NỘI DUNG CHÍNH

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (30/01/2022) - Tìm Chúa Giêsu nơi những người bên cạnh chúng ta mỗi ngày

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (03/02/2019) - Can đảm và kiên trì theo gương Chúa Giêsu

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (31/01/2016) - Thiên Chúa đến kéo chúng ta ra khỏi tội lỗi của chúng ta

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (03/02/2013) - Tình yêu và chân lý

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (31/01/2010) - Bài ca đức ái


Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (30/01/2022) - Tìm Chúa Giêsu nơi những người bên cạnh chúng ta mỗi ngày

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Trong Phụng vụ hôm nay, Tin Mừng thuật lại cuộc rao giảng đầu tiên của Chúa Giêsu tại làng quê Nazareth của Người. Kết quả thật cay đắng: thay vì nhận được sự đồng thuận, Chúa Giêsu lại gặp phải sự không hiểu và thù địch (x. Lc 4, 21-30). Những người dân làng của Người muốn thấy các phép lạ, những dấu lạ phi thường, hơn là nghe một lời sự thật. Chúa không thực hiện những điều này và họ đã từ chối Người, bởi vì họ nói rằng họ đã biết Người từ khi Người còn là đứa trẻ: con ông Giuse (c. 22). Vì vậy, Chúa Giê-su đã tuyên bố một câu mà nay đã trở thành tục ngữ: “Không có ngôn sứ nào được tiếp đón tại quê hường mình” (c. 24).

Những lời này cho thấy rằng đối với Chúa Giêsu, thất bại không là điều hoàn toàn bất ngờ. Chúa biết người dân của mình, biết lòng của họ, Người biết rủi ro mà Người đang gặp, Người đã nghĩ đến việc bị từ chối. Trước câu hỏi chúng ta có thể đặt ra: "Nếu Chúa thấy trước thất bại, tại sao Người vẫn đi về quê hương của mình? Tại sao lại tốt với những người không sẵn sàng chào đón bạn?". Đó là một câu hỏi mà chúng ta cũng thường tự hỏi, nhưng đó là một câu hỏi giúp chúng ta hiểu Thiên Chúa hơn. Trước sự khép kín của chúng ta, Người không thoái lui: không dừng yêu thương. Trước sự đóng kín lòng của chúng ta, Người vẫn tiếp tục yêu thương. Chúng ta thấy điều này được phản chiếu nơi các bậc cha mẹ, những người ý thức về sự vô ơn của những đứa con, nhưng không vì thế mà họ không yêu thương chúng và không làm điều tốt cho chúng. Thiên Chúa là như thế, nhưng ở một mức độ cao hơn rất nhiều. Và hôm nay, Chúa cũng mời gọi chúng ta hãy tin vào điều tốt, đừng bỏ qua ý định làm điều tốt nào.

Tuy nhiên, trong những việc xảy ra ở Nazareth, chúng ta thấy một điều gì đó khác: sự thù địch của những người dân của Chúa Giêsu đối với Người chất vấn chúng ta: họ không chào đón Người, thế còn chúng ta? Và ngài mời gọi chúng ta xác minh điều này bằng cách quan sát các mô hình đón nhận mà hôm nay Chúa Giêsu đề xuất cho những người đồng hương và cho chúng ta. Họ là hai người ngoại quốc: một góa phụ ở Sarepta thuộc Sidon và ông Naaman, người Syria. Cả hai đều chào đón các ngôn sứ: trước tiên là Êlia và sau đó là Êlisê, dù đó không phải là một sự chào đón dễ dàng nhưng đã trải qua những thử thách. Bà góa đã tiếp đãi ngôn sứ Êlia, bất chấp nạn đói và mặc dù ông bị bắt bớ; ông bị bách hại chính trị tôn giáo (xem 1V 17,7-16). Ngược lại, ông Naaman, mặc dù là người ở đẳng cấp cao nhất, đã chấp nhận yêu cầu của ngôn sứ Êlisê, yêu cầu ông phải khiêm nhường, xuống tắm bảy lần dưới sông (xem 2V 5,1-14). Tóm lại, bà góa và ông Naaman đã chào đón họ qua sự sẵn sàng và khiêm nhường. Cách thế đón nhận Thiên Chúa luôn là sẵn sàng đón tiếp Người và khiêm nhường. Bà góa và ông Naaman không chối từ các đường lối của Thiên Chúa và các ngôn sứ của Người; họ ngoan ngoãn, không cứng nhắc và khép kín.

Thưa anh chị em, Chúa Giêsu cũng theo cách của các ngôn sứ: Người xuất hiện không giống như chúng ta chờ đợi. Những người tìm kiếm các phép lạ, nếu chúng ta tìm các phép lạ chúng ta sẽ không tìm thấy Chúa Giêsu; những người tìm những cảm giác mới, những kinh nghiệm lạ thường, những điều lạ lùng, tìm một đức tin được tạo nên từ sức mạnh và những dấu hiệu bên ngoài, sẽ không gặp được Người. Ngược lại, ai đón nhận đường lối và những thách đố của Người, không phàn nàn, không nghi ngờ, không chỉ trích với khuôn mặt chảy dài, thì tìm thấy Người. Nói cách khác, Chúa Giêsu yêu cầu bạn đón nhận Người trong thực tại hàng ngày mà bạn đang sống; trong Giáo Hội ngày nay như nó là; trong những người gần gũi với bạn mỗi ngày; trong sự cụ thể của người nghèo khổ, trong những vấn đề của gia đình, của cha mẹ, con cái, ông bà, hãy đón nhận Thiên Chúa ở đó. Ở đó có Người, Đấng mời gọi chúng ta thanh tẩy bản thân trong dòng sông của sự sẵn lòng và trong nhiều bồn tắm lành mạnh của sự khiêm nhường. Chúng ta cần khiêm nhường để gặp gỡ Thiên Chúa, để để cho mình được gặp Người.

Và chúng ta đang đón nhận Chúa hay chúng ta giống những người dân làng của Người, những người tin rằng họ biết mọi thứ về Người? Chúng ta nói: "Tôi đã học thần học, tôi đã tham gia khóa giáo lý đó… Tôi biết mọi thứ về Chúa Giêsu, chúng ta nghĩ giống như một “kẻ ngốc”… Đừng là kẻ ngốc, bạn không biết Chúa Giêsu. Có thể là sau nhiều năm là tín hữu, chúng ta nghĩ mình biết rõ về Chúa, với những ý nghĩa và những nhận định của mình. Có nguy hiểm là chúng ta trở nên quen thuộc quá với Chúa Giêsu, trở nên đóng kín vào giây phút Người gỡ cửa để nói với chúng ta một điều mới mẻ, để muốn gặp gỡ chúng ta. Chúng ta phải đi ra khỏi cái tôi này, khỏi việc bám chặt vào các quan điểm của chúng ta. Ngược lại, Chúa yêu cầu một tâm hồn rộng mở và một trái tim đơn sơ. Khi một người có tâm trí cởi mở, một trái tim đơn sơ thì có khả năng ngạc nhiên. Chúa luôn làm chúng ta ngạc nhiên và đây là điều tuyệt vời của việc gặp gỡ Chúa Giêsu.

Xin Đức Mẹ, mẫu gương khiêm nhường và sẵn sàng, chỉ cho chúng ta cách thế để đón nhận Chúa Giêsu.

Nguồn: vaticannews.va/vi



Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (03/02/2019) - Can đảm và kiên trì theo gương Chúa Giêsu

Anh chị em thân mến,

Chủ nhật tuần trước, phụng vụ cho chúng ta đọc trình thuật về hội đường Nazareth, nơi Chúa Giêsu đã đọc đoạn Sách Thánh từ sách tiên tri Isaia và cuối cùng mạc khải rằng những lời đó "hôm nay" được ứng nghiệm nơi Ngài. Chúa Giêsu tự ám chỉ mình là như người được Thánh Thần đã ngự xuống, Thánh Thần thánh hiến và sai đi hoàn tất sứ mạng cứu độ nhân loại. Tin Mừng hôm nay (x. Lc 4,21-30) tiếp nối câu chuyện đó và cho chúng ta thấy sự kinh ngạc của những người đồng hương của ngài khi thấy rằng một người đồng hương, "con trai ông Giuse" (c.22), là Đấng Kitô, được sai bởi Chúa Cha.

Chúa Giêsu, với khả năng hiểu được tâm trí và trái tim, ngài hiểu ngay những gì đồng hương của mình nghĩ. Họ tin rằng, vì ngài chẳng khác gì họ, nên ngài phải chứng minh "khả năng" kỳ lạ này bằng cách làm phép lạ ở đó, tại Nazareth, như Ngài đã làm ở các vùng lân cận (xem câu 23). Nhưng Chúa Giêsu không muốn và không thể chấp nhận suy diễn này, vì nó không tương ứng với kế hoạch của Thiên Chúa: Thiên Chúa muốn đức tin, họ muốn các phép lạ và các dấu chỉ; Chúa muốn cứu tất cả mọi người, còn họ muốn một Đấng Messia vì ích lợi riêng. Để giải thích logic của Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã đưa ra ví dụ về hai vị ngôn sứ vĩ đại thời xưa: Elia và Elisa, người được Thiên Chúa sai đến để chữa lành và cứu những người không phải là Do Thái, những dân tộc khác nhưng đã tin vào lời ngôn sứ.

Trước lời mời mở lòng với sự nhưng không và phổ quát của ơn cứu độ, người dân Nazareth nổi loạn, và thậm chí còn có thái độ hung hăng, thô lỗ đến mức "Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành […]. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực.” (c. 29). Sự ngưỡng mộ của khoảnh khắc ban đầu đã thay đổi thành sự hung hãng, một cuộc nổi loạn chống lại Ngài.

Và Tin Mừng này cho chúng ta thấy rằng sứ vụ công khai của Chúa Giêsu bắt đầu bằng một sự từ chối và với một mối đe dọa về cái chết, mà nghịch lý là từ chính đồng bào của mình. Chúa Giêsu, khi sống sứ mạng được Chúa Cha giao phó, biết rằng mình phải đối mặt với khó khăn, bị từ chối, bách hại và thất bại. Đây là cái giá, mà hôm qua cũng như hôm nay, một ngôn sứ đích thực được kêu gọi phải trả. Tuy nhiên, sự chối từ khắc nghiệt không làm Chúa Giêsu nản lòng, cũng không ngăn cản bước chân và hoa trái từ hành động ngôn sứ của Ngài. Ngài băng qua giữa họ mà đi (c. 30), với sự tin tưởng vào tình yêu của Chúa Cha.

Ngày nay cũng thế, thế giới cần nhìn thấy nơi các môn đệ của Chúa các ngôn sứ, những con người can đảm và kiên trì trong việc đáp lại ơn gọi Kitô hữu. Những người theo "sự thúc đẩy" của Chúa Thánh Thần, Đấng sai họ đi loan báo niềm hy vọng và sự cứu rỗi cho những người nghèo và bị loại trừ; những người theo logic của đức tin chứ không phải của phép lạ; những người hiến mình phục vụ cho tất cả, không đặc quyền cũng chẳng loại trừ. Tóm lại: những người mở ra để mang vào mình ý muốn của Chúa Cha và dấn thân làm chứng một cách trung thành cho người khác.

Chúng ta hãy cầu nguyện với Đức Maria Rất Thánh, xin Mẹ cho chúng ta có thể lớn lên và bước đi trong cùng lòng nhiệt thành tông đồ vì Nước Thiên Chúa như Chúa Giêsu.

Nguồn: vaticannews.va/vi


Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (31/01/2016) - Thiên Chúa đến kéo chúng ta ra khỏi tội lỗi của chúng ta

Anh chị em thân mến,

Trình thuật Tin Mừng hôm nay, cũng giống như trình thuật Tin Mừng tuần trước, kể lại biến cố Chúa Giêsu trở về Nagiarét, nơi Ngài đã sinh sống, lớn lên trong gia đình và được mọi người biết đến. Chúa Giêsu mới bỏ Nagiarét không lâu, giờ đây trở lại lần đầu tiên và tự giới thiệu với cộng đoàn tụ tập tại hội đường trong ngày sabát. Ngài đọc đoạn sách của ngôn sứ Isaia nói về Đấng Messia tương lai và tuyên bố: “Ngày hôm nay hoàn thành lời Thánh Kinh mà anh chị em đã lắng nghe” (Lc 4,21). Các người đồng hương của Chúa Giêsu ban đầu ngạc nhiên và khâm phục, nhưng rồi họ bắt đầu nhăn mặt, lẩm bẩm với nhau và nói: tại sao ông ta yêu sách là Đấng được xức dầu của Chúa, mà không lập lại ở đây trong quê hương mình, các việc lạ lùng mà người ta nói là ông đã làm tại Capharnaum và trong các làng lân cận?” Khi đó Chúa Giêsu khẳng định: “Không có ngôn sứ nào được tiếp nhận tại quê hương mình” và Ngài nhắc tới các ngôn sứ của quá khứ như Elia và Eliseo, là những người đã làm các phép lạ cho những người ngoại giáo để tố cáo thái độ không tin của dân do thái. Khi đó những người hiện diện cảm thấy bị xúc phạm, họ phẫn nộ đứng dậy, đuổi Chúa Giêsu ra ngoài, và muốn đẩy Ngài xuống vực thẳm. Nhưng với sức mạnh niềm an bình của mình, Ngài “đi qua giữa họ”, vì giờ của Ngài chưa tới.

Đoạn tin mừng này của thánh sử Luca không chỉ đơn thuần là trình thuật của một cuộc cãi vã giữa các người đồng hương, như đôi khi xảy ra trong các khu phố của chúng ta, bị dấy lên vì ghen tương, nhưng nó đưa ra ánh sáng một cám dỗ mà con người tôn giáo, mà tất cả chúng ta, luôn luôn gặp phải và cần phải cương quyết tránh xa. Cám dỗ đó là gì? Đó là cám dỗ coi tôn giáo như là như là một đầu tư nhân loại và kết qủa là giao kèo với Thiên Chúa bằng cách tìm kiếm lợi lộc riêng tư. Trái lại, trong tôn giáo đích thật nó là việc tiếp đón mạc khải của một vì Thiên Chúa là Cha, và Ngài săn sóc từng thụ tạo, cả thụ tạo bé nhỏ và vô nghĩa nhất dưới con mắt của loài người. Chính đó là thừa tác ngôn sứ của Chúa Giêsu: trong việc loan báo rằng không có điều kiện nào của con người có thể là lý do loại trừ - không có điều kiện nào của con người có thể là lý do loại trừ - khỏi trái tim của Thiên Chúa Cha. Và đặc ân duy nhất dưới mắt của Thiên Chúa là đặc ân không có đặc ân. Đặc ân duy nhất dưới mắt của Thiên Chúa là đặc ân không có đặc ân, là không có các cha đỡ đầu, là được phó thác trong tay Ngài.

“Hôm nay đã thành toàn Thánh Kinh mà anh chị em đã lắng nghe” (Lc 4,21). “Ngày hôm nay” được Chúa Kitô loan báo hồi đó có giá trị cho mọi thời, cũng vang lên cho chúng ta trong quảng trường này này, bằng cách nhắc cho chúng ta tính thời sự và việc cần thiết của ơn cứu rỗi, mà Chúa Giêsu đã đem tới cho nhân loại. Thiên Chúa đến gặp gỡ các người nam nữ của mọi thời đại và mọi nơi trong tình trạng sống cụ thể của họ. Ngài cũng đến gặp gỡ chúng ta. Chính Ngài luôn luôn đi bước trước: Ngài đến viếng thăm chúng ta với lòng thương xót của Ngài, để nâng chúng ta lên từ bụi đất của các tội lỗi chúng ta. Ngài đến để giơ tay ra cho chúng ta và làm cho chúng ta đi lên từ đáy lọ, nơi sự kiêu căng làm cho chúng ta rơi xuống, và Ngài mời gọi chúng ta tiếp nhận sự thật an ủi của Tin Mừng, và bước đi trên các nẻo đường của sự thiện. Ngài luôn luôn đến kiếm và tìm thấy chúng ta.

Chúng ta hãy trở lại hội đường. Chắc chắn hôm ấy trong hội đường Nagiarét cũng có cả Mẹ Maria ở đó. Chúng ta có thể tưởng tượng được các vang vọng của tim mẹ, chúng diễn tả trước một chút điều Mẹ sẽ đau khổ dưới Thập Giá, khi nhìn Chúa Giêsu ở đó trong hội đường, ban đầu được khâm phục, rồi bị thách thức, lăng nhục, đe dọa bị giết. Trong con tim tràn đầy đức tin của Mẹ, Mẹ đã giữ gìn mọi sự. Xin Mẹ giúp chúng ta hoán cải từ một thiên chúa của các phép lạ trở về với phép lạ của Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô.

Nguồn: archivioradiovaticana.va


Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (03/02/2013) - Tình yêu và chân lý

Anh chị em thân mến,

Phúc âm hôm nay - được lấy từ chương bốn của Thánh Luca - là sự tiếp nối của Phúc âm Chúa Nhật tuần trước. Một lần nữa chúng ta thấy mình ở trong Hội đường Nagiarét, ngôi làng nơi Chúa Giêsu lớn lên, nơi mọi người đều biết Ngài và gia đình của Ngài. Giờ đây, sau một thời gian vắng mặt, Chúa Giêsu đã trở lại Nagiarét trong một cách thức mới mẻ: trong buổi phụng vụ ngày thứ bẩy Người đọc một lời tiên tri của ngôn sứ Isaia và loan báo việc thành toàn của nó bằng cách để cho người nghe hiểu rằng lời tiên tri ấy quy chiếu về Người. Điều này khơi dậy sự bất bình của dân làng Nagiarét: một đàng, mọi người đều làm chứng và thán phục các lời ân phúc thốt ra từ miệng Người (Lc 4,22). Thánh sử Máccô kể rằng nhiều người hỏi: ”Bởi đâu ông ta được những điều này? Và ông ta được khôn ngoan như vậy nghĩa là làm sao?” (Mc 6,2). Nhưng đàng khác, các người đồng hương biết Người qúa rõ. Họ nói: ”Ông ta là một người trong chúng ta. Yêu sách của ông chỉ có thể là sự tự phụ” (Đức Giêsu thành Nagiarét, 11). ”Ông này không phải là con ông Giuse sao?” (Lc 4,22), như thể nói rằng: một bác thợ mộc làng Nagiaret có thể có các khát vọng nào đây?

Chính vì biết sự khép kín này xác nhận châm ngôn: ”Không có ngôn sứ nào lại được chấp nhận trong quê hương mình” Đức Giêsu nói với dân chúng trong hội đường các lời vang lên như một khiêu khích. Người kể lại hai phép lạ mà các ngôn sứ lớn Elia và Eliseo đã làm cho các người không phải dân Do thái, để chứng minh rằng đôi khi ngoài dân Israel có nhiều đức tin hơn. Tới đây thì phản ứng đồng nhất: mọi người đều đứng lên đuổi Chúa Giêsu ra khỏi hội đường, và còn tìm cách xô Ngươi xuống một vực sâu, nhưng với sự bình tĩnh tột độ Người băng qua đám dân chúng phẫn nộ và bỏ đi. Tới đây người ta phải tự hỏi: tại sao Đức Giêsu lại đã muốn khơi dậy sự đổ bể ấy? Ban đầu dân chúng thán phục Người và có lẽ Người đã có thể có được một sự đồng ý nào đó của họ... Nhưng đây mới là điểm đáng nói. Đức Giêsu đã không tới để tìm sự đồng ý của loài người, nhưng - như sau cùng Người sẽ nói với quan Philatô - để ”làm chứng cho sự thật” (Ga 18,37). Vị ngôn sứ thật không vâng lời ai khác ngoài Thiên Chúa, và phục vụ chân lý, sẵn sàng trả giá cho việc đó. Có đúng thật là Đức Giêsu là vị ngôn sứ của tình yêu, nhưng tình yêu cũng có chân lý của nó. Còn hơn thế nữa, tình yêu và chân lý là hai tên gọi của cùng một thực tại, là hai tên gọi của Thiên Chúa.

Trong phụng vụ hôm nay cũng vang lên các lời của thánh Phaolô: ”Đức mến không vênh vang, không tự đắc, không thiếu tôn trọng, không tìm tư lợi, không nóng giận, không chý ý đến sự dữ nhận được, không vui vì bất công, nhưng vui khi thấy điều chân thật” (1 Cr 13,4-6). Tin nơi Thiên Chúa có nghĩa là khước từ các thành kiến riêng, và tiếp nhận gương mặt cụ thể, trong đó Người tự mạc khải ra: đó là con người Đức Giêsu thành Nagiarét. Và con đường này cũng dẫn tới chỗ nhận biết Người và phục vụ Người nơi tha nhân.

Ở đây thái độ của Đức Maria soi sáng chúng ta. Ai là người thân thiết với nhân tính của Chúa Giêsu hơn Mẹ? Nhưng Mẹ đã không bao giờ lấy làm gương mù gương xấu như các người đồng hương Nagiarét. Mẹ giữ gìn trong tim mầu nhiệm ấy và luôn luôn ngày càng biết tiếp nhận nó hơn, trên con đường lòng tin, cho tới cái chết của Thập Giá và ánh sáng tràn đầy của sự Phục Sinh. Xin Mẹ Maria cũng giúp chúng ta trung thành và tươi vui bước đi trên con đường ấy.

Nguồn: archivioradiovaticana.va


Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 4 Thường Niên năm C (31/01/2010) - Bài ca đức ái

Anh chị em thân mến

Trong phụng vụ chúa nhựt hôm nay, chúng ta đọc một trong những đoạn văn đẹp nhất của Tân ước và của toàn bộ Kinh thánh, đó là bài ca đức ái của thánh Phaolô (1Cr 12,31-13,13). Trong thư thứ nhất gửi các tín hữu Corintô, dựa theo hình ảnh của những cơ thể trong thân mình, sau khi đã giải thích rằng các ân huệ của Thánh Linh cùng hợp tác vào ích lợi chung của toàn thể Hôi thánh, thánh Phaolô vạch ra con đường tuyệt hảo. Con đường này không nằm ở chỗ sở hữu những đặc ân phi thường, như là nói tiếng mới lạ, hiểu thấu các điều kín nhiệm, có lòng tin siêu quần hoặc thực hành những hành động anh hùng. Con đường tuyệt hảo hệ ở yêu thương – agape, nghĩa là tình yêu chân thực, tình yêu mà Thiên Chúa đã mặc khải nơi Đức Giêsu Kitô. Tình yêu là ân huệ lớn nhất, mang lại giá trị cho tất cả các ân huệ khác, nhưng mà nó “không huênh hoang, không kiêu căng”; trái lại, nó vui mừng vì chân lý và điều lành của người khác. Ai yêu thương thật tình thì “không tìm tư lợi”, “không đếm xỉa đến sự thiệt hại mà mình phải chịu”; “tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,4-7). Sau cùng, khi chúng ta ra gặp Thiên Chúa diện đối diện, thì các đặc ân khác sẽ biến đi; duy chỉ tình yêu tồn tại muôn đời, bởi vì Thiên Chúa là tình yêu, và chúng ta sẽ nên giống như Ngài, hiệp thông trọn vẹn với Ngài.

Hiện nay, khi còn trên đời này, đức ái là dấu căn tính của người Kitô hữu. Nó là tổng hợp của trót cả đời sống của mình, tóm lược của những gì mình tin và những gì mình làm. Chính vì thế, khi bắt đầu sứ vụ giáo hoàng, tôi đã muốn dành thông điệp đầu tiên cho chủ đề tình yêu: Deus caritas est . Như anh chị em còn nhớ, thông điệp này gồm có hai phần, tương ứng với hai khía cạnh của đức ái: thứ nhất nói về ý nghĩa, thứ hai nói về việc thực hành. Tình yêu là bản tính của Thiên Chúa, là ý nghĩa của việc tạo dựng và lịch sử, là ánh sáng mang lại sự tốt lành và đẹp đẽ cho cuộc đời mỗi người. Đồng thời, có thể nói tình yêu là “nét” của Thiên Chúa và của người tín hữu, là thái độ của kẻ đáp trả lại tình yêu của Chúa bằng cách định hướng đời mình như là quà tặng cho Thiên Chúa và tha nhân. Nơi đức Giêsu Kitô, hai khía cạnh đó tạo nên một sự liên kết hoàn hảo: Người là Tình yêu nhập thể. Tình yêu này được biểu lộ trọn vẹn nơi đức Kitô chịu chết trên thập giá. Khi nhìn ngắm Người, chúng ta có thể tuyên xưng như thánh Gioan tông đồ rằng: “ chúng tôi đã biết tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng tôi và chúng tôi đã tin vào tình yêu ấy” (xc. 1Ga 4,16; thông điệp Deus caritas est , 1).

Các bạn thân mến, khi nghĩ đến các thánh, chúng ta sẽ nhận thấy các ân huệ khác nhua cũng như những tính tình khác nhau. Nhưng cuộc đời của mỗi vị là một bài ca đức ai, một bài chúc tụng tình thương Thiên Chúa. Hôm nay, ngày 31 tháng giêng, chúng ta kính nhớ cách riêng thánh Gioan Bosco, vị sáng lập Gia đình Salêdiên và quan thầy của các thanh thiếu niên. Nhân năm Linh mục, tôi muốn xin Người cầu bầu cho các linh mục được trở nên những nhà giáo dục và những người cha của các bạn trẻ; xin cho các thanh thiếu niên, nhờ cảm nhận đức ái mục tử của các linh mục, biết đón nhận tiếng gọi dâng mình cho Chúa Kitô và cho Tin mừng. Xin Mẹ Maria, đấng phù hộ các tín hữu, mẫu gương đức ái, cầu cho chúng ta được ơn đó.

Nguồn: archivioradiovaticana.va