ xã hội đáng lý ra Ngài cũng không nên bắt chuyện. Nhưng Chúa Giêsu làm điều đó! Ngài không sợ hãi. Khi trông thấy một người, Chúa Giêsu tiến tới, vì Ngài yêu thương. Ngài yêu thương tất cả chúng ta. Ngài không bao giờ dừng lại trước một người vì các thành kiến. Chúa Giêsu đặt để bà trước tình trạng của bà, bằng cách không phán xử bà, nhưng làm cho bà cảm thấy được trân trọng, thừa nhận, và như thế gợi lên nơi bà ước muốn đi xa hơn cuộc sống nhàm chán thường ngày.

Cái khát của Chúa Giêsu không phải là khát nước, nhưng là khát gặp gỡ một linh hồn đã khô héo. Chúa Giêsu cần gặp người đàm bà xứ Samaria để mở con tim bà ra: Ngài xin bà cho nước uống để minh nhiên cái khát bà có trong chính bà. Người đàn bà bị đánh động bởi cuộc gặp gỡ ấy: bà hỏi Chúa những cầu hỏi sâu xa, mà chúng ta tất cả đều có ở trong lòng, mà thường chúng ta không biết. Cả chúng ta nữa cũng có biết bao nhiêu câu hỏi, nhưng không tìm ra can đảm để hỏi Chúa Giêsu! Mùa Chay là thời gian thuận tiện giúp chúng ta nhìn vào bên trong chính mình để làm nổi lên các nhu cầu tinh thần đích thật nhất, và xin sự trợ giúp của Chúa trong lời cầu nguyện. Gương của người đàn bà xứ Samaria mời gọi chúng ta bầy tỏ mình như vầy: ”Xin cho con nước sẽ làm cho con đã khát đời đời.”

Phúc Âm nói rằng các môn đệ ngạc nhiên thầy Thầy mình nói chuyện với người phụ nữ đó. Nhưng Chúa vĩ đại hơn các thành kiến, vì thế Người không sợ hãi dừng lại với người đàn bà xứ Samaria: lòng thương xót lớn hơn thành kiến. Đây là điều chúng ta phải học: lòng thương xót lớn hơn thành kiến. Và Chúa Giêsu thì vô cùng thương xót, vô cùng! Kết qủa cuộc gặp gỡ bên bờ giếng là người đàn bà được biến đổi: bà ”bỏ cái vò bà mang tới kín nước lại đó” (c. 28) và chạy vào thành phố kể lại kinh nghiệm ngoại thường của bà. Bà đi kín nước giếng và đã tìm thấy một thứ nước khác, nước hằng sống của lòng thương xót vọt lên từ cuộc sống vĩnh cửu. Bà đã tìm thấy nước, mà bà đã luôn luôn kiếm tìm! Bà chạy vào làng, ngôi làng đã phán xử bà và khước từ bà, và loan báo rằng bà đã gặp Đấng Messia, Đấng Cứu Thế: một người đã thay đội cuộc sống của bà. Bởi vì mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu luôn luôn thay đổi cuộc sống chúng ta. Đó là một bước tiến tới, một bước gần Thiên Chúa hơn. Và như thế mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu thay đổi cuộc sống chúng ta. Luôn luôn, luôn luôn là như vậy.

Trong Phúc Âm này chúng ta cũng tìm thấy sự khích lệ ”để vò nước của chúng ta lại đó”, nó biểu tượng cho tất cả những gì xem ra quan trọng, nhưng mất giá trị trước tình yêu của Thiên Chúa, đã ”được đổ tràn đầy con tim của chúng ta qua Chúa Thánh Thần” (Rm 5,5). Chúng ta được mời gọi tái khám phá ra tầm quan trọng và ý nghĩa của cuộc sống kitô, đã bắt đầu với Bí tích Rửa Tội và như người đàn bà xứ Samaria, chúng ta được mời gọi làm chứng cho các anh chị em khác. Làm chứng cho cái gì? Niềm vui! Làm chứng cho niềm vui của cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, bởi vì tôi đã nói rằng mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu thay đổi cuộc sống chúng ta, và mỗi một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta niềm vui, niềm vui đến từ bên trong. Và Chúa là như thế. Và kể lại biết bao điều kỳ diệu mà tình yêu của Người biết làm trong con tim chúng ta, khi chúng ta có can đảm để cái vò của mình ra một bên, và các điều kỳ diệu mà tình yêu của Chúa hoàn thành trong cuộc sống chúng ta.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (27/3/2011) - Cơn khát của Chúa Giêsu

Anh chị em thân mến,

Ngày Chúa nhật thứ 3 trong Mùa Chay năm nay, chúng ta nghe lại cuộc đối thoại nổi tiếng của Đức Giêsu với người thiếu phụ Samaria, được tường thuật bởi Thánh Sử Gioan. Người thiếu phụ hằng ngày đi lấy nước từ một giếng nước cổ xưa, có từ thời của tổ phụ Giacop. Và ngày hôm ấy, chị gặp Đức Giêsu đang ngồi trên bờ giếng, mệt mỏi sau một chặng hành trình đường xa (Ga 4, 6). Thánh Augustino đã bình giải đoạn Tin Mừng này như sau: “Chẳng phải tự dưng mà Đức Giêsu mệt mỏi, sức mạnh của Đức Kitô đã tác tạo nên bạn, và sự yếu đuối của Đức Kitô lại tái tạo bạn. Với sức mạnh, Ngài đã tạo nên chúng ta, với sự yếu đuối Ngài đến để tìm kiếm chúng ta. (In Ioh. Ev., 15,2). Sự mệt mỏi của Đức Giêsu, như một dấu hiệu của bản tính con người chân thực, có thể được xem như là lời tiên báo cho cuộc Thương Khó, nhờ đó Ngài đưa công trình chuộc tội cho loài người chúng ta đến thành toàn viên mãn. Trong cuộc gặp gỡ với người thiếu phụ Samaria bên bờ giếng Gia-cóp, “cơn khát” của Đức Giêsu được đề cập đến cách đặc biệt. Cơn khát ấy vươn đến đỉnh điểm trong tiếng kêu trên Thập Giá: “Ta Khát”(Ga 19, 28). Chắc chắc, cơn khát này, cùng với sự mệt mỏi, là cơn khát và sự mệt mỏi về thể lý. Thế nhưng, như Thánh Augustino nói: “Ngài khát lòng tin của người thiếu phụ ấy”(In Ioh. Ev. 15, 11). Cũng thế, Ngài khát lòng tin của tất cả chúng ta. Thiên Chúa là Cha đã gởi Ngài đến để thỏa mãn cơn khát của chúng ta: cơn khát sự sống vĩnh cửu, và để trao ban tình yêu cho chúng ta. Nhưng để được vậy, Đức Giêsu cần đến lòng tin của mỗi người chúng ta.

Sức mạnh vô biên của tình yêu Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của con người, Thiên Chúa gõ vào cánh cửa con tim của loài người; và với sự kiên nhẫn, Ngài chờ đợi lời đáp trả của họ.

Trong cuộc gặp gỡ với người thiếu phụ Samaria, Nước là biểu tượng được nêu lên hàng đầu, điều này ám chỉ đến Bí Tích Rửa Tội, là nguồn mạch của một sự sống mới cho đức tin trong Ân Sủng của Thiên Chúa. Như tôi đã đề cập đến lời trong Giáo Huấn của ngày Thứ Tư Lễ Tro năm nay, đoạn Tin Mừng này là một phần trong chuyến hành trình chuẩn bị cho những người dự tòng ở khởi đầu đời sống Kitô hữuĐức Giêsu nói: “Ai uống nước của tôi ban, thì muôn đời sẽ không bao giờ phải khát nữa. Và nước tôi ban sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời”(Ga 4, 16). Nguồn nước này cũng là biểu trưng cho Chúa Thánh Thần, là ân sủng tuyệt diệu mà Đức Giêsu đã mang đến cho chúng ta từ cội nguồn Thiên Chúa. Ai được tái sinh trong nước và trong Thánh Thần, nghĩa là trong phép Rửa Tội, sẽ bước vào trong tương quan thực sự với Thiên Chúa, một tương quan con thảo, và như thế sẽ có thể thờ phượng Người trong “Thần Khí và Sự Thật”(Ga 4, 23-24). Nhờ cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Kitô và với ân sủng của Chúa Thánh Thần, đức tin của con người đạt đến cùng đích hoàn tất, như là một lời đáp trả trước Mạc Khải trọn vẹn của Thiên Chúa.

Mỗi người chúng ta đều có thể nhìn thấy chính mình nơi hình ảnh của người thiếu phụ Samari: Đức Giêsu chờ đợi chúng ta, nhất là trong thời điểm của Mùa Chay này, để đối thoại với chúng ta, để nói với con tim của chúng ta. Chúng ta hãy dừng lại trong một khoảnh khắc thinh lặng, tại căn phòng của chính chúng ta, tại một ngôi thánh đường, hay tại một nơi nào đó trong ngôi nhà của chúng ta. Chúng ta hãy lắng nghe âm vang lời Ngài nói với chúng ta: “Nếu bạn nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban …”

Lạy Đức Nữ Đồng Trinh Maria, xin giúp chúng con để chúng con không đánh mất cơ hội gặp gỡ này, là nơi chúng con có thể kín múc nguồn hạnh phúc đích thực cho cuộc đời chúng con.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (24/02/2008) - Biểu tượng nước

(Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI thăm mục vụ Giáo xứ Rôma “Santa Maria Liberatrice” tại Monte Testaccio)

Anh chị em thân mến,

Theo gương các vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, các Tôi tớ Chúa là Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II - những vị đã đến thăm giáo xứ anh chị em lần lượt vào ngày 20 tháng 3 năm 1966 và ngày 14 tháng 1 năm 1979 - hôm nay tôi cũng đến giữa anh chị em để gặp gỡ cộng đoàn và chủ sự thánh lễ trong ngôi thánh đường khang trang của anh chị em, được dâng kính cho Đức Maria với tước hiệu “Liberatrice” (Đấng Giải Thoát). Tôi đến đây nhân một dịp rất đặc biệt: kỷ niệm 100 năm cung hiến ngôi thánh đường hiện nay và việc chuyển tên của giáo xứ từ “Đức Mẹ Quan Phòng” (Our Lady of Providence), là tên đã có từ trước tại khu vực Testaccio này, sang “Đức Mẹ Giải Thoát” “Santa Maria Liberatrice”. Chính Đức Thánh Giáo hoàng Piô X đã trao phó giáo xứ này cho các người con thiêng liêng của Don Bosco; dưới sự hướng dẫn kiên nhẫn của Chân phước Michele Rua, môn đệ đầu tiên của Thánh Gioan Bosco, các ngài đã xây dựng ngôi thánh đường mà hôm nay chúng ta đang quy tụ nơi đây. Thực ra, các tu sĩ Salêdiêng đã sớm hiện diện tại Testaccio để thi hành hoạt động xã hội và tông đồ của mình, trong một khu vực vẫn gìn giữ được nét đặc thù về lãnh thổ và văn hóa. Dù nằm giữa trung tâm của đô thị Rôma rộng lớn, nơi đây vẫn duy trì được những mối tương quan rất gần gũi giữa con người với nhau. Mặc dù trong khoảng hai mươi năm gần đây tình hình có phần thay đổi, nhưng người dân nơi đây vẫn gắn bó sâu sắc với vùng đất của mình, với bản sắc của khu phố và với những truyền thống tôn giáo. Chẳng hạn, tôi được biết rằng hằng năm lễ Đức Maria “Liberatrice,” bổn mạng của giáo xứ, vẫn quy tụ nhiều gia đình và người dân, kể cả những người vì nhiều lý do đã chuyển đi nơi khác.

Anh chị em thân mến, tôi rất vui khi đến đây để chia sẻ niềm vui của anh chị em trong dịp Năm thánh mà anh chị em đang cử hành, và tôi cũng muốn làm phong phú thêm dịp này bằng việc ban ơn Toàn xá trong suốt năm kỷ niệm bách chu niên. Tôi thân ái chào tất cả anh chị em. Trước hết, tôi chào Đức Hồng y Đại diện giáo phận Rôma, Đức cha Phụ tá Ernesto Mandara của khu vực trung tâm, và cha sở của anh chị em, Cha Manfredo Leone. Tôi chân thành cảm ơn cha và các tu sĩ Salêdiêng cộng sự của cha vì công việc mục vụ mà các ngài đang thực hiện trong giáo xứ này; đồng thời tôi cũng cảm ơn cha về những lời thân tình cha vừa thay mặt tất cả anh chị em gửi đến tôi. Tôi cũng chào các vị khách của nhà Salêdiêng dành cho các linh mục, đặt tại khuôn viên giáo xứ, và các cộng đoàn tu sĩ hiện diện trong khu vực: Các Nữ tu Đức Maria Phù hộ các Giáo hữu, Các Nữ tu Chúa Quan phòng và Các Nữ tu Chúa Chiên Lành. Tôi chào các cộng tác viên Salêdiêng và các cựu học sinh Salêdiêng, các hội đoàn giáo xứ, các nhóm đang dấn thân trong việc sinh hoạt giáo lý, phụng vụ, bác ái, cũng như việc đọc và đào sâu Lời Chúa; Hội huynh đoàn Santa Maria Liberatrice, các nhóm giới trẻ và những người cổ võ các buổi gặp gỡ cũng như chương trình đào tạo cho các đôi bạn chuẩn bị kết hôn và các gia đình. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các em thiếu nhi đang học giáo lý và tất cả những ai tham gia trung tâm cầu nguyện và sinh hoạt do giáo xứ và các Nữ tu Đức Maria Phù hộ các Giáo hữu điều hành. Sau cùng, tôi muốn hướng lòng đến tất cả cư dân của khu phố này, đặc biệt là những người cao tuổi, những người đau yếu và những ai đang sống cô đơn hoặc gặp khó khăn. Trong thánh lễ này, tôi nhớ đến từng người và tất cả anh chị em.

Anh chị em thân mến,

Giờ đây, cùng với anh chị em, tôi muốn tự hỏi: trong dịp kỷ niệm rất quan trọng này của giáo xứ anh chị em, Chúa muốn nói gì với chúng ta? Trong các bản văn Kinh thánh hôm nay của Chúa nhật 3 mùa Chay, chúng ta có thể tìm thấy những gợi ý suy niệm rất thích hợp cho dịp đặc biệt này. Qua biểu tượng nước, xuất hiện trong Bài đọc I và trong đoạn Tin mừng về người phụ nữ Samari, Lời Chúa trao cho chúng ta một sứ điệp luôn sống động và thời sự: Thiên Chúa khát khao đức tin của chúng ta và muốn chúng ta tìm thấy nơi Người nguồn mạch hạnh phúc đích thực. Mỗi người tín hữu đều có nguy cơ rơi vào một thứ tôn giáo giả tạo: thay vì tìm nơi Thiên Chúa câu trả lời cho những khát vọng sâu thẳm nhất của tâm hồn, chúng ta lại đối xử với Thiên Chúa như thể Người phải phục vụ những ước muốn và dự tính của chúng ta.

Trong Bài đọc I, chúng ta thấy dân Do Thái phải chịu đựng trong sa mạc vì thiếu nước; trong lúc nản lòng, họ than trách và phản ứng dữ dội như đã từng xảy ra nhiều lần khác. Họ thậm chí còn đi đến chỗ nổi loạn chống lại ông Môsê, và gần như nổi loạn chống lại chính Thiên Chúa. Tác giả Sách thánh nói: “Họ thử thách Đức Chúa mà rằng: ‘Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không?’” (Xh 17,7). Dân chúng đòi Thiên Chúa phải đáp ứng những mong đợi và nhu cầu của họ, thay vì tin tưởng phó thác trong tay Người; và trong cơn thử thách ấy, họ đã đánh mất lòng tín thác nơi Thiên Chúa. Điều này cũng xảy ra biết bao lần trong cuộc đời chúng ta! Trong nhiều hoàn cảnh, thay vì ngoan ngoãn vâng theo thánh ý Chúa, chúng ta lại muốn Thiên Chúa thực hiện những kế hoạch của mình và ban cho mình mọi điều mình mong muốn. Đã bao lần đức tin của chúng ta tỏ ra yếu đuối, lòng tín thác trở nên mong manh, và cảm thức tôn giáo của chúng ta bị pha tạp bởi những yếu tố mê tín và trần tục? Trong mùa Chay này, khi Giáo hội mời gọi chúng ta bước vào hành trình hoán cải đích thực, chúng ta hãy khiêm tốn và chân thành đón nhận lời nhắc nhở của Thánh vịnh đáp ca: “Ngày hôm nay, ước chi anh em nghe tiếng Chúa! Người phán: Các ngươi chớ cứng lòng như tại Mêriba, như ngày ở Massa trong sa mạc, nơi cha ông các ngươi đã thử thách Ta; họ đã thử thách Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.” (Tv 95 [94],7-9).

Biểu tượng nước lại xuất hiện một cách hết sức oai hùng trong trích đoạn Tin mừng nổi tiếng thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari tại Sychar, bên giếng Giacóp. Ngay lập tức, chúng ta nhận ra mối liên hệ giữa giếng nước - do vị tổ phụ của Israel xây dựng để bảo đảm nước cho gia đình mình - với lịch sử cứu độ, nơi Thiên Chúa ban cho nhân loại nguồn nước vọt lên đem lại sự sống đời đời. Nếu con người có một cơn khát thể lý đối với nước, điều cần thiết cho sự sống trên trần gian này, thì cũng có một cơn khát thiêng liêng mà chỉ mình Thiên Chúa mới có thể làm cho thỏa mãn. Điều này được bộc lộ rõ trong cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người phụ nữ đến giếng Giacóp để lấy nước. Mọi sự bắt đầu từ lời xin của Đức Giêsu: “Chị cho tôi xin chút nước uống” (x. Ga 4,5-7).

Thoạt nhìn, đó chỉ là một lời xin đơn giản, xin chút nước giữa cái nóng của buổi trưa. Nhưng thực ra, với câu hỏi ấy - lại còn được ngỏ với một phụ nữ Samari, trong khi giữa người Do Thái và người Samari vốn có sự thù nghịch - Đức Giêsu đã khơi lên một tiến trình nội tâm nơi người phụ nữ, làm bừng lên trong lòng chị khát vọng về một điều sâu xa hơn. Thánh Augustinô nhận xét: “Dù Đức Giêsu xin nước uống, nhưng thật ra Người khát đức tin của người phụ nữ ấy” (In Io. ev. Tract. XV, 11: PL 35, 1514).

Quả vậy, đến một lúc nào đó, chính người phụ nữ lại xin Đức Giêsu ban cho mình thứ nước ấy (x. Ga 4,15). Điều này cho thấy rằng trong mỗi con người đều có một nhu cầu về Thiên Chúa và về ơn cứu độ, và chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể làm cho thỏa mãn. Đó là cơn khát vô biên, và chỉ có nguồn nước mà Đức Giêsu ban tặng - nước hằng sống của Thánh Thần - mới có thể làm dịu cơn khát ấy. Lát nữa đây, trong Kinh Tiền tụng, chúng ta sẽ nghe những lời này: Đức Giêsu “xin người phụ nữ Samari nước uống, nhưng Người đã chuẩn bị cho chị ân ban đức tin. Trong cơn khát muốn đón nhận đức tin của chị, Người đã khơi lên trong lòng chị ngọn lửa tình yêu của Chúa.”

Anh chị em thân mến, trong cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari, chúng ta thấy phác họa hành trình thiêng liêng mà mỗi người chúng ta, cũng như mọi cộng đoàn Kitô hữu, luôn được mời gọi khám phá lại và bước theo. Trích đoạn Tin mừng này khi được công bố trong mùa Chay, mang một ý nghĩa đặc biệt đối với các dự tòng đang tiến gần đến Bí tích Thánh tẩy. Thật vậy, Chúa nhật III mùa Chay gắn liền với “cuộc sát hạch thứ nhất” (scrutiny), một nghi thức bí tích nhằm thanh luyện và ban ân sủng. Vì thế, người phụ nữ Samari trở thành hình ảnh của người dự tòng, được soi sáng và hoán cải trong đức tin, khao khát nguồn nước hằng sống và được thanh luyện nhờ hành động và lời nói của Chúa. Nhưng cả chúng ta nữa - những người đã lãnh nhận phép rửa nhưng vẫn đang trên hành trình trở thành những Kitô hữu đích thực - cũng tìm thấy nơi trình thuật Tin mừng này một lời thúc đẩy để khám phá lại tầm quan trọng và ý nghĩa của đời sống Kitô hữu, cũng như khát vọng chân thật hướng về Thiên Chúa đang sống trong chúng ta. Cũng như với người phụ nữ Samari, Đức Giêsu muốn dẫn chúng ta đến chỗ mạnh mẽ tuyên xưng đức tin nơi Người, để rồi sau đó chúng ta có thể loan báo và làm chứng cho anh chị em mình niềm vui gặp gỡ Người và những kỳ công mà tình yêu của Người thực hiện trong đời sống chúng ta. Đức tin được sinh ra từ cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, Đấng được nhận biết và đón nhận như Đấng mặc khải tối hậu và là Đấng Cứu Độ, nơi Người, dung nhan của Thiên Chúa được tỏ lộ. Khi Đức Giêsu đã chinh phục được trái tim của người phụ nữ Samari, cuộc đời chị hoàn toàn biến đổi: chị lập tức chạy đi báo Tin mừng cho dân làng của mình (x. Ga 4,29).

Anh chị em của giáo xứ Santa Maria Liberatrice thân mến!

Sáng nay, lời mời gọi của Đức Kitô vang lên cách rõ ràng đối với từng thành viên trong cộng đoàn giáo xứ anh chị em: hãy để mình được cuốn vào lời mời gọi đầy đòi hỏi của Tin mừng. Thánh Augustinô nói rằng Thiên Chúa khát khao cơn khát của chúng ta đối với Người, nghĩa là Người muốn được chúng ta khao khát. Con người càng xa cách Thiên Chúa bao nhiêu, thì Thiên Chúa lại càng theo đuổi họ bằng tình yêu xót thương của Người bấy nhiêu.

Hôm nay, phụng vụ khuyến khích chúng ta - đặc biệt trong mùa Chay này - hãy xét lại mối tương quan của mình với Đức Giêsu, và không ngừng tìm kiếm dung nhan của Người. Điều đó thật cần thiết để anh chị em, trong bối cảnh văn hóa và xã hội mới, có thể tiếp tục sứ vụ loan báo Tin mừng và giáo dục nhân bản - Kitô giáo mà giáo xứ này đã thực hiện hơn một thế kỷ qua. Trong hàng ngũ các cha sở của giáo xứ còn có Đấng đáng kính Luigi Maria Olivares. Anh chị em hãy luôn mở rộng tâm hồn cho công cuộc mục vụ trong bối cảnh truyền giáo, công cuộc thúc đẩy mỗi Kitô hữu gặp gỡ con người - đặc biệt là giới trẻ và các gia đình - ngay trong môi trường họ sống, làm việc và sinh hoạt, để loan báo cho họ tình yêu xót thương của Thiên Chúa.

Tôi biết rằng anh chị em cũng đang dành sự quan tâm đặc biệt cho việc chăm lo các ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến, bằng cách giới thiệu cho trẻ em, người trẻ và các gia đình về ơn gọi, một đề tài hết sức quan trọng đối với tương lai của Giáo hội. Vì thế, tôi khích lệ anh chị em hãy kiên trì trong sứ mạng giáo dục, vốn là đặc sủng đặc trưng của mọi giáo xứ Salêdiêng.

Ước gì trung tâm cầu nguyện và sinh hoạt sau giờ học, trường học, cũng như các buổi giáo lý và cầu nguyện được sinh động nhờ những nhà giáo dục đích thực, những chứng nhân có trái tim đặc biệt gần gũi với trẻ em, thiếu niên và người trẻ.

Xin Đức Maria “Liberatrice”, Đấng anh chị em hết lòng yêu mến và tôn kính - Đấng đã cùng với Thánh Giuse nuôi dưỡng Đức Giêsu trong tuổi thơ và thời niên thiếu - che chở các gia đình và các tu sĩ trong sứ vụ đào tạo, và ban cho họ niềm vui, như Thánh Gioan Bosco hằng mong ước, được thấy nơi khu phố này có những Kitô hữu tốt lành và những công dân lương thiện đang lớn lên. Amen.

WHĐ (24/02/2008)

 

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 3 mùa Chay năm A (24/02/2008) - Thiên Chúa khát lòng tin và tình yêu của chúng ta

Anh chị em thân mến,

Vào Chúa nhật thứ ba của Mùa Chay, năm nay phụng vụ trưng bày cho chúng ta một trong những bản văn đẹp nhất và sâu sắc nhất của Thánh Kinh, đó là cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ Samari (Ga 4,5-42). Thánh Augustinô đã bị thu hút bởi đoạn văn này và đã viết ra bài chú giải nổi tiếng. Không thể nào tóm tắt sự súc tích của bài Tìn mừng được; cần phải đọc và suy gẫm cá nhân thôi, bằng cách đồng hoá mình với người phụ nữ đi ra giếng để múc nước, và chị ta đã gặp Chúa Giêsu ngồi trên bờ giếng, mệt lả vào một buổi trưa nồng nực, mệt nhọc sau một chuyến đi. Chúa nói với chị: “Chị cho tôi chút nước uống”. Chị ta sửng sốt bởi vì chưa từng xảy ra chuyện một người Do thái ngỏ lời với một phụ nữ Samari không quen biết. Sự ngỡ ngàng của chị ta lại càng tăng thêm khi nghe Chúa Giêsu nói đến một “nước hằng sống” có khả năng cho chị hết khát, và sẽ trở nên “nguồn mạch vọt ra sự sống trường sinh”. Người biết được tông tích đời tư của chị. Người tỏ cho chị biết rằng đã đến giờ thờ lạy Thiên Chúa duy nhất chân thật trong thần khí và chân lý, và sau cùng Người bộc lộ cho chị biết rằng mình là Đấng Mesia.

Tất cả những chuyện này khởi đầu từ kinh nghiệm cụ thể của sự khát nước. Đề tài khát được khai triển xuyên suốt Tin mừng thánh Gioan: từ cuộc gặp gỡ người phụ nữ Samaria tới lời tuyên bố vào dịp lễ Lều (Ga 7,37-38), cho đến Thập giá, khi Chúa Giêsu trước khi tắt thở đã thốt lên lời “Tôi khát” (Ga 19,28) ngõ hầu hoàn tất Kinh Thánh. Cơn khát của Chúa Giêsu là một cánh cửa mở ra mầu nhiệm Thiên Chúa, Đấng đã trở nên khát để giải khát chúng ta, cũng như Người đã trở nên nghèo nàn để cho chúng ta được nên phú quý (xc 2Cr 8,9). Thật thế, Thiên Chúa khát lòng tin và tình yêu của chúng ta. Như một người cha tốt lành và nhân hậu, Người ước ao cho chúng ta được mọi sự tốt lành, và Người chính là sự tốt lành ấy. Phụ nữ Samaria tượng trưng cho sự khắc khỏi của kẻ không gặp thấy điều mà mình kiếm tìm: bà đã có “năm người chồng” và bây giờ bà đang sống với một ông khác. Việc đi đi lại lại tới giếng để múc nước nói lên một cuộc sống nhàm chán. Tuy nhiên mọi sự thay đổi từ hôm ấy, nhờ cuộc đàm đạo với Chúa Giêsu làm xáo trộn tất cả, khiến cho chị để lại vò nước và chạy đi loan báo với người trong làng rằng: “Hãy đến mà xem một người đã nói cho tôi hết những chuyện đã làm. Biết đâu là vị Mêsia chăng?” (Ga 4,28-29).

Anh chị em thân mến, chúng ta cũng hãy mở tấm lòng để tin tưởng lắng nghe lời Chúa, ngõ hầu, cũng như người phụ nữ Samaria, gặp gỡ Chúa Giêsu, Đấng bày tỏ cho chúng ta tình thương của Người, và nói với chúng ta rằng: Đấng Mêsia, vị cứu tinh của con “chính là Ta đây, Đấng đang nói với con” (Ga 4,26).

Xin Đức Maria, người môn sinh tiên khởi va tuyệt vời nhất Ngôi Lời Nhập thể, cầu cho chúng ta được ơn đó.

Nguồn: archivioradiovaticana.va