Thư Đức Thánh Cha Phanxicô Gửi Các Linh Mục Nhân Kỷ Niệm 160 Năm Thánh Gioan Vianney, Cha Xứ Ars, Qua Đời

08/08/2019

Thư Đức Thánh Cha Phanxicô Gửi Các Linh Mục Nhân Kỷ Niệm 160 Năm Thánh Gioan Vianney, Cha Xứ Ars, Qua Đời

 

 

 

 

 




THƯ ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GỬI CÁC LINH MỤC

NHÂN KỶ NIỆM 160 NĂM

THÁNH GIOAN VIANNEY, CHA XỨ ARS, QUA ĐỜI 

 

Mến gửi

Các Anh Em Linh Mục của tôi 

Anh em thân mến, 

Một trăm sáu mươi năm đã qua kể từ khi cha xứ thánh thiện của xứ Ars qua đời. Ngài đã được Đức Giáo Hoàng Piô XI phong làm quan thầy các cha xứ trên khắp thế giới. [1] Vào lễ mừng kính ngài hôm nay, tôi viết thư này không chỉ cho các cha xứ nhưng cho tất cả các anh em linh mục của tôi, những người đã âm thầm “từ bỏ mọi sự” để dấn thân vào đời sống hằng ngày của các cộng đoàn của anh em. Giống như cha xứ Ars, anh em phục vụ “ở các chiến hào”, vác gánh nặng cả ngày dưới cái nắng thiêu đốt (x. Mt 20:12), liên lỷ đối diện với vô vàn tình huống khác nhau để chăm lo cho dân Chúa và đồng hành với họ. Tôi muốn ngỏ lời với từng người trong anh em, là những người không ồn ào khoa trương, nhưng sẵn sàng chấp nhận hy sinh bản thân, chịu đựng những mệt mỏi, yếu đau và buồn phiền để thực thi sứ mạng phục vụ Thiên Chúa và dân của anh em. Bất chấp những vất vả của hành trình này, anh em đang viết nên những trang đẹp nhất của cuộc đời linh mục.

Ít thời gian trước, tôi từng chia sẻ với các giám mục Ý mối lo lắng của tôi rằng, ở không ít nơi, các linh mục chúng ta đang cảm thấy mình bị công kích và chê trách vì những tội họ không phạm. Tôi đã nói rằng các linh mục cần phải tìm được nơi giám mục của họ một người anh và người cha giúp họ an tâm trong những thời khắc khó khăn, cổ vũ và nâng đỡ họ trên đường.[2]

Là người anh và người cha, tôi cũng muốn lợi dụng lá thư này để cảm ơn anh em nhân danh Dân thánh thiện và trung thành của Thiên Chúa vì tất cả những gì anh em đã làm cho họ, và khuyến khích anh em đừng bao giờ quên những lời Chúa đã nói với chúng ta trong ngày thụ phong, với tấm lòng trìu mến tuyệt vời của Người. Những lời này là nguồn niềm vui cho chúng ta: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa… Thầy gọi anh em là bạn hữu” (Ga 15:15).[3] 

ĐAU KHỔ

“Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta” (Xh 3:7) 

Những năm gần đây, chúng ta đã chú ý nhiều hơn tới tiếng kêu, thường là âm thầm và bị kìm nén, của các anh chị em chúng ta, những nạn nhân của sự lạm dụng quyền bính, lạm dụng lương tâm và lạm dụng tình dục từ phía các thừa tác viên có chức thánh. Đây là một thời gian vô cùng đau khổ trong cuộc đời của những ai phải chịu sự lạm dụng ấy, nhưng cả trong cuộc đời của gia đình họ và của toàn thể Dân Chúa.

Như anh em biết đấy, chúng ta kiên quyết dấn thân thực hiện những cải cách cần thiết để cổ vũ ngay từ đầu một văn hoá chăm sóc mục vụ, không để cho cái văn hoá lạm dụng có đất để phát triển hay tiếp tục nữa. Đây không phải một nhiệm vụ mau chóng hay dễ dàng: nó đòi hỏi sự dấn thân của mọi người. Nếu trong quá khứ, sự thiếu sót có thể tự nó đã là một thứ phản ứng, thì hôm nay chúng ta muốn rằng sự hối cải, sự minh bạch, thành thật và liên đới với những nạn nhân phải trở thành cách thức cụ thể để chúng ta tiến tới phía trước. Và điều này sẽ giúp làm cho chúng ta càng thêm chú ý hơn tới mọi hình thức đau khổ của loài người.[4]

Đau khổ cũng ảnh hưởng đến các linh mục. Tôi đã nhìn thấy điều này trong các cuộc thăm viếng mục vụ trong giáo phận của tôi và các nơi khác, trong các cuộc gặp gỡ và nói chuyện riêng tư với các linh mục. Nhiều linh mục chia sẻ với tôi sự tức giận của họ trước những gì đã xảy ra và nỗi thất vọng khi thấy rằng “bất chấp mọi lao nhọc của họ, họ phải đối diện với sự thiệt hại đã gây ra, sự nghi ngờ và hoang mang nó đã gây ra, và những mối hoài nghi, sợ hãi và chán nản mà không ít người cảm thấy”.[5] Tôi đã nhận được nhiều thư của các linh mục diễn tả những cảm giác ấy. Đồng thời tôi cũng được an ủi bởi các cuộc gặp gỡ với những vị mục tử biết nhìn nhận và chia sẻ sự đau đớn và khổ cực của các nạn nhân và của dân Thiên Chúa, và đã cố gắng tìm ra những lời lẽ và hành động để khơi dậy niềm hy vọng.

Trong khi không phủ nhận hay bác bỏ sự thiệt hại gây ra bởi một số anh em của chúng ta, sẽ là không công bằng khi không nói lên lòng biết ơn của chúng ta đối với tất cả các linh mục đã trung thành và quảng đại tiêu hao đời sống mình để phục vụ tha nhân (x. 2Cr 12:15). Họ là hiện thân cho một tình phụ tử thiêng liêng có khả năng khóc với người khóc. Vô số linh mục biến cuộc đời mình thành một công trình của lòng thương xót trong những khu vực hay những hoàn cảnh thường thù nghịch, bị cô lập hay lãng quên, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Tôi nhìn nhận và đánh giá cao gương can đảm và kiên cường của các anh em. Trong những thời buổi nhiễu loạn, tủi hổ và đau đớn, anh em chứng tỏ anh em đã vui vẻ đặt đời sống mình nơi tiền tuyến vì Tin Mừng.[6]

Tôi tin chắc rằng, nếu chúng ta tiếp tục trung thành vâng theo ý Chúa, những thời kỳ thanh luyện Hội Thánh hiện nay sẽ làm chúng ta vui tươi và khiêm tốn hơn, và sẽ cho thấy rất hiệu quả trong một tương lai không xa. “Chúng ta đừng nản lòng! Chúa đang thanh tẩy Hiền Thê của Người và cải hoá tất cả chúng ta để trở về với Người. Người đang để chúng ta chịu thử thách hầu làm chúng ta hiểu rằng không có Người, chúng ta chỉ là cát bụi. Người đang cứu chúng ta khỏi thói đạo đức giả, khỏi cái linh đạo bề ngoài. Người đang thổi Thần Khí Người vào chúng ta để khôi phục vẻ đẹp của Hiền Thê của Người bị bắt phạm tội ngoại tình. Chúng ta có thể tìm được lợi ích khi đọc lại chương 16 sách ngôn sứ Êdêkien. Đó là lịch sử của Hội Thánh, và mỗi người chúng ta có thể nói đó cũng là lịch sử của chính chúng ta. Cuối cùng, nhờ tính liêm sỉ của mình, anh em sẽ tiếp tục hành động như là một mục tử. Sự sám hối khiêm nhường của chúng ta, được diễn tả bằng những giọt nước mắt âm thầm trước những tội ác ghê tởm này và trước sự cao cả khôn dò của ơn tha thứ của Thiên Chúa, là khởi đầu cho một cuộc canh tân sự thánh thiện của chúng ta”.[7] 


LÒNG BIẾT ƠN

“Tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em” (Ep 1:16). 

Hơn là một chọn lựa cá nhân, ơn gọi là lời đáp của chúng ta cho tiếng Chúa gọi không phải vì công trạng gì của chúng ta. Sẽ ích lợi nếu chúng ta thường xuyên đọc lại những đoạn Tin Mừng mô tả việc Chúa Giêsu cầu nguyện, chọn và gọi các môn đệ để họ “ở với Người và được Người sai đi rao giảng Tin Mừng” (Mc 3:14).

Ở đây tôi nghĩ đến một bậc thầy vĩ đại của đời sống linh mục tại chính đất nước của tôi, Cha Lucio Gera. Nói truyện với một nhóm linh mục vào một thời kỳ nhiễu nhương tại Châu Mỹ Latinh, ngài bảo họ: “Luôn luôn, nhưng đặc biệt vào những lúc gặp thử thách, chúng ta cần phải trở về với những giờ phút sáng lạn khi chúng ta trải nghiệm tiếng Chúa gọi chúng ta dâng hiến đời sống để phụng sự Người”. Cá nhân tôi thích gọi trải nghiệm này là “ký ức thứ luật về ơn gọi của chúng ta”; nó làm mỗi người chúng ta trở về “với cái ánh sáng chói loà mà ơn sủng của Thiên Chúa đã chạm đến tôi lúc tôi bắt đầu cuộc hành trình. Từ ngọn lửa ấy, tôi có thể đốt lửa cho ngày hôm nay và mỗi ngày, và đem hơi ấm và ánh sáng đến cho các anh chị em tôi. Ngọn lửa ấy làm bừng cháy một niềm vui khiêm nhường, một niềm vui không thể bị xua tan bởi buồn sầu và đau khổ, một niềm vui tốt lành và êm dịu”.[8]

Một hôm, mỗi người chúng ta đã lên tiếng và nói “vâng”, một tiếng “vâng” sinh ra và lớn lên trong lòng của cộng đoàn Kitô hữu nhờ những “vị thánh ở hàng xóm”,[9] bằng đức tin đơn sơ của họ, họ cho chúng ta thấy rằng thật đáng để hiến mình hoàn toàn cho Chúa và Nước của Người. Một tiếng thưa “vâng” với những hệ luỵ vô cùng nghiêm trọng khiến chúng ta thường cảm thấy khó hình dung nổi tất cả những điều tốt đẹp mà nó tiếp tục tạo ra. Đẹp biết bao cảnh một linh mục già gặp hay được viếng thăm bởi những đứa trẻ ấy―bây giờ đã là những người lớn―mà ngài đã rửa tội từ rất lâu và bây giờ họ đến thăm ngài để tỏ lòng biết ơn và giới thiệu với ngài gia đình của chính họ! Vào những lúc như thế, chúng ta nhận ra rằng chúng ta đã được xức dầu để xức dầu cho những người khác, và việc xức dầu của Thiên Chúa không bao giờ làm chúng ta thất vọng. Tôi muốn nói cùng với Thánh Tông Đồ: “Tôi không ngừng tạ ơn Thiên Chúa vì anh em” (x. Ep 1:16) và vì mọi điều thiện hảo anh em đã làm.

Giữa cảnh thử thách gian nan, yếu đuối và ý thức về những giới hạn của chúng ta, “cái cám dỗ tệ hại nhất là day dứt về những rắc rối của mình”[10] vì khi ấy chúng ta đánh mất tầm nhìn, phán đoán đúng và lòng cản đảm của mình. Những lúc ấy, điều quan trọng―tôi thậm chí muốn nói là cốt yếu―là coi trọng ký ức về sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời chúng ta và cái nhìn từ bi của Người, nó truyền cảm hứng để chúng ta đặt cuộc đời mình ra tiền tuyến vì Người và vì dân của Người. Và tìm thấy sức mạnh để kiên trì, và cùng với Thánh Vịnh gia, xướng lên bài ca ngợi khen của chính chúng ta, “vì tình thương của Người tồn tại đến muôn đời” (Tv 136).

Lòng biết ơn luôn luôn là một vũ khí mạnh mẽ. Chỉ khi chúng ta biết chiêm ngắm và cảm thấy lòng biết ơn đích thực vì tất cả những cách thức chúng ta đã trải nghiệm về tình thương, lòng quảng đại, tình liên đới và tin cậy của Thiên Chúa, cũng như sự tha thứ, nhẫn nại, chịu đựng và cảm thông của Thiên Chúa, chỉ khi ấy chúng ta mới có thể để cho Thần Khí ban cho chúng ta sự tươi mới có sức canh tân (và không chỉ sửa chữa) cuộc đời và sứ mạng của chúng ta. Giống như thánh Phêrô vào buổi sáng đánh được mẻ cá lạ lùng, chúng ta hãy để cho việc nhìn nhận mọi phúc lành chúng ta đã nhận được đánh thức nơi chúng ta cảm giác kinh ngạc và biết ơn để chúng ta có thể nói: “”Xin Thầy xa con ra, vì con là kẻ tội lỗi” (Lc 5:8). Chỉ khi ấy chúng ta có thể nghe Chúa lặp lại lời kêu gọi của