1. Tại vùng Loan, giáo phận Đà Lạt 4. Tại giáo họ Ngọc Thuận, giáo phận Long Xuyên 5. Tại giáo xứ Corpus Christi, giáo phận Novaliches, Philippines |
Thay lời dẫn
Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã long trọng để lại cho các môn đệ một lệnh truyền truyền giáo: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20). Với lệnh truyền này, truyền giáo tự bản chất trở thành căn tính của Giáo hội. Truyền giáo là hoạt động làm cho Giáo hội hiện hữu và có ý nghĩa trong việc phục vụ Thiên Chúa và con người. Xa rời truyền giáo, Giáo hội không còn là Giáo hội nữa; thậm chí, Giáo hội không còn lý do để tồn tại. Truyền giáo là giới thiệu và làm sống động hình ảnh một Thiên Chúa yêu thương đến cho tất cả mọi người và mọi thụ tạo, qua trung gian là chính mỗi người. Chính vì thế, mỗi người đều có một vị trí không thể thay thế trong sứ mạng truyền giáo của Giáo hội. Nói cách khác, ai cũng có trách nhiệm giới thiệu Chúa đến cho người khác.
Tu Hội Đời Sống Tông Đồ Nhập Thể - Tận Hiến - Truyền Giáo (Incarnatio - Consecratio - Missio) (ICM) với linh đạo là Nhập Thể, đặc sủng là Tận Hiến cho Thiên Chúa theo gương Chúa Giêsu và Mẹ Maria, và sứ mạng là Truyền Giáo cho lương dân và phục vụ người nghèo, đã và đang góp phần vào công cuộc truyền giáo của Giáo hội. “Việc tông đồ truyền giáo của ICM được định nghĩa là tình yêu tận hiến cho Thiên Chúa trở nên sâu xa và sung mãn đến nỗi phải chia sẻ cho người khác. Vì thế, các thành viên của ICM trước tiên cần phải sống tình yêu thật sung mãn trước khi chia sẻ cho người khác. Không ai cho cái mình không có” (Hiến Pháp ICM, số 26). Như vậy, truyền giáo theo tinh thần của ICM là sự tràn ra bên ngoài của một tình yêu sung mãn bên trong. Các thành viên ICM trước tiên phải là người yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn (Đnl 6,5), từ đó họ mới có thể chia sẻ tình yêu này cho người khác. Nguyên lý hoạt động truyền giáo của ICM là trở về tinh thần Tin Mừng. “Nguyên lý này sẽ hướng dẫn các thành viên cố gắng nên giống Chúa Kitô, theo nguyên tắc chỉ đạo của thánh Phaolô: trở nên mọi sự cho mọi người (1Cr 9,22).” (Hiến Pháp ICM, số 27). Người Tận Hiến cố gắng hòa đồng với hết mọi người thuộc mọi tầng lớp, không loại trừ ai. Cách riêng, đối tượng ưu tiên của Tu Hội là dấn thân phục vụ người nghèo về thể xác và tinh thần, những người tội lỗi, ghét đạo, bỏ đạo và cho anh chị em ngoài Kitô giáo. Đây chính là đặc sủng và mục đích riêng của ICM (Hiến Pháp ICM, số 6, 67).
Để thực hiện đặc sủng và mục đích riêng này, người Tận Hiến đi đến những vùng truyền giáo xa xăm, vùng ngoại biên, vùng dân tộc thiểu số, những nơi nghèo nàn lạc hậu, và những nơi trước đây là vùng đất Công giáo, nhưng hiện nay vì những lý do nhất định không còn là vùng đất Công giáo nữa. Các nhà huynh đệ Tận Hiến được lập nên tại những nơi này, trong các giáo phận Đà Lạt, Long Xuyên, Thái Bình, Phát Diệm, Tổng Giáo phận Westminster, Anh, và giáo phận Novaliches, Philippines. Người Tận Hiến cố gắng trở nên khó nghèo và hòa đồng với hết mọi người, trở nên chứng nhân cho Tin Mừng bằng chính chứng tá đời sống của mình.
Mỗi vùng truyền giáo có những đặc thù riêng. Vì thế, người Tận Hiến luôn đối diện với những thuận lợi và khó khăn nhất định. Vậy đâu là những thuận lợi và khó khăn trên bước đường truyền giáo của người Tận Hiến? Người viết xin nêu lên một vài điểm nổi bật tại những nơi mà Tu Hội đang hoạt động truyền giáo:
1. Tại vùng Loan, giáo phận Đà Lạt
Có thể nói, đây là vùng trọng tâm với sứ mạng truyền giáo của ICM. Cách thành phố Đà Lạt hơn 70 km, vùng Loan là tên gọi chung của vùng kinh tế mới, dân cư nghèo nàn về cả vật chất và tinh thần, với 70% là người dân tộc Churu. Đây rõ ràng là vùng ngoại biên mà Thiên Chúa, qua giáo phận Đà Lạt, muốn gửi gắm cho Tu Hội. Tu Hội bắt đầu phục vụ tại vùng Loan này từ năm 1993 với linh mục tiên khởi là cha Giuse Nguyễn Cao Nguyên. Từ đó đến nay, rất nhiều linh mục và tu sĩ nam nữ ICM được gửi tới chăm sóc vùng đất ngoại biên này. Hiện nay, Tu Hội đang phục vụ tại các xã Đà Loan – Tàhine – Tà Năng – Đa Quyn – Ma Bó….
Vì đời sống đức tin, văn hóa, kinh tế của bà con vùng Loan còn hạn chế, nên Tu Hội cố gắng đồng hành với họ trên cả ba lĩnh vực này trong hết mọi khả năng của Tu Hội. Những dự án xây nhà tình thương, làm đường, hỗ trợ học bổng, xe đạp cho học sinh nghèo hiếu học, thăm viếng, mở các lớp giáo lý, sinh hoạt các hội đoàn… được Tu Hội thực hiện thường xuyên. Qua chính đời sống tận hiến của các thành viên ICM (Hiến Pháp ICM, số 63), Tu hội đã và đang giới thiệu một hình ảnh Thiên Chúa sống động, chân thật và gần gũi đến cho đồng bào nơi đây. Và với việc xem “trở về tinh thần Tin Mừng là nguyên lý hành động của Tu Hội trong mọi công tác truyền giáo,” (Hiến Pháp ICM, số 27) các thành viên ICM noi gương Chúa Giêsu ngày xưa, đi vào cuộc sống cụ thể của từng nhóm người, chứ không phải đứng ở xa chỉ đạo: người nghèo, người già, người bị bỏ rơi, người đau bệnh, thiếu nhi, người lầm lỡ, người mất đức tin, và người chưa có đức tin…. Đi vào cuộc sống thực tế của họ để sẵn sàng chia sẻ và đồng hành với họ.
Dẫu vậy, người Tận Hiến vẫn gặp một số khó khăn cụ thể trong việc truyền giáo tại vùng Loan:
- Trình độ văn hóa đồng bào thiểu số thấp, còn nhiều trẻ em không được đi học, một số người lớn mù chữ, vì thế ảnh hưởng nhiều tới việc học giáo lý đức tin, việc nghe và hiểu Lời Chúa.
- Cuộc sống nhiều gia đình còn khó khăn, không có điều kiện cho con em đi học chữ và học giáo lý, đi lễ. Có những gia đình chỉ có một chiếc xe máy thì không thể chở cùng lúc 4 – 5 người đi lễ được.
- Tu Hội ICM phải đào tạo một số giáo lý viên đã biết đọc biết viết để họ phụ giúp giáo lý cho chính người bản địa của họ.
- Hôn nhân tự nhiên của người bản địa đi trước hôn nhân bí tích, dù có giải thích luật của Hội Thánh cho họ, nhưng họ vẫn sống theo tập tục của họ.
- Đức tin của người đồng bào thật đơn sơ nhưng lại không có nền tảng giáo lý Thánh Kinh. Họ quan niệm về lỗi luật Chúa rất đơn giản, lỡ ăn thịt ngày thứ sáu trong mùa chay, dù không buộc nhưng họ phải đi xưng tội mới dám rước lễ, đôi khi làm mất thời gian ngồi tòa của các linh mục. Điều này có giải thích mấy họ cũng chưa hiểu, vì theo cách sống của họ là phải như thế.
- Người bản địa mỗi khi gặp khó khăn thử thách, họ vẫn thường xem thầy cúng, thầy bói dù họ biết là trái luật Hội Thánh. Tuy nhiên, họ biện minh nếu không đi xem thì không an tâm. Điều này chứng minh đức tin không chắc chắn, và cũng rất khó khăn trong việc giải thích đức tin cho họ một cách thấu đáo.
- Tuy nhiên, người bản địa rất thích và mong quý cha, quý tu sĩ tới thăm gia đình. Thế mới hay là truyền giáo bằng sự hiện diện thăm viếng ngày nay đôi khi mang lại hiệu quả hơn là trên bục giảng nhà thờ.
2. Tại giáo phận Thái Bình
Về thuận lợi, có thể nói tại giáo phận này mà Tu Hội có thể trở về nguồn và tiếp tục sống linh đạo và đặc sủng của mình, đó là phục vụ người nghèo về vật chất và tinh thần. Đồng thời, đây cũng là nơi mà Tu Hội tiếp tục thực hiện lời kêu gọi của Đức Cố Giáo hoàng Phanxicô, đi đến những vùng ngoại biên để giới thiệu một Thiên Chúa chân thực và sống động cho con người. Thái Bình cũng là quê hương của Đấng sáng lập Tu hội, Anh trưởng Micae Nguyễn Khắc Việt Anh.
Tu Hội bắt đầu phục vụ giáo xứ Xá Thị, giáo phận Thái Bình cách chính thức ngày 27-10-2022. Hiện nay, chính quyền tạo mọi điều kiện thuận lợi để Tu Hội thực hiện những chương trình bác ái, không phân biệt tôn giáo. Họ giúp Tu Hội xác nhận những nơi, những gia đình cần phải giúp đỡ. Song song đó, chính họ cũng có những đóng góp cụ thể cho những chương trình bác ái của Tu Hội, ví dụ kêu gọi hiến đất để mở rộng đường, kêu gọi người dân giúp công xây dựng nhà tình thương… Bên cạnh việc thăm hỏi, tặng quà cho người nghèo, người bệnh tật… được thực hiện thường xuyên, đến nay Tu Hội đã xây dựng được 4 căn nhà tình thương. Hằng năm, Tu Hội kết hợp cùng với Caritas giáo phận tổ chức những dịp khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho người dân. Vào dịp hè, Tu Hội tổ chức những khóa dạy Anh văn, đàn… cho học sinh, không phân biệt tôn giáo. Tu Hội mời cả những tình nguyện viên ở Hoa Kỳ về giúp học sinh trong những dịp hè. Nói chung, những việc truyền giáo cụ thể này đang từng bước được mọi người đón nhận.
Về khó khăn, bên cạnh việc giáo dân ở rải rác, xa nhà thờ, thì não trạng văn hóa cục bộ của người dân nơi đây rất khó thay đổi. Trước kia đây là một giáo xứ lớn, nhưng đến năm 1954, hầu hết mọi người di cư vào Nam, chỉ còn ít người ở lại. Giáo xứ không có linh mục coi sóc trong 68 năm nên hiện nay trong danh sách chỉ còn 81 người Công giáo. Và vì không có linh mục coi sóc trong thời gian dài, đời sống đức tin của người Công giáo hiện nay khá bấp bênh. Họ khá e dè khi có các cha, các thầy ghé thăm. Họ chưa dám mở lòng hết hoặc còn mang tính thăm dò khi nhắc đến đức tin và thực hành đức tin. Phải chăng, những con chiên bị bỏ rơi quá lâu, không có mục tử quan tâm này, cần phải nhận thức được sau cùng họ vẫn là những người được Thiên Chúa quan tâm và yêu thương, qua trung gian là những người tu sĩ Tận Hiến? Và phải chăng, người tu sĩ Tận Hiến cần phải kiên nhẫn hơn với họ, cố gắng trở về tinh thần Tin Mừng, và noi gương Chúa Giêsu ngày xưa, từng bước đi vào cuộc sống hiện thực của họ? Hiện nay, các linh mục, tu sĩ ICM cố gắng kiên nhẫn đến với họ, ân cần quan tâm đến họ, giúp họ nhận ra giá trị của họ. Từ đó họ có thể mở lòng đón nhận sự quan tâm chăm sóc chân thành này. Sau vùng Loan thuộc giáo phận Đà Lạt, thì giáo phận Thái Bình và giáo phận Phát Diệm sẽ là những vùng trọng điểm cho hoạt động truyền giáo của ICM.
3. Tại giáo phận Phát Diệm
Tu Hội bắt đầu phục vụ tại 3 giáo họ Chi Nê, Đồng Tâm và Rộc Yểng thuộc giáo xứ Khoan Dụ, giáo phận Phát Diệm từ tháng 4 năm 2025. Có thể nói, đây là vùng đất tái truyền giáo mà Chúa đã gửi đến cho Tu Hội. Vùng đất này trước đây có các cha cố Tây ở và rửa tội cho nhiều người. Sau đó, vì thời cuộc, các cha phải về nước, và các cha Việt Nam cũng không thể hiện diện ở đây được. Một thời gian dài nhà nước biến thành khu đặc trị, thành “khu in tiền cho nhà nước,” không cho phép bất cứ một tôn giáo nào hiện diện và hoạt động. Vì thế, nhiều người đã được rửa tội, nhưng không được học giáo lý, nên không hiểu và không có cơ hội sống đức tin. Nói đơn giản là họ đã được rửa tội nhưng không hiểu đạo và không biết sống đạo như thế nào. Vì thế, vấn đề chính là tái truyền giáo.
Cha Giuse Nguyễn Đăng Tiến, ICM, là người Tu Hội sai đến khai mở vùng đất này. Cha kể lại một kinh nghiệm tái truyền giáo tại giáo họ Chi Nê như sau:
Câu chuyện cả đại gia đình trở lại đạo nhờ tang bà cụ cố 97 tuổi
“Con mới đặt chân tới vùng tái truyền giáo Chi Nê, Lạc Thủy, Phát Diệm khoảng 2 tuần. Cha sở nhờ con đi xức dầu cho bệnh nhân. Tới nơi, gặp bà cụ già yếu (97 tuổi) nhưng gương mặt vẫn rất sốt sắng. Bà cụ xưng tội, được xức dầu và rước Mình Thánh Chúa, nhưng vẫn mong muốn được gặp riêng con trình bày điều gì đó. Khi mọi người ra ngoài hết, bà nói thều thào với con trong lo lắng: “Thưa cha, con sợ mất linh hồn, con sợ sẽ bị bán linh hồn cho ma quỷ cha ạ.” Nghe đến đó, con nhận thấy bà có điều gì rất quan trọng, nên con sẵn sàng lắng nghe.
Rồi bà bắt đầu kể: “Thưa cha, con năm nay 97 tuổi, con đã rửa tội cho 11 đứa con, mà chúng nó bỏ đạo hết, có mỗi thằng con trai út lấy vợ Công giáo là còn giữ đạo. Thấy con sức khỏe yếu dần, có mỗi vợ chồng thằng út là muốn mời cha đến và lo cho con về bên đạo. Còn mấy anh kia bàn với nhau, bà qua đời, đưa qua mấy ông thầy cúng cho đỡ tốn kém và đỡ phức tạp. Vì vậy nên con sợ bị bán linh hồn cho ma quỷ cha ạ.”
Nghe đến đó, lòng con chùng lại với thao thức của bà. Con an ủi và hứa với bà con sẽ cầu nguyện cho bà. Hai ngày sau, con tranh thủ đến gặp mấy người con. Trong mỗi cuộc gặp, con cũng thăm hỏi vu vơ, nhưng rồi cũng nói xa xa đến thao thức của bà khi bà nằm xuống. Mặc dù chưa đi đến hồi kết nhưng các anh cũng đã có phần suy nghĩ lại, có thể thay đổi quyết định không mời thầy cúng.
Hôm bà cụ mất, cha sở lại nhờ con đi tẩm liệm và hôm sau làm lễ an táng tại gia cho bà. Nhân dịp này, trong nghi thức tẩm liệm, con mời hết các con, các cháu đứng xung quanh, đặt tay lên quan tài cùng với con. Con kể cho các anh chị về điều con hứa với bà, là con sẽ cầu nguyện và cùng với con cháu bà, cố gắng thực hiện ý nguyện của bà. Rồi con gợi ý cho mỗi người nói lên những tâm tình: cảm ơn, xin lỗi, và nguyện hứa với bà. Bắt đầu từ anh cả, rồi đến các em trai, em gái, em dâu, các con cái cháu chắt cùng nghe, rồi lần lượt chia sẻ… ai cũng nghẹn ngào nói lên những tâm tình trên với bà.
Đến ngày lễ an táng, con lại gặp gỡ các anh chị em con cháu trong nhà, cùng nhau nhắc lại những kỷ niệm đẹp và ước mong của bà. Mọi sự đã diễn ra tốt đẹp trong sự quan phòng của Chúa. Những ngày tiếp theo, ngày nào con cũng cố gắng tranh thủ đến đọc kinh cùng gia đình và bà con trong giáo họ.
Tạ ơn Chúa, toàn thể đại gia đình, từ anh cả, đến các em, cháu chắt, nay đã đi lễ trở lại. Có lần, con đến gia đình ăn cơm tối, sau đó, con mời cả nhà đi tham dự thánh lễ. Ai cũng vui vẻ hân hoan. Trong đó, phải kể đến có một người cháu gái, vừa học hết cấp III. Cháu xin gặp riêng con và khoe, ngày xưa còn nhỏ cháu ngủ với bà suốt, bà thường dạy đọc kinh, bà kể nhiều chuyện đạo hay lắm. Cháu đã đi học khóa giáo lý hè, dù chưa được xưng tội rước lễ, nhưng nay cháu đã được nhận làm dự bị giáo lý viên, đeo khăn dự trưởng. Cháu gái của bà sẽ là hạt giống tốt cho cả đại gia đình.”
Có thể nói, đây là một ví dụ cụ thể trong việc tái truyền giáo mà người tu sĩ ICM đang từng bước thực hiện tại vùng đất ngoại biên này. Để thực hiện việc tái truyền giáo này, người ICM trước tiên chỉ cần kiên nhẫn gặp gỡ và hiện diện với họ, chia sẻ cuộc sống bình dị với họ và nhất là theo gương Chúa Giêsu ngày xưa, đi vào cuộc sống cụ thể của họ với những thao thức và hoàn cảnh rất riêng. Từ đó mới có thể thay đổi ý thức hệ của họ và giúp họ tái khám phá lại đức tin của mình.
4. Tại giáo họ Ngọc Thuận, giáo phận Long Xuyên
Tu Hội phục vụ tại giáo họ Ngọc Thuận, giáo phận Long Xuyên từ ngày 14-12-2022, với sự cho phép của Đức cha Giuse Trần Văn Toản. Nhìn chung, những con người miền Tây chính gốc với bản tính nhiệt tình, thân thiện, dễ mến nên các linh mục, tu sĩ ICM cũng dễ dàng tiếp cận và đối thoại với họ. Với sự hiện diện của mình, người ICM cố gắng phát triển đời sống đức tin cho giáo dân qua việc cử hành các nghi lễ phụng vụ, ban các bí tích, dạy giáo lý, thành lập các đoàn thể, thăm viếng…. Các hoạt động này diễn ra tương đối thuận lợi. Hiện nay, Tu Hội cùng với chính quyền xã đang xây dựng một cây cầu cho bà con nơi này, giúp việc đi lại của họ dễ dàng hơn.
Hoạt động truyền giáo của ICM tại đây cũng đối diện với những khó khăn nhất định. Người miền Tây với bản chất hiền lành thân thiện nhưng tâm lý cũng mang tính thực tế. Họ hay có suy nghĩ “theo đạo để được ông cha giúp về vật chất,” “không giúp về vật chất thì không theo đạo nữa.” Một vấn đề khác: đa số giới trẻ và thanh thiếu niên lên thành phố kiếm việc làm, ở nhà chỉ còn lại những người lớn tuổi. Những người này ít tham dự thánh lễ, một phần vì ở xa nhà thờ, phần khác vì không có con cháu đưa đến nhà thờ. Chính vì thế, người Tận Hiến cố gắng duy trì các cuộc thăm viếng, động viên, bác ái…. giúp họ giữ vững đức tin trong điều kiện cuộc sống không thuận lợi.
5. Tại giáo xứ Corpus Christi, giáo phận Novaliches, Philippines
Tu Hội đến phục vụ tại Philippines vào tháng 7 năm 2012, qua sự giới thiệu của Cố Đức Ông Tài, Giám đốc Đài Chân Lý Á Châu thời điểm đó. Ngày đầu, Corpus Christi chỉ là một giáo họ lẻ, nhưng qua năm tháng, với sự nhiệt thành của các mục tử ICM, giáo họ đã được nâng lên thành giáo xứ. Từ đó đến nay, đã có 4 linh mục ICM được bổ nhiệm làm linh mục chánh xứ là các cha Đaminh Phạm Chinh, Phaolô Vũ Văn Doanh, Giuse Nguyễn Xuân Thuyên, và Giuse Nguyễn Ngọc Sơn.
Về mặt thuận lợi, nhìn chung, Philippines là một đất nước có truyền thống Công giáo lâu đời. Người dân hiền lành, thân thiện, cởi mở, dễ tiếp xúc. Đời sống đạo đức, luân lý, việc thực hành tôn giáo khá tốt. Mỗi khi có những thánh lễ trọng thể, nghi thức rước kiệu, đàng thánh giá… người dân tham dự rất đông. Giáo dân tích cực cộng tác với các linh mục trong việc xây dựng giáo xứ và các công việc bác ái. Việc học giáo lý của thiếu nhi được tổ chức tại các trường học, nên các nhà thờ chỉ giúp thêm giáo lý vào dịp các em lãnh nhận bí tích xưng tội, rước lễ lần đầu và bí tích thêm sức.
Có hai điểm khó khăn trong việc mục vụ tại đây. Thứ nhất, một số giáo dân thiếu chiều sâu trong đời sống đức tin. Họ tham gia vào các hoạt động giáo xứ theo phong trào “nhanh thích thì cũng nhanh chán.” Và chính vì lý do này, họ cũng hay theo phe nhóm, phe này chống phe kia. Nếu cha xứ không đứng về phía họ thì họ bỏ giáo xứ và đi qua giáo xứ khác. Thứ hai, một số người nghèo có tâm lý đi nhà thờ phải bỏ giỏ, phải đóng góp cho nhà thờ nên cũng e ngại.
Với hai khó khăn này, người ICM phải hết sức khôn ngoan, tinh tế và thận trọng trong việc đối thoại và giải quyết các vấn đề. Một mặt, họ vừa phải mềm dẻo để mọi người cùng tham gia đóng góp cho sự phát triển của giáo xứ. Mặt khác, cũng phải cứng rắn để bảo vệ sự hiệp nhất trong giáo xứ.
6. Tại Tổng giáo phận Westminster, London, Anh
Tu Hội ICM bắt đầu phục vụ cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại London, Anh vào đầu năm 2025. Cha Antôn Phạm Hữu Tâm, Tổng Đại diện ICM đang phục vụ tại đây theo hợp đồng 3 năm. Cộng đoàn Công giáo Việt Nam tại London gồm 1 nhà thờ chính và 1 trường dạy Giáo lý, và 6 cộng đoàn lân cận cách London từ 45 phút đến 2 tiếng lái xe. Công việc mục vụ gồm dâng lễ, cử hành các bí tích, thành lập các hội đoàn, mở các lớp giáo lý dự tòng, hôn nhân, thăm viếng… Giáo dân gồm những người gốc Hải Phòng, miền Bắc và miền Nam sang khoảng 30 năm nay, và số rất đông các bạn trẻ Vinh, Hà Tĩnh sang khoảng 10 năm nay.
Nhu cầu mục vụ tại đây tương đối nhiều và phức tạp, đặc biệt cho các bạn trẻ. Vì đa số các bạn này nhập cư vào Anh trái phép, hiện tại sống trong hoang mang và lo làm việc để trả nợ. Chính những lý do này khiến các bạn lơ là việc đạo nghĩa và các vấn đề luân lý. Một vấn đề khác, giáo dân nơi này đôi khi còn phe nhóm, cục bộ, không hợp tác với các mục tử. Vì thế, người Tận Hiến phải hết sức kiên nhẫn, thận trọng và khôn ngoan trong sứ vụ truyền giáo của mình.
Dự kiến trong tương lai, Tu Hội sẽ tiếp tục gửi các linh mục sang làm mục vụ tại Tổng Giáo phận Westminster này.
Thay lời kết
Như đã nói, truyền giáo tự bản chất thuộc về căn tính của Giáo hội. Truyền giáo cũng không phải là sáng kiến của Giáo hội, mà trước tiên, truyền giáo xuất phát từ tình yêu của Thiên Chúa Cha dành cho nhân loại: Thiên Chúa Cha sai Chúa Con đến với nhân loại, và Chúa Con tiếp tục sai chúng ta đến với mọi người. Một vài chia sẻ bên trên cho thấy Tu Hội Nhập Thể - Tận Hiến - Truyền Giáo (ICM) đang cố gắng hết mình trong sứ mạng truyền giáo chung của Giáo hội. Rõ ràng, những gì người Tận Hiến đã và đang làm chỉ là một phần rất nhỏ trong cánh đồng truyền giáo bao la của Giáo hội. Và dẫu còn đó nhiều khó khăn thử thách, người Tận Hiến vẫn can đảm ra khỏi căn phòng của mình, để sẵn sàng đến với mọi người. Người Tận Hiến cố gắng sử dụng mọi phương thế để truyền giáo. Tuy nhiên, họ vẫn luôn ý thức rằng, phương thế tốt nhất và trước hết vẫn là phải ở với Chúa trước, tiếp đến, họ phải trở nên nghèo khó để sẵn sàng dấn thân vào từng hoàn cảnh cụ thể: “Thành viên ICM luôn xác tín rằng, một đời sống hy sinh cầu nguyện, một đời sống khó nghèo trong tinh thần lẫn trong thực tế sẽ là phương thế hữu hiệu nhất để truyền giáo và cứu rỗi các linh hồn.” (Hiến Pháp ICM, số 70). Hơn nữa, khi thi hành sứ vụ, “người Tận Hiến luôn hiệp thông với Hội thánh và vâng phục Giáo quyền. Trong mọi hoạt động truyền giáo, cần có sự ưng thuận và hướng dẫn của Giáo quyền địa phương” (Hiến Pháp ICM, số 65).
Thánh Phaolô đã viết: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên. Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể.” (1 Cr 3,6-7). Với ý nghĩa đó, người Tận Hiến xác quyết rằng, tất cả những công việc truyền giáo mà Tu Hội đang âm thầm thực hiện, cũng là nhờ ơn Chúa. Và chính Chúa sẽ làm cho những công việc truyền giáo này của Tu Hội được thành toàn.
Tác giả: Lm. Vinhsơn Phạm Thanh Phong, ICM
Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVN, Số 151 (Tháng 01 & 02 năm 2026)
