* ADELAIDE / ALBERTÔ CẢ / ALEXANDER – NGƯỜI ĐỐT THAN / ALÔSIÔ / ANPHONGSÔ LIGUÔRI

* ANNA VÀ GIOAKIM / ANSGARIÔ / ANTÔN PADUA / APÔLINARIÔ NHÀ HỘ GIÁO/ ATHANASIÔ

* AUGUSTINÔ / BARTÔLÔMÊA CAPITANIO / BASILIÔ / BATHILDA / BÊĐA ĐÁNG KÍNH

* BÊNÊĐICTÔ / BÊNÊĐICTÔ GIUSE LABRÉ / BÉNEZET / BÉNILDE (BÁ NINH) / BERNADETTE

* BERNARDINÔ TÔMITANI / BERTILLA BOSCARDIN / BÔNAVENTURA / BÔNIFACIÔ IV (GIÁO HOÀNG) / BRIDGET THỤY ĐIỂN

* BRIGID / CAJETANÔ / CATHERINA SIENA / CLARA ASSISI / CLOUD THÀNH METZ

* COLETTE / CRISPINÔ VÀ CRISPINIANÔ / CYRILLÔ VÀ MÊTHÔĐIÔ / DISMAS / DONATUS

* ELIGIUS / ELISABETH HUNGARI / EMILY DE RODAT / ETHELREDA (AUDREY) / ÊVÔĐIÔ

* FIACRÊ / FRANCES THÀNH RÔMA / FRANCES XAVIÊ CABRINI / PHANXICÔ ASSISI / GALL

* GENESIUS DIỄN VIÊN HÀI / GENEVIÈVE / GEORGE / GRÊGÔRIÔ CẢ (GIÁO HOÀNG) / GRÊGÔRIÔ NGƯỜI LÀM PHÉP LẠ

* HÊLENA / HILARIÔN / HILDEGARD THÀNH BINGEN / HOMOBONUS / IGNATIÔ LOYOLA

* ISIDORE THÀNH SEVILLE / ISODORE NÔNG DÂN / GIACÔBÊ LỚN / GIACÔBÊ NHỎ / JEANNE JUGAN

* GIÊRÔNIMÔ / JEANNE D’ARC / GIOAN BOSCÔ / GIOAN EUDES / GIOAN GUALBERT

* GIOAN NEUMANN / GIOAN CAPISTRANÔ / GIOAN, TÊN CỦA NHIỀU VỊ THÁNH! / GIUSE / GIUSE CUPERTINÔ

* GIUĐA (TAĐÊÔ) / KATERI TEKAKWITHA / LAWRENCE PHÓ TẾ / LÊÔ IX (GIÁO HOÀNG) / LOUIS BERTRAND

* LUDMILA / LUCA / LYDIA / MARGARET TÔ CÁCH LAN / MARGARET WARD

* MARGARET BOURGEOYS / MARIA GORETTI / MARTIN DE PORRES / MARIA MẸ ĐỨC GIÊSU / MATILDA

* MATTHÊÔ / MATTHIAS / MONICA / PATRICK / PAULA

* PEREGRINE LAZIOSI / PHÊRÔ CLAVER / PHÊRÔ MARIA CHANEL / PHÊRÔ NOLASCO / PHILIP THÀNH ZELL

* PHILIPPINE DUCHESNE / RAYMUNDO PENYAFORT / RICHARD WYCHE / RITA CASCIA / RÔBERTÔ BELLAMINÔ

* RÔCÔ / ROSA LIMA / ROSA VITERBO / SABAS / SALÔMÊ

* SCHOLASTICA / SENNEN VÀ ABDON / SEVERINUS BOETHIUS / STANISLAÔ KOSTKA / TARASIUS

* VÊRÔNICA / VINHSƠN PHAOLÔ / ZÊNÔ / ZEPHYRINÔ (GIÁO HOÀNG) / ZITA

* ADELAIDE / ALBERTÔ CẢ / ALEXANDER – NGƯỜI ĐỐT THAN / ALÔSIÔ / ANPHONGSÔ LIGUÔRI

1. ADELAIDE

Vị thánh này sống một cuộc đời giữa “tin tốt – tin xấu”!

Tin tốt! Khi lên 16 tuổi, Adelaide kết hôn với vua Lothair của nước Ý và trở thành hoàng hậu. Tin xấu! Chỉ ba năm sau, vua Lothair qua đời - người ta đồn rằng ông bị một người tên Berengarius đầu độc. Berengarius chiếm lấy vương quốc và nhốt Adelaide vào ngục!

Tin tốt! Trong vòng một năm, vua Otto của Đức quốc xâm lăng và chiếm lấy vương quốc, trả tự do cho Adelaide và cưới bà! Họ có với nhau ba con trai, sống với nhau trên hai mươi năm. Adelaide rất thông minh và tích cực tham gia vào những công việc điều hành đất nước cùng với chồng mình. Khi Otto qua đời, con của họ là Otto II lên ngôi.

Tin xấu! Vợ của vua Otto II là Theophano, vì ghen tị với Adelaide nên không tử tế với bà. Khi Otto qua đời, con trai của ông là Otto III lên ngôi và Theophano trở thành “nhiếp chính” (người cai trị cho đến khi ông vua trẻ trưởng thành). Khi nắm được quyền bính, Theophano đuổi Adelaide ra khỏi hoàng cung.

Sống giữa cảnh thế sự thăng trầm, Adelaide luôn là một phụ nữ thánh thiện, chuyên tâm cầu nguyện. Bà giúp đỡ người nghèo, xây dựng nhiều nhà thờ và tu viện. Bà đã biến tin xấu thành tin tốt và nên thánh!

Dường như nhiều người có cuộc sống dao động giữa thăng trầm tốt xấu. Vài người trong số họ chỉ chú trọng đến tin xấu! Họ nhìn và hành động cách thảm hại, luôn phàn nàn kêu ca. Những người khác thì chỉ nhắm đến tin tốt, mỉm cười, sống hết mình mỗi ngày, biết “chuyển bại thành thắng”, và sống cuộc đời hạnh phúc. Em sẽ thuộc loại người nào đây?

2. ALBERTÔ CẢ

Nhiều người nghĩ rằng vị thánh này có “phép thuật”! Thật vậy, ngài là một nhà khoa học lão luyện – nhưng vào thời đại của ngài thì hầu hết mọi người đều không biết đến những chuyện như thế nên cho rằng ngài là phù thủy!

Ngài là chuyên gia về vật lý, địa lý, thiên văn, khoáng vật học, sinh học, và triết học – dạy và viết về tất cả những đề tài này. Nhưng tác phẩm quan trọng nhất của ngài là áp dụng những kiến thức về các vấn đề này để dạy và viết về Thiên Chúa!

Albertô là một giám mục, một người bảo vệ đức tin, cố vấn cho giáo hoàng, một nhà giảng thuyết, một thầy dạy và lãnh đạo. Ngài không phải là phù thủy mà là người vĩ đại và là người tốt.

Em có muốn là một nhà khoa học không? Tất cả những chủ đề mà Albertô nghiên cứu và dạy đều rất thú vị nhưng Albertô nhận thấy rằng Thiên Chúa đã và đang hiện hữu trong mỗi khoa học ấy. Tất cả bí ẩn của vũ trụ đều do Thiên Chúa tạo dựng. Tất cả kiến thức đều từ Ngài mà đến. Như vậy dù em chọn học ngành nào đi nữa thì đề tài thú vị nhất để nghiên cứu vẫn luôn là Thiên Chúa!

3. ALEXANDER – NGƯỜI ĐỐT THAN

Vị thánh này đã trở thành giám mục vì người dân sống trong thành phố của ngài quá kiêu kỳ và châm biếm!

Thành phố của Alexander cần một giám mục. Vì thế, người dân có trách nhiệm tuyển chọn vài “ứng viên” và rồi cầu xin một giám mục khác – một vị thông thái nổi tiếng là Grêgôriô,người làm sự lạ - đến để quyết định xem ai là người thích hợp cho công việc.

Giám mục Grêgôriô đến và nói chuyện với tất cả các ứng viên song dường như không ai thích hợp cả. Dân thành muốn ngài chọn ai đó giàu và có thế lực, nhưng Grêgôriô nhắc họ nhớ lại rằng các tông đồ của Chúa Giêsu đều nghèo khó và là những người bình thường.

Thế là một trong những người dân thành châm biếm nói rằng: “Tốt thôi! Vậy tại sao không chọn Alexander - người đốt than!” Grêgôriô biết đây là một đề nghị có tính nhạo báng, nhưng ngài đã làm họ ngạc nhiên khi cho mời Alexander đến!

Khi Alexander đến, quần áo anh trông có vẻ dơ bẩn và rách rưới vì công việc mình làm, không giống một giám mục chút nào. Nhưng Grêgôriô bắt đầu nói chuyện với anh và khám phá ra rằng anh là một người có học và thông minh. Ngài biết rằng Alexander đã cho đi hết tiền của và làm một công việc thấp hèn để có thể sống cách đơn giản như Chúa Giêsu.

Grêgôriô biết rằng mình tìm đúng người để làm giám mục. Điều bắt đầu bằng một trò đùa đã trở nên niềm vui! Người đốt than đã trở thành một giám mục tốt và thánh thiện, một thầy dạy hữu ích – và là một vị thánh!

Gia đình em hay hàng xóm láng giềng có ai dùng than củi để nướng thịt không? Lần tới nếu bạn ngửi thấy mùi thịt nướng thì hãy nhớ đến Alexander – vị thánh đã chọn một công việc thấp hèn nhưng rồi đã được chọn để trở thành một lãnh đạo vĩ đại.

4. ALÔSIÔ

Vị thánh này dự định trở thành một anh hùng chiến binh cho đến khi đọc vài cuốn sách và trở thành một loại anh hùng khác!

Cha của Alôsiô là hầu tước phục vụ cho nhà vua Tây Ban Nha và muốn con trai mình trở thành một chiến binh vĩ đại. Nhưng khi Alôsiô được chừng mười hai tuổi thì bị bệnh rất nặng, phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Không phải thời gian để chơi trò chiến trận nên cậu bé đọc sách. (Thời ấy chưa có TV!).

Cậu bé đọc loại sách nào? Những sách về đời sống các vị thánh! Hẳn có khi nào cậu ấy ngờ được rằng một ngày kia mình sẽ được đưa vào sách nói về các thánh, và bạn đang đọc về cậu ấy?

Alôsiô cũng đã đọc những câu chuyện về các linh mục Dòng Tên truyền giáo tại Ấn Độ - và điều đó xem ra rất hào hùng đối với cậu. Vì thế, Alôsiô quyết định làm linh mục thay vì làm một chiến binh. Cậu đã trở thành một linh mục anh hùng và là một vị thánh.

Em có từng nghĩ rằng một ai đó sẽ đọc về mình trong một cuốn sách không? Nếu không phải trong một cuốn sách về các thánh thì không còn sách nào khác? Nào! Đừng có mà quả quyết như vậy! Alôsiô cũng đã không nghĩ như thế đâu! Đọc sách có thể mở cho em tất cả mọi “cánh cửa” – cho em những ý tưởng mới, những hướng đi mới, những khả năng mới. Tại sao em không cố gắng đọc ít nhất một phần của cuốn sách nào đó mỗi ngày? Nó sẽ vui lắm đấy – và một vài điều em đọc có thể khởi sự cho một dự định khiến mình trở nên anh hùng ngày nào đó!

5. ANPHONGSÔ LIGUÔRI

Em có thể gọi vị thánh này là “đại bàng pháp lý” hay một luật gia lỗi lạc! Người ta nói nói rằng trong tám năm hành nghề luật, ông không thua một vụ kiện nào!

Trong suốt những năm này, Alphongsô vui hưởng một “đời sống trần tục”, “những thú vui thời thượng” và bắt đầu bỏ bê tôn giáo của mình. Nhưng vào mùa Chay một năm kia, ông hồi tâm và suy nghĩ nghiêm túc về hướng đi cho cuộc sống mình. Alphongsô quyết định không kết hôn (dù người cha cố gắng “dàn xếp” hôn nhân cho ông), và tiếp tục hành nghề luật cho đến khi một điều gì đó xảy ra để thấy rằng Thiên Chúa không muốn ông làm luật sư. Chỉ một ít tháng sau, điều gì đó đã xảy ra thật!

Trong một vụ kiện tại tòa án, Alphongsô đã say sưa phát biểu dài hơi và chắc rằng mình gây đủ ấn tượng để thân chủ thắng cuộc. Nhưng vị luật sư đối thủ đã đưa cho Alphongsô một tài liệu với những đoạn văn được đánh dấu và nói: “Ông chỉ tốn hơi vô ích! Ông đã không quan tâm đến bằng chứng của toàn bộ vụ kiện”. Alphongsô đã đọc tài liệu trước rồi nhưng lại bỏ sót phần quan trọng này. Ông không thể tin được rằng mình đã phạm điều ngu ngốc đến thế! Vì lỗi lầm này, ông đã thua vụ kiện quan trọng. Alphongsô rời tòa án và không bao giờ quay lại.

Ông thấy rằng đây là dấu Chúa muốn mình rời bỏ nghề luật và làm điều gì đó mới mẻ hơn, và ông đã làm. Alphongsô không chỉ trở thành linh mục mà còn trở nên nổi tiếng khi viết nhiều sách vở về các chủ đề tôn giáo và thành lập một dòng tu mới – Dòng Chúa Cứu Thế. Ngày nay, trên khắp thế giới, các cha Dòng Chúa Cứu Thế đã viết, rao giảng và làm công việc truyền giáo – theo gương của “đại bàng pháp lý” này, người được Chúa sai bay đi hướng mới.

Em có muốn trở thành luật sư một ngày nào đó không? Hay đúng hơn muốn thành một đại bàng? Vâng, có thể em không sãi đôi cánh ra được nhưng có thể là phi công hay làm việc trên máy bay hoặc đơn giản chỉ du hành trên máy bay! Lúc ấy em có thể nhìn ra ngoài cửa sổ và lấy làm thán phục vì Thiên Chúa đã dựng nên những đám mây, bầu trời và chim muông – còn em! em là một ví dụ đáng kinh ngạc nhất trong tạo dựng của Thiên Chúa! Trong tất cả thụ tạo của Thiên Chúa, chỉ có con người mới có thể suy nghĩ, chọn lựa, giúp đỡ, yêu thương và cười đùa! Ngay bây giờ, hãy dùng trí óc để nghĩ về một vài điều khác mà Thiên Chúa đã dựng nên. Hãy nhìn xem! Con lợn đất và tuyết vùng Bắc cực, khủng long và hoa bồ công anh, trái cà chua và con mèo, khoai tây và các hành tinh, ngựa vằn và đá quý zircon, một con số vô cùng lớn và những điều khác! Em có thấy rằng đó là một danh sách quá dài khi liệt kê những điều Chúa đã tạo dựng? Và cũng đừng quên kê tên mình ở đầu danh sách!

* ANNA VÀ GIOAKIM / ANSGARIÔ / ANTÔN PADUA / APÔLINARIÔ NHÀ HỘ GIÁO/ ATHANASIÔ

6. ANNA VÀ GIOAKIM

Hai vị này có thể được gọi là các thánh ông bà! Tại sao? Bởi vì họ là ông bà ngoại của Chúa Giêsu!

Ông bà Anna và Gioakim kết hôn đã lâu nhưng không có con. Họ là những người tốt, thánh thiện và rất muốn có em bé, vì thế ngày nào họ cũng cầu xin Thiên Chúa gởi đến cho mình một đứa con. Cuối cùng, lời cầu xin của họ đã được nhận lời, họ có một bé gái rất xinh và đặt tên là Maria.

Khi Maria lớn lên, cô trở thành mẹ của Chúa Giêsu – và như thế Anna và Gioakim thành ông bà ngoại của Ngài!

Vào thời đại của các ngài, không có báo chí, sách vở hay các chương trình TV, vì thế phương tiện duy nhất để loan báo “tin tức” là bằng miệng – người này nói với người kia và người kia nói với người khác nữa! Vì không có gì được viết ra nên chúng ta cũng chẳng biết gì về đời sống của họ - chẳng biết họ có sống gần Đức Maria, giúp đỡ việc chăm sóc Chúa Giêsu, hoặc họ có đến thăm và “ngủ lại qua đêm” hay không. Chúng ta cũng không biết được bà Anna có làm bánh cho Giêsu ăn hay ông Gioakim có dẫn Ngài đi câu đâu đó hay không. Chúng ta chỉ biết chắc rằng họ là người tốt, vì thế họ là những ông bà tốt!

Có ông có bà thì rất là vui! Điều tệ hại là ngày nay phần lớn ông bà đều sống ở nơi khác và ít khi thăm các con cháu mình. Nếu em có ông bà ở xa, tại sao em không làm họ ngạc nhiên khi viết thư hay gởi thiệp đến cho ông bà ngay hôm nay! Nếu em có ông bà ở gần, hãy gọi và báo cho họ biết em sẽ cùng với họ làm điều gì đó trong chốc lát nữa. Hoặc có thể hôm nay em chỉ cần cầu nguyện cho tất cả các ông bà, cầu xin Chúa chúc lành và ban cho các ngài được hạnh phúc!

7. ANSGARIÔ

Nếu chỉ được xin Chúa một ân huệ, em sẽ xin điều gì – được nhiều tiền, một chiếc xe sang, một căn nhà mới? Ansgariô đã xin một điều rất khác. Có một lần vị thánh này nói rằng nếu có thể xin Chúa một phép lạ thì ông sẽ xin được làm người tốt!

Hiển nhiên, Thiên Chúa đã làm điều đó mà không cần Ansgariô phải xin phép lạ. Khi đến tuổi thiếu niên (tuổi “teen”), Ansgario bắt đầu dạy trẻ trong một trường dòng ở Đức. Sau đó, ngài được sai đi Thụy Điển để truyền giáo và trên hành trình này chiếc tàu của ngài đã bị cướp biển tấn công và lấy đi tất cả.

Cả cuộc đời ngài là một loạt những chiến thắng và thất bại. Ngài trở thành Tổng Giám mục ở Đức và tổ chức truyền giáo tại Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển. Những cuộc xâm lăng vĩ đại của người Vikings đã phá hủy thành phố của ngài ở Đức, các nhà truyền giáo của ngài bị đuổi ra khỏi Thụy Điển.

Sau mỗi thảm họa, Ansgariô lại làm việc để mang giáo huấn của Chúa Giêsu đến cho mọi người. Ngài rất tử tế với người nghèo, thậm chí rửa chân cho họ, mời họ vào bàn để phục vụ họ ăn uống. Dù sự việc có khó khăn thế nào, Ansgariô vẫn không nản lòng và từ bỏ. Ngài vẫn luôn là “người tốt”.

Có lẽ em sẽ chẳng bao giờ bận tâm đến những cuộc tấn công do cướp biển hay xâm lăng của người Vikings, nhưng nếu em đã từng nản lòng hay có cơ hội ước mơ thì hãy nghĩ đến mơ ước của Ansgariô. Em đã từng ước điều đó chưa?

8. ANTÔN PADUA

Hãy trả lời nhanh nhé! Em có nhớ Việt Nam có bao nhiêu tỉnh thành, bao nhiêu cuộc chiến, năm nào? Qui Nhơn và Cần Thơ cách nhau bao xa? Có lẽ em cần Thánh Antôn giúp đỡ đấy!

Thánh Antôn nổi tiếng có trí nhớ thần kỳ! Khi còn trẻ, ngài học Kinh Thánh, và nhờ có trí nhớ lâu (giúp ghi lại mọi điều đã học) nên ngài có rất nhiều kiến thức về Kinh Thánh.

Antôn muốn làm nhà truyền giáo, vì thế ngài rời quê hương Bồ Đào Nha để đi Marốc, nhưng rồi bị bệnh rất nặng nên phải quay trở về nhà. Trên đường về, chiếc tàu bị bão cuốn khỏi hành trình và Antôn đến Ý thay vì Bồ Đào Nha! Lúc còn ở đấy thì một ngày kia ngài đi dự một cuộc họp quan trọng gồm các linh mục dòng Đaminh và Phanxicô. Người ta nghĩ rằng có một ai đó sẽ giảng thuyết nhưng rồi có sự lẫn lộn sao đó nên chẳng ai chuẩn bị gì cả cho dịp này. Thế là Antôn được yêu cầu đứng lên và nói bất cứ điều gì mà Chúa Thánh Thần gợi ý.

Antôn đã làm theo yêu cầu và bắt đầu cách từ tốn, nhưng một khi thông suốt, ngài đã có buổi nói chuyện rất hay đến nỗi mọi người đều cho rằng ngài nên làm người giảng thuyết. Và đó là điều ngài đã làm! Trí nhớ tốt đã giúp ngài nhớ lại tất cả những gì định nói, và ngài có một giọng nói mạnh mẽ vang đi rất xa – đây là điều quan trọng trong một thời đại mà micrô chưa được phát minh!

Bất cứ khi nào Antôn nói, đám đông xúm đến nghe, và ngài thuyết phục nhiều người trở thành Kitô hữu. Nhờ trí nhớ, những giờ học tập lâu dài và con thuyền bị bão thổi lệch hướng, Antôn đã tìm thấy công việc của đời mình là rao giảng ở Ý cũng như đã trải qua những năm cuối đời tại một thành phố tên là Padua. 

Em có nhớ dễ dàng những gì mình đã đọc không, nhớ ngày tháng và sự kiện, hay nghe một câu chuyện và kể lại cho người khác chính xác những gì mình đã nghe? Hay điều ấy thật khó đối với em? Vài người nhớ hết mọi sự cách rất tự nhiên còn người khác thì vất vả để ghi nhớ. Vài người biết rõ mình muốn làm nghề gì và đã làm được, nhưng người khác thì bắt đầu ở một hướng và rồi con thuyền của mình lại bị thổi sang một hướng khác! Hướng này không tốt hơn hướng kia – chỉ khác thôi! Em hãy tạ ơn Chúa vì bất kỳ tài năng đặc biệt nào của mình và cầu nguyện để xin Chúa thổi mình đến bất cứ hướng nào mà Chúa muốn em đi!

9. APÔLINARIÔ NHÀ HỘ GIÁO

Khi Apôlinariô “hộ giáo” (apology), ngài không xin lỗi gì mà chỉ nói mình hãnh diện về điều đó! Ngài hãnh diện về điều gì? Về đức tin Kitô giáo của mình!

“Hộ giáo” là biện hộ, biện giải cho đức tin, trong tiếng Anh là “apology”. Từ apology có hai nghĩa khác nhau là xin lỗi và hộ giáo. Khi em làm điều gì sai, bất lịch sự hay không thích hợp thì em xin lỗi vì hành vi của mình. Nhưng khi em bảo vệ cách uyên bác về một ý tưởng hay một niềm tin, điều ấy gọi là hộ giáo. Nếu một nhà khoa học đưa ra một lý thuyết, ông phải biện hộ cho nó và cố gắng chứng minh ý tưởng của mình cũng như chinh phục người khác rằng nó đáng giá. Cũng thế, Apolinariô đã biện hộ với hoàng đế vào thời đại mình, bảo vệ Kitô giáo.

Apôlinariô rõ ràng đã nói rất thuyết phục để vị hoàng đế ban hành chỉ dụ cấm bất kỳ ai tố cáo một Kitô hữu vì tôn giáo của người ấy – và Apolinariô đã nổi danh là Người hộ giáo!

Em có bao giờ xin lỗi vì điều gì chưa? Hầu hết mọi người đều đã làm điều đó! Nhưng có một điều mà em chẳng bao giờ phải xin lỗi vì mình là một Kitô hữu! Nếu em đã từng lên tiếng bảo vệ tôn giáo của mình thì đó có thể là một loại hộ giáo cho đức tin và nói lên rằng em hãnh diện khi là bạn của Chúa Giêsu.

10. ATHANASIÔ

Vị thánh này bắt đầu đời giáo sĩ như là một thư ký – thư ký cho Giám mục thành Alexandria. Sau này, chính Athanasiô trở thành giám mục, nhưng lúc ấy một lạc giáo gọi là bè phái Ariô nổi lên và bắt đầu lan rộng khắp vùng Địa Trung Hải. Athanasiô mất nhiều năm khó khăn để chiến đấu bảo vệ cho giáo huấn cơ bản của Giáo Hội.

Các đối thủ cố loại ngài bằng cách cáo gian về nhiều tội phạm khác nhau, nhưng ngài vô tội. Họ lại cố buộc ngài tội giết người mà ai cũng biết rằng người ấy còn sống và đang ẩn nấp! Athanasiô luôn bị đi đày, tấn công hay phải chạy trốn khỏi thành phố. Ngài đã trải qua mười bảy năm vào tù ra khám! Nhưng Athanasiô không bao giờ từ bỏ, không bao giờ nhượng bộ những kẻ tấn công Giáo Hội.

Có câu ngạn ngữ xưa nói rằng: “Một mình Athanasiô cân cả thế giới” (Athanasius against the world), bởi vì ngài nổi tiếng là người không sợ đối mặt với toàn bộ thế giới của kẻ thù, quyết bảo vệ điều mà ngài biết rằng đúng!

Em có bao giờ thấy đơn độc chống lại thế giới không? Đừng bao giờ cảm thấy mình đơn độc khi làm điều đúng – vì khi ấy Thiên Chúa ở với em. Nếu phải chiến đấu lâu dài và khó nhọc để chống lại điều mình biết là sai – hãy nhớ đến thánh Athanasiô, người không bao giờ bỏ cuộc và nhượng bộ!

* AUGUSTINÔ / BARTÔLÔMÊA CAPITANIO / BASILIÔ / BATHILDA / BÊĐA ĐÁNG KÍNH

11. AUGUSTINÔ

Con hà mã trong tiếng Anh là hippopotamus, viết tắt là hippo! Em có bao giờ nhìn thấy một con “hippo” trong vườn bách thú chưa? Vâng, vị thánh này là giám mục của một thành phố mang tên Hippo! Như em đã biết, hà mã là một trong những con thú lớn nhất ở vườn thú, còn Augustinô là một trong những vị thánh lớn nhất trong Giáo Hội – không nói về kích cỡ nhưng về tất cả những gì ngài đã làm!

Mẹ của Augustinô là một phụ nữ thánh thiện đã dạy dỗ ngài về Kitô giáo từ lúc ngài còn trẻ. Nhưng khi lớn lên và rời khỏi nhà, Augustinô đã quên tất cả những lời mẹ dạy và sống một cuộc đời phóng túng và điên rồ.

Bà mẹ vẫn hằng cầu nguyện cho ông. Cuối cùng, ông nhận thấy mình đã làm sai và quay trở về với Giáo Hội, bắt đầu trở thành một trong những mục tử nổi tiếng nhất trong lịch sử Giáo Hội. Ngài là một tác gia vĩ đại đến nỗi sách của ngài ngày nay vẫn còn được học hỏi, hàng trăm năm sau khi ngài qua đời. Ngài viết khoảng 200 khảo luận (giải thích các nguyên tắc và giáo huấn của Giáo Hội), 300 thư hướng dẫn và 400 bài giảng – cộng với các sách khác của ngài!

Dù có một khởi đầu tồi tệ song Augustinô đã chuyển hướng đời mình và có một kết thúc ngoạn mục.

Em đã từng phạm phải sai lầm và nghĩ rằng mình sẽ đền bù cho những việc làm ngu ngốc ấy không? Vâng, em biết đó, dù em có làm bất cứ điều gì thì Thiên Chúa sẽ luôn tha thứ nếu em thật tình hối lỗi và nói với Ngài điều đó. Dù lỗi lầm có tệ đến đâu, em vẫn luôn có thể thay đổi và tiến bộ hơn vào lần tới. Vì thế, nếu em đã từng thất vọng vì đã làm điều ngu ngốc thì hãy xin lỗi và quyết không bao giờ làm điều đó nữa. Rồi hãy xin Thiên Chúa giúp đỡ để quay về - giống như Thánh Augustinô đã làm.

12. BARTÔLÔMÊA CAPITANIO

Em có tin rằng người phụ nữ này trở nên nổi tiếng vì viết quá nhiều thư? Vâng, đây là một trong những lý do!

Khi Bartôlômêa còn nhỏ, cha cô nghiện rượu khiến cuộc sống của cô và mẹ trở nên khó khăn. Họ yêu ông nhưng ghét tính nghiện rượu của ông. Họ kiên nhẫn và cầu nguyện cho ông.

Khi Bartôlômêa đến tuổi thiếu niên, cô thấy rằng nhiều trẻ em trong phố chỉ “la cà” ngoài đường vì không có trường học. Vì thế, Bartôlômêa đi học và lấy chứng chỉ giáo viên, mở lớp tại nhà mình. Vào buổi chiều, cô bắt đầu viết thư cho bạn bè và các học trò cũ. Thư của cô đưa ra những lời cố vấn tinh thần, những lời khuyên và tình thân hữu. Mọi người giữ thư của cô lại và cất như một kho báu. Họ thường chia sẻ những thư này với nhiều người khác, thậm chí các linh mục cũng sao chép các bức thư và trao cho những người đến với các ngài để xin lời khuyên.

Mặc dù qua đời lúc chỉ 26 tuổi, Thánh Bartôlômêa đã viết rất nhiều thư. 300 bức thư của nữ thánh đã được sưu tập, xuất bản và ngày nay người ta vẫn còn đọc.

Nhiều người có thân thuộc hay bạn bè uống rượu quá nhiều như cha của Bartôlômêa, nhưng ngày nay có những trung tâm cai nghiện giúp đỡ họ. Nếu em biết có ai giống như thế, hãy cầu nguyện cho họ. Có lẽ em nên viết cho người ấy một bức thư! Em có thích viết thư không? Ngày nay không mấy người viết thư nhưng nhận được thư là cả một niềm vui! Tại sao em không viết thư cho ai đó ngay hôm nay? Người đó sẽ là ai?

13. BASILIÔ

Đây là vị thánh không ngại quấy rầy một ông hoàng đế! Basiliô đã kích hoàng đế của mình, nói rằng ông độc ác với dân và sống không đúng với các nguyên tắc Kitô giáo. Vị hoàng đế không hài lòng và nói: “Không ai từng nói với ta như thế!” Basiliô bật lại: “Như thế rõ ràng là trước đây ngài chưa từng gặp một giám mục Công giáo!”

Basiliô là một giám mục vĩ đại, sống trong môi trường thuộc nền văn minh xa lạ và ngoại lai – Đế quốc Byzantin. Đất nước của ngài là quốc gia Kitô giáo đầu tiên, nhiều biến cố lớn của Giáo Hội sơ thời đã xuất phát từ đây – những Công đồng đầu tiên, những thầy dạy đầu tiên của Giáo Hội, và cả những vấn đề tồi tệ đầu tiên nữa. Đây là thế giới mà Giáo Hội gặp nguy hiểm vị kẻ thù nghiền nát, nhưng Basiliô can đảm và những thủ lãnh khác của Giáo Hội đã bảo vệ đức tin và cứu Giáo Hội!

Em có bao giờ dám nói với một ông vua rằng ông ấy không sống đời sống Kitô giáo không? Không nhiều người có can đảm như thế. Cũng không có nhiều người can đảm như các vị thánh của Giáo Hội sơ thời. Có lẽ em chẳng cần nói với một ông vua nhưng em cần trở nên can đảm trong thế giới của mình hôm nay – nói không với những người muốn lôi kéo em sa vào ma túy, rượu hay một kiểu sống vô luân. Hôm nay, hãy cầu nguyện để Thiên Chúa ban cho em có can đảm sống làm người tốt và sẵn sàng lên tiếng nếu đó là điều quan trọng – như Thánh Basiliô đã làm!

14. BATHILDA

Vị thánh này là “cô bé lọ lem” thật sự! Bà là một nô lệ đã trở thành nữ hoàng và là mẹ của ba ông vua!

Bathilde được sinh ra tại Anh nhưng bị bán làm nô lệ cho một quan chức triều đình Pháp. Hẳn nhiên bà rất có khả năng và duyên dáng nên nhanh chóng gây ấn tượng ở triều đình vì nhà vua đã cưới bà làm vợ! Bà đã bước từ thân nô lệ đến một hoàng hậu!

Bà và chồng có ba người con trai. Khi chồng chết, Bathilda đã cai trị vương quốc. Bà rất khôn ngoan và là người lãnh đạo tài giỏi đã làm nhiều điều tốt đẹp cho dân mình, chuộc lại nhiều nô lệ giống như bà trước đây. Bà làm nữ hoàng trong vòng bảy năm cho đến khi người con cả đủ trưởng thành để lên ngôi vua. Sau đó hai người con khác của bà cũng đã đội vương miện.

Sau khi các con lên ngôi, bà rời hoàng cung và bỏ cân đai áo mũ để đến sống tại một tu viện khiêm tốn. Bà trở thành nữ tu và xin được làm những công việc thấp hèn nhất. Bà đã đi từ nô lệ đến nữ hoàng để phục vụ Thiên Chúa.

Em đã đọc những câu chuyện về “cô bé lọ lem” chưa? Cái cô Cinderella ấy? Những câu chuyện cổ tích nói về những người nghèo khó bỗng chốc trở nên giàu có, từ thấp hèn lên đến cao sang? Tại sao hôm nay em không viết nên câu chuyện “cô bé lọ lem” của riêng mình? Hãy nghĩ đến nơi em ở và việc mình đang làm hôm nay – và em muốn làm gì hay là gì một ngày nào đó? Em có muốn được giàu có hay nổi tiếng, làm vận động viên hay người có học thức, có một gia đình đông đúc hay lái xe sang, đi vòng quanh thế giới hay du hành trong không gian? Hoặc em có muốn khám phá ra phương thức chữa bệnh cúm, một hành tinh mới, một vị kem mới? Hoặc em có muốn làm cho thế giới này trở nên tốt hơn bằng cách trở thành một người tốt, một người bạn tốt hay một Kitô hữu tốt?

15. BÊĐA ĐÁNG KÍNH

Đây là một người có cái tên đặc biệt! Ngài không chỉ được gọi là Bêđa – nhưng còn là Bêđa Đáng kính nữa! Nào! Hãy đoán xem có chuyện gì vậy?
Này nhé! Bêđa không chỉ là người học thức nhất vào thời đại mình, ngài còn thông thái trong đường lối của Thiên Chúa đến độ người ta nghĩ về ngài như một người đáng kính – một người được kính trọng, tôn kính và thán phục.

Và ngài là một tác gia đại tài! Bêđa viết về lịch sử, tu từ, thiên văn học, phép chính tả, âm nhạc, văn phạm, triết học, thơ ca, chú giải và hạnh các thánh.

Hầu hết những người ở thời đại Bêđa thậm chí không biết đủ về một đề tài để viết sách về nó. Và họ thậm chí cũng không biết một vài đề tài mà Bêđa viết – chẳng hạn như phép chính tả, chú giải Kinh Thánh hay hạnh các thánh. Em có biết mấy chuyện này không? Thế tại sao em không mở cuốn tự điển ra và tìm xem Bêđa đã viết về những gì? Và rồi có thể chính em sẽ viết một cuốn sách – một tường thuật hay một bức thư cho ai đó – về một trong những đề tài này!

* BÊNÊĐICTÔ / BÊNÊĐICTÔ GIUSE LABRÉ / BÉNEZET / BÉNILDE (BÁ NINH) / BERNADETTE

16. BÊNÊĐICTÔ

Em có một cô em gái chứ? Hoặc một người bạn hay bà con mà em rất yêu quý? Em có đi thăm bạn ấy chỉ một ngày trong năm không? Đó là điều đã xảy ra giữa Bênêđictô và em gái mình là Scholastica!

Thánh Bênêđictô thành lập dòng Bênêđictô vào thế kỷ V, và tạo nên một sự khác biệt quan trọng trong thế giới thời Trung Cổ. Hàng ngàn người đã đi vào các tu viện để sống theo phương châm của Thánh Bênêđictô: “Cầu nguyện và Lao động”. Các tu sĩ Bênêđictô đã đem Kitô giáo đến nhiều quốc gia chưa từng nghe đến Đức Giêsu bao giờ, và họ đã làm việc để vực dậy sự quan tâm đến tôn giáo, giáo dục và văn hóa ở những nơi mà Đức tin đang chết dần. Họ cũng xây dựng nhiều nhà thờ lớn ở Âu châu.

Em có thể thấy rằng Thánh Bênêđictô là vĩ nhân – và người em gái Scholastica cũng thế. Dù Scholastica sống cách Bênêđictô anh mình chỉ có vài dặm đường, song họ cũng chỉ cho phép mình được gặp nhau một lần trong năm. Họ ăn trưa cùng nhau và dành trọn ngày để trò chuyện – Em có biết họ nói chuyện gì không? Có lẽ họ chia sẻ với nhau những gì mình đã làm trong năm, nhưng vì cả hai đều là những tu sĩ đạo đức nên phần lớn thời gian họ nói về Chúa và Giáo Hội, tôn giáo và những chuyện đại loại như là những niềm vui Nước Trời!

Nếu em chỉ có một ngày trong năm để thăm em gái hay người mà em yêu mến, em sẽ nói về những gì? Em có dành chút thời gian nào để nói về Chúa không? Có thể lắm! Có lẽ em nên dành một ít thời gian trong ngày để nói về Chúa! Đó thật là một chủ đề mầu nhiệm và thật thú vị!

17. BÊNÊĐICTÔ GIUSE LABRÉ

Nếu gặp vị thánh này trên đường, chắc em không muốn kết bạn đâu! Ngài là người đi lang thang, đôi khi ăn mặc rách rưới trông giống kẻ du thủ du thực.

Thánh Bênêđictô Giuse Labré là con cả trong một gia đình có 18 anh chị em! Ông chú của ngài là một cha sở, đã dạy Bênêđictô học. Nhưng khi Bênêđictô đủ lớn, anh bắt đầu đi lang thang từ tu viện này đến tu viện khác. Cuối cùng, Bênêđictô đến Rôma, và trong một thời gian anh thậm chí còn ngủ trong đấu trường Colosseum nên được gọi là “Người ăn mày thành Rôma”.

Đối với nhiều người, Bênêđictô dường như là một thất bại, thế nhưng ngài đang tìm kiếm Chúa. Ngài chú tâm đến Thiên Chúa đến nỗi nghĩ rằng quần áo đẹp hay chỗ ở sang trọng chẳng có gì quan trọng. Ngài đã gây ấn thượng cho những ai quen biết ngài về lòng sùng kính Thánh Thể và linh đạo sâu xa của ngài. Ngài là mẫu gương cho những ai xem nhẹ thế sự để chỉ tìm cách làm vui lòng Thiên Chúa.

Mọi người đôi khi “lang thang” – bất an, tìm kiếm, lo lắng mình sẽ phải làm gì đây, đi đâu, đọc sách gì, xem phim gì, gọi điện cho bạn nào, mặc đồ gì đây. Nhưng đó là những chuyện thế gian. Em có bao giờ “lang thang” đến nhà thờ để viếng Chúa hay đi đến nơi thanh vắng để lần chuỗi, ra ngoài đâu đó để đi và nói chuyện với Chúa không? Có lẽ em nên thử một lúc nào đó – hay có thể là ngay ngày hôm nay?

18. BÉNEZET

Vị thánh này là một người chăn cừu xây cầu – và nổi danh là Bénezet Người xây cầu.

Một ngày kia, Bénezet nằm mơ hay thị kiến thấy mình được sai đi xây cầu tại một khúc nào đó trên sông Rhône (nước Pháp), vì đã có nhiều người mất mạng khi cố vượt qua khúc sông đó. Xây cầu chắc không phải là nghề của người chăn cừu! Nhưng Bénezet tin rằng đó là điều mà Thiên Chúa muốn mình thực hiện nên anh đã đến gặp vị giám mục địa phương, nói với ngài về giấc mơ và xin giúp đỡ. Thật lạ lùng là giám mục đã chấp thuận bổn phận quá sức này.

Trong vòng bảy năm sau đó, Bénezet đã thực hiện dự án này, và với sự giúp đỡ của Thiên Chúa, anh đã có thể kiếm đủ vật liệu cần thiết và giải quyết được hết những vấn đề kỹ thuật liên quan đến việc xây một cây cầu bằng đá bắc ngang qua dòng sông rộng (cầu Saint-Bénezet hay cầu Avignon). Bénezet qua đời trước khi cầu được hoàn thành; nhưng trong thời gian xây dựng, nhiều phép lạ đã xảy ra được cho là kết quả những lời cầu xin của người chăn cừu xây cầu này. Sau khi Bénezet mất, dân làng tôn vinh anh như một vị thánh và hoàn tất cây cầu của anh!

Em có thể tưởng tượng được rằng mình sẽ khởi sự một dự án lớn như xây cầu mà không có tiền lẫn kinh nghiệm không? Nhiều vị thánh có thể hoàn thành nhiều kỳ tích dường như bất khả thể - không phải nhờ khả năng riêng của họ mà vì các ngài đã đặt niềm tin và sự tín thác vào Thiên Chúa cũng như tin chắc rằng Ngài sẽ ở bên cạnh để giúp đỡ mình. Nếu em có một công việc dường như khó thành hiện thực thì hãy nhớ đến người chăn cừu xây cầu, rồi hãy xin Thiên Chúa giúp đỡ mình nữa!

19. BÉNILDE (BÁ NINH) 

Em có biết từ “daily grind” trong tiếng Anh có nghĩa là gì không? “Daily grind” có nghĩa là công việc xay bột hàng ngày để làm bánh, từ đó nó có nghĩa là công việc nhàm chán, tẻ nhạt phải làm từ ngày này sang ngày khác - quanh đi quẩn lại chỉ có mỗi một công việc. Vâng! Đức giáo hoàng Piô XI đã gọi thánh Bénilde (hay thánh Bá Ninh trong tiếng Việt) là “vị thánh của công việc tẻ nhạt hàng ngày”.

Từ khi còn trẻ, thánh nhân đã đi học tại trường của các Sư huynh (Dòng Các trường học Kitô giáo hay Dòng La San) tại Pháp. Khi tốt nghiệp, thay vì rời đi thì ngài đã ở lại! Bénilde trở thành Sư huynh dòng La San và dành hết quảng đời mình để dạy các trẻ em trai. 

“Daily grind” thường có nghĩa là cứ làm đi làm lại một công việc, ngày này qua ngày khác, và Bénilde đã làm điều ấy hết cả cuộc đời mình – nhưng dạy học không phải là công việc nhàm chán quanh đi quẩn lại bởi vì luôn luôn có một điều gì đó mới mẻ để học hỏi và rồi dạy lại. Đó là điều thánh Bénilde đã làm!

Ngài làm hiệu trưởng trường này trong một vài năm rồi lại bắt đầu một trường khác. Ngôi trường bắt đầu trở thành một trường mẫu và Bénilde thành nhà giáo mẫu và một Kitô hữu gương mẫu.

Em có bao giờ thấy mệt mỏi vì làm mãi một công việc hằng ngày không – ra khỏi giường, rửa mặt, đánh răng, ăn sáng, đi học, làm bài tập ở nhà, ăn tối, lại đi ngủ? Tất cả đều là những công việc tốt và cần thiết, nhưng tại sao em không làm điều gì đó khác thường trong ngày hôm nay? Giả dụ như em là một nhà giáo, và hãy nghĩ đến điều mình phải nói và làm để dạy ai đó một điều gì đó – buộc dây giày ra sao, ném bóng như thế nào, nướng bánh, khâu cúc áo, viết một câu chuyện, hát một bài hát, và đọc một lời cầu nguyện! Em có nghĩ rằng mình sẽ là một nhà giáo tốt!

20. BERNADETTE

Bà thánh này đã không bao giờ học giỏi ở trường! Nhưng bà đã làm một giám mục đổi ý – và cả thế giới nữa!

Bernadette là cô gái tội nghiệp dường như không bao giờ học thuộc bài – ngay cả khi có ai đó cố “phụ đạo” cho cô, từng chút một. Cha cô là chủ cối xay nhưng gia đình rất nghèo, sống trong căn nhà nhỏ ẩm thấp như một hang động. Điều này không tốt cho sức khỏe của Bernadette nên cô bị hen suyễn và thường xuyên đau ốm.

Một ngày kia, khi đang lượm củi bên bờ sông, bỗng nhiên cô thấy một ánh sáng chói lòa và một bà tuyệt đẹp. Đó là Đức Mẹ Maria. Bernadette cảm thấy vui mừng nhưng cũng rất hoảng sợ. Cô chạy về nhà, nói với mẹ và bạn bè về điều mình đã trông thấy nhưng chẳng ai tin.

Bernadette đi trở lại bờ sông, và “bà đẹp” lại hiện ra thăm cô một lần nữa. Đức Mẹ bảo Bernadette đào xuống đất, và một dòng nước chảy ra, trào lên những dòng nước mát. Vài người trong làng đã nghe chuyện xảy ra, một bà mẹ có đứa con sắp chết, bà tắm đứa con mình trong dòng nước và đứa bé hồi sinh!

Chẳng bao lâu sau dân chúng bắt đầu tuôn đến để xem Bernadette lần chuỗi và nói chuyện với “bà đẹp” mà chỉ mình cô thấy được. Ông cha sở không tin cô. Giám mục cũng không tin. Và cảnh sát nổi khùng với cô vì đã tụ họp đông người.

Nhưng Đức Mẹ đã giao cho Bernadette một sứ điệp để đem đến vị giám mục. Lúc đó ông mới tin Bernadette, và chẳng bao lâu sau thì mọi người đều tin cô. Đức Mẹ cũng bảo xây một nhà thờ ngay tại nơi mà Mẹ hiện ra, và ngày nay một vương cung thánh đường nguy nga đã ở đó – nhiều phép lạ đã xảy ra khi dân chúng đến đây cầu nguyện.

Cuối cùng thì “các quan chức” cũng tin và họ bắt đầu xây dựng nhà thờ, cô rời khỏi nhà và trở thành nữ tu, sống phần còn lại của cuộc đời mình để làm việc và cầu nguyện trong tu viện.

Từ đó, hàng triệu người đã đến Lộ Đức (Lourdes), nước Pháp, nơi mà cô gái nhỏ học hành kém cỏi đã được Đức Mẹ đến thăm. Ngôi đền thánh này đã trở thành một trong những nơi hành hương phổ biến nhất trên toàn thế giới. Nó nép mình trong dãy núi Pyrénées và được biết dưới tên gọi là Đền thánh Đức Mẹ Lộ Đức.

Em có bao giờ học tập khó khăn chưa? Cần phải chuyên cần để học giỏi, nhưng một vài người dù cố gắng nhưng vẫn bị điểm kém! Họ học hành thật khó khăn như Bernadette. Nhưng Bernadette đã học được bài học quan trọng nhất – cầu nguyện và yêu mến Thiên Chúa với trọn tâm hồn. Không cần phải là một nhân tài để làm điều đó! Em đã học được bài học này chưa?

* BERNARDINÔ TÔMITANI / BERTILLA BOSCARDIN / BÔNAVENTURA / BÔNIFACIÔ IV (GIÁO HOÀNG) / BRIDGET THỤY ĐIỂN

21. BERNARDINÔ TÔMITANI

Khi Bernardino đứng lên để giảng bài giảng đầu tiên, hãy đoán xem chuyện gì xảy ra? Ông quá sợ đến nỗi quên mất mình sẽ nói gì!

Bernardino rất thích đọc sách và học hỏi. Mẹ ông phải bắt ông gấp sách lại và ra ngoài chơi. Khi lớn lên, ông làm linh mục, học triết và luật, rất thích các môn học của mình. Nhưng bề trên bảo ông phải bắt đầu giảng thuyết. Bernardino sợ phải đứng và nói trước công chúng. Ông thấy thoải mái với sách vở hơn là với đám đông! Nhưng phải làm điều mình được bảo phải làm!

Ông đã chọn tên Bernardino để kính nhớ thánh Bernardino thành Siena. Vào ngày lễ bổn mạng, Bernardino được sai đến giảng tại một nhà thờ lớn. Khi bước lên bục giảng, ông bối rối và quên hết toàn bộ bài giảng đã được soạn thảo cẩn thận! Nhưng dân chúng vẫn chờ đợi nghe một điều gì đó, vì thế ông bắt đầu nói về vị thánh bổn mạng mà mình đã chọn. Ông biết nhiều về vị thánh này và chỉ cần nói lên từ chính trái tim mình – thế là quên mất sợ hãi!

Dân chúng thấy xúc động vì bài giảng nên xin ông giảng thêm nữa. Bernardino bắt đầu giảng chống lại tính vị kỷ và tham lam, người dân lắng nghe. Kết quả là ông đã có thể làm thay đổi vài khoản luật để bảo vệ quyền con người. Bất kỳ nơi nào ông đến, những đám đông người kéo đến nghe, chẳng mấy chốc người sợ nói trước công chúng đã trở thành nhà giảng thuyết được yêu mến nhất nước Ý!

Em có bao giờ sợ phải đứng nói trước công chúng chưa? Khi phải làm tường trình hay trả lời câu hỏi, em có quá sợ hãi, chân run và lạc giọng? Nếu đã từng bị, em hãy cố gắng thực hành trước chiếc gương. Hãy cầu xin cho được can đảm. Hãy nhớ đến Bernardino. Và ai biết được – một ngày nào đó em cũng là một nhà giảng thuyết lừng danh.

22. BERTILLA BOSCARDIN

Hãy tưởng tượng xem phải chăm sóc những người lính bị thương như thế nào trong bệnh viện dã chiến nơi chiến trường ác liệt? Đó là điều mà Nữ tu Bertilla đã làm.

Khi còn nhỏ, chị được gọi là Annetta “ngỗng cái” vì quá ngớ ngẩn khi học hay làm điều gì đó. Xuất thân từ gia đình nghèo và ít học, chị phải làm việc nhà để giúp đỡ gia đình. Đơn giản chị chỉ biết rửa chén, giặt quần áo và lau nhà – và mọi người nghĩ rằng đó là tất cả những gì chị có thể làm được.

Đến năm 16 tuổi, Annetta đi tu và trở thành Nữ tu Bertilla. Chị thường nói với các chị khác rằng mình không biết làm gì nhiều chỉ muốn học và nên thánh!

Bề trên quyết định Chị Bertilla làm y tá, và điều này đã thay đổi cuộc đời của chị. Chị dường như có thực tài để chăm sóc và làm y tá trong khu bệnh nhi của một bệnh viện tại Ý. Thế rồi Thế chiến thứ nhất xảy ra vào năm 1915, quân đội Ý trưng dụng bệnh viện để làm nơi chăm sóc thương binh. Tất cả mọi người trong bệnh viện – cả y tá lẫn thương binh – đều hoảng sợ trước những đợt không kích, nhưng Chị Bertilla vẫn ở lại để chăm sóc cho những bệnh nhân quá yếu không thể di chuyển đến nơi an toàn hơn.

Sau khi chiến tranh chấm dứt, khu bệnh nhi mở cửa trở lại, Chị Bertilla đã có thể chăm sóc các em nhỏ trở lại – mà không sợ những cuộc không kích. Trong cuộc đời mình – “con ngỗng cái” đã đạt được cả hai mơ ước – Chị đã học được và trở thành một vị thánh!

Em có thích làm việc ở bệnh viện không? Em có thích bị không kích không? Em có thích là một vị thánh? Có thể em không thích gì trong những điều này, nhưng có thể làm được vài điều mà Chị Bertilla đã làm. Chị nói rằng mình muốn học hỏi, và em có thể làm được điều đó. Thay vì là “con ngỗng cái”, hãy học điều gì đó mới mẻ trong ngày hôm nay – và mỗi ngày!

23. BÔNAVENTURA

Đây là vị thánh có bàn tay “khô ráp” vì nước tẩy rửa! Nhưng ngài giữ kín bí mật này!

Khi Đức giáo hoàng quyết định tấn phong ngài làm Hồng y, đã gởi một phái đoàn đến báo tin và tặng ngài chiếc mũ đỏ Hồng y. Nhưng khi đến tu viện, họ thấy Bônaventura đang rửa chén! Ngài bảo họ treo chiếc mũ mới lên cây và chờ ngài làm xong việc.

Bônaventura rất khiêm tốn – nhưng đồng thời cũng là người rất học thức. Ngài là một trong những bộ óc vĩ đại nhất thời Trung cổ và là một thần học gia, triết gia, văn sĩ và nhà giảng thuyết ngoại hạng. Ngài viết và nói rất hay về những điều trên Thiên Đàng nên có biệt danh là “Tiến sĩ thiên thần”! Nhưng ngài đã hạ mình xuống để làm những chuyện lặt vặt ở dưới đất!

Hầu hết những người danh tiếng không bỏ thời gian để làm những chuyện “thấp hèn” như rửa chén dĩa! Nhưng hầu hết các thánh đã làm! Em có bao giờ rửa chén không? Hay sắp chén vào tủ chén? Tại sao em không giúp đỡ gia đình và làm điều đó ngày hôm nay! Và trong khi rửa chén, hãy nghĩ đến và chào vị thánh Bônaventura khiêm tốn này!

24. BÔNIFACIÔ IV (GIÁO HOÀNG)

Tên vị thánh này muốn nói rằng ngài có khuôn mặt đẹp vì ngài đã làm được những điều tốt đẹp khá bất thường! Trong tiếng Anh, “bonny” là đẹp, dễ thương; “face” nghĩa là khuôn mặt!

Khi Bônifaciô trở thành Giáo hoàng, có một cung điện hình tròn rộng lớn ở Rôma, gọi là Điện Pantheon. Đây là đền thờ của “tất cả các thần thánh”, những thần thánh giả dối mà người Rôma thờ cúng. Vì thế, Bônifaciô quyết định biến nó thành một thánh đường Kitô giáo thờ kính Chúa Trời Thật. Và như thế, ngôi nhà thờ “mới” có một tên gọi mới – và khá bất thường. Vì nó có hình tròn, nên nó được gọi là nhà thờ “Santa Maria Rotunda”. 

Em có bao giờ ở trong một căn nhà hình tròn chưa? Rạp xiếc chẳng hạn? Vòng tròn có gì đặc biệt? Nó chẳng có điểm khởi đầu và điểm kết thúc, đi mãi rồi cũng quay lại nơi cũ. Hãy nghĩ về Thiên Chúa như một vòng tròn – không có khởi đầu cũng không kết thúc, và Ngài vẫn luôn luôn ở đó, sẽ mãi ở nơi đó. Đó chẳng phải là một “tư tưởng đẹp” thích hợp với “khuôn mặt đẹp” sao?

25. BRIDGET THỤY ĐIỂN

Người ta nói Bridget có một chân trên trời một chân dưới đất! Dù là người tốt và “thánh thiện”, song bà cũng là một quý bà khá bận rộn!

Mẹ của Bridget là chị em họ với vua nước Thụy Điển. Cha bà là tổng trấn xứ Upland và là người giàu nhất vùng. Khi Bridget kết hôn, kèn thổi vang lừng và lễ lạc kéo dài trong ba ngày – có khiêu vũ, âm nhạc và cả yến tiệc cho mọi người (cả những người nghèo trong thành phố)!

Vợ chồng Bridget có tám người con và cuộc sống gia đình hạnh phúc song rất bận rộn – tuy nhiên Bridget vẫn tìm thời gian để cầu nguyện và làm việc thiện. Sau này, một trong các cô con gái của bà đã nói: “Mẹ tôi giúp đỡ mọi người khó khăn – bất kể người nghèo, tội lỗi, khách hành hương, mồ côi hay góa phụ. Đối với mọi người, mẹ rất tử tế dịu dàng và là một người mẹ đầy lòng thương cảm”.

Dù dịu dàng, nhưng Bridget đã không ngần ngại lên tiếng khi thấy có vấn đề. Khi bà được mời về triều đình để dạy dỗ cho cô dâu mới của nhà vua, bà thất vọng khi thấy lối sống cung đình không thích hợp với Kitô giáo. Bà lớn tiếng chỉ trích nhà vua, hoàng hậu, hàng giáo sĩ, các quan lại trong hoàng cung, những người phóng đãng, thiếu nhân đức và lòng bác ái. Thậm chí bà còn nói nhà vua hành động như “một đứa trẻ hư hỏng và không vâng lời”. Dù bà nói đúng nhưng cả triều đình rất giận và vui mừng khi bà rời khỏi hoàng cung.

Những năm sau đó, sau khi chồng bà mất đi và con cái đã trưởng thành, Bridget cho con cái và người nghèo tất cả tài sản giàu có của mình và đến sống tại một tu viện. Khi cảm thấy Chúa muốn mình “lên đường”, bà đã đi từ Thụy Điển đến Rôma – một hành trình dài tám tháng – và rồi đến Giêrusalem. Và đi đến đâu, Bridget cũng giúp đỡ những ai cần giúp đỡ và không ngần ngại phê bình những ai cần phê bình.

Đã từng có ai chỉ trích em chưa – gọi em là đồ lười hay thiếu trách nhiệm, ích kỷ, thiếu suy nghĩ hay thô bạo, bảo em là phải chăm học lên, làm việc nhiều hơn hay tử tế hơn với gia đình? Lẽ ra họ không nên chỉ trích em như vậy hoặc lẽ ra họ nên nói như thế. Còn em, em nghĩ gì?

* BRIGID / CAJETANÔ / CATHERINA SIENA / CLARA ASSISI / CLOUD THÀNH METZ

26. BRIGID

Đây là một quý bà nổi tiếng ở Ái Nhĩ Lan đã thành lập một tu viện, nơi trở thành trung tâm học vấn và linh đạo. Bà cũng thành lập một trường nghệ thuật, nơi chuyên vẽ “minh họa” cho các bản thảo nổi tiếng. Người ta nói rằng Brigid rất kiên nhẫn, thích cầu nguyện, cứng rắn, hay tha thứ và giúp đỡ những ai hoạn nạn. Dù có nhiều thành tựu, người ta nói rằng bà vẫn hay hổ thẹn mỗi khi phải lên tiếng.

Em có hay hổ thẹn hoặc biết có ai hổ thẹn không – những người hay đỏ mặt lúc gặp bối rối? Hãy nhớ đến Thánh Brigid và nghĩ rằng mình có thể kiên nhẫn, thích cầu nguyện, cứng rắn, hay tha thứ và giúp đỡ những ai gặp khó khăn. Nếu em nghĩ mình không thể làm hết những chuyện này thì ít ra cũng được một vài điều!

27. CAJETANÔ

Em có thể gọi vị thánh này là “người cho vay”! Hoặc người đầu tiên điều hành một cửa hiệu cầm đồ. Hay ít ra là người đầu tiên mở một quỹ tín dụng.

Cajetanô đã làm được nhiều chuyện trọng đại trong đời. Thuộc dòng dõi quý tộc, ông nhận bằng đại học về giáo luật và luật dân sự. Ông là nghị viên và được Đức giáo hoàng chỉ định một vị trí cao. Nhưng ông đã chọn cách rời bỏ tất cả để làm việc với người nghèo và bệnh tật ở Rôma, đi khắp các nẻo đường và ngõ ngách, tìm kiếm những người cần được giúp đỡ. Bạn bè ông rất ngạc nhiên khi thấy ông làm những chuyện “vớ vẩn” như vậy, nhưng Cajetanô muốn phục vụ tha nhân.

Khi thấy những người cho người nghèo vay tiền nặng lãi, Cajetanô quyết định chấm dứt điều đó. Ông bắt đầu mở dịch vụ cho người nghèo vay tiền với lãi suất công bằng. Có thể sánh dịch vụ này với các quỹ tín dụng ngày nay, nơi người lao động được vay với lãi thấp, hay là tiệm cầm đồ, nơi người dân có thể cầm một thứ gì đó của riêng mình để mượn một số tiền cho đến khi có đủ tiền để “chuộc lại”.

Vì người nghèo thường có những lúc rất cần một món tiền vay trong một thời gian nên họ rất biết ơn Cajetanô vì mình có thể vay mượn mà không bị lừa phỉnh. Vì thế em có thể gọi ông là Cajetanô Người cho vay!

Em có từng xem bộ phim nói về một người mang mặt nạ, cưỡi con ngựa trắng đi giúp đỡ những người đang gặp nạn chưa? Ngoại trừ chiếc mặt nạ, nhân vật ấy giống với Thánh Cajetanô! Những người cho vay nặng lãi, lừa phỉnh người nghèo, họ cũng nên mang mặt nạ! Em có từng cảm thấy xấu hổ về điều mình đã làm đến nỗi thấy mình nên mang mặt nạ chưa? Nếu có, hãy đi xưng tội ngay. Sau khi hối lỗi và nhận bí tích giải tội, em có thể hứa rằng mình sẽ không làm điều gì xấu ấy một lần nữa – để khỏi cảm thấy xấu hổ một lần nữa!

28. CATHERINA SIENA

Vị thánh này là cô con gái út trong một gia đình 25 người con! Cô gái nhỏ hạnh phúc và tươi vui đã lớn lên thành một phụ nữ nổi bật trong thời đại mình.

Nhờ lời khuyên và cố vấn của bà mà nhiều người đã thay đổi cuộc đời, quay trở về với Giáo Hội. Nhờ khả năng “chuyên trị” những mối hiềm khích, nhiều người chạy đến bà để giải quyết những mối bất bình.

Vì sự khôn ngoan của mình, bà có nhiều ảnh hưởng đối với những người đọc sách của bà viết. Vì lòng nhân từ, thậm chí bà làm cố vấn cho Đức giáo hoàng! Và vì tình yêu của bà đối với Chúa, bà đã nên thánh.

Gia đình em có đông đúc như gia đình Thánh Catherina hay chỉ là một gia đình nhỏ? Rất ít người xuất thân từ một gia đình đông đúc như của Thánh Catherina, nhưng kích cỡ không tạo nên một gia đình hạnh phúc. Em nghĩ cần phải làm gì để tạo nên một gia đình hạnh phúc? Hôm nay em có thể làm cho ai đó trong gia đình mình thấy hạnh phúc được không?

29. CLARA ASSISI

Vị thánh này đã xua đuổi cả một đội quân! Em nghĩ bà làm điều đó như thế nào?

Clara sinh tại một thành phố nhỏ là Assisi – cùng quê hương với Thánh Phanxicô. Bà đã trở thành nữ tu và thành lập Dòng Clara Khó Nghèo. Bà và các nữ tu của mình muốn sống giống như người nghèo, một đời sống rất đơn giản và thanh đạm. Khi cha của Clara qua đời, để lại gia sản cho bà, bà đã phân phát hết cho người nghèo.

Một ngày kia, quân đội thù nghịch đã xâm lăng thung lũng nơi có tu viện của bà và tàn phá miền quê này. Binh sĩ đã dựng thang lên tường tu viện để trèo vào qua cửa sổ! Nhưng Clara đã lấy chiếc hào quang giơ lên cửa sổ (hào quang có Mình Thánh Chúa để chầu Thánh Thể) trong khi bà và các nữ tu cầu nguyện. Binh lính thấy hào quang có Mình Thánh Chúa, lập tức họ hoảng sợ và bỏ chạy. Tu viện được cứu thoát.

Thánh Clara không dùng súng hay gươm dao để chiến đấu với kẻ thù. Bà dùng đức tin và lời cầu nguyện. Ngày nay, có quá nhiều người tin rằng mình có những vũ khí nguy hiểm của riêng mình và sử dụng chúng. Họ đã quên lời Kinh Thánh: “Hãy yêu người thân cận như chính mình”. Em có khi nào quên lời này không?

30. CLOUD THÀNH METZ

“Cloud” trong tiếng Anh có nghĩa là “mây”? Thánh Cloud à? Vâng, Thánh Cloud cũng được gọi là Cloudulf, sống vào thế kỷ VII tại một thành phố thuộc Đế quốc Rôma. Ngài là một giáo dân sùng đạo, một chủ chăn gương mẫu, và rồi là giám mục thành Metz trong vòng 40 năm.

Hiện giờ, hàng nhiều trăm năm sau, có một nơi ở Hoa Kỳ mang tên ngài là Thành phố Saint Cloud, bang Minnesota!

Em có thích những ngày nhiều mây không? Hay thích những ngày nắng đẹp hơn? Em có thích những cơn mưa bất chợt đổ xuống như thác rồi bỗng nhiên dừng lại? Hay em thích những cơn mưa rào, nhẹ nhàng và kéo dài? Bất kể hôm nay là ngày gì – mưa hay nắng – em hãy lấy bản đồ hay cuốn bách khoa toàn thư ra và tìm kiếm thành phố Saint Cloud, bang Minnesota. Hãy thử tìm hiểu xem tại sao một thành phố ở Hoa Kỳ vào thế kỷ XXI lại mang tên một vị thánh sống cách đây rất lâu, lâu lắm!

* COLETTE / CRISPINÔ VÀ CRISPINIANÔ / CYRILLÔ VÀ MÊTHÔĐIÔ / DISMAS / DONATUS

31. COLETTE

Bà có tên thánh rửa tội là Nicolette, nhưng thường được gọi là Colette. Bà là một nhà du hành.

Vào những năm tuổi đôi mươi, Colette trở thành nữ tu và nổi tiếng về linh đạo của mình. Bà định sống đời ẩn dật, nhưng một ngày kia khi cầu nguyện, bà đã đổi ý! Bà đã quyết định rằng “ơn gọi” của mình là thành lập những tu viện mới với luật lệ nghiêm nhặt hơn các tu viện khác vào thời ấy.

Colette bắt đầu du hành qua khắp nước Pháp và xứ Flanders. Dù gặp nhiều trở ngại song bà cũng mở được mười bảy tu viện mới sống dưới quy luật của dòng Clara Khó nghèo. Một nhánh của nhóm tu viện này thậm chí được gọi là dòng Colettines.

Vị thánh này đã bắt đầu bằng cách giữ vững chân mình ở một vị trí, song Thiên Chúa ban cho bà đôi dép “biết đi”!

Em có thích đi đây đi đó không? Em có thích đi khắp thế giới không? Một lượt đi khắp thành phố của mình sẽ ra sao nhỉ? Tại sao em không bắt đầu sưu tập những bài báo và thông tin về tất cả những danh lam thắng cảnh trong thành phố mình, quê hương mình? (Và đừng quên thêm vào đó những nhà thờ đẹp cổ xưa). Rồi thì xin gia đình giúp em lên kế hoạch cho những chuyến đi cùng với gia đình về những miền quê!

32. CRISPINÔ VÀ CRISPINIANÔ

“Moonlighted” trong tiếng Anh có nghĩa là gì? Em có bao giờ nghe một người “moonlighted” chưa? Có phải đó là người ngồi ngoài trời để ngắm trăng không? Không, đó là người làm hai công việc – một việc làm ban ngày và một việc làm ban đêm, khi có ánh trăng! Thế đấy! những vị thánh này có hai công việc. Ban ngày họ giảng dạy và cải đạo nhiều người về với đức tin Kitô giáo. Ban đêm, họ đóng giày – đóng giày mới và sửa giày cũ.

Không ai biết tại sao bà mẹ lại đặt tên các ngài gần như trùng với nhau, nhưng bà đã làm thế - và cả hai cái tên này ngày nay là những vị thánh!

Giày của em có bao giờ bị thủng lỗ hay bong ra không? Có thể em phải cần đến đôi giày mới rồi đấy; em chỉ cần đem nó đến những người thợ sửa giày giống như Crispinô và Crispinianô. Em có muốn trở thành người thợ giày, người chăm sóc y tế, thợ làm nến? Hãy liệt kê những nghề em yêu thích và những nghề em không thích. Và hãy cầu nguyện xin Chúa giúp em học hành và làm việc chăm chỉ để một ngày nào đó em sẽ có được công việc mà Chúa muốn em làm.

33. CYRILLÔ VÀ MÊTHÔĐIÔ

Em có nhớ ngày 14 tháng Hai là ngày lễ Thánh Valentine không? Em cũng nên nhớ rằng đó cũng là ngày Thánh Cyrillô và Mêthôđiô – vì ngày 14 tháng hai cũng là ngày lễ của các ngài, một ngày đặc biệt mà Giáo Hội dành riêng để kính nhớ các ngài!

Đây là hai anh em và họ cùng nhau làm việc để đưa giáo huấn của Giáo Hội đến với các dân tộc Slave. Khi còn trẻ, Cyrilô học đại học ở Constantinople với một giáo sư nổi tiếng là Lêô Nhà văn phạm. Cyrilô là học trò giỏi đến nỗi sau này ngài cũng có biệt danh là Cyrillô Triết gia. Mêthôđiô, em ngài, cũng là người học thức và có thời làm tổng trấn một thuộc địa xứ Slave.

Vào năm 862, đại sứ của Công tước xứ Moravia đến Constantinople để xin các nhà truyền giáo đến giảng dạy cho dân tộc mình bằng tiếng bản xứ. Vì kiến thức ngôn ngữ và sự thánh thiện cá nhân của mình, Cyrillô và Mêthôđiô đã được chọn.

Người ta nói rằng Cyrillô và những người theo ngài là những người “sáng tạo” nên mẫu tự Cyrillic – thích ứng từ các mẫu tự Hy Lạp – và từ đó đã được sử dụng để viết tiếng Nga, tiếng Serbi và tiếng Bulgari. Đây là một trong những lý do mà anh em nhà này cũng được gọi là các tổ phụ của nền văn hóa Slave.

Lần tới, khi viết cho ai đó một tấm thiệp mừng ngày Valentine, em có thể viết bằng các mẫu tự mà Thánh Cyrillô đã “sáng tạo” được không? Vâng, rất khó để viết nếu em không biết ngôn ngữ đó. Thay vì thế em chỉ cần đọc lên một lời nguyện tạ ơn vì những mục tử thông thái trong lịch sử Giáo Hội – giống như hai anh em nhà Cyrillô và Mêthôđiô? Em có biết ai đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ mà người Việt hiện nay đang sử dụng không? Đó là công trình tập thể của các nhà truyền giáo Tây phương và những thầy giảng, giáo dân người Việt vào thế kỷ XVI-XVII, được cha Alexandre de Rhodes hay cha Đắc Lộ hoàn thiện và hệ thống hóa. Chính cha De Rhodes cũng chưa từng tự nhận mình là “cha đẻ” hay "ông tổ" của chữ Quốc ngữ. Cuốn tự điển Việt – Bồ - La của cha De Rhodes, được Thánh bộ Truyền bá Đức tin in tại Rôma vào năm 1651, là một cột mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời của chữ Quốc ngữ sau nhiều thập kỷ cưu mang như một đứa bé chào đời sau nhiều tháng nằm trong bụng mẹ. Em hãy tỏ lòng biết ơn và dâng lời tạ ơn vì những nhà truyền giáo thông thái này trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam nữa!

34. DISMAS

Dismas có thể được gọi là vị thánh “ở phút cuối”! Ông là kẻ trộm được cứu rỗi vào những giây phút cuối cùng!

Vào ngày Đức Giêsu chịu đóng đinh có hai tên trộm cùng bị đóng đinh với Ngài, mỗi người một bên. Một người đã không ân hận vì cuộc đời tội phạm của mình, nhưng người kia là Dismas đã thấy hối hận. Khi sắp chết, Dismas xin Chúa Giêsu tha thứ tội lỗi cho mình. Chúa Giêsu nói với anh rằng: “Ngày hôm nay, anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

Em có bao giờ trì hoãn việc gì vào phút cuối không? Đừng bao giờ trì hoãn việc hối lỗi! Dismas đã hối hận có lẽ là vì mình chưa từng được dạy dỗ phải sống tốt như thế nào và chắc chắn không biết nhiều về những lời giáo huấn của Đức Giêsu cho đến phút cuối cùng của cuộc đời mình. Con người thời nay không cần phải biện minh này nọ! Họ đã có Kinh Thánh, sách vỡ, các thầy cô giáo, và cả những Kitô hữu đã bảo cho họ biết rằng con đường của Đức Giêsu sẽ dẫn đưa đến cuộc sống hạnh phúc. Trong trường hợp em do dự khi phải hối lỗi thì hãy nhớ đến Thánh Dismas – một vị thánh nhắc cho em nhớ rằng không bao giờ quá trễ để nói lên lời xin lỗi.

35. DONATUS

Em có bao giờ nghe về ai đó rằng đã không ở đúng nơi đúng lúc không? Vâng, Donatus là người đã ở đúng nơi và đúng lúc!

Donatus là một quý tộc người Ái Nhĩ Lan đang trên hành trình đi đến nước Ý. Xảy ra là khi ông đi ngang qua ngôi làng Fiesole đúng vào lúc hàng giáo sĩ và dân làng đang chọn lựa một vị giám mục mới. Donatus đi vào trong ngôi nhà thờ Chính tòa, và ngay khi ông bước vào nhà thờ thì chuông đổ vang trời và những cây nến lóe lên với ánh sáng mạnh mẽ!

Dân chúng đảo mắt nhìn chung quanh và thấy người ngoại quốc này, lập tức họ quyết định đây là dấu hiệu từ trời cho thấy rằng Donatus sẽ là vị giám mục mới của họ! Donatus đã đồng ý và đã trở thành một giám mục tốt, một nhà giảng thuyết tài năng, một nhà thơ và là một vị thánh!

Hẳn nhiên, ngày nay người ta không chọn người theo cách lạ lùng như thế này. Nhưng Thiên Chúa vẫn gởi những dấu hiệu và sứ điệp đến với dân Ngài. Em chỉ cần chú ý! Thật sự, Thiên Chúa đang gởi cho em một sứ điệp ngay lúc này đây! Vậy thì hãy dừng lại, nhìn và lắng nghe. Em nghĩ rằng Thiên Chúa sẽ nói với em điều gì hôm nay?

* ELIGIUS / ELISABETH HUNGARI / EMILY DE RODAT / ETHELREDA (AUDREY) / ÊVÔĐIÔ

36. ELIGIUS

Vị thánh này là một thợ kim hoàn – một bậc thầy chế tác những món trang sức bằng quý kim và đá quý. Ông rất trung thực! Ngày kia, vua Clotaire II gởi cho ông vàng và đá quý, bảo ông làm một ngai vàng. Eligius dùng không hết những chất liệu quý giá mà nhà vua gởi đến nhưng thay vì giữ lại phần dư thừa, ông đã làm cho nhà vua đến hai chiếc ngai vàng. Nhà vua lấy làm ngạc nhiên và thích thú. Ông đã ấn tượng với tài khéo của Eligius – và cả sự trung thực của Eligius nữa.

Sau đó, Eligius được tiếp nhận làm thành viên trong triều đình, được thán phục vì tài năng làm kim hoàn của mình. Nhưng người thợ kim hoàn này cũng nổi danh vì lòng quảng đại khi cho những người làng quê nghèo khổ rất nhiều “vàng” của riêng mình.

Một ngày kia, có một người hỏi thăm đường đến nơi ở của Eligius. Người ta bảo với ông ấy rằng cứ đi đến một con đường nào đó cho đến khi “nhìn thấy một đám đông người nghèo trước nhà” – thì đó là nhà của Eligius!

Nhà vua và con trai của ông là Dagobert đã trở thành bạn của Eligius, và họ ban cho ông đất đai để xây cất tu viện. Trong lúc xây dựng, Eligius thấy mình được ban cho nhiều đất đai hơn nhu cầu nên đến triều đình để giải thích. Dagobert nói: “Nhiều lãnh chúa đã không ngại ngùng khi đánh cắp của ta toàn bộ lãnh thổ, trong khi Eligius e sợ mình chỉ có một tấc đất không phải của mình”.

Em biết có người nào trung thực như Eligius không? Eligius có thể kiêu hãnh và trịch thượng vì tài năng của mình, vì mối quan hệ với hoàng gia và với tài sản của mình. Nhưng ông vẫn giữ được tính khiêm tốn và sự trung thực. Ngày hôm nay em hãy liệt kê một danh sách những người mà em biết hay nghe nói là khiêm tốn và trung thực. Em có thể đưa tên mình vào danh sách đó không?

37. ELISABETH HUNGARI

Bà là con gái của vua nước Hungari và khi chào đời, bà đã được hứa hôn với con trai của một nhà quý tộc. Khi được 14 tuổi, bà được đưa đến lâu đài của cha chồng tương lai và lớn lên cùng với người chồng tương lai của mình.

Khi Elisabeth vừa mới đến tuổi “teen” và “ý trung nhân” của bà là Louis được 21 tuổi thì họ kết hôn. Lúc đó, họ đã là những người bạn tốt, vì thế Louis cũng đã biết rằng Elisabeth rất thường hay cầu nguyện và làm việc bác ái – và anh chẳng bao giờ phản đối điều đó.

Lâu đài của họ được xây dựng trên một sườn núi, và Elisabeth thấy rằng thật khó cho người dân có nhu cầu được giúp đỡ phải leo lên núi. Vì thế, bà đã xây một bệnh viện ở dưới chân núi! Bà thường đi đến đấy để chăm sóc bệnh nhân. Bà thường nuôi họ ăn, đóng giường cho họ và làm bất cứ điều gì cần thiết. Bà cũng sắp xếp để phân phát lương thực cho người nghèo ngay tại cổng lâu đài, và mỗi ngày có đến 900 người đến để được nuôi ăn.

Elisabeth sống một đời sống thánh thiện như một người vợ, người mẹ của ba đứa con, và một phụ nữ chia sẻ của cải với người khác. Bà trở thành vị thánh bổn mạng của các Hội bác ái Công giáo.

Em có bao giờ chia sẻ những gì mình có với người khác không? Nếu chỉ có một số tiền nhỏ, em có sẵn sàng chia sẻ với người khác một ít không? Có lẽ nếu em có nhiều tiền như bà Elisabeth thì dễ dàng chia sẻ hơn là chỉ có một ít tiền. Nhưng nhiều người có nhiều tiền mà không bao giờ chia sẻ. Và vài người chỉ có một ít tiền thôi nhưng lúc nào cũng chia sẻ. Em thuộc loại người nào?

38. EMILY DE RODAT

Người phụ nữ này nên thánh vì đã nghe trộm! (khi nghe trộm, hoặc là tình cờ hay có chủ đích, em nghe điều mà người này nói với người khác, không phải với em!).

Khi còn trẻ, Emily chăm sóc trẻ em ở sân chơi và dạy chúng về Thiên Chúa trước khi chúng rước lễ lần đầu. Rồi chị quyết định làm nữ tu nên đã vào tu viện. Nhưng chị cảm thấy rằng tu viện ấy không phải là nơi dành cho chị. Vì thế chị rời nơi ấy và đi đến một tu viện khác. Một lần nữa chị thấy không thích hợp với nơi ấy, chị lại rời đi và nhập một tu viện khác. Nhưng rồi chị cũng lại rời đi.

Ngày kia khi Emily ghé thăm một người bạn thì nghe trộm vài phụ nữ nói với nhau rằng thật khó khăn để tìm người dạy cho con cái họ vì họ nghèo và không có tiền để trả cho các thầy cô giáo và các trường trong làng thì quá đắt. Ngay lập tức, Emily biết mình sẽ làm gì!

Chị gọi vài trẻ em nghèo đến phòng mình và bắt đầu dạy chúng. Sau đó, chị đã có thể mướn nhà và xin ba người bạn đến giúp mình, chị mở trường học miễn phí cho các trẻ em nghèo. Chẳng bao lâu sau, chị đã có tám thầy cô và một trăm trẻ ở trường mình.

Nhưng đó chỉ là bước khởi đầu. Chị và bạn bè quyết định thành lập một cộng đoàn tu sĩ mới, ngày càng nhiều phụ nữ xin gia nhập và công việc của họ ngày càng phát triển – chỉ là vì Thiên Chúa đã để cho Emily nghe lén cuộc đối thoại của người khác!

Em có bao giờ thấy rằng Thiên Chúa luôn làm việc cách kỳ lạ không? Emily đã cố gắng tìm nơi được cho là nơi đến của mình, gia nhập vài dòng tu, và rồi Thiên Chúa sai chị đi một hướng khác! Em có bao giờ nghĩ rằng mình biết mình muốn làm gì, nhưng rồi nó chẳng đi đến đâu không? Có thể em cố thử thành lập một đội bóng nhưng rồi bỏ cuộc. Hoặc bắt đầu học chơi dương cầm nhưng rồi bỏ cuộc. Hoặc muốn học ở trường này nhưng lại phải đi đến trường khác. Em có nghĩ rằng mình biết mình đi đâu vì mình muốn thế nhưng Thiên Chúa lại sai em đi một hướng mới hoàn toàn khác. Đừng bao giờ thất vọng khi sự việc không theo như mình muốn – điều ấy chỉ có nghĩa là Thiên Chúa đã dọn sẵn một nơi tốt đẹp hơn để sai em đến đó vì Ngài có thể thấy mọi ngóc ngách của tương lai còn em thì không!

39. ETHELREDA (AUDREY)

“Aka” là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Also known as”, nghĩa là “còn được gọi là”. Từ này được dùng sau tên của một ai đó có nhiều hơn một tên gọi. Chẳng hạn, Ethelreda aka Audrey có nghĩa là Ethelreda hay còn gọi là Audrey.

Thánh Ethelreda/Audrey là con gái của một vị vua và gia đình bà rất đặc biệt. Cùng với bà, có đến bốn vị thánh khác trong gia đình! Trong danh sách các thánh, em sẽ tìm thấy Ethelreda và anh của mình là Erconwald, cùng với ba chị em nữa là Ethelburga, Sexburga và Withburga.

Em có từng biết người nào đó có một tên gọi khác không? Một ai đó có hai tên gọi khác nhau? Chẳng hạn như nhân vật Clark Kent hay còn gọi là Superman trong bộ phim “Siêu nhân”? Nhiều đặc vụ dùng hai tên gọi để cải trang nhưng em có biết rằng nhiều thánh nhân cũng có hai tên gọi không? Chỉ là vì khi được sinh ra, cha mẹ đặt tên cho họ nhưng khi lớn lên và trở thành thầy tu hay nữ tu, họ thường lấy một tên khác – giống như sơ Mary Agnes hay thầy Gioan. Nếu em phải liệt kê danh sách các thánh, em nghĩ rằng mình sẽ kê được bao nhiêu vị? Tại sao không cố thử xem!

40. ÊVÔĐIÔ

Vị thánh này sống cùng thế kỷ với Đức Giêsu và được cho là người đầu tiên sử dụng từ Kitô hữu để nói về một người tin vào thần tính và giáo huấn của Đức Giêsu Kitô!

Êvôđiô cũng được cho là một trong bảy mươi môn đệ đã được chính các tông đồ phong chức cho. Ngài trở thành Giám mục thành Antiokia và có lẽ đã được Thánh Phêrô tấn phong.

Êvôđiô được đặc ân quen biết với những người đã biết Đức Giêsu.

Em có thích biết Đức Giêsu khi Ngài còn ở dưới thế gian không? Em sẽ nói gì với Ngài? Em sẽ xin Ngài điều gì? Lúc ấy em có trở thành một trong những “Kitô hữu” đầu tiên không? Em có tin và tuân giữ tất cả những giáo huấn của Đức Giêsu và nói với người khác rằng phải làm một “Kitô hữu” như thế nào không? Còn bây giờ em đang làm gì?

* FIACRÊ / FRANCES THÀNH RÔMA / FRANCES XAVIÊ CABRINI / PHANXICÔ ASSISI / GALL

41. FIACRÊ

Đây là vị thánh bổn mạng các tài xế taxi – mặc dù không có taxi trong thời đại của ngài, và ngài cũng không có điểm gì chung với các tài xế taxi, chỉ vì ngài luôn muốn ở nơi thanh vắng một mình!

Fiacrê lớn lên ở Ái Nhĩ Lan nhưng khi quyết định làm tu sĩ hay một ẩn tu, ngài không tìm thấy một nơi nào để ở một mình như ý muốn! Thế là ngài băng qua eo biển Anh (eo biển Manche theo cách gọi của người Pháp) để đến Pháp. Ngài đến gặp giám mục và nói rằng mình muốn tìm một nơi để có thể cầu nguyện và làm việc một mình.

Vị giám mục này giao cho Fiacrê ngôi nhà nhỏ của mình ở giữa rừng, và theo truyền thuyết, ngài nói với Fiacrê rằng ông muốn có bao nhiêu đất quanh nhà tùy vào việc cày bao nhiêu đất có thể trong một ngày.
Fiacrê rất tinh khôn. Thay vì dùng lưỡi cày thông thường, ông dùng cây gậy đi đường để cày và đã có được nhiều đất hơn là cày với lưỡi cày nặng nề. Cuối ngày, ông cày được một khoảng đất rộng, và vị giám mục giữ lời nên ban cho Fiacrê tất cả mảnh đất ấy.

Fiacrê vui sướng vì đã tìm được một nơi riêng tư và tĩnh lặng như thế. Ông làm việc và phát quang cây cối rồi trồng vườn ngay bên cạnh ngôi nhà. Sau đó, ông xây một nhà nguyện nhỏ và vui thích ngồi xuống để cầu nguyện.

Nhưng chẳng bao lâu sau dân chúng nghe về vị ẩn tu thánh thiện này ở trong rừng cũng như biết ông trồng tất cả các loại rau, hoa và ngay cả thảo dược. Lập tức Fiacrê có được điều ông không hề mong muốn – những du khách! Giờ thì Fiacrê không chỉ thánh thiện nhưng còn bác ái, và tử tế nữa!

Khi biết nhiều người đến từ xa và không có nơi ở lại, Fiacrê đã xây một căn nhà nhỏ để khách có thể ở lại qua đêm. Ngày càng có nhiều người tuốn đến – người nghèo thì đến xin ăn và thuốc thang, người lo âu thì đến xin lời khuyên và cầu nguyện. Cuối cùng, một ngôi làng nhỏ hình thành quanh nơi ở ẩn của ngài và được đặt tên là Saint Fiacre, tỉnh Seine et Marne.

Còn về chuyện tài xế taxi? Chẳng qua là nhiều năm sau khi Fiacrê qua đời, một khách sạn ở Paris được đặt tên là St. Fiacre, và những chiếc taxi đầu tiên ở Paris – chỉ là những cổ xe ngựa – thường đậu gần khách sạn đó. Chẳng bao lâu sau, taxi ở Paris được gọi là “fiacres”, và vị thánh này – người chỉ luôn muốn ở một mình – đã trở nên thánh bổn mạng của các tài xế taxi!

Em có bao giờ đi xe taxi chưa? Em có muốn làm tài xế taxi một ngày nào đó không? Hoặc em có muốn đi Paris một ngày kia không? Thật thú vị khi đi đến những phần khác của thế giới, xem thấy những quan cảnh mới, gặp gỡ những người mới. Nhưng đôi lúc cũng thật tuyệt khi ở một mình như Thánh Fiarcê. Khi ở một mình vào lần tới, em hãy lấy bản đồ thế giới ra và nghĩ về tiếng ngoại quốc nào mà em thích học. Hoặc đọc nhiều về các thánh và định xem em muốn giống với vị thánh nào nhất!

42. FRANCES THÀNH RÔMA

Em có từng nghe chuyện hài về bà mẹ chồng chưa? Có lẽ em sẽ nghe điều gì đó về vị thánh này nếu sống tại thành phố của bà bởi vì bà có cô con dâu không ưa bà chút nào! 

Frances là một quý bà dễ mến, chăm sóc chồng con, và tất cả gia đình đều rất yêu mến bà. Hằng ngày, bà cũng đi đến bệnh viện địa phương để chăm sóc các bệnh nhân. Bà cũng rất tử tế với các những người giúp việc trong nhà. Và rồi kẻ thù đã phá hủy lâu đài khiến cho chồng bà và đứa con trai lớn phải chạy trốn để bảo toàn tính mạng. Frances và mấy đứa con nhỏ phải sống trong góc tòa nhà bị tàn phá trong vài năm trước khi chồng bà và đứa con trai trở về. Chính lúc ấy con bà cưới một cô gái tên là Mobilia. Cuộc sống dường như tươi đẹp trở lại. 

Nhưng rủi thay, Mobilia có tính tình khủng khiếp và không ưa bà Frances. Mobilia thường phàn nàn, nổi giận và thậm chí chế giễu Frances trước mặt mọi người. Một ngày kia, khi đang giận dữ thì Mobilia ngã bệnh. Frances ân cần chăm sóc cô, nuôi cô lành bệnh. Sau việc ấy, Mobilia thấy mình đã sai. Cô bắt đầu yêu mến bà mẹ chồng thánh thiện của mình và rồi theo gương bà, giúp đỡ bà trong công việc săn sóc người nghèo và bệnh tật.

Em có từng không ưa ai chưa? Có từng phàn nàn về một ai đó? Có từng nổi giận? Hãy nghĩ về một ai đó mà em không thích – và hãy thay đổi! hãy làm một điều gì đó tử tế với người ấy!

43. FRANCES XAVIÊ CABRINI

Em có từng quen biết một ai đó rất sợ bơi, đi tàu thuyền, hay sợ nước không? Vâng, đây là vị thánh như thế!

Khi Frances Cabrini còn là một cô bé ở nước Ý, em bị té sông. Dù được cứu ngay sau đó nhưng đây là một kinh nghiệm hãi hùng đối với em, từ đó, em luôn sợ nước. Nhưng khi lớn lên để làm công việc của Chúa, cô phải băng qua không phải chỉ một dòng sông mà là cả đại dương mênh mông!

Frances luôn muốn trở thành nữ tu và đi làm việc tại các miền truyền giáo hải ngoại, nhưng không có dòng nữ tu truyền giáo, thế là chính cô thành lập một dòng tu cho mình! Đó là dòng Nữ tu Truyền giáo Thánh Tâm Chúa Giêsu (Missionary Sisters of the Sacred Heart of Jesus) và chuyên hoạt động giáo dục cho các trẻ nữ. Một ngày kia, Đức thánh cha sai Frances đem vài nữ tu băng qua đại dương để đến làm việc tại Mỹ châu!

Sau chuyến vượt biển đầu tiên đó, dù vẫn rất sợ nước, Frances buộc phải qua lại băng qua đại dương nhiều lần nữa để mở cô nhi viện, bệnh viện, trường học ở cả Mỹ châu lẫn nước Ý. Chỉ trong vòng vài năm, nhóm đầu tiên gồm tám nữ tu đã vượt quá một ngàn người làm việc tại tám quốc gia khác nhau. Thành công quá tốt đẹp cho một cô gái sợ nước!

Em có sợ nước không? Hay em sợ điều gì? Nỗi sợ đó có ngăn em làm công việc mình muốn làm hay nên làm không? Hãy cầu xin Chúa giúp em quên đi nỗi sợ và thử mạo hiểm – giống như Thánh Frances Cabrini đã làm!

44. PHANXICÔ ASSISI

Đây là vị thánh có ý tưởng đặt hang đá Giáng Sinh trong nhà thờ mỗi năm! Ngày nay, hầu hết các nhà thờ Công Giáo – và cả nhà riêng – đều sao chép ý tưởng của Thánh Phanxicô mỗi độ Giáng Sinh về. Nhưng khi Phanxicô còn là một chàng trai trẻ, anh chỉ có một ý tưởng. Anh chỉ muốn sống tốt!

Phanxicô là con trai của một người giàu có, và muốn sống cuộc đời của một thiếu gia con nhà giàu! Nhưng khi đã quyết định thay đổi cuộc đời, anh đã thay đổi thật dứt khoát! Thay vì mặc những bộ quần áo đắt tiền, anh mang một tấm áo thụng nâu đơn giản, đôi khi cho đi đôi giày của mình và đi chân trần. Anh đã trở thành tu sĩ, cầu nguyện rất nhiều, làm bạn với mọi người – ngay cả thú vật!

Rồi một ngày lễ Giáng Sinh nọ, ông nảy ra ý tưởng giúp mọi người cảm thấy như thế nào khi họ ở ngay tại nơi Đức Giêsu sinh ra trong máng cỏ. Vì thế, ông cần mẫn làm việc, dựng lên và xếp đặt, và khi mọi người đến nhà thờ đêm hôm ấy để tham dự Lễ đêm Giáng Sinh, họ thấy một hoạt cảnh hang đá Giáng Sinh – với con trẻ Giêsu, Đức Maria và thánh Giuse. Nhưng hang đá của Phanxicô khác một chút so với những hang đá ngày nay là ông mang cả những con vật thật sự vào trong nhà thờ để đứng cạnh hang đá!

Phanxicô, con của một đại gia, đã học biết yêu thương Thiên Chúa và mọi loài thụ tạo. Và giống như thời còn trẻ, ngài đã có một đời sống tốt đẹp – chỉ khác một điều đó là một cuộc sống tốt đẹp theo cách khác!

Ai cũng muốn sống hạnh phúc! Nhưng một vài người có ý sống bừa bãi và làm những điều không tốt! Ý tưởng về cuộc sống hạnh phúc theo ý em là thế nào?

45. GALL

Em có thích đi câu cá không? Nếu có thì em nên làm bạn với vị thánh này vì ngài thường đi câu cá! Nhưng ngài cũng bỏ nhiều thời gian để rao giảng và cải đạo dân chúng về với Kitô giáo nữa, nhưng bất cứ khi nào có thời gian rảnh, ngài lại vác cần đi câu và ngồi bên bờ sông hay ao hồ, tận hưởng thú vui câu cá!

Gall sinh ra tại Ái Nhĩ Lan. Ngài là bạn của Thánh Columban và luôn du hành cùng ông để rao giảng và dạy dỗ. Nửa cuộc đời sau, ngài trở thành ẩn tu sĩ và dùng cả ngày để cầu nguyện – nhưng cũng nên lưu ý rằng nơi ngài sống rất gần với một dòng sông nổi tiếng là địa điểm câu cá rất tốt!

Thường người ta nghĩ rằng các thánh không làm gì cả chỉ biết cầu nguyện, nhưng nhiều người trong họ thích câu cá, thích hát, chơi bóng, và tất cả những điều thông thường khác mà em cũng có thể rất muốn làm nữa. Thế nhưng có sự khác biệt lớn lao là ngày nay hầu như người ta dành trọn thời gian để câu cá, hát hò, chơi bóng, xem truyền hình mà không bao giờ dành một chút thời gian để cầu nguyện mỗi ngày. Em có bao giờ làm thế không?

* GENESIUS DIỄN VIÊN HÀI / GENEVIÈVE / GEORGE / GRÊGÔRIÔ CẢ (GIÁO HOÀNG) / GRÊGÔRIÔ NGƯỜI LÀM PHÉP LẠ

46. GENESIUS DIỄN VIÊN HÀI

Em có bao giờ xem một diễn viên hài trên truyền hình hay phim ảnh không? Họ rất hài đến nỗi làm cho người ta cười rộ lên, tủm tỉm hay giòn tan. Vâng, truyền thống nói rằng đây là nghề nghiệp của Genesius. Ông xuất hiện với một nhóm diễn viên và diễn những vở hài kịch.

Ngày kia, người ta xin Genesius và nhóm của ông diễn “giải trí” cho hoàng đế - một nhiệm vụ rất quan trọng. Họ chợt nảy ra sáng kiến diễn một vở hài chế nhạo các Kitô hữu! Vào thời ấy, các Kitô hữu bị xem là ngu ngốc, họ cũng là người gặp nguy hiểm vì hoàng đế luôn tìm giết các Kitô hữu. Như vậy Genesius và bạn hữu mình biết rằng người dân thành Rôma sẽ cười nếu họ chế nhạo các Kitô hữu!

Khi vở kịch bắt đầu, Genesius giả vờ mình muốn trở thành Kitô hữu và được rửa tội. Ông làm bộ dạng rất tức cười. Và rồi một diễn viên khác đi vào, đóng vai linh mục và làm những nghi thức quá đáng để rửa tội cho ông.

Nhưng ngay lúc ấy thì một điều thú vị hơn đã xảy ra! Ngay trong khi diễn kịch, khi Genesius nói rằng mình muốn được rửa tội, lập tức ông tràn đầy tình yêu Thiên Chúa và thật sự muốn trở thành Kitô hữu! Khi vở kịch kết thúc, ông nói với mọi người rằng Thiên Chúa đã chạm đến mình và ông rất hối hận vì đã chế nhạo Kitô giáo. Ông hy vọng mọi người khác cũng sẽ tin vào Đức Giêsu Kitô.

Genesius đóng kịch để chế nhạo Thiên Chúa, nhưng ngược lại Thiên Chúa đã đùa với Genesius!

Em có bao giờ đóng kịch để đùa với một ai không? Đó là đùa vui hay đùa nhạo? Thiên Chúa đã cho em một món quà tuyệt vời – tiếng cười, và Ngài đã đong đầy thế giới này với nhiều điều khiến em cười – con hươu với cái cổ cao ngoẳng trông nực cười, con rùa với cái cổ ngắn vừa vặn với cái mai trông cũng nực cười, những con chó đốm và những chú mèo con làm những điều ngu ngốc, con khỉ làm mặt hề và con người cũng làm mặt hề nữa! Lần tới khi có điều gì khiến em cười nắc nẻ, hãy tạ ơn Chúa vì những diễn viên hài như Genesius và vì món quà của tiếng cười.

47. GENEVIÈVE

Vị thánh này là người chăn chiên và ăn chay. Người ta nói rằng bà đã cứu thành phố Paris!

Khi Geneviève còn nhỏ, cả ngày em đã chăn thả đàn gia súc cùng với những đứa trẻ khác trên núi Valerien ở Pháp. Khi đến mười lăm tuổi, chị trở thành nữ tu và là người ăn chay! Như một hy sinh, chị thường ăn chay, chỉ ăn bánh mì và đậu, không bao giờ ăn thịt.

Ngày kia, dân Paris nghe tin Attila người Hung Nô và đoàn quân man rợ tàn ác của ông sắp chiếm thành phố. Nhiều người muốn chạy trốn để bảo toàn mạng sống và bỏ mặc thành phố, nhưng Geneviève bảo họ cứ ở tại nhà. Chị bảo họ cầu nguyện và ăn chay, cầu xin Thiên Chúa cứu thoát thành phố. Theo gương chị, nhiều người đã ở lại và cầu nguyện. Và sau nhiều ngày cầu nguyện, Attila đột nhiên đổi hướng đi và không đến Paris. Thành phố được cứu thoát và người dân không bao giờ quên ơn. Hiện nay, Geneviève là thánh bổn mạng của thành phố Paris.

Attila người Hung Nô là một trong những chiến binh tàn bạo nhất trong lịch sử. Chẳng mấy ngạc nhiên khi dân Paris sợ ông ấy! Em có biết người nào giống với Attila không – một kẻ hay bắt nạt ở trường, một người hàng xóm thô lỗ, một người bà con có tính cục súc? Có lẽ em nên tránh xa người ấy, nhưng cũng là một ý tưởng hay khi cầu nguyện cho họ!

48. GEORGE

Em có từng nghe câu chuyện về Thánh George giết rồng chưa? Đây là một truyền thuyết, giống như câu chuyện cổ tích, không có thật, nhưng là một câu chuyện hay.

Theo truyền thuyết, George là một hiệp sĩ Kitô giáo (mặc áo giáp sáng chói và có lẽ cỡi ngựa trắng!). Tình cờ ông đi ngang qua một thành phố và nghe người dân nói rằng thành phố đang hoảng sợ vì một con rồng hung ác mỗi ngày ăn thịt một người dân!

Dân chúng kể lại rằng họ phải ghi tên lên một tờ giấy và mỗi ngày phải rút thăm chọn một tên, người ấy sẽ phải đi ra ngoài thành để con rồng ăn thịt – và ngay ngày ấy thì cái tên trúng thăm là của vị hoàng tử yêu mến của họ. Ngay lập tức, George đi ra ngoài thành, tìm con rồng hung ác và giết nó, cứu được hoàng tử và cả thành phố.

Câu chuyện quá phổ biến đến nỗi được viết trong sách, vẽ trong truyện tranh và thậm chí in trên tem bưu điện! Thật sự, hình của Thánh George đã được sử dụng trong nhiều tem bưu điện và tại nhiều quốc gia hơn hình ảnh của bất kỳ vị thánh nào khác!

Em có khi nào chú ý đến con tem bưu điện không? Vài con tem rất đặc biệt. Vì thế, có nhiều người sưu tập tem. Em có bộ sưu tập nào không – vỏ sò, những viên bi, vé xem bóng đá? Hình các thánh thì sao? Có nhiều hình ảnh rất đẹp về Chúa Giêsu, Đức Maria và các thánh. Nếu em từng đi đến cửa hiệu tôn giáo, hãy xem hình các thánh và có thể em sẽ tìm thấy ảnh Thánh George với con rồng của ngài! 

49. GRÊGÔRIÔ CẢ (GIÁO HOÀNG)

Hẳn em đã biết về nhạc rock nhạc rap và thậm chí thể loại nhạc thường được phát ra nơi công cộng hay thang máy (elevator music) – nhưng em có từng nghe về thánh ca Gregorien chưa? Vâng, đây là những bài thánh ca hay từng được hát trong nhà thờ và được đặt tên theo vị thánh này – dù có thể ngài không liên hệ gì với âm nhạc và ngài rất bận rộn với những chuyện khác.

Thật sự ngài đã làm rất nhiều chuyện khác đến nỗi được gọi là Grêgôriô Cả! Có thời Grêgôriô là người giàu có nhất thành Rôma. Và rồi ngài đã quyết định hiến tất cả của cải cho Giáo Hội và trở thành tu sĩ. Ngài muốn sống một cuộc đời tĩnh lặng nhưng nổi danh vì quá tài năng đến độ luôn được chỉ định ở những vị trí cao và cuối cùng làm giáo hoàng.

Grêgôriô luôn ý thức về sự công bình và đối xử với mọi người bằng lòng bác ái và khiêm tốn. Ngài phải chiến đấu với nhiều kẻ thù của Giáo Hội nhưng không bao giờ quá bận đến nỗi không chăm sóc cho người khác. Một trong những điều cuối cùng ngài làm trước khi qua đời là gởi chiếc áo choàng ấm cho một người bạn nghèo phải chịu lạnh lẽo. Grêgôriô là vị giáo hoàng đầu tiên gọi mình là “tôi tớ của các tôi tớ của Chúa”.

Em có biết ai quá thông minh, tốt bụng, thông thái hay thành công đến nỗi có thể gọi người ấy là “người vĩ đại” không? Hãy nghĩ về điều đó ngày hôm nay – và hãy nghĩ về điều mà em có thể làm để một ngày kia người ta có thể gọi em là “người vĩ đại”!

50. GRÊGÔRIÔ NGƯỜI LÀM PHÉP LẠ

Vị thánh này là giám mục của một thành phố chỉ có mười bảy Kitô hữu! Công việc của ngài – và những phép lạ - đã thay đổi điều đó.

Ngay ngày đầu tiên Grêgôriô đến thành phố nơi ngài làm giám mục, ngài đi ngay ra ngoài đường và bắt đầu rao giảng. Ngài là nhà giảng thuyết hay đến độ vài thính giả đã quyết định trở thành Kitô hữu! Sáng hôm sau, cả thành phố xôn xao loan đi những tin tức về ngài, ngày càng có nhiều người đến nghe ngài giảng và chẳng bao lâu sau thì có rất nhiều Kitô hữu trong thành phố ấy. Họ hội lại với nhau và dâng cúng thời gian và tiền bạc để giúp Grêgôriô xây nhà thờ, nơi họ có thể cùng nhau cầu nguyện.

Trong những năm làm giám mục, truyền thuyết nói rằng Grêgôriô – nhờ quyền năng của Chúa – đã có thể chữa bệnh, chay đổi dòng chảy của con sông, trừ quỷ và tiên đoán tương lai! Vì thế ngài có tên là Người làm phép lạ.

Sau nhiều năm làm việc – và làm phép lạ - Grêgôriô già đi và biết mình sắp chết. Ngài hỏi có bao nhiêu người chưa là Kitô hữu. Người ta nói với ngài rằng chỉ còn có mười bảy người!

Khi Grêgôriô làm giám mục chỉ có mười bảy Kitô hữu và bây giờ thì chỉ có mười bảy người không phải là Kitô hữu! Ngài đã thực hiện tốt công việc của mình!

Có bao nhiêu người có đạo trong thành phố của em? Ít hay nhiều? Có bao nhiêu người trong hàng xóm láng giềng hay họ hàng thân thuộc của em? Còn về những người làm phép lạ thì như thế nào? Có ai trong thành phố của em không? Thật vui khi xem những nhà ảo thuật biểu diễn, nhưng phép thuật của họ là trò lừa! Chỉ có “phép thuật” của Chúa mới là thật! Ngày hôm nay em hãy cám ơn Chúa về những “phép thuật” như tiếng sấm nổ và những bàn tay để vỗ, những quả dưa hấu và những thác ghềnh – và cả những người làm phép lạ như Grêgôriô.

* HÊLENA / HILARIÔN / HILDEGARD THÀNH BINGEN / HOMOBONUS / IGNATIÔ LOYOLA

51. HÊLENA

Vị thánh này chỉ là con gái của một chủ quán trọ, nhưng rồi đã trở thành một người khác, rồi trở nên một người vô danh, và sau đó lại là một người khác nữa!

Khi Hêlena còn trẻ và đẹp, cô gặp một viên tướng Rôma; và dù cô xuất thân từ một gia đình “hạ cấp”, viên tướng đã cưới cô và họ có một người con tên là Constantinô.

Một ít năm sau, hoàng đế chỉ định chồng của Hêlena làm “Caesar”, người cai trị cấp cao nhất của Rôma! Khi ấy, vì lý do chính trị, chồng của Hêlena ly dị bà và cưới cô con gái của hoàng đế - và Hêlena lại thành người vô danh. Nhưng câu chuyện không kết thúc ở đây. Chỉ mười ba năm sau, chồng của Hêlena qua đời và con trai của bà, Constantinô, trở thành nhà lãnh đạo! Lúc ấy, Constantinô đòi mọi người phải tôn kính mẹ mình, thậm chí ông còn phát hành đồng tiền Rôma mang hình của bà.

Chính Constantinô là người đã ban hành chỉ dụ cho phép Kitô giáo được thực hành như một tôn giáo trong Đế quốc Rôma, và thả tất cả những ai bị cầm tù vì tôn giáo của mình.

Hêlena bắt đầu học đạo và trở thành Kitô hữu. Sau đó, bà tận tâm làm việc cho Giáo Hội. Bà đã đi khắp xứ Palestine, xây dựng nhiều nhà thờ, và nổi tiếng về sự tử tế của mình đối với các tù nhân, binh lính và người nghèo.

Truyền thống kể rằng trong khi hành hương Đất Thánh, chính Thánh Hêlena đã khám phá ra cây thánh giá thật mà Đức Giêsu đã chịu đóng đinh trên đó.

Bà thánh này đã có một cuộc đời thú vị đúng không? Em muốn sang Thánh Địa để nhìn xem những nơi Đức Giêsu đã sống, những con đường ngài đã đi qua, thành phố ngài chịu đóng đinh chứ? Vâng, có thể em không làm được điều đó ngay bây giờ nhưng ngay lúc này em có thể vào thư viện và lấy ra những cuốn sách về Thánh Địa, xem hình ảnh về những nơi ấy, đọc tất cả về chúng. Tại sao em không làm điều đó đi?

52. HILARIÔN

Tên của vị thánh này phát âm gần giống với từ “hilarious” trong tiếng Anh có nghĩa là “vui vẻ” đúng không? Thế nhưng ngài thật sự là một người rất nghiêm túc luôn chạy trốn danh vọng tiếng tăm!

Thánh Hilariôn là tu sĩ ẩn tu, muốn ở một mình để sống đời tĩnh lặng, cầu nguyện trong căn chòi nhỏ ở xứ Palestine. Nhưng dân chúng nghe đồn rằng những lời cầu nguyện của Hilariôn có thể mang đến phép lạ, và chẳng bao lâu sau thì quá nhiều người tuốn đến để xin ngài cầu nguyện cho họ đến nỗi ngài quyết định chạy trốn đám đông!

Hilariôn trốn sang Ai Cập nhưng danh tiếng cũng chạy theo ngài đến đó và chẳng mấy chốc căn lều của ngài lại đầy người. Hilariôn lại phải chạy sang xứ Sicilia và Dalmatia rồi đến đảo Síp. Dù ở đâu thì lời cầu nguyện của Hilariôn cũng xảy ra phép lạ - và mang đến nhiều người hơn!

Các ngôi sao điện ảnh và nhạc rock thường có nhiều người theo họ, nhưng ít nghe ai nói rằng một tu sĩ ẩn tu bị các đám đông theo đuổi! Hilariôn phải là một ẩn sĩ đặc biệt! Em có biết ai thích làm tu sĩ ẩn tu không – sống một mình trong căn chòi nhỏ giữa sa mạc hay hoang mạc? Có ai trong gia đình đã từng nói với em rằng “hãy để cho anh yên” hay “làm ơn thinh lặng đi” không? Có thể họ thật sự muốn ở yên. Có vài người luôn yêu thích sự yên tĩnh.

53. HILDEGARD THÀNH BINGEN

Vị thánh này có thể đọc được nhưng không bao giờ học viết tiếng Latinh – một điều đòi buộc các văn sĩ vào thời của bà.

Hildegard là nữ tu, một nữ viện phụ, một nhạc sĩ và là một nghệ sĩ. Bà có nhiều ý tưởng về nhiều chủ đề và muốn “truyền” chúng lại cho người khác. Bà nổi danh là một tác giả vì đã đọc những tư tưởng của mình cho người khác viết lại.

Hildegard viết về nhiều chủ đề - lịch sử tự nhiên, y học, thực vật, động vật, các loài bò sát, chứng đau đầu, bệnh điên và ngay cả lưu thông máu. Về các đề tài tôn giáo, bà viết chú giải Kinh Thánh và các thánh, thánh ca, thơ ca, và ngay cả kịch nghệ luân lý.

Bà cũng viết rất nhiều thư – và nhận được nhiều thư của các giáo hoàng, các vua chúa, tổng giám mục, thầy dạy, các viện phụ, tu sĩ và các nữ tu.

Rất khó cho một phụ nữ có nhiều ý tưởng trong đầu mà không thể viết ra mà phải chờ đến khi đọc cho người khác viết, Dù sao, tác giả không viết này đã gây cảm xúc cho nhiều người với những bài viết của mình!

Em có muốn là văn sĩ một ngày nào đó không? Thật tuyệt vời khi chia sẻ những ý tưởng của mình với thế giới! Chẳng phải là em đã may mắn khi biết viết sao? Hẳn nhiên, ngay cả khi em không muốn làm văn sĩ thì em vẫn có thể là một người chia sẻ. Thật vui khi chia sẻ bất cứ điều gì với người khác – có thể ngoại trừ một thanh kẹo! Ngày hôm nay hãy nghĩ đến ai đó mà em có thể chia sẻ một bí mật – một ý tưởng, một trò chơi và ngay cả một thanh kẹo. Em hãy làm điều đó đi!

54. HOMOBONUS

Vị thánh này là một thương gia tốt – và là một người đàn ông tốt. Thật vậy, tên của ông trong tiếng Latinh homo bonus có nghĩa là “người đàn ông tốt”!

Cha của Homobonus là một người kinh doanh, dạy con mình về công việc buôn bán để khi Homobonus trưởng thành, ông có thể là người cộng tác với cha mình. Homobonus học bài rất kỹ. Cha ông dạy phải trở thành một thương nhân tốt, một người tốt – chân thật, công bằng, có trách nhiệm và tử tế.

Homobonus sống trọn cuộc đời kinh doanh theo cách này, đối xử với khách hàng như chính mình muốn được đối xử. Và ông cũng đã sống cuộc sống cá nhân theo cách này. Ông cưới một phụ nữ khôn ngoan và đạo đức như ông, và họ cho nhiều của cải từ công việc buôn bán thành công của họ cho những người kém may mắn hơn.

Homobonus tham dự Thánh lễ mỗi ngày. Sau nhiều năm – khi ông đã già – đột nhiên ông ngã quỵ ngay trong Thánh lễ. Ông đã chết như ông đã sống – khi cầu nguyện. “Một “người đàn ông tốt” đến cuối đời!

Em có muốn làm một nhà kinh doanh tốt một ngày nào đó không? Có thể làm chủ nhà hàng, tiệm giày, văn phòng bất động sản hay dịch vụ cắt cỏ? Ngày nay nhiều người nghĩ rằng cách tốt nhất để thành công trong buôn bán là mánh lới và lừa phỉnh khách hàng. Nhiều người còn biết nhiều hơn thế. Hôm nay, em hãy nghĩ về công việc làm ăn và những công việc nào phục vụ cho gia đình em – tiệm tạp hóa, các công ty điện và khí đốt, những tiệm sửa xe, cửa hàng quần áo, rạp chiếu phim, tiệm sửa TV. Danh sách này cứ kéo dài ra mãi – và em muốn tất cả họ đối xử với em cách công bằng. Vì thế, khi làm việc, em hãy luôn đối xử với người khác như em muốn được đối xử. Hãy nhớ đến Homobonus! Để trở thành một người kinh doanh tốt, trước hết hãy là người tốt!

55. IGNATIÔ LOYOLA

Vị thánh này chỉ cao 1m50 – nhưng ở chiều cao này, ngài vẫn cao hơn Napôlêon hay Julius Caesar! Tất cả ba người đàn ông “nhỏ con” này đều ghi dấu ấn lớn trong lịch sử!

Ignatiô sinh ra trong một lâu đài tại Tây ban Nha vào năm 1491, một năm trước khi hoàng hậu và vua Tây Ban Nha sai Columbus ra khơi để khám phá Mỹ châu! Vì Ignatiô thuộc gia đình quý tộc, ông trở thành cận thần ở triều đình và là một binh sĩ. Khi chiến đấu để bảo vệ lâu đài ở Pamploma, chân ông bị nát vì đạn đại bác – và cuộc đời ông đã thay đổi.

Khi nằm dưỡng thương, Ignatiô đã đọc rất nhiều sách tôn giáo và quyết định trở thành nhà truyền giáo. Ông bỏ kiếm lại trong Đền thánh Đức Mẹ và đổi bộ quần áo đẹp của mình lấy bộ áo của người ăn xin. Ông sống một năm trong hang động, cầu nguyện và viết sách. Ông đi học lại một thời gian rồi rời Tây Ban Nha đến thành phố Paris, nơi ông và một vài người bạn thành lập một nhóm người gọi là Dòng Chúa Giêsu hay Dòng Tên.

Ignatiô không dự định lập một dòng mới nhưng chỉ là một nhóm “commandos” (biệt kích) có thể phản ứng nhanh và đi ngay đến “các miền truyền giáo” để rao giảng và làm việc bất cứ nơi nào và khi nào cần đến họ. Đức giáo hoàng đã chuẩn y ý tưởng mới này, và nhóm “những người phiêu lưu tông đồ” của Ignatiô đã lớn mạnh từ mười người lên đến một ngàn người chỉ trong vài năm và rốt cuộc đã lan rộng đến nhiều quốc gia. Dòng Chúa Giêsu (ở Việt Nam quen gọi là Dòng Tên, vì tục kỵ húy muốn kính Tên cực trọng Giêsu) trở thành một trong những tổ chức tôn giáo lớn nhất của Giáo Hội – tất cả chỉ vì một viên đạn đại bác!

Có thể có đôi lúc em đã nghĩ mình sẽ là một người phiêu lưu mạo hiểm, nhưng có bao giờ em nghĩ về một “nhà phiêu lưu tông đồ” không? Em có nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ đi đến bất kỳ nơi đâu và bất cứ khi nào người ta cần đến mình để giúp đỡ, rao giảng và giáo dục người khác về Thiên Chúa và về Giáo Hội Công Giáo không? Nhiều người trẻ hiện nay vẫn còn làm loại công việc mà Ignatiô và các bạn ông đã làm – họ trở thành linh mục, nữ tu, các nhà truyền giáo và nhà phiêu lưu tông đồ! Em có muốn làm điều ấy một ngày nào đó không?

* ISIDORE THÀNH SEVILLE / ISODORE NÔNG DÂN / GIACÔBÊ LỚN / GIACÔBÊ NHỎ / JEANNE JUGAN

56. ISIDORE THÀNH SEVILLE

Có bao giờ em giở cuốn bách khoa tự điển ra để tìm một vài sự kiện hay một nhân vật lịch sử không?Vâng, em có biết ai đã gom tất cả mọi sự vào cuốn bách khoa tự điển không? Một vị thánh đã làm điều đó!

Isidore nổi tiếng là người thông thái nhất vào thời đại mình, và cùng với việc xây trường học, viết nhiều sách học thuật, sống thánh thiện, làm giám mục thành Seville, ông đã gom mọi sự vào trong cuốn bách khoa tự điển.

Cuốn bách khoa của Isidore gồm tất cả những kiến thức vào thời ngài và được sử dụng hàng trăm năm như là cuốn sách giáo khoa ở trường. Nhưng thời của ngài là thế kỷ VI – cách chúng ta mười lăm thế kỷ - vì thế nên cuốn bách khoa của ngài rất khác với những cuốn có trong các trường học ngày nay. Sách của Isidore không có những thông tin về điện thoại, truyền hình, máy bay, phi thuyền không gian, đèn điện, lò vi sóng, hoặc nhiều thứ thông dụng khác. Vị thánh này ắt phải ngạc nhiên khi thấy được cuốn bách khoa tự điển ngày nay!

Em có thường dùng cuốn bách khoa để tìm kiếm thông tin hay “những sự kiện nực cười” không? Em nên cố gắng dùng thường xuyên! Tại sao em không ngồi xuống với một cuốn bách khoa tự điển để tìm một vài chủ đề mà em đặc biệt quan tâm. Khi ngón tay em rà trên từng trang giấy, có thể em sẽ gặp thấy tên của Isidore thành Seville.

57. ISODORE NÔNG DÂN

Vị thánh này trùng tên với Isidore thông thái, người viết bách khoa tự điển – nhưng họ sống khác nhau.

Isidore này sinh ra trong một gia đình nghèo tại Tây Ban Nha, chẳng bao lâu sau thì ông đủ lớn để đi làm việc, ông làm công nhân nông trại, làm việc cho một ông chủ giàu có sở hữu nhiều đất đai bên ngoài thành phố. Ông làm ở nông trại đó suốt cả đời mình, thức dậy sớm mỗi buổi sáng để dự lễ và rồi suốt ngày ở trên cánh đồng.

Isidore cưới một cô gái cũng nghèo như ông, và họ cùng nhau sống một đời sống Kitô giáo thánh thiện. Người ta nói rằng Isidore cầu nguyện cả ngày khi ông cày bừa trên cánh đồng, và ông cũng rộng rãi với những người nghèo khác, rộng tay với những người nghèo hơn ông. Nếu không có gì để cho, ông chia sẻ bữa ăn của mình.

Hai vị thánh này khác nhau về lối sống – nhưng giống nhau trong sự thánh thiện.

Em có thích làm nông dân không? Em trồng cây gì – dây bầu cây bí, củ cải củ khoai, cà rốt dưa leo? Thật tiếc là không có cây trồng nào cho ra bánh chocolate-pie hay kẹo! Em có thể chọn một đời sống rất khác với Isidore nông dân hay Isidore người làm bách khoa tự điển – nhưng em có thể nhớ đến họ như là những gương mẫu khi chọn bất cứ đời sống nào mà vẫn “thánh thiện”!

58. GIACÔBÊ LỚN

Ngài là một tông đồ và là một vị thánh, là anh của một tông đồ và cũng là một vị thánh. Ngài là vị tông đồ đầu tiên tử đạo. Vì thế ngài được gọi là Giacôbê “Lớn” hay “Cả” (còn gọi là Giacôbê Tiền).
Có hai vị tông đồ đều mang tên Giacôbê và đây là người lớn hơn – nên được gọi là Giacôbê Lớn. Nhưng ngài cũng thật sự là một người vĩ đại.

Thật vậy, Chúa Giêsu rất yêu quý Giacôbê nên đã cho ông một “nickname” thật buồn cười! Chúa Giêsu gọi Giacôbê và Gioan em ông là “Những đứa con của sấm sét”! Em có đoán được rằng cái tên đó là do họ có cá tính ồn ào, to tiếng hay nóng tính không?

Em có biết ai có thể gọi được là con của sấm sét không? Một bản tính nóng nảy có thể khiến em gặp nhiều phiền phức! Nhưng có thể một tông đồ phải la lối như sấm sét để dân chúng lắng nghe sứ điệp quan trọng của họ về Chúa Giêsu và tôn giáo mới của Ngài. Nếu em gặp phiền phức với bản tính nóng nảy, hãy cầu xin Thánh Giacôbê giúp đỡ để ăn nói nhỏ nhẹ, hành động dịu dàng và kiềm hãm tính nóng nảy khi nói một điều gì đó thật quan trọng!

59. GIACÔBÊ NHỎ

Em có thích được mang tên “Nhỏ” không? Vâng, như em có thể đoán được khi đọc về Giacôbê Lớn, “Nhỏ” ở đây có nghĩa là “trẻ hơn” – và trẻ hơn chứ không phải là kém hơn!

Vị thánh Giacôbê trẻ hơn này (còn được gọi là Giacôbê Hậu) cũng là một người đi theo Đức Giêsu. Ngài là giám mục thành Giêrusalem và được cho là tác giả Thư Giacôbê trong Tân Ước. Thật là quá tốt đẹp cho ai đó được gọi là “Nhỏ”!

Em có từng thấy mình “kém hơn” – ít thông minh hơn các bạn, ít mạnh hơn các bạn cùng lớp, ít giàu hơn bạn láng giềng, hay ít nghị lực hơn những người khác trong gia đình? Cảm giác này có làm cho em thấy mình kém cỏi hơn không? Đừng để cho cảm giác kém cỏi ấy quật ngã em! Hầu như hết thảy mọi người đều có một lúc nào đó hay những ngày nào đó thấy mình kém cỏi, nhưng hãy nhớ rằng Thiên Chúa nghĩ em là “nhất hạng”! tại sao? Bởi vì em là một trong những thụ tạo của Ngài, một trong những con cái Ngài, một trong những bạn hữu đặc biệt của Ngài. Vì thế, em hãy ngẩng đầu lên, hãy nâng tâm hồn lên, và nói, “Tôi sẽ trở nên tốt hơn, không kém cỏi đâu. Tôi biết ơn vì tất cả những gì Chúa đã ban cho tôi, tôi sẽ dùng tất cả những ân huệ này để trở nên tốt hơn. Dù cho bất kỳ điều gì xảy ra hay bất cứ ai nói gì với tôi, tôi sẽ nhớ rằng Thiên Chúa yêu thương tôi và nghĩ rằng tôi là nhất hạng!”

60. JEANNE JUGAN

Em có muốn làm người giúp việc, nấu ăn trong một gia đình giàu có không? Vâng, đó là công việc mà Jeanne đã làm lúc cô 16 tuổi.

Jeanne là một trong tám người con thuộc một đình nghèo sống ở làng chài nhỏ ở nước Pháp. Khi cô lên ba thì người cha hành nghề đánh cá đã chết trong một trận bão trên biển và mẹ cô đã phải chật vật để nuôi sống gia đình.

Jeanne đi làm việc cho một bà quý tộc giàu có, một người rất rộng lượng và thường dẫn Jeanne đi theo khi bà phát thức ăn và thuốc thang cho người nghèo, những người đau ốm trong làng. Sau vài năm, khi Jeanne được 25 tuổi, cô làm việc trong một bệnh viện, chăm sóc người bệnh và dùng thời gian rảnh rỗi để giúp những người vô gia cư đói khát sống trên đường phố. Sau đó, cô lại làm người giúp việc cho một bà quý tộc, và quý bà này cũng giúp Jeanne nuôi những người đói khát sống lang thang đường trên phố.

Cuối cùng thì Jeanne đến ở với một bà cụ 70 tuổi và một cô gái 17 tuổi, cả ba dẫn về nhà những người già neo đơn nghèo khổ từ các đường phố, cho họ chiếc giường riêng và đi xin lương thực về nuôi họ. Chẳng bao lâu sau, các phụ nữ khác đến cũng phụ giúp trong công việc này, và các tình nguyện viên đã đi quyên tiền để họ có thể chuyển đến một tu viện bỏ hoang, sửa chữa nó và sử dụng như một nơi giúp đỡ những người không nơi nương tựa trong số những người nghèo.

Vào năm 1842, nhóm phụ nữ này lập một cộng đoàn tu mới gọi là Dòng Tiểu Muội Người Nghèo (Little Sisters of the Poor) và bầu Jeanne làm bề trên. Bà lấy tên dòng là Chị Maria Thánh Giá (Sister Mary of the Cross). Ngày càng có nhiều phụ nữ nhập dòng, và khi chị Jeanne qua đời ở tuổi 87 thì có hàng trăm nữ tu Tiểu Muội Người Nghèo phục vụ tại nhiều thành phố trên thế giới.

Những năm sau này, chị Maria không còn là bề trên nhưng phụ trách các nữ tu trẻ, họ làm việc tay chân trong tu viện, và nhiều chị trẻ thậm chí không biết chị nữ tu già này là người sáng lập dòng của mình.

Jeanne chưa là thánh, nhưng chị được phong chân phước vào năm 1982 và bây giờ được gọi Chân phước Maria Thánh Giá.

Có thật là điều kỳ diệu không khi mà một cô gái nghèo 16 tuổi bắt đầu làm việc như là người giúp việc lại có thể giúp những người vô gia cư và rồi lại tập hợp một nhóm người phát triển lớn mạnh để giúp đỡ hàng ngàn người trên khắp thế giới? Em đừng bao giờ nghĩ rằng mình quá nghèo, quá trẻ hay quá khờ khạo để làm một công việc quan trọng nào đó! Em cũng đừng chỉ mơ về nó, ao ước nó hay nghĩ về nó – nhưng nếu em thật sự muốn làm một điều gì đó và đang muốn làm việc ấy cũng như cầu xin để làm được việc đó, thì chắc chắn em sẽ làm được bất kỳ điều gì dù quan trọng đến đâu!

* GIÊRÔNIMÔ / JEANNE D’ARC / GIOAN BOSCÔ / GIOAN EUDES / GIOAN GUALBERT

61. GIÊRÔNIMÔ

Có gì trong một cái tên? Vâng, Thánh Giêrônimô thật sự có tên là Eusebius Hieronumus Sophronius. Và ông có bạn bè tên Bonosus, Evagrius, Heliodorus, và Eustochium! Dù sao, Giêrônimô cũng trở thành vị thánh thông thái nhất.

Giêrônimô là thư ký cho đức giáo hoàng, nổi tiếng về viết lách và dịch Kinh Thánh, gây ấn tượng với người dân cùng thời về tính chân thật, học thức và sự thánh thiện. Vì thế, cái tên duy nhất mà ta cần nhớ về ngài đó là “Thánh”.

Mặc dù những cái tên vào thời ngài có vẻ như lạ lẫm đối với chúng ta, nhưng có thể những cái tên em biết ngày nay như Elvis, Robin, Whitney, Goldie, Kiefer, hay Nicole cũng lạ lùng đối với những người sống vào thế kỷ thứ IV và V của Thánh Giêrônimô!

Em có muốn lấy một cái tên khác không? Nếu có thể được chọn bất kỳ tên nào khi được sinh ra, em muốn tên gì? Glamouroso, Astronautus, Star, Richenfamous? Còn tên Kitô hữu thì sao? Qua hành động của em, người ta có thể gọi em là Kitô hữu không dù em không mang tên đó? Người ta có thể gọi em như thế không? Hôm nay em có thể làm gì để người ta biết em là một Kitô hữu?

62. JEANNE D’ARC

Em có biết người ta gọi vị thánh này là phù thủy không? Em biết tại sao không?

Vâng, Jeanne là một cô gái trẻ, đạo đức và hay cầu nguyện. Và khi còn ở tuổi vị thành niên, cô bắt đầu nghe thấy “tiếng nói” bên tai. Có những tiếng nói bảo cô rằng Thiên Chúa muốn cô đi đến với ông chỉ huy quân đội Pháp và nói với ông ấy rằng các lực lượng Pháp sẽ phải chịu thất bại nghiêm trọng. Vị tướng cười và nói với cha cô rằng phải phét vào mông cô mấy phát thật đau!

Jeanne về nhà, nhưng vẫn nghe thấy tiếng nói rằng Thiên Chúa muốn cô dẫn đầu đoàn quân. Cô nói rằng mình chỉ là cô gái nghèo và thậm chí không biết cưỡi ngựa thì làm sao có thể chiến đấu với một đoàn quân. Nhưng tiếng nói vẫn tiếp tục dai dẳng.

Cuối cùng, cô lại đi gặp ông chỉ huy. Lần này, ông nghe cô bởi vì quân Pháp đã bị thất trận như lời Jeanne đã tiên báo. Jeanne được gởi đến gặp vua Charles, lúc này chưa lên ngôi vì chiến tranh. Charles cố đánh lừa Jeanne bằng cách cải trang nhưng cô vẫn nhận ra ông ngay và cho ông một dấu hiệu để thuyết phục ông về lòng thành thật của mình. Tuy nhiên, các cố vấn của ông cho rằng cô bị điên khùng hay gián điệp gì đó. Họ tra vấn cô ba tuần trước khi quyết định tin cô.

Jeanne mặc bộ giáp màu trắng và cầm cờ thêu các chữ “Giêsu và Maria”. Cô cưỡi ngựa dẫn đầu đoàn quân đi chiến đấu và giải phóng thành phố Orleans khỏi quân Anh. Jeanne thành công trong vài chiến trận và lấy lại đủ phần lãnh thổ của Pháp để Charles có thể lên ngôi vua – với Jeanne đứng bên cạnh ông.

Tuy nhiên, trong một trận chiến sau này, Jeanne bị quân địch bắt, cầm tù, bị kết án là “phù thủy” và đốt trên giàn hỏa! Vì sự can đảm và thánh thiện của mình, cô gái trẻ này được nhận là người bảo trợ cho thành phố Orleans và là Thánh Jeanne D’Arc.

Có lẽ những “mụ phù thủy” duy nhất mà em gặp là ở lễ hội Halloween! Nhưng em cũng có thể gặp vài “vị thánh”! Thật sự, em có thể đã gặp một vài vị thánh rồi! Hãy nghĩ về điều đó. Em có biết vị thánh nào không? Em có gặp được ai can đảm và thánh thiện không? Em có biết ai cầu nguyện nhiều và yêu Chúa nhiều, không sợ nói rằng Thiên Chúa là bạn của mình? Có thể em đã biết một vài vị thánh rồi đó. Và có lẽ em nên cố gắng để nên thánh thiện hơn nữa!

63. GIOAN BOSCÔ

Em có muốn một vị thánh là nghệ sĩ đu dây, tung hứng và làm ảo thuật không? Vâng! Gioan Boscô là người như thế!

Công việc chính của ngài là giúp đỡ các trẻ em nghèo – dạy chúng buôn bán để có thể kiếm sống cũng như dạy chúng về Thiên Chúa để có cuộc sống hạnh phúc. Chính ngài đã biết nghèo là thế nào. Khi Gioan Boscô vào chủng viện để làm linh mục, ngài phải dựa vào lòng bác ái để có tu phục. Ngài có tấm áo choàng từ ông cha sở, chiếc áo dòng từ một giáo dân, đôi giày từ một người bạn và chiếc mũ từ ông thị trưởng!

Khi lần đầu tiên Gioan bắt đầu làm việc với bọn trẻ, chúng rất vô trật tự. Gioan cố nghiêm khắc nhưng chúng chẳng mấy chú ý – vì thế ngài quyết định vui vẻ. Mỗi ngày Chúa Nhật, ngài có lớp vừa học vừa chơi. Ngài kết hợp những trò biểu diễn đu dây vui nhộn, làm ảo thuật với những bài học, bọn trẻ vừa vui đùa vừa học.

Cuối cùng, Gioan Boscô có đủ tiền để mở một ngôi nhà cho bọn trẻ cùng với xưởng thợ để dạy chúng đóng giày và may mặc. Mẹ của ngài, “Mẹ Margaret”, giúp đỡ ngài và chẳng bao lâu thì có thêm nhiều người khác đến phụ giúp nữa. Trong vòng vài năm, những người theo ngài đã lan rộng ra khắp thế giới, mở những ngôi nhà để giúp các trẻ em trai nghèo bắt đầu cuộc sống tốt. Những có lẽ không ai trong số những người theo ngài là nghệ sĩ đu dây, người tung hứng và nhà ảo thuật giỏi như vị thánh lãnh đạo của mình!

Em có nghĩ rằng để làm một người Công giáo tốt thì phải luôn u buồn và nghiêm nghị, luôn cầu nguyện và chẳng bao giờ cười không? Hãy nghĩ lại đi! Một Kitô hữu thì phải luôn tràn đầy niềm vui của Thiên Chúa – vì thế hãy noi gương thánh Gioan Boscô và hãy có một bộ mặt thật vui vẻ!

64. GIOAN EUDES

Em có tưởng tượng ra được là có một vị thánh sống trong một thùng rượu lớn ở giữa cánh đồng không? Vâng, đó là điều mà vị thánh này đã làm trong một thời gian.

Gioan là một linh mục làm việc tại xứ Normandie thì xảy ra cơn dịch bệnh khủng khiếp ở đây.

Ông xung phong chăm sóc bệnh nhân và người sắp chết, mặc dù biết rằng bệnh dịch rất hay lây, mình có thể bị lây nhiễm và chết. Điều này chẳng làm ông quan tâm nhưng sợ rằng mình có thể làm lây dịch bệnh cho các linh mục khác trong cộng đoàn, nên khi xong việc thì ông ngủ và sống trong một cái thùng rượu lớn!

Sau trận dịch, Gioan trở về cộng đoàn và nổi tiếng vì làm nhiều việc tốt – giảng dạy, điều hành các chủng viện, viết sách. Ông viết cuốn sách cuối cùng lúc 79 tuổi và hoàn thành chỉ một tháng trước khi qua đời.

Em có khi nào thấy một thùng rượu lớn đủ chứa một người không? Thật sự ở Pháp có những thùng khổng lồ và đủ lớn để có thể sống trong đó. Gioan bằng lòng sống trong đó vì ông quan tâm đến người khác hơn là chính mình. Em có biết người nào vị tha như vậy không? Vài người luôn đặt người khác lên trên thay vì luôn nghĩ mình là nhất và người khác là cuối cùng? Có lẽ em giống với Thánh Gioan Eudes – hoặc em nên cố gắng giống với ngài!

65. GIOAN GUALBERT

Vị thánh này dự định giết ai đó để trả thù! Nhưng ông đã đổi ý.

Khi anh mình bị giết, Gioan vào cuộc. Đầy lòng thù hận và báo thù, ông lần theo dấu vết người sát hại anh mình và rút gươm ra để giết tên sát nhân ấy. Nhưng khi ông sắp đâm một nhát lấy mạng thì hắn quỳ xuống xin tha.

Gioan bỗng nhiên nhận ra điều mình đang làm. Ông đã căm ghét người này vì là tên sát nhân, và bây giờ chính ông sắp trở thành người sát nhân! Ông đã tha thứ cho người mà ông khinh miệt. Rồi Gioan vất kiếm, đi vào tu viện và trở thành tu sĩ!

Ngài đã cầu nguyện, làm việc và trở nên nổi tiếng vì làm nhiều việc tốt cũng như về sự thông thái – từng đám đông tuôn đến để nghe lời khuyên của ngài. Một người sắp trở thành kẻ giết người đã trở nên một vị thánh!

Em có từng tức điên lên vì một người nào đó và muốn báo thù không? Nếu có, hãy nhớ đến vị thánh này và hãy bình tĩnh lại, thư giãn và cho qua. Em có muốn là người xấu như người đã làm điều xấu cho em không? Trong kinh “Lạy Cha”, chúng ta xin Chúa tha cho chúng ta như chúng ta “cũng tha kẻ có nợ” chúng ta. Vì thế, nếu em muốn được tha thì em hãy sẵn sàng tha thứ cho người khác. Hãy nghĩ về điều đó hôm nay và hãy đọc một kinh “Lạy Cha”.

* GIOAN NEUMANN / GIOAN CAPISTRANÔ / GIOAN, TÊN CỦA NHIỀU VỊ THÁNH! / GIUSE / GIUSE CUPERTINÔ

66. GIOAN NEUMANN

Em có biết rằng vị thánh này đôi khi còn được gọi là “Tổ phụ của hệ thống giáo dục Công giáo Hoa Kỳ” không? Vâng, Gioan Neumann đã tin tưởng vào các trường Công giáo.

Ngài sinh ở xứ Bohemia và muốn trở thành linh mục nhưng bị từ chối phong chức vì có quá nhiều linh mục ở Bohemia. Vì thế ngài đến New York để được phong chức và sau đó gia nhập dòng Chúa Cứu Thế Hoa Kỳ. Hoa Kỳ là miền đất mới xa lạ đối với ngài. Ngài đã đến từ một đất nước quá Công giáo đến nỗi có quá nhiều linh mục.

Khi đi làm công việc truyền giáo, Gioan gặp nhiều di dân đến từ các quốc gia Công giáo như mình. Nhưng ngài thấy rằng ở Hoa Kỳ không có nhiều nhà thờ và trường học Công giáo nơi họ có thể thờ phượng và học hành. Ngài muốn chắc rằng tất cả trẻ em Công giáo có thể nhận được sự giáo dục tốt và hiểu biết về đức tin của mình như ngài.

Khi Gioan trở thành giám mục, ngài cố gắng mở một trường Công giáo tại mỗi giáo xứ trong giáo phận mình. Vì công việc này của ngài – và của những người muốn chia sẻ mục đích giáo dục của ngài – hệ thống trường Công giáo đã lan rộng khắp Hoa Kỳ.

Em có muốn đi học không? Em nghĩ một trường học tốt sẽ như thế nào? Nó sẽ bắt đầu lúc bình minh và kết thúc lúc trăng lên? Hay bắt đầu vào buổi trưa và kết thúc buổi tối? Sẽ phải có quy tắc ăn mặc, bài tập ở nhà và những chuyến đi thực tế? Các thầy cô sẽ như thế nào? Hôm nay, em hãy cách lên kế hoạch một ngôi trường – không chỉ những gì làm em vui thích nhưng còn những gì đem lại cho em một nền giáo dục cơ bản, những giá trị và cảm hứng giúp em trở thành một người trưởng thành tốt và thông minh.

67. GIOAN CAPISTRANÔ

Vị thánh này sinh ra trong thành phố Capistranô nổi tiếng nhưng ngài sẽ không bao giờ nổi tiếng như một vị thánh nếu không vào tù!

Trong chiến tranh, Gioan bị bắt và đưa vào tù. Trong khi ngồi đó mà không biết việc gì làm, Gioan bắt đầu nghĩ về cách sống cuộc đời mình. Ông quyết định không chỉ để nó trôi đi vì ông đã phung phí nó. Khi ra tù, truyền thuyết kể rằng ông cưỡi lừa đi khắp thành phố, ngồi quay mặt lại phía đuôi lừa! Trên đầu đội chiếc mũ giấy khổng lồ viết những tội lỗi tệ hại nhất của ông! Mọi người chong mắt nhìn vào và trẻ con ném các đồ vật vào ông, nhưng đây là cách chứng tỏ Gioan hối hận về tội lỗi của mình.

Ông cưỡi lừa đến thẳng một tu viện, xin gia nhập và trở thành một tu sĩ. Sau khi học tập và cầu nguyện, Gioan bắt đầu rao giảng và nói với mọi người về việc ông thay đổi đời sống như thế nào để được gần Chúa hơn. Hàng ngàn người đến nghe ông và nhiều người trong họ cũng đã thay đổi đời sống.

Em có ngạc nhiên không khi nghe một vị thánh cưỡi lừa và đội mũ giấy? Vâng, em không cần phải cưỡi lừa để nói với Chúa rằng mình hối hận vì những việc xấu mình đã làm. Em chỉ cần ngồi im lặng (như Gioan đã làm ở trong tù) và nghĩ về những thói quen xấu hay cách nào để cư xử tốt hơn. Rồi thì hãy đọc một lời nguyện nhỏ và nói với Chúa về điều đó. Tại sao em không làm ngay bây giờ đi!

68. GIOAN, TÊN CỦA NHIỀU VỊ THÁNH!

Em có tin rằng đã có 70 vị thánh chính thức mang tên Gioan? Và có lẽ cũng có nhiều người tên Gioan “thánh thiện” khác mà chưa được ghi nhận!
Hẳn nhiên, người đầu tiên là Thánh Gioan Tông đồ, là bạn tốt và là vị tông đồ “yêu dấu” của Đức Giêsu. Một vị thánh mang tên Gioan gần đây là Thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II.

Và giữa những người mang tên Gioan này có Gioan Nhân hậu, Gioan Từ thiện, Gioan Nicôđêmô, … và nhiều nhiều nữa.

Đúng là một cái tên thánh!

Em có tên thánh chứ? Hay một cái tên bất thường nào khác? Một cái tên phổ biến? Hay một cái tên mà em ghét? Nào! Đừng bao giờ xấu hổ vì cái tên của mình – vì một ai đó đã đặt tên ấy cho em! Nếu em thích, hãy khoe nó. Nếu không thích, hãy thay đổi nó! Nhưng em phải lấy làm xấu hổ vì cách mình sử dụng tên của Thiên Chúa. Nhiều người vất nó đi, thỉnh thoảng mới dùng hay dùng cách châm biếm và thiếu tôn trọng. Em đừng bao giờ làm thế nhé!

69. GIUSE

Kinh Thánh nói rằng Thánh Giuse là người tốt và công chính – chỉ có thế! Nhưng như thế cũng đủ để Thánh Giuse trở thành thánh nhân yêu thích của nhiều người.

Chúng ta biết rằng Thánh Giuse chăm sóc Đức Maria và Chúa Giêsu. Khi không có “quán trọ”, Giuse đã tìm một chuồng gia súc làm nơi tạm trú. Khi Đức Giêsu sinh ra, Thánh Giuse đã ở đó.

Khi thiên thần báo tin cho Thánh Giuse rằng con trẻ Giêsu gặp nguy hiểm, Thánh Giuse đã can đảm rời khỏi nhà và dẫn Chúa Giêsu cùng Đức Maria đi Ai Cập để lánh nạn. Đến lúc dâng con trẻ Giêsu vào Đền Thánh để được chúc lành, Thánh Giuse cũng ở đó.

Khi Chúa Giêsu được 12 tuổi và “lạc mất”, Thánh Giuse cùng với Đức Maria đi tìm cho đến khi gặp thấy. Khi Chúa Giêsu lớn lên, bất cứ khi nào Chúa Giêsu cần một bàn tay giúp đỡ của một người cha, Thánh Giuse đã ở đấy.

Chúng ta không biết gì nhiều về ngài song bất cứ khi nào cần ngài thì Thánh Giuse ở đấy.

Có nhiều người “tốt và công chính” trên thế giới, nhưng câu chuyện của họ ít khi được thấy trên trang nhất của tờ báo hay trên tin tức truyền hình. Em thấy và nghe tất cả về các ngôi sao nhạc rock hay phim ảnh, nhưng em có thường nghe đến những người sống lặng lẽ, làm việc và giúp đỡ người khác, “ở nơi” mà người ta cần đến họ không? Hãy đọc một lời kinh tạ ơn hôm nay và mọi ngày vì tất cả những cha mẹ tốt, quý ông bà, thầy cô giáo, những người thợ sửa ống nước, các linh mục, những thợ điện, người thu gom rác, các bác sĩ, nông dân, tài xế xe bus – tất cả những “vị thánh” của ngày nay!

70. GIUSE CUPERTINÔ

Em có biết rằng có một thánh bổn mạng các phi hành gia không? Vâng, đây là vị thánh ấy. Có nhiều vị thánh mang tên Giuse, nhưng đây là người bắt đầu như một “kẻ thất bại”!

Gia đình ông nghèo đến nỗi phải bán nhà để trả nợ, và Giuse sinh ra trong một căn lều tạm bợ. Khi còn nhỏ ông lơ đễnh đến độ mọi người đều trêu ghẹo ông. Ông làm việc như người giúp việc cho một thợ đóng giày nhưng tồi đến nỗi bị đuổi việc. Ông cố đến một tu viện nhưng các bề trên đều từ chối nên ông lại đến một tu viện khác. Và rồi ông làm việc cũng tồi tệ đến nỗi người ta lại đuổi ông chỉ sau tám tháng. Cuối cùng, ông được một tu viện thứ ba chấp nhận và cho làm việc ở chuồng nuôi gia súc. Ở đấy ông làm việc siêng năng, chuyên cần cầu nguyện và tử tế nên cuối cùng cũng được chấp nhận để học làm linh mục.

Sau khi trở thành linh mục, ông tiếp tục làm những bổn phận đơn giản, thông thường nhưng dùng hầu hết thời gian trong ngày để cầu nguyện. Nhiều người thuật lại những phép lạ chữa lành khi Giuse cầu nguyện cho họ. Trên bảy mươi lần, người ta thấy Giuse cầu nguyện chuyên tâm đến độ trong khi cầu nguyện thì ông thật sự bay lên khỏi sàn nhà và lơ lững trong không gian! Điều này được biết đến như là “không trọng lực” và đó là lý do mà Giuse được gọi là bổn mạng các phi hành gia! 

Em có thích làm phi hành gia không? Hay em thích là một vị thánh? Có lẽ cả hai! Và nếu em từng thấy mình là “kẻ thất bại” thì hãy nghĩ về Thánh Giuse Cupertinô – một người dường như mang số phận thất bại nhưng đã “bay lên” cao như một vị thánh.

* GIUĐA (TAĐÊÔ) / KATERI TEKAKWITHA / LAWRENCE PHÓ TẾ / LÊÔ IX (GIÁO HOÀNG) / LOUIS BERTRAND

71. GIUĐA (TAĐÊÔ)

Có bao giờ em bị mắng nhiếc vì điều mình không làm không? Cảm giác thật kinh khủng phải không? Giuđa có cái tên giống như Giuđa – người tông đồ phản bội Chúa Giêsu – nên ông dễ bị nhận lầm và bị sỉ vả vì điều mình không làm. Thật vậy, Giuđa không phải là kẻ phản bội; ông là người môn đệ rất tốt đã loan báo giáo huấn Kitô giáo. Ông được Kinh Thánh nói đến, nhưng ở một vài nơi ông được gọi là Tađêô, và như vậy cũng dễ nhận lầm ông với một vị thánh khác cũng tên Tađêô!

Tất cả những lộn xộn này có thể là lý do mà Giuđa được cho là thánh bổn mạng của những người trong cơn tuyệt vọng. Có lẽ cũng vì Giuđa phát âm giống với Giuđa phản bội nên không ai muốn cầu xin Giuđa giúp đỡ, ai cũng cầu xin các thánh khác trước hết, rồi khi thấy thất bại và tình trạng nên tuyệt vọng thì họ mới cầu xin Thánh Giuđa và ông sẽ giúp họ!

Em có bao giờ tuyệt vọng không? Có lẽ em muốn biết bơi nhưng dầu cố gắng đến mấy cũng không nổi lên mặt nước được! Có lẽ em muốn kết bạn với ai đó, nhưng anh ấy hay cô ấy không muốn kết bạn với em. Hoặc có thể em muốn làm điều gì đó thật đặc biệt nhưng không quyết định được đó là cái gì! Vâng, lần tới nếu em ở trong một tình trạng tuyệt vọng thì hãy cầu xin Thánh Giuđa, xin ngài cầu cùng Chúa giúp em tìm ra câu trả lời hay một lối ra. Có thể mất thời gian đấy vì đây là vị thánh hay nhầm lẫn – nhưng dù sao khi tất cả dường như tuyệt vọng thì không cần phải lấy làm tổn thương vì cầu xin sự giúp đỡ!

72. KATERI TEKAKWITHA

Em có biết rằng có một thổ dân Hoa Kỳ được gọi là “Đóa huệ của bộ lạc Mohawks” – một cô gái thổ dân được rửa tội để làm Kitô hữu vào ngày lễ Phục Sinh và rước lễ lần đầu vào ngày lễ Giáng Sinh?

Kateri là trẻ mồ côi và lớn lên trong bộ tộc Mohawks, sống đời sống thổ dân gương mẫu. Nhưng khi 20 tuổi, cô gặp một linh mục truyền giáo nói với cô về Kitô giáo, và Kateri xin được rửa tội. Sau đó, các thổ dân khác tức giận với cô về điều cô đã làm và đối xử với cô như người ngoài bộ tộc.

Lo sợ, Kateri quyết định rời bộ lạc Mohawks và cố tìm một làng thổ dân Công giáo mà cô đã biết đến. Cô quyết định ra đi một mình, băng qua vùng hoang dã Canada hai ngàn cây số để tìm ra ngôi làng! Cô sống bình yên ở đấy và là một giáo dân tốt, thánh thiện suốt cuộc đời còn lại. Vào năm 1980, cô được Giáo hoàng Gioan Phaolô II phong “chân phước Kateri”. Ngày 21/10/2012, Đức Bênêđictô XVI phong thánh cho Kateri như là nữ thánh người da đỏ đầu tiên.

Em có sợ băng qua vùng hoang dã hai ngàn cây số một mình? Hầu hết mọi người đều sợ và có lẽ Kateri cũng thế, nhưng với ơn Chúa giúp sức, cô đã làm được điều mình phải làm. Lần tới, khi em phải làm điều gì đó mà em sợ thì hãy nghĩ đến Thánh Kateri, xin ngài cầu cùng Chúa giúp em – và rồi em hãy làm điều em phải làm!

73. LAWRENCE PHÓ TẾ

Vị thánh này đã đùa với lãnh đạo Rôma! Nhưng người Rôma không thấy vui.

Lawrence được Đức thánh cha Piô phong chức phó tế, là một trong bảy phó tế của Rôma vào thế kỷ thứ III. Một trong những nhiệm vụ của ngài là làm kế toán – ghi chép lại những tài sản mà người dân hiến tặng cho Giáo Hội cũng như trả tiền bảo dưỡng cơ sở Giáo Hội, các thừa tác viên và giúp đỡ người nghèo. Đây là công việc nặng nhọc vì Giáo Hội Rôma chăm sóc hơn 1.500 người nghèo trong thành phố cũng như gởi tiền để giúp người nghèo ở các thành phố khác.

Một ngày kia, Hoàng đế Valêriô bắt đầu cuộc bách hại Giáo Hội và ra lệnh giết các linh mục, giám mục và cả giáo hoàng!

Khi giáo hoàng bị đưa đi xử tử, ngài bảo Lawrence cho đi tất cả tài sản Giáo Hội cho người nghèo. Vì thế, Lawrence bắt đầu bán hết mọi sự và cho người nghèo hết thảy. Nhưng ông tổng trấn Rôma nghe tin này và rất giận vì tưởng rằng mình đã có thể tịch thu tài sản cho đế quốc.

Ông cho người dẫn Lawrence đến và truyền cho ông phải mang tất cả tài sản Giáo Hội đến cho ông. Lawrence đồng ý và nói cần phải ba ngày mới gom hết tài sản. Ba ngày sau, Lawrence xuất hiện trước quan tổng trấn. Thay vì mang vàng bạc, ông đã dẫn theo những người què, đui, nghèo và các trẻ mồ côi trong thành phố. Lawrence nói đây là “kho báu” thật sự của Giáo Hội.

Ông tổng trấn nổi điên lên, truyền lính tra tấn và giết Lawrence. Nhưng Lawrence đã hy vọng nhà cầm quyền phản ứng như thế và vui vẻ hiến dâng mạng sống cho Thiên Chúa. Và khi dân chúng nghe biết những gì Lawrence đã làm, họ cũng có can đảm đứng lên đối đầu với người Rôma. Nhiều người cải đạo mới xin được chịu phép rửa tội, Giáo Hội phát triển và Công Giáo trải rộng khắp đất nước.

Em có bao giờ nghe rằng người nghèo là “kho báu” không? Em có thích giúp đỡ người nghèo một ngày nào đó không? Vâng, tại sao không phải là ngày hôm nay? Em có thể nào cùng với bạn bè thu gom quần áo và đồ chơi không sử dụng nữa để tặng cho một tổ chức giúp người nghèo không? Em có thể giúp bà nội, bà ngoại làm bánh rồi đem đi bán từng nhà để lấy tiền giúp đỡ người nghèo không? Em có thể làm gì để có được “kho báu” nào đó rồi đem đi giúp đỡ người nghèo trong thành phố hay láng giềng của mình.

74. LÊÔ IX (GIÁO HOÀNG) 

Em có tưởng tượng được rằng một giáo hoàng điều khiển quân đội không? Đó là điều mà Giáo hoàng Lêô đã làm! Ngài đã dẫn một đoàn quân đi chiến đấu chống quân xâm lược Norman, rồi bị bắt và bị cầm tù.

Trước cuộc chiến tranh đó, Lêô đã nổi danh là một giáo hoàng bận rộn và thánh thiện, đi khắp Âu châu, thực hiện những cải cách cần thiết trong Giáo Hội, làm người hòa giải giữa các hoàng đế và vua chúa, cai trị cách khôn ngoan và khéo léo.

Vì thế nhiều người xầm xì về Lêô, nói rằng ngài phải có những việc khác để làm và giáo hoàng thì không nên làm người chỉ huy quân sự dẫn đầu đoàn quân! Nhưng vào thời ấy có nhiều cuộc chiến chống Kitô giáo, và Lêô thấy mình phải bảo vệ Giáo Hội bằng mọi cách, chống lại mọi kẻ thù.

Thật vậy, một Lêô trước đây – Đức giáo hoàng Lêô IV là giáo hoàng hai trăm năm trước Lêô này – đã xây một bức tường quanh Vương cung thánh đường Thánh Phêrô và đồi Vatican, cố bảo vệ Giáo Hội khỏi những cuộc xâm lăng quân sự.

Suốt lịch sử, Giáo Hội Công Giáo luôn có kẻ thù. Vào thời trước, chúng tấn công Giáo Hội bằng quân đội. Ngày nay, chúng thường sử dụng lời nói.

Em có ngạc nhiên khi thấy có nhiều khác nhau không? Em biết có bao nhiêu giáo hoàng kể từ giáo hoàng đầu tiên là Thánh Phêrô? Có rất nhiều – gồm cả Linus, Sixtus, Telesphorus, Urban, Zosimus, Simplicius, Agapitus và nhiều vị nữa không có những cái tên lạ lẫm như vậy! Tại sao em không lật cuốn “Niên giám Công giáo” ra và tìm kiếm tất cả các vị giáo hoàng, rồi tìm ra có bao nhiêu vị có tên buồn cười và bao nhiêu vị không!

75. LOUIS BERTRAND

Khi vị thánh này còn tuổi “teen”, đã tổ chức một “băng nhóm” những người trẻ. Nhưng em không bao giờ đoán được họ lang thang ở đâu!

Louis sinh ra ở Valencia, Tây Ban Nha. Khi lớn lên cùng với tám anh chị em, ông đã ảnh hưởng bởi đức tin tôn giáo sâu thẳm và tình yêu của cha mẹ. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã muốn noi theo gương họ.

Gia đình ông cùng nhau cầu nguyện mỗi ngày, và Louis cũng bắt đầu cầu nguyện một mình trong phòng. Rồi khi đến tuổi “teen”, em nghĩ rằng ông dẫn “băng nhóm” của mình đi đâu không? Louis đã đến các bệnh viện địa phương – để thăm các bệnh nhân!

Louis muốn trở thành linh mục, nhưng ông học kém nên sợ bị từ chối. Khi 18 tuổi, ông xin nhập dòng và được các cha Đa Minh chấp nhận.

Sau khi được phong chức, bề trên dòng Đa Minh rất ấn tượng với Louis và đặt ông làm “Tập sư đệ tử viện” – có nhiệm vụ huấn luyện các chủng sinh trẻ. Dù vài năm sau đó ông có “thời gian ngắn hạn” là bảy năm làm nhà truyền giáo ở Nam Mỹ, Louis quay trở lại Tây Ban Nha và làm tập sư “băng nhóm” các đệ tử trẻ dòng Đa Minh trong vòng ba mươi năm.

Em có từng biết ai thuộc về một “băng nhóm” nào đó không? Có nhiều người trẻ hôm nay thuộc về một băng nhóm xấu – sử dụng ma túy, phá hoại tài sản, đánh nhau và thậm chí giết người. Tại sao em không tổ chức một băng nhóm như của Louis? Không cần phải thăm các bệnh viện nhưng có thể thăm hàng xóm láng giềng. Thay vì phá phách hãy làm một điều gì đó có tính xây dựng. Em hãy dọ hỏi chung quanh và tìm ra người cần được giúp đỡ. Em và các bạn có thể quét rác, dọn nhà, làm vườn hoặc chỉ thăm ai đó sống cô đơn. Có thể họ sẽ cho em bánh để cám ơn! Nhưng dù có hay không, em biết rằng em đã làm điều khác biệt – và đó là cách cho em và các bạn một ngày sống tươi đẹp!

* LUDMILA / LUCA / LYDIA / MARGARET TÔ CÁCH LAN / MARGARET WARD

76. LUDMILA

Em có thể nói rằng quý bà này nên thánh vì là một người bà tốt! (hoặc có thể vì bà có thể đánh vần tên của mọi người trong gia đình!). Ludmila kết hôn với một công tước tên là Borivoy. Họ có hai con tên là Spytihinev và Ratislav. Ratislav và vợ mình là Drahomira có con trai tên là Wenceslaus. (Em có thể đánh vần tất cả những cái tên này không?).

Khi Borivoy quyết định trở thành Kitô hữu, Ludmila cũng xin được rửa tội và họ cùng nhau xây dựng ngôi nhà thờ đầu tiên ở Bohemia.

Nhưng rồi Borivoy qua đời và Ratislav trở thành công tước. Bà vợ của ông không phải là Kitô hữu tốt cho lắm nên Ludmila quyết định chăm sóc cháu trai của mình và dạy dỗ nó về Thiên Chúa và Kitô giáo. Dân chúng yêu mến Ludmila vì bà tử tế và tốt đối với họ, và Wenceslaus học được nhiều gương mẫu từ bà nội của mình. Tất cả đều tốt đẹp cho đến khi Ratislav qua đời! Các thủ lãnh của một đảng phái chống Kitô giáo thấy đây là cơ hội để lật đổ chính phủ, và họ sợ ảnh hưởng của Ludmila trên cháu nội của bà. Vì thế, một đêm kia, hai người đàn ông lẻn vào lâu đài và giết bà! Nhưng Ludmila đã dạy cháu trai mình cách để làm một Kitô hữu tốt, vì thế Wenceslaus ủng hộ luật Chúa và Giáo Hội của Ngài, cai trị với sự công bình và lòng thương xót.

Em có từng nghe bài hát nào về Vua Wenceslaus không? Ngày hôm nay, hãy hát một bài hát và nhớ đến một nhà lãnh đạo đã học biết rất nhiều từ bà nội thánh thiện của mình!

77. LUCA

Em có muốn thấy hình Đức Maria, mẹ Chúa Giêsu không? Vâng, truyền thuyết kể rằng Thánh Luca đã vẽ một bức chân dung Đức Maria, và nếu chuyện này có thật, em có thể nhìn vào vào hình ấy và biết đích xác Đức Maria trông như thế nào. Rủi thay, chẳng ai biết chuyện đó có thật hay không, nên em sẽ phải dùng trí tưởng tượng để “vẽ” Đức Maria trong tâm trí và tâm hồn mình.

Em có biết rằng Thánh Luca là bạn của Thánh Phaolô, một y sĩ và là người Hy Lạp có nhà ở Antiokia. Trong Kinh Thánh, Luca kể về những chuyến du hành của mình với Thánh Phaolô trong sách Tông đồ công vụ. Vì Phaolô thường xuyên đau ốm bệnh tật nên có lẽ Luca là y sĩ riêng của ngài, người chữa trị và làm cho Thánh Phaolô vĩ đại “dùng thuốc của mình”.

Em có ghét uống thuốc không? Em có từng nhăn mũi, núp dưới tấm chăn và ngậm miệng lại? Hoặc em nhăn mặt, bịt mũi lại và nuốt mớ thuốc vì biết rằng nó giúp em khỏe lại? Vâng, một ngày nào đó em có thể là bác sĩ – giống như Thánh Luca – và rồi có thể khiến người khác dùng thuốc của mình.

78. LYDIA

Vị thánh này thích “màu đỏ điều”.

Lydia sống tại Thyatira, trung tây của tỉnh Asia thuộc Rôma – một tỉnh nổi tiếng về phẩm nhuộm màu điều. Vào thời ấy, màu điều được xem như màu của “hoàng tộc”, nên bất cứ vật gì nhuộm màu điều đều rất hiếm và đắt đỏ.

Lydia kinh doanh thuận lợi, bán những sản phẩm có “màu điều”. Một ngày kia bà nghe Thánh Phaolô rao giảng. Lydia rất ấn tượng đến nỗi bà trở thành Kitô hữu đầu tiên trong vùng. Rồi cả nhà bà đã nghe Thánh Phaolô và tất cả đều trở thành Kitô hữu!

Lydia nổi tiếng là “người phụ nữ buôn vải điều” mà câu chuyện cải đạo của bà đã được Kinh Thánh kể lại trong sách Tông đồ công vụ.

Em có đồ vật gì có màu điều không? Em có từng thử nhuộm màu điều không? Nhiều người nhuộm trứng phục sinh bằng màu điều và nhiều người mặc quần áo màu điều. Bất cứ khi nào em thấy màu điều thì hãy nhớ đến bà Lydia đã nghe Thánh Phaolô rao giảng và đã thay đổi cuộc sống mình. Thật vậy, tại sao em không tôn vinh bà Lydia khi biến ngày hôm nay là một ngày màu điều nhỉ? Mang tất màu điều, ăn nho màu đỏ điều, hay đọc một kinh và viết với một cây bút chì màu đỏ điều.

79. MARGARET TÔ CÁCH LAN

Vị thánh này tìm được chồng khi bị đắm tàu! Margaret và gia đình phải chạy trốn khỏi Hungary khi đất nước này bị William xâm lăng. Họ bị đắm tàu ở bờ biển đầy đá lởm chởm của Tô Cách Lan và được vua Malcolm III giúp đỡ, chào đón họ đến đất nước của mình – và rồi bị chinh phục bởi sắc đẹp và duyên dáng của Margaret, ông xin cưới cô làm vợ!

Margaret chấp nhận và họ kết hôn tại lâu đài Dunfermline. Dù là một người đàn ông tốt, song Malcolm thô lỗ và vô văn hóa – nhưng ảnh hưởng của Margaret đã khiến cho tính khí ông trở nên dịu dàng, cư xử lịch sự và trở nên một nhà cai trị công bình.

Malcolm thường tham khảo Margaret về những vấn đề của đất nước, và bà cố gắng cải thiện đất nước “nuôi dưỡng” bà bằng cách thúc đẩy nghệ thuật và giáo dục cũng như cải cách tôn giáo. Cặp đôi hoàng gia này đã cùng nhau xây dựng một vài nhà thờ.

Margaret và Malcolm có sáu con trai và hai con gái, thế nên bà là một bà mẹ và là hoàng hậu bận rộn, nhưng bà luôn dùng thời gian riêng tư để cầu nguyện, đọc Kinh Thánh và tham dự thánh lễ. Và bà không bao giờ ngồi bàn ăn nếu trước đó không phân phát lương thực cho trẻ mồ côi và người ăn xin đến lâu đài của bà để xin giúp đỡ.

Trốn thoát kẻ xâm lăng và bị đắm tàu đã dẫn đưa Margarét đến một gia đình hạnh phúc và đời sống thánh thiện.

Em có tưởng tượng được rằng mình sẽ kinh hãi thế nào khi phải rời đất nước, bị đắm tàu và rồi phải xây dựng căn nhà mới ở một nơi xa lạ không? Không cần phải bị đắm tàu mới biết đến sự thay đổi. Ngày nay, em thấy có rất nhiều thay đổi – di chuyển từ thành phố này sang thành phố khác, láng giềng này đến láng giềng khác, trường này đến trường khác, việc làm này đến việc làm khác, bất kỳ sự thay đổi nào cũng đáng sợ nhưng đồng thời cũng thú vị. Em từng có thay đổi nào lớn trong đời không? Ngày hôm nay, em hãy nghĩ về sự thay đổi nào trong đời mà em thích. Em có thể thực hiện thay đổi đó không?

80. MARGARET WARD

Vị thánh này đã giúp một “tội phạm” bằng cách đưa lén sợi dây thừng giấu trong chiếc giỏ gặt quần áo vào trong tù!

Margaret sống ở Anh quốc vào thời Công giáo bị cấm và các linh mục không được phép dâng lễ hay đi vào trong đất nước, nếu không sẽ bị tử hình. Margaret đã che giấu và bảo vệ nhiều linh mục. Khi cô đi vào trong một nhà tù để thăm một “phạm nhân” là cha William Watson, cô mang theo vài bộ quần áo sạch và một sợi dây thừng!

Kế hoạch đã được lên và vào một buổi tối lạnh lẽo, cha Watson trèo từ cửa sổ nhà tù, mang theo sợi dây thừng. Ngài từ từ leo qua mái nhà tù, cột sợi dây thừng cẩn thận rồi đu người xuống. Margaret và một người làm việc cho cô, ông John Roche, đang chờ trong đêm tối. Họ giúp vị linh mục đi về phía bờ sông bên cạnh và trốn thoát bằng thuyền.

Khi lính canh tù hay biết sự đào thoát, họ nghi ngờ Margaret và John. Cảnh sát bắt và tra vấn họ về nơi linh mục ấn nấp. Khi cả hai từ chối – sau khi bị tra tấn – họ bị kết tội phản bội và bị treo cổ!

Khi em xem những “cuộc phiêu lưu” ly kỳ trên truyền hình, hãy nghĩ đến những cuộc phiêu lưu thật sự hồi hộp của một vài vị thánh. Họ hiến trọn cả tâm trí mình cho Thiên Chúa – và khi cần thiết, họ đã hiến cả đời sống mình nữa.

* MARGARET BOURGEOYS / MARIA GORETTI / MARTIN DE PORRES / MARIA MẸ ĐỨC GIÊSU / MATILDA

81. MARGARET BOURGEOYS

Em có muốn đi học trong một chuồng gia súc không? Vâng, đó là nơi mà Thánh Margaret đã dạy học!

Cô sinh ở Pháp trong một vùng đất “văn hóa”, nhưng đã rời nơi ấy để làm nhà truyền giáo ở vùng hoang dã Canada. Cuộc sống nơi này rất khó khăn, nhưng Margaret đã dạy các phụ nữ nấu nướng, khâu vá và chăm sóc gia đình trong miền đất hoang vu như thế này. Thế rồi cô xin ông thống đốc cái chuồng gia súc của ông. Cô dọn dẹp và biến nó thành trường học! Margaret dạy trẻ em thổ dân và con cái của những người định cư Pháp biết đọc, viết và làm toán. Cô cũng dạy các em về Thiên Chúa và nói Thiên Chúa đã yêu thương chúng như thế nào.

Hầu hết các trường học đều là những tòa nhà đẹp đẽ, sạch sẽ và hiện đại; nhưng trong suốt lịch sử, trẻ em đã phải đi học trong những nơi rất kỳ lạ - giống như chuồng gia súc của Margaret. Em có muốn làm thầy cô giáo một ngày nào đó không? Em có muốn đi đến một nơi xa lạ - có thể là vùng hoang dã nào đấy – để làm nhà truyền giáo không? Em muốn trải qua phần còn lại của đời mình như thế nào? Ngày hôm nay, em hãy nghĩ về điều ấy, và bắt đầu lên kế hoạch cũng như học tập để một ngày nào đó em sẽ có đủ “trang bị” – kiến thức và giáo dục – để làm bất cứ công việc nào em muốn!

82. MARIA GORETTI

Em có tin rằng người giết Maria đã đến để tham dự lễ nghi phong thánh của chị? Thật đó!

Maria sinh ra trong một nông trại nhỏ ở Ý. Mẹ chị nói rằng chị là một đứa trẻ vui vẻ, quảng đại, cởi mở, luôn vâng lời. Khi Maria được 9 tuổi, cha chị qua đời, và sau đó chị phải giúp chăm sóc sáu anh chị em, làm công việc nhà để mẹ chị đi làm ngoài nông trại.

Khi Maria được 11 tuổi – gần 12 – có anh thanh niên tên Alexandre láng giềng đã để ý chị và bắt đầu có những hành động tán tỉnh đối với chị. Chị chống cự lại nhưng không nói với ai vì anh ta nói rằng sẽ giết chị và mẹ nếu chị nói ra. Cuối cùng, một ngày kia, Alexandre không dừng lại và tấn công Maria. Maria cự lại và la lên: “Không, không, đó là điều tội lỗi. Thiên Chúa không muốn điều đó!”.

Alexandre điên cuồng cùng với sợ hãi và giận dữ, đã mù quáng chém chị, đâm chị nhiều nhát dao. Khi có người đến cứu giúp và đưa Maria đi bệnh viện thì quá trễ. Trước khi chết, chị đã tha thứ cho Alexandre và sẽ cầu nguyện cho anh.

Alexandre đi tù và 8 năm sau lời cầu nguyện của Maria mới được nhậm lời. Alexandre đã thay đổi tâm hồn và cải thiện lối sống. Cuối cùng anh được ra tù vì cải tạo tốt, 27 năm sau khi giết người. Nơi đầu tiên mà anh đi đến là nhà mẹ của Maria để xin tha thứ. Rồi anh trở thành trợ sĩ (lay brother), sống cuộc đời tốt đẹp và đáng phục. Nhiều năm sau đó, Alexandre đã đi đến Rôma – cùng với mẹ và các anh chị em của Maria – khi cô gái nhỏ mà anh đã giết được phong thánh.

Nhiều chương trình trên truyền hình hiện nay chiếu những câu chuyện về những người có đời sống vô đạo lý mà không ai la lên “Không, không, đó là điều tội lỗi. Thiên Chúa không muốn điều đó!” Nếu em xem những chương trình truyền hình như thế này thì hãy đổi sang chương trình khác hay hơn, tốt đẹp hơn. Rồi hãy viết thư cho những người phụ trách chương trình và nói với họ rằng: “Không, ông không nên bảo trợ cho những chương trình như thế này. Thiên Chúa không muốn điều đó!”

83. MARTIN DE PORRES

Vị thánh này cố gắng giúp đỡ tất cả những người nghèo của Thiên Chúa – những trẻ mồ côi, người nghèo và đau ốm, thậm chí chó mèo đi lạc.

Martin sinh ở Lima, nước Pêru. Cha ông là hiệp sĩ Tây Ban Nha, mẹ ông là một phụ nữ da đen đến từ Panama. Khi Martin được 12 tuổi, ông học làm thợ hớt tóc – phẫu thuật (vào thời ấy, thợ hớt tóc không chỉ cạo râu hớt tóc! Họ còn chữa bệnh và phát thuốc).

Ba năm sau, Martin rời bỏ công việc để gia nhập dòng Đaminh – không phải để làm linh mục mà làm tu huynh. Ông tiếp tục phát thuốc cho người nghèo và chịu trách nhiệm phân phát phần ăn hằng ngày của tu viện cho người nghèo. Chẳng bao lâu sau, ông mở một cô nhi viện và bệnh viện cho trẻ bị bỏ rơi (những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi). Ông cũng chăm lo các nô lệ châu Phi bị đưa đến Pêru – đi thăm họ trên bến tàu và an ủi cũng như cho họ lương thực và thuốc thang.

Người ta nói rằng Martin giúp đỡ bất cứ ai cần mền, quần áo, nến thắp, phép lạ hay cả lời cầu! Thậm chí ông còn giúp cả những con vật bằng cách cho những chú chó mèo hoang cư trú nơi nhà của chị mình!

Martin là thánh bổn mạng của sự công bình giữa các chủng tộc. 

Em có biết ai giống Thánh Martin không – những người bất cứ khi nào cũng sẵn sàng chìa tay ra để giúp đỡ bất cứ ai cần đến? Có thể em sẽ là một người giống như thế. Hãy nghĩ về điều đó!

84. MARIA MẸ ĐỨC GIÊSU

Vị “thánh” đặc biệt này chắc chắn là Kitô hữu đầu tiên. Maria là người đầu tiên đón chào Đức Giêsu đến thế gian khi nói lời “xin vâng” để làm mẹ Đức Giêsu.

Maria là người chăm sóc Đức Giêsu khi còn bé, nhìn thấy Ngài bước những bước đi đầu tiên, nghe Ngài nói những tiếng nói đầu tiên. Mẹ nấu cho Ngài những bữa ăn, giặt áo quần và có lẽ đã “hôn’” khi Ngài té ngã, trầy đầu gối, vấp ngón chân hay sưng tấy.

Maria hẳn đã cười với Giêsu và ta cũng biết mẹ đã khóc khi Ngài bị chế giễu, bắt bớ và đóng đinh.

Maria đã vui mừng khi Con mình sống lại từ cõi chết, và rồi mẹ đã ở với bạn bè của Ngài, các môn đệ, và có lẽ cũng đã chăm sóc họ nữa khi họ bắt đầu rao giảng tin mừng Kitô giáo, bắt đầu một giáo hội mới. Maria có lẽ cũng đã an ủi họ khi dân chúng chế nhạo họ y như dân chúng chế nhạo Người Con của mình.

Nhưng Maria còn hơn là một người an ủi. Mẹ là một thủ lãnh. Mẹ là người đầu tiên nói tiếng “vâng”. Mẹ có ảnh hưởng mạnh mẽ nhưng dịu dàng trong Giáo Hội sơ thời cũng như trong Giáo Hội ngày nay. Mẹ là mẫu gương cho mọi thời đại.

Bất cứ khi nào em cần một mẫu gương, một ai đó gợi lên trong em sự mạnh mẽ nhưng dịu dàng, khiêm tốn nhưng anh dũng, thì hãy nhìn vào Đức Maria. Hãy đọc “Kính Mừng Maria đầy ơn phúc – xin hãy giúp con làm một người Công giáo tốt. Thiên Chúa ở cùng Mẹ và cùng con; xin hãy giúp con nhớ điều đó. Khi Thiên Chúa xin Mẹ hiến dâng đời sống mình cho Đức Giêsu, Mẹ đã nói “vâng” – xin hãy giúp con cũng nói tiếng “xin vâng” nữa”

85. MATILDA

Vị thánh này có người chồng tên là Henry “Người bẫy chim” vì ông rất thích săn chim ưng. Bà có ba con trai – một người là hoàng đế, một người là công tước và một người là tổng giám mục!

Matilda, đôi khi được gọi là Maud, là con gái của một công tước và kết hôn với một công tước, người sau này làm vua nước Đức. Khi bà làm hoàng hậu, cả Matilda và chồng mình đều là những nhà cai trị tử tế - giúp đỡ người nghèo và các tù nhân, dạy dỗ về Thiên Chúa và góp tiền cho nhiều tổ chức bác ái.

Sau khi Henry qua đời, hai trong số các con trai đã chỉ trích bà vì đã “phung phí” cho việc bác ái. Vì thế, Matilda đã giao cho họ hết phần thừa kế của mình và rời cung điện. Nhưng một ít năm sau, bà quay trở lại và một lần nữa nắm phần tích cực trong việc cai trị vương quốc và lại trở nên “phung phí” trong việc giúp đỡ người nghèo.

Em có bao giờ “phung phí” và tiêu pha nhiều hơn người khác không? Em có chi tiêu nhiều tiền vào những gì em muốn hay cho nó đi giống như Matilda không? Nhiều người tiêu nhiều tiền của vào những mốt thời trang điên khùng và “quá trớn” cho chính họ nhưng lại dè sẻn để giúp đỡ người nghèo và kẻ đói khát. Có lẽ sẽ có ít người nghèo và kẻ đói khát hơn nếu người ta chịu “phung phí” một ít khi giúp đỡ người khác. Em nghĩ thế nào?

* MATTHÊÔ / MATTHIAS / MONICA / PATRICK / PAULA

86. MATTHÊÔ

Một số người không thích vị thánh này vì ông là người thu thuế! Một số người khác có thể thích ông vì tên Matthêô có nghĩa là “quà tặng của Thiên Chúa”!

Matthêô sống cùng thời với Đức Giêsu, và người dân thời ấy không thích đóng thuế như người dân ngày nay vậy! Họ thường không giao thiệp với người kiếm sống bằng cách thu thuế. Họ không muốn đi nói chuyện với ông, không mời ông dự tiệc và có lẽ khi gặp ông trên đường, họ sẽ rẽ sang đường khác để khỏi nói chuyện với ông!

Tuy nhiên, Đức Giêsu đã chọn Matthêô làm một trong các tông đồ của mình. Và Matthêô trở nên một tông đồ tốt, rao giảng và rửa tội cho nhiều người. Ngài viết Tin Mừng Matthêô trong Kinh Thánh – và hàng tỷ tỷ người đã đọc nó qua nhiều thế kỷ. Vì thế xem ra người thu thuế này thật sự là “quà tặng của Thiên Chúa”.

Em có từng xét đoán ai qua công việc họ làm không? Em có ấn tượng hơn với người làm bác sĩ hay doanh nhân hơn là một người thu thuế hay người gom rác không? May thay, Thiên Chúa không xét đoán con người qua công việc họ làm, màu da hay khối lượng tài khoản ngân hàng của họ! Thật tốt khi có tham vọng và muốn làm công việc tốt nhất mà mình có thể làm, nhưng quan trọng hơn hết là làm hết sức có thể bất kỳ công việc nào mà mình có! Vì thế, bất cứ công việc gì mà em phải làm hôm nay, hãy cố làm thật tốt – thậm chí khi em phải “đóng thuế” trí não và cả cơ bắp!

87. MATTHIAS

Vị thánh này có thể được gọi là kẻ đến sau, là lựa chọn thứ hai hay trễ còn hơn không! Và ông hãnh diện về điều đó.

Em biết rằng khi Đức Giêsu còn trên trần thế, Ngài đã chọn mười hai người bạn hay tông đồ, những người sẽ tiếp tục công việc của mình. Nhưng một trong nhóm mười hai – là Giuđa – đã phản bội Đức Giêsu nên chỉ còn mười một. Vì thế, các tông đồ đã quyết định chọn người khác thay thế Giuđa – và họ đã chọn Matthias.

Vì cá nhân Matthias không biết Đức Giêsu, nên hẳn ông nóng lòng nghe các tông đồ khác kể tất cả về Đức Giêsu như thế nào, nói gì và làm gì. Và rồi Matthias cố noi gương và trở thành một tông đồ tốt, nói với người khác về Đức Giêsu.

Matthias không quan tâm mình là lựa chọn thứ hai hay chỉ là người thế chỗ người khác. Ông vui vì mình là người được chọn.

Em có thích ngồi chung quanh các tông đồ và nghe họ kể về Đức Giêsu, nói Ngài như thế nào, làm gì và nói gì không? Vâng, em có thể làm điều đó ngay ngày hôm nay! Em có thể đọc Kinh Thánh! Đó là nơi mà các tông đồ đã viết ra tất cả! Và rồi giống như Matthias, em có thể nói với những người khác! Vì em cũng thế , em cũng là người được chọn – để làm bạn hữu Đức Giêsu!

88. MONICA

Bà thánh này có một ông chồng xấu tính, một bà mẹ chồng tinh ranh và một đứa con trai lười biếng! Thật là đủ bộ!

Mặc dù sự nặng nề của gia đình (hay có lẽ là vì sự nặng nề này) mà Monica đã nên thánh – và cả con trai bà cũng nên thánh nữa!

Dù sự việc trong gia đình có khó khăn thế nào, Monica vẫn luôn kiên nhẫn và dịu dàng với mọi người, và bà đã luôn luôn cầu nguyện cho chồng và con mình thay đổi. Sau nhiều năm tháng, chồng bà cuối cùng cũng đã theo gương bà, trở thành Kitô hữu trước khi qua đời. Nhưng con bà thì không.

Trong thời gian này, Augustinô, con của bà, đã bỏ nhà ở Bắc Phi để đi Ý, nơi ông có một sự nghiệp thành công và rất nhiều bạn bè, nhưng ông lại sống bê tha tội lỗi. Thánh Monica vẫn luôn tiếp tục cầu nguyện cho ông và sau mười bảy năm cầu nguyện, Augustinô không những chỉ thay đổi đời sống và chịu phép rửa tội mà còn trở thành một trong những vị thánh vĩ đại của Giáo Hội. (Xem lại tiểu sử của Thánh Augustinô).

Monica không nổi tiếng vì có người con nổi tiếng. Monica trở thành một vị thánh nổi tiếng vì sự kiên nhẫn, lời cầu nguyện và sự kiên trì của mình. Bà đã không bỏ cuộc. Ngày nay, người ta thường hy vọng lời cầu của mình được đáp ứng ngay lập tức – theo kiểu như cà phê uống liền, bánh pizza ăn liền. Nhưng Thiên Chúa thì không phải lúc nào cũng vội vã đáp ứng liền. Vì thế, đừng cố hối thúc Thiên Chúa. Khi em cầu xin một điều gì, hãy kiên nhẫn, kiên trì – và đừng bỏ cuộc!

89. PATRICK

Vị thánh này có một giấc mơ – và điều đó đã thay đổi cuộc đời ông!

Khi Patrick được 16 tuổi, anh đã bị bắt trong một cuộc đột kích và đưa lên tàu chở đến Ái Nhĩ Lan, nơi anh bị bán làm nô lệ! Anh buộc phải làm việc như người chăn chiên với bảy năm sống cô đơn trên đỉnh núi hoang vu, chăn chiên, cầu nguyện và mong ước được trở về nhà. Thế rồi một đêm anh mơ thấy được chỉ hướng phải tẩu thoát như thế nào!
Hẳn đó phải là giấc mơ tuyệt vời vì ngay ngày hôm sau Patrick quyết định bắt đầu một hành trình dài đi đến tự do. Anh đi bộ hai trăm dặm trước khi đến được bờ biển và tìm được chiếc thuyền đưa anh về nhà.

Nhưng khi đã về đến nhà, Patrick vẫn luôn nghĩ về Ái Nhĩ Lan! Anh yêu quý người Ái Nhĩ Lan và cảm thấy xót xa vì họ không biết gì về Đức Giêsu và Giáo Hội của Ngài. Cuối cùng, Patrick quay trở lại Ái Nhĩ Lan, dẫn theo hai mươi linh mục và phó tế. Vì thế, cách đây lâu lắm rồi, rất nhiều người được dạy dỗ và gia nhập Giáo Hội đến nỗi Ái Nhĩ Lan nổi tiếng là một quốc gia Công Giáo.

Em đã từng có giấc mơ vui khi đi ngủ đó chứ? Vâng, còn về ban ngày – em có “giấc mơ ban ngày” không? Những mơ ước, hy vọng về tương lai? Hầu hết mọi người không được “hướng dẫn” trong giấc mơ, họ phải lên chương trình kế hoạch cho tương lai. Vì thế, hôm nay em hãy bắt đầu thực hiện vài giấc mơ ban ngày về những mục đích và niềm hy vọng của riêng mình. Em biết người ta thường nói rằng – nếu không mơ thì không bao giờ giấc mơ trở thành hiện thực!

90. PAULA

Vị thánh này là một bà nội trợ hạnh phúc. Bà và chồng được xem như một cặp đôi lý tưởng. Họ có năm người con và một gia đình hạnh phúc. Khi chồng qua đời, Paula đã rất tiếc thương ông; nhưng thay vì khóc than suốt phần đời còn lại, bà quyết định làm việc cho Giáo Hội.

Trước tiên, Paula làm việc ở Rôma, nơi gia đình bà sinh sống. Sau đó, bà du hành cùng với một trong các con trai của bà đến Thánh Địa, xây một tu viện và một nhà nữ tu ở đó. Vì xuất thân từ một gia đình quý tộc, Paula có tiền, và bà đã sử dụng phần lớn tiền của để xây dựng nhiều nhà thờ. Bà đã xoay từ việc than khóc đến công việc đáng quý, sống cuộc đời thành công và thánh thiện!

Em có bao giờ gặp chuyện buồn khiến em nghĩ rằng chắc sẽ không bao giờ tìm lại được niềm vui? Mọi người đều gặp chuyện buồn lúc nào đó, nhưng không ai ở lại mãi trong sự buồn bã. Có nhiều điều rất vui trên thế giới – thổi bóng kẹo cao su và tắm bể bóng, nước giải khát soda và bạn bè, món kem và những ngày nghỉ thứ bảy, chiếc giường ấm áp để ngủ và cuốn sách hay để đọc, những kiến thức về Thiên Chúa mà mình yêu mến. Lần tới, khi buồn, em hãy nghĩ đến những điều này và hãy vui lên!

* PEREGRINE LAZIOSI / PHÊRÔ CLAVER / PHÊRÔ MARIA CHANEL / PHÊRÔ NOLASCO / PHILIP THÀNH ZELL

91. PEREGRINE LAZIOSI

Vị thánh này không ở yên một chỗ được! Truyền thuyết nói rằng trong ba mươi năm ông không bao giờ ngồi xuống! Em có tưởng tượng ra điều đó không?

Khi còn trẻ, Peregrine tranh cãi với một linh mục đại diện cho giáo hoàng, và Peregrine đã đấm vào mặt ông ấy. Vị linh mục giơ má bên kia – như Đức Giêsu đã nói trong Kinh Thánh. Điều này khiến Peregrine ngạc nhiên đến nỗi ông quyết định thay đổi tính nóng nảy của mình.

Sau đó, Peregrine cũng trở thành linh mục và quyết định tiến đến sự hoàn thiện và không bao giờ ngồi! Ông nổi tiếng thánh thiện, về cách rao giảng và giúp đỡ những ai có nhu cầu. Peregrine sống đến tám mươi tuổi và như thế rõ ràng cứ đi đi luôn mãi thì thật là tốt cho ông!

Ngày hôm nay em hãy ngồi xuống! Hãy nhắm mắt lại và cứ xem như có tấm thảm bay đưa em đi khắp mọi nơi em muốn. (Em đã có tấm thảm bay rồi đó, nó là trí tưởng tượng của em!) Nào! Bây giờ thì em sẽ đi đâu – đến Rôma, Thánh Địa hay Sao Hỏa? Bất cứ nơi nào em đến thì đó cũng là nơi mà Thiên Chúa đã tạo dựng! Em không phải du hành một mình vì Thiên Chúa cùng đi với em. Đó là một ý tưởng vui phải không? Bất cứ là em đi bao xa hay đi cách nào thì Thiên Chúa luôn đồng hành với em – vì thế em sẽ không bao giờ cô đơn hay cô độc!

92. PHÊRÔ CLAVER

Đây là vị thánh được gọi là “nô lệ của các nô lệ”! Ông sinh ra ở Tây Ban Nha và tốt nghiệp Đại học Barcelona trước khi trở thành linh mục dòng Tên, đi làm việc tại Cartagena (bây giờ là Colombia), lúc bấy giờ là cảng trung tâm, hay “nhà phân phối” cho dịch vụ buôn bán nô lệ.

Điều kiện sống ở đấy thật khủng khiếp nhưng Phêrô luôn ở cùng với các nô lệ, cho họ ăn uống và thuốc thang, nỗ lực làm cho các cấp chính quyền đối xử với họ tử tế hơn. Một khi trở thành bạn của họ, ông dẫn theo một đoàn thông dịch viên có thể nói các thổ ngữ châu Phi và nói với các nô lệ về Kitô giáo. Mặc dù tình trạng tuyệt vọng của họ, ông cũng cố nói với họ rằng Thiên Chúa đã chết cho họ và yêu thương họ như con cái.

Người ta nói rằng trong suốt bốn mươi năm làm việc với các nô lệ, Phêrô đã rửa tội cho ba trăm ngàn người! Ông đã trở nên nguồn cảm hứng cho những người Công giáo Mỹ Phi.

Em có biết ai là nguồn cảm hứng không – một thầy cô giáo, một người bà con hay một người bạn? Ai là nguồn cảm hứng lớn nhất trong đời em? Có thể đó là một người mà em gặp mỗi ngày, hay có thể đó là người mà em chưa từng nói chuyện mà chỉ đọc về người ấy. Bất kỳ là ai, tại sao em không kể về người ấy! Nếu thấy bối rối khi tự mình đi nói lời cảm ơn thì tại sao em không viết thư nặc danh gởi cho “người gây cảm hứng” đặc biệt của riêng mình. Đó sẽ là bí mật của em – nhưng là lời cám ơn của em có thể gây “cảm hứng” cho người là nguồn cảm hứng cho em!

93. PHÊRÔ MARIA CHANEL

Có thể gọi vị thánh này là “học trò cưng” vì ông rất được thầy cô yêu mến ở trường. Nhưng ông cũng được bạn bè yêu quý nữa!
Phêrô là cậu bé chăn chiên lúc bảy tuổi, nhưng cha sở thấy cậu thông minh nên xin cha mẹ cậu cho cậu vào học trường giáo xứ. Phêrô là “học trò gương mẫu” ở đó và cả sau này khi ở chủng viện cũng thế!

Sau khi thụ phong linh mục, Phêrô xin đi truyền giáo và được sai đi cùng một nhóm nhỏ các nhà truyền giáo đến hòn đảo nhỏ ở Thái Bình Dương. Dân bản địa chào đón họ và chẳng bao lâu sau các linh mục học tiếng địa phương và bắt đầu rao giảng, nhiều dân bản xứ xin chịu phép rửa tội.

Điều này làm cho vị tù trưởng ghen tức và nghi ngờ các nhà truyền giáo. Nhưng khi đứa con trai của vị tù trưởng quyết định trở thành người Công giáo, sự ghen tức biến thành căm ghét, và vị tù trưởng sai một đoàn chiến binh đến tấn công các linh mục. Phêrô bị giết và trở thành tử đạo (một người chết vì đức tin), nhưng cái chết của ngài đã trở thành chiến thắng! Khi người dân nghe biết chuyện đã xảy ra, càng có nhiều người hơn nữa đến xin chịu phép rửa tội, và trong một vài tháng, cả đảo quốc đều theo Công giáo!

Trong lịch sử Giáo Hội – thậm chí những năm gần đây – nhiều người đã hiến dâng mạng sống mình để loan truyền lời Chúa. Một ít người đã có những hy sinh vĩ đại, thế nhưng các tử đạo là những tấm gương sáng cho em và tất cả các Kitô hữu, họ chỉ được đòi hỏi những hy sinh nho nhỏ thôi!

94. PHÊRÔ NOLASCO

Khi Phêrô được 15 tuổi, cậu đã thừa hưởng một gia tài! Ôi trời! Một cậu bé tuổi teen với một gia tài. Em đoán xem cậu ta làm gì với nó?

Vâng, vào thời đại của Phêrô – nước Pháp thế kỷ XIII – không có xe ôtô thể thao hay quần Jeans được thiết kế riêng – nhưng có nhiều đồ đẳng cấp mà cậu ta có thể mua bằng tiền của mình. Nhưng Phêrô đã quyết định dùng tiền để chuộc nô lệ – nghĩa là để mua lại những con người.

Có lẽ em từng nghe về những kẻ bắt cóc, họ bắt lấy ai đó làm con tin và đòi tiền chuộc – rất nhiều tiền – để trả tự do cho người bị bắt cóc. Vâng, vào thời Phêrô, phần lớn Tây Ban Nha bị người Moors cai trị, và em có thể gọi họ là những kẻ bắt cóc. Họ ghét các Kitô hữu nên bắt các Kitô hữu làm việc như các nô lệ!

Phêrô đã nghe điều này và thấy xót xa cho những nô lệ nên ông nảy sinh ý tưởng rằng có lẽ người Moors sẽ lấy tiền chuộc để đổi nô lệ. Phêrô đi từ nước Pháp đến Barcelona, nước Tây Ban Nha, và “thương lượng” với người Moors để chuộc các nô lệ Kitô hữu! Khi những người khác nghe biết điều này, nhiều người cũng đã quyết định giúp Phêrô, và họ gọi nhóm của mình là “Dòng Đức Bà Cứu Chuộc” (The Order of Our Lady of Ransom). Họ gây quỹ để chuộc lại các nô lệ Kitô hữu!

Nếu em đánh cá ngựa, trúng số hay bỗng nhiên hưởng một gia tài, em sẽ làm gì với nó? Dù em chỉ có một số tiền trợ cấp nhỏ song dường như đó là cả một gia tài đối với những người nghèo trong những phần đất khác trên thế giới. Em có biết rằng một số người đã cho một phần của cải mình có để giúp đỡ người khác không? Mỗi lần có một số tiền nào đó, em hãy cho một ít cho Giáo Hội hay làm việc bác ái. Xem như đóng thuế thập phân như trong Kinh Thánh có nói đến. Em nghĩ sao về điều này?

95. PHILIP THÀNH ZELL

Ông Trời có mắt! Ăn cắp của ai đó thật là điều không mấy tốt, nhưng tệ hơn hết là ăn cắp của một vị thánh! Có vài kẻ cắp đã thử làm điều đó và Thánh Philip đã bắt được họ!

Philip sống ẩn tu trong rừng, canh tác vườn tược và cầu nguyện suốt ngày. Dân làng quanh đấy biết ông là người thánh thiện nên thường đến thăm ông để xin giúp đỡ và lời khuyên. Ngay cả nhà vua cũng đến thăm và nói chuyện với Philip về sự thánh thiện. Nhưng một đêm kia, Philip có một loại khách khác đến thăm.

Mấy tên ăn cắp đến và lấy đi hai con bò mà Philip dùng để cày mảnh vườn. Suốt đêm ấy, bọn cắp đi lang thang với hai con bò, tìm lối ra khỏi khu rừng – nhưng vì một lý do nào đó, chúng không tìm thấy lối ra! Đến sáng, chúng thấy mình lại quay trở lại nơi chúng đến ban đầu – trước ngôi nhà nhỏ của Philip!

Mấy kẻ cắp kinh ngạc đến nỗi quỳ xuống và cầu xin thánh nhân tha thứ. Hẳn nhiên, chẳng những Philip tha thứ nhưng còn mời bọn chúng vào nhà, cho ăn uống và đối xử như những vị khách, rồi cho chúng đi về.

Chắc em đoán rằng những kẻ cắp này đã học được một bài học và không bao giờ ăn cắp của ai nữa?

Có ai ăn cắp vật gì của em chưa? Thật kinh khủng khi ăn cắp thứ gì của ai đó. Hôm nay, thật tốt để em “ăn cắp” một ít thời gian thinh lặng để ở một mình. Đừng nghe nhạc, xem truyền hình, nghe radio hoặc tiếng nói của một ai đó. Chỉ thinh lặng, ở một mình nơi nào đó và lắng nghe. Có thể em nghe tiếng gió thổi hay chim hót. Em có thể tưởng tượng mình giống như Philip sống trong khu rừng, lánh xa mọi tiếng ồn ào của ngôi làng gần nhất, một mình với gió, chim và Thiên Chúa. Có lẽ em sẽ nghe được tiếng Chúa nói khẽ, trong đầu và tâm hồn em, Ngài nói với chính em.

* PHILIPPINE DUCHESNE / RAYMUNDO PENYAFORT / RICHARD WYCHE / RITA CASCIA / RÔBERTÔ BELLAMINÔ

96. PHILIPPINE DUCHESNE

Vị thánh này đã đi từ cuộc sống nhàn hạ ở Pháp sang một căn chòi gỗ ở Mỹ! Bà bị say sóng khi băng qua đại dương, kéo một con bò qua con sông đóng băng, sống với thổ dân và trở thành người tiên phong trong lãnh vực giáo dục!

Philippine đã có một cuộc sống tươi đẹp với gia đình ở Pháp, nhưng bà muốn thành nhà truyền giáo, đặc biệt là muốn dạy dỗ các trẻ em thổ dân Mỹ! Vì thế bà trở thành nữ tu, rời gia đình để đến Mỹ châu. Trên hành trình dài vượt biển, bà bị say sóng và nhớ nhà – nhưng không bao giờ chán nản!

Khi đến Mỹ, Philippine đối mặt với nhiều khó khăn – sống trong căn chòi gỗ nơi tuyết lạnh thổi qua những vết nứt trên tường, cố viết thư trong một căn phòng lạnh đến nỗi mực viết bị đóng băng, và tìm nguồn cung cấp dinh dưỡng cho các nữ tu và học trò của mình dù điều đó có nghĩa là phải kéo lê con bò sữa trên băng khi nó không muốn đi qua con sông để về tu viện của bà!

Mẹ Duchesne trở thành nhà giáo dục tiên phong khi mở trường miễn phí đầu tiên ở miền Tây sông Mississippi. Sau đó, bà và các nữ tu Thánh Tâm đã mở thêm nhiều trường học ở những thị trấn biên giới của nước Mỹ - các tu viện và trường học của họ vẫn phát triển mãi đến ngày nay.

Mẹ Duchesne đã nhiều năm chiến đấu chống lại những điều bất khả thể, đi đầu trong lãnh vực giáo dục tại Mỹ, nhưng cuối cùng bà cũng đã có thể chuyển giao công việc của mình cho người khác. Khi đã 71 tuổi, bà mơ ước thực hiện giấc mơ của mình là làm việc với các thổ dân Mỹ. Ở độ tuổi của bà, học ngôn ngữ là một vấn đề khó khăn, nhưng các thổ dân đã hiểu được ngôn ngữ tình yêu và dâng hiến của bà. Họ tôn vinh và kính trọng bà, gọi bà là “người đàn bà luôn cầu nguyện” của mình.

Em có muốn làm người tiên phong không? Ngày nay, có nhiều lĩnh vực mà người ta muốn đi tiên phong – y học, kỹ thuật, máy tính, không gian! Thế giới luôn chờ đợi để chào đón người có những ý tưởng mới, giải pháp mới, khả năng mới. Hôm nay, em hãy mơ mình là một người tiên phong – rồi lên kế hoạch để thực hiện nó! (Và nếu em biết ai có giấc mơ như vậy mà chưa bao giờ thực hiện nó thì hãy nói với người ấy rằng không bao giờ là quá trễ! Mẹ Duchesne phải chờ đến khi 71 tuổi nhưng bà cũng đã đạt được giấc mơ của mình!)

97. RAYMUNDO PENYAFORT

Em có biết ai 65 tuổi không? Đó là độ tuổi mà nhiều người quyết định từ bỏ công việc để “về hưu”. Và đó là điều mà Thánh Raymundo đã làm. Nhưng rồi ngài đã sống và làm việc hơn 35 năm nữa, cho đến khi được 100 tuổi!

Raymundo đã có một đời sống trẻ trung yêu đời ở Tây Ban Nha, rồi làm việc cho Đức giáo hoàng ở Rôma và rồi quay trở lại Tây Ban Nha. Khi được 63 tuổi, ngài sống chậm lại, vui hưởng đời sống âm thầm, nhưng rồi được tuyển chọn làm bề trên một Dòng các linh mục. Ngài không muốn công việc này nhưng đã lãnh nhận nó và làm việc rất hăng hái, có nhiều thay đổi trong hai năm tiếp theo. Khi được 65 tuổi, ngài xin từ chức vì tuổi “già”.

Ít ai biết rằng ngài còn làm việc cho Giáo Hội trong 35 năm nữa, chủ yếu là với người Moors ở Tây Ban Nha, cố gắng cải đạo họ về với Kitô giáo. Vào năm 1356 (khi ngài được 81 tuổi), ngài viết rằng đã có khoảng mười ngàn người Moors được rửa tội. Không tệ đối với một người đã về hưu từ nhiều năm trước vì “tuổi già”!

Em có muốn làm việc cho đến khi được 100 tuổi không? Em có thích sống đến 100 tuổi không? Tốt thôi! Nhưng điều quan trọng nhất không phải là sống lâu mà là sống như thế nào! Thánh Raymundo đã sử dụng từng năm sống của mình cách khôn ngoan. Và em cũng có thể làm như vậy. Ngày hôm nay, em hãy làm điều tốt nhất. Hãy học một điều gì đó mới mẻ. Hãy làm một điều gì đó vui vẻ. Hãy làm một điều gì đó tốt đẹp trong ngày hôm nay. Hãy đọc một kinh. Hãy sống mọi ngày theo cách này – và em sẽ có một cuộc sống hạnh phúc!

98. RICHARD WYCHE

Có một bài hát rất nổi tiếng ở sân khấu Broadway gồm các ca từ “Day by day … day by day … Oh dear Lord three things I pray … to know thee more clearly… love thee more dearly … follow thee more nearly … day by day” (ngày qua ngày, ngày qua ngày, Ôi lạy Chúa mến yêu, con cầu xin ba việc, là biết Ngài rõ ràng hơn, yêu Ngài thắm thiết hơn, theo Ngài gần hơn, ngày qua ngày). Em có biết bài hát đó không? Em có biết những lời ấy lấy từ câu kinh của vị thánh này không?

Richard là Giám mục thành Chichester ở nước Anh dưới triều đại vua Henry III. Ngài nổi tiếng là vị giám mục tốt, rất bác ái đối với người nghèo – và hẳn ngài rất ngạc nhiên khi biết rằng những lời của mình một ngày kia được hát trên truyền thanh và truyền hình khắp thế giới!

Hôm nay thật là ngày tốt để em hát một bài hát. Tại sao? Bởi vì ngày hôm nay cũng là ngày tốt để hát một bài hát, để vui thôi (chứ đừng bao giờ hát karaoke làm phiền lòng hàng xóm!), và làm hết sức mình để biết, yêu thương và theo Chúa!

99. RITA CASCIA

Bà thánh này có ông chồng hay chửi bới và tính tình bạo lực đến độ là nỗi kinh hoàng của cả làng cả xóm! Trong nhiều năm, Rita đã kiên nhẫn và dịu dàng với ông, cầu nguyện một ngày nào đó ông sẽ thay đổi – và cuối cùng ông thay đổi thiệt! Lương tâm ông bắt đầu thức tỉnh và nhận ra mình như thế nào, và rồi ân hận về cách cư xử của mình. Ông đến với Rita và xin bà tha thứ vì tất cả những nỗi muộn phiền ông đã gây cho bà.

Rita rất mừng và nghĩ rằng bây giờ họ có thể sống hạnh phúc hơn. Nhưng chỉ sau đó một thời gian ngắn, chồng bà bị giết hại (có lẽ là do một người mà vì tính khí bạo lực của ông biến thành kẻ thù). Sau đó, Rita vào một tu viện, tiếp tục tử tế dịu dàng với các chị em ở đó và với những người mà họ giúp đỡ - giống như bà đã đối xử với những vấn đề của chồng bà.

Ngày nay, có những bác sĩ và các trung tâm điều trị để giúp đỡ những người bạo lực với người khác, nhưng vào thời của Rita thì sự giúp đỡ duy nhất là cầu nguyện. Nếu ai đó lạm dụng em, hãy cầu nguyện cho người đó, nhưng em cũng nên nói cho những người mà em tin tưởng biết – chẳng hạn như người bà con, thầy cô, các nhà tư vấn, hay các cha sở - và xin giúp đỡ. Ngày hôm nay, em hãy đọc một kinh cho tất cả những người trên thế giới bị đối xử tệ hay bị lạm dụng. 

100. RÔBERTÔ BELLAMINÔ

Em có muốn cao 2m10 như cầu thủ bóng rổ để có thể nhìn thấy trên đầu những người khác không? Vâng, có thể đây cũng là điều mà vị thánh này đã làm – vì Robertô quá lùn nên phải đứng trên ghế khi nói để người ta có thể thấy và nghe ông!

Dù có tướng tá ngắn nhưng Robertô lại cao trong thành tựu đến nỗi cần phải có cả một cuốn sách để nói về chúng! Và đây là danh sách ngắn những điều ông đã làm: Viết hai cuốn giáo lý (những cuốn sách để dạy về đạo Công giáo), làm giáo sư đại học, hồng y và thủ thư thư viện Vatican, bạn của nhà thiên văn Galilêô. Ông viết quá nhiều sách thần học và học thuật đến nỗi các kẻ thù của ông đoán rằng phải có cả một nhóm người học thức cộng tác để viết ra chúng bởi vì thật khó mà tin được rằng chúng là công trình của một người – mà lại là người lùn nữa chứ!

Khi em cảm thấy mình “ngắn” – tức thiếu về tiền bạc, sức mạnh đầu óc, khả năng lực sĩ, hay đơn giản chỉ là thiếu chiều cao – hãy nhớ đến Robertô Bellaminô. Có ai đó nói rằng: “good things come in small packages” (những điều chất lượng đến trong những gói nhỏ hay “nhỏ mà có võ”), và đó hẳn là sự thật đối với vị thánh này. Vì thế, hãy nhớ rằng, dù lùn đến đâu, cao thế nào, gầy còm, thông minh, tướng thể thao, bất cứ như thế nào, em vẫn là đặc biệt vì Thiên Chúa tạo nên em và yêu thương em! Hãy nghĩ cao lên, tốt hơn lên, hãy nghĩ đến Thiên Chúa! Với lời cầu nguyện và làm việc, em có thể đạt được những tầm rất cao!

* RÔCÔ / ROSA LIMA / ROSA VITERBO / SABAS / SALÔMÊ

101. RÔCÔ

Vào thế kỷ XV, Rôcô đã là vị thánh yêu thích ở Pháp và Ý, nhưng vì một vài lý do, không ai viết tiểu sử của ngài thành ra chúng ta không biết nhiều ngài. Ta chỉ biết rằng ngài rất tử tế và tốt bụng. Ngài nuôi dưỡng nhiều bệnh nhân khi một cơn dịch bệnh lan mạnh ở Ý – và đã có thể chữa lành nhiều người trong họ.

Truyền thuyết kể rằng một ngày kia chính ngài cũng bị lây bệnh, và vì không muốn ai chăm sóc mình, ngài tự lết đến khu rừng để chết. Nhưng một con chó đã tìm thấy và đem thức ăn đến cho ngài! Và rồi người chủ của con chó đã tìm thấy ngài và chăm sóc cho ngài. Rôcô hồi phục và trở lại với công việc nuôi dưỡng chăm sóc nhiều người, chữa lành được nhiều bệnh nhân và thậm chí những con bò bệnh của họ nữa! Vì thế ngài là bổn mạng của bò và của những người bị bệnh truyền nhiễm.

Em đã từng bị bệnh “truyền nhiễm” chưa – giống như bệnh sởi, thủy đậu hay thậm chí là cảm cúm? Chẳng vui vẻ gì dù chỉ mắc bệnh nhẹ, vì thế thật là đáng sợ khi bị bệnh nặng. Dù dịch bệnh không còn nhưng vẫn có nhiều người mắc bệnh nặng trong các bệnh viện. Tại sao em không rủ bạn bè làm những tấm thiệp “chúc sức khỏe” thủ công rồi bỏ vào phong bì lớn gởi đến các bệnh viện địa phương? Hãy viết lên đó câu này: “Xin gởi những tấm thiệp này đến các bệnh nhân”. Chắc họ sẽ ngạc nhiên đấy phải không?

102. ROSA LIMA

Với cái tên như thế, em có thể đoán được vị thánh này là bổn mạng của các nhà làm vườn và trồng hoa vì Rosa có nghĩa là “hoa hồng”? Không chỉ thế, Rosa thích công việc làm vườn và thậm chí sống trong một khu vườn!

Sinh ra tại Lima, nước Pêru, Rosa là một thiếu nữ trẻ đẹp - nhưng cô không thích những ai chỉ chú ý đến vẻ đẹp của cô. Khi cha mẹ cô mất hết tiền bạc vì một cuộc đầu tư mỏ thất bại, Rosa muốn giúp đỡ họ. Cô trồng hoa màu và kiếm tiền giúp họ bằng cách làm vườn suốt cả ban ngày và khâu vá ban đêm. Cha mẹ muốn cô kết hôn nhưng Rosa từ chối.

Cô vẫn tiếp tục làm việc nhưng rời khỏi nhà để sống trong căn chòi nhỏ ở trong vườn. Ở đó, cô dùng thời gian rảnh rỗi để cầu nguyện. Nhiều người chế nhạo nhưng cũng có nhiều người đến để xin cô cầu nguyện cho họ - và nhiều người trong họ đã được nhận lời cầu.

Em có từng cầu nguyện cho ai khác không? Thật tốt để cầu nguyện cho chính mình – khi em cần sự giúp đỡ, sợ hãi, thấy ân hận vì mình đã làm điều xấu hay muốn cám ơn vì một ân huệ đặc biệt. Nhưng ngày hôm nay, tại sao em không cầu nguyện cho một ai khác? Hãy nghĩ đến điều đó ngay bây giờ. Em có biết ai cần giúp đỡ không? Hãy cầu một kinh – hay nhiều kinh – cho người ấy ngay ngày hôm nay.

103. ROSA VITERBO

Có bao giờ em nghĩ rằng một cô gái 12 tuổi đi rao giảng trên đường phố? Đó là điều mà Thánh Rosa đã làm.

Khi chỉ mới 8 tuổi, Rosa mơ thấy mình gặp được Đức Mẹ Maria, và Đức Maria bảo rằng em hãy nêu gương sáng cho hàng xóm láng giềng, bằng lời nói và việc làm. Rosa đã làm gương bằng cách trở nên một cô gái nhỏ rất tốt và siêng năng cầu nguyện. Nhưng khi được khoảng 12 tuổi thì một vị hoàng đế đã chiếm lấy thành Viterbo, nơi Rosa và gia đình em sinh sống – và ông hoàng đế này là người chống đối giáo hoàng. Dân thành Viterbo sợ hoàng đế nên không dám lên tiếng ủng hộ đức giáo hoàng. Vì thế, Rosa bắt đầu rao giảng trên các đường phố, nói với với dân thành rằng họ nên chống lại hoàng đế và ủng hộ giáo hoàng.

Đám đông bắt đầu tụ lại trước nhà để nghe Rosa, và Rosa tiếp tục rao giảng trong hai năm. Lúc ấy, bạn bè của hoàng đế nổi giận, họ cố gây áp lực cho vị thẩm phán của thành phố kết án tử cho Rosa vì em là mối nguy cho quốc gia! Vị thẩm phán là người công chính nên đã từ chối điều đó, nhưng ông đã trục xuất Rosa và gia đình ra khỏi thành Viterbo. Họ phải rời khỏi nhà và đi đến một thành phố khác! Nhưng một vài năm sau thì vị hoàng đế ấy chết, và họ đã có thể trở về nhà – nơi Rosa tiếp tục sống đời sống tốt lành và thánh thiện, “nêu gương sáng cho hàng xóm láng giềng bằng lời nói và việc làm”

Em có là tấm gương sáng cho hàng xóm không? Em biết rằng không cần phải đi khắp các đường phố rao giảng để làm điều đó! Em có thể làm những việc rất nhỏ nhặt để giúp đỡ hàng xóm – xách giúp một gói đồ cho một bà mẹ, đọc sách cho các em nhỏ chưa biết đọc, làm việc vặt giúp đỡ người già, lễ phép và đi thăm viếng những người sống cô đơn, giúp làm việc nhà hay sân vườn. Có rất nhiều cách nho nhỏ để làm gương tốt, chỉ cần hành động theo điều mà em nghĩ rằng Đức Giêsu mong muốn một Kitô hữu hành động. Em có thể làm một gương tốt cho hàng xóm ngay ngày hôm nay chứ?

104. SABAS

Vị thánh này không phải là một đứa trẻ hạnh phúc.

Bố em là một sĩ quan quân đội được sai đi phục vụ lâu dài ở Ai Cập nên Sabas được gởi đến sống với chú và thím. Nhưng mà bà thím ác đến nỗi em phải chạy trốn khi mới có 8 tuổi và sống với một ông chú khác. Hai ông chú bắt đầu chống nhau và kiện tụng để dành quyền bảo trợ Sabas vì cả hai đều thèm muốn tiền của bố em. Thế nên Sabas lại chạy trốn lần nữa - nhưng lần này em chạy đến một tu viện! Em đã ở đó trong vòng 10 năm.

Sau đó Sabas đến Giêrusalem và sống trong một tu viện khác. Cuối cùng, anh đã thành lập một tu viện theo kiểu “laura” – nghĩa là một kiểu tu viện mà mỗi tu sĩ sống một mình trong một căn chòi nhỏ hay một hang động suốt cả tuần, chỉ hội tụ lại với các tu sĩ khác vào ngày thứ Bảy hay Chúa Nhật để cầu nguyện. Nhiều người đến từ các quốc gia khác nhau để gia nhập tu viện này nằm ở miền đất hoang vu giữa Giêrusalem và Biển Chết. Tu viện này rất nổi tiếng và nhiều vị thánh đã sống ở đây tại những thời điểm khác nhau. Thật sự, hơn 1.400 năm sau cái chết của Thánh Sabas, ngày nay vẫn còn có các tu sĩ sống tại “laura” mà ngài đã thành lập này!

Em có thích sống ở một nơi hoang vắng không? Hoặc muốn sống ở một thành phố rộn ràng xô bồ? Vấn đề không phải em sống ở đâu mà sống như thế nào! Bất kỳ ở đâu em cũng có thể sống một đời sống hạnh phúc và cầu nguyện. Vì thế, nếu em chưa bắt đầu thì hãy bắt đầu ngay ngày hôm nay – sống cuộc sống vui tươi và cầu nguyện!

105. SALÔMÊ

Chúng ta không biết nhiều về vị thánh này song những gì ta biết thì cũng đã đủ!

Salômê là một trong những phụ nữ được Kinh Thánh đề cập đến. Bà là vợ của ông Dêbêđê và là mẹ của hai tông đồ là Giacôbê và Gioan! Không chỉ có thế, Salômê là một trong các phụ nữ đã đi theo Đức Giêsu và cùng với Đức Maria đứng gần cây thập giá lúc Chúa Giêsu chết.

Tất cả những điều đó đã làm cho bà Salômê trở nên một phụ nữ rất đặc biệt! Những điều ít ỏi mà chúng ta biết đã nói lên rằng bà là một người vợ và một người mẹ tốt, một người trung thành đi theo Đức Giêsu. Ta đâu cần biết thêm gì nữa đâu!

Nhiều vị thánh đã có những hành động can trường, can đảm chịu tra tấn, chiến đấu trong hàng ngũ thập tự chinh, xây những tu viện và nhà thờ. Nhưng đây chỉ là một phụ nữ hết mình làm người tốt. Bà phải là một người mẹ tốt thì hai con trai bà mới được Đức Giêsu chọn làm tông đồ. Bà phải là một phụ nữ can đảm thì mới không chạy trốn khi Đức Giêsu bị đóng đinh, ở với Ngài bên mẹ Ngài vào cái ngày kinh khủng ấy. Như em thấy đó – một vị thánh có thể là một người bình thường yêu Chúa và chứng tỏ điều ấy qua đời sống bình thường của từng ngày sống. Đó là cách mà một trong những bạn bè hay thân thuộc của em có thể làm thánh. Đó cũng là cách mà em có thể làm thánh nữa

* SCHOLASTICA / SENNEN VÀ ABDON / SEVERINUS BOETHIUS / STANISLAÔ KOSTKA / TARASIUS

106. SCHOLASTICA

Nếu em đã đọc về Thánh Bênêđictô trong cuốn sách này thì hẳn đã biết rằng Thánh Scholastica có một người anh nổi tiếng. Nhưng Thánh Bênêđictô cũng có một cô em nổi tiếng nữa!

Như Thánh Bênêđictô thành lập một dòng nam thì Scholastica cũng thành lập một dòng nữ. Nhà dòng của bà là một trong những dòng tu đầu tiên được thành lập cho các phụ nữ ở Âu châu, và nó tạo nên sự khác biệt trong cách sống của nhiều phụ nữ.

Các phụ nữ thời ấy không có nhiều lựa chọn trong cuộc sống. Nếu một cô gái sinh ra trong một gia đình nghèo khó, cô trở thành tôi tớ và cưới một anh thanh niên nghèo, chật vật nuôi sống gia đình, chẳng mấy “triển vọng” gì tốt hơn cho đời sống của chính cô và con cái. Nếu được sinh ra trong gia đình hoàng tộc, cô sống đời vương giả mà thường là được quy định với những luật lệ phải tuân theo trong triều đình hay lâu đài. Nhiều cô phải kết hôn với những người thậm chí không quen biết vì hôn nhân sẽ tạo nên “sự liên kết hoàng tộc” cho hai gia đình.

Chỉ một ít phụ nữ biết đọc biết viết, và rất ít cơ hội cho các phụ nữ sống một đời hữu ích ở bên ngoài lâu đài, triều đình hay ở nhà. Tu viện của Scholastica – và những tu viện được mở trong thời gian sau này – đã hiến tặng cho các phụ nữ một nơi chốn để được giáo dục, có bầu bạn, một đời sống cầu nguyện và làm việc, một thay thế đáng quý so với đời sống hôn nhân (đặc biệt là hôn nhân “được sắp đặt” với người xa lạ!).

Em có từng quen biết ai đi tu không? Em có từng có giáo viên là một nữ tu? Suốt thời gian qua, từ những ngày đầu tiên của Giáo Hội, nhiều phụ nữ đã gia nhập các dòng tu. Một vài người trong họ đã trở nên nổi tiếng là người đứng đầu các bệnh viện, trường học, cô nhi viện, các học viện và những công việc quan trọng khác. Nhiều người không nổi tiếng nhưng đã sống một cuộc đời vui tươi và hữu ích. Giáo Hội nợ lòng tri ân đối với những phụ nữ thánh thiện này đã hiến đời sống mình để phục vụ Giáo Hội. Ngày nay, Giáo Hội cần nhiều phụ nữ trẻ giống như thế. Hôm nay, em hãy đọc một kinh để có được nhiều cô gái trẻ trong thế hệ của em lựa chọn phục vụ Thiên Chúa bằng cách đi tu hay thậm chí thành lập một dòng tu mới như Thánh Scholastica!

107. SENNEN VÀ ABDON

Cái gì vậy? Em chưa bao giờ nghe tên các vị thánh này phải không – những cái tên nghe như nước súc miệng! Vâng hai vị thánh này là những quý tộc người Ba Tư đã bị bắt vì “tội ác” khủng khiếp là làm người Kitô hữu! Họ bị mang gông và dẫn đến Rôma, nơi họ được truyền là hãy từ bỏ cái Kitô giáo “ngu xuẩn” và tôn thờ những thần thánh của người Rôma. Điều ấy thật quá dễ.

Vì là những quý tộc nên Sennen và Abdon có lẽ có nhiều tiền của để sống cuộc đời tốt đẹp – và muốn duy trì đời sống ấy. Thế nên tất cả những gì họ phải làm là đồng tình với người Rôma và nói rằng Kitô giáo là một tôn giáo không tốt và họ không muốn làm Kitô hữu nữa. Đó là điều khôn ngoan phải làm, đúng hay sai?

Sennen và Abdon hết lòng tin vào Đức Giêsu Kitô và tôn giáo của Ngài. Họ không thể phản bội đức tin của mình. Vì thế những người Rôma đã làm gì? Họ nổi điên lên và sai binh lính đem hai nhà quý tộc can trường này giết đi. Sennen và Abdon thà chịu chết hơn là từ bỏ đức tin Kitô giáo của mình. Em có nghĩ đến bất kỳ một người bạn Kitô giáo nào can trường như thế không? Còn em thì sao?

Có lẽ em không bao giờ bị “mang gông” nhưng có rất nhiều lúc người ta nói với em rằng Kitô giáo là một tôn giáo “ngu xuẩn” và em nên từ bỏ nó. Thậm chí họ còn bảo rằng Thiên Chúa không yêu em (đây mới là điều ngu xuẩn bởi vì Thiên Chúa luôn yêu em). Họ bảo rằng em nên làm công việc của mình hơn là công việc của tôn giáo đó. Em sẽ nói với họ như thế nào?

108. SEVERINUS BOETHIUS

Có lẽ em chưa từng nghe đến Boethius, nhưng thời xưa ở Rôma đã có rất nhiều người nghe biết và thán phục ngài.

Boethius sinh ra trong một gia đình danh giá vào một thời gian sôi động và nguy hiểm trong lịch sử. Cha ngài là một quan chức và trong nhà lúc nào cũng có khách đến nói chuyện về những gì đang xảy ra trên thế giới vào thời ấy – thời suy sụp của đế quốc Rôma, bắt đầu những quốc gia mới, những tin tức và nhãn quan về thành phố của mình. Boethius thích đọc, nghiên cứu và nghe tất cả những cuộc bàn luận này.

Boethius muốn chia sẻ tất cả những kiến thức của mình với người khác, nhưng vào thời ấy thì ít người biết đọc, và con số ít người biết đọc ấy thì chỉ có thể đọc được tiếng Latinh. Boethius học tiếng Hy Lạp để có thể đọc tất cả những ý tưởng của các triết gia Hy Lạp như Aristốt và Platon. Rồi thì Boethius dịch sang tiếng Latinh tất cả gì mình biết để người dân Rôma có thể biết như mình. Họ mê say tất cả những ý tưởng mới về chính trị, âm nhạc, khoa học, toán học, triết học và thần học. Và họ biết ơn Boethius vì công việc của ông.

Trong hàng trăm năm, không có bản dịch Latinh nào từ tiếng Hy Lạp ngoại trừ các tác phẩm của Boethius! Boethius đặc biệt thích học biết về Thiên Chúa, và ông đã viết một cuốn sách về Chúa Ba Ngôi mà ngày nay vẫn còn một số người đọc. Một cuốn sách khác của ông là “sách bán chạy nhất” trong hàng ngàn năm và được hầu hết những người trí thức ở Âu châu đọc trong rất nhiều năm. Boethius chỉ mới 44 tuổi khi qua đời, nhưng trong một thời gian ngắn như vậy ông đã có những thành tựu vĩ đại. Đời sống tốt đẹp và sách của ông đã gây cảm hứng cho hàng ngàn người trong hàng trăm năm, và ông vẫn còn là nguồn cảm hứng cho ngày nay, hơn 1.500 năm sau cái chết của ông.

Ngày nay, máy tính, truyền hình và truyền thông trực tuyến giúp ta dễ dàng biết được mọi người đang làm gì và nghĩ gì trên khắp thế giới. Tuy nhiên, thường là chúng ta chỉ nghe những tin xấu thay vì nghe những điều mà Boethius đã viết – những ý tưởng mới trong giáo dục, triết học và tôn giáo. Hãy nhìn vào báo chí hiện nay để xem có mấy câu chuyện tốt mà em có thể tìm thấy. Rồi thì em hãy tìm xem có bao nhiêu chuyện nói về Thiên Chúa!

109. STANISLAÔ KOSTKA

Em có một người anh hay nhạo và chọc em không? Hay có em có người bạn nào có người anh như thế? Vâng, đó là kiểu người anh của Thánh Stanislaô!

Stanislaô và người anh Phaolô của mình là con của một nghị viên nước Ba Lan, có gia sư riêng để dạy hai anh em ở nhà cho đến khi Phaolô được 16 tuổi và Stanislaô 14 tuổi. Người cha gởi họ sang học một trường ở Vienna.

Phaolô chỉ muốn sống hưởng thụ còn Stanislaô thì nghiêm túc và cần mẫn, muốn trở thành một linh mục. Phaolô không hiểu nên chế giễu và đùa cợt Stanislaô trong hai năm. Stanislaô không thể xin cha mình giúp đỡ bởi vì ông cũng không muốn cho mình làm linh mục.

Cuối cùng, Stanislaô quyết định đi bộ đến Rôma – một hành trình dài 350 dặm (khoảng hơn 560 cây số) – và xin gia nhập vào một chủng viện dòng Tên ở đấy. Chẳng bao lâu sau, Phaolô thấy em mình biến mất và tìm kiếm để đưa em trở về, song anh không tìm thấy. Stanislaô tìm đến một ngôi trường nơi một linh mục nhận anh vào và giúp anh tiếp tục hành trình đi đến Rôma.

Stanislaô được các cha dòng Tên chấp nhận ở Rôma và anh rất vui khi ở đó, nhưng cái nóng mùa hè ở Rôma hành hạ anh, khiến anh luôn bị ngất và bệnh. Khi cha anh nghe tin Stanislaô đã vào dòng Tên thay vì nghe lời khuyên của ông, ông nổi giận và sai Phaolô đem em mình trở về nhà. Nhưng những chuyến du hành rất chậm vào thời đó, khi Phaolô đến Rôma, tức giận và sẵn sàng chế nhạo em mình nhiều hơn nữa cũng như buộc em phải về nhà thì đã quá trễ. Người em đã qua đời. Cú sốc quá kinh khủng, Phaolô bắt đầu suy nghĩ lại cách hành động của mình. Anh hối hận vì cách mình cư xử với Stanislaô, vì tất cả những chế nhạo đối với em. Phaolô không bao giờ vượt qua cú sốc. Anh đã trải qua phần đời còn lại với mong muốn sống tử tế hơn với người em của mình.

Trước sự ngạc nhiên của mọi người, khi Phaolô được 60 tuổi, ông quyết định gia nhập dòng Tên – y như người em của mình đã làm từ nhiều năm trước đó.

Em từng có hành động ác ý nào với ai đó trong gia đình không? Vâng, đừng cảm thấy quá tệ - ngay cả các thánh cũng có người thân chế giễu họ. Nhưng điều ấy không có nghĩa là em cứ tiếp tục làm điều ấy! Thật quá dễ khi đùa nhạo người khác nhưng không mấy vui khi người khác nhạo mình! Vì thế, lần tới khi em bắt đầu nói những điều ác ý với người khác thì hãy nghĩ mình sẽ cảm thấy như thế nào nếu người khác nói những điều ấy với mình. Hãy nghĩ về Thánh Stanislaô và rồi đừng chế nhạo nữa – làm ơn đi!

110. TARASIUS

Vị thánh này là thư ký cho một cậu bé 10 tuổi! Và cậu bé 10 tuổi đó là một hoàng đế!

Tarasius làm việc cho hoàng đế Constantinô VI, khi bà mẹ ông là hoàng hậu Irene mới là nhà cai trị thật sự. Sau này, bà bổ nhiệm Tarasius làm Thượng phụ giáo chủ thành Constantinople. Đây là một vị trí rất cao trong Giáo Hội, nhưng vào thời ấy thì Giáo Hội ở Constantinople bị “tách biệt” ra khỏi giáo hoàng vì những cuộc chiến giữa các hoàng đế.

Tarasius chấp nhận vị trí mới chỉ với điều kiện là ngài được phép triệu tập công đồng và ổn định những khác biệt để phần lãnh thổ này có thể ‘hòa giải” lại với giáo hoàng.

Sau khi tổ chức công đồng thành công, Tarasius tiếp tục làm việc hăng say và cầu nguyện rất nhiều để cải cách hàng giáo sĩ và người dân. Ngài rất bác ái và thăm viếng từng “gia đình nghèo” và bệnh viện trong thành để chắc chắn rằng không người nghèo nào bị bỏ sót.

Tarasius đi từ chức vụ thư ký cho người đứng đầu một quốc gia đến lãnh đạo Giáo Hội của quốc gia ấy! Và ngài đã làm tốt cả hai công việc.

Em có biết thư ký là loại công việc gì không? Các thư ký có những công việc quan trọng. Họ ghi chú những cuộc họp, sắp xếp những bổ nhiệm, đánh máy những bức thư do “ông chủ” đọc, điều hành những công việc lớn nhỏ để văn phòng hoạt động trơn tru. Em có thích làm thư ký không? Tại sao em không làm thư ký cho nhà mình trong một ngày và đảm đương nhiều công việc hết sức có thể để nó hoạt động trơn tru!

* VÊRÔNICA / VINHSƠN PHAOLÔ / ZÊNÔ / ZEPHYRINÔ (GIÁO HOÀNG) / ZITA

111. VÊRÔNICA

Không ai biết nhiều về vị thánh này song điều duy nhất mà chúng ta biết đó là tên bà không phải là Vêrônica!

Chuyện là như thế này. Giả sử em thấy một phạm nhân trên đường phố có đám đông theo sau và tội nhân trông buồn bã thật sự, khuôn mặt vã đầy mồ hôi và máu, rồi một phụ nữ nhảy ra khỏi đám đông, đưa cho người đàn ông tội nghiệp tấm khăn để lau mặt. Vâng, đó là điều đã xảy ra khi Đức Giêsu bị đóng đinh.

Đức Giêsu đã bị kết án tử hình và đang mang vác thập giá đến nơi mình sẽ chịu đóng đinh. Hẳn nhiên là Ngài rất buồn và đó là một ngày nóng đến nỗi Ngài đang tháo mồ hôi và đầu đầy máu vì những chiếc gai nhọn của mũ triều thiên. Nhưng thay vì giúp đỡ Ngài, đám đông la lối và chế giễu Ngài. Rồi thì người đàn bà duy nhất này thấy xót thương Ngài nên đã lấy tấm khăn trùm đầu của mình và chạy ra đưa cho Đức Giêsu để Ngài lau mặt. Khi Ngài trả lại tấm khăn, bà thấy khuôn mặt của Đức Giêsu trên đó.

Thật sự không ai biết người đàn bà này là ai hay điều gì sẽ xảy ra cho bà sau đó, nhưng truyền thuyết nói rằng bà đã trở thành Kitô hữu, và trước khi chết, bà đã đưa tấm khăn trùm này cho Giáo hoàng Clêmentê. Còn tại sao ta gọi bà là Vêrônica ư? Vâng, đó là tiếng Latinh có nghĩa là “hình ảnh thật” - và vì Đức Giêsu đã để lại hình ảnh khuôn mặt thật của mình trên khăn trùm của bà, nên bà được gọi là Vêrônica!

Em nghĩ Đức Giêsu thật sự trông giống như thế nào? Hãy nhắm mắt lại và thử tưởng tượng Ngài trông như thế nào vào ngày gặp bà Vêrônica. Rồi thì hãy thử tưởng tượng Ngài trông như thế nào khi gặp em ngày hôm nay!

112. VINHSƠN PHAOLÔ

Bị cướp biển bắt, được sai làm nhiệm vụ đặc biệt ở Pháp, được chỉ định làm tuyên úy cho hoàng hậu – đó là vài chuyện phiêu lưu của Vinhsơn Phaolô, một vị thánh có đời sống thú vị, đôi khi khá nguy hiểm.

Khi còn trẻ, Vinhsơn bị cướp biển bắt cóc và bán làm nô lệ. Hai năm sau, ngài trốn thoát và quay về Rôma để tiếp tục việc học. Nhưng rồi được sai làm nhiệm vụ bí mật rồi sau đó làm tuyên úy cho hoàng hậu. Ngài cũng làm gia sư trong nhà một vị bá tước chỉ huy các đội thuyền buồm – những con thuyền dài được trang bị nhiều mái chèo do các nô lệ chèo. Hẳn nhiên, các nô lệ sống rất buồn bã và Vinhsơn bắt đầu thi hành các bí tích cho họ.

Dù là bạn bè với hoàng gia và giới quý tộc, cuộc đời của Vinhsơn dành để phục vụ các nô lệ, nông dân và người nghèo. Chẳng bao lâu sau ngài có nhiều người giúp đỡ, và công việc của họ lan rộng sang những quốc gia xa xăm. Cuộc sống của Vinhsơn thật thú vị, nhưng điều quan trọng hơn đó là một cuộc sống hiến dâng để phục vụ tha nhân!

Em thấy cuộc sống mình có thú vị không? Em có nghĩ rằng nó sẽ thú vị một ngày nào đó không? Quan trọng hơn, em có nghĩ rằng đó là một cuộc đời đáng sống – một đời sống phục vụ, tốt đẹp, một cuộc sống hoàn thiện một điều gì đó? Em có thể phục vụ, giúp đỡ tha nhân một ngày nào đó không – hay có thể ngay ngày hôm nay?

113. ZÊNÔ

Zênô là một cái tên bất thường và không thông dụng. Đôi khi ngài cũng được gọi là “vị thánh cười”!

Có nhiều vị thánh cười, nhưng Zênô mang cái tên này vì có một bức tượng của ngài ở Vương cung thánh đường Vêrôna, nước Ý, và đó là tượng của một vị giám mục hạnh phúc đang mỉm cười.

Bức tượng này thật đáng chú ý bởi vì có nhiều điêu khắc gia tác những tượng thánh trông rất nghiêm túc và u buồn – chắc là trông họ không giống như vậy đâu! Có lẽ điêu khắc gia của tượng Zênô đã nghe những câu chuyện vị giám mục này vẫn mỉm cười dù đang gặp phải những vấn đề nghiêm trọng. Zênô đang gặp vấn đề khi làm giám mục vì phải bảo vệ Giáo Hội chống lại nhiều lạc giáo và mê tín dị đoan. Zênô là chủ chăn tốt đối với dân mình, và ngài luôn dạy bảo họ phải luôn tử tế, hiếu khách và bác ái đối với mọi người.

Nếu có ai tạc tượng em, họ sẽ tạc hình em đang cười – cau mày, bĩu môi hay đang càu nhàu? Hôm nay em hãy nhìn mình trong gương và nghĩ về cách mà gương mặt mình thường trông như thế nào. Nó có thường trông như đang hạnh phúc không? Nó có trông như cách mà em muốn người khác nghĩ về em không? Nếu không, có lẽ em nên đặt một nụ cười trên gương mặt ấy!

114. ZEPHYRINÔ (GIÁO HOÀNG)

Cái tên này giống như tên của con tàu vũ trụ hơn là một vị thánh! Nhưng em hãy đoán xem vị thánh ấy là ai? Ngài là giáo hoàng – Giáo hoàng Zephyrinô!

Thật sự, Zephyrinô làm giáo hoàng vào năm 199 – hơn trăm năm sau cái chết của Đức Giêsu. Thế nên Zephyrinô là một trong những giáo hoàng sớm nhất trong Giáo Hội Công Giáo.

Em có biết rằng Zephyr là một tên khác để chỉ cơn gió nhẹ không? Có lẽ Zephyrinô giống như cơn gió nhẹ trong Giáo Hội. Cá tính của em giống như cơn gió nhẹ hay gió mạnh? Thế giới cần cả hai – gió nhẹ để mang lại hòa bình và sự đồng lòng còn gió mạnh để thổi luồng khí tươi mát và những ý tưởng mới. Hãy tạ ơn Chúa vì sự đa dạng trong thế giới và những con người của Ngài.

115. ZITA

Đây là vị thánh đi làm công việc nhà khi mới 12 tuổi! Và cô đã làm việc cho cùng một gia đình trong 48 năm!

Thoạt tiên, các cô hầu khác không thích Zita vì cô đem số tiền ít ỏi mà mình có được cho người nghèo hơn mình, cô cầu nguyện rất nhiều, thế nên họ nghĩ rằng cô đang cố “người tốt”. Tuy nhiên, một thời gian sau, họ thấy Zita tốt thiệt!

Cùng với sự thánh thiện, Zita cũng là một người làm việc chăm chỉ và luôn làm tốt công việc của mình. Cô nói: “Một tôi tớ không đạo đức nếu không chăm chỉ. Lòng đạo đức mà tránh việc làm là lòng đạo đức giả vờ”. Suốt nhiều năm, Zita trở thành bạn và người tín cẩn của mọi người trong nhà nơi cô làm việc, và cô cũng được trẻ con yêu mến.

Em có là người làm việc chăm chỉ không? Em làm công việc nào tốt nhất? Trong nhà … trong vườn … tại trường … hay trước truyền hình? Vâng, không ai có thể lúc nào cũng làm việc! Người ta nói rằng chỉ làm việc mà không chơi thì sẽ khiến bạn này bạn kia thành đứa khờ! Vì thế hãy làm mỗi thứ một chút – làm việc một chút và chơi một chút – mỗi thứ một chút và mỗi ngày!

Tác giả: Bernadette McCarver Snyder

Nguồn: gpquinhon.org