1. Dân số Công giáo
Tính đến cuối năm 2025, tổng số người Công giáo tại Hàn Quốc là 6.006.832 người, theo số liệu thống kê được tổng hợp từ 16 giáo phận, bao gồm cả Giáo hạt Quân đội. Con số này tăng 0,2% (9.178 người) so với năm trước. Số người Công giáo chiếm 11,4% tổng dân số Hàn Quốc (52.722.298 người), duy trì cùng tỷ lệ như năm trước.

Phân bố theo giới tính

Phân bố theo giới tính vẫn tương đối ổn định so với năm trước, với 2.595.691 nam giới Công giáo (43,2%) và 3.411.141 nữ giới Công giáo (56,8%). Số nữ giới nhiều hơn nam giới 13,6%, và khoảng cách này có xu hướng gia tăng khi độ tuổi tăng lên.

Phân bố theo độ tuổi

Nhóm tuổi có tỷ lệ người Công giáo cao nhất là 65-69 tuổi, với 570.108 người (9,5%). Tiếp theo là nhóm 60-64 tuổi (553.261 người, tương đương 9,2%), 55-59 tuổi (530.619 người, tương đương 8,8%), và 50-54 tuổi (498.299 người, tương đương 8,3%). Những con số này cho thấy xu hướng già hóa rõ rệt, đặc biệt nơi những người Công giáo từ 50 tuổi trở lên.

Trong các nhóm tuổi trẻ hơn, số người Công giáo tăng đều từ đầu độ tuổi 20 đến đầu độ tuổi 30: 208.312 người (3,5%) trong nhóm 20-24 tuổi, 331.170 người (5,5%) trong nhóm 25-29 tuổi, và 463.089 người (7,7%) trong nhóm 30-34 tuổi. Trái lại, người Công giáo dưới 20 tuổi chỉ có 370.897 người (6,2%), chiếm một tỷ lệ tương đối nhỏ trong tổng số người Công giáo.

Tỷ lệ giới tính theo nhóm tuổi

Trong nhóm tuổi 20-29, số nam giới Công giáo nhiều hơn nữ giới, với 309.043 nam giới (57,3%), so với 230.439 nữ giới (42,7%). Mô hình này có thể được giải thích một phần bởi sự gia tăng số nam giới Công giáo trẻ thông qua Giáo hạt Quân đội. Tuy nhiên, tỷ lệ giới tính bắt đầu đảo chiều từ cuối độ tuổi 30, với nữ giới chiếm tỷ lệ cao hơn trong tổng số người Công giáo. Đặc biệt, trong nhóm người Công giáo từ 45-64 tuổi, có 786.349 nam giới (38,4%), so với 1.260.964 nữ giới (61,6%), cho thấy tỷ lệ nữ giới Công giáo tương đối cao hơn trong nhóm tuổi này.

Phân bố theo giáo phận

Tổng Giáo phận Seoul chiếm tỷ lệ người Công giáo cao nhất, ở mức 25,4% (1.527.576 người). Người Công giáo tại Seoul và các giáo phận lân cận như Incheon, Suwon và Uijeongbu cộng lại chiếm 55,9% (3.355.799 người) tổng số người Công giáo tại Hàn Quốc. Tỷ lệ này không thay đổi trong những năm gần đây, phản ánh sự tập trung liên tục của người Công giáo ở khu vực đô thị.

2. Giáo xứ và giáo họ

Tổng số giáo xứ (có linh mục cư trú) là 1.789, không thay đổi so với năm 2024, trong khi số giáo họ (không có linh mục cư trú) là 687, giảm 15 giáo họ so với năm trước.

Số giáo dân đăng ký trung bình mỗi giáo xứ có sự khác biệt đáng kể giữa các giáo phận. Tổng Giáo phận Seoul có mức trung bình cao nhất, với 6.556 giáo dân, tiếp theo là các Giáo phận Suwon (4.351), Incheon (3.927), Uijeongbu (3.819) và Busan (3.655). Ngược lại, Giáo hạt Quân đội (1.061) và các Giáo phận Andong (1.280), Chuncheon (1.506) và Wonju (1.511) có số giáo dân trung bình tương đối thấp hơn.

3. Hàng giáo sĩ và chủng sinh

Tổng số hàng giáo sĩ là 5.797 người, tăng 46 người so với năm trước. Con số này gồm 2 hồng y, 37 giám mục và 5.758 linh mục (5.622 người Hàn Quốc và 136 người nước ngoài). Số linh mục giáo phận là 4.772, tăng 34 người so với tổng số 4.738 của năm trước. Số linh mục thuộc các hội dòng đời sống thánh hiến là 844, tăng 19 người, trong khi số linh mục thuộc các tu đoàn đời sống tông đồ là 142, giảm 4 người.

Năm 2025, số linh mục giáo phận được truyền chức mới là 70, giảm 2 người so với năm 2024 (72 người). Trong thập niên qua, số linh mục giáo phận được truyền chức mới có sự biến động, duy trì trên 100 người mỗi năm cho đến năm 2019, nhưng giảm xuống dưới 100 người kể từ năm 2020. Đặc biệt, năm 2025 ghi nhận con số thấp nhất trong thập niên, giảm 42,1% so với năm 2015 (121 người).

Phân bố linh mục giáo phận theo tác vụ

Mục vụ giáo xứ chiếm tỷ lệ cao nhất, với 46,2% (2.205 linh mục), tiếp theo là mục vụ đặc biệt (23,7%, tương đương 1.131 linh mục), mục vụ người Hàn Quốc ở nước ngoài (3,2%, tương đương 152 linh mục), du học ở nước ngoài (3,1%, tương đương 148 linh mục), truyền giáo ở nước ngoài (2,4%, tương đương 113 linh mục), tuyên úy quân đội (2,1%, tương đương 102 linh mục), và học tập trong nước (1,1%, tương đương 53 linh mục).

Tỷ lệ các linh mục đảm nhận mục vụ giáo xứ giảm đều, từ 51,5% năm 2015 xuống 48,9% năm 2020 và 46,2% năm 2025. Trái lại, tỷ lệ giáo sĩ hưu trí tăng từ 7,1% năm 2015 lên 9,7% năm 2020 và 13,3% năm 2025.

Phân bố linh mục giáo phận theo độ tuổi

Các nhóm tuổi đông nhất là 45-49 và 50-54 tuổi, mỗi nhóm chiếm 14,0%, tiếp theo là nhóm 40-44 và 55-59 tuổi (cùng 11,6%), và nhóm 60-64 tuổi (10,9%). Các linh mục ở độ tuổi 40 và 50 chiếm 51,2% tổng số, trong khi các linh mục dưới 39 tuổi chỉ chiếm 18,3%. Tỷ lệ linh mục từ 65 tuổi trở lên là 19,7%, tăng 1,0 điểm phần trăm so với 18,7% của năm trước và tăng mạnh so với 11,0% năm 2015. Sự thay đổi này phản ánh tình trạng già hóa liên tục của hàng giáo sĩ.

Chủng sinh

Số đại chủng sinh (các ứng sinh chuẩn bị lãnh nhận chức linh mục) giảm xuống còn 854 người, giảm 45 người (5,0%) so với năm trước. So với năm 2015 (1.470 người), con số này giảm 616 người (41,9%). Năm 2025, có 87 chủng sinh mới được tiếp nhận (68 ứng sinh của giáo phận và 19 ứng sinh thuộc các hội dòng đời sống thánh hiến và các tu đoàn đời sống tông đồ). Mặc dù con số này cao hơn một chút so với năm trước (83 người), nhưng đã giảm 71 người so với 158 người năm 2015, cho thấy xu hướng giảm dài hạn trong ơn gọi linh mục.

4. Các hội dòng và tu sĩ

Tính đến năm 2025, tổng số tu sĩ nam và nữ là 11.170 người, giảm 187 người (35 tu sĩ nam và 152 tu sĩ nữ) so với năm trước. Trong thập niên qua, số tu sĩ tăng dần từ 11.740 người năm 2015 lên 11.790 người năm 2021, nhưng đã cho thấy xu hướng giảm kể từ năm 2022 (11.576 người).

Số hội dòng là 172. Có 1.532 tu sĩ nam thuộc 47 hội dòng và 9.638 tu sĩ nữ thuộc 125 hội dòng. Số tập sinh đang chuẩn bị tuyên khấn là 164 người, gồm 35 nam (tăng 3 người so với năm 2024) và 129 nữ (giảm 18 người so với năm 2024).

5. Hoạt động cử hành các bí tích

Bí tích Rửa tội

Năm 2025, có 64.073 người lãnh nhận Bí tích Rửa tội, tăng 9,8% (5.725 người) so với năm trước. Xét theo giới tính, có 36.339 nam (56,7%) và 27.734 nữ (43,3%). Số nam giới được rửa tội tăng 19,1% so với năm trước, trong khi số nữ giới được rửa tội giảm nhẹ 0,3%. Số trẻ em được rửa tội là 11.854 (18,5%), người lớn được rửa tội là 48.342 (75,5%), và người được rửa tội trong tình trạng nguy tử là 3.877 (6,1%). So với năm trước, số người lớn được rửa tội tăng 15,5%, trong khi số trẻ em được rửa tội và số người được rửa tội trong tình trạng nguy tử lần lượt giảm 5,6% và 1,6%. Sau khi giảm đáng kể vào năm 2020 do đại dịch COVID-19, số người được rửa tội đã dần phục hồi, đạt 79,1% mức trước đại dịch (năm 2019) nói chung, 83,1% đối với người lớn và 66,6% đối với trẻ em.

Hôn phối

Giáo hội đã cử hành 11.102 hôn phối, tăng 3,2% so với năm trước. Trong số này, 4.058 hôn phối bí tích (36,6%) và 7.044 hôn phối có miễn chuẩn (63,4%).

Tham dự Thánh lễ Chúa nhật

Số người tham dự Thánh lễ Chúa nhật trung bình trong năm 2025 là 928.195 người (tăng 2,8% so với năm trước), chiếm 15,5% tổng số người Công giáo. Mặc dù tỷ lệ tham dự đã có xu hướng giảm kể từ năm 2015 (khi ở mức 20,7%) và giảm mạnh vào năm 2020 do đại dịch COVID-19, tỷ lệ này kể từ đó đã cho thấy sự phục hồi dần dần. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kể từ năm 2024, số người tham dự Thánh lễ Chúa nhật không chỉ bao gồm những người tham dự tại các giáo xứ mà còn tại các đền thánh, bệnh viện, trung tâm phúc lợi xã hội, trung tâm mục vụ xã hội và các nhà dòng.

Các bí tích khác

Số người lãnh nhận Bí tích Thêm sức, Bí tích Xức dầu bệnh nhân, Bí tích Hòa giải và Bí tích Thánh Thể lần lượt tăng 11,7%, 3,6%, 3,9% và 1,1% so với năm 2024, trong khi số người lãnh nhận Rước lễ lần đầu giảm 4,4%. So với mức trước đại dịch (năm 2019), số người lãnh nhận Bí tích Thêm sức, Bí tích Xức dầu bệnh nhân, Bí tích Hòa giải và Bí tích Thánh Thể đã phục hồi lần lượt đạt 80,5%, 101,7%, 83,2% và 82,8%.

6. Giáo lý Chúa nhật

Trong số 1.789 giáo xứ trên toàn quốc, có 1.499 giáo xứ (83,8%) tổ chức các lớp giáo lý vào Chúa nhật. Tỷ lệ học sinh giáo lý Chúa nhật so với tổng số người Công giáo trong các nhóm tuổi tương ứng là 55,9% đối với học sinh tiểu học, 30,7% đối với học sinh trung học cơ sở và 15,5% đối với học sinh trung học phổ thông, cho thấy xu hướng giảm rõ rệt khi cấp học tăng lên. So với năm trước, số học sinh tiểu học giảm 3,3% (1.996 học sinh), trong khi số học sinh trung học cơ sở tăng 6,1% (1.320 học sinh) và số học sinh trung học phổ thông tăng 5,7% (669 học sinh).

7. Truyền giáo ở nước ngoài

Tính đến năm 2025, các nhà truyền giáo Hàn Quốc đang phục vụ tại 69 quốc gia, tăng 5 quốc gia so với năm trước. Tổng số các nhà truyền giáo ở nước ngoài là 883 người, giảm 106 người so với năm trước. Thành phần các nhà truyền giáo này gồm 248 linh mục, 42 tu huynh, 589 nữ tu và 4 giáo dân truyền giáo. So với năm trước, số linh mục giảm 6 người, số tu huynh tăng 2 người, số nữ tu giảm 100 người và số giáo dân truyền giáo giảm 2 người. Sự sụt giảm đáng kể số nữ tu là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm tổng thể.

Các quốc gia tiếp nhận số lượng nhà truyền giáo Hàn Quốc lớn nhất là Việt Nam (94 người), tiếp theo là Zambia (62 người), Philippines (54 người), Nhật Bản (46 người), Trung Quốc (42 người), Peru (41 người), Campuchia (39 người), Hoa Kỳ (38 người), Bolivia (35 người) và Myanmar (32 người).

Tâm Bùi chuyển ngữ từ cbck.or.kr